Hỏi về idiom.

wasabi
08-03-09, 08:44
Cái câu "Hãy trả lại cho Caesar cái gì của Caesar" là bắt nguồn từ ngôn ngữ nào? Em thử tra các idioms liên quan tới Caesar ở wikiquote thì không thấy.

Cảm ơn trước ạ.
lm2
08-03-09, 08:54
"Cái gì của Caesar, hãy trả lại cho Caesar"

1. Xuất xứ

Đây là câu nói của Chúa Jesus trong câu chuyện Kinh Thánh thứ 73: Nộp thuế cho Caesar

Thuế là nguồn thu của một quốc gia, hầu như ngân sách quốc gia nào cũng dựa vào các loại thuế thu được, và mọi công dân đều có nghĩa vụ phải nộp thuế cho nước của mình. Nhưng với Chúa Jesus và các môn đồ của ngài thì lại khác. Lúc này, đất nước Do Thái đang bị người La Mã đô hộ, do đó nộp thuế là phản bội tổ quốc, nộp thuế là nối giáo cho đế quốc tiếp tục đàn áp người Do Thái.

Lợi dụng cái nghịch lý mà đa số người Do Thái lúc đó đang phân vân, nhóm người Pharisee, một trong những kẻ ghét Chúa Jesus và muốn trừ khử Chúa, đã tìm cách gài bẫy ngài trong vấn đề nộp thuế. Nếu ngài nói "Không nộp thuế", họ sẽ tố cáo với người La Mã: Chúa Jesus đang xúi giục dân chúng làm loạn, phá rối chính quyền. Nhưng nếu ngài nói "Phải nộp thuế", họ sẽ tố cáo với người Do Thái: Chúa đi theo đế quốc, phản bội lại tổ quốc, phản bội lại dân tộc của mình.

Và câu chuyện Kinh Thánh thứ 73 đã kể rằng: Khi người Pharisee hỏi Jesus: "Có phải đóng thuế cho Caesar không?" Jesus nói: "Đưa ta xem đồng tiền nộp thuế." Họ mang lại cho Jesus một đồng tiền, và Jesus hỏi: "Hình và danh hiệu trên đồng tiền này là của ai đây?" Mọi người nói: "Hình của Caesar." Và Jesus đã trả lời: "Thế thì, cái gì của Caesar, hãy trả lại cho Caesar; cái gì của Thiên Chúa, hãy trả lại cho Thiên Chúa." Nghe vậy, người Pharisee ngạc nhiên và để Jesus lại đó mà bỏ đi.

2. Caesar

* Gaius Julius Caesar chinh phạt Gallia, đè nát cuộc khởi nghĩa của vị anh hùng xứ Gaul - Vircingetorix, cùng với Pompeius và Crassus lấn át Nguyên Lão Viện La Mã và lập ra thế Tam Hùng (Triumvirate) khống chế chính trường và quân sự của đế quốc La Mã. Sau lại đánh bại Pompeius (Crassus chết trận ở Syria trước khi nội chiến nổ ra), thu hết quyền lực về tay mình. Julius Caesar nắm trong tay quân đội, lại được đông đảo quần chúng ủng hộ, được Nguyên Lão Viện trao cho danh hiệu Quan Chấp chính (Consul) suốt đời.

Nhưng Julius Caesar coi thường truyền thống Cộng hòa, chỉ định các chứ Quan Chấp chính và các chức vụ khác mà không thông qua Nguyên Lão Viện, tự đúc tượng của mình và đặt vào ngang hàng với các vua (tyrant) của La Mã và có ý định muốn nhận lấy danh hiệu vua này - mặc dù đã được Nguyên Lão Viện trao cho danh hiệu Độc tài suốt đời (Dictator Perpetuus). Kết quả là Julius Caesar bị các thành viên đối lập trong Nguyên Lão Viện La Mã ám sát trước khi có thể nắm lấy danh hiệu ấy.


* Gaius Octavianus Caesar là cháu trai và là người thừa kế (tài sản và danh hiệu) của Julius Caesar. Octavianus chỉ nổi lên sau cái chết của Caesar. Trở về La Mã từ Illyria (bây giờ thuộc Croatia), Octavianus mới 18 tuổi và bị các thành viên lão thành trong Nguyên Lão Viện cũng như các tướng tá của Caesar coi thường. Tuy nhiên, nhờ được thừa hưởng danh tiếng của Caesar và tài năng của chính mình, Octavianus dần dà thu phục được nhiều binh tướng cũ của Caesar về dưới trướng mình. Octavianus sau đưa quân vào La Mã buộc Nguyên Lão Viện trao cho mình chức Quan Chấp chính đồng thời phải tôn Julius Caesar lên làm thần (Divus Iulius).

Octavianus, cùng với 2 tướng khác của Caesar là Marcus Antonius và Marcus Lepidus, lập ra thế Tam hùng (Triumvirate) lần thứ hai. Khác với thế Tam hùng lần thứ nhất của Julius Caesar, một thế Tam hùng có giá trị trên thực tế nhưng không có giá trị trên danh nghĩa (không được luật pháp thừa nhận). Nguyên Lão Viện (đang bị con dao của Octavianus kề ngang cổ) chính thức thừa nhận thế Tam hùng của bộ ba Octavianus-Antonius-Lepidus. Sau khi thế Tam hùng được Nguyên Lão Viện công nhận, Octavianus và Anthonius tiến quân đánh bại phe đối lập - những kẻ đã ám sát Julius Caesar - ở Macedonia, và đế quốc La Mã hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của bộ ba trên.

Trong khi Marcus Anthonius đang say sưa với nữ hoàng Ai Cập Cleopatra ở Alexandria, Octavianus ở La Mã ngày qua ngày diệt trừ hết các đối thủ chính trị của mình, trong đó có cả vợ (Fulvia) và anh trai (Lucius Anthonius) của Anthonius. Octavianus còn thâu tóm toàn bộ quân đội và quyền lực của Lepidus vào tay mình (Lepidus bị Octavian cáo buộc có mưu đồ kích động nổi loạn ở đảo Sicily, bị bắt giữ, và lưu đày).

Cho đến lúc này, kẻ địch duy nhất còn lại của Octavianus là Marcus Anthonius và vợ ông ta, nữ hoàng Cleopatra của Ai Cập. Ở phía Đông, các chiến dịch xâm lăng Parthia của Anthonius chỉ toàn dẫn đến thất bại. Ở La Mã, Octavianus xây dựng cho mình một mạng lưới đồng minh vững chắc trong giới quý tộc La Mã - các thành viên của Nguyên Lão Viện - và bắt đầu cuộc chiến tranh tuyên truyền chống lại Anthonius. Octavianus mắng Anthonius là kẻ vô đạo đức - kẻ đã bỏ rơi vợ mình (lúc này là chị gái của Octavianus) và con cái ở La Mã để chạy theo vị nữ hoàng lăng loàn của Ai Cập - cùng nhiều tội khác, nhưng trong đó, quan trọng nhất là tội "trở thành dân bản địa (Ai Cập)" một tội không thể tha thứ trong mắt người La Mã.

Những cáo buộc của Octavianus thật ra không phải không có căn cứ: Marcus Anthonius nhiều lần từ chối không trở về La Mã theo lệnh triệu tập của Nguyên Lão Viện mà ở lại Alexandria. Anthonius cũng tổ chức Lễ Khải Hoàn sau chiến thắng trước vương quốc Armenia ở Alexandria thay vì ở La Mã. Cuối cùng là Anthonius để lại di chúc chi sẻ đất đai của mình cho những người con chung giữa Anthonius và Cleopatra, đồng thời cũng tấn công Octavianus bằng việc tuyên bố Caesarion - con trai của Julius Caesar và Cleopatra - mới là người thừa kế chính thức của Caesar và rằng Octavianus đã làm những giấy tờ giả để cướp lấy quyền này từ Caesarion.

Cuộc đối đầu lên tới đỉnh cao và bùng nổ thành chiến tranh khi Octavianus, lúc này đã khống chế Nguyên Lão Viện, ghép tội phản quốc cho Anthonius vì các tội danh: chiếm giữ đất đai bất mà không có sự đồng ý của Nguyên Lão Viện và gây chiến với nước ngoài (Armenia và Parthia) mà không có sự đồng ý của Nguyên Lão Viện. Octavianus xuất quân đánh Marcus Antonius và chiến thắng, không những thu phục các tỉnh phía đông của La Mã mà còn chiếm luôn và sát nhập Ai Cập vào La Mã. Marcus Antonius và Cleopatra phải tự sát, Caesarion bị ám sát.

Sau chiến thắng ở Ai Cập, Octavianus trở về La Mã và được bầu làm Quan Chấp chính. Vài năm sau, Octavianus chủ động đề nghị trao hết quyền lực lại cho Nguyên Lão Viện. Nhưng điều này lại "làm" các công dân La Mã phẫn nộ. Họ đòi Nguyên Lão Viện phải giữ Octavianus lại. Kết quả là Octavianus "phải" nhận quyền điều hành đế quốc "theo lệnh" của Nguyên Lão Viện. Điểm đầu tiên trong cuộc thỏa hiệp lần thứ nhất giữa Octavianus và Nguyên Lão Viện.

Nguyên Lão Viện La Mã cũng trao cho Octavianus danh hiệu Công dân thứ nhất (princeps) và Vĩ nhân (Augustus). Augustus thật ra không phải là một chức vụ chính trị, không hề được quy định trong Hiến pháp La Mã, mà là một danh hiệu tôn giáo, bước đầu khẳng định quyền lực của Octavianus - lúc này đã gọi là Augustus - đã vượt khỏi phạm vi của Hiến pháp. Nguyên Lão Viện ngoài ra cũng trao cho Augustus nhiều đặc quyền về hình thức khác.

Vài năm sau, một cuộc thỏa hiệp khác được tiến hành. Lần này Augustus lại từ chức Quan Chấp chính, chỉ giữ lại quyền chỉ huy quân đội (imperium), kết quả là Nguyên Lão Viện lại thông qua một đạo luật, dù không trao cho Augustus một danh hiệu nào cả, nhưng lại giao cho ông ta các quyền: triệu tập nhân dân và Nguyên Lão Viện bất cứ khi nào muốn, phủ quyết tất cả các đạo luật của Nguyên Lão Viện, giám sát đạo đức của quần chúng, diễn giải luật pháp theo ý mình, và bổ nhiệm, cắt chức các nghị viên. Từ khi người La Mã lật đổ các vua của mình đến lúc này, chưa một ai nắm được các quyền đó cả, kể cả Julius Caesar.

Và cuối cùng là Augustus được giao các danh hiệu (kèm quyền lực) Imperium: imperium proconsulare maius. Augustus chính thức nắm quyền chỉ huy mọi binh đoàn của La Mã, quyền can thiệp và phủ quyết tất cả mọi quyết định của các thống đốc các tỉnh của La Mã - một quyền mà trước nay chỉ có Nguyên Lão Viện mới có.

Lúc này, quyền lực của Augustus đã chẳng khác gì quyền lực của một hoàng đế phương Đông. Cái duy nhất mà Augustus không có là cái danh hiệu "vua" (tyrant) mà thôi. Tuy nhiên, từ đây trở đi, các từ "Caesar" và "Imperium" đã trở thành hoàng đế (Czar và Emperor), riêng từ Augustus đối với La Mã và sau này là Byzantine mang ý nghĩa là "hoàng đế vĩ đại."

--------------

Augustus có một câu nói rất nổi tiếng: "Ta nhận một Rome bằng gạch đá và trả lại một Rome bằng cẩm thạch." Và đúng như lời Augustus đã nói, trước ông ta, La Mã là một nền cộng hòa chia năm xẻ bảy, sau ông ta, La Mã là một đế quốc quân chủ tập quyền thống nhất. Ông nhận một La Mã rối loạn và để lại một đế quốc ngăn nắp, trật tự.

Câu nói "Cái gì của Caesar, hãy trả lại cho Caesar" của Chúa Jesus ám chỉ rằng Augustus là người chủ của thế giới trần tục.
scojo
08-03-09, 09:11
21λεγουσιν καισαρος τοτε λεγει αυτοις αποδοτε ουν τα καισαρος καισαρι και τα του θεου τω θεω

http://en.wikipedia.org/wiki/Render_unto_Caesar...
wasabi
09-03-09, 02:24
Vầng, em hiêu rồi, cảm ơn hai bác lm2 và scojo nhiệt liệt!