Phật giáo có phải là Tôn giáo?

Trang : 1 2

Tê tê say say
18-10-09, 20:37
Đạo Phật mà lại hay như bạn Hoa Tuyến "đốn ngộ" thì không khác thủ dâm là mấy, nhở?
♠♣♥♦
18-10-09, 21:03
Cám ơn em Tuyết! Nhưng anh vẫn thấy những câu trả lời của em nó chung chung quá, theo anh như thế chưa phải trải nghiệm thực sự.

Tê say anh nghe nói thông minh đĩnh ngộ, chú có ý gì hay kể nghe chơi.
nhaphat
19-10-09, 01:31
Đạo Phật mà như Tuyết nói thì trước khi biết đến Phật em đã là thế rồi. Híc bỏ mẹ, không khéo mình chính là Phật Đà đầu thai. Nói thật các bác chứ em nghiên cứu Phật Giáo có nhõn một đêm!:D
Vàng
19-10-09, 09:06
Nói chả phải mê tín chứ cái hồi diễn đàn mình bị cái nạn Thắm, thuốc thang chữa các kiểu ròng rã cả năm giời nạn không thuyên giảm, ngỡ là y học bó tay nên em bảo thằng Bi mày ạ thôi thì còn nước còn tát, có nạn thì vái tứ phương, mày làm cái lễ cúng rồi xem động mồ động mả thế nào thì chuyển cái sẹc-vơ đi nơi khác cho lành. Bi nó chả phải dị đoan gì nhưng vì cũng chả mất công mấy nên cũng nghe em mà chuyển. Thế rồi nạn tự nhiên hết, không chữa mà khỏi. Giờ ngon rồi đấy ạ.

Thế các bác bảo không duy tâm có được không?
nhaphat
19-10-09, 09:17
Tự nhiên là tự nhiên thế lào, người ta phải thành tâm lắm mới được đấy bố ạ!:D
DeLusty
19-10-09, 12:41
Hôm qua Thắm alo mình, không biết có phải Thắm cái nguời mà Vàng đang đề cập? Nàng bảo nhớ Vàng za diết, nguời đàn ông mà nàng vừa yêu vừa hận vì đã ám ảnh nàng, mọi nơi.

Nàng giờ ngon rồi, ngày nào cũng lên chùa đốt nhang, cầu xin cuới đuợc hoàng tử bạch mã cỡ Vàng. Mình có bảo với nàng nếu cầu xin kiểu đó thì lấy đại Vàng cho xong, Vàng nhở!
Man
19-10-09, 17:52
Có tố chất thì cần đé,o gì các loại đạo mí cả lòng tin, vì chính bản thân mình là đạo mí cả lòng tin rồi còn đâu?

Dưng mà vấn đề là có cửng mãi được không?

Thế bạn tưởng trong trường hợp dựa vào Đạo thì khi có đạo bạn sẽ có thể tin mãi vào đạo ấy được à ?

Cái chuyển biến về lòng tin, sự kiên định nó áp dụng tác động cho cả người có hay ko có Đạo. Vậy tại sao phải cần Đạo để hy vọng chiến thắng được sự mất kiên định ở trong bản thân mình ?

Cho nên cái câu của bạn mà tớ vừa quote lại trên kia nó chứng tỏ bạn còn non kém trong tư duy lắm.
em tên bông
19-10-09, 18:10
Man phải là Lạng không, anh?
Ivan
19-10-09, 18:11
Trí nhớ Bông kém thế sao?
Ivan
19-10-09, 18:13
Cũng có thể là một câu hỏi tu từ.
FOXVN
20-10-09, 09:22
Mình nghĩ tranh luận Phật giáo có phải là một tôn giáo sẽ không có hồi kết. Mình có mấy suy luận thế này:

1. Tôn giáo là niềm tin vào những thế lực siêu nhiên, những quyền năng nằm ngoài khả năng con người: Phật giáo không nói về mình như thế.

2. Những gì không giải thích được thì sẽ thuộc về tôn giáo: Phật giáo có cung cấp sự giải thích về thế giới, về con người và số phận.

3. Nói về tôn giáo là nói về sự phân biệt giữa cái Thiêng và cái Tục: Phật giáo không nói về sự phân chia này. Ai cũng có Phật tính và có thể trở thành Phật.

4. Nói về tôn giáo là nói đến chức năng cố kết xã hội, cố kết cộng đồng: Phật giáo nhấn mạnh vào sự tu tập cá nhân, nếu rộng lớn hơn là nhấn mạnh những nỗ lực nhằm giải thoát càng nhiều người càng tốt.

5. Nói đến tôn giáo là nói đến sự thờ cúng, tôn sùng nhiều khi mê muội: Đức Phật không yêu cầu ai lập ảnh tượng để thờ mình, hoặc bất cứ hình tượng nào khác.

6. Nếu nói "tôn giáo là sự phản ánh hư ảo các lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày" thì Phật giáo không phải thế. Phật giáo phủ nhận thế giới hiện thực ta thấy hằng ngày.

7. Tất cả những điều nói trên đều có thể được chứng minh là sai trên một số phương diện, thành ra tranh luận về Phật giáo có phải là một tôn giáo không sẽ chả có kết thúc, giống như những mơ mộng của con người về một thiên đàng thực sự nào đó trên trần gian cho tất cả mọi người.
em tên bông
20-10-09, 10:39
Phật giáo có phải là một hệ thống triết học?
Hoa Tuyết
20-10-09, 11:36
Phật giáo giản dị lắm, ngày xưa có một vị vua nhà Lý hỏi một thiền sư đại ý của Phật Pháp là gì ? Thiền sư đáp :

Nhạn bay trên trời cao
Ảnh lưu trên mặt nước
Nhạn không ý lưu bóng
Nước không tâm giữ nhạn

Sau này, vua Trần Thái Tông ( ông của vua Trần Nhân Tông) cũng có làm bài kệ rằng :

Nước chảy xuống non đâu có ý
Mây bay qua núi vốn không tâm
Ngàn sông có nước ngàn trăng hiện
Muôn dặm không mây muôn dặm trời .

Phật Giáo là như thế, ngoài ra không có gì khác .
FOXVN
20-10-09, 11:59
Phật giáo có phải là một hệ thống triết học?

Phật giáo là một hệ thống triết học, nhưng bị các thế hệ sau tôn giáo hóa.

Mà cũng chả quan trọng gì đâu các bác ạ. Một lối sống trong muôn vàn lối sống thôi. Chết là hết. Hãy sống cho hết mình đi!
Chen
20-10-09, 12:00
Phật giáo giản dị lắm, ngày xưa có một vị vua nhà Lý hỏi một thiền sư đại ý của Phật Pháp là gì ? Thiền sư đáp :

Nhạn bay trên trời cao
Ảnh lưu trên mặt nước
Nhạn không ý lưu bóng
Nước không tâm giữ nhạn

Sau này, vua Trần Thái Tông ( ông của vua Trần Nhân Tông) cũng có làm bài kệ rằng :

Nước chảy xuống non đâu có ý
Mây bay qua núi vốn không tâm
Ngàn sông có nước ngàn trăng hiện
Muôn dặm không mây muôn dặm trời .

Phật Giáo là như thế, ngoài ra không có gì khác .

Sắc sắc không không chính là chỗ này.

Dưới nước có nhạn không? Có. Mà cũng không.

Nghĩ là có, thì có. Nghĩ là không, thì không.

Bài kệ này hay. Thanks Hoa Tuyết. Có cung cấp được nguồn không? (có cả chữ Hán, phiên âm, dịch ấy)
Hoa Tuyết
20-10-09, 12:13
Dạ những bài này em đọc sách chỉ có tiếng Việt bác ạ, bác muốn tìm bản tiếng Hán có lẽ phải đến các Thiền viện như Trúc Lâm Đà Lạt hoặc Trúc Lâm Yên Tử may ra có .
thansammic21
20-10-09, 12:31
Cóp ra đây cho các bác em đọc thêm :

NGỮ LỤC VẤN ĐÁP

Dịch

Một hôm Vua (Trần Thái Tông) đến thăm chùa Chân Giáo. Có vị tăng tên Đức Thành người nhà Tống hỏi:

Thế Tôn chưa rời Đâu-suất đã giáng sanh vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ độ người đã xong. Là ý nghĩa thế nào?

Vua đáp:

Ngàn sông có nước ngàn trăng hiện,
Muôn dặm không mây muôn dặm trời.

Tăng hỏi:

Chưa rời cung, chưa ra đời đã được chỉ dạy.
Đã rời cung, đã ra đời việc thế nào?

Vua đáp:

Mây sanh đảnh núi toàn màu trắng,
Nước đến Tiêu Tương một dáng trong.

Tăng hỏi:

Mưa tạnh sắc núi sáng,
Mây đi trong động ngời.

Vì sao ẩn hiển như một?

Vua đáp:

Trừ người quả thật con ta đó,
Ai kẻ bạo chân vào đường này.

Tăng hỏi:

Xưa nay không lối khác,
Người đạt cùng chung đường.

Bệ hạ có nhận chỉ Thế Tôn đắc đạo chăng?

Vua đáp:

Mưa xuân không cao thấp,
Cành hoa có ngắn dài.

Tăng hỏi:

Người người vốn tự người người đủ,
Mỗi mỗi xưa nay mỗi mỗi tròn.

Vì sao Thế Tôn vào núi tu hành?

Vua đáp:

Kiếm vì bất bình mở hộp báu,
Thuốc do trị bệnh ra khỏi bình.

Tăng hỏi:

Trong mắt thôi để bụi,
Trên thịt chớ khoét thương.

Trên phần người học có tu chứng không?

Vua đáp:

Nước chảy xuống non đâu có ý,
Mây bay qua núi vốn không tâm.

Tăng im lặng.

Vua nói:

Chớ bảo không tâm đây là đạo,
Không tâm còn cách một lớp rào.

Tăng thưa:

Nơi tâm đã không, nói gì là một lớp rào?

Vua đáp:

Nước chảy xuống non đâu có ý,
Mây bay qua núi vốn không tâm.

Tăng không đáp được.

Giảng

Một hôm Vua (Trần Thái Tông) đến thăm chùa Chân Giáo. Có vị tăng tên Đức Thành người nhà Tống hỏi:

Thế Tôn chưa rời Đâu-suất đã giáng sanh vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ độ người đã xong. Là ý nghĩa thế nào?

Vua đáp:

Ngàn sông có nước ngàn trăng hiện,
Muôn dặm không mây muôn dặm trời.

Đó là lối đối đáp trong nhà thiền. Câu hỏi của ông tăng này là dẫn từ kinh Hoa Nghiêm. Trong kinh Hoa Nghiêm có nói: “Đức Thế Tôn chưa rời Đâu-suất đã giáng sanh vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ độ người đã xong.” Khi nghe câu nói này có vị tăng tên Đức Thành mới đem ra hỏi, như vậy là ý nghĩa thế nào? Nhà vua đáp:

Ngàn sông có nước ngàn trăng hiện,
Muôn dặm không mây muôn dặm trời.

Câu đáp này thật hay, có ý nghĩa thế nào? Đó là những việc mà tôi nghĩ nếu không chịu khó giải thích thì tất cả quí vị đọc mà không thể hiểu, không hiểu rất tốt, đó mới là Thiền, còn hiểu thì mất Thiền. Nhưng chúng ta tu Thiền mà không hiểu còn có ý nghĩa Thiền, chớ người không tu Thiền chỉ nghiên cứu mà không hiểu là tai họa. Do đó tôi chịu khó giải thích cho quí vị thấm nhuần được ý nghĩa thâm trầm của câu hỏi và lời đáp. Như trong kinh Hoa Nghiêm nói Phật chưa rời cung trời Đâu-suất mà đã giáng sanh trong cung vua Tịnh Phạn; chưa ra khỏi thai mẹ, tức là chưa ra khỏi thai bà Ma-da phu nhân mà Ngài giáo hóa đã xong. Nói vậy làm sao chúng ta có thể hiểu, chưa rời cung trời thì làm sao có mặt dưới đây, chưa ra khỏi thai mẹ làm sao giáo hóa đã xong? Đó là một vấn đề rất khó hiểu, nhưng ý kinh nói rằng tất cả chúng sanh cũng như chư Phật đều có Pháp thân bất sanh bất diệt. Thể pháp thân bất sanh bất diệt không có đến đi, nhưng mọi việc đều đã an bài tức là đều đã xong, nên nói rằng chưa rời cung Đâu-suất mà đã đến vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ độ người đã xong, là để chỉ cho ý nghĩa thể pháp thân bất sanh bất diệt ai cũng có. Vì vậy nhà vua mới đáp bằng hai câu thơ:

Ngàn sông có nước ngàn trăng hiện,
Muôn dặm không mây muôn dặm trời.

Nghĩa là sao? Vì trên hư không chỉ có một vầng trăng, nhưng dưới thế gian này có ngàn con sông thì có ngàn bóng mặt trăng hiện, đó là để biểu trưng Hóa thân, còn một mặt trăng trên hư không là để biểu trưng cho Pháp thân. Pháp thân không có nhiều, mà Hóa thân thì tùy duyên ứng hiện, như vậy câu “ngàn sông có nước ngàn trăng hiện, muôn dặm không mây muôn dặm trời”, trời có muôn dặm không? Trời thì không có muôn dặm, nhưng chỗ nào có mây thì thấy trời bị ngăn cách, chỗ không mây thì thấy trời có cả ngàn dặm. Trời không phải là hai, nhưng tùy sự che đậy của mây mà thấy trời có ngắn có dài, có gần có xa. Thế nên, thấy trời gần, xa, ngắn, dài chỉ là do mây. Trời là để dụ cho Pháp thân, còn mây nhiều ít là để dụ cho Hóa thân tùy duyên thấy có lớn nhỏ sai biệt. Như vậy hai câu trả lời này để nói rõ rằng Phật giáng sanh ở vương cung hay đi giáo hóa người đó là Phật hóa thân, còn Phật pháp thân vẫn nguyên vẹn, vẫn sẵn đủ chưa bao giờ đến đi, mà không đến đi nên việc gì cũng đã xong. Đó là ý nghĩa của câu hỏi và câu đáp.

Tăng hỏi:

Chưa rời cung, chưa ra đời đã được chỉ dạy.
Đã rời cung, đã ra đời việc thế nào?

Như vậy Ngài chỉ dạy lúc đức Thế Tôn chưa rời cung trời Đâu-suất, chưa ra khỏi thai mẹ, bây giờ sau khi đã rời cung trời Đâu-suất, đã ra khỏi thai mẹ rồi thì việc đó làm sao?

Vua đáp:

Mây sanh đảnh núi toàn màu trắng,
Nước đến Tiêu Tương một dáng trong.

Nghĩa là mây sanh ở trên đảnh núi thì tuy mây có nhiều cụm, nhiều áng, nhưng chỉ toàn một màu trắng. Còn nước sông Tiêu, nước sông Tương ở bên Trung Hoa khi chảy đến chỗ giáp nhau thì dòng sông sâu, nên lóng thành nước trong. Hai dòng tuy khác nhưng đến chỗ cứu kính đều trong. Như vậy trên thì lấy thể mà nói, dưới lấy dụng mà nói. Dụng là gì? Tức là mây, mây là tướng sanh diệt, tuy tướng sanh diệt khác nhau nhưng đồng màu. Nước sông Tiêu khác, nước sông Tương khác đến chỗ giáp nhau cũng đồng một sắc. Như vậy tuy rằng đã có giáng sanh ở vương cung, đã ra đời giáo hóa, nhưng thể cũng không hai. Hiểu như thế mới thấy câu trả lời khéo léo của Ngài. Ở trên nhắm thẳng về mặt trăng, về bầu trời là chỉ cái thể, còn dụng là Hóa thân tùy duyên ứng hiện trăm ngàn thứ khác nhau, nhưng thể vẫn không hai.

Tăng hỏi:

Mưa tạnh sắc núi sáng,
Mây đi trong động ngời.

Vì sao ẩn hiển như một?

Nghĩa là trên những ngọn núi khi sắp mưa thì trời mù mịt, đến khi mưa tạnh thì núi hiện rõ ràng, nên sắc núi sáng. Mây che thì cửa hang động tối, mây qua rồi thì cửa hang động sáng ngời. Như vậy có tối có sáng rõ ràng. Hai hình ảnh đó có khác nhau, khi mưa khi tạnh núi có hai hiện tượng khác, khi mây che khi mây tan cửa động có hai hiện tượng khác, tại sao lại nói ẩn hiển như một? Trong kinh nói: Ẩn hiển không hai là sao? Câu hỏi này thật khó trả lời, nếu mình không khéo thì không làm sao đáp nổi.

Vua đáp:

Trừ người quả thật con ta đó,
Ai kẻ bạo chân vào đường này.

Lý ẩn hiển không hai trừ người thật là con trong nhà Thiền mới thấy được chỗ đó, còn kẻ khác thì không dám bước chân vào đây. Cho nên Ngài nói rõ “trừ người quả thật con ta đó, ai kẻ bạo chân vào đường này”. Như vậy thì ẩn hiển như một là để chỉ người đạt đạo rồi mới thấy rõ điều đó, còn người chưa đạt đạo thì lúc nào cũng thấy là hai.

Tăng hỏi:

Xưa nay không lối khác,
Người đạt cùng chung đường.

Bệ hạ có nhận chỉ Thế Tôn đắc đạo chăng?

Trong kinh nói “xưa nay không lối khác, người đạt cùng chung đường” là chỉ chỗ chân thật xưa nay không có lối nào khác, ai đạt đạo cũng đi chung con đường đó. Mà đã không lối khác, vậy tại sao nói riêng Thế Tôn được đạo? Ai cũng lối đó, ai cũng đường đó, ai cũng được đạo, tại sao nói riêng Thế Tôn được đạo? Như vậy bệ hạ có nhận riêng Phật được đạo không?

Vua đáp:

Mưa xuân không cao thấp,
Cành hoa có ngắn dài.

Câu trả lời thật hay “mưa xuân không cao thấp”. Nghĩa là trời mưa thì bình đẳng không cao thấp, nhưng mà “cành hoa có ngắn dài”, nên hứng nước mưa có nhiều có ít khác nhau. Vậy là khác nhau tại cành hoa chớ không phải tại mưa. Mưa đó chỉ cho cái gì? Cũng như ở trên nói “xưa nay không lối khác, người đạt cùng chung đường”, đó là ý nói tất cả chúng sanh đồng thể, đồng có tánh giác, thì đâu riêng gì Phật đắc đạo, mà ai có tánh giác cũng có quyền đắc đạo. Nhưng tại sao chỉ nói đức Thế Tôn đắc đạo, còn chúng ta không ai đắc đạo? Vì đức Thế Tôn biết tu nên ngộ được tánh giác, còn chúng ta không biết tu nên chưa ngộ được tánh giác. Tánh giác đó ở đây nói “mưa xuân không cao thấp”, mưa là chung chớ không riêng ai, nhưng vì cành hoa có ngắn dài, nhỏ lớn, nên hứng mưa, hứng sương có khác nhau. Cho nên khi đọc đến đây chúng ta mới thấy cái nhìn của các ngài vừa thi vị, vừa tường tận ý nghĩa.

Tăng hỏi:

Người người vốn tự người người đủ,
Mỗi mỗi xưa nay mỗi mỗi tròn.

Vì sao Thế Tôn vào núi tu hành?

Trong các vị Thiền sư hay trong kinh Đại thừa luôn luôn nói: Ai ai cũng vốn tự đủ, ai ai cũng vốn tròn đầy. Tự đủ cái gì, tròn đầy cái gì? Là tánh giác, ai cũng đủ ai cũng đầy, vì sao Thế Tôn đầy đủ rồi cứ hưởng đi, vào núi tu hành chi nữa. Đó là ý của câu hỏi.

Vua đáp:

Kiếm vì bất bình mở hộp báu,
Thuốc do trị bệnh ra khỏi bình.

Kiếm quí để trong hộp ngọc, vì bất bình thiên hạ có những cái gian giảo hung ác, nên mới mở hộp lấy kiếm ra để trị những kẻ gian ác. Cũng như thuốc nằm sẵn trong bình vàng nhưng vì bệnh chúng sanh nên mới trút ra để trị bệnh. Như vậy không phải do có giặc mới có kiếm, mà kiếm đã nằm sẵn trong hộp ngọc, cũng như không phải do có bệnh mới có thuốc, mà thuốc đã nằm sẵn trong bình vàng. Vì muốn lợi ích cho người buộc lòng mở hộp lấy kiếm ra, mở bình trút thuốc ra. Như vậy ai ai cũng sẵn đủ, nhưng vì muốn lợi ích cho chúng sanh Thế Tôn phải đi tu. Đó là chỗ đặc biệt cần phải hiểu cho thật rõ. Cũng như chúng ta thấy trong kinh nói ai ai cũng có tánh Phật, cũng có khả năng thành Phật, vậy quí thầy đã có tánh Phật, đã thành Phật, tại sao đi tu làm gì, thì phải hiểu ý đó. Cho nên dùng câu “kiếm vì bất bình mở hộp báu, thuốc do trị bệnh ra khỏi bình”. Như vậy kiếm ra khỏi hộp báu, thuốc ra khỏi bình là vì trị bệnh, vì cứu dân, vì muốn lợi ích cụ thể nên phải hiện ra ngoài. Cũng như đức Thế Tôn có đủ tánh giác, tròn đầy thể bất sanh bất diệt, nhưng vì muốn cho mọi người được lợi ích, được trở về tánh giác mà phải vào núi tu hành.

Tăng hỏi:

Trong mắt thôi để bụi,
Trên thịt chớ khoét thương.

Trên phần người học có tu chứng không?

Con mắt đang mạnh để bụi vào thì xốn. Trên thịt lành khoét một vết thương thì đau. Con mắt không bệnh đang khỏe để bụi vô làm chi. Thịt lành để cho khỏe khoét thêm làm chi. Như vậy là nó đã sẵn, đâu cần làm thêm cái gì nữa. Vậy trên phần người học có tu chứng không? Nghĩa là đã sẵn tánh giác, đã sẵn chân tâm cần tu chi nữa cho thêm chuyện, cũng như con mắt lành bỏ thêm bụi, thịt lành khoét thành vết thương. Như vậy thì cần tu hay không?

Vua đáp:

Nước chảy xuống non đâu có ý,
Mây bay qua núi vốn không tâm.

Nước từ trên núi chảy xuống ầm ầm, mà có ý chảy không? Nước chảy chớ không có ý. Còn mây bay qua núi từng đợt từng đợt có nghĩ rằng che núi không? Như vậy nước chảy mây bay là để nói phần tu chứng, “Tu chứng chẳng phải không mà nhiễm ô không thể được.” Câu trả lời thật hay vì không tâm không ý làm sao nhiễm ô. Câu đáp vừa trung thành với Phật Tổ, vừa là câu văn rất nên thơ. Hai hình ảnh nước trên núi chảy, mây bay qua núi, cả hai đều có động tác mà không tâm không ý. Như vậy tu chứng chẳng phải không mà không có ý để dính mắc sự tu chứng. Vì vậy ngài Hoài Nhượng khi đến với Lục Tổ, Lục Tổ hỏi: Ông từ Tung Sơn đến đây có mang theo vật gì? Ngài không trả lời được, nên xin vào chúng ở tám năm mới phát minh, bèn ra thưa: Bạch Hòa thượng “nói một vật tức chẳng trúng”. Tổ liền hỏi: Có tu chứng chăng? Ngài thưa: “Tu chứng chẳng phải không, nhiễm ô không thể được.” Câu này thật thiết yếu. Cũng như ở đây mây bay nước chảy, mà không ý nên nhiễm ô không thể được. Như vậy bay, chảy là hai động tác hiện tiền nhưng ý không dính không mắc. Cũng như tất cả chúng ta đều có tánh giác sẵn không cần phải tìm kiếm ở đâu, nếu khởi tìm kiếm thì giống như để bụi vào mắt, như khoét thịt để thành vết thương. Tuy nhiên như thế trên phần tu chứng chẳng phải chẳng có. Tại sao? Bởi vì tu chứng là phương tiện để hiển bày cái sẵn có của chính mình, chớ không có ý dính mắc ở chỗ chứng đắc. Thế nên mới dùng hình ảnh nước chảy xuống non đâu có ý, mây bay qua núi vốn không tâm. Đến đây vị Tăng Đức Thành im lặng, nên Vua nói:

Chớ bảo không tâm đây là đạo,
Không tâm còn cách một lớp rào.

Bởi vì ở trên Ngài dùng câu “mây bay qua núi vốn không tâm”, sợ e ông chấp chỗ không tâm nên Ngài nhắc lại “chớ bảo không tâm đây là đạo, không tâm còn cách một lớp rào”. Câu này là dẫn lời của ngài Trường Sa Cảnh Sầm. Ông tăng nghe như vậy thì bẻ lại: Đã nói không tâm, tức nơi tâm đã không thì nói gì là một lớp rào? Ngài liền đáp:

Nước chảy xuống non đâu có ý,
Mây bay qua núi vốn không tâm.

Nói một lớp rào là chỉ cái chấp của người, còn chấp là còn mắc kẹt. Nếu không tâm không ý đâu còn gì chấp, không chấp thì có gì mắc kẹt mà nói một lớp rào. Ngài lập lại câu trên, ông tăng nghe lập lại, không thể đối đáp được. Còn Ngài vừa đáp được ý rất sâu, đồng thời văn thơ cũng thật hay. Cho nên chúng ta thấy Thiền sư Việt Nam vừa thật thà, vừa thi vị, nói rõ được ý nghĩa mà vẫn có thi vị.
_Khách
20-10-09, 12:44
Các bạn hỏi câu "Có phải là tôn giảo" buồn cười ở chỗ "là nó mà không phải là nó". Là tôn giáo hay là không tôn giáo, tùy theo bạn định nghĩa và nó cũng không có ý nghĩa gì với việc bạn có đi Phật đạo không. Theo hay không theo, cần xuất phát từ những câu hỏi của bạn về đời sống, về khổ đau cũng như về mong muốn sống tốt đẹp và chân thật hơn. Như vậy, là tôn giáo thì sao, mà không là tôn giáo thì sao?

Câu hỏi này may ra thì có tí tẹo ý nghĩa với các bạn thuộc ban Tôn Giáo Trưng Ương. Nhưng cái ý nghĩa đấy lại cần một định nghĩa theo kiểu khác hẳn về tôn giáo .

Nếu cứ gắng gượng hỏi không vì cái gì cả, thì chuột nghĩ có thể tạm thời trả lời thế này nhé: Theo cách hiểu nói chung, tôn giáo ít nhất có liên quan tới thế lực siêu nhiên (VD như Thượng Đế toàn năng tạo ra con người từ cái xương sườn) và có tính độc tôn (bạn chỉ được theo 1 tôn giáo, chấp hành qui tắc và thờ phượng 1 đấng duy nhất). Như vậy, đạo Phật, nhất là dòng Tiểu Thừa, như chuột đã trả lời ở trang đầu tiên, có thể coi như không phải là tôn giáo .


@Hoa Tuyết: bài thơ này hay quá

Nhạn bay trên trời cao
Ảnh lưu trên mặt nước
Nhạn không ý lưu bóng
Nước không tâm giữ nhạn


@bạn Mic: Để chuột set cái status "không phải Chen" nhé ;) Kiểu "không phải em, nào đâu phải em, ặc ặc ặc ặc (http://my.opera.com/I%20am%20me%20%5E_*/blog/2008/04/05/khong-phai-em-dam-vinh-hung-siu-black)"
thansammic21
20-10-09, 12:45
Ai thích xem nguyên văn lốt tại đây (http://www.megaupload.com/?d=Y04E6LWL)

Phần vấn đáp trên là một phần trong Khóa Hư Lục
gió
20-10-09, 12:54
Phật giáo giản dị lắm, ngày xưa có một vị vua nhà Lý hỏi một thiền sư đại ý của Phật Pháp là gì ? Thiền sư đáp :

Nhạn bay trên trời cao
Ảnh lưu trên mặt nước
Nhạn không ý lưu bóng
Nước không tâm giữ nhạn

Sau này, vua Trần Thái Tông ( ông của vua Trần Nhân Tông) cũng có làm bài kệ rằng :

Nước chảy xuống non đâu có ý
Mây bay qua núi vốn không tâm
Ngàn sông có nước ngàn trăng hiện
Muôn dặm không mây muôn dặm trời .

Phật Giáo là như thế, ngoài ra không có gì khác .
Hố hố, đây đúng là bài em thích từ lâu rồi:

Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm

(Tạm dịch nghĩa: Chim nhạn bay dài qua không trung
Ảnh chìm dưới dòng sông lạnh
Nhạn không có ý để lại dấu tích
Sông không có lòng lưu lại bóng hình)
Chen
20-10-09, 13:04
Hố hố, đây đúng là bài em thích từ lâu rồi:

Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm

(Tạm dịch nghĩa: Chim nhạn bay dài qua không trung
Ảnh chìm dưới dòng sông lạnh
Nhạn không có ý để lại dấu tích
Sông không có lòng lưu lại bóng hình)

Cám ơn Gió nhé. :hihihi:
thansammic21
20-10-09, 13:09
ẢNH TRẦM HÀN THỦY

Bài này để chú giải bài thơ "Ảnh Trầm Hàn Thủy" của Thiền Sư Hương Hải, thuộc Thiền Phái Trúc Lâm, trong một pháp thoại với vua Lê Dụ Tông. Riêng cũng để trả lời cho câu hỏi của một người bạn cách nay nhiều năm, mà lúc đó chưa thể nói hết ý, vì thứ nhất là khó giải bày những hình ảnh Thiền cho người bạn Thiên Chúa giáo, thứ nhì là câu hỏi đó do trước là một hiếu kỳ văn học, sau là một tò mò về Thiền, chứ không để tâm về chỗ thực tham thực ngộ, dù vậy nay cũng có lời để cảm ơn tri ngộ. Nếu có lời nào trong bài này hợp ý Tổ thì đó là nhờ ơn sâu day dỗ của Thiền Sư Trạm Nhiên Tịch Chiếu, chùa Tây Tạng (Bình Dương, Việt Nam); nếu có lời nào chưa phải, xin trọn lòng sám hối trước ba đời chư Phật.

Bấy giờ Thiền Sư Hương Hải đã 78 tuổi, được vua Lê Dụ Tông mời vào nội điện lập đàn cầu tự vì hiếm con. Vua hỏi Sư:

- Trẫm nghe Lão Sư học rộng nhớ nhiều, vậy xin Lão Sư thuyết pháp cho Trẫm nghe để Trẫm được liễu ngộ.

Sư đáp:

- Xin bệ hạ chí tâm nghe cho thật hiểu 4 câu kệ này:

Phản văn tự kỷ mỗi thường quan
Thẩm sát tư duy tử tế khan
Mạc giáo mộng trung tầm tri thức
Tương lai diện thượng đổ sư nhan.

Thượng Tọa Thanh Từ dịch là:

Hằng ngày quán lại chính nơi mình
Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh
Trong mộng tìm chi người tri thức
Mặt Thầy sẽ thấy trên mặt mình.

Qua cách đặt câu hỏi của một người nào đó, chúng ta có thể xét định được tầm nhìn, tầm hiểu của người hỏi. Ở đây ta thấy vua Lê tìm Sư là do ý định cầu tự tìm con trai, chứ khởi tâm không có ý định cầu pháp giải thoát. Người xưa muốn hiểu đạo phải trèo núi vượt sông, tìm đủ thiện tri thức, không tiếc thân mệnh mình, chứ có đâu quan liêu thoải mái như ông vua này. Ta thấy ngay động cơ tìm nhau đã là chưa ổn rồi. Nhưng vì lòng từ bi, Thiền Sư cũng mượn phương tiện thiện xảo, giở trò phù thủy lập đàn cầu tự, để tìm cơ hội hóa đạo.

Vua nói: "...Lão Sư học rộng nhớ nhiều..." Thế là hỏng, không có câu nào phỉ báng một Thiền Sư hay ho đến như vậy. Nói câu này với một Giảng Sư, Pháp Sư hay Luận Sư thì thật là tuyệt diệu, không lời khen ngợi nào hơn. Nhưng tai hại thay, người trước mặt lại là một Thiền Sư, thật là hỏng bét. Nhắm ngay một người chủ trương bất lập văn tự mà không chịu hỏi chỗ không lời mà nói, không tâm mà nắm, không ý mà truyền, lại khen rằng sao đầu Thầy nhồi nhét lắm chữ thế... Không gì nhảm hơn. Ngay câu đầu mở miệng, vua đã hiện tướng chồn hoang rồi, biết tới kiếp nào mới thành sư tử.

Kế tiếp, vua nói "... để Trẫm liễu ngộ." Vậy là cũng có hùng tâm lắm, can đảm lắm, dám đòi ngộ ngay sau một bài pháp. Nhưng căn bản đã sai rồi, nếu bài pháp này do chỗ "học rộng nhớ nhiều" thì không thể nào có một Thiền Sư đứng trước mặt như vậy và cũng không thể nào vua liễu ngộ sau một lời được. Một bài pháp thích đáng phải là do chỗ không có gì để học và cũng không có gì để nhớ.

Đối với mỗi căn cơ, các Thiền Sư sẽ có những cách dạy khác nhau. Ngay cả đối với hàng căn cơ cực cao, các Sư cũng phải chuẩn bị mọi chuyện thuần thục rồi mới nói chuyện tới. Ở đây, ta thấy Sư Hương Hải đã dùng nhiều lời cho thích hợp với ông vua hỏng kiểu này.

Ý của Sư qua 4 câu đó là, mỗi giây phút trong đời, vua phải quán sát, nghe ngóng tâm mình. Mình đang ở trong một giấc mộng lớn (ý là cuộc đời như huyễn này) này đâu cần phải tìm chi thiện tri thức (cũng là người mộng trong giấc mộng này thôi). Cứ quán sát tự tâm như vậy hoài tới một lúc sẽ thấy được khuôn mặt của Thầy (ý là mặt Phật) trên khuôn mặt của mình. Rõ ràng ở đây chẳng có gì là bí hiểm cả, cũng chẳng có đánh đập la hét gì cho có Thiền vị cả. Câu chuyện chỉ là cứ việc theo dõi các niệm trong tâm liên tục như vậy, tới một lúc sẽ thấy mặt Thầy (hay mặt Phật, Tánh Phật hay Tâm Phật) trên mặt mình (hay tự tâm).

Từ phản văn tự kỷ cho tới thẩm sát tư duy vẫn chưa đúng là Thiền Đốn Ngộ. Hay nói đúng hơn, đó mới chỉ là Như Lai Thiền chứ chưa thực là Tổ Sư Thiền. Trước khi phân biệt hai thứ Thiền này, chúng ta nên nói thêm về cách trả lời của các Thiền Sư. Giáo pháp của đức Phật được ví như ngón tay chỉ mặt trăng. Các Thiền Sư thường không ưa nói về ngón tay mà thường chặt phăng ngón tay để nói thẳng tới mặt trăng. Bởi vì cái con đường có giá trị nhất phải là cái con đường không có đường, cánh cửa vào nhà Tổ trực tiếp nhất phải là cửa không cửa. Có gì đâu phải loanh quanh đi tìm đường lên Niết Bàn hay cửa vào nhà Tổ, trong khi chỉ cần chớp mắt cho rụng tí bụi đã thấy ngay ta vẫn hằng ngồi yên trong Thanh Tịnh Pháp Thân. Mà vốn thật có chi gọi là bụi đâu mà phải chớp mắt nhướng mày hay là lau sạch đài gương.

Hai cách gọi Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền thường ít được dùng vì thật sự cả hai đều từ một gốc mà ra. Nhưng sự phân biệt chỉ là để nhấn mạnh hơn một nghĩa khác biệt. Như Lai Thiền là những pháp môn Thiền do từ lời dạy của đức Phật. Tổ Sư Thiền là pháp môn Thiền không do từ lời dạy mà do từ cử chỉ của Phật khi cầm đóa hoa đưa lên và mỉm cười. Bấy giờ chỉ duy có ngài Ca Diếp hiểu được và nhận truyền thừa. Các Tổ truyền đăng pháp nay qua nhiều đời, tới khi gặp những cơ may của đời sau mới phát triển rộng ở các nước Tây Tạng, Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản... Tổ Sư Thiền còn nhiều tên gọi khác để chỉ như là Đốn Ngộ Thiền, Trực Chỉ Thiền, Phật Tâm Tông, Tâm Tông... Quan niệm của Như Lai Thiền là phải huân tập từ từ (tiệm) đầy đủ giới, định, huệ mới thành Phật được. Quan niệm của Tổ Sư Thiền là đốn, là ngay tức khắc, là một nhảy liền vào đất Như Lai như cách nói của Thiền Sư Huyền Giác trong Chứng Đạo Ca:

Đốn giác liễu Như Lai Thiền.

(Nếu đốn ngộ được thì là hoàn thành hết cả Như Lai Thiền)

Bởi vì Trong Tự Tánh đã saün đủ giới, định, huệ. Vả lại, giới, định, huệ do sự tu tập làm sao bằng được giới, định, huệ của Thanh Tịnh Pháp Thân. Vấn đề chỉ còn là làm sao nhảy được vào đất Như Lai. Cách tốt nhất vẫn là tìm cho được một vị thầy có bản sắc của Tông môn.

Bốn câu kệ trên của Sư Hương Hải vẫn còn dựa vào Như Lai Thiền. Những gì là phản văn với thường quan với thẩm sát tư duy chưa có gì là trực chỉ hết. Đây vẫn còn là ngón tay chứ chưa là mặt trăng, vẫn là con đường có đường và cánh cửa có cửa. Sư có thương vua Lê cũng không thể nói khác hơn được vì ông vua này mới mở miệng đã bốc mùi chồn hoang rồi, chưa được chuẩn bị để húc đầu vào vách bạc tường sắt. Ngay cả câu cuối, nói sẽ thấy mặt Phật trên mặt mình cũng chỉ mới là Như Lai Thiền. Cái chữ tương lai đầu câu bốn đã làm hỏng cả những kiểu nói của Huệ Năng, Huyền Giác... Làm sao nhảy được vào đất Như Lai với cặp nạng của phản văn với thẩm sát nhỉ. Đây là chỗ không một tâm có thể nắm bắt được thì lấy tâm nào là tâm tương lai để thấy được tâm Phật trong tâm mình. Cốt yếu của Tổ Sư Thiền còn ở chỗ này: Còn thấy được tâm Phật trong tâm mình vẫn chưa là thực ngộ.

Vua Lê Dụ Tông vẫn còn ngơ ngơ ngác ngác. Cái này là đương nhiên, có đánh thêm ba mươi gậy vẫn còn là hỏng kiểu. Vua lại hỏi thêm:

- Thế nào là ý của Phật?

Sư đáp:

Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

Thượng Tọa Thanh Từ dịch nghĩa:

Nhạn bay trên không
Bóng chìm đáy nước
Nhạn không có ý để dấu
Nước không có tâm lưu bóng.

Một lần nữa, chúng ta phải lắc đầu đến nản vì ông vua này. Lần đầu phải gọi là chồn hoang, lần này không biết gọi là gì cho đáng. Đứng trước mặt một người dạy Tổ Sư Thiền mà hỏi ý của Phật là nhảm nhí không gì bằng. Muốn biết ý Phật cứ việc lật kinh điển ra đọc là đủ. Phật đã nói hết cả, đâu có giấu gì đâu. Duy có điều không nói được là không nói được mới đáng hỏi chứ. Câu đáng lý ra phải hỏi là "Ý của Tổ Sư là gì?" vẫn được các Thiền sinh thắc mắc từ đời này qua đời nọ. Để cho có vẻ chính quy sách vở hơn thì là như hà thị Tổ Sư Tây lai ý, ý của Tổ Sư (Bồ Đề Đạt Ma) từ phương Tây tới là gì. Đầu thai ba mươi kiếp nữa biết Lê Dụ Tông có thấm nỗi trận đòn này chưa, khổ quá, hỏng không gì bằng, chỉ mệt cho người đời sau phải lôi pháp thoại này ra chú giải.

Sau khi nghe bài thơ của Sư, vua khen ngợi:

- Lão Sư thông suốt thay.

Khổ quá, hiểu không nổi, hỏi không xuôi, mà lại khen như thầy người ta ấy, như thể vừa cố tâm bắt bí học trò. Nào có biết đâu Lão Sư vừa mới bắt bí đến cả mấy chục đời sau. Nắm được diệu nghĩa của mấy câu này cũng đủ để đi hiên ngang giữa dòng đời bất tuyệt mà không dính một tí bụi vào thân.

Chúng ta có thể thấy thứ tự câu chuyện như vầy. Đầu tiên vua khen Sư học rộng nhớ nhiều rồi xin nghe một bài pháp để được liễu ngộ. Sư tặng cho bốn câu chỉ pháp Như Lai Thiền. Bốn câu này dễ hiểu quá, Trời ơi, vua tưởng bở thừa thắng xông lên, hỏi thêm một câu trật chìa nữa. Sư vẫn rất mực từ bi, phơi mở tận cõi lòng, tặng thêm bốn câu chỉ pháp Tổ Sư Thiền. Tới đây vua mới choáng váng mặt mày, biết là khó ăn, mới khen một lời, ý là để xin thôi.

Ta thấy bài này để chỉ pháp cho hàng thượng căn, chỉ ngay cảnh giới của chư Phật. Ở đây Sư đã rất mực từ bi, vua hỏi ý của Phật, Sư chỉ ngay cảnh giới chư Phật, nào có khó tính như các Sư khác. Đúng ra nhằm một câu hỏi trật cách Tông môn như vậy, câu trả lời đáng là bảo vua về lật kinh điển mà tìm ý của Phật. Hiểu được ý của Phật chưa chắc đã hiểu được lời của các Thiền Sư. Nhưng hiểu được lời của các Thiền Sư chắc chắn hiểu được ý Phật.

Cánh chim nhạn bay trên không. Ảnh của chim hiện trong nước. Ảnh chỉ hiện đúng được khi sóng (niệm) lặng. Chim nhạn (hay vật, hay cảnh, hay là pháp) không có ý lưu dấu (đây là chỗ mây rồi sẽ bay qua đi, sóng rồi sẽ lặng xuống, bụi vốn không thật là bụi, niệm vốn thật vô tự tánh).

Nước (hay là Tánh của Tâm, đây là chỗ Thức đã chuyển thành Trí) cũng không có tâm (đây là tâm vô tâm, hay tâm của kẻ giác ngộ, gọi khác là tâm đã không còn một hiện tượng) lưu bóng chim nhạn (đây là chỗ cảnh tự trụ cảnh, niệm cứ việc khởi, bụi cứ việc bay, nhưng gương Trí đã sáng, sự thật là vốn hằng sáng, thì lấy đâu là nơi cho niệm lưu, cho bụi bám). Sư đã rất mực từ bi, bài toán này không thích hợp cho ông vua đa tình hiếm con này.

Đây là cảnh giới của vô tâm, nhưng Hồ đến thì hiện Hồ, Hán đến thì hiện Hán (như cách gọi của Sư Lâm Tế).

Cánh chim nhạn (hay là cảnh, hay pháp) thấy được là không (pháp vốn tự tánh) rồi, và nước (khi bặt sóng, hay tâm vô tâm, hay Tánh của Tâm, hay tánh vô tự tánh của tâm) đương nhiên hiện ảnh (nhạn đến thì hiện nhạn) mà không hề khởi tâm (tâm đã không thì lấy gì để khởi), mà cũng không có tâm lưu ảnh (thấy được tánh của pháp là vô tự tánh, tánh của niệm là vô tự tánh, vào nơi vô niệm mà niệm vẫn hằng sinh, hay ở nơi niệm mà vẫn hằng vô niệm - tâm của kẻ giác ngộ - thì lấy tâm nào để mà lưu ảnh).

Nhưng lấy đâu làm viên gạch dộng cửa để vào nhà Tổ đây, lấy gì làm trớn để một nhảy liền vào đất Như Lai, đứng thẳng ở cảnh giới này? Đối với hàng thượng căn, mọi chuyện thầy đã chuẩn bị thuần thục, thì bốn câu này là đủ. Ngoài ra thì hoàn toàn không có viên gạch nào dộng cửa trong bốn câu này cả, không một phương tiện thiện xảo nào để vin lấy mà đi cả. Cánh cửa đã mở rộng tới hư không thì biết đâu là cửa để mà vào, quan ải đã quét sạch (trong 4 câu này) tận hư không thì làm sao người Thiền sinh biết chỗ mà một đao qua ải?

Một khi đã thấy pháp (hay cảnh, hay nhạn) vốn vô tự tánh (không ý lưu bóng) và nước (tâm) vốn vô tự tánh (nên không tâm lưu ảnh) thì đã vượt qua cả cảnh giới tâm cảnh nhất như (cảnh giới thứ ba của Tứ Liệu Giản, pháp không và tâm không). Đây là cảnh giới thứ tư của Tứ Liệu Giản, tâm tự trụ tâm, cảnh tự trụ cảnh; pháp và tâm đã không (vô) tự tánh được rồi lại tới đây (trong 4 câu này) ngay đến cái không (vô) đó cũng không dựng lập lên thì lấy đâu mà không với có nữa. Bấy giờ là cảnh giới niệm khởi mặc niệm mà tâm vẫn hằng vô niệm, lấy gì mà dựng lập Niết Bàn với sinh tử, thiên đường hay địa ngục.

Nói trở lại, tâm đã không và pháp đã không thì hiện tướng tâm cảnh nhất như, chỉ còn một cái thấy biết mình người không cách nhau tới một sợi tóc, thấy tính bình đẳng của vạn pháp (phạm trù thứ ba nhắc trên). Nhưng trong bốn câu này, cái đa (mình người, tâm pháp, nước và nhạn) đương nhiên đã không dựng lập (vốn không ý không tâm thì lấy gì mà dựng với lập), mà ngay đến cái nhất (mình người, tâm pháp vô phân biệt) cũng không hề có (cái vô phân biệt cũng không hề dựng lập) thì lấy gì mà gọi nhất như với như nhất nữa. Nói trở lại lần nữa cho rõ hơn, không thấy cái đa thù (phân biệt) thì thấy cái nhất như (tính bình đẳng hay tâm vô phân biệt), nhưng ở đây (bốn câu của Sư Hương Hải) trong cảnh giới này ngay đến cái như ấy còn không dựng lập thì còn chỗ đâu mà đa với nhất, mà gọi là phân biệt hay vô phân biệt. Nói cho đúng thuật ngữ nhà chùa là, ở chỗ này, lấy gì để mà đoạt với bất đoạt.

Trong bốn cảnh giới thấy tánh vô tự tánh của Tứ Liệu Giản, Thiền Sư Hương Hải lại lấy ngay cảnh giới thứ tư chỉ cho vua Lê Dụ Tông thì làm sao ông vua đa tình hiếm con này liễu ngộ được. Khổ quá, ai bảo đòi biết ý Phật làm chi. Cái tướng đa thù đã không còn mà ngay đến cái tướng nhất như cũng không thấy nữa, ngay đến cũng không thấy các đẳng đâu để hiện tướng bình nữa thì lấy đâu cửa mà vào. Còn như nếu vua trở lại bốn câu Như Lai Thiền (Phản văn...) để tìm cửa vào thì tới kiếp nào mới thành sư tử. Như vậy, vấn đề của vua Lê cũng như của chúng ta hôm nay là phải đi tìm chìa khóa (hay viên gạch dộng cửa) để vào nhà Tổ.

Theo quan niệm của chư Tổ là nói nhiều về viên gạch dộng cửa thực sự không có lợi cho người muốn thực tham thực ngộ. Riêng bốn câu thơ Ảnh Trầm Hàn Thủy cũng đã quá đủ rồi, đi lối bặt đường chim không phải là đã à. Còn muốn chi tiết hơn, đó là vấn đề của các dòng Lâm Tế, Tào Động, Tây Tạng...

Nếu bài này có chút gì sai hay ngã mạn với vua Lê, xin trọn lòng sám hối. Nếu có chút gì công đức, xin biến cùng tận pháp giới đưa tất cả chúng sinh đồng thành Phật đạo.

Tác giả: Nguyên Giác Phan Tấn Hải
_Khách
20-10-09, 13:51
Vua nói: "...Lão Sư học rộng nhớ nhiều..." Thế là hỏng, không có câu nào phỉ báng một Thiền Sư hay ho đến như vậy. Nói câu này với một Giảng Sư, Pháp Sư hay Luận Sư thì thật là tuyệt diệu, không lời khen ngợi nào hơn. Nhưng tai hại thay, người trước mặt lại là một Thiền Sư, thật là hỏng bét. Nhắm ngay một người chủ trương bất lập văn tự mà không chịu hỏi chỗ không lời mà nói, không tâm mà nắm, không ý mà truyền, lại khen rằng sao đầu Thầy nhồi nhét lắm chữ thế... Không gì nhảm hơn. Ngay câu đầu mở miệng, vua đã hiện tướng chồn hoang rồi, biết tới kiếp nào mới thành sư tử.

Kế tiếp, vua nói "... để Trẫm liễu ngộ." Vậy là cũng có hùng tâm lắm, can đảm lắm, dám đòi ngộ ngay sau một bài pháp. Nhưng căn bản đã sai rồi, nếu bài pháp này do chỗ "học rộng nhớ nhiều" thì không thể nào có một Thiền Sư đứng trước mặt như vậy và cũng không thể nào vua liễu ngộ sau một lời được. Một bài pháp thích đáng phải là do chỗ không có gì để học và cũng không có gì để nhớ.

Đối với mỗi căn cơ, các Thiền Sư sẽ có những cách dạy khác nhau. Ngay cả đối với hàng căn cơ cực cao, các Sư cũng phải chuẩn bị mọi chuyện thuần thục rồi mới nói chuyện tới. Ở đây, ta thấy Sư Hương Hải đã dùng nhiều lời cho thích hợp với ông vua hỏng kiểu này.

Ý của Sư qua 4 câu đó là, mỗi giây phút trong đời, vua phải quán sát, nghe ngóng tâm mình. ...... Cứ quán sát tự tâm như vậy hoài tới một lúc sẽ thấy được khuôn mặt của Thầy (ý là mặt Phật) trên khuôn mặt của mình. Rõ ràng ở đây chẳng có gì là bí hiểm cả, cũng chẳng có đánh đập la hét gì cho có Thiền vị cả. Câu chuyện chỉ là cứ việc theo dõi các niệm trong tâm liên tục như vậy, tới một lúc sẽ thấy mặt Thầy (hay mặt Phật, Tánh Phật hay Tâm Phật) trên mặt mình (hay tự tâm).



Nói thế này đúng nhưng bài viết cho thấy tác giả còn thiếu tính thiền nhiều .




Hai cách gọi Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền thường ít được dùng vì thật sự cả hai đều từ một gốc mà ra. Nhưng sự phân biệt chỉ là để nhấn mạnh hơn một nghĩa khác biệt. Như Lai Thiền là những pháp môn Thiền do từ lời dạy của đức Phật. Tổ Sư Thiền là pháp môn Thiền không do từ lời dạy mà do từ cử chỉ của Phật khi cầm đóa hoa đưa lên và mỉm cười. Bấy giờ chỉ duy có ngài Ca Diếp hiểu được và nhận truyền thừa. Các Tổ truyền đăng pháp nay qua nhiều đời, tới khi gặp những cơ may của đời sau mới phát triển rộng ở các nước Tây Tạng, Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản... Tổ Sư Thiền còn nhiều tên gọi khác để chỉ như là Đốn Ngộ Thiền, Trực Chỉ Thiền, Phật Tâm Tông, Tâm Tông... Quan niệm của Như Lai Thiền là phải huân tập từ từ (tiệm) đầy đủ giới, định, huệ mới thành Phật được. Quan niệm của Tổ Sư Thiền là đốn, là ngay tức khắc, là một nhảy liền vào đất Như Lai như cách nói của Thiền Sư Huyền Giác trong Chứng Đạo Ca:

Đốn giác liễu Như Lai Thiền.

(Nếu đốn ngộ được thì là hoàn thành hết cả Như Lai Thiền)



Đốn Ngộ thiền không phải phút chốc mà đạt được mặc dù thoạt trông thì tưởng thế . Để ngộ được với Tổ Sư thiền, chuột nghĩ người tu thường đã có nhiều năm dày công tu luyện và xuất tâm thị Phật, nhất tâm hướng Phật trong một thời gian dài, đồng thời hoặc là tự mình có căn hoặc hữu duyên gặp thầy giỏi.
Hoa Tuyết
20-10-09, 17:06
Các bác nào mới tìm hiểu về Phật Giáo mà đọc Thiền đốn ngộ thì chỉ tổ bỏ chạy và lại càng thấy rắc rối chứ không giản dị .

Giống như câu kệ :

Kiếm vì bất bình mở hộp báu,
Thuốc do trị bệnh ra khỏi bình.

Sở dĩ Đạo Phật nói đông nói tây, ấy là do người nghe có bệnh, Đức Phật tùy bệnh mà cho thuốc .

Người nào yêu cái thân mình quá, cung phụng nó đủ điều, cho mình là nhất, coi khinh người khác, thì Phật thuyết về vô ngã, chỉ cho thấy cái thân mình do nhân duyên mà hợp thành, chỉ cho thấy ngoài mấy việc mình điều khiển được như đi đứng nằm ngồi, vv...vv thì những việc lớn như sinh, lão, bệnh, tử mình đều không làm chủ được, lại hơn nữa, thân do nhiều thứ hợp thành như da, xương, máu, tim, gan, phổi...nên không là duy nhất, lại biến đổi theo thời gian nên không còn mãi, tâm cũng vậy, lúc vui lúc buồn, khi tức giận mà rất ít khi làm chủ được mình .

Người nào cho rằng cái gì cũng còn mãi, thì Đức Phật nói về vô thường, như chiếc lá sinh ra rồi rơi xuống đất, hóa thành đất, lại nuôi cây, như giọt mưa trên mây xuống ao hồ, rồi lại ra biển cả, vạn vật biến đổi luôn luôn nên có người quét sân thấy lá cây rơi mà ngộ đạo, có người trải chiếu thấy chiếu hôm sau cũ hơn hôm trước mà thấy được vô thường, nên bỏ dần những tham lam vào sắc đẹp, của cải hay những gì còn dính mắc ở thế gian .

Lại có người hết tìm dục lạc vào những hạnh phúc của thế gian này, như making love, như uống rượu, như đam mê cờ bạc vv..vv thì Đức Phật chỉ cho cái hạnh phúc ấy là hạnh phúc giả tạm, ăn vào đòi nữa, nào thấy no đâu, hạnh phúc ấy là hạnh phúc có điều kiện, tình yêu ấy là tình yêu Nếu..thì .

Đức Phật chỉ cho rằng đó là khổ, khổ vì bị phụ thuộc, phải có nó thì mới hạnh phúc, còn không có nó thì người như thiếu thốn khổ sở, nên đàn ông thì lao vào kiếm tiền, đong gái, nhậu nhẹt, để tìm cái thú vui giả tạm ấy, đàn bà cũng thế, Ngài chỉ ra rằng đâu là hạnh phúc chân thật, hạnh phúc không điều kiện, và tình yêu không nếu thì .

Do căn cơ mỗi người khác nhau, bậc thượng căn, có tố chất thông minh đĩnh ngộ như các bác em ở đây, thì Phật có pháp môn Thiền đốn ngộ, hay Thiền tối thượng thừa, nghĩa là chỉ thẳng bản tâm, để thấy được cái tánh sáng suốt của mình, nói thế không có nghĩa là chê những người không thông minh là tiểu thừa này nọ, mà là phù hợp với căn cơ của người đó mà chọn, người già thì có pháp môn Tịnh Độ, kẻ thì Phật thuyết về Thiền tứ niệm xứ ....

Đức Phật tùy bệnh mà cho thuốc, người chấp vào có thì ngài nói về không, kẻ chấp vào không thì ngài nói về có, người ngoài cho rằng thế là ngụy biện, nhưng giống như con thuyền đi giữa dòng nước, không cập vào lề bên trái hay bên phải thì đi được xuôi dòng mà ra biển lớn .

Cho nên người nào tâm được giải thoát khỏi các phiền não khỏi cuộc sống, giống như : Tự do là ung dung trong ràng buộc, hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau, biết làm chủ mình rồi thì chẳng cần Phật Pháp, thậm chí biết vào còn có hại thêm, giống như là thuốc bổ, khéo dùng thì khỏe mà dùng không đúng thì thêm nhiều bệnh .
lm2
20-10-09, 17:09
http://xomnhiepanh.com/uploads/gallery/2009/10/20683_1255942678.jpg
Chen
20-10-09, 17:53
Các bác nào mới tìm hiểu về Phật Giáo mà đọc Thiền đốn ngộ thì chỉ tổ bỏ chạy và lại càng thấy rắc rối chứ không giản dị .


Bạn Hoa Tuyết này, nếu không phải là sư, thì quả thật rất đáng để kết bạn.

Căn bản Phật học thâm hậu thật.

Phật giáo vốn giản dị. Càng giải thích nhiều, càng đâm rắc rối. Thị Mịch trên kia trích những bài rất dài, thực là làm người khác đọc mệt. Nhưng trong bài đó cũng loé lên một ý thú vị. Không hiểu mới là gần Phật nhất.

Tự nhiên như nhạn bay trên trời, nước trôi dưới đất, mây qua đỉnh núi, thế là gần chân tính nhất.

Hiểu biết về Phật giáo của tôi, chỉ gói ghém trong rất ít từ. Tuỳ duyên. Nhân quả. Phương tiện. Sắc Không.

Chỉ thế thôi.

Âu cũng là cái liễn. Đủ rồi.


Cho nên người nào tâm được giải thoát khỏi các phiền não khỏi cuộc sống, giống như : Tự do là ung dung trong ràng buộc, hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau, biết làm chủ mình rồi thì chẳng cần Phật Pháp, thậm chí biết vào còn có hại thêm, giống như là thuốc bổ, khéo dùng thì khỏe mà dùng không đúng thì thêm nhiều bệnh .

Khó quá. Đời bám lấy mình chặt lắm. Giận dữ, băn khoăn, lo lắng, dằn vặt, buồn rầu, mưu cầu... Chắc chả bao giờ đạt được cảnh giới nào hết.
Chen
20-10-09, 18:07
...

Giác ngộ được như em Im2 thật không dễ. Thấu triệt được cái lẽ "Đức Phật tuỳ bệnh mà cho thuốc", em thừa biết các anh giai TL đang thiếu thốn cái giề, nên post ảnh gái lên.

Chỉ tiếc, ảnh không phải là thứ nóng hôi hổi, thơm ngan ngát, say như rượu mạnh, nên nước xa không dập được lửa gần. Hiệu quả không được như ý muốn.

Cơ mà, có cái ảnh, làm không khí Phật giáo sống động và xinh tươi hẳn lên.
I.M
20-10-09, 22:37
Các bạn làm ơn dịch bài viết của các bạn ra Tiếng Việt hộ anh, anh cảm ơn!
Giàng
21-10-09, 03:58
- Này Tu-bồ-đề, giờ đi ngủ nhỉ ông nghĩ sao?

- Ờ, tôi cũng nghĩ vậy. G9 đức thế tôn.
nhaphat
21-10-09, 08:37
Nghe các bạn nói về Thiền mà em cười sặc mẹ nó cả nước miếng hã hã, thiền Phật Giáo theo em nói chung là phò. Nó phò không phải về nguyên thủy nó phò mà vì người đời sau thêm mắm thêm muối cho nó thành hệ thống blah blah thành ra nó phò.

Nguyên gốc của Thiền nếu dùng lời nói thì duy nhất là trạng thái Không... Không phương pháp, không hệ thống, không suy nghĩ, không tâm trí, trong tất cả thời điểm của cuộc sống, chỉ có sự nhận biết... Ví dụ đau khổ thì cứ việc đau khổ không phải tìm cách chốn tránh, mà nhận biết sự đau khổ đấy hoàn toàn. Yêu thì cứ yêu, yêu sai lầm yêu điên cuồng cứ yêu, và nhận biết cái sự yêu đấy bằng hết khả năng. Tham quyền lực, tiền bạc, sắc đẹp thì cứ kiếm tìm quyền lực, tiền bạc, sắc đẹp bằng hết cả khả năng của tâm trí, chỉ có điều nhận biết nó hoàn toàn tức là biết nó hay nó dở nó đau khổ nó sung sướng thế nào, trải nghiệm sâu sắc về nó.... bất cứ việc gì cũng vậy, không ngăn chặn nó mà nhận biết nó thật sâu sắc bằng vô ngã (không có cái tôi của tự ngã) trong suốt quá trình trải nghiệm nó. Sự nhận biết đó bao gồm cả nhận biết thế giới khách quan qua các giác quan và nhận biết sâu sắc hoạt động của tâm trí mình, của đầu óc mình, nhận biết chính cả sự nhận biết. Đến bao giờ hết không còn gì để trải ngiệm, để nhận biết nữa thì tự ngã nó sẽ mất đi vì chẳng còn nhu cầu gì nữa, lúc đó chỉ còn vô ngã. Trong quá trình đó, bản thân cái Ngã nó vừa đóng vai trò tự ngã vừa đóng vai trò vô ngã, vừa là chủ thể hành động vừa là khách thể quan sát nhận biết. Tức là vừa có Người vừa có Phật, đến bao giờ hết tính Người thì chỉ còn Phật.

Việc chia Thiền ra làm bước nọ bước kia tưởng là để dễ cho người tu tập thực ra là tạo ra những rào cản, những cái bẫy, bằng cách bắt tính Không làm việc theo trí óc, tức là để tự ngã chỉ đạo vô ngã, mà thế thì tự ngã đ éo thể nào mất đi, như thế đ éo bao giờ đạt đến vô ngã nổi. Người đó chỉ có thể rơi vào trạng thái tự kỷ ám thị hay còn gọi là tẩu hỏa nhập ma, đờ đờ đẫn đẫn như người hâm mà cứ tưởng là mình đốn ngộ, hã hã... Trong số những người tu Phật giáo hiện giờ trạng thái này đang là phổ biến, vào chùa nhìn thấy sư nói chiện hoa lá cành văn thơ một chút rồi nhận ra ông sư này bị hâm, chán đ éo chịu, Phật đ éo nào dạy thế, hã hã...:D
Giàng
27-10-09, 12:15
Bùi Giáng có lần nói đại ý, con đường tư tưởng là trì trọng. Anh rất ngạc nhiên, tại sao lại trì trọng? Hàng tấn sách vở đổ lên đầu chỉ gọi là học nặng, sao gọi trì trọng cho được?

Em anh có hỏi: bây giờ nơi nào phái nào hoành tráng nhất về triết học? Anh bảo anh có thể chỉ ra nơi đầu ngành về Vật lý nano, chỉ thế thôi. Công việc suy tưởng chưa bao giờ thuộc vào trường phái. Triết nhân chưa bao giờ chỉ đường.

Phật nói ổng chẳng thuyết pháp gì cả đời. Anh lạ sao người ta ghi lại nhiều thế?

Anh thấy hàng triệu người làm sư. Sao anh chỉ thấy vài người mỉm cười?

Tại sao triết nhân lại đọc thơ? Vì thơ là một bài tập thở. Mà triết nhân phải thở đúng để suy tư cho đúng.

Anh hỏi em làm sao yêu em đây? Em nói anh phải bé bằng ngón chân út của con muỗi :D