Ai có ebook cuốn Prisoner of the State của cựu Thủ tướng Trung Quốc Triệu Tử Dương?

Vịt Cồ
19-05-09, 23:14
Các trang mạng vừa giới thiệu cuốn Prisoner of the State của cựu Thủ tướng Trung Quốc Triệu Tử Dương:

Link: www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/05/090518_zhaoziyang_book.shtml

Món này xem ra có vẻ very hot đây bởi những gì ông ta tiết lộ sau khi thất sủng. Viết cũng công phu, đem ra đi in ở HK cũng công phu vô cùng. Bác nào có ebook chia sẻ cho anh em với. Thanks!
GLy
27-07-09, 19:44
Em có mỗi bản tiếng Tàu (giản thể) của quyển này thôi, tên là Cải cách lịch trình:

Cải cách lịch trình (Nguyên bản của Prisioner of the State) (http://www.4shared.com/file/120991749/be78cd7/Geigelicheng.html)

Em tạm dịch cái mục lục và Lời tựa. Bác nào dị ứng Tàu qua thì không nên đọc. Có thời gian em sẽ dịch tiếp.

Mục Lục:
Quá trình cải cách (aka Prisoner of the State – Tù nhân của Quốc gia)

Triệu Tử Dương

NXB Tân Thế Kỉ

Mục lục

Lời tựa: Lịch sử là do nhân dân viết nên

Giới thiệu: Bối cảnh lịch sử của những hồi ức được ghi âm của Triệu Tử Dương

Phần I: Sự kiện Lục Tứ (tháng 6 ngày 4) năm 1989
1. Phong trào sinh viên (SV) Bát Cửu (89) bắt đầu nổi lên
2. Xã luận ngày 26 tháng 4 đã làm mâu thuẫn trở nên gay gắt
3. 2 phương châm xử lí phong trào SV đối lập nhau quyết liệt
4. Quyết định giới nghiêm và trấn áp bằng vũ lực
5. Sự gõ nhịp của Đặng không có đủ tính hợp pháp
6. Thà hạ đài cũng nhất định phải kiên trì chủ trương của mình
7. Đàm thoại cùng Gorbachev

Phần II: Giam cầm cách li xã hội bất hợp pháp
1. 3 năm thẩm tra một cách vô trách nhiệm
2. Những năm tháng giam cầm phi pháp dài đằng đẵng

Phần III: Cải cách thể chế kinh tế và kiến thiết kinh tế
1. Những chủ trương bất đồng của Đặng Tiểu Bình và Trần Vân
2. Năm 1981 tiến một bước điều chỉnh kinh tế
3. Bắt đầu mở cửa đối ngoại
4. Tìm kiếm con đường mới để kiến thiết kinh tế
5. Những ý kiến bất đồng của tôi cùng [Hồ] Diệu Bang về kinh tế
6. Kế hoạch và thị trường
7. Hình thức cải cách thể chế kinh tế từng bước
8. Kinh tế quá nóng, hạ cánh nhẹ nhàng và chỉnh đốn quản lí
9. Phát huy những ưu điểm khắc phục những khuyết điểm để phát triển mậu dịch với nước ngoài
10. Khoán sản lượng ở nông thôn đến cửa
11. Tìm kiếm chiến lược phát triển kinh tế các vùng duyên hải
12. Vài ý kiến bất đồng về chiến lược phát triển duyên hải
13. Tìm kiếm con đường chống hủ bại

Phần IV: Theo Phản tự do hóa đến đại hội Đảng lần thứ 13
1. Hồ Diệu Bang bị ép phải từ chức
2. Phòng ngừa Phản tự do hóa khuếch đại
3. Thuyết dụ Hồ Kiều Mộc và Đặng Lực Quần
4. Chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ 13

Phần V: Kinh tế và chính trị năm 1988
1. Sau Đại hội 13 xuất hiện những tình hình thuận lợi
2. Sự xuất hiện của Đổ xô đi mua và Rút tiền ồ ạt
3. Tác dụng phụ của chỉnh đốn quản lí
4. Xông vào cửa ải cải cách vật giá
5. Cải cách mở cửa chịu những thất bại rất nặng nề
6. Những tiếng nói không hòa hợp từ cấp cao trung ương
7. Nguồn gốc của Đảo Triệu phong (phong trào đả đảo Triệu [Tử Dương])

Phần VI: Cải cách thể chế chính trị
1. Cải cách thể chế chính trị trong quan điểm của Đặng Tiểu Bình
2. Những trở lực đối với cải cách thể chế chính trị chồng chất
3. Thái độ của Hồ Diệu Bang đối với cải cách thể chế chính trị
4. Quá trình nhận thức của tôi đối với cải cách thể chế chính trị

Lời cuối sách

Triệu Tử Dương niên biểu

Nhân danh (tên người) lục

Phụ lục
Phụ lục 1: Một phần ghi âm đơn độc về chiến lược phát triển duyên hải
Phụ lục 2: Giải quyết vấn đề trên quỹ đạo của dân chủ và pháp chế
Phụ lục 3: Bài phát biểu ứng khẩu ngày 19 tháng 5 tại quảng trường Thiên An Môn
Phụ lục 4: Phát ngôn tự biện giải về sự kiện Lục Tứ

Lời tựa:
Lời tựa: Lịch sử là do nhân dân viết nên
Cựu Sở trưởng Sở Xuất bản tin tức Quốc gia Đỗ Đạo Chính

Năm 1989 tại Bắc Kinh đã phát sinh sự kiện Lục Tứ (tháng 6 ngày 4) làm chấn động Trung Quốc và các nước khác trên thế giới, sự kiện này bị xác định tính chất là ‘bạo loạn phản cách mạng’. Sau đó Triệu Tử Dương vì nó mà bị triệt tiêu tất cả các chức vụ trong và ngoài Đảng. Tội danh là ‘Ủng hộ động loạn nhằm chia rẽ Đảng’.

Ngày 17 tháng 5 năm 1989, Triệu Tử Dương đã tổ chức hội nghị gia đình khẩn cấp. Triệu Tử Dương nói với người nhà: ‘Phương án xoa dịu tình hình của tôi chưa được chấp nhận, tình hình có khả năng sẽ rất gay go. Nếu như mâu thuẫn trở nên dữ dội, về mặt lịch sử sẽ là bất hợp tình hợp lí. Tôi đã ngồi ở trên cái ghế này, thì không được phép tán thành làm như thế này. Nhưng, làm thế này tôi cũng có khả năng sẽ bị bắt giam, nhất định sẽ làm liên lụy đến mọi người. Mọi người phải có chuẩn bị tư tưởng về việc này’. Người bạn đời già của Triệu Tử Dương là Lương Bá Kì cùng con cái không một chút do dự, nhất trí bày tỏ sự ủng hộ đối với quyết định lịch sử của Triệu Tử Dương lại thời khắc quan trọng có tính chất sinh tử vinh nhục này.

Sau Lục Tứ, Trung Cộng Trung Ương (TCTƯ) vài lần phái người tìm Triệu Tử Dương đàm thoại. Lần thứ 1, những đồng sự cũ của Triệu Tử Dương là Vương Nhậm Trọng và vài trung ương yếu nhân khác phụng mệnh ra mặt. Vương Nhậm Trọng nói, chỉ cần anh có thể đưa ra sự kiểm điểm sâu sắc, khả dĩ giữ được chức Ủy viên Bộ Chính trị. Triệu Tử Dương đã cự tuyệt. Lần thứ 2, mấy trung ương yếu nhân nói, chỉ cần anh tỏ rõ thái độ cá nhân, tự làm kiểm điểm, khả dĩ giữ được chức ủy viên trung ương. Triệu Tử Dương lại cự tuyệt.

Lúc đó, bầu không khí chính trị ở Bắc Kinh khẩn trương phi thường, mối liên hệ giữa tôi và Triệu Tử Dương đã gián đoạn hơn 2 năm. Năm 1992 chúng tôi đã khôi phục lại việc giao thiệp. Tôi kiến nghị ông ấy viết một tác phẩm, với tư cách là một người có liên quan đến sự kiện Lục Tứ, viết ra toàn bộ quá trình của sự kiện, nguyên nhân và hậu quả, tổng kết kinh nghiệm giáo huấn thử xem. Triệu Tử Dương tỏ ý không muốn viết. Tôi dùng lời lẽ thuyết phục nặng nề hơn, tôi nói: ‘Đồng chí Tử Dương, đây không phải vấn đề cá nhân của đồng chí, đồng chí có trách nhiệm viết. Đồng chí ở tại vị trí này, đối với sự kiện Lục Tứ cũng như nguyên nhân và hậu quả của nó, trị Đảng, trị quốc đều có những tâm đắc của riêng mình, có những suy nghĩ của riêng mình, viết ra, lưu lại cho hậu nhân, là trách nhiệm lịch sử mà đồng chí nên cố sức hoàn thành’. Lúc đó Tiêu Hồng Đạt cũng có mặt, chúng tôi cùng khuyên ông ấy viết. Triệu Tử Dương [rốt cuộc] đồng ý, cho chúng tôi tự lập 1 đề cương, chúng tôi hỏi, để ông ấy trả lời.

Triệu Tử Dương có sức nhớ phi phàm, nhưng ông ấy vẫn sợ kí ức không đủ chuẩn xác, từng đến Phòng thường vụ của TCTƯ xin một vài tư liệu có liên quan đã được đăng tải công khai, Phòng thường vụ không cho. Ông ấy bị tổn thương rất nhiều, nói đó chỉ là báo chí dịch thôi; ông ấy nói thêm là gần đây cũng phác thảo qua một đề cương. Việc khẩu thuật chính là đã bắt đầu như thế này.

Ban đầu, ngoài Triệu Tử Dương, tham gia công tác này có 4 người: cựu phó thư kí Ủy ban kỉ luật TƯ Tiêu Hồng Đạt, cựu tổng biên tập Quang Minh nhật báo Diêu Tích Hoa, cựu trưởng bí thư Quốc vụ viện Đỗ Tinh Viên, lại thêm ở trên cựu Sở trưởng Sở Xuất bản tin tức Quốc gia Đỗ Đạo Chính, cũng chính là tôi. Chúng tôi đều là những thuộc hạ cũ của Triệu Tử Dương. Khi bắt đầu [chúng tôi] muốn làm ghi chép. Tôi tuổi tương đối ít hơn một chút, thân thể tốt hơn một chút, lại từng làm kí giả, có thói quen ghi chép, nên dự định để tôi phụ trách ghi chép. Sau đó tôi đi Quảng Châu, đem sự việc này nói cho cựu thư kí tỉnh ủy Quảng Đông Lâm Nhược biết. Lâm Nhược rất ủng hộ việc này, nói ông ấy có một cái máy ghi âm cực tốt, cùng với băng từ đưa cho tôi. Chúng tôi liền chọn áp dụng phương pháp được tái chỉnh lí là ghi âm lời nói.

Sau khi hoàn thành việc khẩu thuật, tôi và Tiêu Hồng Đạt tại giữa mùa hè đóng hết cửa và cửa sổ, ẩn ở trong phòng [nghe] từng băng từng băng một. Cảm giác chung là: Khẩu thuật rất mạch lạc, logic chặt chẽ, ngôn ngữ chuẩn xác, chỉ cần chuyển thành văn tự là có thể thành sách ngay rồi.

Khoảng 20 năm qua, những ghi chép về những cuộc phỏng vấn và đàm thoại của Triệu Tử Dương, xoay quanh Triệu Tử Dương bàn về ‘Lục Tứ’, bàn về cải cách mở cửa, bàn về tiền đồ thành bại của Trung Cộng, đã được xuất bản hàng chục loại ở nước ngoài. Nhưng, giờ đây bản này y theo ghi âm lời nói của Triệu Tử Dương từ đầu chí cuối mà làm thành sách, bất kể là về mặt tính hoàn chỉnh, tính sâu sắc, đặc biệt là các mặt tính chuẩn xác và tính uy tín được bản thân tôi xác nhận, không nghi ngờ gì đều là [những thứ mà] các thư tịch khác liên quan [đến những vấn đề này] không thể so sánh được.

Trong cuốn sách này, Triệu Tử Dương đã nói chi tiết về tiến trình của sự kiện ‘Lục Tứ’. Với tư cách là Tổng thư kí TCTƯ lúc đó, ông ấy là một trong những người có liên quan quan trọng nhất, cũng là bị cáo bị phế truất triệt để nhất. Tự thuật của ông ấy, đối với việc nắm bắt một cách toàn diện và khách quan chân tướng sự kiện, sửa chữa các loại thông tin sai, bất công và xuyên tạc, khẳng định là quan trọng phi thường.

Tiến thêm một bước, Triệu Tử Dương đã bàn luận về cái nhìn của ông ấy đối với nguồn gốc và hậu quả của sự kiện Lục Tứ.

Sâu thêm một tầng nữa, ông ấy đã thảo luận nghiên cứu những bài học kinh nghiệm của Đảng Cộng sản TQ ở các mặt trị Đảng và trị quốc, những thành tựu và sai lầm của Mao Trạch Đông, những thành tựu và sai lầm của Đặng Tiểu Bình.

Cuối cùng, ông ấy vẫn nỗ lực từ giác độ lịch sử thế giới, đã thảo luận nghiên cứu sự hưng khởi và suy bại của phong trào Quốc tế CSCN.

Triệu Tử Dương là 1 thực hành gia can đảm và cầu thực. Ông ấy từ thư kí huyện ủy, đến thư kí địa ủy, đến thư kí tỉnh ủy, đến phó Thủ tướng, lại đến Thủ tướng và Tổng thư kí, một mạch mà đi lên. Sau Lục Tứ, có thời gian rảnh rỗi rồi, ông ấy bắt đầu kết hợp những việc đã trải qua và kinh nghiệm phong phú của bản thân, suy nghĩ nhiều lần về các loại vấn đề lớn, mạnh dạn tự do suy xét không giới hạn. Tôi cũng từ vài chục lần đàm thoại cùng khi ông ấy bị quản thúc tại gia, sau đó qua nhiều lần xem xét lại những cuộc đàm thoại của ông ấy, dần dần cảm thấy ông già được người đời kính trọng này trong tư tưởng lúc cuối đời đúng là có nhiều ý nghĩ sáng lấp lánh như những tia lửa mà đáng để mọi người rút ra nghiên cứu. Tôi thậm chí cho rằng trong tư tưởng chính trị những năm cuối đời của ông ấy đã phát sinh bước nhảy vọt về chất đầu tiên! Do đó, trong ấn tượng của tôi, ông ấy không chỉ là 1 vĩ nhân dám gánh vác trách nhiệm lịch sử tại những thời điểm mấu chốt liên quan đến sự đúng sai về nguyên tắc, mà những kiến giải của ông ấy, tư tưởng của ông ấy, có sự sâu sắc và trình độ của một nhà tư tưởng lớn – [không thì] ít nhất là của một bậc thầy tư tưởng.

Toàn bộ những cuộc đàm thoại của Triệu Tử Dương, đã làm rõ ra nhiều thay đổi quan trọng về chủ trương cơ bản. Ông ấy từng vài lần chân thành nói với tôi: ‘Ông Đỗ, ông biết tôi trước đây cũng rất khuynh tả. Giờ tôi đã rút kinh nghiệm xương máu, thay đổi phương pháp’. Hiện tại, khi mở cuốn sách này, từ đầu đến cuối, trong tai tôi đang liên tục vang lên 8 chữ này: ‘Rút kinh nghiệm xương máu, thay đổi phương pháp’ (thống định tư thống, cải huyền canh trương).

Từ trước tới nay ở TQ và nước ngoài không hề có một ai hoàn hảo. Triệu Tử Dương không phải ngoại lệ. Những tư tưởng và ý kiến của ông ấy trong cuốn sách này không nhất thiết là đều khớp nhau, thậm chí còn có khả năng sai, tôi cũng không phải là tán thành mọi quan điểm. Tuy nhiên phía sau những tư tưởng và ý kiến của ông ấy đều có sự chống đỡ của những kinh nghiệm đầy máu và nước mắt, có nhiều kết quả đáng suy ngẫm. Cuốn sách này chính là in thẳng ra không thêm bớt. Đánh giá thế nào là việc của độc giả, là việc của lịch sử.

Từ đầu những năm 50 thế kỉ trước, tôi đã làm việc dưới sự lãnh đạo của Triệu Tử Dương. Lúc đó Triệu Tử Dương là thư kí thứ 2 của Trung Cộng tại tỉnh Quảng Đông, Đào Chú là thư kí thứ nhất. Tôi là xã trưởng phân xã của Tân Hoa xã tại Quảng Đông. Triệu Tử Dương nói ông ấy quá khứ rất tả khuynh, đúng là sự thật. Trong những phong trào có tính chất cực tả như chống phái hữu, công xã hóa, đại nhảy vọt, chống hữu khuynh, giáo dục xã hội chủ nghĩa ở nông thôn,... ông ấy không hề tiêu cực chút nào. Trong phong trào phản hữu khuynh 1959, lúc tôi bị đánh nhầm như 1 ‘phần tử hữu khuynh cơ hội chủ nghĩa’, ông ấy cũng không thể một cách công bằng đứng ra nói một câu bảo vệ cho lời của tôi.

Nhưng, nói một cách tương đối, những suy nghĩ độc lập của Triệu Tử Dương lúc đó là nhiều hơn của Đào Chú. Trong việc xử lí vấn đề ‘Đào Cảng’ (trốn sang Hong Kong), Đào Chú chủ trương áp chế, Triệu Tử Dương thì yêu cầu mở đường. Trong xử lí không ít vấn đề, ông ấy so với Đào Chú cầu thực và ôn hòa hơn. Trong 10 năm Cách mạng văn hóa, sự giác ngộ về nhân phẩm của ông ấy đã có sự thăng hoa lớn. Cuối năm 1966, tại Việt Tú Sơn thành phố Quảng Châu 10 vạn người meeting để phê phán và đấu tố Triệu Tử Dương. Ông bạn già của tôi ngồi hàng đầu tiên ở hiện trường. Phái chống đối ép ông ấy phải tự hô khẩu hiệu ‘Đả đảo phần tử tam phản Triệu Tử Dương’, ông ấy cự tuyệt. Phái chống đối lùi một bước muốn ông ấy hô ‘Đả đảo bè lũ tư bản Triệu Tử Dương’, ông ấy vẫn cự tuyệt, cuối cùng ông ấy chỉ hô một câu ‘Đả đảo Triệu Tử Dương’. Tức là nói rằng tôi, Triệu Tử Dương, với tư cách 1 cá nhân, có thể đả đảo. Nhưng [tôi] tuyệt đối không công nhận rằng mình là những cái gì mà ‘phần tử tam phản’ hay ‘bè lũ tư bản’. 27, 28 thư kí thứ nhất tỉnh ủy bị phê phán đấu tố trong Cách mạng văn hóa, giống Triệu Tử Dương gắn liền với tội danh 1 ‘bè lũ tư bản’ theo kiểu này cũng không thừa nhận, [thật] khủng hiếm thấy, chí có 1 mà không 2. Một thời là giai thoại được truyền bá trong nước.

Với tư cách là 1 lãnh đạo địa phương, Triệu Tử Dương thực ưu tú, nhưng tôi cho rằng không có gì đặc biệt phi thường. Những điểm phi thường của ông ấy, là ở chỗ ông ấy cùng Hồ Diệu Bang làm tay trái và tay phải của Đặng Tiểu Bình, đối với sự nghiệp cải cách mở cửa mở ra một thời đại mới cho TQ đã có những cống hiến xuất sắc, lại càng ở chỗ cách xử sự của ông ấy từ đầu đến cuối sự kiện Lục Tứ đã xuất hiện nhân cách lớn. Tại thời khắc lịch sử trọng đại Lục Tứ này, Triệu Tử Dương đối với dân tộc Trung Hoa có trách nhiệm, đối với lịch sử có trách nhiệm, đối với trăm họ có trách nhiệm, hoàn toàn coi thường sinh tử vinh nhục của bản thân, vừa đứng về phía chân lí, vừa đứng về phía nhân dân, tuyệt không thỏa hiệp, tuyệt không quỳ gối, tuyệt không nhường đường. Ông ấy đã kế thừa và truyền lại tinh thần cao thượng, vì nhân dân, vì một chữ ‘nghĩa’ có thể nhảy vào nước sôi lửa bỏng của dân tộc Trung Hoa uy vũ bất khuất. Ông ấy là tấm gương của người dân. Do đó, người dân mới có thể tưởng nhớ ông ấy sâu sắc thế này, [và] đối với những sai lầm nào đó trong cuộc đời này của ông ấy cũng đều hiểu và bỏ qua. Chúng ta sẵn sàng học tập theo ông ấy, làm một người như ông ấy.

Nguyên nhân cơ bản của việc Triệu Tử Dương hạ đài, là bởi cải cách thể chế chính trị ở TQ không theo kịp. Cải cách của chúng ta luôn đi lên bằng đôi chân khập khiễng. Chúng ta phải học tập Triệu Tử Dương và Hồ Diệu Bang, kế thừa những di chí của các ông ấy, thúc đẩy cải cách thể chế chính trị.

Khi Triệu Tử Dương qua đời năm 2005, TCTƯ dùng hình thức thông báo của Tân Hoa xã viết qua vài câu đánh giá đối với ông ấy, nói ông ấy vào cuối xuân đầu hạ năm 1989, phạm ‘sai lầm nghiêm trọng’, đã không còn đề cập đến những lời nói ông ấy ‘ủng hộ động loạn chia rẽ Đảng’ nữa. Sự thay đổi trong cách dùng từ này, từ quan điểm của TCTƯ mà nói, là một loại nhượng bộ. Từ quan điểm lịch sử TQ đương đại mà nói, điều này tự nhiên là một điều tiến bộ. Nhưng khi so sánh với sự thật, thực tế mà nói, sự đánh giá này, kết luận là kém. Với lại thời gian [từ đó] đến nay, cũng 4 năm rồi, tro xương của Triệu Tử Dương vẫn chưa được an trí thích hợp. Đối với việc tùy tiện giam lỏng Triệu Tử Dương nhiều năm sau khi [ông ấy bị] cách chức, vẫn chưa có một câu nói sửa sai. 3 chữ Triệu Tử Dương tới ngày nay trên các phương tiện truyền thông đại lục thực tế vẫn bị liệt vào những điều cấm phải nghiêm túc thi hành. Những việc này về mặt lịch sử mà nói, đương nhiên là đều không hề có cơ sở. Chẳng qua chỉ như Lưu Thiếu Kì khi bị đả đảo trong Cách mạng văn hóa đã hô lên 1 câu rằng: ‘May mà lịch sử là do nhân dân viết nên’.

22 tháng 3 năm 2009
GLy
01-08-09, 13:42
Giới thiệu: Bối cảnh lịch sử của những hồi ức được ghi âm của Triệu Tử Dương (phần 1)
Giới thiệu: Bối cảnh lịch sử của những hồi ức được ghi âm của Triệu Tử Dương
- Cựu Uy viên TCTƯ, Bí thư chính trị thường ủy của Bộ Chính trị Bảo Đồng -

Triệu Tử Dương đã để lại một bộ băng ghi âm. Đây chính là di ngôn của ông ấy.

Di ngôn của Triệu Tử Dương thuộc về toàn thể nhân dân TQ. Dùng hình thức văn tự để truyền bá cho mọi người là chủ trương của tôi, sự tình do tôi chủ trì, tôi đối với việc này chịu trách nhiệm về mặt chính trị.

Những giá trị của hồi ức ghi âm của Triệu Tử Dương, cung cấp cho nhân dân và công luận. Nội cung của nó quan hệ đến 1 giai đoạn lịch sử mà [vẫn] đang tiếp tục ảnh hưởng đến vận mệnh hiện tại của người TQ. Chủ đề của giai đoạn lịch sử này là cải cách. Ở đại lục, hiện giờ, giai đoạn lịch sử này là đối tượng bị phong tỏa và bóp méo. Bàn luận về bối cảnh lịch sử của giai đoạn này, có lẽ đối với việc [giúp] những độc giả ít tuổi hiểu cuốn sách này có thể có điểm hữu dụng.

TQ vì sao mà không thể không cải cách?

Từ Cách mạng Tân Hợi, gần 100 năm trước, dù hành trình khó khăn, TQ cuối cùng đang hướng về con đường hiện đại hóa, đang chầm chậm tiến hóa, phát triển. Sự xâm lược của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản, đã cản trở quá trình này của nó, nhưng không thể đảo ngược con đường của TQ.

TQ sau khi nội chiến cơ bản đã kết thúc năm 1949, đã có thời cơ mới.

Ban đầu, làm sao tuần tự tiến từng bước, làm sao thực hiện hiện đại hóa, có phải xây dựng XHCN hay ko, đều cần phải nằm trong phạm vi được phép thảo luận, tranh luận. Chỉ cần thực sự chiếu theo Cương lĩnh chung do toàn thể Hội nghị hiệp thương nhân dân TQ khóa 1 ngày 29 tháng 9 năm 1949 đặt ra mà làm, thực sự thực hiện Tổng tuyển cử và Dân cày có ruộng, thì rất có thể. Thực sự giải quyết được 2 vấn đề lớn này , [thì] 1 vài vấn đề khác về phương diện chế độ xã hội TQ, đều không khó giải quyết.

Hoàn toàn đảo ngược phương hướng phát triển của TQ, là 2 phong trào có tên Cải tạo XHCN từ 1953 – 1958 và Chống phái hữu năm 1957. 2 phong trào này hỗ trợ lẫn nhau. Phong trào đầu chĩa mũi gươm vào sự sở hữu, là mô phỏng theo phưong thức trong chương 11 và chương 12 của quyển Lịch sử Đảng CS Liên Sô, quyết định thông qua tập thể hóa, quốc hữu hóa, kế hoạch hóa, [để] đạt được mục đích tiêu diệt chế độ tư hữu và kinh tế thị trường. Phong trào sau là Trung Cộng dựa trên ý chí của Mao Trạch Đông, do Đặng Tiểu Bình tổ trưởng tiểu tổ lãnh đạo việc chỉnh đốn tác phong và chống phái hữu của TCTƯ chỉ huy, trong 5 trăm vạn cái tên của các phần tử trí thức trên cả nước, đã xác định ra 15 vạn ‘phần tử phái hữu’. 2 phong trào này là bước ngoặt trong lịch sử nắm quyền của Trung Cộng, đã mở ra con đường đi ngược lại dân chủ và pháp chế.

Đã bước trên con đường tự gọi là ‘Chủ nghĩa xã hội’ này, chính là đã tiêu diệt thị trường, đã tiêu diệt Dân cày có ruộng, cũng đã tiêu diệt tự do, đồng thời cũng đã hủy hoại nhiều truyền thống tốt đẹp đã được truyền từ đời này sang đời khác của dân tộc Trung Hoa. Đối mặt với việc kiến thiết, loại ‘Chủ nghĩa xã hội’ này không có điểm gì tốt đẹp đáng để khen ngợi, [nó] chỉ có thể duy trì nhân dân trăm họ ở mức độ ‘ít người chết đói, nhiều người đói nhưng không chết’. Trong thời Mao Trạch Đông, có hộ khẩu thành thị, thì mới có thể có sự đảm bảo về phiếu tiêu dùng, như cư dân Thượng Hải và Bắc Kinh, hạn ngạch của phiếu tiêu dùng là khoảng 1 ngày [được] gần một cân lương thực, khoảng 3 ngày thì có thể ăn 1 lạng thịt, khoảng 1 năm thì có thể mua vải đủ để may một bộ quần áo; đối với cư dân nông thôn [vốn] chiếm 80% tổng dân số, bao gồm cả những thanh niên trí thức bị bức bách phải ‘tự nguyện’ lên núi xuống nông thôn, Đảng và Quốc gia muốn giúp nhưng không thể làm gì được, [nên] mọi người chỉ có thể ‘tự lực cánh sinh’, tự sinh tự diệt.

‘Chủ nghĩa xã hội’ của thời Mao Trạch Đông khiến người TQ không chỉ ai ai cũng nghèo đói, mà còn đi ngược lại ước muốn thực hiện hiện đại hóa trong hơn 1 trăm năm tới của hồi đó, quá lệch quá xa.

Sau khi MTĐ qua đời, người kế vị do đích thân ông ấy chỉ định là Chủ tịch Đảng Hoa Quốc Phong không có lựa chọn nào khác ngoài việc tuyên bố sự thật, [rằng] ‘nền kinh tế quốc dân đang bên bờ của sự sụp đổ’. Nếu mọi việc cứ tiếp tục như thế, sẽ không thể duy trì quốc gia được nữa, đây chính là bối cảnh không cải cách không xong của TQ.

Trong đơn thuốc được lãnh đạo Đảng và đất nước kê lúc đó không có cải cách

Lối ra ở đâu? Cựu cận vệ của Mao, phó chủ tịch Đảng Uông Đông Hưng nói, mọi quyết định của Mao chủ tịch, phải vĩnh viễn chấp hành, từ đầu đến cuối ko được thay đổi. Chủ tịch Đảng Hoa Quốc Phong cũng theo ông ấy nói như vậy.

Trong Đảng CSTQ lúc đó, người có quyền lực về kinh tế có uy tín cao nhất, là Trần Vân. Ông ấy 30 tuổi đã được vào Bộ Chính trị, so với Đặng Tiểu Bình sớm hơn 20 năm. Ông ấy bắt đầu quản lí kinh tế là ở Duyên An. Trước khi Mao phát động ‘Đại nhảy vọt’, Trần là phó chủ tịch nước thứ nhất, tổng quản về kinh tế toàn quốc. Mao nghi ngờ là ông ấy quá thực tế và thực dụng, đã bảo ông ấy đứng sang một bên. Mao tuyên bố tự mình làm chủ soái, bổ nhiệm Đặng Tiểu Bình làm phó soái, luyện sắt thép trên diện rộng, rút cuộc đã chịu tổn thất. Giờ Mao đã chết, đơn thuốc Trần Vân kê ra cho kinh tế TQ là ‘điều chỉnh’, chỉnh sửa sự mất cân bằng về tỉ lệ.

Đây là sự kết tinh kinh nghiệm thực tiễn của Trần Vân. ‘Đại nhảy vọt’ đã làm chết đói vài ngàn vạn nông dân, Năm 1962 chính là nhờ vào Trần Vân ‘điều chỉnh’ các chỉ tiêu sản xuất lương thực, sắt thép,... mà mới có thể chỉnh đốn tàn cục. Trần Vân phản đối sự chỉ huy mù mờ của Đảng, tuy nhiên không phản đối sự lãnh đạo của Đảng. Từ việc một đảng lãnh đạo ở mặt chính trị, đến việc kế hoạch hóa công hữu hóa toàn bộ ở mặt kinh tế, thống nhất thu mua và tiêu thụ lương thực, vải và dầu, Trần Vân không chỉ ko phản đối, mà [chúng] thậm chí còn là những quy chế ông ấy tự mình làm việc siêng năng kiến lập nên. Bỏ đi chế độ này của Mao, [là] ngang với bỏ đi bản thân Trần Vân.

Đối với phân tích của Trần Vân ko thể đơn giản hóa. Ông ấy bảo vệ chế độ quốc hữu, nhưng ko bảo vệ công xã nhân dân; ông ấy thích kinh tế kế hoạch, nhưng ko thích những chỉ tiêu xa rời thực tế; ông ấy chủ trương chính phủ làm chủ, nhưng cho phép thị trường làm phần bổ sung (‘Đại tập thể, tiểu tự do’); ông ấy nghĩ mức độ tự do kinh tế phải như 1 con chim bị nhốt trong lồng, nhưng phản đối đem nó nắm trong tay; ông ấy tin tưởng người anh cả lâu năm Liên Sô, nhưng ko tin tưởng chủ nghĩa đế quốc phương Tây; trong thời kì ‘tự lực cánh sinh’, ‘ko ăn lương thực nhập khẩu’ đó, ông ấy dám đứng thẳng lưng làm chứng, ‘Tôi nghe được Mao chủ tịch nói, lương thực có thể nhập khẩu’, một câu nói, ngay lập tức đem tính chất chủ nghĩa xét lại của ‘lương thực nhập khẩu’, sửa lại kết luận sai thành yêu cầu hợp lí của tư tưởng Mao Trạch Đông; ông ấy bảo vệ việc tập trung thống nhất sự lãnh đạo của Đảng CS, nhưng đối với việc Mao Trạch Đông làm trái quy định và tiêu chuẩn của Đảng thì không thích. Những điều này, Triệu Tử Dương trong hồi ức đều có ghi chép, đem công đạo hoàn lại cho lịch sử.

Một vị nguyên lão uy tín danh vọng cực cao khác, là Đặng Tiểu Bình. Đặng là thân tín của Mao. Bởi Mao chỉ định Lưu Thiếu Kì làm người kế vị duy nhất, Đặng tại trước CMVH mới làm trợ thủ của Lưu. Giai đoạn đầu CMVH, quần chúng nhân dân ko hiểu rõ nội tình nhầm Đặng và Lưu là số một [và] đem ra bàn luận, nhưng Mao trong lòng minh bạch, không coi Đặng cùng Lưu như vậy, định tội rất nặng. Mao lúc về già ý đồ thu xếp cho Chu Ân Lai, Đặng khước từ đi cùng Chu, hành động này mới [thực sự] làm mất sự sủng tín của Mao. Giữa CMVH Đặng lại một lần nữa bị giáng chức, ‘càng [bị] phê phán càng được ưa chuộng’, việc này đã không hạ thấp mà lại nâng cao hình tượng của ông ấy trong mắt người dân.-- Có lẽ, Đặng Tiểu Bình có thể trở thành người lãnh đạo việc cải cách Mao Trạch Đông thể chế chăng?

Nhưng đơn thuốc do Đặng Tiểu Bình lúc đó kê ra, cũng không phải là cải cách, mà là ‘chỉnh đốn’. Chỉnh đốn, chính là chỉnh đốn các xí nghiệp, chỉnh đốn các ban nhóm lãnh đạo, thay thế những cán bộ không phục tùng lãnh đạo, dùng bàn tay sắt đưa vào thực hành những quy chế điều lệ và kỉ luật tổ chức đã được thiết lập từ trước, dùng bàn tay sắt để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch quốc gia. Nói một cách ngắn gọn, ko phải bỏ đi mà lại là củng cố thể chế của Mao. Chỉnh đốn là điểm mạnh của Đặng Tiểu Bình. Thời kì sau CMVH, Mao chủ tịch bảo Nhóm 4 người nắm cách mạng, bảo Đặng Tiểu Bình nắm sản xuất, Đặng dù ko hiểu kinh tế, nhưng dùng phương pháp ‘chỉnh đốn’, vẫn cứ đem sản xuất đi lên.

Ưu điểm của Đặng Tiểu Bình là thông minh tháo vát. Ông ấy ko hồ đồ, ko viển vông. Ông ấy trong tư tưởng đã minh bạch từ sớm, [rằng] một hệ thống kinh tế kế hoạch CNXH đó cũng ko cách nào cứu vãn sự sụp đổ kinh tế, có lẽ phải thay chuyển đổi rồi hướng đến kinh tế thị trường cầu cứu. Nhưng bản thân ông ấy ko thể mạo hiểm phạm vào tội ‘làm loạn kinh tế’, càng ko thể mạo hiểm phạm vào tội ‘chống CNXH’. Sau cùng, kinh tế ko phải là sở trường của ông ấy, ông ấy là người làm chính trị, phải đứng vững về mặt chính trị. Tháng 3 năm 1979, ông ấy đã phát biểu 1 bài nói chuyện được đưa vào sử sách là ‘Kiên trì 4 hạng mục nguyên tắc cơ bản’: kiên trì con đường CNXH, giai cấp vô sản chuyên chính, sự lãnh đạo của Đảng CS, tư tưởng Marx Le[nin] Mao. Đây chính là con đường chính trị của ông ấy. Một năm sau, ông ấy với khí phách của lãnh tụ toàn Đảng, đã phát biểu xa hơn một bước bao phủ cương lĩnh của thập kỉ 80 là ‘Hoàn cảnh và những nhiệm vụ hiện tại’, ông ấy chỉ dẫn đất nước, bàn về quốc tế, bàn về Đài Loan, trọng điểm là bàn về xây dựng hiện đại hóa. Làm sao hiện đại hóa vậy? Đọc bài văn lớn dài 34 trang trong ‘Đặng Tiểu Bình văn tuyển’ tập 2 chương đó một lần là rõ ràng ngay lập tức. Đặng Tiểu Bình kê ra 4 vị thuốc: 1, nhanh hơn tiết kiệm hơn; 2, ổn định đoàn kết; 3, gian khổ phấn đấu; 4, vừa hồng vừa chuyên. Đối diện với cục diện rối rắm bị bỏ rơi sau khi Mao Trạch Đông chết, Đặng Tiểu Bình đã dùng hết nỗ lực của một nhân viên làm công tác chính trị, ông ấy tăng cường lãnh đạo, ông ấy cổ vũ sĩ khí, nhưng cho đến tháng 1 năm 1980, trong cương lĩnh thập niên 80 của ông ấy vẫn chưa có cải cách thể chế.

Lịch sử sau này chứng minh, cải cách chính là bỏ đi thể chế của Mao Trạch Đông. Không cải cách thì chỉ có thể gặp thất bại trong thể chế của Mao, không cải cách là một con đường đi đến chỗ chết. Tuy nhiên những lãnh đạo Đảng và NN lúc đó, từ Hoa Quốc Phong, Uông Đông Hưng đến Trần Vân, Đặng Tiểu Bình, trong những đơn thuốc họ kê ra lúc đó, đều ko có cải cách.

...2 b continued...
KuTí
01-08-09, 13:50
Cuốn này hay đây, nhưng trừ ai biết tiếng Tàu mới có cơ hội đọc, hình như có bản tiếng ANh rồi, còn tiếng Việt thì nằm mơ cũng không thấy.
Thân phận tủ lạnh cộng sản sao mà ai oán. Những người cộng sản là những người hay hô "muôn năm, bất diệt" nhất nhưng chính họ lại là những kẻ hay phải chứng kiến điều ngược lại.
hailua
01-08-09, 20:08
Cuốn này hay đây, nhưng trừ ai biết tiếng Tàu mới có cơ hội đọc, hình như có bản tiếng ANh rồi, còn tiếng Việt thì nằm mơ cũng không thấy.
Thân phận tủ lạnh cộng sản sao mà ai oán. Những người cộng sản là những người hay hô "muôn năm, bất diệt" nhất nhưng chính họ lại là những kẻ hay phải chứng kiến điều ngược lại.


Bản tiếng Anh ở đâu hở Tí ? Tên gì ? Do ai xuất bản ? Tí có số ISBN không vậy ?
KuTí
01-08-09, 20:55
Cụ Hai lúa có thể mua trên amazon bản tiếng Anh đấy, giá 17$. Mình thấy có bản tiếng Anh bán trên amazon rồi. Nó bán cả sách kèm theo CD

Prisoner of the State: The Secret Journal of Premier Zhao Ziyang

http://www.amazon.com/Prisoner-State-Secret-Journal-Premier/dp/1439149380
GLy
01-08-09, 22:16
Bác nào mua quyển tiếng Anh rồi thì scan hay chụp ảnh rồi upload lên cho em xin với, em muốn biết bọn nó dịch tên những cơ quan, chức vụ đậm đà bản sắc XHCN như kiểu trưởng ban tuyên huấn TƯ, chính uỷ,.. ra tiếng Anh như thế nào. :D
knowledgeriver
01-08-09, 22:39
Có ebook đây nè.

http://www.ereader.com/ebooks/b88165/Prisoner-of-the-State/Adi-Ignatius/?si=59

Thằng nào hack giỏi down về đê..
GLy
02-08-09, 15:29
Giới thiệu: Bối cảnh lịch sử của những hồi ức được ghi âm của Triệu Tử Dương (phần 2 - hết)
Tứ Xuyên trong việc tìm kiếm con đường cải cách

Tìm kiếm con đường cải cách thể chế, làm sao thay đổi, là cực kì trọng yếu. Càng trọng yếu hơn là, rốt cuộc thay đổi cái gì?

Bao gồm Đặng Tiểu Bình và Trần Vân, lúc đó ai cũng đều nói ko rõ ràng về cái được gọi là ‘cải cách thể chế’. Trước khi tiến hành thí điểm cải cách thể chế kinh tế tại Tứ Xuyên, trong lãnh đạo TƯ ko có một ai nói được rõ ràng (hoặc không muốn nói cho rõ ràng) ‘cải cách thể chế’ nên bỏ đi những gì, nói qua nói lại, chỉ là ‘tập trung hay phân tán’, ‘phân tán hay tập trung’. Ở đây có một vấn đề nguy hiểm.

Tuy nhiên, Tứ Xuyên đã nghĩ rõ ràng. Không những đã chỉ nói, mà còn bắt tay vào làm, bắt đầu làm một cách chắc chắn. Năm 1976, Tứ Xuyên bắt đầu chính sách mở cửa. Từ năm 1978, từ lĩnh vực chính sách mở rộng đến lĩnh vực thể chế, đã tiến hành thí điểm cải cách thể chế kinh tế thành thị và nông thôn. Nội dung của cải cách thể chế kinh tế nông thôn, là mở rộng quyền tự chủ của nông dân; nội dung của cải cách thể chế kinh tế thành thị, là mở rộng quyền tự chủ của xí nghiệp. ‘Quyền tự chủ’, ko giống những thứ chói tai lóa mắt kiểu ‘quyền lãnh đạo’, ‘quyền sở hữu’, ‘quyền kế hoạch’, nhưng cũng ko giống những thứ ôn hòa chẳng đáng nói đến như ‘tính tích cực’. Anh muốn ‘tính tích cực’, cho anh vài đồng tiền thưởng, là đủ để đuổi anh đi chỗ khác. Anh nói về ‘quyền sở hữu’, ‘quyền kế hoạch’, [tôi] tự cho mình là người chính thống [nên] không tố cáo anh làm trái đạo lí không được. Chẳng lẽ anh ko hiểu rằng ‘quyền sở hữu’ chỉ có họ là ‘Công’, ‘quyền kế hoạch’ chỉ có họ là ‘Nhà nước’ (Quốc), ‘quyền lãnh đạo’ chỉ có họ là ‘Đảng’ sao? Tuy nhiên ‘quyền tự chủ’ ko cứng ko mềm, rõ ràng, vững chắc, từ đây bắt đầu, [là] có thể mổ xẻ rất sâu sắc, cũng có thể phòng thủ trận địa rất vững chắc. Đề xuất ‘quyền tự chủ của nông dân’ và ‘quyền tự chủ của xí nghiệp’, có 1 tiền đề ko nói cũng hiểu -- đem ‘nông dân’ và ‘xí nghiệp’ (mà ko còn là ‘Đảng’ và ‘Quốc gia’) định vị thành chủ thể của kinh tế thành thị và nông thôn. Việc mở rộng quyền tự chủ của ‘nông dân’ và ‘xí nghiệp’, cùng việc thu nhỏ quyền can dự của Đảng và Chính phủ, là đồng nghĩa 100%.

Năm 1978, tỉnh ủy Tứ Xuyên dưới sự chủ trì của thư kí thứ 1 Triệu Tử Dương, đã làm ra quyết sách dùng việc mở rộng quyền tự chủ làm nội dung tiến hành thí điểm cải cách. Đây là 1 bước có tính thực chất làm cho cải cách tiến nhập vào các hoạt động kinh tế, cũng là khởi điểm của con đường cải cách mà Triệu Tử Dương đi. Với tư cách là nhà cải cách, sứ mệnh của ông ấy chính là thúc đẩy Đảng và NN nhượng bộ đối với nông dân và xí nghiệp, nói rõ một chút, chính là thúc đẩy những ‘nhân tố có tính cưỡng chế hành chính bên ngoài kinh tế’ nhượng bộ đối với những ‘chủ thể của kinh tế’. Lúc đó Hồ Diệu Bang trong việc thực hiện sửa lại án xử sai đã sáng tạo ra một bộ thuật ngữ gồm [những từ như] ‘oan giả thác án’ (những vụ án oan, giả dối và sai) v.v..., Triệu Tử Dương cũng trong thực hiện việc nhượng bộ đã sáng tạo ra 1 bộ thuật ngữ gồm [những từ như] ‘tùng bảng (cởi trói), phóng quyền (ủy quyền), nhượng lợi, cảo hoạt (chấn hưng)’ v.v..., những từ này đều là những khái niệm có tính lịch sử chưa từng được biết tại thời điểm đó nhưng lan truyền nhanh chóng, khiến người suy tư, khiến người ngẫm nghĩ.

Tứ Xuyên có dân số đứng thứ 1 trên cả nước, Bắc Tứ Xuyên, Nam Tứ Xuyên, Tây Tứ Xuyên, Đông Tứ Xuyên, kể cả thành phố trực thuộc TƯ hiện tại là Trùng Khánh, kể cả toàn tỉnh Tây Khang thời Dân Quốc, đều ở bên trong của nó, lúc đó toàn quốc có 1 tỉ người, Tứ Xuyên đã chiếm 100 triệu. Lịch sử 2 ngàn năm được tưới bởi những dòng nước tự nhiên, làm Tứ Xuyên trở thành cái kho của nhà trời. Trong thập niên 60 Mao Trạch Đông đã xác định nơi đây là hậu phương lớn của việc kiến thiết các tỉnh và khu tự trị tuyến thứ 3 (tam tuyến kiến thiết), khiến nó trở thành căn cứ lớn của những kĩ nghệ quân sự cấp cao. Đệ nhất thư kí tỉnh ủy của Tứ Xuyên thời kì Đại nhảy vọt, là một người làm việc theo sự đưa mắt ra hiệu của Mao, ko quản đến bách tính sống chết ra sao. Từ 1959 đến 1961 toàn quốc chết đói 3 ngàn đến 4 ngàn vạn người, ở Tứ Xuyên chết đến 1 ngàn vạn! Thể chế của Mao đã làm khổ Tứ Xuyên, mở rộng quyền tự chủ của nông dân và xí nghiệp làm Tứ Xuyên có được một sinh mạng mới. Việc này đương nhiên ko phải là cá nhân người lãnh đạo có sức xoay chuyển trời đất, nhưng ko nghi ngờ gì [nó] ngưng kết tâm huyết của người lãnh đạo. Câu ca dao ‘Muốn ăn lương [thực], tìm Tử Dương’, vượt qua ranh giới tỉnh, truyền đến Bắc Kinh.

Việc thư kí tỉnh ủy thứ 1 của Tứ Xuyên Triệu Tử Dương vững chắc làm cải cách kinh tế, cùng việc Bộ trưởng Tổ chức của TCTƯ Hồ Diệu Bang mạnh mẽ quyết đoán sửa lại những vụ án oan, sai và nhầm lẫn, đã trở thành 2 điểm sáng trong dư luận phố phường lúc đó.

Đã tiến vào thời kì cải cách

Năm 1978 và 1979, Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương lần lượt vào Bộ Chính trị. Tháng 2 năm 1980, 2 người đồng thời gia nhập thường ủy, Hồ nhậm chức tổng thư kí, Triệu nhậm chức tổ trưởng tiểu tổ tài chính và kinh tế TƯ, phó chủ tịch nước (quyền chủ tịch nước), chủ tịch nước.

Giờ chính là đã tiến vào thời kì cải cách trong hồi ức của Triệu Tử Dương. Cùng so sánh với việc Triệu chủ trì cải cách kinh tế quy mô toàn quốc sau này, việc ông ấy trước đó chủ trì cải cách Tứ Xuyên chỉ là giết gà bằng dao mổ trâu mà thôi.

Cải cách thể chế, cải cách như thế nào, ai nói được rõ ràng? Người nói được rõ ràng, từ thập niên 50, đã sớm bị đánh sạch trơn rồi. Vì Mao Trạch Đông đã dùng thời gian vài chục năm, dành hết trí lực lượt này rồi lượt khác nhằm hủy diệt kinh tế thị trường vì mục tiêu ‘đấu tranh giai cấp’, [nên] đã bồi dưỡng nên đống này rồi đống khác những cán bộ và học giả lấy việc thảo phạt thị trường làm tài năng, reo rắc trong toàn dân sự sợ hãi và căm ghét đối với kinh tế thị trường.

Giờ cũng đã hơn 30 năm trôi qua, cuối cùng nhân dân bỗng nhiên tỉnh ngộ: cải cách của TQ, vốn chính là bỏ đi chế độ của MTĐ. Nhưng ở đại lục, lại có chút kì quái, chỉ cho phép nói về cải cách, ko cho phép nói về ‘phi Mao hóa’. Cải cách phải ca tụng, ‘phi Mao hóa’ phải lên án công khai. Nay, 30 năm sau hồi đó, còn như thế, 30 năm trước nếu như có người đề nghị phải bỏ đi thể chế của Mao, ko nghi ngờ gì [người đó] có thể gặp số phận giống như của nữ giáo sư Trương Chí Tân và nữ sinh viên Lâm Chiêu, cải cách chính là đem số mệnh ra muốn [nó] bị bóp nghẹt hoàn toàn trước khi đâm chồi.

Đối với con đường phủ định thể chế kinh tế Mao Trạch Đông, cũng chính là nói, con đường phi Mao hóa về mặt kinh tế, chính là từng bước một mà bước ra. Năm 1978 là ‘quyền tự chủ’. 3 năm sau, tháng 11 năm 1981, Triệu Tử Dương đã đề xuất 1 góc nhìn mới: ‘hiệu ích kinh tế’. Ông ấy liệt kê những thành tích tăng trưởng kinh tế trong 28 năm từ 1952 đến 1980: công nông nghiệp tổng sản lượng tăng 8.1 lần, thu nhập quốc dân tăng 4.2 lần, tài sản cố định công nghiệp tăng 26 lần. Như vậy, thế còn mức chi phí bình quân của nhân dân cả nước? 1 lần! Đã đi trên con đường cũ 28 năm, hiệu ích kinh tế như vầy như vầy, từ đây trở đi ko đi trên con đường mới mà được sao?! Lại 3 năm trôi qua, năm 1984, khái niệm ‘kinh tế hàng hóa’, dưới sự thúc đẩy của những người như Triệu Tử Dương, cuối cùng đã đứng được ở TQ, cuối cùng đã thành hợp pháp! ‘Kinh tế hàng hóa’ là khái niệm mà có thể cho phép sử dụng một cách hợp pháp trong tình thế chính trị lúc đó, trên thực tế chính là danh từ thay thế của ‘kinh tế thị trường’.

Những việc này chính là quan hệ đến toàn bộ quá trình cải cách, trong đó ngọt đắng và tìm tòi, hợp tác và chia rẽ, trong cuốn sách này đều có trình bày và phân tích, đây là sử liệu sâu sắc nhất và đáng tin cậy nhất mà tôi từng thấy.

Sự chia rẽ giữa Triệu và Đặng ở việc xác định vị trí của quan hệ giữa Đảng và nhân dân

Năm 1989, giữa Đặng Tiểu Bình và Triệu Tử Dương phát sinh xung đột trực tiếp.

Cái chết của Hồ Diệu Bang đã kích phát phong trào sinh viên. Đặng chủ trương điều động quân đội trấn áp; Triệu chủ trương từ quĩ đạo của dân chủ và pháp chế giải quyết những vấn đề nhân dân quan tâm nhất là vấn đề hủ bại và vấn đề dân chủ, từ việc đào sâu thêm cải cách kinh tế đồng thời khởi động cải cách thể chế chính trị, dẫn dắt được toàn xã hội đem sự chú ý tập trung đến cải cách.

Kết cục là điều mà mọi người đã biết: Chủ tịch quân ủy Đặng Tiểu Bình phán quyết Tổng thư kí Triệu Tử Dương đã phạm những tội ‘chia rẽ Đảng’ và ‘ủng hộ động loạn’; các nguyên lão quyết định thay thế Triệu bằng Giang Trạch Dân. Sau khi Giang lên nắm quyền, đem Triệu xem như công địch của quốc gia [và] giam lỏng chung thân, hơn nữa từ sách báo trong nước, tin tức cho đến trong lịch sử đều xóa sạch tên họ của Triệu Tử Dương.

Giữa Đặng TB và Triệu TD ko tồn tại ân oán cá nhân nào. [Từ] tháng 4 năm 1980 [khi] Triệu đến Bắc Kinh công tác, cho đến tháng 4 năm 1989 trước khi phong trào sinh viên xảy ra, Đặng TB đối với công tác của Triệu TD thực là mãn ý, không phải mãn ý bình thường, mà là rất mãn ý.

Đặng TB ban đầu đối với cải cách kinh tế ko biểu lộ thái độ, đó là vì ko chắc chắn thành công, sợ sinh ra tình trạng hỗn loạn, ko thể chỉnh đốn cục diện. Với tư cách là chính trị gia, ông ấy rất bình thường. Thấy những kết quả thực sự của Tứ Xuyên sau đó, Đặng TB bắt đầu yên tâm. thấy Triệu sau khi đến TƯ tiếp tục ổn định vững chắc, dùng những cải cách vững vàng, để thúc đẩy các loại thành phần kinh tế trong kế hoạch và ngoài kế hoạch đồng thời tăng trưởng ổn định, Đặng càng yên tâm. Có thể nói, đối với những cải cách kinh tế được Triệu TD triển khai, Đặng là 1 người ủng hộ bảo sao nghe nấy, 1 người ủng hộ ko hề dè dặt. Đối với sự ủng hộ của Đặng, Triệu từ thâm tâm cũng cảm thấy vui mừng. 2 người hợp tác rất tốt.

Vấn đề hoàn toàn xuất lộ trong việc đánh giá và việc chia rẽ về quyết sách đối với tính chất của phong trào sinh viên 1989, chia rẽ cơ bản phát sinh trong việc định vị mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Triệu nghĩ rằng, SV tưởng niệm Hồ Diệu Bang, là hợp pháp, bình thường. Đặng nói, đây là động loạn chống Đảng chống CNXH. Triệu nói, SV đề xuất yêu cầu, phản đối hủ bại, yêu cầu dân chủ, nên từ quĩ đạo dân chủ và pháp chế, thông qua đối thoại hiệp thương giữa các tầng lớp trong xã hội, tìm ra phương án giải quyết, tiến 1 bước thúc đẩy cải cách. Đặng nói, không thể nhượng bộ đối với SV, nên điều động quân đội, thủ đô phải giới nghiêm. Giờ là chiều ngày 17 tháng 5 tại hội đồng thường ủy của Bộ Chính trị TCTƯ phát sinh tranh luận. Hội đồng thường ủy có 5 người. Triệu TD và Hồ Khải Lập là một loại ý kiến; Lí Bằng và Diêu Y Lâm là một loại ý kiến khác. Trong loại tình huống này, Đặng TB ko ngờ lại nói, ông ấy đồng ý với quyết định của ‘đa số trong thường ủy’ -- chính là cách này, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra quyết định cuối cùng.

‘Qui tắc nghị sự thường ủy’ được Bộ chính trị khóa 13 thông qua qui định, khi gặp sự chia rẽ trong những vấn đề quan trọng, phải báo cáo cho Bộ chính trị, đệ trình Bộ chính trị hoặc toàn hội đồng TƯ để [các cơ quan này] quyết định. (Lúc đó ủy viên Bộ chính trị có 17 người, 14 người ở Bắc Kinh, dù có 3 người ở các vùng bên ngoài, nửa ngày cũng có thể tập trung đông đủ). Đặng TB có lẽ nghĩ rằng, ông ấy ko phải là ủy viên thường ủy, [nên] ko cần phải tuân thủ các qui tắc của thường ủy; có lẽ, ông ấy nghĩ rằng, vấn đề này ko đủ trọng đại, ông ấy có quyền gõ nhịp búa quyết định, sau khi sự việc đã xảy ra thông báo cho Bộ chính trị biết và thừa nhận ngay lập tức, thế là đủ; có lẽ, trong mắt ông ấy, cơ bản ko có khái niệm ‘qui tắc’.

Hiến pháp qui định, tất cả quyền lực của nước CHND Trung Hoa đều thuộc về nhân dân. Đặng TB có lẽ nghĩ rằng, ko cần phải đệ trình để cơ quan thường trực của đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc biểu quyết, loại trình tự này quá phiền phức, [gây] cãi cọ, hiệu suất thấp, ko xử lí được sự việc. Có lẽ, ông ấy căn bản nghĩ rằng, Hiến pháp của CHND Trung Hoa ko phải là vì ‘những người lãnh đạo nòng cốt của Đảng CSTQ’ mà [được] lập nên.

Hiến pháp qui định, Quốc vụ viện (Hội đồng Nhà nước) có quyền quyết định giới nghiêm, nhưng từ ngày 17 tháng 5 thường ủy quyết định giới nghiêm [và] đến ngày 19 tháng 5 thực thi giới nghiêm, trong 3 ngày này, Quốc vụ viện cuối cùng ko hề mở hội nghị toàn thể hoặc hội nghị thường vụ, điều tra 1 lần là rõ. Tôi đã điều tra rồi, ko hề có.

Chính là thế này, đã phát sinh sự kiện tàn sát dân trong thành ‘Lục Tứ’ khi vài chục vạn quân quốc phòng tiến nhập thủ đô, dùng xe tăng và súng tiểu liên đối phó với sinh viên và thị dân. Quân quốc phòng bị dùng để đối phó với những người dân thường mà hướng đến Đảng và chính phủ nêu yêu sách một cách hòa bình. Tấn đại bi kịch cực kì bi thảm đã phát sinh, tiếp đó lại là đại thanh tra đại bức hại [đối với] toàn Đảng toàn quân toàn dân. Sự ổn định áp đảo tất cả; nó đã áp đảo cải cách, đã áp đảo pháp luật, đã áp đảo lương tâm, đã áp đảo những chủ nhân của quốc gia, áp đảo đến mức bao nhiêu công dân người mất nhà tan!

Với tư cách là công dân, Triệu TD cũng bị TCTƯ giam lỏng phi pháp. Ròng rã 15 năm, cho đến khi từ trần ở tuổi 85, nhà đại cải cách này mới thoát được sự giam lỏng, mới ‘tự do’.

Có người nói, Tổng thư kí muốn chia rẽ Đảng, mà chủ tịch quân ủy lại muốn cứu Đảng. Theo quan sát của tôi, 2 vị này đều là người CS trung thành, đều đem vận mệnh của bản thân và Đảng này liên kết với nhau, đều muốn làm những điều tốt cho Đảng này. Trong việc chia rẽ, Tổng thư kí nghĩ, Đảng nên thuận theo ý dân, nên phục tùng ý dân; chủ tịch quân ủy nghĩ, Đảng ko thể yếu thế trước nhân dân, ý dân phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng. Xuất hiện ý kiến bất đồng, đối với các đảng khác mà nói là điều bình thường, nhưng Đảng CS là 1 đảng quật khởi bằng báng súng, trước sau như 1 theo mệnh lệnh của Tổng chỉ huy loại bỏ những ý kiến bất đồng. Do đó, trong lịch sử Đảng CSTQ, đối với nhân dân, đối với đồng chí, đấu tranh tàn khốc, đả kích vô tình, đều là chuyện thường như cơm bữa.

Lục Tứ đã mở đầu cục diện mới [mà] toàn dân nín thinh

Tôi ko biết con số đồng bào bị thương vong trước xe tăng và súng tiểu liên. Nước ta hàng năm tổ chức thảo luận con số người TQ bị quân xâm lược Nhật Bản giết hại, [nhưng] chưa bao giờ đàm luận về con số người nước mình bị giải phóng quân nhân dân TQ giết chết. Những người lãnh đạo [khi] ở nước ngoài đã công bố tin tức ‘Quảng trường Thiên An Môn ko có 1 người chết’, việc này rất khôn khéo, nhưng ko thành thật. Gia đình tôi lúc đó ở bên trong tòa nhà Bộ trưởng, thế mà có người bị đạn lạc bay từ cửa sổ vào giết chết. Nghe nói toàn cầu đều đã xem truyền hình trực tiếp hiện trường của việc tàn sát dân thường Bắc Kinh, tôi lúc đó đã ở trong tù, [nên] ko xem, nhưng tôi tin, những đoạn phim sống này, là tác phẩm của bản thân Đặng Tiểu Bình, ko phải là người ngoại quốc đang ‘yêu ma hóa TQ’.

Sau huyết án đã phát động đại thanh tra toàn Đảng toàn quân toàn dân, tôi ko biết những hậu quả của việc thanh tra. Số người chịu trừng phạt, do đồng tình với phong trào sinh viên, do phản đối dùng quân đội trấn áp nhân dân, theo kinh nghiệm, hầu như chắc chắn vượt xa số người thương vong. Nhưng cuối cùng bao nhiêu người đã bị hại, đây là chuyện cơ mật của Đảng và NN, ko cho phép hỏi han, ko cho phép ‘lan truyền’. Bao nhiêu người ko nhà để về, hoặc giả li tán vợ con? Bao nhiêu người bị cách chức, ko bao giờ được tuyển dụng, cuộc sống ko chắc chắn? Bao nhiêu người đã biến mất, đã bị giáo dục lao động, đã bị kết án -- ai biết?

TƯ Đảng đã mở ra tiền lệ dùng vũ lực trấn áp công dân. 20 năm qua, những lãnh đạo các khóa trước lên nắm quyền, đều theo lệ phải giống như tuyên thệ, đưa ra những lời khẳng định ca ngợi trấn áp. Trên làm thì dưới bắt chước, tỉnh, thành phố, huyện, làng, thôn, đã tạo ra bao nhiêu sự kiện tiểu Thiên An Môn [mà] quan chức chính phủ trấn áp công dân? Có người nói, một năm 365 ngày hầu như ngày nào cũng có. Có lẽ đúng vậy. Trong những sự kiện tiểu Thiên An Môn 20 năm qua, thêm bao nhiêu người bị hại? Đây lại là bí mật quốc gia, lãnh đạo ko cho biết, cũng ko cho các phương tiện truyền thông trong nước cho nhân dân TQ biết.

Có người nói, trấn áp đã ép phồn vinh xuất hiện. Tôi chỉ biết, là cải cách kinh tế đã phục hồi sự phồn vinh. Là nhân dân, đã dùng kinh tế thị trường đả phá những xiềng xích của Mao TĐ, mới tạo ra phồn vinh. Hiện tại có người tổng kết nói, phồn vinh là sản phẩm của trấn áp. Đối mặt với những nguy cơ đối với kinh tế toàn cầu, tôi ko biết họ liệu có đang chuẩn bị giới thiệu những kinh nghiệm trấn áp, để cứu kinh tế thế giới kô.

Có người hoan hô việc TQ trong im lặng tự đưa bản thân nhảy vọt trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 toàn cầu chỉ sau Mĩ. Tôi tin đó là sự thực. Khi ở dưới gót sắt của Hốt Tất Liệt, TQ đã là thiên đường của sự phồn hoa mà Marco Polo tận mắt chứng kiến. Thập kỉ 20 của thế kỉ 20 dưới sự thống trị của quân phiệt Bắc Dương, theo tư liệu do kí giả nổi tiếng Trâu Thao Phấn tiên sinh cung cấp, TQ ban đầu là nền kinh tế lớn thứ 3, lúc nào cũng vượt qua Đức và Nhật Bản, chỉ đứng sau Mĩ và Anh quốc. Xét thấy Anh quốc lúc đó có nhiều thuộc địa, nếu như chiếu theo lãnh thổ hiện tại mà tính toán, rất có thể, thứ hạng của kinh tế TQ so với toàn cầu của thời kì quân phiệt Bắc Dương đã từ sớm ko hề kém hơn ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã sớm vinh dự ở vị trí thứ 2 thế giới, ít nhất TQ lúc đó vẫn chưa gặp và chịu đựng sự cướp bóc của việc tập trung thống nhất.

Sự kiện Lục Tứ đã mở đầu cục diện mới [mà] toàn dân nín thinh. Sau khi Đặng Tiểu Bình tuần tra miền Nam, TQ trong sự nín thinh lại đưa ra cải cách kinh tế, phân phối lại của cải. Ai là người hưởng lợi của việc phân phối lại trong im lặng này? Tôi ko biết. Tôi chỉ biết, toàn bộ những người bị bắt phải im lặng, đều là những người bị hại trong sự kiện tàn sát dân thành thị Lục Tứ. Những người dù lúc đó chưa được sinh ra, [nhưng] sau khi sinh ra đã phải nín thinh, hơn nữa còn phải bất tri bất giác, khúm na khúm núm, lễ bái quyền lực, lắng nghe những lời dối trá, đương nhiên càng là những người vô tội bị hại.

... 2 b continued ...
GLy
03-08-09, 04:49
Hôm qua em vội quá paste thiếu 1 đoạn cái phần giới thiệu, giờ bốt nốt:

Giới thiệu: Bối cảnh lịch sử của những hồi ức được ghi âm của Triệu Tử Dương
(bổ sung đoạn cuối - Di ngôn cuối cùng của Triệu TD)

Di ngôn cuối cùng của Triệu TD

Năm 1989 sau khi anh các chú hạ đài, cùng với những biến hóa của tình hình quốc tế quốc nội, đối với cải cách thể chế chính trị TQ anh đây đã có một vài nhận thức mới. Trước đây đối với chế độ dân chủ nghị viện mà bọn tư bản phát triển thối nát khoai Tây thực hành, [anh] cho rằng đ éo phải là nhân dân làm chủ đất nước. Mô hình của Liên Sô, chế độ đại biểu đại hội mà các nước XHCN quang vinh thực hành, mới có thể thể hiện nhân dân làm chủ đất nước; chế độ này so với chế độ dân chủ nghị viện khoai Tây thì cao cấp hơn, có khả năng hơn để thể hiện hình thức của dân chủ. Trên thực tế đ éo phải là 1 chuyện như thế. Cái chế độ dân chủ mà đất nước XHCN quang vinh muôn năm của chúng ta thực hành, hoàn toàn rơi tõm vào hình thức, đ éo phải là nhân dân làm chủ đất nước, mà là một số ít thằng và con, thậm chí là sự thống trị của 1 thằng hay con bỏ mẹ nào đấy.

Nhìn chung từ thế kỉ 20 đến nay trên thế giới đã có đủ loại chế độ chính trị. Quân chủ chuyên chế, độc tài phát xít của Đức nhợn, Ý nhợn, đều đã bị lịch sử giật nước; vẫn còn có một vài chính quyền độc tài quân nhân, nhưng cũng như hoa quỳnh chóng tàn, hoặc đã càng ngày càng mất thị trường. Dù hiện giờ những thằng lạc hậu vãi đái vẫn ko ngừng xảy ra những sự việc như vậy, như kiểu mấy thằng Nam Mĩ thường phát sinh quân nhân đảo chính, nhưng điều đó cũng chầm chậm trở thành khúc nhạc đệm ngắn ngủi cho việc những thằng này từng bước đi đến chính trị nghị trường. Thế kỉ 20 đã xuất hiện, trong thời gian vài chục năm cùng chế độ đại nghị phương Tây đối lập cái gọi là chế độ dân chủ mới nổi -- chế độ chuyên chính giai cấp vô cbn sản, tại đại đa số các quốc gia [nó] đã rút khỏi vũ đài lịch sử. Ngược lại mới đau là cái chế độ dân chủ nghị viện của bọn khoai Tây đã thể hiện sức sống dai như đỉa của nó. Có vẻ cái loại chế độ này là 1 chế độ mà hiện tại có khả năng tìm kiếm khá ngon, có khả năng thể hiện dân chủ, phù hợp với những yêu cầu hiện đại và cũng khá hoàn thiện. Giờ vẫn đ éo tìm ra chế độ nào ngon hơn nó.

Đương nhiên, loại chế độ này cũng đ éo phải là đẹp trên từng nanometer, nó cũng tồn tại nhiều vấn đề bỏ kụ ra ấy chứ. Nhưng một cách tương đối mà nói, chỉ có loại chế độ này là khá phù hợp văn minh hiện đại, khá phù hợp ý dân, có lợi đối với việc thể hiện dân chủ, hơn nữa là 1 loại mô hình khá ổn định. Loại mô hình này càng ngày càng thể hiện ra sức sống của nó. Hầu như tất cả những thằng tư bản phát triển thối nát thực hành đều là 1 loại chế độ dân chủ nghị viện này. Vài thập niên qua xu hướng những thằng phát triển khá nhanh, từng bước chuyển hướng sang chế độ dân chủ nghị viện cũng càng ngày càng rõ rệt. Anh các chú nghĩ việc này tuyệt đ éo phải ngẫu nhiên. Vì sao mà đ éo có thằng nhà giàu nào thực hành một loại chế độ khác nhể? Việc này chứng minh 1 thằng muốn thực hiện hiện đại hóa, muốn thực hiện kinh tế thị trường hiện đại, hiện đại văn minh, thì về thể chế chính trị nó phải thực hành chế độ dân chủ nghị cbn viện.

Đây là những lời của Triệu Tử Dương. Lí tính, thực dụng, thẳng thắn, thành khẩn, xuất phát từ trong trái tim, là những lời quan trọng nhất Triệu Tử Dương để lại cho đồng bào.

... 2 b continued ...
GLy
16-08-09, 08:27
Phần I
Sự kiện Lục Tứ (tháng 6 ngày 4) năm 1989

1. Phong trào sinh viên (SV) Bát Cửu (89) bắt đầu nổi lên

Phần I
Sự kiện Lục Tứ (tháng 6 ngày 4) năm 1989

1. Phong trào sinh viên (SV) Bát Cửu (89) bắt đầu nổi lên

7 năm trước (1), tôi sợ quên một số chuyện, đã đem một vài chuyện của Lục Tứ viết sang 1 thứ, xem như là để lại một chút ghi chép! Giờ tôi theo tài liệu này mà kể. Trong đó một số chuyện trong phát ngôn (3) của tôi tại hội nghị toàn thể ban chấp hành TƯ khóa 13 lần thứ 4 (2) đã giải thích rồi, một số chuyện chưa giải thích, tại đây sẽ cùng nhau bàn đến.

Đầu tiên nói về nguyên nhân của phong trào SV, phong trào SV ban đầu là do xoay quanh việc tưởng niệm Diệu Bang (4) mà khởi phát. Ngày 15 tháng 4 năm 1989 Diệu Bang từ trần, sau khi việc này được thông báo rộng rãi, chiều hôm đó một số SV đại học tại Bắc Kinh liền tự phát tổ chức hoạt động tưởng niệm. Sau đó liền đi lên trên phố. Với lại số người càng ngày càng đông. Lúc này đúng là có một vài SV thể hiện sự kích động, đã nói một vài lời quá khích, nhưng nhìn chung mà nói [họ] khá chú ý đến trật tự, đã ko phát sinh sự việc vượt ra ngoài qui định. Chiều ngày 18, 19 tháng 4, có vài trăm người đi đến Tân Hoa Môn (5). Tôi đã điều lực lượng của Bộ Công an đến xem xét. Cái gọi là sự kiện SV tấn công Tân Hoa Môn, trên thực tế những Sv ở đằng trước liên tục hô: phải giữ kỉ luật, ko được phạm sai lầm! Chủ yếu là những người vây quanh để xem ở phía sau rất đông. Những SV ở phía trước nêu ra yêu cầu à, đòi gặp người nào đấy à, những người phía sau đều dồn lên đằng trước, đẩy lên đằng trước, trật tự có một chút hỗn loạn. Sau đó Sv tự tổ chức đội giữ trật tự, đã ngăn cách Sv với những người vây quanh để xem.

Ngày 22 tháng 4 lúc lễ truy điệu (6) bắt đầu, quảng trường Thiên An môn có vài vạn sv tập trung, việc này đã được đồng ý (7). Tôi ở bên trong Đại hội đường nhân dân cử hành lễ truy điệu, sv ở bên ngoài tưởng niệm, bố trí các loa công suất lớn ở trên cao cho họ, sv bên ngoài có thể nghe được tình huống khởi đầu lễ truy điệu bên trong Đại hội đường nhân dân.

Đây chính là tình huống trước [khi xảy ra] phong trào Sv mà bài xã luận ngày 26 tháng 4 công bố.

Tại sao Sv đối với việc Diệu Bang từ trần lại tưởng niệm mãnh liệt như vậy? Việc này có những nguyên nhân phức tạp. Thứ 1, hình tượng tốt đẹp của Diệu Bang. Ông ấy đã sửa đúng lại rất nhiều án oan sai nhầm lẫn, chủ trương cải cách mở cửa, đặc biệt là ông ấy làm việc thanh liêm. Lúc đó ý kiến của người dân đối với hủ bại tương đối nhiều, [họ] mượn việc tưởng niệm Diệu Bang để thể hiện sự bất mãn đối với hủ bại. Thứ 2, bất mãn, tức giận đối với cách mà Diệu Bang phải hạ đài năm 1987. Một mặt đối với việc đấu tranh chống tự do hóa [họ] ko bằng lòng, có sự chống đối, đồng thời đối với phương thức thay thế lãnh đạo như cách Diệu Bang hạ đài [họ] khó mà chấp nhận, tóm lại là vì Diệu Bang mà thể hiện sự bất bình. Thứ 3, sau đề xuất chỉnh đốn việc quản lí mùa thu năm 1988 (8), cải cách mở cửa co lại toàn diện, cải cách chính trị ko thấy động tĩnh, cải cách kinh tế đình trệ ko tiến lên thậm chí còn thụt lùi. Sv đối với loại tình hình này ko bằng lòng, dùng việc tưởng niệm Diệu Bang để bày tỏ nguyện vọng đối với việc sâu sắc hóa cải cách. Sv trển phố lúc đó đại thể là 3 bộ phận: hầu hết thuộc về loại tình huống đã nói ở trên; cũng có vài người là vì ko bằng lòng với công tác của chúng tôi, [nên] mượn đề tài để nói chuyện của mình, làm ầm ĩ một chút; đương nhiên, cũng thực sự có một số ít người ‘chống Đảng chống CNXH’, muốn cố ý làm sự tình trở nên rất huyên náo.

Lúc đó tại hội đồng thường ủy Bộ Chính trị TƯ tôi nói, TƯ lo việc tang lễ, Sv tưởng niệm, chúng tôi ko thể ko cho phép. Ko thể nói chúng tôi lo việc tang lễ, ko cho Sv tưởng niệm, việc này ko có đạo lí. Do đó tôi chủ trương ngoài đánh nhau, đập phá, cướp, đốt phá, tấn công 5 loại hành vi phạm pháp phải theo luật mà trừng phạt, bình thường phải áp dụng biện pháp hòa hoãn là mở đường.

Sau khi lễ truy điệu kết thúc, tôi đã đề xuất 3 ý kiến:

(1) Kết thúc lễ truy điệu, sinh hoạt xã hội nên tiến vào quĩ đạo bình thường, đối với việc sv diễu hành phải tiến hành khuyên can, để họ lên lớp lại.

Lúc đó tôi nghĩ sv bất kể là động cơ gì, nói chung đều là lợi dụng cái chủ đề tưởng niệm Diệu Bang này. Lễ truy điệu đã kết thúc, họ cũng đã tham gia, thì ko còn chủ đề gì nữa, [họ] nên lên lớp lại.

(2) Đối với sv áp dụng phương châm mở đường, khai triển nhiều cấp độ, nhiều con đường và nhiều hình thức đối thoại, liên lạc với nhau, trưng cầu ý kiến. Sv, giáo viên, các phần tử trí thức có ý kiến gì đều có thể lên tiếng.

(3) Bất kể như thế nào đều phải tránh những sự đổ máu, nhưng đối với những hành vi phạm pháp là đánh nhau, đập phá, cướp, đốt phá, tấn công nên theo luật mà xử phạt.

Những ý kiến này của tôi Lí Bằng (9) và các vị thường ủy (10) đều đã chấp nhận, hơn nữa đã hình thành văn bản. Trước đó những phân tích này cùng những phương châm được định xuống, đều đã dùng hình thức văn kiện thông báo cho các địa phương và các bộ phận của chính phủ biết. Sau đó việc giảng giải về 3 ý kiến là tôi trước khi sang Triều Tiên (11) đã giảng giải. Lễ truy điệu Diệu Bang vừa kết thúc, khi những lãnh đạo chủ chốt của TƯ cùng nhau xuống thang máy tôi đã cùng họ bàn luận, sau đó tôi lại chính thức bàn về những ý kiến này. Chiều ngày 23 tháng 4, lúc tôi rời thủ đô sang Triều Tiên, Lí Bằng đến ga tiễn, ông ấy hỏi tôi còn có thêm ý kiến gì. Tôi nói chính là 3 ý kiến đó. Sau khi nghe [tôi] nói, Lí Bằng đã đem 3 ý kiến này báo cáo Đặng (12), Đặng cũng đồng ý.

Lúc đó trong thường ủy ko có ý kiến bất đồng, chí ít ko có ý kiến bất đồng nào rõ ràng. Tôi chỉ nhớ 1 việc, đêm ngày 19 tháng 4 Lí Bằng đột nhiên điện thoại cho tôi, chất vấn tôi: Sv hiện tại đang tấn công Tân Hoa Môn, sao vẫn ko áp dụng biện pháp gì? Tôi lúc đó trả lời ông ấy: Kiều Thạch (13) phụ trách tuyến đầu, có đủ các loại dự án, ông ấy có thể xử lí trong những tình huống khẩn cấp. Trên thực tế đến sáng sớm ngày 20, đại bộ phận Sv tụ tập tại Tân Hoa Môn đã giải tán rồi, [với] một số ít người chưa đi thì do công an dọn dẹp hiện trường, cưỡng chế họ lên xe, gửi về trường. Đây chính là tình hình phong trào sinh viên và phương châm của thường ủy lúc đó, trước lúc tôi sang thăm Triều Tiên.

-----
Ghi chú:

(1) Căn cứ nội dung mà phân tích, bộ băng ghi âm này được ghi âm vào khoảng năm 2000. ‘7 năm trước’ là chỉ năm 1993.

(2) Hội nghị toàn thể lần thứ 4 ban chấp hành TƯ khóa 13 của Trung Cộng triệu tập tại Bắc Kinh từ ngày 23 đến ngày 24 tháng 6 năm 1989. Đây là Trung Cộng sau sự kiện trấn áp ‘Lục Tứ’, để củng cố chính quyền, đã đem việc ‘hợp pháp hóa’ trấn áp làm mục đích mà cử hành một hội nghị toàn thể ban chấp hành TƯ. Trên hội nghị Lí Bằng đã viết ‘Báo cáo về những sai lầm mà đồng chí Triệu Tử Dương phạm phải trong động loạn chống Đảng chống CNXH’. Hội nghị toàn thể đã triệt tiêu các chức vụ Tổng thư kí, thường ủy Bộ Chính trị, ủy viên, ủy viên TƯ và Phó chủ tịch thứ 1 quân ủy của Triệu Tử Dương, quyết định ‘tiếp tục thẩm tra’ đối với vấn đề Triệu Tử Dương; đã bãi miễn các chức vụ thường ủy Bộ Chính Trị, ủy viên Bộ Chính trị, thư kí ban thư kí TƯ của Hồ Khải Lập; đã bãi miễn chức vụ thư kí ban thư kí TƯ của Nhuế Hạnh Văn, [và] Diêm Minh Phục.

(3) Xem phụ lục 4 ‘Phát ngôn tự biện giải về sự kiện Lục Tứ’.

(4) Hồ Diệu Bang (1915 – 1989): người thành phố Lưu Dương tỉnh Hồ Nam. Từ 1980 đến 1987 nhậm chức Tổng thư kí TƯTC. Cuối những năm 70 thế kỉ trước, Hồ DB đã phát động ‘Đại thảo luận về tiêu chuẩn chân lí’, chủ trì ‘Sửa lại cho đúng những vụ án oan sai nhầm lẫn’, đã mở ra hoàn cảnh chính trị và xã hội của việc cải cách mở cửa. Trong mắt Đặng TB và các nguyên lão khác trong Đảng, Hồ DB về mặt chính trị quá khoan dung đối với những người và sự việc có khuynh hướng tự do chủ nghĩa. Sau khi mất đi sự ủng hộ của các nguyên lão, trên thực tế Hồ đã ko thể làm việc được nữa; tháng 1 năm 1987 [Hồ DB] bị ép phải từ bỏ chức Tổng thư kí. Ngày 15 tháng 4 năm 1989 Hồ DB từ trần, đã dẫn đến phong trào Sv biểu tình mà hầu như toàn thể Sv đại học ở Bắc Kinh tham gia, hơn nữa được sv đại học trên toàn quốc và thị dân Bắc Kinh ủng hộ rộng rãi, kéo dài trọn vẹn 50 ngày, cuối cùng Đặng TB điều vài chục vạn quân trấn áp đẫm máu.

(5) Tân Hoa Môn là cổng chính của khu Trung Nam Hải của trung ương Trung Cộng, nằm trên đại lộ Trường An phía Tây của Bắc Kinh. Tên ban đầu là Bảo Nguyệt Lâu, được xây dựng trong đời Càn Long nhà Thanh.

(6) Ngày 22 tháng 4 năm 1989, lễ truy điệu Hồ DB do Trung Cộng chính thức tổ chức tại Đại hội đường nhân dân ở Bắc Kinh cử hành. Lễ truy điệu do chủ tịch nước Dương Thượng Côn chủ trì, Tổng thư kí TƯTC Triệu Tử Dương đọc điếu văn.

(7) Xem đoạn văn sau. Triệu TD: ‘Lúc đó tại hội đồng thường ủy Bộ Chính trị TƯ tôi nói, TƯ lo việc tang lễ, Sv tưởng niệm, chúng tôi ko thể ko cho phép. Ko thể nói chúng tôi lo việc tang lễ, ko cho Sv tưởng niệm, việc này ko có đạo lí.’

(8) Tháng 9 năm 1988, hội nghị toàn thể của [ban chấp hành TƯ] Trung Cộng khóa 13 đưa ra quyết định ‘kiểm soát hoàn cảnh kinh tế, chỉnh đốn trật tự kinh tế, sâu sắc hóa 1 cách toàn diện việc cải cách’.

(9) Lí Bằng (1928 - ): Con trai của Lí Thạc Động. Người Thành Đô Tứ Xuyên. Hồi trẻ du học Liên Sô, nhân viên công trình điện lực, sau CMVH nhậm chức phó bộ trưởng Bộ Thủy điện. Năm 1983 làm Phó thủ tướng Quốc vụ viện; năm 1985 nhậm chức ủy viên Bộ Chính trị TƯ, thư kí ban thư kí; năm 1987 nhậm chức thường ủy Bộ chính trị, năm 1988 đến 1998 làm Thủ tướng. Về mặt chính trị Lí nghe theo các nguyên lão bảo thủ trong Đảng; về kinh tế nghe theo Diêu Y Lâm. Trong thời gian của sự kiện ‘Lục Tứ’ năm 1989, Lí Bằng đã chủ trương cố gắng và thúc đẩy trấn áp bằng vũ lực.

(10) ‘Thường ủy’ chỉ thường ủy Bộ Chính trị TƯ khóa 13 của Trung Cộng. Tất cả có 5 người: Triệu Tử Dương, Lí Bằng, Kiều Thạch, Hồ Khải Lập, Diêu Y Lâm.

(11) Hạ tuần tháng 4 năm 1989, Triệu TD chiếu theo nhật trình đã được song phương đồng ý từ trước, dẫn đầu đoàn đại biểu đến thăm Triều Tiên. Đoàn đại biểu rời Bắc Kinh chiều ngày 23 tháng 4, sáng ngày 30 tháng 4 về đến Bắc Kinh.

(12) Đặng Tiểu Bình (1904 – 1997): Người Quảng An Tứ Xuyên. Từ năm 1977 – 1987 làm thường ủy Bộ Chính trị TƯ; từ năm 1981 đến 1990 đảm nhiệm chức Chủ tịch hội đồng ủy viên quân sự TƯTC; là nguyên lão Trung Cộng có quyền lực tối cao tại Trung Quốc lúc đó (được gọi là ‘Hạt nhân đời thứ 2 của Đảng’). Đặng TB ở phương diện kinh tế, là người ủng hộ mạnh mẽ của việc cải cách, vì lực lượng cải cách trong Đảng của những người như Triệu TD đã cung cấp những sự ủng hộ ko thể thiếu được; ở phương diện chính trị ông ấy giữ vững đường biên một đảng chuyên chế, là người phát động ‘chống tự do hóa’ nhiều lần trong thời kì cải cách; từ trấn áp phong trào bức tường dân chủ ở Tây Đan Bắc Kinh năm 1979, đến trấn áp ‘Lục Tứ’ năm 1989, đều là do ông ấy tự thân đưa ra quyết sách. Khuynh hướng cá nhân của Đặng TB đối với chính trị, kinh tế và xã hội Trung Quốc sau khi Mao TĐ chết có ảnh hưởng sâu sắc.

(13) Kiều Thạch (1924 - ): Người Định Hải Chiết Giang. Năm 1985 nhận chức ủy viên Bộ Chính trị TƯTC, thư kí ban thư kí, thư kí ủy ban chính trị và pháp luật. Năm 1986, kiêm nhiệm chức phó Thủ tướng. Năm 1987 nhậm chức thường ủy Bộ Chính trị TƯTC, thư kí ủy ban kỉ luật TƯ. [Trong] sự kiện ‘Lục Tứ’ năm 1989 thái độ trung lập.
Wfs
29-09-09, 21:21
Bác GLy em tiếp đi, em tuy dị ứng khựa nhưng quyển này em thử đọc để hiểu xem rằng các bạn dìm hàng nhau dư lào.
lão ma
29-09-09, 21:48
Anh có quen 1 thằng ku trong hội "Thập diện mai phục" vụ TAM xảy ra hồi 89. Hỏi nó hồi đấy mày trốn ra nước ngoài bằng cách nào thì nó kể là cuộc chạy trốn Cống ốn - CA Tung của mất gần 2 năm. Sau này dạt sang đến Ấn rồi đạp xe qua Âu Châu xin tị nạn.
GLy
29-09-09, 22:17
Bác GLy em tiếp đi, em tuy dị ứng khựa nhưng quyển này em thử đọc để hiểu xem rằng các bạn dìm hàng nhau dư lào.
Em tưởng ko bác nào đọc nên em ngừng. Tuy nhiên nếu vẫn có người đọc thì em lại dịch tiếp. Chương tiếp này hơi dài nên phải tối muộn hôm nay em mới bốt được.
knowledgeriver
29-09-09, 22:20
Dịch tiếp đi. Thăng Long mình trước có thằng Ku Tí ngơ ngáo nhưng mà dịch xong quả du lịch Bắc Hàn thì tự nhiên bụp phát nhảy vào BCT Thăng Long.
lão ma
29-09-09, 22:20
Em tưởng ko bác nào đọc nên em ngừng. Tuy nhiên nếu vẫn có người đọc thì em lại dịch tiếp. Chương tiếp này hơi dài nên phải tối muộn hôm nay em mới bốt được.

Dịch từ tiếng Tung của à Gly? Còn không thì up tài liệu hoặc đưa link là ok rồi.

Cảm ơn trước nhé!
GLy
29-09-09, 22:23
Vầng, từ tiếng Tàu, em cũng đã cố kiếm bản tiếng Anh cho các bác đọc cho tiện, nhưng đến giờ vẫn ko kiếm ra.
KuTí
29-09-09, 22:25
Em có đọc đấy, bốt tiếp đi bác em, sau hiệu đính lại đưa vào Long tuyển:p
Tê tê say say
29-09-09, 22:45
Bác Gly rảnh thì dịch giúp em cuốn này mí. Cuốn bác đang dịch không hay bằng đâu.
http://www.angelibrary.com/oldies/zztj/
cfact
29-09-09, 22:53
Cuốn lão say không cần dịch. Em cho phần mềm convert ra mà đọc :D
GLy
30-09-09, 20:40
2. Xã luận ngày 26 tháng 4 (14) đã làm mâu thuẫn trở nên gay gắt

2. Xã luận ngày 26 tháng 4 (14) đã làm mâu thuẫn trở nên gay gắt

Tuy nhiên, sau đó phong trào sv vì sao có thể làm ra 1 tình trạng rất hỗn loạn như vậy? Mấu chốt là xã luận ngày 26 tháng 4. Sv có cảm xúc bất mãn, luôn có thể biểu hiện ra ngoài, cho dù nếu lúc đó ko có sự hỗn loạn xảy ra, [họ] sau đó [sẽ] vẫn muốn biểu đạt. [Họ] luôn luôn có ý kiến mà! Nhưng phong trào SV làm loạn lớn như vậy, chính tại thời điểm đó làm ra một sự hỗn loạn lớn như vậy, chính là [do] xã luận ngày 26 tháng 4. Các tình huống trước và sau xã luận ko giống nhau. Nếu như lúc đó tùy theo tình thế mà dẫn dắt, làm tốt công tác, sự tình cơ bản sẽ ko thể hỗn loạn lớn như thế. Xã luận ngày 26 tháng 4 là một bước ngoặt.

Ngày 19 tháng 4, tôi nhân tiện việc điều tra sự tình buổi sáng đi qua chỗ Đặng, cũng bàn với Đặng những ý kiến [cùa mình] về tình huống của phong trào sv và cách xử lí như thế nào, Đặng lúc đó đều thể hiện sự ủng hộ. Nhưng sự tình rất kì quái, khi tôi rời Bắc Kinh buổi tối cùng ngày, Lí Tích Minh (15), Trần Hi Đồng (16) của ủy ban thành phố liền tìm Vạn Lí (17), yêu cầu triệu tập hội nghị thường ủy TƯ để nghe báo cáo của họ. Vạn Lí liền trình lên người quản lí bọn họ. Quan điểm của Vạn Lí đối với phong trào sv từ đầu chí cuối luôn nhất trí với tôi. Vạn Lí đã đem yêu cầu của bọn họ chuyển cho Lí Bằng. Thời gian tôi đi công tác nước ngoài Lí Bằng tạm thời chủ trì công tác của thường ủy. Lí Bằng thật sự là nhanh vãi lều à, tối ngày thứ hai (chú ý của người dịch: ko phải Thứ Hai) liền triệu tập hội nghị thường ủy. Dưới sự chủ trì của Lí Bằng, Lí Tích Minh, và Trần Hi Đồng cực lực nói rằng tình huống của phong trào sv là nghiêm trọng phi thường, họ ko quan tâm đến việc tình hình phong trào sv lúc đó đang tiến đến hòa hoãn. Kì thực trong các sv lúc đó đã xuất hiện phân hóa, một bộ phận chủ trương lên lớp lại và hơn nữa đã lên lớp lại, một số ít người phản đối lên lớp lại, có một số trường vì lí do này mà phát sinh tranh cãi, [khi] một vài sinh viên về đến lớp học bài, những phần tử cấp tiến hơn đó đã giữ lại ở cửa không cho tiến vào. Loại tinh huống này nguyên nhân là vì sự tức giận của những sv này vẫn chưa được hoàn toàn trút đủ, mới náo loạn một tí mà đã kết thúc thế này sao? Lúc đó nếu tiếp tục làm một vài công tác, [như] hướng dẫn, đối thoại, cho phép sv đề xuất 1 vài yêu cầu hợp lí, [thì] đây chính là một cơ hội rất tốt. Tuy nhiên họ trong lúc báo cáo lại nói ‘1 đợt hành động qui mô lớn có qui mô toàn quốc bao gồm cả học sinh trung học, và công nhân đang trong quá trình tổ chức phát động’, cũng nói sv Bắc Kinh liên tiếp phái người đến các vùng trên cả nước để móc nối liên kết, lên phố để quyên góp thu thập kinh phí, muốn làm một hành động qui mô to lớn hơn. Bọn họ đem những lời quá khích của những sv cá biệt, đặc biệt là những lời quá khích đối với cá nhân Đặng TB tuyên truyền thêm nữa, đem phong trào sv để nói rằng [dân] thành thị phản đối đảng CS, chĩa mũi nhọn vào Đặng TB. Từ sau cải cách mở cửa, hs sv, đặc biệt là sv đại học đối với những thứ của phương Tây nghe thấy rất nhiều, nhìn thấy rất nhiều. Nói vài câu về một người lãnh đạo, họ cơ bản ko coi đó là 1 vấn đề [to tát], [lúc này] ko giống như thời kì không khí căng thẳng hơn tại trước hoặc trong đại CMVH. Lúc đó điều tiếng về tôi cũng rất nhiều, nào là mấy đứa con tôi làm ‘quan đảo’ (18) (chỉ sự việc lợi dụng quyền lực của mình hoặc người thân để mưu lợi cá nhân, ko tìm được từ tiếng Việt tương đương) này, nào là đã vận chuyển bao nhiêu toa xe phân bón hóa học về quê tôi này. Lúc đó trong bao nhiêu vạn người mà ko có một ai nói vài lời cực đoan, quá khích thì là ko thể. Có 10 người nói những lời kiểu này, [mà] anh lúc nào cũng tập trung được thì đã là cực kì ghê gớm rồi. Lí Tích Minh, Trần Hi Đồng bọn họ làm thế này, là họ thực tế làm theo phương thức tư duy của đấu tranh giai cấp, hay vì í đồ riêng, tôi cũng ko được rõ. Ngày 24 trong hội nghị thường ủy đã đem phong trào sv định tính chất là ‘đấu tranh chính trị chống Đảng chống XHCN (19) có tổ chức, có kế hoạch, có mưu tính trước’, và hình thành bản tóm tắt hội nghị. Lí Bằng, Lí Tích Minh, Trần Hi Đồng là những người đề xướng.

Ngày 25 tháng 4 Lí Bằng, Dương Thượng Côn (20) đã đem tình hình của hội nghị thường ủy làm báo cáo cho Đặng. Cá nhân Đặng đối với phong trào sv lúc nào cũng chủ trương áp dụng phương châm cứng rắn, cho rằng phong trào sv làm ảnh hưởng đến sự ổn định. Sau khi nghe báo cáo, Đặng ngay lập tức đồng í xác định tính chất phong trào sv là ‘động loạn phản Đảng phản XHCN’, hơn nữa còn đề xuất giải quyết theo kiểu ‘khoái đao trảm loạn ma’ (em để nguyên vì ko tìm được thành ngữ Việt tương đương, í nói giải quyết dứt khoát nhanh chóng như dùng khoái đao để chặt đám dây gai rối rắm). Ngày 19 tháng 4 khi tôi đến chỗ Đặng, những quan điểm của tôi ông ấy đã hoàn toàn đồng í. Ngày 25 khi Lí Bằng, Dương Thượng Côn giải thích, Đặng lại đồng í với quan điểm của họ, là bởi vì quan điểm này nhất trí với chủ trương xuyên suốt của ông ấy. Ngày 25 tháng 4 Đặng cùng những người như Lí Bằng đối thoại, ban đầu là nói chuyện nội bộ. Nhưng đêm hôm đó, Lí Bằng liền quyết định đem bài nói chuyện của Đặng truyền đạt rộng rãi cho cán bộ các cấp, ngày 26 tháng 4 lại đem bài nói chuyện đó biên tập thành bài xã luận trên Nhân Dân Nhật Báo, công khai xác định tính chất phong trào sv là ‘một đợt động loạn có kế hoạch, có dự mưu, mục đích của nó là phản Đảng phản XHCN’. Trước khi tôi sang Triều Tiên, Lí Bằng, [và] lãnh đạo Bắc Kinh (BK) đều ko nói cho tôi biết những quan điểm này của họ. Tôi vừa rời BK, họ liền rất nhanh chóng tổ chức hội nghị thường ủy, hơn nữa còn có được ngay sự ủng hộ của Đặng. Việc này đã làm thay đổi nguyên tắc áp dụng phân tích và chuẩn bị ban đầu của thường ủy bộ chính trị.

Đặng đối với việc Lí Bằng truyền đạt rộng rãi bài nói chuyện của ông ấy thì ko = lòng, các con của Đặng cũng ko = lòng với việc đem Đặng lên trước sân khấu [này]. Ngày thanh niên mồng 4 tháng 5 (21) tôi có 1 bài nói chuyện. Mao Mao (22) gọi điện thoại cho người phác thảo (23) là Bảo Đồng (24), hi vọng thêm được vào bài nói chuyện 1 nội dung là Đặng quí trọng thanh niên. Ngày 17 tháng 5 trong cuộc họp quyết định giới nghiêm lần đó ở nhà Đặng, Đặng nói với Lí Bằng: Lần này đừng có làm giống như kiểu lần trước đấy, không được đem việc tôi quyết định giới nghiêm làm lộ ra. Lí Bằng liên tiếp nói: Sẽ ko thế! Sẽ ko thể!

Có kẻ lợi dụng những lời quá khích của sv để làm mâu thuẫn thêm sâu sắc, đem Đảng và chính phủ đẩy đến chỗ đối lập gay gắt với sv. Trải qua cải cách mở cửa, việc sv phê bình lãnh đạo cơ bản ko thể xem là việc gì nghiêm trọng, [chỉ là] phát tiết một chút ko hơn, [nó] ko hề có nghĩa là những người này muốn xô đổ chế độ của chúng ta. Nhưng đem những lời sv phê bình Đặng tập trung nói lên cho Đặng nghe, đối với ông già này là một sự kích động cực lớn. Những người này còn đem những lời quá khích chiếm thiểu số, lẻ tẻ, phân tán trong sv mà nói thành chủ lưu của phong trào sv, nói mũi nhọn của việc đấu tranh là hướng đến Đặng. Do phương thức tư duy ‘dùng đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh’ (25) đã được hình thành nhiều năm của Đặng, nên nghe báo cáo của Lí Bằng 1 lần [ông ấy] liền phát biểu bài nói chuyện như vậy. Tôi nghĩ việc này là nguyên nhân chủ yếu.

Khi tôi ở Triều Tiên, ngày 24 tháng 4 bản tóm tắt của hội nghị thường ủy và bài nói chuyện của Đặng truyền đến tôi thông qua sứ quán. Tôi phone về nói: Tôi hoàn toàn đồng í với quyết sách mà đ/c Tiểu Bình đưa ra để đối phó với sự động loạn trước mắt. Những văn kiện này phát cho tôi, tôi phải thể hiện thái độ ngay, cũng ko thể thể hiện í kiến bất đồng, bời vì tôi đang ở nước ngoài ko thể giải quyết tình huống trong nước. Nhưng tôi ko thể hiện thái độ đối với bản tóm tắt hội nghị thường ủy. Đọc bài nói chuyện của Đặng, phản ứng ngay lập tức trong đầu tôi lúc đó cũng chỉ là [nghĩ] 1 đợt vận động phản đối tự do hóa sắp diễn ra. Nhưng tôi đã ko tin rằng phong trào sv sẽ ko thể trở nên bình ổn, bởi tôi ko hề cho rằng đây là 1 vấn đề rất lớn. Cái tôi lo lắng là những cải cách từ Đại hội lần thứ 13 đặc biệt là đà cải cách chính trị sẽ chịu tổn hại, bởi vì Đặng cho rằng, nguyên nhân của phong trào sv là sự bất lực trường kì trong chống tự do hóa.

Lúc trước [tôi] đã nói qua, sau khi lễ truy điệu kết thúc, phong trào sv tiến đến hòa hoãn, hơn nữa trong nội bộ sv cũng có những í kiến bất đồng, một bộ phận chủ trương phục khóa (từ ‘lên lớp lại’ dài quá, từ giờ em dùng từ phục khóa), đây chính là cơ hội rất tốt. Chỉ cần chúng ta tiến 1 bước làm tốt công tác, phong trào sv sẽ có thể bình ổn. Nhưng ngay khi xã luận 26 tháng 4 được đưa ra, tình huống lập tức đã phát sinh biến hóa, đã hết sức làm nghiêm trọng hóa mâu thuẫn. Sv bị lời lẽ của xã luận và sự chụp mũ về chính trị kích nộ. Những cái gì mà ‘phản Đảng phản XHCN’, ‘có kế hoạch có mục đích’, sv đã nhiều năm ko nghe thấy những lời lẽ dạng này, những cảm xúc ngay lập tức dâng lên đầy kích động, những người ban đầu có quan điểm ôn hòa cũng bị đẩy sang bên cấp tiến. Sau khi từ Triều Tiên về, tôi đã tìm mấy sv đại học để nói chuyện, họ đều nói về tình huống này. Xã luận 26 tháng 4 vừa in ra, các phương diện bao gồm cả các cơ quan trụ sở đều bất mãn phi thường, ‘Tại sao lại làm 1 việc như thế này?’ Vì lẽ đó ngày 27 tháng 4 lượng người diễu hành trên đường phố tăng lên đến 10 vạn. Do lời lẽ của xã luận 26 tháng 4 tương đối nặng nề, sv nghĩ rằng hành động này có thể sẽ chịu trấn áp, vì vậy có những sv trước khi tuần hành đã viết và gửi lại di ngôn, hay thư li biệt cho gia đình hoặc bạn bè thân thích. Xã luận 26 tháng 4 ko chỉ đã kích nộ sv, cơ quan, đoàn thể, các đảng phái dân chủ (26) nó cũng phổ biến mâu thuẫn. Họ ko hiểu, ko đồng í, thậm chí bất mãn. Họ nghĩ rằng sv quan tâm đến đại sự của đất nước, quan tâm đến vận mệnh của cải cách, nêu ra những vấn đề nóng bỏng của xã hội, là hành động yêu nước đáng quí. Chính phủ ko những ko thể hiện sự quí trọng, và tiến hành hướng dẫn, mà ngược lại lại đứng đối lập với sv, chụp cho họ cái mũ ‘phản Đảng phản XHCN’, và dùng bài xã luận nồng nặc mùi thuốc súng để dọa dẫm họ. Đặc biệt những phần tử trí thức phản ứng càng mạnh mẽ. Chính phủ làm thế này, xã hội càng đồng tình ủng hộ sv. Từ những cuộn phim quay hiện trường có thể thấy, đội ngũ diễu hành lúc đó của sv đi đến đâu, quần chúng 2 bên đường phố liền vỗ tay hoan nghênh, và hô khẩu hiệu ủng hộ, thậm chí có vài người còn gia nhập đội ngũ diễu hành. Thậm chí những cảnh sát phụ trách cản trở việc diễu hành cũng là làm chiếu lệ một chút rồi cho phép đi qua. [Tại] một vài tuyến phong tỏa được bố trí từ đầu, khi đội ngũ sv đi đến nơi, cảnh sát liền nhường đường, sv diễu hành có thể nói ko hề gặp cản trở.

Lúc đó nhiều lão đồng chí đối với việc sv diễu hành khá là lo lắng. Bởi họ biết Tiểu Bình đã giảng giải bằng 1 bài nói chuyện như thế, [nên] sợ mâu thuẫn trở nên gay gắt, phát sinh sự kiện đổ máu, [họ] liên tục thể hiện mong muốn TƯ kiềm chế, ko muốn động võ. Bành Chân (27) trực tiếp gọi mấy cuộc điện thoại đến phòng làm việc của TƯ, nói vô luận như thế nào cũng đừng động võ, vô luận như thế nào cũng phải kiềm chế, hi vọng TƯ ko làm mâu thuẫn trở nên gay gắt. Lúc đó chỉ có Lí Tiên Niệm (28) sau khi nghe Đặng TB nói chuyện giảng giải, gọi điện thoại cho Tiểu Bình nói: ‘Phải hạ quyết tâm bắt cho ông ta mấy chục vạn người!’ lời nói này ko rõ có chuẩn xác hay ko. Còn có Vương Chấn, ông ấy cũng chủ trương bắt thêm vài người. Đối diện đội ngũ diễu hành hàng chục vạn người, hơn nữa được nhiều lão đồng chí khuyến cáo, dù ban đầu có quyết tâm phân tán những người diễu hành, như các lãnh đạo trong ủy ban thành phố BKinh và những người như Lí Bằng thì cũng đành bó tay. Đây đương nhiên là 1 việc rất tốt. Sv ban đầu nghĩ rằng việc diễu hành có thể bị trấn áp, kết quả ko có sự tình gì phát sinh. Cứ như thế này, sau khi sv tham gia diễu hành về đến trường, liền chúc mừng thắng lợi, vui mừng phấn khởi, càng ngoan cường bạo dạn.

Do đã truyền đạt bài nói chuyện của đồng chí Tiểu Bình, đã phát hành bài xã luận, hội sv, các tổ chức Đảng Đoàn, hiệu trưởng, thầy giáo, ban đầu đều ra sức ngăn cản sv, kêu gọi họ vô luận thế nào cũng ko được lên phố. Sau khi sv trở về, làm nhiều cán bộ Đảng Đoàn chịu sự chế giễu, họ cảm thấy uất ức, có những sự oán trách, cho rằng đã bị bán rẻ, và đã từ chối làm việc. Cả những người như Trần Hi Đồng cũng có cảm giác này. Ngày 1 tháng 5 thường ủy nghe báo cáo của thành phố Bkinh, Trần Hi Đồng lòng đầy oán khí, nói các cán bộ cơ bản ở các trường cảm thấy đã bị bán rẻ. Tôi phê bình ông ấy: Ai bán rẻ ai?

Kết quả của cuộc đại diễu hành ngày 27 tháng 4 giải thích như thế một vài việc: ban đầu cho rằng khi xã luận ngày 26 tháng 4 in ra, khi luận điệu ‘phản Đảng phản XHCN’ được định, sv sẽ ko dám hành động, kết quả ko những ko đè nén được [sự tình] xuống, ngược lại sự lộn xộn lại càng lớn hơn. Việc này cho thấy việc dùng lời giải cũ là tổng quát hóa ko giới hạn (vô hạn thượng cương), trong quá khứ rất hiệu nghiệm [nhưng] giờ đã ko còn hiệu nghiệm, đây là thứ 1; thứ 2, vì đã truyền đạt rộng rãi bài nói chuyện 25 tháng 4 của Đặng TB, sv đều biết xã luận 26.4 là Đặng hoàn toàn ủng hộ, nhưng [họ] vẫn liều lĩnh lên phố, việc này lại nói lên dựa vào lãnh đạo có quyền lực tối cao để nói cũng đã ko còn linh nghiệm; thứ 3, biện pháp quản lí việc biểu tình diễu hành mới ban bố của tp BKinh, đã đề xuất những sự quản lí và hạn chế nghiêm khắc, cũng đã ko linh nghiệm, ngang với hết hiệu lực, cảnh sát ngăn cản cũng đã ko hiệu nghiệm. Lúc đó sau khi tôi về đến BK và đã hiểu những tình hình này liền có cảm giác, nếu như ko làm dịu tất sẽ động võ. [Tình thế] hiện tại và trước 27 tháng 4 ko giống nhau, sv trải qua đại diễu hành 27 tháng 4 chuyện gì cũng ko còn sợ nữa. Họ cho rằng chính phủ ko có biện pháp, chính phủ thủ đoạn gì cũng đã đem ra, chỉ còn 1 chiêu xuất động quân đội, nhưng sv lúc đó cho rằng chính phủ ko thể huy động quân đội. Do vậy sự việc sau đó đã khó giải quyết hơn. Tóm lại, xã luận 26.4 đối với toàn thể sự tình BKinh đã gây ra tác dụng rất xấu, đã làm gia tăng độ khó khăn của việc giải quyết vấn đề sau đó.

Ở trên đã nói, nếu như ko dùng biện pháp đối thoại dẫn dắt, muốn dùng thủ đoạn cường chế để ngăn chặn phong trào sv, trừ phi dùng đến quân đội, còn ko có biện pháp khác. Tôi từ Triều Tiên về qua tp Thẩm Dương, đã nghe báo cáo của Thẩm Dương, họ cũng là đại hội để truyền đạt bài nói chuyện của Đặng, tỉnh ủy đều hoài nghi: giờ vẫn còn dùng loại biện pháp này để hành động sao? Họ nói, sau khi truyền đạt lời nói của Đặng có rất nhiều người chửi Đặng. Do đó sau khi tôi từ Triều Tiên về liền cảm thấy thế cuộc rất nguy hiểm. Sau xã luận 26.4, tất cả các biện pháp khác đều ko còn linh nghiệm, đang tồn tại khả năng phát sinh 1 sự đổ máu qui mô lớn.


giờ em đi ăn đêm đã, chốc dịch nốt mấy cái chú thích của chương này.
GLy
30-09-09, 20:47
Bác Gly rảnh thì dịch giúp em cuốn này mí. Cuốn bác đang dịch không hay bằng đâu.
http://www.angelibrary.com/oldies/zztj/
Bộ Tư tri thông giám này của bác dài vãi bím ra, nên em chịu thôi :D. Mỗi ngày em có mỗi 2 hoặc 3 h để dịch dọt linh tinh. Ngữ pháp của bộ này được cái đơn giản, bác em kiếm cái phần mềm convert là đọc hiểu được kha khá.
GLy
01-10-09, 02:10
Chú thích chương 2:
14: Xã luận 26.4: Xã luận ngày 26.4.1989 của Nhân Dân Nhật Báo, tiêu đề là ‘Phải có lập trường quan điểm rõ ràng phản đối động loạn’.

15: Lí Tích Minh (1926 - ): Người Thúc Lộc Hà Bắc. Có thời kì giữ chức ủy viên bộ chính trị Trung Cộng, thư kí ủy ban thành phố BK. Trong sự kiện Lục Tứ năm 1989 dùng thân phận lãnh đạo BK, đối với việc thúc đẩy dùng vũ lực trấn áp đã gây nên tác dụng đổ thêm dầu vào lửa. Năm 1993 nhậm chức phó ủy viên trưởng của đại hội đồng thường ủy nhân dân toàn quốc.

16: Trần Hi Đồng (1930 - ): Người An Nhạc Tứ Xuyên. Có thời giữ chức ủy viên Quốc vụ viện (tức Hội đồng quốc gia), thị trưởng thành phố BK. Trong sự kiện Lục Tứ 1989 dùng thân phận lãnh đạo BK, đối với việc thúc đẩy dùng vũ lực trấn áp đã gây nên tác dụng đổ thêm dầu vào lửa. Sau trấn áp Lục Tứ, đã thay mặt Quốc vụ viện phát biểu ‘Báo cáo về tình hình của việc ngăn chặn động loạn và chế ngự bạo loạn phản cách mạng’. 1992 – 1995 giữ chức thư kí ủy ban thành phố BK. 1998 vì tội tham ô bị phạt tù 16 năm.

17: Vạn Lí (1916 - ): Người Đông Bình Sơn Đông. Năm 1977 nhậm chức đệ nhất thư kí tỉnh ủy An Huy, thi hành chính sách khoán đến các hộ gia đình đạt được thành công rất lớn. Là nhà lãnh đạo và người ủng hộ quan trọng của việc cải cách mở cửa. 1980 – 1988 giữ chức ủy viên BCT TƯ, thư kí ban thư kí, phó thủ tướng Quốc vụ viện kiêm chủ nhiệm ủy ban nông nghiệp quốc gia. 1988 nhậm chức ủy viên trưởng đại hội đồng thường ủy nhân dân toàn quốc khóa 7.

18: ‘Quan đảo’ là cách dùng từ lưu hành ở TQ trong thập niên 1980, chỉ quan chức (hoặc thân hữu của quan chức) lợi dụng quyền lực, dựa trên những điều kiện đặc thù của hệ thống 2 loại giá cả (giá nhà nước và giá thị trường cùng tồn tại, giá nhà nước thấp, giá thị trường cao) mà mua đi bán lại để kiếm chác lợi lội. Đây là 1loại hình thương nghiệp quốc doanh câu kết tiến hành các hoạt động hủ bại nghiêm trọng thời đó. Sau trấn áp Lục Tứ, hoàn toàn mất đi sự giám sát của dân chúng, hủ bại trở nên trầm trọng, đầu cơ tích trữ ở qui mô nhỏ, dần dần bị những hành vi hủ bại qui mô lớn như ngang nhiên chiếm đoạt tài sản nhà nước, xâm chiếm đất đai, lũng đoạn những ngành công nghiệp có tính chất quan trọng thay thế, từ ‘quan đảo’ cũng theo đó mà dần dần biến mất.

19: ‘Phản Đảng phản XHCN’ là có tội, là căn cứ của phong trào ‘Đấu tranh chống phái hữu’ năn 1957 của Trung Cộng. Từ đó luôn luôn vì Trung Cộng mà được thi hành, đã trở thành ‘thiên kinh địa nghĩa’ hiếm lời dị nghị trong xã hội TQ đương đại.

20: Dương Thượng Côn (1907 – 1998): Người Đồng Nam Trùng Khánh. 1982 – 1987 nhậm chức ủy viên BCT TƯ, phó chủ tịch kiêm trưởng bí thư thường vụ ủy ban quân sự TƯ. 1988 nhậm chức chủ tịch nước CHND Trung Hoa. Lúc đó là một nguyên lão có lực ảnh hưởng cực cao trong nội bộ Đảng của Trung Cộng. Trong phong trào sv 1989, Dương TC ban đầu ủng hộ phương châm của Triệu TD, nhưng cuối cùng chuyển sang chọn ủng hộ quyết sách dùng vũ lực trấn áp của Đặng TB.

21: Ngày 4 tháng 5 năm 1919, thanh niên sv làm chủ bao gồm thị dân, giới công thương,... đã tham dự những hoạt đông biểu tình như cuộc diễu hành mà bắt đầu ở BK sau đó lan ra khắp toàn quốc, nêu yêu sách, bãi khóa, bãi công. Sự kiện khởi nguồn là trong khi cử hành hội nghị hòa bình Paris sau thế chiến I, các nước phương Tây đã đem quyền lợi của Đức ở Sơn Đông chuyển nhượng cho Nhật Bản. Lúc đó chính phủ Bắc Dương ở trước mặt các nước phương Tây trong hội nghị hòa bình Paris đã thể hiện sự nhu nhược, kích phát sự phẫn nộ của dân chúng. Phong trào Ngũ Tứ ảnh hưởng sâu xa, là chỗ ngoặt khi những trí thức tinh anh phái cấp tiến của TQ xa lánh mô thức phương Tây, dần dần tiếp thu những í tưởng cách mạng của Nga, giúp Trung Cộng khi cuối cùng giành được chính quyền thiết lập nền tảng tư tưởng cùng xã hội.

22. Mao Mao (1950 - ): Mao Mao là tên thuở bé của con gái thứ 3 của Đặng TB là Đặng Dung. Sau này nhậm chức phó hội trưởng hiệp hội TQ quốc tế hữu hảo.

23. Người phác thảo của bài nói chuyện nhân ngày thanh niên Ngũ Tứ là viện trưởng viện khoa học xã hội Hồ Thắng, Bảo Đồng là người sửa chữa hiệu đính.

24. Bảo Đồng (1932 -) Người Hải Ninh Chiết Giang. Từng nhậm chức ủy viên TƯ Trung Cộng, bí thư chính trị thường ủy BCT, chủ nhiệm phòng nghiên cứu cải cách thể chế chính trị TƯ. Trước 1987 trong thời gian Triệu TD đảm nhiệm chức Thủ tướng Quốc vụ viện, Bảo nhậm chức bí thư của Thủ tướng Quốc vụ viện, kiêm phó chủ nhiệm ủy ban cải cách thể ché kinh tế quốc gia. Trong sự kiện Lục Tứ 1989, Bảo Đồng phản đối Đặng TB dùng quân đội trấn áp sv, bị giam giữ phi pháp trong nhà giam Tần Thành. 1992 bị xử tù có thời hạn 7 năm.

25. ‘Lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh’ là hạt nhân của tư tưởng Mao TĐ, cũng là ‘chỉ đạo tư tưởng cơ bản’ của việc ông ta thi hành quyết sách. Cái gọi là đấu tranh giai cấp, là chỉ ‘đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản’, theo tư tưởng chỉ đạo này, tính chế độ yêu cầu toàn dân dưới sự lãnh đạo và thực hành chế độ công hữu của ĐCS, [phải] liên tục tìm kiếm và trừ tiệt ‘giai cấp tư sản’. ‘Lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh’ là nguồn gốc về mặt chính sách của nội loạn cũng như tai họa ở TQ trong thời Mao TĐ.

26. TQ ngoại trừ ĐCSTQ, còn có 8 ‘đảng phái dân chủ’, tức ủy ban CM Quốc dân đảng TQ (dân cách), TQ dân chủ đồng minh (dân minh), hội dân chủ kiến quốc TQ (dân kiến), hội xúc tiến dân chủ TQ (dân tiến), TQ công nông dân chủ đảng (nông công đảng), TQ trí công đảng, Cửu Tam Học Xã, Đài Loan dân chủ tự trị đồng minh (Đài minh). ‘Các đảng phái dân chủ’ là những vật phụ thuộc vào quyền lực tuyệt đối của Trung Cộng.

27. Bành Chân (1902 – 1997): Người Khúc Ốc Sơn Tây. Nguyên lão Trung Cộng. Trường kì đảm nhiệm chức ủy viên BCT, thư kí thường vụ ban thư kí. Trong CMVH hạ đài. 1979 tái nhậm chức, làm ủy viên BCT TƯ, phó ủy viên trưởng đại hội đồng thường ủy nhân dân toàn quốc. 1983 – 1988 giữ chức ủy viên trưởng đại hội đồng thường ủy nhân dân toàn quốc.

28. Lí Tiên Niệm (1909 – 1992): Người Hoàng An Hồ Bắc. 1954 – 1980 giữ chức phó thủ tướng Quốc vụ viện; trước CMVH là trợ thủ số 1 của Trần Vân. trong CMVH khi Trần Vân đứng sang bên, liền do ông ta kế tục phụ trách công tác ở các mặt tài chính, mậu dịch và kinh tế. 1977 – 1987 nhậm chức thường ủy BCT TƯ; 1983 nhậm chức chủ tịch nước CHND TH, sau 1988 nhậm chức chủ tịch hội đồng hiệp thương chính trị toàn quốc; là 1 nguyên lão có ảnh hưởng trong nội bộ Đảng lúc đó. Ông ta về mặt chính trị và kinh tế đều phản đối tiến hành cải cách. Trong sự kiện Lục Tứ 1989, ông ta ra sức ủng hộ dùng vũ lực trấn áp sv và thị dân.
Gaup
01-10-09, 04:37
Cảm ơn chú GLy bỏ công sức ra giúp các bạn được đọc tài liệu quan trọng này.
linhtinh03
07-11-09, 00:16
Cảm ơn GLy đã dịch quyển này nhưng sao giờ lại im hơi lặng tiếng thế?

Nhân tiện xin các đại cao thủ ở đây cho vài lời vàng ngọc về việc tại sao người lớn lại bảo là không nên đi xem mấy cái xác không được chôn nếu đang mưu sự chuyện lớn lao?
GLy
23-11-09, 06:01
@linhtinh03: Cách đây vài tuần em gõ 1 chương dài vãi đái lưu trong USB nhưng để quên trong túi áo, vợ em nó nhét vào máy giặt thế là tèo luôn, dạo này em bận với lại cũng lười nên chả gõ lại. Hôm nay nhân cơ hội ở nhà một mình để em dịch tiếp 1 chương hầu các bác. Chắc đến tối sẽ xong :D.
Đêm
23-11-09, 06:40
Em có cuốn "Prisoner of Paradise" có ai muốn đọc không?
GLy
23-11-09, 15:56
Bổ sung chương 2:
Chú thích:
29. Vương Chấn (1908 – 1933): Người Lưu Dương Hồ Nam. Năm 1982 nhậm chức hiệu trưởng trường Đảng TƯTC; năm 1985 làm phó chủ nhiệm ủy ban cố vấn TƯTC; 1988 – 1993 làm phó chủ tịch nước; là 1 nguyên lão có ảnh hưởng trong nội bộ Đảng TC trong thời kì Đặng TB nắm quyền. Trong sự kiện Lục Tứ năm 1989, Vương Chấn chủ trương dùng vũ lực trấn áp sv và thị dân.

Chương 3. 2 phương châm xử lí phong trào sv đối lập nhau gay gắt (part 1 - dài quá em cắt làm 2)
3. 2 phương châm xử lí phong trào sv đối lập nhau gay gắt

Lần trước đã nói đến việc sau khi tôi đi Triều Tiên thì phương châm xử lí phong trào sv bị những người như Lí Bằng ở nhà thay đổi. Sau đây sẽ chú trọng nói đến sự đấu tranh giữa 2 phương châm khác nhau trong xử lí phong trào sv sau khi tôi từ Triều Tiên về.

Việc đăng tải xã luận 26 – 4 đã gây ra sự biểu tình lớn của sv và bầu âm thanh oán trách của các cơ quan, đoàn thể, trường học, đảng phái dân chủ đối với Lí Bằng cùng các lãnh đạo thành phố BK. Hơn nữa việc Lí Bằng quyết định truyền đạt trên phạm vi rộng bài nói chuyện ngày 25/4 của Đặng ở BK và các nơi khác trong 2 ngày 25 và 26 tháng 4 cũng là khởi nguồn của ko ít bình luận và chỉ trích đối với Đặng. Đặng và người nhà của ông ấy đối với việc này rất ko vừa lòng. Người nhà Đặng nói những người như Lí Bằng thoắt cái đã ném Đặng lên tuyến đầu để tự mình được làm người tốt. Trước đây tôi cũng đã nói, suốt đến khi thảo luận việc xử lí phong trào sv trong hội nghị thường ủy BCT ngày 17/5, hội nghị lần đó cuối cùng quyết định thi hành giới nghiêm, Đặng đã phê bình thẳng mặt Lí Bằng về việc này.

Dưới những điều kiện loại này, bởi xã luận 26/4 đã gây ra cuộc biểu tình lớn ngày 27/4, đã tạo nên sự bất mãn của tất cả các phương diện trong xã hội đối với xã luận 26/4. Lí Bằng ko có lựa chọn nào khác ngoài bảo Bảo Đồng viết thêm xã luận 29/4, và còn yêu cầu Viên Mộc (30), Hà Đông Xương (31) cùng sv đối thoại. Trong đối thoại đã chấp nhận rất nhiều đòi hỏi của sv, nói rất nhiều đòi hỏi của sv phù hợp với Đảng và chính phủ, bài xã luận thì ko chĩa mũi nhọn vào đại bộ phận sv, thậm chí nói 99.9% sv đều là người tốt, khiến [tham gia] động loạn ‘phản Đảng phản XHCN’ chỉ là một số cực nhỏ, theo cách này để làm dịu tâm trạng của sv. Đồng thời họ thập phần lo sợ xã luận 26/4 bị phủ định, đặc biệt là sợ sau khi tôi về nước sẽ ko ủng hộ việc hành pháp kiểu này của họ. Lí Bằng còn nói với Diêm Minh Phục (32) rằng (Diêm Minh Phục nói cho tôi biết sau khi tôi từ Triều Tiên về), nếu như Triệu sau khi về nước ko ủng hộ xã luận 26/4, ông ta chỉ có nước hạ đài. Lí Bằng cùng Diêu Y Lâm (33) thỏa thuận bằng mọi cách yêu cầu tôi tuyên bố ủng hộ sau khi về nước. Do vậy sau đó họ nhiều lần muốn tôi trong bài nói chuyện kỉ niệm ngày thanh niên Ngũ Tứ thêm vào những câu từ tỏ rõ sự phản đối động loạn và phản đối tự do hóa giai cấp tư sản, sau khi đưa bản thảo bài phát biểu kỉ niệm ngày thanh niên 4 tháng 5 cho họ xem, Lí Bằng, Diêu Y Lâm đều yêu cầu thêm vào nội dung phản đối tự do hóa. Lúc đó bởi đã truyền bá rộng rãi bài nói chuyện của Đặng, Đặng cảm thấy hình tượng bản thân mình trong suy nghĩ của thanh niên đã bị tổn hại, Đặng thông qua Bảo Đồng nói lại cho tôi, trong bài phát biểu kỉ niệm ngày thanh niên nhất định phải thêm vào nội dung là Đặng luôn luôn quan tâm đến thanh niên, quí trọng thanh niên. Tôi trong khi phát biểu đã thêm vào một đoạn như vậy, đặc biệt nói về việc Đặng quí trọng thanh niên như thế nào, chính là trong bối cảnh như thế mà thêm vào.

Sáng 30/4 tôi từ Triều Tiên về, Lí Bằng vội vã tìm tôi ngay hôm đó, muốn tôi triệu tập hội nghị để nghe báo cáo của uỷ ban thành phố BK, mục đích là bức tôi thể hiện sự ủng hộ đối với việc hành pháp trước đó của họ. Trong cuộc gặp ngắn của thường ủy ngày 5 tháng 1, dù tôi vừa về nước đã nghe được những phản ánh dữ dội về nhiều mặt đối với xã luận 26/4, nhưng bởi mới về nước, rốt cuộc hiểu biết tình hình ko nhiều, đồng thời cũng là để tránh [làm] những chỗ cong chuyển thành dốc đứng, nên tôi đã phải thể hiện chung chung một chút ủng hộ đối với những công tác do Lí Bằng chủ trì trong thời gian tôi đi nước ngoài. Nhưng tôi chú trọng chỉ ra, điểm cốt yếu là phải tranh thủ đại đa số, nhất định phải phân biệt ra đại đa số và cực thiểu số người, ko được đem đại đa số người đặt ở phía đối lập, ko được làm đại đa số người cảm thấy chịu áp bức. Bất kể nguyên nhân là ở đâu, phải lạnh lùng mà thừa nhận một sự thật nghiêm túc, đó là quảng đại nhân dân, đặc biệt là sv, phần tử trí thức, đảng phái dân chủ đối với nhận thức của chúng tôi, tức là giọng điệu của xã luận 26/4, có 1 khoảng cách rất xa. Do đó tôi chỉ ra phải đối thoại trên diện rộng, cả với sv, lẫn với thầy cô giáo, công nhân để lắng nghe í kiến. Đối với vấn đề xác định tính chất mà sv quan tâm, tôi lúc đó nhấn mạnh phải dựa theo cách nhìn nhận của xã luận 29/4 để làm ra lời giải thích mới. Tham gia động loạn ‘phản Đảng phản XHCN’ chỉ là 1 số rất ít người, tôi hi vọng bằng cách này thực tế sẽ hạ thấp giọng điệu của xã luận 26/4. Hơn nữa tôi còn chỉ ra, phải nắm được lá cờ phục khóa, bởi vì đây cũng là đòi hỏi của phụ huynh, giáo sư, và đa số người trong xã hội. Đồng thời, chỉ cần phục khóa, cảm xúc sẽ lạnh đi ngay, tình thế sẽ ổn định ngay, thì những vấn đề khác cũng sẽ giải quyết dễ dàng.

Sau khi tôi từ Triều Tiên về, đầu tiên theo các phương diện tiến một bước tìm hiểu tình thế, trước hết đã xem những cuộn phim quay tại hiện trường của cuộc diễu ành 27/4. Ngày 2 tháng 5 tôi chấp nhận yêu cầu của những người phụ trách các đảng phái dân chủ là Phí Hiếu Thông (34), Tôn Khởi Mạnh (35), Lôi Khiết Quỳnh (36), cùng họ tọa đàm về vấn đề phong trào sv. Sáng ngày 5/5 chấp nhận đàm thoại cùng hiệu trưởng ĐH BK Đinh Thạch Tôn (37), phó hiệu trưởng ĐH SP BK Hứa Gia Lộ (38), mời họ trình bày về tình huống của phong trào sv ở 2 trường và quan điểm của họ. Chiều hôm đó, tôi cũng tự í mình tham gia hội nghị tọa đàm được Liên minh nhân dân TƯ mở ra cho các cán bộ giảng dạy trung niên bậc cao là thành viên của bộ phận Bắc Kinh để nghe í kiến của họ đối với phong trào sv. Qua tìm hiểu tình hình, tôi càng cảm thấy lần này phong trào sv đã có được sự đồng tình rộng rãi của các phương diện xã hội, [còn] xã luận 26/4 cùng phương châm đối phó với phong trào sv trước đó một đoạn của TƯ ko được người dân ủng hộ. Nếu như ko dùng phương thức thích hợp để làm dịu xã luận 26/4 ngay [thì bởi vì] sv vẫn còn sợ sệt việc xác định tính chất, sợ bị xử lí sau khi mọi việc kết thúc, mâu thuẫn sẽ ko thể dịu xuống. Tôi cũng cảm thấy, nếu như [đối với] phong trào sv lần này mà dùng phương thức đối thoại, dẫn dắt trên quĩ đạo pháp chế dân chủ để dẹp loạn, sẽ có khả năng tiến một bước thúc đẩy sự nghiệp cải cách của TQ, bao gồm cả cải cách thể chế chính trị. Ngược lại, nếu như dùng bạo lực trấn áp xuống, sau đó chắc chắn sẽ là một đợt vận động chống tự do hóa với qui mô càng lớn hơn, thế lực bảo thủ sẽ thừa cơ nổi lên, sự nghiệp cải cách sẽ đình chỉ, thụt lùi, lịch sử TQ rất có khả năng sẽ xuất hiện một thời kì phức tạp. Do vậy 2 loại phương châm này sẽ dẫn đến 2 loại kết quả hoàn toàn bất đồng.

Tuy nhiên, vấn đề mấu chốt là ở Đặng. Lúc đó tôi nghĩ chỉ cần ông ấy có thể nới lỏng một chút ngay, ví dụ như nói một câu này, ‘ngày 25/4 nghe Lí Bằng báo cáo, có vẻ như lúc đó nhìn nhận tình huống hơi nặng nề, việc biểu tình cũng đâu đã gây ra vấn đề gì ghê gớm!’ Ông ấy mà có thể có một câu nói như này, thì tôi sẽ có thể làm thế cục trở lại bình thường, cũng sẽ ko đem trách nhiệm trút lên đầu Đặng. Tôi và thường ủy BCT có thể gánh trách nhiệm. Nếu như Đặng ko đổi giọng một chút nào, thì tôi cũng ko có biện pháp làm 2 phần tử phái cứng rắn là Lí Bằng và Diêu Y Lâm thay đổi thái độ. Họ mà ko thay đổi thái độ, thì thường ủy cũng có thực hiện phương châm dẫn dắt, đối thoại. Tôi cũng hiểu rất rõ là thái độ xưa nay của Đặng trong những vấn đề như thế này khá cứng rắn, cộng thêm việc nghe và có ấn tượng với báo cáo của Lí Bằng đầu tiên, muốn ông ấy thay đổi thật sự là rất khó rất khó. Tôi lúc đó vội nghĩ đến việc trực tiếp gặp Đặng để bàn luận một lần về quan điểm của tôi, và đạt được sự chấp nhận của ông ấy. Tôi liền phone cho Vương Thụy Lâm (39) để sắp xếp 1 cuộc đàm thoại với Đặng, Vương nói Đặng gần đây sức khỏe rất ko tốt, rất lo là đến thời điểm thích hợp [Đặng] sẽ ko thể gặp Gorbachev (40), như vậy sẽ lớn chuyện. Thế nên hiện tại mọi chuyện đều ko được báo cáo cho ông ấy, để tránh phân tâm. Tôi từ hôm đó cho tới giờ, luôn tin rằng tình hình của Đặng mà ông ấy nói lúc đó là chân thực! Lúc đó sức khỏe của Đặng thực sự là rất ko tốt.

Ngày 2 tháng 5, tôi đã nói những suy nghĩ này của tôi cho Diêm Minh Phục, nhờ ông ấy thông qua Dương Thượng Côn và những người quanh Đặng, chuyển những suy nghĩ của tôi cho Đặng biết.

Ngày 3 tháng 5, tôi đến nhà Dương Thượng Côn. Dương cho tôi biết, ông ấy đã nói chuyện với Vương Thụy Lâm và con gái Đặng, họ cho rằng hiện tại việc sửa chữa xã luận 26/4 có những khó khăn, có thể làm nhạt đi, đừng đề cập đến nó nữa, từ từ thay đổi vấn đề phức tạp này. Họ còn nói, nếu giờ mà tìm Đặng nói chuyện, Đặng sẽ lại kiên quyết, sẽ còn khó khăn hơn. Các anh ở tuyến đầu, cứ từ từ xoay chuyển vấn đề phức tạp này. Thượng Côn lúc đó cũng nói, ông ấy có thể độc lập làm công tác với vài vị thường ủy khác. Ngay trong ngày hôm đó, Diêm Minh Phục đến nhà tôi cho tôi biết: Vương Thụy Lâm và con gái Đặng đều nói, đối với vấn đề phong trào sv, do TƯ phụ trách nên đồng chí cứ dựa vào tình hình mà xử lí cho tốt đẹp. Nếu như hiện tại tìm Đặng, vạn nhất Đặng ko đồng í, chuyện sẽ ngược lại và càng khó xử lí. Trong vài ngày sau đó, cũng chính là chiếu theo biện pháp làm dịu, từ từ thay đổi tình huống phức tạp này mà hành động.

Ngày 4 tháng 5 tôi trong bài nói chuyện tại Ngân hàng khai phát Á Châu (41), cũng là [dùng] giọng điệu này, vừa bất đồng với giọng điệu của xã luận 26/4, mà cũng ko có câu từ đối lập trực tiếp. Sau bài phát biểu ngày 5/4 tại Ngân hàng khai phát Á Châu, Dương Thượng Côn cũng cho tôi biết kết quả của việc đàm thoại giữa ông ấy với các thường ủy. Hồ Khải Lập (42), Kiều Thạch tán thành phương châm mới, Lí Bằng, Diêu Y Lâm phản đối. Về Vạn Lí, tôi đã trực tiếp tìm ông ấy nói chuyện, ông ấy hoàn toàn đồng í với phương châm mới. Như thế này, trong các thường ủy và thường ủy dự thính, số người tán thành í kiến của tôi đã chiếm đa số. Dương cũng cho tôi biết, ông ấy cùng Bành Chân đã bàn qua, Bành hoàn toàn ủng hộ í kiến của tôi. Lúc đó Bành nói với Dương, nếu như tương lai Đặng có trách cứ xuống, thì ko thể trách 1 mình Tử Dương, vẫn còn có tôi và anh, tôi tính là 1 người, anh cũng tính là 1 người. Í là nói đứng cùng phe với tôi.

Trước khi tôi về nước, Bắc Kinh từng đề xuất vấn đề thực hành giới nghiêm trong cuộc họp hội í ngắn của thường ủy, lúc đó đã chịu sự phê bình nghiêm khắc của Dương Thượng Côn, [ông ấy] nói thủ đô giới nghiêm, thì làm sao mà giải thích với toàn thế giới? Tôi cảm thấy trước khi có quyết định thi hành giới nghiêm của Đặng, thái độ của Dương đối với phong trào sv là tương đối ôn hoà.

Ngày 4 tháng 5 lúc tôi gặp các đại biểu của Ngân hàng khai phát Á châu đã có một bài phát biểu nhân vấn đề phong trào sv. Bản thảo của bài phát biểu này là do Bảo Đồng viết nên dựa theo í tứ của tôi. Trong bài phát biểu này tôi đã chỉ ra, vấn đề phong trào sv phải giải quyết trong bầu ko khí lạnh lùng, lí trí, kiềm chế, và trật tự, trên quĩ đạo dân chủ và pháp chế. [Tôi cũng đã] chỉ ra lần này sv đối với Đảng và chính phủ vừa hài lòng vừa ko hài lòng, [nhưng] họ tuyệt đối ko phải là phản đối chế độ nền tảng của chúng tôi, mà chỉ là đòi hỏi chúng tôi từ bỏ những sai lầm trong công tác. Tôi còn nói, phong trào sv lớn như thế này, khó tránh được có người âm mưu lợi dụng, nhưng TQ sẽ ko thể xuất hiện động loạn qui mô lớn.

Bản thảo này sau bài phát biểu, đã nhận được sự tán dương rộng rãi ở trong và ngoài nước. Trong vài ngày sau 5/5, các đại học ở BK lần lượt phục khóa. Lúc đó xã trưởng Tân Hoa Xã bộ phận Hong Kong là Hứa Gia Truân (43) đang ở BK viết 1 mẩu tin nhắn cho tôi, nói ông ấy ngày 4 tháng 5 đã gặp Dương Thượng Côn, Dương đối với bài phát biểu của tôi rất là tán đồng. Trong sự tán đồng rộng rãi lúc đó, Lí Bằng chiều ngày 4 đến nhà tôi, cũng ko thể ko nói rằng bài phát biểu của tôi rất tốt, lúc ông ta gặp các đại biểu hội nghị của Ngân hàng khai phát Á châu ko lâu sau đó, cũng phải hành động phù với tình hình hợp ngay. Nhưng sau đó khi tôi nói đến việc xã luận 26/4 có vấn đề, ông ta thể hiện sự phản đối.

Chính là trong khoảng thời gian kể từ khi tôi từ Triều Tiên về đến đầu tháng 5 này, tôi đã thông qua tìm hiểu tình hình, cảm thấy xã luận 26/4 ko được lòng người, nếu ko sửa đổi cho phù hợp ngay lập tức thì phong trào sv sẽ rất khó trở nên hòa hoãn, đồng thời trong hoàn cảnh ko có cách nào gặp Đặng, tôi và các đồng chí nhắc đến ở trên đã cùng bàn bạc sẽ áp dụng biện pháp từ từ xoay chuyển tình thế, trên thực tế đang từ từ thay đổi.

Lúc đó 1 loại phương châm thế này, hành pháp kiểu này dù đang hòa hoãn tình hình ở nhiều phương diện, đại bộ phận sv [cũng] đã phục khóa, nhưng họ muốn thấy kết quả, [muốn thấy] ‘Phát biểu 4 tháng 5’ được thực hiện như thế nào. Lúc đó tôi nghĩ lợi dụng thời gian hòa hoãn tích cực thực hiện đối thoại, đối thoại trên nhiều mặt, tạo ra vài sự giải thích đối với những vấn đề sv quan tâm, tiếp thu những í kiến hợp lí trong sv, đối thoại, dẫn dắt, thực hiện những hành động cụ thể.

Tuy nhiên, một mặt khi tôi cùng vài vị thường ủy và vài đồng chí dự thính trong ủy ban thường ủy (44) thực hiện phương châm tích cực xoay chuyển tình hình, thì [mặt khác] những người như Lí Bằng lại cực lực cản trở, trì hoãn, thậm chí phá hỏng. Thế nên các phương châm đối thoại và dẫn dắt trong bài ‘Phát biểu ngày 4 tháng 5’ đều ko có cách nào thực hiện. Sv lúc đó dù đã phục khóa, nhưng đối với phương châm của ‘Phát biểu ngày 4 tháng 5’ vẫn bán tín bán nghi, muốn thấy được hành động của chúng tôi.

Tôi lúc đó một mặt chủ trương đối thoại rộng rãi, một mặt đối với những vấn đề nóng bỏng được xã hội quan tâm mà sv nêu ra, như vấn đề liêm chính, vấn đề mức độ rõ ràng, vấn đề dân chủ và pháp chế cũng như giám sát dư luận, yêu cầu tích cực thực hiện. Kiến nghị Đại hội đồng Đại biểu nhân dân toàn quốc (ĐBNDTQ) kiến lập 1 ủy ban trong sạch có quyền lực, độc lập đảm nhiệm việc báo cáo và điều tra những hành vi phạm pháp của vợ con các quan chức cấp cao, tăng cường kiểm soát dư luận, tăng cường độ mức độ rõ ràng, đẩy nhanh việc hình thành luật xuất bản và luật biểu tình. Dùng những cách làm thông dụng với đại đa số các nước trên thế giới, thông qua việc ban hành những luật cụ thể để bảo đảm quyền lợi dân chủ của nhân dân. Tôi cũng đề xuất, đặc biệt triệu tập một lần đại hội thường ủy của đại hội đồng ĐBNDTQ, để nghe tình hình kiểm toán đối với mấy công ti lớn và mấy công ti lớn mà xã hội cho là ‘quan đảo’ (đã giải thích từ này ở một post trước) nghiêm trọng, do đại hội đồng ĐBNDTQ tiến 1 bước thẩm tra, hoặc do đại hội đồng ĐBNDTQ trực tiếp tổ chức thẩm tra. Bởi vì trong suy nghĩ của người dân, mức độ rõ ràng của đại hội đồng ĐBNDTQ so với Đảng và chính phủ lớn hơn một chút. Tôi lúc đó nghĩ chung chung là chỉ cần thông qua những sửa đổi đối với một vài vấn đề nóng được xã hội quan tâm, một mặt xoa dịu một vài bất mãn trong xã hội và trong giới sv, sẽ làm phong trào sinh viên hòa hoãn, bình ổn xuống. Hơn nữa nhờ thế thành cơ hội khởi động cải cách thể chế chính trị, thông qua một vài vấn đề này mà làm cho Đại hội đồng ĐBNDTQ có thể thực sự phát huy tác dụng của cơ cấu quyền lực tối cao, dẫn dắt được sv đem sự chú í chuyển sang vấn đề làm thế nào để sâu sắc hóa việc cải cách thể chế chính trị.

Ngày 13/5, tôi và Dương TC cùng đến nhà Đặng bàn về những vấn đề liên quan tới chuyến thăm của Gorbachev, cũng bàn với ông ấy về tình hình phong trào sv gần đây, hơn nữa còn bàn về những chủ trương của tôi. Chủ trương là đối thoại, kiểm soát liêm chính, kiểm soát mức độ rõ ràng. Ông ấy lúc đó về mặt nguyên tắc thể hiện sự tán thành đối với suy nghĩ của tôi, nói phải nắm lấy thời cơ, giải quyết thật tốt ngay vấn đề hủ bại. Ông ấy cũng nói về việc tăng cường mức độ rõ ràng. Lúc đó trong xã hội có rất nhiều lời đồn đại về việc vợ con của các quan chức cấp cao làm ‘quan đảo’, những lời đồn đại về các con của tôi cũng rất nhiều. Thế nên ngày 1 tháng 5 trong hội nghị thường ủy BCT tôi đã đề xuất, mời BCT giao nhiệm vụ cho ai đó trong Ủy ban kỉ luật, Bộ giám sát chỉ chuyên môn tiến hành điều tra các con tôi, sau đó tôi cũng viết 1 bức thư chính thức gửi BCT, thỉnh cầu BCT ủng hộ những yêu cầu của tôi. Lúc đó 1 vấn đề nóng xã hội quan tâm khác mà sv đòi hỏi giải quyết là vấn đề tự do báo chí, ngày 6 tháng 5 tôi tìm Hồ Khải Lập, Nhuế Hạnh Văn (45) chủ tâm thảo luận vấn đề cải cách báo chí, đề xuất lập ra luật báo chí mới với tiêu điểm nên là nới rộng thước đo thông tin báo chí và ngôn luận.

Ngày 3 tháng 5 tôi đến nhà Vạn Lí, cùng ông ấy bàn về quan điểm của tôi đối với phong trào sv, cũng bàn vì sao mà một vài lãnh đạo hiện tại lại phản ứng quá mức với những đề xuất cho phong trào sv, chủ yếu là vì phương thức tư duy hình thành dưới sự ảnh hưởng trường kì của việc lấy ‘đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh’, một phương thức tư duy cũ kĩ. Hiện tại đã thay đổi nhiều, nên thuận theo những trào lưu dân chủ và pháp chế mà thay đổi kiểu tư duy này. Ông ấy hoàn toàn tán đồng í kiến của tôi. Ông ấy còn nói, các lãnh đạo Thiên Tân, Bắc Kinh đã phản ánh, phàn nàn với ông ấy là thái độ của TƯ với phong trào sv quá mềm mỏng. Dường như việc này là do chịu ảnh ảnh hưởng của phương thức tư duy cũ kĩ, ông ấy chủ trương phải giải quyết vấn đề này. Trong hội nghị thường ủy BCT ngày 8 tháng 5 hoặc hội nghị của BCT ngày 10 tháng 5 (ko nhớ rõ lắm), ông ấy đã có 1 bài phát biểu rất tốt, nội dung là phải thuận theo trào lưu dân chủ thế giới, đáp lại chính xác những đòi hỏi do các sv trong phong trào sv đề xuất. Thế nên ông ấy trong khi triệu tập hội nghị các ủy viên của Đại hội đồng ĐBNDTQ, đã hoàn toàn ủng hộ một loạt chủ trương do tôi đề xuất trong hội nghị của BCT, xác định cần sớm triệu tập hội nghị thường ủy của Đại hội đồng ĐBNDTQ, cần đem những vấn đề này vào trong chương trình nghị sự của hội nghị thường ủy của Đại hội đồng ĐBNDTQ. Ngày 9 tháng 5 ông ấy cũng đến nhà tôi, nói ông ấy sẽ đi Mĩ và Canada, ban đầu ông ấy muốn tìm Đặng để trực tiếp nói chuyện trước lúc rời nước, nhưng thời gian ko đủ. Sau khi ông ấy đi Canada và Mĩ, đã vài lần nói rằng phong trào sv BK là phong trào dân chủ yêu nước, đã thể hiện sự đánh giá rất cao. Thái độ mà Vạn Lí áp dụng đối với vấn đề phong trào sv ko phải ngẫu nhiên, ông ấy lúc nào cũng chủ trương mở rộng dân chủ, ủng hộ cải cách thể chế chính trị. Việc chống tự do hóa giai cấp tư sản năm 1987 ông ấy cũng ko tán thành. Ông ấy từng có những bài phát biểu chuyên đề về vấn đề dân chủ hóa việc quyết định chính sách. Trong những lãnh đạo TƯ, ông ấy là một nhân vật kiên định ủng hộ cải cách.
GLy
23-11-09, 15:58
Chương 3. 2 phương châm xử lí phong trào sv đối lập nhau gay gắt (part 2)
Lí Bằng, Diêu Y Lâm và Lí Tích Minh của Bắc Kinh, mấy người bọn họ đối với những chủ trương đã nói ở trên của tôi cực lực tiến hành cản trở, bác bỏ và trì hoãn. Họ đối với bài phát biểu ngày 4 tháng 5 của tôi tại Ngân hàng khai phát Á châu, mấy ngày đầu ko công khai phản đối, thậm chí còn tán dương vài câu, nhưng thực tế thì cực lực tiến hành bóp méo, xuyên tạc, nói bài phát biểu của tôi là nhất trí với bài xã luận 26/4, chỉ là bất đồng về khía cạnh. Tiếp đó bảo Hà Đông Xương ở Quốc vụ viện triệu tập hội nghị một vài thư kí Đảng ủy đại học tuyên truyền rằng, bài phát biểu của Triệu chỉ đại diện cho í kiến cá nhân, ko thể đại diện cho TƯ. Tin tức này rất nhanh chóng truyền đến sv. Về việc đối thoại cùng sv, họ càng bác bỏ và trì hoãn bằng nhiều cách. Ban đầu đối thoại chỉ là muốn cùng những sv biểu tình thị uy nói chuyện, nhưng họ chẳng những ko cho các tổ chức được sv trong phong trào sv kiến lập cử đại biểu, mà còn ko cho phép sv tự mình cử đại biểu, nhất định phải [là những người] được hội sv xem là đại biểu đến nói chuyện, cơ bản ko thể đại biểu cho những sv biểu tình thị uy. Kiểu đối thoại này ko phải là giống hệt cự tuyệt đối thoại sao? Hơn nữa họ trong lúc đối thoại ko dùng thái độ thành khẩn lắng nghe í kiến, thảo luận vấn đề, mà là tìm mọi cách đối phó với sv, giống như kiểu trong các cuộc họp báo đối phó với các phóng viên ngoại quốc, tranh thủ việc xuất hiện trước ống kính có lợi cho hình tượng bản thân để vơ vét lợi ích, việc này khiến sv cảm thấy việc chính phủ nói muốn cùng họ đối thoại là hoàn toàn ko có thành í. Tôi liên tục phê bình những điều này, nhưng họ lúc nào cũng gạt sang một bên. Còn đối với vấn đề liêm chính, vấn đề mức độ rõ ràng, thái độ của họ càng tiêu cực, thậm chí khi triệu tập hội nghị thường ủy Đại hội đồng ĐBNDTQ đem những vấn đề này thêm vào chương trình nghị sự cũng gặp phải sự phản đối của Lí Bằng, để làm điều này ông ta cố í gọi điện thoại cho tôi, ko đồng í đem những vấn đề này vào chương trình nghị sự của Đại hội đồng ĐBNDTQ.

Chính bởi thế này, sau khi sv phục khóa, sau rất nhiều ngày, cơ bản ko thấy chính phủ có hành động gì, đối thoại thì là để đối phó với họ, càng ko có hành động thực tế muốn cải cách nào, thế nên họ đối với ‘bài phát biểu Ngũ Tứ’ của tôi cơ bản đã phát sinh hoài nghi. Một trường xung đột càng kịch liệt hơn ko thể tránh được đã phát sinh. Thế nên hiện tại phải trả lời 1 vấn đề: Phong trào sv trong thời gian dài ko thể dịu xuống cuối cùng nguyên nhân là gì? Họ nói là ‘Phát biểu Ngũ Tứ’ đã làm lộ ra sự bất đồng trong TƯ, cái gọi là 2 loại âm thanh. Ko đúng! Nguyên nhân cơ bản là vì phương châm do tôi xác định sau khi từ Triều Tiên về (dẫn dắt, đối thoại, giải quyết vấn đề trên quĩ đạo dân chủ và pháp chế, từ những vấn đề nóng bắt đầu thực hiện cải cách thể chế chính trị) chịu sự cản trở, bác bỏ, phá hỏng của những người như Lí Bằng mà ra. Trước khi Gorbachev đến thăm, có 1 hôm Lí Bằng nói với tôi: Anh ko phải là chủ trương dùng biện pháp mềm mỏng để ổn định phong trào sv đấy chứ? Đã nhiều ngày thế này rồi, ko có tác dụng gì đâu! Câu nói này của ông ta, hoàn toàn làm lộ ra mưu đồ được ông ta che giấu. Việc ông ta bác bỏ, phá hỏng, khiến giải quyết phong trào sv trên quĩ đạo dân chủ và pháp chế gặp thất bại, có mục đích là tìm kiếm lí do cho việc dùng bạo lực trấn áp sv.

Trong thời gian tôi đi Triều Tiên, còn phát sinh 1 sự kiện ở đạo báo (báo có tính suy đoán hướng dẫn, em đ éo biết từ tương đương trong tiếng Đại Việt là gì, các bác thông cảm :D) Kinh tế thế giới (46) ở Thượng Hải. Nguyên nhân là đạo báo này đã đăng 1 bài phóng sự về các hoạt động tưởng niệm Diệu Bang, thị ủy Thượng Hải cho rằng nội dung ko thích hợp, ra lệnh cho đạo báo bỏ đi phóng sự hôm đó, đạo báo ko chấp hành, thị ủy Thượng Hải liền quyết định đạo báo phải ngừng xuất bản để chỉnh đốn, hơn nữa còn đình chỉ chức vụ của tổng biên tập Khâm Bản Lập (47), theo như báo cáo, Giang Trạch Dân (48) đã từng gọi điện đến phòng làm việc của Đặng xin chỉ dẫn. Lúc đó chính là khi phong trào sv đang rất kích động, họ làm thế này, ko chỉ các nhân viên làm việc cho đạo báo bất phục, mà còn gặp phải sự phản đối rộng rãi của các nhân viên công tác trong các đơn vị báo chí ở BK, THải và các địa phương khác trên toàn quốc, [họ] lần lượt ra đường phố ủng hộ đạo báo, yêu cầu thị ủy Thượng Hải triệt tiêu quyết định đối với đạo báo. Hành động của họ cùng với phong trào sv lúc đó phối hợp, tạo ra tác dụng tăng cường thanh thế, thêm dầu vào lửa. Sau khi tôi về nước cảm thấy thị ủy Thượng Hải đối với việc này xử lí đơn giản máy móc, hơn nữa thời cơ ko thích hợp. Nhưng sự tình đã phát sinh rồi [nên tôi] cũng đã ko nói gì, cũng ko phê bình chỉ trích thị ủy Thượng Hải, cũng ko ủng hộ các phương tiện thông tin đại chúng, phải áp dụng thái độ TƯ ko liên quan, do Thượng Hải tự mình giải quyết. Ngày 2 tháng 5, tôi cùng các đảng phái dân chủ tọa đàm, Diêm Minh Phục cho tôi biết, có người từ Bộ mặt trận thống nhất Thượng Hải cho ông ấy biết, Thượng Hải có í muốn xuống nước, hi vọng Bộ mặt trận thống nhất TƯ giúp đỡ làm một vài việc. Tôi nói, bởi thị ủy Thượng Hải giờ có yêu cầu này, anh có thể giúp đỡ họ tìm kiếm biện pháp. Ngày 10 tháng 5, Giang TD đến thủ đô nói chuyện với tôi về những í tưởng nhằm hóa giải mâu thuẫn của họ, tôi nói rằng do Thượng Hải giải quyết, TƯ ko can dự, để tránh người ngoài suy đoán nói Thượng Hải vì chịu áp lực của TƯ xuống mới làm thế này. Giang TD đối với việc này ko bằng lòng, sau ‘Lục Tứ’, Giang xem việc này như là 1 tội trạng [mà trong đó] tôi ủng hộ phong trào sv.

Những điều này là sau khi tôi từ Triều Tiên về, tìm hiểu việc xã luận 26/4 khiến phong trào sv leo thang, các giới trong xã hội ra phố biểu tình; để ổn định phong trào sv tôi đã áp dụng phương châm nói ở trên. Nhưng bởi những người như Lí Bằng sợ [tôi] như thế đã phủ định xã luận 26/4, thậm chí sợ [tôi] vì thế sẽ truy cứu trách nhiệm của họ, nên họ liều mình gây ra cản trở, phá hỏng, đến mức khiến phong trào sv tiếp tục kéo dài. Đây chính là hoàn cảnh của việc phong trào sv kéo dài đến xấp xỉ 1 tháng.

Chú thích chương 3:

30. Viên Mộc (1928 - ): người Hưng Hóa Giang Tô. Có lúc giữ chức chủ nhiệm phòng nghiên cứu của Quốc vụ viện. Trong sự kiện Lục Tứ năm 1989, Viên Mộc là tiếng nói của phe ủng hộ dùng vũ lực trấn áp trong Chính phủ.

31. Hà Đông Xương (1923 - ): Người Chư Kí Chiết Giang. Năm 1978 nhậm chức hiệu phó đại học Thanh Hoa, có lúc giữ chức phó chủ nhiệm Ủy ban giáo dục, phó thư kí Đảng bộ. Trong sự kiện Lục Tứ 1989 đối với việc xúc tiến dùng vũ lực trấn áp sv đã đổ thêm dầu vào lửa.

32. Diêm Minh Phục (1931 - ): 1985 – 1990 giữ chức bộ trưởng Bộ mặt trận thống nhất. 1987 – 1989 giữ chức thư kí ban thư kí TƯ. Vì trong sự kiện Lục Tứ ko ủng hộ dùng vũ lực trấn áp nên bị cách chức.

33. Diêu Y Lâm (1917 – 1994): người Quí Trì An Huy. Trước CMVH làm công tác mậu dịch trong thời gian dài, là cấp dưới của Trần Vân và Lí Tiên Niệm. 1979 nhậm chức trưởng bí thư ủy ban kinh tế tài chính của Quốc vụ viện, phó thủ tướng Quốc vụ viện, sau đó kiêm nhiệm chủ nhiệm ủy ban kế hoạch quốc gia. 1987 nhậm chức thường ủy BCT. Trong sự kiện Lục Tứ 1989, Diêu Y Lâm với thân phận thường ủy BCT đã chủ trương vào hùa xúc tiến dùng vũ lực trấn áp sv.

34. Phí Hiếu Thông (1910 – 2005): người Ngô Giang Tô Châu. Giáo sư đại học BK ngành xã hội học. 1987 – 1996 nhậm chức chủ tịch TƯ của Liên minh dân chủ TQ, phó ủy viên trưởng của Đại hội đồng ĐBNDTQ.

35. Tôn Khởi Mạnh (1911 - ): người Hưu Trữ An Huy. Là người đề xướng và tổ chức của Hội Dân chủ kiến quốc trong thời kì đầu. 1983 – 1987 nhậm chức chủ tịch TƯ của Hội dân chủ kiến quốc, phó ủy viên trưởng đại hội đồng ĐBNDTQ.

36. Lôi Khiết Quỳnh (1905 - ): người Quảng Châu Quảng Đông. Giáo sư ĐHBK. 1987 – 1997 giữ chức chủ tịch TƯ của Dân Tiến, phó ủy viên trưởng Đại hội đồng ĐBNDTQ.

37. Đinh Thạch Tôn (1927 - ): người Trấn Giang Giang Tô. Có lúc giữ chức hiệu trưởng ĐHBK, phó chủ tịch TƯ của Dân Minh.

38. Hứa Gia Lộ (1937 - ): người Hoài An Giang Tô. Giáo sư Trung văn ĐH SPhạm BK. 1987 – 1994 giữ chức hiệu phó ĐH SP BK, thường ủy TƯ của Dân Tiến, phó chủ tịch TƯ của Dân Tiến.

39. Vương Thụy Lâm (1930 - ): người Chiêu Viễn Sơn Đông. Từ 1952 trở đi trường kì làm thư kí cho Đặng TB; 1978 nhậm chức chủ nhiệm văn phòng của Đặng TB. 1983 nhậm chức phó chủ nhiệm văn phòng TƯ cho đến 1995 nhậm chức ủy viên quân ủy TƯ.

40. Qua Nhĩ Ba Kiều Phu (1931 - ): Mikhail Sergeyevich Gorbachev, chính trị gia Liên Sô. 1985 – 1991 làm tổng bí thư hội đồng ủy viên TƯ của ĐCS Liên Sô. Các chính sách trong thời kì ông tại chức đã dẫn đến sự giải thể của Liên Sô và sự kết thúc của Chiến tranh lạnh. 1990 được giải Nobel hòa bình.

41. Từ sau gọi là ‘Phát biểu Ngũ Tứ’, chỉ bài phát biểu trong cuộc họp hàng năm lần thứ 22 của hội đồng quản trị Ngân hàng phát triển Á châu ngày 4 tháng 5 năm 1989. Chủ trương ‘giải quyết vấn đề trên quĩ đạo dân chủ và pháp chế’ chính là trong bài phát biểu trong ngày này mà đề xuất ra. Xem phụ phục 2. (Chép nguyên Nhân Dân Nhật Báo ngày 5/5/1989).

42. Hồ Khải Lập (1929 – ): người Du Lâm Thiểm Tây. 1985 – 1987 giữ chức ủy viên BCT TƯ Trung Cộng, thư kí sở thư kí; 1987 – 1989 giữ chức thường ủy BCT TƯ TC. Trong sự kiện Lục Tứ 1989 Hồ KL kô ủng hộ dùng vũ lực trấn áp sv, do đó bị miễn chức thường ủy BCT, bảo lưu được chức ủy viên TƯ.

43. Hứa Gia Truân (1916 – ): người Như Cao Giang Tô. Từng giữ chức thư kí tỉnh ủy Giang Tô của Trung Cộng, có lúc giữ chức xã trưởng phân xã Hong Kong của Tân Hoa Xã. Sau sự kiện Lục Tứ 1989, bất mãn với việc Trung Cộng dùng vũ lực trấn áp; chạy sang Mĩ.

44. ‘vài đồng chí dự thính trong ủy ban thường ủy’, là chỉ chủ tịch nước Dương Thượng Côn, ủy viên trưởng Đại hội đồng ĐBNDTQ Vạn Lí, phó chủ nhiệm ủy ban cố vấn TƯ Bác Nhất Ba 3 người.

45. Nhuế Hạnh VĂn (1927 – 2005): người Liên Thủy Giang Tô. 1985 – 1987 giữ chức thư kí thị ủy Thượng Hải của Trung Cộng; 1987 – 1989 giữ chức thư kí ban thư kí TƯ; phó tổ trưởng tiểu tổ tuyên truyền tư tưởng và công tác lãnh đạo TƯ. Sau sự kiện Lục Tứ 1989 bị miễn chức thư kí ban thư kí TƯ.

46. Đạo báo Kinh tế thế giới bắt đầu xuất bản tháng 6 năm 1980, do Khâm Bản Lập (1918 – 1991), có lúc làm phó phòng Phòng nghiên cứu kinh tế thế giới thuộc viện Khoa học xã hội Thượng Hải, làm tổng biên tập.

47. Khâm Bản Lập (1981 – 1991): người Trường Hưng Chiết Giang. Nhà báo nổi tiếng. Từng giữ chức thư kí Đảng ủy ‘Văn hối báo’ của Trung Cộng, có lúc làm tổng biên tập đạo báo Kinh tế thế giới. Tháng 4 năm 1989 kiên trì in bài kỉ niệm Hồ Diệu Bang trên Đạo báo, bị thư kí thị ủy Thượng Hải Giang Trạch Dân đình chỉ chức vụ. ‘Sự kiện Khâm Bản Lập’ trở thành khúc ngoặt trong sự nghiệp chính trị của Giang TD.

48. Giang Trạch Dân (1926 - ): người Dương Châu Giang Tô. Có lúc giữ chức ủy viên BCT TƯ TC, thư kí thị ủy Thượng Hải. Sau sự kiện Lục Tứ 1989, được các nguyên lão như Đặng TB, Trần Vân, Lí Tiên Niệm, Vương Chấn tìm kiếm tuyển chọn, thay thế Triệu Tử Dương làm tổng thư kí Trung Cộng.
Laozeza
24-11-09, 14:29
Anh có quyển này ebook version tiếng Anh, bạn nào thích mật thư email rồi anh sẽ gửi.
GLy
25-11-09, 11:35
Có bản Anh văn free rồi thì hay, các bác đỡ phải chờ em :D. Bác zeza up lên mediafire ấy, nhanh mà ko cần đăng kí nick gì đâu, để các bác khác dễ download.

Sáng sớm nay ngồi chờ bóng đá em làm tiếp chương 4:

4. Quyết định giới nghiêm và trấn áp bằng vũ lực (part 1)
4. Quyết định giới nghiêm và trấn áp bằng vũ lực

Tôi bàn tiếp ngay về vấn đề giới nghiêm và trấn áp Lục Tứ. Sv vào lúc hoàn toàn thất vọng sau khi đối thoại với chính phủ, quyết định thừa lúc Gorbachev đến thăm (49), phát động biểu tình thị uy và tuyệt thực qui mô lớn. Họ cho rằng đây là thời cơ tuyệt hảo để gây áp lực lên chính phủ, để nghênh tiếp khách cấp quốc gia tới thăm, chính phủ ko thể ko nhượng bộ. Nhưng các sv đã lầm, họ ko biết rằng họ đi càng xa, thì càng cho những người như Lí Bằng nhiều lí do để chủ trương dùng bạo lực trấn áp.

Sau khi tôi nắm được các tin tức, tiện cơ hội ngày 13/5 cùng công nhân đối thoại đã phát biểu đàm thoại. Đại í thế này: Sv đại học nếu như cứ có đòi hỏi gì ko đạt được sự thỏa mãn, liền đi quấy rối hội đàm quốc tế, làm tổn hại cuộc gặp cấp cao Trung Sô, thế là ko có đạo lí, ko thể có được sự đồng tình và ủng hộ của quảng đại nhân dân. Hi vọng họ chú í đến đại cục, ngàn vạn ko được làm những việc khiến người thân đau đớn, còn kẻ thù thì sung sướng. Lời hô hào do tôi nhân cơ hội này phát ra, trong ngày hôm đó các báo lớn đều đăng. Nhưng sv đối với lời hô hào của chúng tôi cơ bản ko chú í, vẫn trong chiều 13/5 đã tổ chức cho hơn 200 sv của hơn 20 trường, trong sự bảo vệ của hơn 1000 người, tiến nhập quảng trường Thiên An Môn (TAM) để tĩnh tọa, tuyệt thực. Từ ngày hôm đó, các sv chiếm cứ quảng trường TAM, suốt đến khi phát sinh sự đổ máu ngày 4 tháng 6.

Sự tuyệt thực của sv đã nhận được sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của xã hội, các cơ quan, đoàn thể, thị dân đều bị lôi kéo vào hàng ngũ ủng hộ, hàng trăm hàng ngàn, mỗi ngày một đông, số người tham gia tuyệt thực cũng ko ngừng gia tăng, lúc nhiều nhất có 2, 3 ngàn người. Sv bị tình thế kiểu này làm cho mê mẩn, càng ko muốn rời đi hoàn toàn. Lúc đó sv có tính tự phát rất lớn. Dù ở hiện trường đã thành lập bộ chỉ huy, nhưng ko có 1 thủ lĩnh nào có thể đưa ra những quyết định tỉnh táo lạnh lùng, dù có đưa ra thì cũng ko có quyền uy gì. Bộ chỉ huy ở hiện trường liên tục thay đổi lãnh đạo, tiếng nói của ai to, tính cổ động mạnh, thì làm theo người ấy. Chúng tôi đã làm việc với các lãnh tụ sv, huy động lãnh đạo các trường, các giáo sư lớn tuổi đến làm việc, đều ko có tác dụng gì.

Do có sự cản trở của những người như Lí Bằng, phương châm dẫn dắt, đối thoại, xoay chuyển tình thế đã ko thực hiện được. Sv tuyệt thực bước vào ngày thứ tư, đã có những cơn ngất, lúc đó tôi thập phần lo lắng, nếu như cứ tiếp diễn thế này, phát sinh sự kiện sv tử vong, sẽ ko biết phải giải thích với nhân dân cả nước ra sao.

Đêm ngày 16/5, sau khi hội kiến Gorbachev, tôi triệu khai hội nghị thường ủy, thảo luận về việc công khai đưa ra bài phát biểu với danh nghĩa 5 vị thường ủy thuyết phục sv đình chỉ tuyệt thực. Trong bản thảo bài phát biểu có câu này ‘nhiệt tình yêu nước kiểu này của sv thực đáng khen ngợi, Đảng, TƯ, và Quốc vụ viện tán thành’, đã gặp phải sự phản đối của Lí Bằng. Ông ta nói, ‘Nói đáng khen là ngon mẹ rồi, sao còn phải tán thành cái đ éo gì?’ Dương Thượng Côn nói: Sv chống hủ bại, có thể nói tán thành. Tôi lúc đó đối với cách nghĩ này của Lí Bằng thấy rất phản cảm, thế nên tôi liền nói, bởi vì nói nhiệt tình ái quốc của họ là đáng khen ngợi, sao lại đ éo thể tán thành? Nếu câu này mà cũng đ éo nói, thì có khác đ éo gì ko nói! Lúc ấy đưa ra bài phát biểu công khai này vẫn còn í nghĩa sao? Vấn đề hiện tại là làm sao sử dụng phát biểu để có thể xoa dịu tình cảm của sv, đừng có lúc nào cũng tranh cãi về từ ngữ. Đa số thường ủy đều chủ trương giữ lại câu nói đó, cuối cùng [nó được] miễn cưỡng cho qua.

Kì thực lúc đó tôi nghĩ giờ đưa ra bài phát biểu này cũng ko thể chấm dứt việc sv tuyệt thực, bởi vì sv tuyệt thực, đòi hỏi mạnh mẽ nhất là thay đổi việc xác định tính chất của xã luận 26/4 đối với phong trào sv. Tôi cảm giác vấn đề này đã đến thời điểm ko biện pháp nào có thể vượt qua. Chỗ thắt nút này ko được gỡ, sẽ ko có biện pháp nào khiến sv ngừng tuyệt thực, và triển khai đối thoại. Nếu như tình hình sv tuyệt thực tiếp tục kéo dài, sẽ có thể phát sinh những hậu quả cực kì nghiêm trọng thậm chí ko thể dự đoán. Thế nên tôi lần đầu tiên trong hội nghị của thường ủy BCT chính thức đề xuất vấn đề tu sửa việc xác định tính chất của xã luận 26/4. Lí Bằng ngay lập tức thể hiện sự phản đối, ông ta nói việc xác định tính chất của xã luận 26/4 là chiếu theo lời lẽ ban đầu của Đặng mà viết, ko thể thay đổi. Tôi phản bác ông ta nói, xã luận 26/4 là chiếu theo giọng điệu của bản tóm tắt cuộc họp thường ủy ngày 24/4 mà viết ra, Đặng chỉ là đã ủng hộ í kiến của thường ủy. Thượng Côn nói đề xuất sửa đổi xã luận 26/4 sẽ làm tổn hại đến [hình ảnh của] Tiểu Bình. Tôi nói có thể nghĩ biện pháp làm ông ấy ko bị tổn hại, việc này nên do tập thể các thường ủy đảm nhiệm. Tôi còn nói, lúc tôi đi Triều Tiên từng gửi điện báo đồng í với quyết sách của Đặng, thế nên tôi đối với xã luận 26/4 phải phụ trách, lúc cần, cũng có thể nói là do tôi phê chuẩn. Lí Bằng đột nhiên nói, anh thế này đ éo phải là thái độ của chính trị gia. Kết quả là việc sửa đổi xã luận 26/4 ko được bàn tiếp.

Tôi ko còn biện pháp nào khác, chỉ có gặp Đặng để nêu ra í kiến của tôi đối với việc sửa đổi xã luận. Ngày 17, tôi gọi điện thoại yêu cầu gặp Đặng. Ko lâu sau đó, văn phòng của Đặng báo cho tôi buổi chiều đến nhà Đặng tham gia 1 cuộc họp, các thường ủy và Thượng Côn đều đến (lúc đó Vạn Lí đã rời nước, ông ấy lần nào cũng dự thính hội nghị thường ủy). Tôi ban đầu là muốn cầu kiến riêng Đặng để nói chuyện, Đặng [lại] quyết định [tôi phải] đến nhà ông ấy tham gia hội nghị thường ủy, tôi liền cảm thấy sự tình có chút bất hảo. Trong hội nghị tôi trước tiên nói lên í kiến của mình. Đại í là: Hiện tại phong trào sv đang phát triển, tình thế đang trở nên tồi tệ hơn, thập phần nghiêm trọng. Sv, giáo viên, phóng viên, nhà nghiên cứu, cán bộ ở các cơ quan đều có ko ít người ra đường phố, hôm nay ước chừng có 30 40 vạn người, công nhân nông dân có ko ít người đồng tình, sở dĩ như thế này, ngoại trừ các vấn đề nóng như hủ bại, mức độ rõ ràng, chủ yếu là các giới trong xã hội buộc tội Đảng và Chính phủ sao lại vô cảm với việc sv tuyệt thực, thấy chết mà ko cứu. Và cùng sv đối thoại chủ yếu bị vướng ở việc xác định tính chất của xã luận 26/4. Xã luận 26/4 đã khiến rất nhiều người hiểu lầm, lúc nào cũng phản đối, [nên] chắc chắn nó có chỗ nói ko rõ ràng hoặc ko chính xác. Hiện giờ cách duy nhất có hiệu quả lập tức, chính là sửa đổi nới lỏng việc xác định tính chất của xã luận. Đây là điểm mấu chốt, có thể nhận được sự đồng tình của xã hội. Chúng ta cho sv thoát khỏi bị chụp mũ, thế là tương đối chủ động rồi. Nếu như tuyệt thực tiếp tục kéo dài, có người bị chết, chắc chắn sẽ như lửa thêm dầu. Nếu như áp dụng việc đứng đối lập với quần chúng, rất có khả năng sẽ có nguy hiểm thực sự [mà chúng ta] mất kiểm soát toàn cục.

Trong quá trình tôi trình bày í kiến của mình, biểu hiện của Đặng rất ko kiên nhẫn, rất ko đồng í.

Sau khi tôi nói xong, Lí Bằng, Diêu Y Lâm lập tức đứng dậy phê phán tôi, đem toàn bộ trách nhiệm của việc phong trào sv leo thang qui kết cho bài phát biểu Ngũ Tứ của tôi tại ngân hàng khai phát Á châu. Đây là lần đầu tiên tôi nghe họ chỉ trích bài phát biểu của tôi tại ngân hàng khai phát Á châu. Trước đó trên thực chất phản đối, nhưng ko hề công khai nói ra thế này, mức độ kịch liệt của họ hoàn toàn vượt quá suy đoán của tôi. Từ những công kích ko hề đắn đo của 2 người đối với tôi, có thể trước đó giữa họ và Đặng đã có thỏa thuận ngầm. Hồ Khải Lập lúc đó phát ngôn chủ trương sửa đổi xã luận. Kiều Thạch ko có thái độ rõ ràng. Thượng Côn ko tán thành sửa đổi xã luận, hơn nữa trong vấn đề này bắt đầu có í định ko tốt. Ông ấy nói Liêu Hán Sinh (50) chủ trương giới nghiêm, liệu có thể cân nhắc việc giới nghiêm ko? Ban đầu Thượng Côn luôn phản đối giới nghiêm, lúc này ông ấy thuật lại chủ trương của Liêu Hán Sinh, trên thực tế ông ấy đã thay đổi chủ í của mình.

Cuối cùng Đặng đưa ra quyết định cuối cùng nói: Sự phát triển của tình thế càng chứng minh thêm tính chính xác của xã luận 26/4. Phong trào sv sở dĩ liên tục ko thể dẹp yên, [là do] vấn đề xuất hiện trong nội bộ Đảng, phát sinh từ bài phát biểu Ngũ Tứ của Triệu tại ngân hàng khai phát Á châu. Hiện tại ko thể lại lùi bước nữa, nếu ko sẽ ko thể cứu vãn. Quyết định điều quân đội tiến vào thủ đô, thực hiện giới nghiêm. Ngoài ra chỉ định cho Lí Bằng, Dương Thượng Côn, Kiều Thạch tạo thành tiểu tổ 3 người, phụ trách thực thi. Sau khi Đặng nói xong, tôi liền nói: Có 1 quyết sách đương nhiên tốt hơn ko có quyết sách nào, nhưng tôi rất lo nó sẽ mang lại những hậu quả nghiêm trọng. Tôi với tư cách Tổng thư kí, tổ chức thực hiện quyết sách này rất khó có hiệu quả. Đặng nói, nếu như quyết sách này là sai, sẽ do mọi người cùng chịu trách nhiệm. Lí Bằng trong hội nghị còn đề xuất, các hội nghị thường ủy thường có người đem nội dung tiết lộ ra ngoài, nội bộ có những người xấu, Bảo Đồng chính là một người. Tôi liền phản bác ông ta: Anh phải có trách nhiệm khi nói những lời kiểu này, anh căn cứ vào đâu? Ông ta nói: Tôi có căn cứ, sau này sẽ cho anh biết. Hội nghị kết thúc, tôi liền đi ra ngay. Đặng liệu có còn lưu họ lại để bàn vấn đề gì ko, tôi cũng ko thể biết được.

Lúc đó tâm tình của tôi rất ko bình tĩnh, tôi đang nghĩ: Bất kể thế nào cũng ko thể làm bản thân thành 1 tổng thư kí huy động quân đội trấn áp sv.

Sau khi về nhà, tôi tức giận nói với Bảo Đồng thay tôi phác thảo một phong thư để gửi cho thường ủy từ chức Tổng thư kí. Trong cuộc họp hội í ngắn của thường ủy [về việc] như thế nào thực hiện giới nghiêm được triệu tập đêm hôm đó, lúc bàn đến việc muốn tôi chủ trì đại hội cán bộ tuyên bố giới nghiêm (51), tôi đã ko chấp nhận. Tôi nói, có vẻ như sứ mệnh lịch sử của tôi đã hoàn thành. Thượng Côn chỉ trích lời lẽ của tôi, nói, hiện tại ko thể đề cập đến những việc kiểu này, cơ cấu nhân sự ko thể thay đổi, chính là nói, cái chức tổng thư kí này của tôi ko thể thay đổi. Lúc bức thư từ chức của tôi được đưa đến Phòng thư kí trong Tổng cơ quan của TƯTC và vẫn chưa được công bố, Thượng Côn đã biết rồi, [ông ấy] liền gọi điện thoại liên tục khuyên tôi thu hồi quyết định đã đưa ra. Thượng Côn nói, tin tức này ngay khi truyền ra sẽ làm cho tình thế càng thêm gay gắt, ko thể thêm dầu vào lửa. Tôi tiếp thụ khuyến cáo của ông ấy, ngày 18 báo cho Tổng cơ quan của TƯTC biết, bức thư từ chức của tôi ko được công bố, sau này để thư kí [của tôi] (52) thu hồi bức thư từ chức về.

Ở đây tôi muốn nói ngay, trong cuộc họp quyết định giới nghiêm và trấn áp sv mà Đặng triệu tập lần này, báo cáo của các cơ hãng thông tấn nước ngoài nói hội nghị thường ủy [có kết quả] là 3 phiếu đối với 2 phiếu, kì thực cơ bản ko hề có cái gì mà 3 phiếu 2 phiếu. Tham gia hội nghị chỉ có mấy người như thế, với tư cách thường ủy mà nói, những thường ủy hôm đó đến là 2 so với 2, 1 người trung lập. Tôi và Hồ Khải Lập chủ trương sửa đổi xã luận, Diêu Y Lâm và Lí Bằng kiên quyết phản đối, Kiều Thạch trung lập, ko có thái độ rõ ràng. Cơ bản ko có chuyện 3 so với 2. Đương nhiên, nếu thêm vào Đặng, Dương, họ ko phải là thường ủy, nếu dựa theo số người đến dự hội nghị mà tính, họ đương nhiên tính là đa số. Thật sự mà nói, ko hề có chuyện thường ủy bỏ phiếu chính thức.

Trong vài ngày đó, một vài nhân vật của công chúng và lão đồng chí trong đảng lần lượt gọi điện thoại, viết thư cho TƯ Đảng và tôi, yêu cầu đối xử chính xác với phong trào sv, thừa nhận hành động yêu nước của sv, sửa đổi thái độ sai lầm đối với sv, trong đó có vài người lúc nào cũng nhận được sự coi trọng của Đặng, ví dụ những người như lão đồng chí Lí Nhất Manh (53). Thế nên ngày 18/5 tôi cũng theo đó tuyển chọn một chồng thư chuyển đến cho Đặng, ngoài ra còn viết cho ông ấy một bức thư, một lần nữa trình bày í kiến của tôi, hi vọng ông ấy suy nghĩ lại. Dù tôi biết rõ là hi vọng ko lớn, nhưng vẫn muốn nỗ lực lần cuối cùng. Bức thư nguyên bản như sau:

Đồng chí Tiểu Bình:

[Tôi] vừa chuyển [cho đồng chí] những lời thỉnh cầu của vài lão đồng chí có ảnh hưởng, hi vọng [đồng chí] xem qua một lần.

Hiện tại tình thế thập phần nghiêm trọng, sự tình khẩn cấp nhất là làm cho sv ngừng tuyệt thực (đây là hành động [của sv] được quần chúng ủng hộ nhiều nhất), tránh có người bị chết. Để sv đáp ứng ngừng tuyệt thực yêu cầu quan trọng nhất chính là ko chụp mũ, thay đổi sự định tính của xã luận 26/4, thừa nhận hành động của họ là phong trào yêu nước.

Tôi đã cân nhắc nhiều lần, cảm thấy chúng ta phải hết sức hạ quyết tâm đưa ra nhượng bộ này, chỉ cần những lãnh đạo chủ chốt như chúng ta đích thân đi vào trong quần chúng tuyên bố thừa nhận 1 điểm này, tình cảm của quần chúng sẽ dịu đi rất nhiều ngay, [khi đó] các vấn đề khác mới dễ giải quyết. Dù chúng ta cần áp dụng biện pháp kiên quyết duy trì trật tự, cũng phải trước tiên đi 1 bước này sau đó mới hành động dễ dàng được. Nếu ko, trong hoàn cảnh đối lập nghiêm trọng với rất đông quần chúng mà áp dụng hành động cứng rắn, khả năng sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đe dọa đến vận mệnh của Đảng và quốc gia.

Trong đầu tôi đang có những tâm tình vạn phần lo lắng, một lần nữa xin đồng chí cân nhắc về kiến nghị này.

Triệu Tử Dương
Ngày 18 tháng 5
GLy
25-11-09, 11:37
4. Quyết định giới nghiêm và trấn áp bằng vũ lực (part 2)

Đây là bức thư đầu tiên mà tôi viết cho Đặng sau hội nghị thường ủy quyết định giới nghiêm tại nhà ông ấy ngày 17/5. Như mong đợi, sau khi thư gửi đi ko hề có hồi âm gì.

Đêm 17/5, Tổng cơ quan TƯTC sắp xếp cho các lãnh đạo TƯ đến bệnh viện thăm hỏi sv tuyệt thực. Ban đầu Lí bằng nói ông ta ko đi, [nhưng] khi xe đến bệnh viện đang khởi động thì ông ta lại chạy vội đến, nguyên là ông ta nghe nói tôi sẽ đến bệnh viện mới thay đổi chủ í. Rạng sáng ngày 19/5 đến quảng trường TAM thăm hỏi sv tuyệt thực cũng là thế này. Ông ta phản đối tôi đi, hơn nữa còn muốn Tổng cơ quan TCTƯ ngăn ko cho tôi đi. Tôi nghĩ đông sv tuyệt thực thế này đã gần 7 ngày mà các lãnh đạo TƯ thậm chí ko hề đến gặp, bất kể như thế nào cũng ko thể giải thích. Tôi nói nhất định muốn đi, người khác ko đi, tôi một mình cũng sẽ đi. Ông ta thấy thái độ của tôi kiên quyết, ko có cách nào cản trở, mới thay đổi chủ í. Nhưng ông ta lúc đó cực kì lo sợ, đến quảng trường chưa được mấy tí mà đã chuồn mẹ mất.

Lúc đó tôi ngoài biểu thị sự thông cảm đối với sv, còn ứng khẩu phát biểu một chút (54), sau đó được đăng trên các báo lớn ở thủ đô. Bài phát biểu của tôi lúc đó, ko ngoài khuyên họ đình chỉ tuyệt thực, họ tuổi vẫn còn trẻ, phải quí trọng sinh mạng. Bởi vì tôi biết rõ, hành động của họ dù được sự đồng tình rộng rãi của trong và ngoài nước, nhưng đối với một nhóm những lãnh đạo lớn tuổi có thái độ ủng hộ cứng rắn thì ko hề có tác dụng. Dù có tiếp tục tuyệt thực, thậm chí có vài người chết, thì bọn họ cũng sẽ đ éo care.

Từ sau cuộc họp ngày 17/5 ở nhà Đặng, hành động của những người như Lí Bằng có rất nhiều điều ko bình thường. Bất luận là đến bệnh viện thăm hỏi hay đến quảng trường gặp gỡ sv, ông ta liên tục cản trở tôi đi. Tôi đến nơi và xuống xe, ông ta ngay lập tức phản thường vượt lên đi ở trước mặt tôi. Ông ta còn cử người báo cho các phóng viên nhiếp ảnh biết trước (sau đó có người nói cho tôi biết), lệnh cho họ ko được chụp các cảnh của tôi, nói để tránh làm việc thay đổi nhân sự sau này trở nên bị động. Từ tối 17/5 đến ngày 19, những tình hình liên quan đến việc giới nghiêm cũng ko hề cho tôi biết. Ngày 19 Lí Bằng cùng sv đối thoại, tôi xem TV mới biết được. Chiều 19/5, [Lí Bằng] đột nhiên gửi đến [cho tôi] thông báo của đại hội tuyên bố giới nghiêm được triệu tập sáng hôm đó cùng với bản thảo bài phát biểu của ông ta, muốn tôi chủ trì hội nghị và phát biểu, nhưng về các vấn đề như hội nghị triệu tập như thế nào, ở đâu, những người nào tham gia, hơn nữa có những nội dung gì, trước đó cái gì cũng ko nói cho tôi. Bản thảo bài phát biểu của ông ta còn viết, ‘sau ngày 4 tháng 5 phong trào sv đã leo thang nghiêm trọng’. Sau đó có khả năng họ cảm thấy cách nói này chỉ bài phát biểu ngày 4 tháng 5 của tôi quá rõ rệt, nên lúc công bố trên báo chí sửa thành ‘sau khoảng đầu tháng 5 phong trào sv đã leo thang’. Đây chính là công khải chỉ trích rằng phong trào sv là do bài phát biểu Ngũ Tứ của tôi tạo thành. Lí Bằng còn truyền đạt cho các thành viên trong Quốc vụ viện rằng tôi đã phạm sai lầm. Trước đại hội tuyên bố giới nghiêm tối hôm đó, [họ] còn triệu tập một hội nghị nhỏ, tất cả những điều này khiến tôi cảm thấy trên thực tế tôi đã bị gạt ra khỏi việc quyết sách. Nhưng rốt cuộc thì [họ] đã quyết định làm thế lúc nào, đến giờ tôi vẫn ko biết. Ngày 17 tại nhà Đặng thảo luận quyết định giới nghiêm, tuy chỉ định là do Lí Bằng, Dương TC, Kiều Thạch 3 người phụ trách chỉ huy, nhưng Đặng còn nói 1 câu, nói Triệu vẫn là tổng thư kí. Nhưng [trong] những tình huống sau hội nghị vài ngày, trên thực tế đã hoàn toàn gạt tôi sang 1 bên. Lí Bằng lúc đó đã mò ra căn nguyên này, nên lúc đi đến bệnh viện, đã báo cho các phóng viên ảnh ko được chụp tôi, nói việc thay đổi nhân sự sau này sẽ bị động. Việc này rất là ko bình thường.

Ngày 19 tôi xin BCT nghỉ 3 ngày, kiến nghị rằng hội nghị thường ủy do Lí Bằng chủ trì, còn cự tuyệt tham dự đại hội động viên tuyên bố lệnh giới nghiêm chiều hôm đó. Lúc đó, số lượng quần chúng ủng hộ tuyệt thực ở TAM đã giảm đi rất nhiều, tuyệt thực cũng đã chuyển thành tĩnh tọa kháng nghị. Rất nhiều sv của các trường ĐH ở BK đã về trường, đại bộ phận số người vẫn còn ở TAM là sv từ các nơi khác tạm thời đến.

Tuyên bố giới nghiêm ngày 19, vừa là 1 liều thuốc kích thích, vừa làm bùng lên sức mạnh của quần chúng. Số người tĩnh tọa đã gia tăng, người của các giới kết bè kết đội ùn ùn tiến ra phố, đặc biệt là việc thực thi giới nghiêm điều quân đội tiến vào BK, đã gây tổn thương rất lớn đến tình cảm của thị dân BK. Quân đội phụng mệnh tiến vào thủ đô trên các đường phố ở mọi nơi đều bị thị dân cản trở. Có những phụ nữ cao tuổi và nhi đồng lập thành các tổ nhóm nằm trên đường phố, khiến quân đội bị chặn ở ngoại ô BK, ko cách nào tiến vào nội thành. Tình trạng bế tắc này kéo dài đến hơn 10 ngày. Ngày 21/5, Kiều Thạch đến nhà tôi bàn về những tình huống này. Ông ấy nói, ko ít người đã phần nào cảm thấy cưỡi hổ khó xuống. Nếu như ko phải là do Đặng liên tục đốc thúc, thậm chí còn quyết định điều thêm quân đội về thủ đô, trường đại bi kịch này có lẽ có thể tránh được. Quân đội ko tiến được, lệnh giới ko có tác dụng, hàng trăm vạn sv, thị dân, công nhân, cán bộ các cơ quan ùn ùn trên các đường phố. Nếu cứ tiếp tục thế này, thủ đô chắc chắn sẽ lâm vào nguy cơ bị tê liệt.

Lúc đó tôi nghĩ, chỉ có triệu tập sớm hội nghị thường ủy Đại hội đồng ĐBNDTQ, thông qua cơ quan quyền lực này của Đại hội đồng ĐBNDTQ, bằng các hình thức dân chủ và pháp chế để xoay chuyển cục diện kiểu này. Ngày 21/5, tôi tìm Diêm Minh Phục nói về í kiến này của tôi, nhờ ông ấy chuyển đến Thượng Côn, xem liệu có thể làm ko. Trước đó, Bành Xung (55) đã tìm tôi nói chuyện, ông ấy nói [vì] Vạn Lí đang ở nước ngoài, [nên] ông ấy đã triệu tập hội nghị các phó ủy viên trưởng của Đại hội đồng ĐBNDTQ, ông ấy cũng đã đến núi Ngọc Tuyền (56) tìm Bành Chân, Bành Chân cũng tán thành làm thế này. Họ đã viết báo cáo gửi TƯ, yêu cầu Vạn Lí về nước sớm.

Chiều ngày 21, Hồ Khải Lập đến nhà tôi, nói báo cáo của thường ủy Đại hội đồng ĐBNDTQ yêu cầu Vạn Lí về nước sớm hiện tại ko có người phê duyệt, đang gác lại ở đó. Tôi liền nhờ Hồ Khải Lập nói cho Bành Xung biết, qua Đảng bộ của Đại hội đồng trực tiếp gửi điện báo cho Vạn Lí, giục ông ấy về nước sớm. Hồ Khải Lập hỏi liệu có thể nói rằng anh đã đồng í việc này, tôi nói có thể. Sau đó tôi còn gọi điện thoại cho Ngô Học Khiêm (57) bảo ông ấy tìm cách gửi điện báo đi. Sau đó có báo cáo rằng Lí BẰng cũng gửi điện báo cho Vạn Lí, ko cho ông ấy về nước sớm, khả năng là đã hỏi í kiến Đặng, thế nên Vạn Lí ko thể về nước ngay.

Đêm ngày 3 tháng 6, tôi đang cùng người nhà hóng mát ngoài sân, đã nghe thấy trên phố có những tiếng súng nổ dữ dội. 1 trường bi kịch chấn động thế giới cuối cùng đã ko thể tránh được việc phát sinh.

3 năm sau bi kịch Lục Tứ, tôi đã viết ra những tài liệu này, trường bi kịch này trôi qua cũng đã lâu. Những phần tử tích cực trong trận phong ba này, trừ số ít người chạy ra nước ngoài, đại bộ phận bị truy lùng, bị xét xử, bị thẩm vấn liên tục. Tình hình [lúc đó] giờ cần phải được làm cho rất rõ ràng rồi, đáng ra 3 vấn đề sau đã có thể trả lời:

Thứ 1, lúc đó nói phong trào sv là 1 trường đấu tranh ‘phản Đảng phản XHCN’ có lãnh đạo, có kế hoạch, có dự mưu. Hiện giờ có thể hỏi ngay, cuối cùng là những ai lãnh đạo? Kế hoạch như thế nào, dự mưu như thế nào? Có vài tài liệu có thể chứng minh cho điểm này ko? Còn nói trong Đảng có bàn tay đen, lịt, những thằng đ éo nào là bàn tay đen?

Thứ 2, nói mục đích của trường động loạn là muốn xô ngã nền cộng hòa, đạp đổ ĐCS, ở phương diện này cũng có tài liệu gì ko? Tôi lúc đó đã nói rồi, đa số người chỉ là muốn chúng ta sửa đổi những sai lầm, chứ ko phải là muốn về cơ bản lật đổ chế độ của chúng ta. Bao nhiêu năm đã qua, trong thẩm vấn đã có được những tài liệu gì? Cuối cùng thì tôi nói đúng hay họ nói đúng? Nhiều phần tử vận động dân chủ đã chạy ra nước ngoài đều nói, họ trước Lục Tứ, vẫn hi vọng Đảng sẽ thay đổi, hướng đến những điều tốt đẹp. Sau Lục Tứ, Đảng khiến họ hoàn toàn tuyệt vọng, khiến họ ở phía đối lập với Đảng. Trong thời gian phong trào sv, sv đã đưa ra rất nhiều khẩu hiệu, yêu cầu, nhưng ko hề đề cập đến vấn đề vật giá, trong khi lúc đó vấn đề vật giá là điểm nóng lớn trong xã hội, rất dễ dàng gây ra cộng hưởng. [Nếu] các sv muốn đối lập với ĐCS, vấn đề nhạy cảm này sao họ lại ko lợi dụng? Đề cập đến những vấn đề kiểu này ko phải là càng dễ huy động quần chúng sao? Sv ko đề cập đến vấn đề vật giá, có thể thấy họ biết vấn đề vật giá liên quan đến cải cách, nếu như trực tiếp nêu ra vấn đề vật giá để huy động quần chúng, trên thực tế sẽ là phản đối, phủ định cải cách. Có thể thấy ko phải là trường hợp kiểu này.

Thứ 3, định tính cho Lục Tứ là bạo loạn phản cách mạng, có thể chứng minh được ko? Sv lúc nào cũng giữ trật tự, ko ít tài liệu chứng minh, khi Giải phóng quân bị bao vây tấn công, ở nhiều chỗ sv làm ngược lại, bảo vệ Giải phóng quân. Rất nhiều thị dân cản trở Giải phóng quân tiến vào nội thành, cuối cùng là để làm gì? Là muốn xô đổ nền cộng hòa sao? Đương nhiên, hành động của nhiều người như thế, sẽ luôn có số rất ít người lẫn vào trong đám đông tấn công Giải phóng quân, nhưng đó là 1 loại tình huống hỗn loạn. Thành phố BK có ko ít lưu manh, tội phạm thừa lúc sự tình hỗn loạn, việc đó hoàn toàn có khả năng. Sao lại có thể đem hành vi đó nói là hành vi của quảng đại dân thành thị và sinh viên? Vấn đề này đến hiện tại lẽ ra phải được làm rõ rồi.

Chú thích chương 4:

49. Thời gian cụ thể là 15 đến 18 tháng 5 năm 1989.

50. Liêu Hán Sinh (1911 – 2006): người Tang Thực Hồ Nam. Tướng lĩnh Giải phóng quân; 1983 – 1993 giữ chức phó ủy viên trưởng hội đồng thường ủy của đại hội đồng ĐBNDTQ.

51. Chỉ ‘đại hội cán bộ Đảng Chính phủ Quân đội’ triệu tập tối ngày 19/5/1989. Trong đại hội Lí Bằng đã phát biểu.

52. Chỉ bí thư của Triệu là Lí Thụ Kiều. Lí Thụ Kiều (1944 - ): người Nội Hoàng Hà Nam. 1986 – 1989 làm bí thư cho Triệu Tử Dương.

53. Lí Nhất Manh (1903 – 1990): người Bành Châu Tứ Xuyên. 1974 – 1982 giữ chức phó bộ trưởng bộ Liên lạc đối ngoại TƯ. 1978 – 1982 giữ chức phó thư kí ủy ban kiểm tra kỉ luật TƯTC. Có lúc giữ chức thường ủy hội đồng cố vấn của TƯTC.

54. Xem phụ lục 3 ‘Phát biểu tùy ứng ngày 19 tháng 5 tại quảng trường TAM’.

55. Bành Xung (1915 - ): người Chương Châu Phúc Kiến. Từng làm thư kí ban thư kí TƯTC. Có lúc làm phó ủy viên trưởng đại hội đồng ĐBNDTQ.

56. Núi Ngọc Tuyền ở phía Tây Di Hòa Viên Bắc Kinh, có tên đặt theo dòng ‘Ngọc Tuyền’ ở chân núi phía nam, suối Ngọc Tuyền từng là [nơi lấy] nước uống chuyên dụng cho các hoàng đế và hoàng thất đời Thanh. Núi Ngọc Tuyền kể từ thời Mao Trạch Đông bị cách li trở thành địa điểm của quần thể kiến trúc gồm các biệt thự của các lãnh đạo TƯTC.

57. Ngô Học Khiêm (1921 – 2008): người Gia Định Thượng Hải. 1982 – 1988 làm bộ trưởng Ngoại giao. Có lúc giữ chức ủy viên BCTTƯTC, phó thủ tướng Quốc vụ viện. 1993 làm phó chủ tịch Ủy ban toàn quốc hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân TQ.
GLy
26-11-09, 17:47
Chương 5. Việc đưa ra quyết định cuối cùng của Đặng ko có tính chất hợp pháp
5. Việc đưa ra quyết định cuối cùng của Đặng ko có tính chất hợp pháp

Tôi muốn nói thêm về 1 vấn đề, chính là những đối xử bất công mà tôi phải chịu đựng do ở BK phát sinh trận phong ba chính trị này, bọn họ đã đối xử với tôi như thế nào.

Tôi cự tuyệt tham gia đại hội tuyên bố giới nghiêm ngày 19/5. Hành động này khiến Đặng và một vài lão nhân khác cực kì tức giận. Ngày 20 Đặng tại nhà mình triệu tập những người như Trần Vân (58), Lí Tiên Niệm, Vương Chấn, Bành Chân, Dương Thượng Côn, Lí Bằng, Kiều Thạch, Diêu Y Lâm mở 1 hội nghị. Đương nhiên ko báo cho tôi tham gia, cũng ko báo cho Hồ Khải Lập, ông ấy cũng ko thể tham gia. Nghe nói Vương Chấn trong hội nghị đó đã mắng nhiếc tôi là phản CM. Lí Tiên Niệm nói tôi là Bộ tư lệnh số 2 (59). Cuối cùng Đặng gõ búa quyết định triệt tiêu chức Tổng thư kí của tôi, còn nói chờ sau này thông qua các thủ tục tất yếu mới công bố ra ngoài. Thế này mà chả ai nói với tôi 1 tiếng để tôi đứng sang bên.

[Hội nghị] này ko thể coi là hội nghị thường ủy BCT, vì trong thường ủy BCT có 5 người, nhưng chỉ có 3 người đến. Hồ Khải Lập vẫn chưa bị triệt chức, tôi trước lúc cuộc họp diễn ra cũng chưa bị triệt chức, vẫn còn là thường ủy. Trong thường ủy có 2 người ko được báo cho biết, mà đưa ra quyết định thế này. Tôi cho rằng việc này sợ ko thể nói là hợp pháp được.

Tôi trong ngày 19 đến 21 xin nghỉ 3 ngày, cũng ko có ai nói cho tôi biết là đã bãi miễn chức vụ của tôi, đương nhiên cũng ko có ai tìm tôi liên hệ công tác, những kênh thông tin quan trọng bị cắt đứt, hoàn toàn cách li tôi với bên ngoài. Từ những kênh thông tin khác tôi nghe được rằng Lí Bằng, Dương TC, Diêu YL, Tống Bình (60) riêng từng người triệu tập hội nghị các bộ ngành, tuyên bố ‘tội trạng’ của tôi, còn lập ra các nhóm, khởi thảo văn kiện, làm công tác chuẩn bị để lúc triệu tập hội nghị đại biểu toàn quốc sẽ tuyên bố vấn đề của tôi; đồng thời còn lần lượt gửi thông báo cho các lãnh đạo số 1 số 2 của các tỉnh thành triệu họ đến BK. Tất cả những sự triển khai quan trọng này, vừa ko hề triệu tập hội nghị BCT, cũng ko phải là quyết định của hội nghị thường ủy BCT. 5 người trong thường ủy, tôi và Hồ KLập bị gạt ra ngoài, thì ko thể có hội nghị thường ủy hợp pháp. Phải nói, những triển khai này đề ko có tính chất hợp pháp. Bởi vì ‘Đảng chương’ qui định, khi hội đồng toàn thể ủy viên TƯ ko họp, thì do BCT thay mặt thực thi quyền hạn, hội nghị BCT do tổng thư kí chủ trì. Hiển nhiên, những triển khai quan trọng ở trên, ko do hội nghị BCT [quyết định], càng ko do tôi chủ trì, bất chấp là do cơ quan nào khác, người nào khác chủ trì, đều đã vi phạm ‘Đảng chương’. Trong tình cảnh vừa ko có người nào tuyên bố cho tôi biết tôi đã bị cách chức, vừa ko thể thực hiện quyền lực, tôi lúc đó sinh ra 1 lo lắng, sợ bọn họ sau này sẽ trả đũa, nói tôi tự mình vứt bỏ trách nhiệm, thế nên tôi đã tìm Ôn Gia Bảo (61) của Tổng cơ quan TƯTC, kiến nghị triệu tập 1 hội nghị BCT. Lúc đó Ôn Gia Bảo nói, Tổng cơ quan TƯTC trên thực tế cũng đã bị gạt sang bên, hiện giờ toàn bộ những triển khai này đều ko có thông quan Tổng cơ quan TƯTC, hơn nữa tất cả các hoạt động đều là do Lí Bằng, Dương TC an bài, ko hề thông qua Tổng cơ quan TƯTC. Nếu như tôi nhất định muốn mở hội nghị, Tổng cơ quan TƯTC cũng có thể phát thông báo, nhưng ông ấy cảm thấy hậu quả có thể sẽ rất ko tốt, hi vọng tôi cân nhắc thận trọng.

Cũng ko thể triệu khai hội nghị, tôi liền bảo bí thư gọi điện thoại tìm Dương TC, yêu cầu Dương TC cùng tôi nói chuyện một lần, mục đích cũng là muốn ông ấy làm rõ ngay vấn đề liệu tôi có phải đã bị đình chỉ chức vụ, ngoài ra [tôi] còn muốn giải thích 1 lần về việc tại sao khi cùng Gorbachev hội kiến ngày 16/5 tôi lại nói 1 đoạn đó (các bác chờ tới chương 7) về địa vị của Đặng trong nội bộ Đảng.

Ngày 2 tháng 6, Vương Nhậm Trọng (62), Đinh Quan Căn (63) đến nhà tôi, nói bởi vì tôi muốn gặp Dương TC nói chuyện, TƯ quyết định ủy thác cho họ đến nói chuyện cùng tôi, nói TƯ quyết định sẽ sớm triệu khai hội nghị toàn thể ủy viên TƯ và BCT để giải quyết vấn đề của tôi, yêu cầu tôi suy nghĩ cẩn thận để viết 1 bản tự kiểm điểm. Tôi trước tiên giải thích cho họ vấn đề đàm thoại cùng Gorbachev, tiếp đó tôi thắc mắc ko biết hiện tại các cơ quan TƯ hoạt động như thế nào? 5 thường ủy, ngoại trừ tôi, 1 người nữa cũng đã bị gạt sang bên, hiện tại mở hội nghị thì ai tham gia? Vương Nhậm Trọng nói, thường ủy vẫn chưa bầu lại, gần đây cũng ko mở hội nghị thường ủy. Tôi nói sau 3 ngày tôi nghỉ ốm, ko cho tôi tham gia công tác, có thể lí giải, bắt tôi đứng sang bên [tôi] cũng ko í kiến, chỉ là trong tương lai đừng nói tôi ko đảm nhiệm công việc, rũ bỏ trách nhiệm. Tôi tìm Dương TC cũng là muốn nói chuyện về vấn đề này. Về việc chuẩn bị viết bản kiểm điểm, tôi nói tôi hiện tại cái gì cũng ko biết, chỗ nào cũng phê phán tôi, [nhưng lại] ko cùng với tôi đối chiếu thẩm tra sự thật, những tài liệu phê phán về cơ bản ko đưa tôi xem mà đã phát đi mọi nơi. Trong tình huống kiểu này, [tôi] viết kiểm điểm như thế đ éo nào? Nếu như trong tương lai tôi vẫn còn có cơ hội trình bày, tôi sẽ tự làm kiểm điểm về những vấn đề tôi nhận thức được [là trong đó tôi đã sai lầm].

Thời gian của cuộc đàm thoại lần này rất dài, đến hơn 2 giờ đồng hồ. Tôi nói tương đối nhiều, đã nói về quan điểm đối với xã luận 26/4, bài phát biểu ngày 3 tháng 5 đối với các đại biểu thanh niên, bài phát biểu ngày 4 tháng 5 ở Ngân hàng khai phát châu Á, và cả những hoàn cảnh và quan điểm liên quan đến việc ngày 19/5 ko tham gia đại hội tuyên bố giới nghiêm. Cuối cùng tôi cường liệt phản đối việc bọn họ giam giữ Bảo Đồng. Bảo Đồng ngày 28/5 bị Bộ tổ chức gọi đến nói chuyện (64), có đi mà vẫn chưa về. Hơn nữa còn đồng thời tiến hành khám xét công sở của ông ấy. Lúc đó tôi liền bảo thư kí gọi điện thoại cho Tống Bình thể hiện sự phản đối. Lần này tôi nói với Vương Nhậm Trọng, Đinh Quan Căn rằng, nếu như nghĩ Bảo Đồng có vấn đề gì, về mặt tổ chức có thể thẩm tra, nhưng nên chiếu theo ‘Đảng chương’ và thủ tục pháp luật mà xử lí, các tổ chức Đảng ko có quyền lực tước đoạt nhân thân tự do của ông ấy, Bộ trưởng Tổ chức càng ko có quyền lực này. Hiện giờ đã là thập kỉ 80, ko thể dùng biện pháp của những chiến dịch đã thực hiện trong quá khứ rồi, yêu cầu bọn họ phản ảnh với TƯ. Lần đàm thoại này, họ cho rằng thái độ của tôi rất là ko tốt.

Ngày 17/6 Vương Nhậm Trọng và Đinh Quan Căn lại đến nhà tôi, nói ngày 19/6 TƯ sẽ triệu khai hội nghị BCT để giải quyết vấn đề của tôi, muốn tôi khiêm tốn, kiềm chế, dù lời lẽ của vài lão đồng chí có nặng nề, cũng phải duy trì sự lạnh lùng. Có thể phát ngôn, cũng có thể ko nói gì, nhưng đừng biện giải quá nhiều. Lúc đó tôi trả lời, nói, đây là giải quyết vấn đề về tôi, [nên] trong mọi trường hợp phải cho tôi cơ hội lên tiếng. Đinh Quan Căn còn muốn tôi suy nghĩ kĩ càng về các vấn đề của bản thân, trong hội nghị có 1 thái độ tốt. Vương Nhậm Trọng còn tiết lộ cho tôi, quyết định nội bộ vẫn là bảo lưu chức ủy viên TƯ của tôi và chức ủy viên BCT của Hồ Khải Lập, còn nói í kiến của tôi lần trước về việc cách li thẩm tra Bảo Đồng, đã được phản ánh lên TƯ, hiện tại đối với Bảo Đồng là giám sát tại gia, phù hợp với các thủ tục pháp luật (65). Dường như mục đích của bọn họ đến lần này, thứ 1 là thông báo cho tôi biết việc mở hội nghị, thứ 2 là khuyên tôi trong hội nghị ko biện hộ cho bản thân hoặc [chỉ] biện hộ cho bản thân chút ít.

Từ lần đầu tiên Vương Nhậm Trọng, Đinh Quan Căn đến nhà tôi hôm 6 tháng 2, cho tôi biết việc mở hội nghị giải quyết vấn đề về tôi, còn nói Đặng đã nói với bọn họ: lần trước xử lí vấn đề Diệu Bang, trong ngoài nước có chút bàn tán, lần này xử lí vấn đề Triệu, phải hợp thủ tục, yêu cầu họ chuẩn bị tài liệu cho tốt, tài liệu chuẩn bị tốt mới mở hội nghị. Điều này đơn giản là 1 nghịch lí rất lớn! Kì thực, tôi sớm đã bị bọn họ giam lỏng tại gia một cách phi pháp ko hề có căn cứ gì, đã bị cách li một cách phi pháp, sớm đã bị tước đoạt chức Tổng thư kí của tôi 1 cách phi pháp, [thế mà] vẫn còn nói phải hợp thủ tục. Điều này cho thấy rõ bọn họ thiếu tự tin, sợ bên ngoài bàn tán. Bọn họ ban đầu đã chuẩn bị mở hội nghị sớm hơn, nhưng bởi Lục Tứ đã trì hoãn lại.

Chú thích chương 5:

58. Trần Vân (1905 – 1995): người Thanh Phổ Giang Tô. Trần Vân lúc đó là 1 nguyên lão trong Đảng có địa vị và ảnh hưởng chỉ sau Đặng TB. 1978 – 1987 làm thường ủy BCT TƯ khóa 12, đệ nhất thư kí Ủy ban kiểm tra kỉ luật TƯ, sau 1987 làm chủ nhiệm Ủy ban cố vấn TƯ. Ông chủ trương thực tế và thực dụng, nhưng ko chủ trương cải cách chế độ chính trị và chế độ kinh tế hiện hành. Trong quá trình cải cách mở cửa trong thập kỉ 80 thế kỉ trước, Trần Vân về mặt kinh tế tiếp thụ ‘điều tiết thị trường’ nhưng kiên trì kinh tế kế hoạch, đề xuất cái gọi là lí luận ‘kinh tế lồng chim’, trở thành nhân vật đại biểu trong Đảng phản đối tự do hóa và thị trường hóa kinh tế. Tư tưởng kinh tế của Trần Vân cùng với niềm tin vào chủ nghĩa Marx mà ông cho là chính thống ăn khớp với nhau.

59. Trong ngôn ngữ chính trị TQ đương đại ‘Bộ tư lệnh’ chỉ bè phái trong 1 đảng bị xem là đối lập với í chí của lãnh tụ tối cao. Bắt nguồn từ tờ báo chữ to có tên ‘Pháo đả Bộ tư lênh’ mà Mao TĐ dùng để chĩa mũi nhọn vào Lưu Thiếu Kì và Đặng TB trong thời kì CMVH.

60. Tống Bình (1917 - ): người Cử Huyền Sơn Đông. 1981 làm phó chủ nhiệm ủy ban kế hoạch quốc gia, sau thăng chủ nhiệm, làm ủy viên Quốc vụ viện; 1987 làm ủy viên BCT, bộ trưởng Bộ tổ chức TƯTC. Sau hội nghị toàn thể ủy viên TƯ khóa 13 lần thứ 4 sau sự kiện Lục Tứ 1989, Tống Bình thăng làm thường ủy BCT, đồng thời tiến nhập thường ủy BCT còn có Giang Trạch Dân và Lí Thụy Hoàn, điền vào chỗ trống của Triệu Tử Dương và Hồ Khải Lập.

61. Ôn Gia Bảo (1942 - ): người Thiên Tân. 1986 – 1992 làm chủ nhiệm văn phòng TƯ TC. 2003 làm thường ủy BCT TƯTC, thủ tướng Quốc vụ viện.

62. Vương Nhậm Trọng (1917 – 1992): người Huyền Cảnh Hà Bắc. Sau 1978, lần lượt làm đệ nhất thư kí tỉnh ủy Thiểm Tây, phó thủ tướng Quốc vụ viện kiêm chủ nhiệm ủy ban Nông nghiệp quốc gia, thư kí ban thư kí TƯTC kiêm bộ trưởng bộ Tuyên truyền TƯ, phó ủy viên trưởng hội đồng thường ủy của Đại hội đồng ĐBNDTQ khóa 6 kiêm ủy viên và chủ nhiệm Ủy ban kinh tế tài chính, phó chủ tịch hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân TQ toàn quốc khóa 7.

63. Đinh Quan Căn (1929 - ): người Vô Tích Giang Tô. Bạn đánh bài của Đặng TB, uỷ viên dự khuyết BCTTƯ. Từng làm bộ trưởng Đường sắt, do sự cố trách nhiệm rời chức vụ; trở thành phó chủ nhiệm ủy ban kế hoạch quốc gia. 1990 – 1992 làm bộ trưởng bộ Mặt trận thống nhất TƯ.

64. Ngày 28/5/1989, phó chủ nhiệm văn phòng TƯTC Từ Thụy Tân dùng danh nghĩa ‘thường ủy mở hội nghị’, triệu Bảo Đổng đến văn phòng của Bộ trưởng Tổ chức Tống Bình. Sau khi đàm thoại với Tống Bình, Bảo bị tống vào nhà giam Tần Thành. Lúc đó thường ủy TƯTC ko hề mở hội nghị; Tống Bình cũng ko phải là thường ủy.

65. Bảo Đồng bị tống vào nhà giam trong ngày 28/5. Do Triệu Tử Dương ngày 2 tháng 6 yêu cầu TƯTC ko được hành sự trái pháp luật, các ban ngành liên quan mới thụ mệnh, trong ngày 10 tháng 6 đã làm thêm, tiến hành đầy đủ các thủ tục ‘giám sát tại gia’. Nhưng việc biến nhà tù quốc gia thành địa điểm của việc ‘giám sát tại gia’ thật là kinh hãi; hơn nữa sau khi sự việc xảy ra lại làm thêm các thủ tục, càng chứng minh rằng từ ban đầu việc tống Bảo vào nhà giam là phi pháp.
sperman
01-12-09, 07:51
Bản tiếng Anh ở đây nè các bác: http://www.mediafire.com/?vzgguyoxnwf
pink
01-12-09, 10:54
Đọc bản dịch của bác Gly hay lắm, em thấy thú vị và tự nhiên còn thích hơn cả đọc bản tiếng Anh hoặc một bản dịch nào đó. Mong bác tiếp tục còn cảm hứng dịch tiếp ạ.
Aya
17-12-09, 22:10
Dù đã down về bản Eng của bác Super (cảm ơn bác nhiều ạ ^^) Nhưng vẫn chờ đọc bản Việt của bác Gly, em thích cách hành văn của bác ^^. Mong bác tiếp tục dịch cho bọn em có cái để coi ^^