Mỹ - Pháp - Chiến tranh Đông Dương - Điện Biên Phủ.

Tr­ường An
24-10-09, 23:52
Thăng Long luôn có đám trẻ ranh ngu xuẩn, hợm hĩnh, đui mù, điếc lác coi trời bằng vung, huyên thuyên vung xích chó.

Nay kẻ này, mai lại mọc ra kẻ khác. Con đường giáo hoá cho chúng thật là phí của trời xiết bao. Nhưng không lẽ lại để chó dại cắn càn, nhơ bẩn Thăng Long.

Về quan hệ Pháp - Mỹ, chiến tranh Đông Dương, Điện Biên Phủ, con đường dẫn đến Hiệp định Geneve, kết quả logic của Hiệp định cần phải có thông tin đầy đủ mới mong hiểu được chính xác đôi điều, thấy được công lao, sự sáng suốt của các vị tiền bối.

Tôi sẽ lần lượt giới thiệu một số sự kiện quan trọng liên quan đến vấn đề nêu trên:


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2005/02/050225_dien_bien_phu_us.shtml


26 Tháng 2 2005 - Cập nhật 00h07 GMT
Ghi công phi công Mỹ tại Điện Biên Phủ

http://www.bbc.co.uk/worldservice/images/2004/05/20040505202719dienbienphulandscape203.jpg

Phi công Mỹ đã thực hiện 682 phi vụ trên bầu trời Điện Biên

Pháp đã trao tặng huân chương cho bảy phi công Hoa Kỳ vốn đã tham gia những chuyến bay bí mật hồi năm 1954 nhằm giúp quân Pháp đang bị thất thế ở Điện Biên Phủ.

Hãng thông tấn Pháp AFP trích lời đại sứ Pháp ở Washington, Jean David Levitte nói tại buổi lễ trao Bắc đẩu Bội tinh cho các phi công Hoa Kỳ rằng nước Pháp muốn biểu dương sự dũng cảm của những người đã có nhiều chuyến bay tại Điện Biên Phủ.

Vai trò của 37 phi công Hoa Kỳ trong cuộc bao vây 57 ngày ở Điện Biên Phủ từ trước tới nay không được nhiều người biết tới.

Sau khi được Pháp đề nghị giúp đỡ, cụ thể là của Tướng Henri Navarre, Hoa Kỳ đã trợ giúp 12 máy bay C-119 cùng 37 phi công nhưng yêu cầu các máy bay mang phù hiệu của Pháp để tránh chỉ trích ở trong nước và quốc tế.

Các phi công đã thực hiện gần 700 phi vụ tại Điện Biên Phủ trong cuộc chiến được mô tả là một trong những trận đánh vĩ đại của thế kỷ 20.

Pháp đã chọn ra bảy người để trao Bắc đẩu Bội tinh và sáu phi công đã dự lễ trao huân chương tại Washington.

Bắc đẩu Bội tinh do Hoàng đế Napoleon lập ra năm 1802 và là một trong những huân chương cao qúy nhất của nước Pháp.


Trường An.
Vàng
25-10-09, 00:17
Ngoài những gì mà chúng em đã được dạy trong nhà trường ra thì có gì mới không hả bác?
Tr­ường An
25-10-09, 00:22
Số đạn pháo 105 ly do Trung Quốc giúp trong trận Điện Biên Phủ chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ, chủ yếu là chiến lợi phẩm ta thu được của Pháp:

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/03/040325_generalgiap.shtml


.....
Trợ giúp quân sự

Về sự giúp đỡ quân sự của Trung Quốc, ở trang 348 (Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử - Võ Nguyên Giáp) có một đoạn như sau:

Trong thực tế, về đạn 105, ta chỉ có tổng số khoảng 20.000 viên, gồm 11.000 viên chiến lợi phẩm của chiến dịch Biên Giới, 3.600 viên do Trung Quốc viện trợ kèm theo pháo, 440 viên chiến lợi phẩm của mặt trận Trung Lào, và khoảng 5.000 thu được của địch thả dù tiếp tế. Sau chiến tranh Triều Tiên, đạn pháo 105 ở Trung Quốc cũng rất khan hiếm. Trước nhu cầu cấp thiết của chiến dịch, bạn đã vét đạn 105 từ các kho chuyển cho ta, nhưng 7.400 viên tháng 5 năm 1954 mới tới khi trận đánh đã kết thúc.

Có một chi tiết không chính xác trong các con số Việt Nam đưa ra về số đạn pháo 105 ly. Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết là 3.600 viên nhưng trong một bài báo trên tờ Quân Đội Nhân Dân 08/01/2004, ông Hoàng Xuân Tuỳ, nguyên trưởng ban tuyên huấn mặt trận Điện Biên Phủ lại đưa ra con số 3000 viên. Tuy thế có thể coi đây là một sự sai lệch không đáng kể.
.....


Trường An.
Chen
25-10-09, 00:40
Chính uỷ Trường An cho tập hợp các vấn đề liên quan trong thớt này nhé.
Đề nghị Bi cắt những post liên quan đến vấn đề từ thớt "Lạ nhỉ" sang đây.
Cám ơn bác An. Cám ơn Bi.
Trống Cơm
25-10-09, 00:44
Bi cắt ........................
Cám ơn Bi.

Chính ra Bi sau này có thêm nghề làm Tổng biên tập đấy nhỉ ?
KuTí
25-10-09, 01:00
Đúng là số đạn đại bác tầm xa trong chiến dịch ĐBP thì đạn từ Trung Cộng chỉ chiếm một phần nhỏ, còn lại là do Việt Minh kiếm được từ các nguồn khác.
Báo Đảng viết đây:
http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co_id=30296&cn_id=339249



Để bảo đảm hậu cần cho bộ đội Việt Nam trên đất Trung Quốc và tăng cường công tác vận chuyển vật tư viện trợ Việt Nam, ngày 6-8-1950, Tổng cục Hậu cần Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã thành lập văn phòng ở Nam Ninh.

Theo thống kê của Việt Nam, đến hết năm 1950, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam 3.983 tấn hàng, trong đó 1.020 tấn súng đạn (kể cả số súng đạn các đơn vị bộ đội Việt Nam sang Trung Quốc huấn luyện rồi đem về nước), 161 tấn quân trang, 20 tấn thuốc và dụng cụ quân y, 71 tấn hàng quân giới, 30 xe vận tải, 2.634 tấn gạo. Số hàng viện trợ này chiếm 18,5% tổng số vật chất mà quân ta sử dụng trong năm 1950, góp phần trang bị và làm tăng sức mạnh chiến đấu của quân ta.

Đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc đã chi viện cho Việt Nam khoảng 3.600 viên đạn pháo 105 ly, chiếm 18% tổng số đạn pháo sử dụng trong chiến dịch. Mặc dù đạn pháo 105mm của Trung Quốc cũng khan hiếm sau chiến tranh Triều Tiên, song trước yêu cầu cấp bách của chiến dịch, Trung Quốc đã chuyển thêm cho quân ta 7.400 viên đạn 105mm. Tuy nhiên do điều kiện vận chuyển khó khăn, số đạn này không kịp đưa vào phục vụ trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong những ngày cuối chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc còn giúp thêm một tiểu đoàn DKZ 75mm và 12 dàn tên lửa 6 nòng của Liên Xô. Đây là hỏa lực mạnh mà quân ta có được vào thời điểm tổng công kích cuối cùng chiều ngày 7-5-1954.

Bên cạnh đó, Trung Quốc còn giúp Việt Nam đào tạo, huấn luyện về quân sự. Tính đến tháng 6-1950, có 3.100 cán bộ Việt Nam sang Trung Quốc học tập về bổ túc trung và sơ cấp, chỉ huy bộ binh sơ cấp, pháo binh, công binh. Từ tháng 7-1952 đến tháng 1-1953, Trung Quốc đảm nhiệm đào tạo cán bộ, nhân viên kỹ thuật, huấn luyện bộ đội cho Trung đoàn 45, trung đoàn pháo binh hạng nặng đầu tiên của quân đội ta và Trung đoàn pháo cao xạ 367.

Nếu muốn tuyên truyền kiểu chính ủy bố láo xỏ lá thì chỉ cần đưa ra con số 3600 viên đạn pháo với tỉ lệ 18% số đạn sử dụng trong chiến dịch và hét toáng lên rằng, sự giúp đỡ của bạn Tàu về trang bị không manh tính quyết định. Người nào đọc qua con số tin sái cổ ngay.

Con số 3600 viên đạn đó xem ra ít, nhưng phải nhìn xem 24 khẩu pháo 105ly kia từ đâu ra, không lẽ đều cướp được từ Pháp? Bọn Pháp nó chẳng ngu khi triệt thoái quân để nguyên cả thứ vũ khí hạng năng kia rơi vào tay Việt Minh. Đương nhiên trước lúc té khỏi các chiến dịch như Biên giới đều dùng mọi cách hủy bằng được. VM có thu được một số pháo của Pháp nhưng không phải 105ly mà sơn pháo 75 tầm bắn và sức công phá hạn chế.
24 khẩu pháo dùng trong ĐBP là từ viện trợ của khựa, ngoài 3600 viên đại ra thì cách sử dụng cũng do Tàu tư vấn, dùng pháo 105ly khác hẳn súng CKC nhé, tự mày mò còn lâu mới biết xài.
Cướp được đạn mà không có pháo hoặc sử dụng không thành thạo địch nó phản pháo cho bỏ mẹ.

Ngoài ra, Pháp thua ở ĐBP còn do không quân của nó (và Mẽo) bị áp chế và tiêu diệt quá lớn, khiến bọn đi tiếp tế cũng sợ vãi đái ném nhầm cả hàng sang trận địa Việt Minh. Bóp cổ được không quân Pháp Mẽo là nhờ 2 tiểu đoàn pháo cao xạ 37 ly của Tàu viện trợ và huấn luyện. Vai trò của pháo phòng không 37ly trong chiến dịch ĐBP không thua kém vai trò của pháo chiến dịch 105ly. Không có đám 37ly này thì không quân nó biến Việt Minh thành thịt xay hết.

Pháo 37 thì chắc chắn của khựa viện trợ rồi. Cả đạn nữa. Pháp không có loại này đâu mà bảo cướp hay nhặt được.
Tr­ường An
25-10-09, 01:01
Ảnh hưởng của cuộc kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954 đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, ý nghĩa của trận Điện Biên Phủ, và Hiệp định Geneve:


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/03/040314_dienbienphuanniversary.shtml


14 Tháng 3 2004 - Cập nhật 19h16 GMT
....
Tầm vóc và sự kiện

Ngày 13-3 năm 1954, đại đoàn 312 của Việt Minh tấn công cứ điểm Him Lam, mở màn chiến dịch Điên Biên Phủ kéo dài 55 ngày đêm.

Chiến thắng tại Điện Biên Phủ đánh dấu sự chấm dứt gần 100 năm Việt Nam là thuộc địa của Pháp, đồng thời cũng báo hiệu sự kết thúc của đế chế Pháp trên phạm vi thế giới.

Hai năm sau, 1956, Tunisia và Marốc giành độc lập từ tay Pháp, trong lúc Paris sa lầy trong chiến tranh ở Algeria.

Có người đã so sánh trận Điên Biên Phủ có tầm quan trọng như chiến thắng của người Nhật trước quân Nga vào năm 1905 hoặc không kém gì trận Stalingrad trong Thế chiến Hai.

Trong bối cảnh đó, có thể nói lễ kỷ niệm 50 năm Điện Biên Phủ, chính thức khai mạc vào ngày 13-3 vừa qua, là dịp kỷ niệm lớn nhất trong năm nay tại Việt Nam.


Trường An.
Vàng
25-10-09, 01:04
Em đặt hàng bác Trường An đưa thông tin về gạo. Gạo Trung Quốc vận chuyển bằng đường sông và gạo Việt Nam vận chuyển bằng xe đạp thồ lên Điện Biên.
Tr­ường An
25-10-09, 02:56
Bối cảnh quốc tế dẫn đến Hội nghị Geneve, và tác động đến Hội nghị này:


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/07/040717_geneva_road.shtml


Đường đến Geneva
17 Tháng 7, 2004
Lê Hải
Tóm lược từ tài liệu của GS Józef Kukulka


Nhằm cung cấp thêm thông tin cho quí độc giả nào quan tâm đến hội nghị Geneva đúng 50 năm trước, bài viết này tổng hợp lại quan điểm của giáo sư ngành lịch sử ngoại giao nổi tiếng người Ba Lan - Józef Kukulka, phác thảo lại bối cảnh quốc tế thời bấy giờ.

Giới thiệu

Với GS Józef Kukulka và nhiều trí thức Ba Lan theo quan điểm của giáo trình môn quan hệ quốc tế mà ông biên soạn, thì số phận của cả một dân tộc, 80 triệu người Việt Nam hôm nay, vào năm 1954 chỉ là một hệ quả sau nhiều chuỗi sự kiện mà các cường quốc đã định đoạt khi giải quyết cuộc Chiến tranh lạnh.

Bản thân bắt đầu quan tâm đặc biệt đến lịch sử thế giới trong vai trò nhân viên ngoại giao Ba Lan ở Paris (1968-1972), sau về làm cố vấn cho Bộ ngoại giao (1972-1978) và rồi Phó chủ tịch ủy ban ngoại giao Quốc hội (1985-1989), cũng như Viện trưởng viện Quan hệ quốc tế (1977-1990) của Đại học tổng hợp Warszawa, giáo sư Józef Kukulka chuyên nghiên cứu lịch sử ngoại giao hiện đại, lấy mốc là từ giai đoạn kết thúc Đệ nhị thế chiến - năm 1945.

Như ông trình bày trong chương đầu tiên của pho sách giáo khoa đại học, quãng thời gian 10 năm từ 1945 đến 1955 là giai đoạn thế giới hình thành thế đối đầu giữa hai phe: cộng sản - tư bản, bên cạnh quá trình lột xác của các nước nhỏ hay thuộc địa.

Chiến tranh lạnh

Ngay từ giai đoạn kết thúc cuộc chiến chống phe phát xít, trục đồng minh đã có những biểu hiện không hoàn toàn hài lòng với nhau, mà rõ nhất là sau đó, khi tổng thống Truman đề xướng chủ thuyết mang tên ông (12.III.1947), chống Liên Xô "cách mạng hóa thế giới", viện trợ cho các nước bị nguy cơ này đe dọa.

Chính sách đó ảnh hưởng mạnh lên quá trình thực hiện kế hoạch (của bộ trưởng George) Marshall, tức dự án tái thiết châu Âu sau cuộc chiến, bằng tín dụng và hàng hóa Mỹ.

GS Kukulka ghi nhận là tính đến năm 1953 Hoa Kỳ đã viện trợ cho Pháp gần nửa tỷ USD, tính riêng ngân sách mà Pháp chi cho "cuộc chiến bẩn thỉu" ở Đông Dương.

Trong hội nghị cấp cao Bermuda (4.XII.1953) tổng thống Eisenhower và thủ tướng Churchill khi không muốn thủ tướng Laniel theo giải pháp hòa bình ở Đông Dương, đã ngỏ lời có thể tăng viện trợ ngân sách quốc phòng cho Pháp ở mức 45% vào năm 1953 lên gấp đôi, thành 80% vào năm 1954.

"Chiến trường" Berlin

Trước năm 54, phe đồng minh bận rộn với vấn đề nước Đức, khi các bên không phải lúc nào cũng xin phép nhau khi phân chia hay hoạch định chính sách quản lý nước Đức thời hậu chiến, hay các vùng đất từng là lãnh địa của trục phát xít.

Năm 1948, phe Tây Âu ký hiệp ước Brussels về phòng thủ, và đến năm 1949 khối NATO ra đời.

Trong giai đoạn này liên tục xảy ra các vụ việc to nhỏ ở những vùng giáp ranh giữa các nước đồng minh chủ quản trên đất Đức, khi kinh tế của vùng Liên Xô cai quản bị phong tỏa, còn nguyên soái Sokolowski thì chặn đường vào phần Berlin thuộc quyền phương Tây.

Phe đồng minh đổi tiền Đức mới gây hoảng loạn trong vùng Liên Xô cai quản, để rồi Liên Xô khóa cửa đường xe lửa vào Tây Berlin, dẫn đến lệnh chuẩn bị trong quân Anh và Mỹ, thậm chí với cả kế hoạch sẵn sàng ném bom, khi Truman hạ lệnh lập Cầu hàng không tiếp viện, kèm theo là cả 2 chiếc B-29 có khả năng chở bom nguyên tử.

Giai đoạn giải tỏa cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ nhất cũng là thời gian hình thành của khối các nước Xã hội chủ nghĩa.

Viễn Đông

Theo GS Kukulka thì ở vùng Viễn Đông, 3 sự kiện quan trọng diễn ra trong giai đoạn hậu chiến là hành động của Hoa Kỳ ném bom nguyên tử xuống đất Nhật, hoạt động của Tưởng Giới Thạch, và các chiến thắng của MacArthur.

Tuy nhiên, không phải mọi sự đều được giải quyết hết trong các kỳ hội nghị Jalta và Poczdam, vì năm 1948 hai chính phủ trên bán đảo Triều Tiên cùng đòi vào Liên Hiệp Quốc, còn Hoa Kỳ không phải lúc nào cũng quản lý được hai lực lượng đối nghịch của Mao và Tưởng.

Tất nhiên còn thêm cả cuộc chiến ở Đông Dương nữa, chưa kể phong trào độc lập ở Indonesia và các nước cờ thuộc địa của Hà Lan, hay con đường tự chủ của Pakistan, Ấn Độ, Srilanka, Miến Điện, các nước Trung Đông, nơi Pháp và Anh vốn mâu thuẫn quyền lợi, còn người Do Thái và Ả Rập bắt đầu leo thang xung đột.

Thế là hội nghị Geneva nằm đúng giữa những quyền lợi trái ngược và các vấn đề phải giải quyết, trong đó có hai miền Triều Tiên, chính sách với nước Áo hậu phát xít, và câu chuyện Việt Nam, trong bối cảnh Liên Xô có lãnh đạo mới: Nikita Chruszczow - người lèo lái con đường đối thoại Đông Tây.

Khối Warszawa và SEATO

Sau khi hội nghị Geneva kết thúc cũng là lúc phe Xã hội chủ nghĩa ký kết hiệp ước Warszawa, còn các nước Đông Nam Á thì họp ở Manila để khai sinh khối SEATO với tôn chỉ phòng ngừa "cộng sản tấn công".

Tham khảo:

Jósef Kukulka 2003, Historia Wspolczesna Stosunkow Miedzynarodowych 1945-2000, Scholar IV wydanie.


Trường An.
Bắc Thần
25-10-09, 07:01
Ông bác em có ngón tay áp út bỏ lại ở ĐBP mặc dù cả họ nhà em đều theo Quấc Dân Đảng. Em cũng x hiểu tại sao nó lại như thế.
Chen
25-10-09, 08:03
Ông bác em có ngón tay áp út bỏ lại ở ĐBP mặc dù cả họ nhà em đều theo Quấc Dân Đảng. Em cũng x hiểu tại sao nó lại như thế.

Hí hí. Bối cảnh của anh Bắc Thần là cả một kho chuyện hấp dẫn.

Cả họ theo Quốc Dân Đảng. Dân Công giáo (không biết có phải Công giáo 54 không?). Ở miền Nam trước khi di tản sang Mỹ. Nếu là diện di tản sang Mỹ năm 1975, thì liệu gia đình có quan hệ mật thiết với chính quyền Cộng Hoà?

Nói chung, một người chống Cộng toàn diện.

Chắc chắn anh Bắc Thần có nhiều góc nhìn từ cái gọi là "phía bên kia".

Hay.

Chính ra anh Bắc Thần có thấy, VN bây giờ cởi mở nhiều rồi. Những diễn đàn tư tưởng tự do như thế này, có thể truy cập ở HN. Chả bù cho Bắc Kinh, đến facebook, YouTube còn chả cho lên.

Mà hơn nữa, đe'o me., anh Ba Dũng chả kết thông gia với một ông trong Chính quyền cũ đấy thôi. Bằng chứng về sự "hoà hợp dân tộc", đến thế là quá điển cbn hình rồi nhá.

Anh Bắc Thần có biết thông tin gì về gia đình thông gia nhà anh Ba Dũng không? Ở VN, đây là thông tin bị coi là nhạy cảm. Ít nhắm.
Chen
25-10-09, 08:05
Sorry Chính uỷ.

Cái post vừa rồi không sát chủ đề. Mượn đất bác tẹo.

Bác An cứ tiếp tục cung cấp thông tin cho anh em về DBP nhé.
Tr­ường An
27-10-09, 22:40
Hội nghị Geneve khởi đầu từ sáng kiến của Liên Xô, là nơi các nước lớn dàn xếp quan hệ quốc tế, với 02 vấn đề Triều Tiên và Đông Dương, cuối cùng chỉ 01 vấn đề được giải quyết, dưới 02 tác động chính: Chiến thắng Điện Biên Phủ, quyết tâm của Mỹ thế chân Pháp ở Đông Dương:

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/07/040717_geneva_event.shtml


Diễn biến hội nghị Geneva

Lê Hải
Tóm lược từ tài liệu của GS Józef Kukulka


http://news.bbc.co.uk/media/images/40100000/jpg/_40100535_04dbp_ap_7.jpg


Geneva bàn chuyện Việt Nam sau chiến thắng Điện Biên Phủ

Với giáo sư Józef Kukulka từ Đại học tổng hợp Warszawa, hội nghị Geneva là sự kiện tạo ra biến chuyển lớn trong thế ngoại giao giữa các cường quốc, sau một loạt các lục đục của thời hậu Thế chiến thứ hai.

Cuộc chiến Đông Dương

Tâm điểm để thế giới gỡ nút mâu thuẫn chính là cuộc chiến Đông Dương, đã kéo dài suốt 8 năm, từ cuối 1946, mà phe Việt Minh, hay nói đúng hơn là dân tộc Việt Nam được số đông dư luận quốc tế ủng hộ, không chỉ từ phe tả, mà cả nhà thờ hay đoàn thanh niên, phụ nữ, công đoàn, trí thức...

Các nước Xã hội chủ nghĩa đã công nhận và giúp đỡ cho Việt Nam dân chủ cộng hòa của Hồ Chí Minh, trong lúc các lực lượng kháng chiến ở Lào và Campuchia không chỉ gây thêm khó khăn cho Pháp mà còn liên kết lại với Việt Minh.

Năm 1949, Paris ký thỏa ước với Bảo Đại và các nhân vật đại diện cho Lào cùng Campuchia, rồi đệ đơn xin Liên Hiệp Quốc công nhận "chính phủ Việt Nam" này, trong lúc Liên Xô bác bỏ và nộp đơn cho Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Về phía Hoa Kỳ, sau cuộc chiến Triều Tiên, họ tăng thêm viện trợ quân sự cho Pháp, đồng thời hậu thuẫn chính quyền Sài Gòn trong nghị quyết rút tên khỏi Liên hiệp Pháp (17.X.1953).

Giải quyết chuyện Đông Dương

Đầu năm 1954 Liên Xô đề nghị nên giải quyết vấn đề Đông Dương.

Khi đó là tại hội nghị Berlin, do ngoại trưởng Bidault không muốn về tay không nên 4 ngoại trưởng đồng ý sẽ bàn chuyện Đông Dương ở Geneva, có Trung Quốc tham gia.

Sau điểm khởi đầu này, thủ tướng Nehru kêu gọi hai bên ngưng chiến, nhưng lực lượng đặc biệt của Pháp với 500 cố vấn Mỹ vẫn muốn thực hiện kế hoạch Navarve, để rồi bị bất ngờ khi phải hứng chịu pháo kích của Việt Minh, kéo theo bước leo thang của Hoa Kỳ trong giúp đỡ về máy bay vận tải và ném bom.

http://news.bbc.co.uk/media/images/40126000/jpg/_40126089_afp_surrender220.jpg

Lịch sử 50 năm vẫn còn nhiều vấn đề cần tranh cãi

Để vận động dư luận và thượng viên, tổng thống Einsenhower tuyên truyền chủ thuyết Domino, mà theo đó Dulles thậm chí còn ngỏ lời với Bidault về khả năng dùng bom nguyên tử ở Điện Biên Phủ.

Tuy nhiên, không chỉ các nước Xã hội chủ nghĩa, mà ngay cả các nước trung lập cũng muốn hội nghị Geneva khai mạc đúng hạn, chính phủ Ấn độ phản đối Hoa Kỳ có chính sách "quốc tế hóa" mâu thuẫn.

Bàn chuyện Triều Tiên

Và thế là hội nghị Geneva được tổ chức từ 26.IV đến 21.VII, với nghị trình khởi đầu là chuyện Triều Tiên, sau đó mới đến Việt Nam: ngày 8.V - đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ.

Ngày 10.V Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đưa ra quan điểm của Việt Nam dân chủ cộng hòa, đòi Pháp công nhận quyền độc lập và tự chủ của Việt Nam, nhưng cũng xác nhận sẵn sàng gia nhập Liên hiệp Pháp, được Liên Xô và Trung Quốc hoàn toàn ủng hộ.

Theo ghi nhận của giáo sư Józef Kukulka, thì hội đàm thực sự chỉ bắt đầu từ 18.VI, khi phái đoàn Pháp có thủ tướng mới và ngoại trưởng Pierre Mendès-France, mà cụ thể là có tiến triển rõ rệt là từ khi Mendès-France trực tiếp đàm phán với Phạm Văn Đồng và Chu Ân Lai.

Nút thắt cuối cùng là thành viên của hội đồng kiểm soát, mà trong những ngày cuối người ta cũng thỏa thuận được với nhau là chọn Ấn Độ, Canada, và Ba Lan.

Hội nghị Paris

Chỉ còn một mâu thuẫn mà khi đó có thể là khá nhỏ, là Hoa Kỳ không ký tuyên cáo chung, chỉ xác nhận là có ghi nhận văn bản này, trừ điểm số 13, tương tự như thủ tướng của chính phủ miền nam Việt Nam Ngô Đình Diệm, để rồi giới sử học sẽ còn tiếp tục phải theo dõi thêm một cuộc chiến khác kéo dài có đến 20 năm, dẫn đến một cuộc hội đàm khác cũng đi vào lịch sử ngoại giao thế giới: Hội nghị Paris.

Tham khảo:

Jósef Kukulka 2003, Historia Wspolczesna Stosunkow Miedzynarodowych 1945-2000, Scholar IV wydanie.


Trường An.
Laozeza
28-10-09, 09:53
Anh ủng hộ và bảo kê cho An ở cái tô bích này dưng không nhất thiết phải post hồng tím (#13) như bà già tỳ dai của anh.

Tí em anh có vẻ hơi đuối rồi, cái tiểu tiết của chú chả có giá trị đeos gì theo nội dung title ở tô bích này cả. Anh chờ Tí phun ra cái gì chuẫn chuẫn.
Giàng
28-10-09, 10:31
Hehe, anh ủng hộ Tí. Bọn này còn lâu mới đến chỗ biết được tầm quan trọng của mấy cái nhỏ nhặt tỉ mỉ Tí ợ :D
pink
28-10-09, 10:54
Hồi oánh ĐBP không phải là VM chỉ đánh Pháp ở ĐBP. Thời gian đó mình đánh nó trên nhiều chiến trường, nhiều trận cũng rất lớn. Nội em ở trung đoàn 96, cùng với các trung đoàn khác (hình như 100, hay 101) oánh Pháp hoành tráng ở Đà Nẵng ra tới đèo Hải Vân. Hồi đó bọn Pháp đã dùng bọn lính Triều Tiên đánh thuê rồi. Bọn Triều Tiên đánh rất rắn và kỉ luật cao. Tuy nhiên bộ đội mình cứ thế hành quân xuyên rừng, phục kích đánh tan hết. Tiêu diệt, bắt sống và thu được cơ số vũ khí quân trang, ô tô, ở các trận phục kích địch hành quân này.

Thời đánh Pháp đúng là dân tộc vùng lên, các cụ đánh Pháp giành lại tự do với một lòng yêu nước mãnh liệt. Lúc oánh nhau có lẽ không phân biệt quốc cộng, tôn giáo gì sất đâu. Tất cả chỉ háo hức giành lại tự do cho dân tộc, cho đất nước thôi. Sau này các phe phái nhẩy vào, mới sinh ra cuộc chiến Nam Bắc chia lìa. Tất cả đều là người trong một nước thôi, cần phải hàn gắn, không coi nhau như kẻ thù nữa.

Trận ĐBP người ta đã phân tích nhiều rồi. Một điều không thể chối cãi là nếu không có tinh thần yêu nước của hàng triệu người dân, người lính, không có đầu óc chiến lược, chiến thuật tuyệt vời của cụ Giáp thì có mà mang cả đống vũ khí đạn dược đổ vào cũng không làm nên chiến thắng đâu.

Nói thêm, Pháp hồi đó bị bất ngờ khi ta kéo pháo được vào trận địa. Nó tính rằng mình cơ giới còn thô sơ, lại chọn khu vực ngăn cách nhiều đồi núi hiểm trở để mình không mang pháo được vào. Đấy là một trong những kỳ tích Việt Nam.
Đêm
28-10-09, 11:17
Tàu cộng viện trợ cho ta vũ khí thu được của Tàu Tưởng, đặc biệt cũ và nặng, nhìn thì ham chứ khuân éo có nổi. Đánh cái đít.

Trong khi đó Tàu cộng lại còn nhờ vả ta tập trung quân lập chíên dịch đánh vùng Vân Nam - Côn Minh cho nó nữa nhằm uy hiếp thằng kia.
Tr­ường An
28-10-09, 22:28
Sẽ không có chiến thắng Điện Biên Phủ nếu đảm bảo hậu cần cho chiến dịch không được thực hiện tốt, một công việc vô cùng khó khăn cho Việt Minh ở Điện Biên Phủ, khó khăn mà quân Pháp tin chắc Việt Minh không thể vượt qua, nên đã sử dụng như một cái bẫy để đánh bại Việt Minh:


http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_%C4%90i%E1%BB%87n_Bi%C3%AAn_Ph%E1%BB%A7#C.C3.A1c_n.E1.BB.97_l.E1.BB.B1c_h.E1.BA.ADu_c.E1.BA.A7n_c.E1.BB.A7a_Qu.C3.A2n_.C4.90.E1.BB.99i_Nh .C3.A2n_D.C3.A2n_Vi.E1.BB.87t_Nam


.....
Các nỗ lực hậu cần của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

Để có một lực lượng mạnh cho chiến dịch Điện Biên Phủ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã huy động tối đa về sức người và sức của: hàng vạn dân công và bộ đội làm đường dã chiến trong khoảng thời gian cực ngắn, dưới các điều kiện rất khó khăn trên miền núi, lại luôn bị máy bay Pháp oanh tạc. Chính phủ đã huy động dân công từ vùng do Việt Minh kiểm soát đi tiếp tế bằng gánh gồng, xe đạp thồ kết hợp cùng cơ giới đảm bảo hậu cần cho chiến dịch. Đội quân gồm thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, được huy động tới hàng chục vạn người (gấp nhiều lần quân đội) và được tổ chức biên chế như quân đội. Riêng đội xe đạp thồ đã lên trên 20.000 người, mỗi xe chở được 200-300kg.[5] Đây là việc ngoài tầm dự tính của các cấp chỉ huy Pháp vì họ cho rằng Việt Minh không thể bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch lớn, dài ngày trong các điều kiện phức tạp như vậy được.

Ngoài ra, Pháp cũng đã đánh giá sai khả năng pháo binh của Việt Minh khi cho rằng đối phương không thể mang pháo lớn (lựu pháo 105 mm và pháo cao xạ 37 mm) vào Điện Biên Phủ mà chỉ có thể mang loại pháo nhẹ là sơn pháo 75 mm trợ chiến mà thôi. Phía Việt Minh đã dùng sức người để đưa được lựu pháo 105 mm lên các hầm pháo khoét sâu vào các sườn núi từ trên cao có khả năng khống chế rất tốt lòng chảo Điện Biên Phủ mà lại rất an toàn trước pháo binh và máy bay địch.
.....


http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=8452288&News_ID=17460288

……
1. Hậu phương của Việt Minh trong chiến dịch Điện Biên Phủ dưới con mắt của quân đội viễn chinh Pháp

Xét về mặt địa - quân sự, tập đoàn cứ điểm Điên Biên Phủ cách rất xa căn cứ địa Việt Bắc và các vùng tự do của ta. Nếu lấy sân bay Mường Thanh làm tâm, quay một cung bán kính Hà Nội - Điện Biên Phủ sẽ thấy các vùng tự do của ta - hậu phương quốc gia của chiến tranh giải phóng và mặt trận này, đều nằm trên vòng cung đó. Từ Việt Bắc qua Phú Thọ sang Điện Biên Phủ, hoặc qua Lào Cai, Yên Bái đến lòng chảo Mường Thanh; từ Thanh Hóa qua Hòa Bình, Sơn La lên Điên Biên Phủ, mọi nguồn lực vật chất để chi viện cho bộ đội ta tại chiến dịch lịch sử này đều hết sức khó khăn bởi nó vừa xa xôi, lại phải vượt qua một vùng núi non hiểm trở, nhiều đèo dốc. Ngày nay, nếu chúng ta đi từ Hà Nội, hoặc Tuyên Quang lên Điện Biên Phủ bằng ô tô chỉ hết một ngày, thì ở vào thời điểm cách đây 55 năm, đó lại là cả một cuộc hành trình đầy gian truân.

Nghiên cứu lại các cứ liệu lịch sử có thể thấy, sở dĩ Na-va - Tổng chỉ huy quân đội Viễn chinh Pháp ở Đông Dương coi Điện Biên Phủ là cái bẫy, là cỗ máy nghiền nát quân chủ lực của Việt Minh và thách thức Quân đội nhân dân Việt Nam đưa lực lượng chủ lực lên giao chiến tại Điện Biên Phủ đều xuất phát từ cách nhìn thuần tuý về những khó khăn trong việc bảo đảm các nguồn lực nhằm đáp ứng các yêu cầu tác chiến của quân đội ta tại mặt trận này.

Do chúng ta phải vận chuyển một khối lượng vật chất - kỹ thuật lớn từ hậu phương xa xôi lên tiền tuyến hiểm trở bằng phương tiện vận tải thô sơ dùng sức người là chính, trong khi hậu phương tại chỗ là vùng Tây Bắc thì dân cư thưa thớt, nghèo nàn, nên các tướng lĩnh Pháp cho rằng, với thực lực hiện có, cùng những khó khăn về mặt địa - quân sự và phương tiện vận tải, cộng với sự ngăn chặn bằng phi pháo của quân đội Pháp, việc cung cấp sức người, sức của của Việt Minh từ hậu phương ra mặt trận là vô kế khả thi.

Đổ quân xuống Điện Biên Phủ, tướng Na-va xuất phát từ một suy luận lô-gíc rằng: bằng cái bẫy về bảo đảm các nguồn lực về vật chất - kỹ thuật của cho các hoạt động tác chiến, ông ta sẽ nghiền nát lực lượng chủ lực của Việt Minh, qua đó làm thay đổi cục diện chiến trường hiện đang bất lợi cho nước Pháp. Trong lễ giáng sinh năm 1953, Na-va đã tuyên bố rằng, Việt Minh phải sửa lại hoàn toàn kế hoạch (ngụ ý nói về kế hoạch tác chiến chiến lược trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, "...Họ đã đưa quân lên những vùng núi hiểm trở, nghèo xác xơ và đường giao thông hoàn toàn không có. Vận tải của Việt Minh đều toàn đi bộ do những "phu” gánh, nếu có bằng ô tô chăng nữa thì cũng phải đi trên những đoạn đường rất xấu, luôn bị quân Pháp chia cắt" [1]. Còn Giuyn Roa, đại tá không quân Pháp ở chiến trường Đông Dương trong cuốn "Điện Biên Phủ", xuất bản tại Pa-ri năm 1963 thì cho rằng: "Địch khó có đủ sức tiến công vào Điện Biên Phủ, Việt Minh không thể để các sư đoàn của họ sống xa căn cứ của mình lâu được"[2].

Cho đến khi tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, người Pháp mới nhận ra rằng, họ đã sai lầm. Cái sai lầm chết người đưa đến sự thảm bại của nước Pháp ở chính cái nơi mà họ cho là Việt Minh vô kế khả thi trong việc bảo đảm các yếu tố vật chất - kỹ thuật cho tác chiến. Sự thảm bại đó còn là do họ không hiểu nổi yếu tố nào đã chi phối khiến những chiếc máy bay vận tải của quân đội viễn chinh Pháp lại thua những đôi bồ dân công của Việt Minh [3].
……

Thực tiễn hoạt động của nhân dân các địa phương thuộc hậu phương của chiến dịch hơn 170 ngày đêm (tính từ khi các hoạt động triển khai vận chuyển các nguồn lực vật chất - kỹ thuật từ hậu phương ra tiền tuyến), với hơn 18 triệu ngày công của 261.000 dân công hỏa tuyến và bằng 29.991 xe đạp thồ, 500 ngựa, hậu phương đã đưa ra mặt trận 27.400 tấn gạo và toàn bộ nhu cầu về đạn dược, thuốc men, thực phẩm, quân trang, quân dụng [4] từ Liên khu IV và từ Việt Bắc vượt qua mọi khó khăn về khoảng cách, địa hình hiểm trở, sự đánh phá ác liệt của địch để biến cái không thể thành cái có thể. “Nhân dân ta đã làm được một việc vĩ đại hoàn toàn ngoài sức tưởng tượng của địch” [5].

Sức mạnh chính trị - tinh thần của hậu phương còn cho phép chúng ta nhân lên nguồn lực có hạn của một hậu phương với tiềm lực kinh tế còn nhỏ bé nhưng đủ sức cung cấp các nhu cầu lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm, cũng như một phần vũ khí đạn dược cho hoạt động tác chiến. Chính Na-va đã phải thú nhận rằng: "Về phương diện chính trị, Việt Minh là một quốc gia thực sự. Ảnh hưởng của họ lan rộng nửa nước Việt Nam. Hơn nữa, trong vùng quân ta kiểm soát thì họ cũng có một uy quyền bí mật, đánh bại được uy quyền của chúng ta và cho phép họ thu được một phần tài nguyên phụ thêm. Họ thu thuế ở đó, tuyển mộ quân số ở đó, họ chở ra rất nhiều gạo, muối, vải vóc mà họ cần dùng, họ mua sắm những chiếc xe đạp đã có tác dụng rất lớn trong công tác tiếp tế, các loại thuốc men cần thiết cho ngành y tế của họ, những hòn pin điện để lắp vào những quả mìn giết hại binh sĩ Pháp” [6].
.....


Trường An.