Trịnh Hòa vs. Columbus

Martha Focker
17-06-05, 03:13
Bài này do một người quen của tớ viết dựa trên cuốn sách "1421: The year China discovered America" của Gavin Menzies. Bài viết thuộc dạng khoa học thường thức. Tuy hơi dài một tí nhưng đọc lý thú dù chưa biết độ chính xác đến đâu. Các bạn Tàu mà tớ quen đa số đều được nghe kể về các chuyến đi của Trịnh Hòa (dù đều nghe theo kiểu truyền kỳ là chính).

Bài gốc (có kèm hình vẽ và bản đồ minh họa) có thể download ở: http://www.megaupload.com/?d=056V6Z2A


-----------------------------

NGƯỜI TRUNG QUỐC KHÁM PHÁ THẾ GIỚI



Một giả thuyết khó tin.

Dân tộc Hán quả là có sức bành trướng và đồng hóa ghê gớm. Từ lưu vực sông Hoàng Hà, Trung Quốc qua mỗi triều đại đều không ngừng mở mang cương thổ ra nhiều phía. Nếu xem bản đồ Trung Quốc qua các thời kỳ, dễ có cảm giác là chỉ những rào cản địa lý mới có khả năng khống chế được quá trình bành trướng của quốc gia này.

Về phía Bắc, sa mạc Gô-bi và vùng thảo nguyên Mông Cổ cằn cỗi hẳn là tác nhân chính khiến người Hán chán nản không muốn tiến xa hơn nữa theo hướng này. Về phía Tây, họ gặm nhấm các quốc gia Tây Vực, ruổi theo những cồn cát mù mịt của sa mạc Tân Cương bao la và cuối cùng chỉ chịu dừng lại trước dải Thiên Sơn hùng vĩ. Về phía Tây Nam, họ trèo lên cao nguyên Thanh Tạng, đi đến kiệt cùng đầu nguồn của dòng Trường Giang và cũng chỉ có dãy Himalaya, nóc nhà của thế giới, mới ngăn được họ không “đổ đèo” xuống Nepal, Bangladesh và Ấn Độ. Theo hướng Nam bằng phẳng, người Hán dễ dàng đồng hóa Bách Việt, vượt dải Lĩnh Nam sang tận xứ Giao Chỉ ta. Có lẽ chỉ có cuộc đấu tranh giành độc lập can trường và lâu dài của tổ tiên ta, và cũng là do dãy Hoàng Liên Sơn hiểm yếu làm phên dậu, mới buộc được người Hán phải rút đi sau gần một ngàn năm duy trì ách đô hộ. Về phía Đông Bắc, họ “tích hợp” đất đai của Liêu, Kim, Mãn, chỉ chịu dừng chân ở bên dòng Áp lục, khi mà ngay bờ bên kia đã là một dãy núi cao sừng sững và một dân tộc Triều Tiên đầy kiêu hãnh.

Vậy hãy xem dân tộc này đã bành trướng được bao nhiêu theo hướng Đông? Hướng Đông không có núi chặn nhưng lại có biển cả. Cách duy nhất để đi tiếp theo hướng này là dong buồm ra khơi. Người Hán tới định cư được ở những đảo lớn gần đại lục như Đài Loan hoặc Hải Nam nhưng xa hơn nữa thì không. Đi biển chắc không phải là sở trường của họ. Một phần khác cũng là do nhà nước phong kiến Trung Quốc theo thuyết Khổng Nho với mô hình xã hội khép kín, thường có xu hướng hạn chế giao thương với bên ngoài. Nếu người Hán mà thạo nghề đi biển như nhiều dân tộc Châu Âu thì hẳn là họ sẽ phải có lãnh thổ hải ngoại rồi (chí ít thì cũng là quần đảo Philippines hay Nhật Bản chẳng hạn). Vì vậy sẽ là một điều khó tin nếu nói người Trung Hoa trước kia là những người thích chu du trên biển và giỏi nghề đi biển.

Ai là người đầu tiên từ cựu lục địa tới được châu Mỹ trong lịch sử cận đại? Christopher Columbus. Ai là người đầu tiên đi vòng qua mũi Hảo vọng? Bartolomeu Dias. Ai là người phát hiện ra eo biển Magellan? Tất nhiên phải là ông ấy rồi. Ai tìm ra châu Úc? Thuyền trưởng Willem Janszoon. Sách vở và mạng Internet cho chúng ta những câu trả lời “kinh điển” này. Vì vậy cũng thật là khó tin nếu nói rằng quyền sở hữu những phát kiến địa lý đó lại không thuộc về những cái tên kể trên.

Vậy mà có một người Anh, thuyền trưởng Gavin Menzies, lại kết hợp hai điều khó tin trên lại với nhau khi đưa ra giả thuyết: Chính người Trung Quốc, vào năm 1421-1423, có nghĩa là khá lâu trước các nhà hàng hải phương Tây, đã thực hiện một chuyến hải trình vĩ đại mà qua đó đã phát kiến tất cả các vùng lãnh thổ tân thế giới kể cả châu Nam Cực. Kết luận của ông được trình bày một cách tương đối khoa học và logic trong cuốn sách “1421: The year China discovered America”, do nhà xuất bản HapperCollins phát hành năm 2003. Giả thuyết này đã gây chấn động trong giới sử học quốc tế ngay khi được công bố. Có người ủng hộ, có người bài bác nhưng phần đông đều chưa cảm thấy bị thuyết phục. Tiếc là cho đến lúc này cơn địa chấn vẫn chưa lan xa hơn khỏi phạm vi ban đầu đó được là bao trong khi Menzies vẫn tiếp tục đi khắp thế giới tìm kiếm thêm các bằng chứng củng cố cho giả thuyết “oái oăm” của mình. Giống như số đông, chắc bạn cũng sẽ cảm thấy hoài nghi hoặc không tin vào giả thuyết của Menzies. Để giúp các bạn có được một nhận định khách quan hơn và cũng là để chia sẻ một cuốn sách hay, tôi sẽ cố gắng trình bày một cách cô đọng về những luận điểm của ông.



Những vùng đất bí ấn trên bản đồ.

Sự trùng khớp về toạ độ và hình dáng giữa một hòn đảo trên tấm bản đồ Pizzigano (vẽ năm 1424, tức là gần bảy mươi năm trước khi Columbus đặt chân tới khu vực Caribbe) (trên) và đảo Puerto Rico trên thực tế (dưới)

Tiền đề để Menzies xây dựng và chứng minh giả thuyết của mình là những vùng đất lạ xuất hiện trên một số tấm bản đồ thế giới do các nhà đồ bản châu Âu vẽ vào đầu thế kỷ XV. Khi so sánh với những tấm bản đồ hiện đại, ông đã thấy rằng mặc dù có nhiều khiếm khuyết nhưng nói chung chúng đều thể hiện với một độ chính xác đáng ngạc nhiên những lãnh thổ hay quần đảo có thực của Tân thế giới. Tuy nhiên, những tấm bản đồ này lại được vẽ ra hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm trước khi các nhà đi biển châu Âu thực sự đặt chân đến những nơi đó. Mặt khác, trong nhật ký hải hành của mình, Columbus hay một số nhà phát kiến địa lý người châu Âu khác cũng thường nhắc đến những tấm bản đồ mà họ có trong tay, những tấm bản đồ củng cố cho họ niềm tin là họ sẽ đến được...một nơi nào đó thậm chí trước cả khi tàu nhổ neo. Vậy đâu là căn cứ để các nhà đồ bản châu Âu đánh dấu trên bản đồ những mảnh đất thuộc các khu vực còn chưa được khám phá của thế giới vào thời kỳ đó? Chắc chắn họ không chỉ đơn thuần phóng tác theo trí tưởng tượng. Họ hẳn phải dựa trên một nguồn thông tin có độ tin cậy nhất định. Rất có thể, nguồn thông tin này đến từ những người đã thực sự hành trình đến những vùng đất đó, đã đo đạc và thám hiểm chúng. Và nguồn thông tin này chắc chắn phải đến từ một nơi nào đó ngoài châu Âu. Tại thời điểm đầu thế kỷ XV, liệu có quốc gia nào có đủ tiền của và nhân lực, kiến thức khoa học, có những con tàu tốt và có kinh nghiệm để thực hiện những chuyến đi ngoạn mục như vậy? Quốc gia duy nhất có thể, theo Menzies, là Trung Quốc.



Hạm đội của Trịnh Hoà và chuyến đi không được ghi lại trong sử sách.

Tam Bảo thái giám Trịnh Hoà Trịnh Hoà là thái giám dưới triều Minh Thành Tổ Chu Đệ. Ông là người gốc Mông Cổ sinh tại Côn Minh, Vân Nam vào cuối triều Nguyên. Gia đình ông theo đạo Hồi. Cha của ông đã từng hành hương đến thánh địa Mecca. Cùng với hàng ngàn thiếu niên Mông Nguyên khác, ông bị hoạn khi Côn Minh thất thủ vào tay quân Minh. Ông là một người rất cao lớn. Theo sách sử ông cao tới hơn 2 m và nặng hơn 100 kg. Sau khi trở thành thái giám, ông theo hầu Chu Đệ, lúc đó còn đang giữ chức Yên Vương. Là một chiến binh dũng cảm và có nhiều mưu lược, ông nhanh chóng trở thành một mưu sĩ thân cận nhất của Yên Vương. Năm 1402, Chu Đệ đảo chính lật đổ cháu gọi mình bằng chú là Kiến Văn đế (Chu Doãn Văn) và lên ngôi. Kiến Văn đế bỏ trốn. Chu Đệ rời đô từ Nam Kinh về Bắc Kinh. Bị ám ảnh rằng người cháu bị phế truất của mình một ngày nào đó có thể từ ngoại quốc quay lại báo thù, Chu Đệ quyết định xây dựng một hạm đội lớn để viếng thăm các quốc gia xa ngoài đại dương, phô trương sức mạnh đồng thời cũng để dò la tin tức của Kiến Văn đế. Trịnh Hoà, một người chưa từng đi biển, đã được phong làm đại đô đốc của hạm đội này.

Đây là một hạm đội lớn nhất trong lịch sử nhân loại cho đến thời điểm lúc đó. Thành phần chính của hạm đội là 250 tàu lớn đóng bằng gỗ tếch với chiều dài 146 m, chiều rộng 60 m, trọng tải hơn 2000 tấn. Chiếc tàu này lớn đến mức mà nếu xem nó như một chiếc bồn tắm, thì tàu Santa Maria, mà cùng với nó Columbus đã đi vào lịch sử, có kích thước không hơn một cái bô là mấy.

{còn tiếp}
Martha Focker
17-06-05, 03:14
Trong khoảng thời gian từ năm 1405 đến năm 1433, Trịnh Hoà cùng với hạm đội của mình thực hiện bảy chuyến hải trình, viếng thăm hơn 30 quốc gia khác nhau ở Đông Nam Á, Nam Á và Đông Phi. Theo các kết luận từ trước đến giờ, nơi xa nhất mà hạm đội này từng đặt chân tới là thành phố Mogadishu, thủ đô Somalia ngày nay (trong chuyến đi thứ năm). Tất nhiên Menzies không nghĩ như vậy.

Chuyến đi thứ sáu của hạm đội của Trịnh Hoà nhổ neo rời khỏi cảng Lưu Gia Hà, Tô Châu vào tháng 3 năm 1421. Một phần của hạm đội, do Trịnh Hoà trực tiếp chỉ huy, quay lại Trung Quốc ngay vào tháng 11 cùng năm, sau khi ghé một số nước trong khu vực Đông và Nam Á. Phần còn lại của hạm đội vẫn tiếp tục chuyến hải trình. Trong lúc họ lênh đênh trên đại dương thì đại cục ở Trung Quốc nhanh chóng thay đổi. Đêm 9/5/1421, Tử Cấm thành Bắc Kinh cháy rụi trong một trận hoả hoạn khủng khiếp. Dịch bệnh trong nước bùng phát. Quân Minh thua trận tại Việt nam (trước Lê Lợi), và sau đó là một cuộc chiến tranh tốn kém và không thu được thắng lợi với hoàng đế Mông Cổ Arughtai. Chu Đệ ốm chết năm 1424. Con trai ông là Chu Cao Chức lên nối ngôi, ngay lập tức ra lệnh đình chỉ mọi dự án hao tổn quốc khố, trong đó có dự án đóng thêm tàu mới.

Tháng Mười năm 1423, sau hai năm rưỡi long đong trên biển cả, lần lượt những con tàu còn sót lại của hạm đội cập cảng quê nhà. Thay vì được chào đón như những người anh hùng, họ bị đối xử hắt hủi. Năm 1425, Chu Cao Chức lâm bệnh chết, con trai ông là Chu Chiêm Cơ lên nối ngôi tiếp tục chính sách của cha, quay trở lại với mô hình xã hội trọng nông truyền thống. Triều đình cũng thi hành chính sách bế quan toả cảng, nghiêm cấm mọi hành vi giao thương với nước ngoài. Các chuyến đi của Trịnh Hoà bị xem như tiêu phí tài nguyên vật lực và không đem lại lợi ích gì. Thậm chí mọi tài liệu hải trình ghi chép về các chuyến đi của Trịnh Hoà cũng bị coi là mô tả những điều tà mị, dối trá và đều bị tiêu huỷ. Vậy là chuyến đi thứ sáu, chuyến đi dài ngày nhất của hạm đội Trịnh Hoà, đã không còn để lại dấu ấn gì trong lịch sử Trung Quốc. Liệu trong hai năm rưỡi đó, họ đã tới được những đâu?



Giả thuyết về đường đi của hạm đội.

Trong chuyến đi cuối cùng, hạm đội của Trịnh Hoà được chia thành 4 hạm đội nhỏ hơn. Hạm đội nhỏ nhất do Trịnh Hoà trực tiếp thống lĩnh. Các hạm đội còn lại lần lượt do các thái giám Hồng Bảo, Chu Mãnh và Chu Văn chỉ huy. Một hạm đội khác, xuất phát trước đó một tháng, do Dương Thanh chỉ huy. Các hạm đội đều đã tới Calicut (Calcutta, Ấn độ). Sự hiện diện của hạm đội lại đây vào năm 1421 đã được một người Ý tên là Niccolo da Conti, có mặt tại Calicut vào thời điểm đó ghi nhận trong tài liệu của mình. Sau đó Trịnh Hoà quay lại Trung Quốc. Các đô đốc còn lại tiếp tục vượt Ấn Độ Dương đến bờ biển phía Đông Châu Phi. Từng hạm đội riêng lẻ đã cập các cảng tại Mogadishu (Somalia ngày nay), Zanzibar và Kilwa (Tanzania ngày nay) và sau đó tập trung tại Sofala (gần Maputo, Mozambique). Các địa danh này được thể hiện trong phần còn sót lại của tấm bản đồ do Mao Côn vẽ trong khoảng năm 1422. Người ta không rõ nguyên bản đầy đủ của nó rộng bao nhiêu. Đây cũng là điểm cuối của chuyến hải trình còn được ghi nhận bằng văn bản tại Trung Quốc. Theo ước tính của Menzies, thời điểm hạm đội tập kết tại Sofala là tháng Bảy năm 1421. Như vậy là sau 4 tháng, hạm đội đã vượt được khoảng 16000 km trên biển. Họ vẫn còn tiếp tục tiến vào các vùng đại dương và lãnh thổ chưa được biết đến cho đến tận lúc quay lại Trung Quốc vào hai năm sau đó.

Bằng kiến thức hàng hải và 17 năm kinh nghiệm của một thuyền trưởng tàu ngầm hải quân Hoàng Gia Anh, các bằng chứng lịch sử, các di chỉ tại thực địa, Menzies đã dùng suy luận logic của mình để vẽ ra tương đối tường tận tuyến đường của chuyến hải hành.

Giả thuyết của Menzies và đường đi của các hạm đội

Chuyến hành trình vòng qua mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope).

Có một nhân tố mang tính khoa học mà những người phản bác lại giả thuyết của Gavin Menzies có thể sử dụng để chứng minh rằng trên thực tế hạm đội của Trịnh Hoà sẽ không thể đi xa hơn về phía Nam của Mogadishu, thủ đô Somalia ngày nay và cũng là mốc xa nhất có thể kiểm chứng được trong các sử liệu còn lại về chuyến đi. Đó là khi càng đi về phương Nam, sao Bắc Đẩu (Polaris), ngôi sao mà ngành hàng hải cổ đại Trung Quốc dùng để định hướng, sẽ càng dịch chuyển sát về phía đường chân trời. Tại vĩ độ 3o40’ Bắc, ngay phía Bắc của Mogadishu, ngôi sao này sẽ biến mất hẳn khỏi bầu trời. Khi đó người Trung Quốc sẽ không còn căn cứ để định vị trên biển nữa. Tuy nhiên, theo Menzies, yếu tố này không hề ngăn cản, mà ngược lại đã khích lệ những người Trung Quốc đi tiếp vào vùng đại dương xa lạ phương Nam để xác định một ngôi sao dẫn đường khác. Đây cũng là một trong các mục đích chính của chuyến thám hiểm.

Hạm đội đi dọc bờ biển Đông Phi, ghé vào một số cảng rồi tiếp tục xuôi dòng hải lưu Aghulas bám theo bờ biển phía Đông của Nam Phi. Vào khoảng tháng Tám năm 1421, hạm đội vòng qua mũi Hảo Vọng rồi bị cuốn vào dòng hải lưu Benguela, chuyển động theo một đường vòng kín ngược chiều kim đồng hồ trên vùng Nam Đại tây dương, ngược lên phía Bắc và dừng lại ở quần đảo Cape Verde ngày nay.

Bằng chứng được Menzies sử dụng để xác thực chuyến hành trình vòng qua mũi Hảo Vọng là một số bản đồ cổ. Trên tấm bản đồ thế giới do một người Ý có tên là Fra Mauro vẽ năm 1459, mũi Hảo Vọng được thể hiện rất chính xác dưới cái tên Cap de Diab. Điều này có nghĩa là Fra Mauro đã mô tả mũi Hảo Vọng khoảng 30 năm trước khi Bartolomeu Dias, người Châu Âu đầu tiên, đi vòng quanh mũi này. Trên tấm bản đồ, Fra Mauro thậm chí còn ghi chú rất cụ thể là vào khoảng năm 1420, “một con tầu lớn tới từ Ấn độ”, trong một “chuyến hành trình không nghỉ xuyên Ấn độ dương” đã vòng qua Cap de Diab và đi tới tận một nơi nào đó có tên là Isole Verde. Và bên cạnh lời ghi chú, Mauro vẽ một con tầu với các điểm đặc trưng của hạm đội Trịnh Hoà. Ngoài ra, Menzies cũng xem xét bản đồ Kangnido (niên đại sau năm 1420), là phiên bản sao chép và hiệu đính lại của tấm bản đồ thế giới do đại sứ Triều Tiên dâng tặng cho Minh Thành tổ Chu Đệ vào năm 1403. Trên tấm bản đồ vẽ ra 60 năm trước khi người phương Tây đầu tiên tới được Nam Phi này, toàn bộ Châu Phi đã được thể hiện với đầy đủ các bờ biển phía Đông, Tây và Nam. Điểm khiếm khuyết lớn nhất của bản đồ Kangnido là nó không thể hiện vùng sừng châu Phi (xem hình). Menzies lý giải rằng, do không xác định được kinh độ, người Trung Quốc đã không nhận thấy rằng hạm đội của họ trên thực tế đã bị dòng hải lưu Nam Xích đạo cuốn sang phía Tây tới 2900 km khi họ đi quanh vùng sừng châu Phi. Nếu tiến hành căn chỉnh kinh độ theo số liệu này, bờ biển châu Phi trên tấm bản đồ Kangnido đã trở nên rất gần với thực tế (xem hình).

Còn bằng chứng cho việc đổ bộ của hạm đội lên quần đảo Cape Verde (Mũi Xanh lá cây) là một di tích, một tảng đá lớn nằm đơn độc trên bờ biến Janela của quần đảo. Những người châu Âu đã phát hiện ra nó khi lần đầu đặt chân đến đây. Tảng đá được người địa phương gọi là Pedra do Letreiro (Bức thư trên đá). Nó cao khoảng 3 mét và chạm kín một loại văn tự cổ. Theo những khảo cứu của Menzies thì văn tự cổ này rất có thể là ngôn ngữ Malayalam, một ngôn ngữ phổ biến tại Calicut vào thế kỷ XV. Điều này, theo Menzies, chứng tỏ rằng những con tầu lớn từ Calicut đã đến được Cape Verde đúng như ghi chú của Fra Mauro. Và chúng hẳn nhiên phải là hạm đội Trung Quốc vì trước đó những con tàu này đã cập cảng Calicut. Nhưng thật khó hiểu là tại sao, khi để lại dấu ấn của mình trên tảng đá, người Trung Quốc đã không dùng chữ Hán mà lại dùng ngôn ngữ Malayalam? Ngay cả việc kết luận văn tự này là tiếng Malayalam cũng mới chỉ đơn thuần dựa vào sự phỏng đoán của Ngân hàng Ấn độ [nguyên văn] chứ không phải là một kết luận khoa học. Điều này thì Menzies không lý giải.



Tìm ra eo biển Magellan.

Sau khi tích luỹ đủ lương thực và nước ngọt tại một địa điểm mà ngày nay là Santo Antão thuộc Cape Verde, hạm đội lớn Trung Quốc bắt đầu có sự phân rã. Hạm đội nhỏ của Chu Văn dong buồm đi về phía tây bắc theo dòng hải lưu bắc xích đạo, rồi tiến vào vùng biển Caribbe. Còn Chu Mãnh và Hồng Bảo cùng với thuỷ thủ và các con tàu của họ đi tiếp về hướng Tây Nam. Trước hết chúng ta hãy cùng Menzies theo chân hạm đội của Chu Mãnh và Hồng Bảo.

{còn tiếp}
Martha Focker
17-06-05, 03:14
Tấm bản đồ Piri Reis

Một trong những căn cứ cho giả thuyết của Menzies về chuyến hành trình của Hồng Bảo và Chu Mãnh là tấm bản đồ vẽ vào khoảng năm 1513 mang tên Piri Reis, vị đô đốc nổi tiếng của đế quốc Ottoman. Tấm bản đồ này sao chép và tổng hợp lại nhiều tấm bản đồ được vẽ trước nó. Phần tây nam của Piri Reis mô tả khá chi tiết và chính xác bờ biển Nam Mỹ không chỉ về mặt đia lý mà còn bằng cả hình minh hoạ về những loài động thực vật và ghi chú về những đặc điểm khí hậu đặc trưng cho lục địa này. Menzies cho rằng phần này vẽ theo tấm bản đồ mà người Ottoman đoạt được từ một viên thuyền trưởng từng tham gia thuỷ thủ đoàn của Columbus trong chuyến đi khám phá ra châu Mỹ. Bản đồ viên thuyền trưởng này sở hữu từng được chính Columbus sử dụng và là bản sao của một tấm bản đồ thế giới khác có niên đại 1428, một bảo vật bị thất lạc của triều đình Lisbon. Nếu đem xâu chuỗi tất cả những mắt xích trên lại với nhau, ta có thể thấy rằng bản đồ Piri Reis (niên đại 1513) đã mô tả lục địa Nam Mỹ theo những thông tin của năm 1428, tức là rất lâu trước chuyến đi của Columbus (1492) và rất sát với chuyến đi của hạm đội Trịnh Hoà (1421).

Quay lại với chuyến đi của những người Trung Quốc. Khoảng ba tuần sau khi rời khỏi quần đảo Cape Verde, bờ biển Nam Mỹ bắt đầu hiện ra trong tầm nhìn của hạm đội của Hồng Bảo và Chu Mãnh. Họ đổ bộ lên vùng châu thổ Orinoco (nay thuộc Venezuela) và sau đó là vùng đất Cabo Blanco (nay thuộc Brazil). Những phân tích DNA và nghiên cứu về một số bệnh liên quan đến da của người da đỏ châu Mỹ cho thấy trong họ tồn tại những đặc điểm di truyền chỉ có ở người Trung Quốc và Đông Nam Á.

Sau mỗi chặng dừng chân để tích trữ lương thực và nước ngọt, hạm đội châu báu lại lên đường tiếp tục cuộc hành trình về phương Nam với mục tiêu tối thượng là tìm ra được một lối đi thông từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Họ đã thành công khi phát kiến ra eo biển Magellan, khoảng gần một thế kỷ trước khi nhà hàng hải nổi tiếng đó đặt chân đến đây. Menzies đi đến kết luận này vì tấm bản đồ Piri Reis, mặc dù ra đời trước chuyến đi của Magellan, đã thể hiện được vùng Patagonia và Đảo đất lửa (Tierra del Fuego) nằm lân cận eo biển này. Phác hoạ đó chắc chắn không thể là của Columbus, vì ông này chưa từng đặt chân xuống nam bán cầu. Nó chỉ có thể là sự sao chép dựa theo tấm bản đồ thế giới năm 1428. Nếu xét đến khối lượng công việc trắc đạc khổng lồ cần bỏ ra để vẽ được diện tích lục địa lớn như vậy thì đến lượt mình, tấm bản đồ năm 1428 hẳn phải bắt nguồn từ các kết quả ghi chép người Trung Quốc trong hạm đội châu báu.

Nếu đúng là những người đi biển Trung Quốc đang tìm kiếm một ngôi sao khả dĩ giúp họ định vị ở Nam bán cầu (tương tự như sao Bắc Đẩu ở Bắc bán cầu) thì họ đã đạt được mục tiêu khi dừng chân ở quần đảo Falklands (hay Manvinas theo cách gọi của người Argentina). Khi ở trên quần đảo này, sao Canopus, một ngôi sao rất sáng trên bầu trời, sẽ ở thẳng ngay trên đỉnh đầu họ. Tại vị trí này, cách Bắc Kinh 179o hay gần đúng nửa vòng trái đất, các hoa tiêu Trung Quốc đã có thể sử dụng sao Canopus, chính tinh của chòm sống thuyền (Carina) và chòm Thập tự nam (Southern Cross) để tính toán toạ độ.

Sau khi vượt qua eo biển Magellan hai hạm đội của Chu Mãnh và Hồng Bảo tách ra đi theo hai hướng khác nhau. Hạm đội của Hồng Bảo đi về phía Nam, trong khi hạm đội của Chu Mãnh đi lên phía Bắc theo bờ biển phía Tây của lục địa Nam Mỹ. Chúng ta hãy lần lượt theo dõi chuyến hành trình của hai hạm đội này.

{còn tiếp}
Martha Focker
17-06-05, 03:17
Hành trình của hạm đội Hồng Bảo.

Dù đã xác định được vị trí của Canopus trên bầu trời, những người Trung Quốc vẫn cần phải xác định được vị trí của ngôi sao này so với điểm Nam cực và vì vậy họ cũng cần định vị chính Nam cực. Đấy là lý do tại sao hạm đội dũng cảm của Hồng Bảo lại dong buồm tiến vào vùng khí hậu băng giá và khắc nghiệt ở phương Nam. Căn cứ vào vị trí những hòn đảo được thể hiện trên bản đồ Piri Reis, Menzies cho rằng Hồng Bảo và thuỷ thủ đoàn của ông đã tới được dải đất Graham Land, địa đầu của Nam cực vào khoảng tháng Giêng năm 1422. Hạm đội đã đổ bộ lên đảo Deception (thuộc quần đảo South Shetland), địa điểm mà sao Crucis Alpha, ngôi chính tinh của chòm Thập tự nam nằm thẳng trên đỉnh đầu. Dựa vào điểm định vị này, kết hợp với toạ độ của Canopus, các hoa tiêu Trung Hoa tính toán được vị trí chính xác của Nam cực mà không cần phải thực sự đặt chân đến đó. Rời quần đảo Shetland, hạm đội xuôi gió đi về phía Đông. Hạm đội đã phát kiến ra quần đảo Kerguelen (được thể hiện trong tấm bản đồ của Mao Côn có niên đại là 1422 dưới cái tên Ha-bu-er). Rời quần đảo Kerguelen đi tiếp theo hướng đông, sóng lớn đã lái họ vào bờ biển phía Tây của Châu Úc. Nếu đúng như vậy thì người Trung Quốc đã đến được lục địa này trước Abel Tasman hai thế kỷ. Hạm đội đổ bộ lên đất liền tại Bunbury, một địa điểm nằm cách thành phố Perth ở Tây Úc ngày nay khoảng một trăm dặm về phía Nam. Sau khi rời Bunbury, Hồng Bảo cùng với phần lớn hạm đội quay lại Trung Quốc. Trên đường về họ đã đi vòng quanh đảo Sumatra, cập cảng Malacca, sau đó vượt biển Nam Trung Hoa tới phía Tây quần đảo Philippines trước khi quay lại hải cảng quê nhà vào ngày 22 tháng 10 năm 1423.

Đô đốc Hồng Bảo cũng cắt cử một số tàu men theo bờ biển nam Úc để thực hiện công việc trắc đạc. Ba chiếc tàu đã bị đắm trong chuyến hành trình này. Năm 1836, người ta đã tìm thấy phần còn lại của thân một con tàu bị đắm ở cửa sông Merri, bang Victoria. Theo lời kể của các nhân chứng, con tàu được đóng bằng gỗ magohany, một tên chung để chỉ các loại gỗ cứng màu nâu sẫm. Ở châu Âu không tồn tại loại gỗ có mầu sắc như vậy. Nhưng đó chính là màu của gỗ tếch, nguyên liệu để đóng các con tàu của hạm đội châu báu. Menzies hy vọng rằng việc áp dụng phương pháp tính niên đại bằng đồng vị carbon sẽ chứng minh rằng đây chính là xác của một con tàu trong hạm đội của Hồng Bảo.



Hành trình của hạm đội Chu Mãnh.

Chia tay với hạm đội của Hồng Bảo sau khi tiến vào vùng biển Nam Thái Bình Dương từ eo Magellan, hạm đội của Chu Mãnh trực chỉ phương Bắc dưới tác dụng của dòng hải lưu lạnh Humboldt. Hình ảnh của dãy Andes trên bản đồ Piri Reis chứng tỏ rằng Chu Mãnh và những người đồng hành đã đi dọc theo bờ biển Chile. Theo Menzies, những người Trung Hoa thậm chí đã giao lưu với nền văn minh Inca ở châu Mỹ khi họ có lên bờ tại một địa điểm ngày nay thuộc Peru. Menzies đã phát hiện thấy những sự khác biệt thú vị khi so sánh danh sách các cống vật mà hạm đội của Trịnh Hoà đã mang về từ các xứ sở xa xôi được liệt kê trong cuốn tiểu thuyết “Tây Dương ký” với sử liệu chính thống của sử quan Mã Hoàn, một người chưa bao giờ đi quá các nước trong khu vực Ấn độ dương. Tiểu thuyết “Tây dương ký” đã nhắc tới các sản phẩm đồ gốm tinh xảo có thể chuyển thành trạng thái bóng mờ khi đổ nước vào. Ở vào giai đoạn đó chỉ có những người da đỏ Aztec ở vùng Cholula (nay thuộc Mexico) là có thể sản xuất được loại đồ gốm siêu mỏng này. Rất có thể loại đồ gốm này được đưa tới Nam Mỹ và đã được người Incas ở Peru dùng làm sản vật để trao đổi với thuỷ thủ Trung Quốc. Xét thêm một bằng chứng khác. Trong bức thư gửi về cho hoàng đế Tây Ban Nha, Don Luis Arias, vị đặc sứ được cử tới Nam Mỹ vào thế kỷ 16 đã nhắc tới truyền thuyết về “những người có nước da sáng...và mặc quần áo bằng vải dệt mầu trắng” đã vượt biển Thái Bình Dương từ Chile trước khi người Âu đặt chân tới đây.
Sau khi rời Peru, dòng hải lưu xích đạo đưa hạm đội của Chu Mãnh đi về phía Tây vào hải phận Thái Bình Dương. Họ đã dừng lại ở quần đảo Samoa nơi dòng hải lưu này phân thành hai luồng. Có những bằng chứng rõ ràng rằng hạm đội của Chu Mãnh cũng đã tách làm đôi tại đây. Hạm đội bắc đã xây dựng một số kết cấu nhằm phục vụ cho mục đích quan trắc trên đảo Kiribati trong quần đảo Carolines. Năm kết cấu tương tự như vậy cũng được tìm thấy ở New Guinea. Các kết cấu này có hình kim tự tháp chóp cụt theo dạng bậc thang tương tự như ở Trung Quốc. Còn hạm đội nam thì đi qua các quần đảo Marquesas, Tuomotu, đảo Norfolk và cũng để lại ở đó những chòi quan trắc. Vẫn dưới sự định hướng của dòng hải lưu, hạm đội nam đã cập vào bờ biển phía Đông Châu Úc tại một địa điểm mà ngày nay là thành phố Newcastle. Họ đã xây dựng một pháo đài bằng gỗ và đá mà những người định cư da trắng đầu tiên tại New South Wales đã phát hiện ra vào những năm 40 của thế kỷ 19. Sau đó họ còn tiếp tục đi xa hơn xuống phía nam tới tận đảo Campbell. Tại đây một chiếc tàu của hạm đội bị đắm. Trên đường trở về từ đảo Campbell, hạm đội mất thêm hai chiếc tàu nữa tại vùng biển New Zealand và sau đó là bốn chiếc trên đường quay lại Brisbane. Tại vịnh Byron, người ta đã trục vớt được một xác tàu đắm với màu gỗ nâu sẫm và bánh lái có kích thước rất lớn. Những điểm này có vẻ khớp với các đặc trưng của một con tàu trong hạm đội châu báu. Hạm đội cũng đổ bộ lên đất liền tại Gympie để khai thác vàng và antimon. Tiếp tục đi lên phía bắc, hạm đội tách thành hai nhóm và đi theo hai phía của rặng san hô Great Barrier. Như vậy, họ đã đến đó khoảng 250 năm trước thuyền trưởng James Cook. Họ còn tiếp tục dừng chân tại Arnhem Land, đưa ngựa lên bờ để khai thác quặng chì và uranium.
Sau khi rời lục địa Úc, hạm đội của Chu Mãnh ghé vào quần đảo Spice để trao đổi sản vật với người địa phương. Hạm đội đã thu mua một khối lượng hồ tiêu rất lớn để mang về Trung Quốc. Sử triều Minh cũng ghi nhận sự “dư thừa” hồ tiêu trong quốc khố ở thời kỳ này khi mà vào năm 1424, hoàng đế mới lên ngôi Chu Cao Chức đã quyết định phát không cho mỗi đầu người tại Bắc Kinh một cân Trung Hoa (khoảng 0.5 kg) hồ tiêu. Theo ước đoán của Menzies, chỉ riêng khối lượng hồ tiêu bỏ ra cho mục đích này đã phải lên tới 1500 tấn.
Sau khi rời khỏi quần đảo Spice và tiến vào vùng biển Philippines, nơi chỉ còn cách quê nhà dưới một ngàn dặm, Chu Mãnh đã đưa ra một quyết định vô cùng táo bạo và dũng cảm. Thay vì đi theo hướng Bắc để trở về Trung Quốc, ông ra lệnh cho hạm đội chuyển hướng Đông Bắc theo dòng hải lưu Kuroshio và một lần nữa tiến vào vùng biển Thái Bình Dương. Dòng hải lưu này sẽ đưa hạm đội của Chu Mãnh tới bờ biển Canada. Khi tới được khu vực này, dưới tác động của dòng hải lưu California, hạm đội sẽ xuôi dọc theo bờ biển nước Mỹ và Panama và tại đây các con tàu sẽ gặp dòng hải lưu bắc xích đạo. Dòng hải lưu này sẽ đẩy những con tàu theo hướng Tây, vượt qua Thái Bình Dương và quay lại vùng biển Philippines. Toàn bộ vòng tuần hoàn hình oval theo chiều kim đồng hồ của khu vực Bắc Thái Bình Dương đó có tổng chiều dài khoảng 26000 km. Với vận tốc trung bình của hạm đội là gần 9 km/h, hạm đội sẽ phải mất khoảng 4 tháng cho chuyến hải trình này. Theo tính toán của Menzies, nếu giả thiết hạm đội của Chu Mãnh rời khỏi Darwin (Bắc Úc) vào đầu mùa mưa (cuối tháng 4), thì vào khoảng đầu tháng 6 họ sẽ tiến vào Thái Bình Dương. Và sau 4 tháng, trùng khớp với thực tế, hạm đội đã về tới Nam Kinh vào ngày 8 tháng 10 năm 1923.

{còn tiếp}
Martha Focker
17-06-05, 03:18
Để phác thảo tuyến đường của hạm đội dọc theo bờ biển Bắc Mỹ, Menzies dựa vào tấm bản đồ thế giới Waldseemuller. Tấm bản đồ này có niên đại vào năm 1507 và là tấm bản đồ sớm nhất thể hiện các đường kinh tuyến và vĩ tuyến. Nó cũng là tấm bản đồ sớm nhất thể hiện bờ biển phía Tây của lục địa Bắc Mỹ, thậm chí trước cả khi người Châu Âu đầu tiên, Hernando de Alarcón, thực hiện chuyến hải trình dọc theo bờ biển này từ Acapulco (Mexico) tới bán đảo California vào năm 1540. Theo Menzies, sự tồn tại của một tấm bản đồ vẽ bờ biển phía Tây của Bắc Mỹ trước chuyến đi của de Alarcón đã chứng minh rằng có những người khác đã đặt chân đến đây trước ông ta. Nếu căn cứ trên vĩ độ thể hiện trên tấm bản đồ Waldseemuller, thì phần bờ biển phía Tây châu Bắc Mỹ được thể hiện là từ đảo Vancouver, thuộc Canada tới Ecuador, trùng với quãng đường mà một đội tàu xuôi theo hướng Bắc Nam sẽ phải đi qua. Tuy nhiên Menzies đã không lý giải được sự khiếm khuyết nghiêm trọng về mặt kinh độ của tấm bản đồ Waldseemuller. Trên tấm bản đồ này lục địa Bắc Mỹ trông dẹt như một lưỡi mở đồ hộp trong bộ dao xếp Thụy Sĩ.
Theo Menzies, tuy hạm đội của Chu Mãnh không dừng lại khi đi dọc theo Bắc Mỹ, nhưng tại nhiều địa điểm, Chu Mãnh đã cử những hải đội nhỏ cập vào bờ. Có rất nhiều dấu tích và minh chứng cho sự hiện diện của người Trung Quốc, và rất có thể là của hạm đội Chu Mãnh, tại lục địa Bắc Mỹ. Gần bãi biển Neahkahnie thuộc bang Oregon, Mỹ, người ta đã vớt được một số mảnh tàu đắm. Trong đó có những mảnh làm bằng gỗ tếch với cột buồm lớn làm bằng một loại gỗ chỉ có ở Đông Nam Á. Người ta cũng tìm được dấu tích của sáp nến trên xác tàu đắm, hợp chất vẫn được hạm đội Trịnh Hòa dùng để khử muối khỏi nước biển để lấy nước cho ngựa uống. Nếu phương pháp đồng vị carbon cho thấy niên đại của con tàu đúng là vào thế kỷ XV thì đây sẽ là bằng chứng xác đáng về sự có mặt của hạm đội Chu Mãnh tại vùng biển này. Một hải đội khác cũng đổ bộ vào khu vực cửa sông Sacramento, California và rất có thể đã tạo dựng tại đây cộng đồng dân cư trồng lúa sớm nhất ở Bắc Mỹ. Người ta cũng đã phát hiện ra một xác tàu với kích thước tương tự như những con tàu Trung Quốc bên bờ sông Sacramento và niên đại của nó được giám định là vào khoảng năm 1410. Cũng tại di chỉ này, người ta còn thấy cả một số loại hạt giống và những loại gỗ đã được xác định là thuộc về Trung Quốc.

Một hải đội khác được gửi vào bờ tại khu vực Uruapan, thuộc Mexico, và tại đây họ đã giao lưu với nền văn minh Maya. Họ truyền đạt cho người Maya kỹ nghệ sơn mài, nhuộm và tiến hành trao đổi sản vật. Người da đỏ ở Mexico gọi giống gà có nguồn gốc châu Á nhưng đã được nuôi ở lục địa Bắc Mỹ từ thời kỳ tiền Columbus là Keh hay Ki rất giống với cách phát âm của người Trung Quốc là Ji. Ngược lại, họ cũng lấy từ người Maya một số sản vật và nông sản, trong đó có một giống ngô đặc trưng cho Châu Mỹ (maize) và mang nó tới Philippines. Magellan, trong chuyến đi vòng quanh thế giới của mình, đã rất ngạc nhiên khi thấy maize được gieo trồng tại Philippines.

Một bằng chứng khác Menzies đưa ra là bức tranh mang tên “Tấm vải lanh Jacutácato”, được tìm thấy vào thế kỷ 19 tại ngôi làng cùng tên tại vùng Guadalajara, Mexico. Trên bức tranh có một số hình ảnh đáng chú ý như sau: Con chó với hình dáng, kích thước và cái đuôi đặc trưng cho nòi chó săn Shar-pei ở Quảng Đông Trung Quốc; người cưỡi ngựa, loài động vật không hề tồn tại ở châu Mỹ trước khi được người Tây Ban Nha đưa tới; một người đàn ông mặc áo choàng dài màu đỏ cầm những tấm gương tròn với mặt sau chia thành tám cung, dường như phản ánh thuyết luân hồi của đạo Phật.
Tại đảo Pandanan thuộc Philippines, người ta cũng tìm thấy xác tàu với cùng kích thước như con tàu tìm thấy ở cửa sông Sacramento, và cũng có cùng niên đại 1410 theo phép giám định đồng vị carbon. Tất nhiên nó rất giống với những con tàu trong hạm đội châu báu. Rất có thể đây là một con tàu của Chu Mãnh đã bị đắm trong một cơn bão lốc bất ngờ trên đường quay về từ Bắc Mỹ. Trên con tàu này người ta tìm thấy 4722 đồ vật có xuất xứ từ nhiều quốc gia khác nhau. Đó là hạt giống của giống ngô maize, một loài thực vật đặc trưng cho Trung Mỹ, đồ sứ từ Trung Quốc, Việt nam, ba chiếc trống đồng Đông Sơn và đặc biệt là một loại đồ gốm mỏng như vỏ trứng, rất có thể có xuất xứ từ vùng Cholula, Mexico.

{còn tiếp}
Martha Focker
17-06-05, 03:19
Hành trình của hạm đội Chu Văn.

Một thời gian ngắn sau khi tách khỏi hạm đội lớn ở Cape Verde, những con tầu của Chu Văn đã phải đối mặt với một trận bão mạnh tại vùng biển Puerto Rico. Trận bão đã làm nhiều con tàu trong hạm đội trở nên tàn tạ. Chu Văn buộc phải cho hạm đội dừng lại ở đảo Bimini, ngoài khơi Florida để sửa chữa những chiếc bị hư hỏng nặng nhất. Chín chiếc khác đã bị đắm xung quanh khu vực này.

Năm 1968, người ta đã phát hiện ra một kè đá nhân tạo dài khoảng 360 m, rộng khoảng 60 m, nằm sâu dưới mặt nước khoảng 3 m trong khu vực vịnh Bimini, cách bờ khoảng hơn 900 m. Bề mặt trên của kè là những đá tảng đá vôi lớn, phẳng, khá vuông vức được ghép với nhau một cách rất hoàn chỉnh. Có nhiều giả thuyết về tác giả và ý nghĩa của công trình đồ sộ này, kể cả những giả thuyết kỳ cục như đó là những cây cột bị đổ của một ngôi đến thiêng do nền văn minh Atlante, đã bị hủy diệt từ lâu, dựng lên vào khoảng năm thứ 28000 trước công nguyên với sự trợ giúp của người ngoài hành tinh đến từ chòm sao Pleiades.

Còn theo Menzies, kè đá này chính là đường trượt (slipway) do hạm đội của Chu Văn xây dựng để kích nâng và hạ thủy các các con tàu trước và sau khi tiến hành sửa chữa chúng. Giả thuyết của Menzies cũng giúp lý giải được tại sao những tảng đá lớn hình khối chữ nhật dùng để xây kè lại không có nguồn gốc từ chính đảo Bimini. Vì chúng là các khối đá gia trọng để giữ thăng bằng cho các con tàu Trung Quốc, vốn được khai thác từ lưu vực sông Dương Tử. Sau khi sửa chữa, hạm đội tiếp tục cuộc hành trình. Tuy nhiên họ buộc phải bỏ lại một số người trên các hòn đảo do không còn đủ chỗ trên những con tàu còn sót lại. Rất có thể những người này tìm cách tới được đảo Cuba hay Florida. Và nếu đúng như vậy thì nó sẽ giải thích được nguồn gốc của “ba người có nước da sáng mặc áo trắng dài tới đầu gối” đi cùng với những người Anh-điêng mà các thủy thủ của Columbus 70 năm sau (1494) đã trông thấy khi đổ bộ lên bờ biển Cuba. Họ chính là hậu duệ của những người Trung Quốc trong hạm đội của Chu Văn. Sau khi nghe thuộc hạ của mình mô tả, chính Columbus khi đó cũng đã kết luận rằng họ là người Mangon (Trung Quốc) và vì vậy tin rằng mình đã tới châu Á.

Hạm đội của Chu Văn đi dọc bờ biển miền Đông nước Mỹ và đổ bộ lên đất liền tại một địa điểm thuộc tiểu bang Rhode Island ngày nay. Vào năm 1524, Giovanni de Verrazzano, người châu Âu đầu tiên đặt chân tới miền đất này đã mô tả về một cộng đồng dân cư địa phương có màu da sáng và trình độ văn minh cao hơn hẳn những bộ tộc da đỏ ông gặp ở phía Nam. Phụ nữ của họ tóc búi cao, dùng hương liệu, đeo đồ trang sức và có cách ăn mặc giống với những người phương Đông ở Ai cập hay Syria. Những mô tả trên của ông vẫn sẽ đúng nếu đem áp dụng cho người Trung Quốc. Trên thực tế người Ả rập cổ đại chưa bao giờ đi tới Đại tây dương và phụ nữ của họ cũng không bao giờ tham gia vào chuyến du hành. Còn trong hạm đội của Trịnh Hòa thì có rất nhiều tì nữ. Rất có thể cộng đồng mà Verrazzano gặp gỡ là con cháu của nhóm người mà hạm đội của Chu Văn phải tiếp tục bỏ lại tại Bắc Mỹ do không còn đủ lương thực dự trữ trên các con tàu với lời hứa là một ngày nào đó, một hạm đội khác sẽ tới đưa họ trở về cố quốc. Menzies cũng nhắc tới một tháp hải đăng xây bằng đá không rõ nguồn gốc tại một vách núi ở Newport, Rhode Island. Có nhiều người cho rằng tháp hải đăng này có niên đại tiền Columbus. Theo Menzies, hình dáng của nó rất tương đồng với tháp hải đăng được xây dựng dưới triều đại Nam Tống (960 – 1279) tại cảng Tuyền Châu, Phúc Kiến, Trung Quốc.

Bản đồ Vinland (1420 – 1440) với hình ảnh chính xác của Newfoundland, Greenland và Iceland. Nhiều người cho bản đồ này là giả mạo

Hạm đội kiệt quệ của Chu Văn cuối cùng cũng quyết định quay về Trung Quốc. Tuy nhiên trên vùng biển băng giá và lạnh lẽo của Bắc Đại Tây Dương, nơi dòng hải lưu lạnh Gulf Stream phân làm hai luồng ở ngoài khơi đảo Newfoundland, hạm đội của Chu Văn đã phân chia làm hai. Một phần của hạm đội xuôi theo luồng phía Đông, đi qua quần đảo Azores, một địa danh được thể hiện trên tấm bản đồ Kangnido, sau đó quay trở lại Cape Verde. Họ sẽ về Trung Quốc qua ngả Ấn độ dương. Phần còn lại của hạm đội theo luồng hải lưu phụ Irminger tiếp tục đi lên phía Bắc. Dòng hải lưu này sẽ đưa hạm đội tới được đảo Greenland, đi vòng quanh hòn đảo từ Tây sang Đông khi mà vào thời điểm đó băng còn chưa phủ kín vùng biển phía Bắc hòn đảo. Những người thuỷ thủ Trung Quốc đã thực hiện một chuyến hành trình đầy nỗ lực nhằm xác định vị trí tuyệt đối của Bắc Cực so với vị trí của sao Bắc Đẩu trên bầu trời. Dấu ấn của chuyến đi này, theo Menzies, được phản ánh trên hai tấm bản đồ Cantino (niên đại 1502) và Vinland (niên đại 1420 – 1440).
Tấm bản đồ Vinland thể hiện Newfoundland, Labrador và toàn bộ đảo Greenland với độ chi tiết và chính xác rất cao. Nếu bản đồ Vinland là nguyên bản thì nó đã chứng tỏ rằng ai đó, rất có thể là người Trung Quốc, đã đặt chân tới một địa điểm nằm cách Bắc Cực chưa đầy 300 km vào bốn thế kỷ trước chuyến thám hiểm đầu tiên của người Châu Âu tới vòng cực Bắc ở vĩ độ này. Sử triều Minh cũng có những ghi nhận rằng người Trung Quốc đã thực sự đặt chân tới Bắc Cực. Nếu đúng như vậy thì họ đã làm được điều này trước người châu Âu tới 5 thế kỷ.

Sau khi rời khỏi Greenland, gió và dòng chảy sẽ đưa hạm đội của Chu Văn về phía đảo Iceland. Một bằng chứng rất có giá trị mà Menzies dẫn ra ở đây là bút tích của Columbus tóm tắt lại chuyến đi năm 1477 của ông tới bờ biển Greenland và Iceland. Ông viết: “Những người Cathay [từ cổ để chỉ người Trung Quốc] ở Phương Đông đã tới đây [Iceland] từ trước”.
Tuyến đường về nhà của họ tại vĩ độ rất cao ở phía Bắc men theo bờ biển Bắc Băng Dương phía Bắc lục địa Nga ngày nay và vòng qua eo Bering còn giúp giải mã một điều bí ẩn khác của tấm bản đồ Waldseemuller (niên đại 1507). Tấm bản đồ này thể hiện rất cụ thể bờ biển Bắc Siberia từ biển Bạch Hải ở phía Tây tới bán đảo Chukchi và eo Bering ở phía Đông với các đảo và cửa sông. Nếu không phải là người Trung Quốc thì liệu ai có thể khảo sát và đo đạc được một chiều dài bờ biển lớn đến như vậy? Phải ba thế kỷ sau, người Châu Âu mới “chính thức” khám phá ra khu vực này. Chuyến thám hiểm đầu tiên của người Nga tại Sebiria cũng chỉ được thực hiện hai thế kỷ sau đó, và tấm bản đồ nước Nga đầu tiên phải đến tận thế kỷ 19 mới xuất hiện.

{còn tiếp}
Martha Focker
17-06-05, 03:19
Một vài suy nghĩ của người viết.

Cuốn sách của Menzies thực sự là một công trình nghiên cứu mang tính đột phá dù nó vẫn còn đang tiếp tục được chính tác giả hoàn thiện. Cuốn sách đã giải đáp được một số điều bí ẩn và đưa ra ánh sáng nhiều khoảng tối của lịch sử nhân loại. Tóm tắt trong vòng vài trang một cuốn sách mang tính nghiên cứu dày hơn 500 trang quả thực là một việc không đơn giản. Nếu tôi chỉ đơn thuần đưa ra kết luận của Menzies mà không trình bày các dẫn chứng của ông thì người đọc sẽ không thể hiểu được tại sao ông lại lập luận như vậy. Ngược lại nếu sa đà vào việc giải thích tỉ mỉ các dẫn chứng thì bài viết hoặc sẽ rất dài, hoặc sẽ bị cắt vụn và người đọc sẽ rất khó lĩnh hội được giả thuyết của ông một cách tổng thể. Những dẫn chứng tôi đưa vào bài viết này là theo chọn lọc của riêng tôi và vì thế chắc chắn nó sẽ không thể chuyển tải được đủ sức thuyết phục như nguyên bản cuốn sách. Tôi cũng bỏ qua phần viết về chuyến đi của hạm đội của Dương Thanh vì chuyến đi này không có những phát kiến địa lý có giá trị. Cá nhân tôi, mặc dù rất khâm phục Menzies và cũng nhiều đoạn bị lý luận của ông thuyết phục, tôi vẫn thấy một số khiếm khuyết trong giả thuyết của ông. Đó là:

1. Tại sao một nền văn minh vĩ đại như Trung Quốc, với thói quen ghi chép lịch sử vô cùng tỉ mỉ và kỹ lưỡng, khi thực hiện một chuyến đi vĩ đại như vậy lại không để lại bất cứ một văn bản hay sử liệu dạng văn bản nào (văn bia, chạm khắc trên vách đá) tại Trung Quốc cũng như trên toàn bộ tuyến đường đi của mình. Menzies có giải thích rằng ghi chép của những nhà hàng hải đã bị các hoàng đế nhà Minh ra lệnh tiêu huỷ nhưng như vậy chưa đủ sức thuyết phục. Nếu văn bia nói về các chuyến đi của hạm đội Trịnh Hoà còn có thể tìm được ở Sri Lanka và Minh sử vẫn còn ghi nhận rất rõ ràng về các chuyến đi của hạm đội tới tận Mogadishu (Somalia) thì tại sao phần còn lại của cuộc hành trình lại biến mất gần như hoàn toàn như vậy?

2. Lập luận của Menzies phần lớn dựa trên niên đại của các tấm bản đồ thế giới mà theo ông là tồn tại trước khi những người Âu thực sự đặt chân đến những địa điểm được vẽ trên bản đồ. Ngay cả nếu đúng thì điều này cũng không đảm bảo rằng những thông tin mà các nhà đồ bản châu Âu có được là từ người Trung Quốc. Nhiều tấm bản đồ mà Menzies sử dụng có niên đại chỉ khoảng vài năm sau chuyến đi của Trịnh Hòa. Liệu thông tin trong giai đoạn lịch sử đó có thể lan truyền nhanh được đến như thế giữa các khu vực trên thế giới? Vả lại nếu ngay tại Trung Quốc, các thông tin đó cũng đã bị tiêu huỷ rất ngắn sau các chuyến đi này thì làm sao chúng có thể đến được châu Âu? Thêm nữa, niên đại một số tấm bản đồ chỉ là ước đoán và nếu đã là ước đoán thì sai số của nó có thể lên tới hàng chục năm. Chỉ cần chỉnh lại khung thời gian của một số tấm bản đồ thôi thì nhiều phần trong chuỗi lập luận của Menzies sẽ đổ vỡ lập tức. Menzies cũng không lý giải được tại sao các nhà đồ bản châu Âu lại không ghi chú gì về Trung Quốc trên những tấm bản đồ của họ nếu thực tế họ phải dựa nhiều vào những phát kiến “nóng hổi” của người Trung Quốc. Chẳng lẽ khi người Trung Quốc không muốn nhắc đến thì người Châu Âu cũng cố tình lờ đi hay sao? Cuối cùng, các địa danh của tân thế giới trên những tấm bản đồ đều được đặt tên theo kiểu châu Âu và không có cảm giác rằng chúng được dịch từ tiếng Trung Quốc.

3. Tuy có kiến thức hàng hải vô cùng uyên bác nhưng trong một số lập luận Menzies vẫn tỏ ra thiếu thuyết phục. Ví dụ như theo Menzies, chuyến đi của Chu Văn từ bờ Thái Bình Dương ở Philippines sang bờ Đông thái Bình Dương ở Bắc và Trung Mỹ và quay về (Philippines) là 4 tháng. Phép tính số học theo các số liệu hàng hải của Menzies cũng cho cùng đáp số trên. Như vậy là hạm đội Chu Văn đã có một chuyến hành trình không nghỉ. Tuy nhiên để về tới Trung Quốc vào tháng 10 năm 1423, ngoài 4 tháng để thực hiện vòng hành trình đó, các con tàu sẽ cũng cần thời gian để đi nốt quãng đường từ Philippines về Nam Kinh (khoảng 1500 km). Vả lại, khi đi dọc theo bờ biển Châu Mỹ, Chu Văn đã ra lệnh cho một số hải đội cập bờ. Thậm chí có nơi họ còn dành nhiều thời gian giao lưu với nền văn minh Maya. Những khoảng thời gian đó có lẽ Menzies không tính tới. Vì hạm đội chính không thể tiếp tục ra khơi và phó mặc những hải đội nhỏ kia muốn quay về lúc nào thì về. Tổng thời gian thực tế của chuyến hành trình tới Bắc Mỹ vì vậy sẽ phải vượt quá 4 tháng nhiều.

Dù tạm thời chưa thoả mãn với tất cả những lập luận của Menzies, nhưng tôi mong rằng tới một ngày nào đó tôi sẽ bị ông và các cộng sự của ông thuyết phục hoàn toàn.

{Hết}
Elgnoy
18-06-05, 16:36
Bài viết rất thú vị. Em mới lướt qua 1421, không biết bác Menzies có nói chi tiết cụ thể về việc quay đầu 180 độ trong chính sách về đại dương của nhà Minh không. Nhưng một trong những yếu tố quan trọng để trả lời câu hỏi 1. của bác tác giả, theo em, là ý thức phải có hệ tư tưởng độc tôn. Đã Pháp, thì phải chôn Nho; đã Phật, thì không có Đạo. Đã theo tư tưởng địa tâm, chống chọi với Mông Cổ, về kinh tế theo hướng trọng nông, thì một điều người Trung Hoa làm một cách tự nhiên là đoạn tuyệt hoàn toàn với những học thuyết/giả thuyết đối lập. Bản thân hệ tư tưởng chỉ đạo thì có thể thay đổi rất nhiều, nhưng trong mọi thời đại, luôn chỉ được phép có một hệ tư tưởng duy nhất.

Về chuỗi sự kiện đáng ra đã trở thành bản lề của lịch sử Trung Quốc này, David Landes cũng có khá nhiều nhận xét sắc xảo trong cuốn The Wealth and Poverty of Nations.
Gaup
18-06-05, 22:21
Thì đã đành là cần phải độc tôn, dưng tại sao lại phải độc tôn?

Thời này cũng là thời giao thương với Tây phương trở nên hỗn loạn. Đi cùng với thương nhân là truyền giáo nhân và các thành phần đa nhân cách vừa hải đăng vừa chã khác. Trung hoa cổ chắc vừa cảm thấy tự ti lại vừa cảm thấy tự tôn, sợ hãi các ý tưởng mới, những tư tưởng tôn giáo cởi mở đề cao sự công bằng trước đấng tối cao, triết lý Tây phương, những thành tịu early khoa học và những động lực mạnh mẽ mở đầu của renaissance. Sự sợ hãi cái mới sẽ tranh cướp mất quyền lực chính là nguyên nhân dẫn đến quyết định đóng cửa của admin trung quốc thời này.

Nói lung tung thế đã, nếu có ai vào chiến thì sẽ Gúc và viết, viết và Gúc cẩn thận hơn.
Martha Focker
18-06-05, 22:43
Mịe quả đúng như zang hồ đồn đại là có tồn tại một thằng gấu pre-gúc và một gấu post-gúc. Viết loạng choạng đéo tả :). Đùa chứ mấy đ/c học rộng nói chuyện hoành tráng nâng tầm quan điểm kinh. Về chuyện này tớ với tác giả có chung một thắc mắc chính (đã được trình bày trong mục 1 của phần kết luận). Thằng Tàu trước này vẫn là một thằng khoe khoang. Chuyện 1 nó phóng tinh thành 10 chả phải là hiếm (vụ Thần Châu vừa rồi chứ đâu xa). Thế mà thế đéo nào trong vụ này ngoài mấy cái bản đồ rách ra chả có cái hard evidence mả mẹ nào cả. Đọc chính sử Kim Dzung thấy thời đéo nào mà chả có chuyện chôn nho đốt sách. Thế mà sao các văn kiện khác thì giữ được còn cái này thì không? Đéo hiểu, quả thực là đéo hiểu.

Thôi hẵng cứ ngồi chờ thằng gấu post-gúc nó vào nó giảng cho vậy.
Gaup
18-06-05, 23:06
Bác, bằng chứng cương nhất (the hardest evidence) là thực tế rằng người Tầu ở khắp nơi trên thế giới. Một vài chiến hữu của em người Tanzania mảnh đất pHi châu xa xôi đã tường thuạt lại rằng dân Tàu ở chỗ họ thành đạt và sống có tình nghĩa với dân bản xứ.

Sáng em vừa ngủ dậy, đêm qua trung ương họp ở nhà em hơi lâu về việc TT sang gần 5h em mới đi ngủ, em pre-coffee viết loạng choạng thì đúng hơn...bác thông cảm nhớ :)
Martha Focker
19-06-05, 00:21
Thành thật khuyên gaup đi làm cốc cafe cho ló tỉnh. Ở đây tớ đang nói bằng chứng cương mãnh về chuyện thằng củ lạc nó đi lúc nào chứ không bàn xem là nó đã đến được đó chưa.
HaiAuPhiXu
19-06-05, 07:09
Nói gì thì nói, em cho rằng Columbus có cái thế của ông ấy. Việc phát hiện ra châu Mỹ của Columbus kèm sau đấy là những hành động chinh phục châu Mỹ la tinh của Tây Ban Nha, và tiếp đó là làn sóng du cư từ khắp nơi trên thế giới nói chung ( Châu Âu nói riêng ), tạo ra Châu Mỹ ngày nay, đều bắt đầu từ ngày Columbus tổ chức một cách hoành tráng cho khám phá của ông ấy. Và điều quan trọng là từ đấy, bản đồ của thế giới từ trước đến nay thay đổi.

Còn việc nói, Trung Quốc đi nhiều, buôn bán nhiều và phát hiện ra Châu Mỹ trước thì thực ra Columbus cũng chỉ theo dấu của thủy triều và lời giang hồ đồn đại của dân buôn bán Trung Ấn. Vậy thì vs ở đây là vs cái gì cơ?
HaiAuPhiXu
19-06-05, 07:29
Em cũng xin mạn phép phát biểu thêm rằng, đa phần những điểm nghi ngờ về học thuyết của Menzi đều là những điểm nghi ngờ chủ yếu có thể lật đổ chính ông ta.

Còn em nhớ là em đọc lịch sử. Columbus nghiên cứu và xin trợ cấp cho chuyến thám hiểm của ông hoàn toàn là có nghiên cứu hải trình của người trung quốc và người Ấn, hay hình như là có nhắc đến bản đồ được chế ra của riêng họ, vs toàn cục với bản đồ thế giới lúc bấy giờ , nghĩa là ông ta phát kiến của ông ta ở một level khác, và nay bác Menzi bất mãn với cái sự trung tâm thế giới của Châu Âu xưa kia, mà có ra cuốn sách này, thì cũng chẳng chứng minh được gì.

Vậy thì theo em, cho dù có 80 phần trăm tin vào ông Menzi thì Columbus vẫn là number one trong việc phát hiện ra Châu Mỹ. Và rất vô lý nếu như nói rằng trước ông có một hạm đội Trung Quốc đã tìm ra rồi, nhưng mà nay mới công bố.

Chính vì thế, sách này của Menzi chỉ đọc ở mức tham khảo, cho vui chứ chẳng là cái gì cả đâu bác ạ.
Martha Focker
19-06-05, 09:23
HaiAuPhiXu: Cái vs. tớ đặt thứ nhất để câu khách. Ngoài ra nó còn có ý nghĩa là trong 2 thằng đấy thì thằng nào đã đến châu Mỹ trước. Chỉ đơn thuần là một cái fact của lịch sử vậy thôi. Ý nghĩa của các chuyến đi nằm ngoài scope rồi đ/c ạ.
HaiAuPhiXu
19-06-05, 12:05
Em ko hiểu các bác đàn ông thì thích thú gì ở cái fact của lịch sử mà đi chứng minh rồi lật đổ, rồi thích làm revolution ở khắp nơi khắp chốn, từ đác uyn cho đến các anh đã từng dícover ra Tân Thế giới và eo này eo nọ.

Nhưng mà em vẫn còn nhớ như in một bài ở trong sách giáo khoa hay một cuốn sách lịch sử giải trí loại dành cho các em nhỏ nào đấy có nói rõ ràng rằng, Columbus nghi ngờ những gì con người thời đấy nghĩ về hình dạng của thế giới, vì ông đã nghiên cứu dòng hải lưu, cũng như một số các bản đồ của người Trung Quốc và người Ấn trên đường buôn bán, và ông đã làm một số thí nghiệm nho nhỏ, rồi ông đi xin nữ hoàng tiền để discover và chứng minh những gì mà ông nung nấu trong đầu.

Vậy thì trước hết, nếu như anh đã đề cập đến vấn đề rằng, ông Menzi này chỉ có trong tay một tấm bản đồ, và phía Trung Quốc thì ko có một tài liệu lịch sử nào cho thấy rằng Trịnh Hòa Thái Giám đã có một chuyến đi thám hiểm hoành tráng như thế.

Vậy Menzi lấy hình Trịnh Hòa và các câu chuyện từ đâu? hay ông chỉ có một tấm bản đồ thủ công làm bằng chứng, còn những thứ khác ông tự nghĩ ra.

Trước hết, anh phải post cái nguồn, và những materials mà ông Menzi này dùng để chứng minh cho luận điểm của ông ta. Cám ơn anh trước!
Martha Focker
19-06-05, 13:21
Vậy thì trước hết, nếu như anh đã đề cập đến vấn đề rằng, ông Menzi này chỉ có trong tay một tấm bản đồ, và phía Trung Quốc thì ko có một tài liệu lịch sử nào cho thấy rằng Trịnh Hòa Thái Giám đã có một chuyến đi thám hiểm hoành tráng như thế.

Xem tam đoạn luận này:

(Đoạn 1̀) Vào nhà gaup chuyên za tiếng Việt mà viết một câu què quặt về ngữ pháp như trên đây có ngày nó đuổi đi là tớ không can đâu nhé.

(Đoạn 2̀) Đ/c quen làm Hải Âu em như chim bay xa thành thử trông gà hóa quốc loạn cả lên. Tớ cũng thấy lạ là đ/c nhớ được những thứ đẩu đâu trong khi topic mới có 2 trang đã định nhăm nhăm bốc cứt bỏ vào mồm người ta rồi. Đ/c hẵng cứ đọc lại cái phần "những suy nghĩ của người viết" rồi thì nghĩ kỹ xem là ông ấy định nói gì nhé. Hard evidence của Menzies thì ngoài tấm bản đồ kho báu còn có một số thứ nữa như mảnh thuyển vỡ, đồ gốm sứ, ngũ cốc... Hay do bài dài quá nên đ/c đọc chưa hết?

(Đoạn 3̀) Facts lịch sử mà không quan trọng thì giải tán mẹ cái môn này với cái môn khảo cổ đi cho nhanh, phỏng ạ?
hophi
19-06-05, 14:26
0 phải là cái fact lịch sử nào cũng quan trọng. Cứ giả sử như là cái ông Menzi gì đấy đúng đi, thế thì lợi lộc gì cho nước Việt ta? Liệu có thể áp dụng phương pháp của ông ý để tìm lại 1 cái fact nào cho nước Việt ta 0?
đấy là chưa kể lập luận của Menzi chủ yếu là : nếu 0 phải người Trung quốc thì còn có thể là ai?
3 cái khiếm khuyết ở cuối bài của Martha Focker đã đủ phụ định tất cả những lập luận của phần trên bài viết rồi.
Gaup
19-06-05, 15:28
Bác Hophi đánh nhau với bác ma đờ phóc cờ mà có thái độ địa tâm chủ nghĩa thế kia là chưa ngang tầm rồi.

Bác Martha, thế vấn đề là chúng ta định tranh luận gì ở đây? Về phương pháp nghiên cứu của bác Tây hay phương pháp lọc lựa phân tích tài liệu để viết bài của bác ta? Mục đích cuối cùng của bác là để chứng minh Menzi đúng hay sai? Em vẫn chưa rõ bác định nói gì. Nếu chỉ để cho anh em tham khảo bài viết này để biết thì em sợ ít có gì để tranh luận.
HaiAuPhiXu
19-06-05, 19:38
Không, anh Gaup. Em nhất định AGAINST bác Menzi này. Và bởi vì các bác hay có những kiểu bới bèo ra bọ. Em nhất định chiến quả này. Nhưng cứ cho em thời gian.

Híc, bác gì nói Trung Quốc cung cấp một quả tàu hoành tráng gấp nhiều cbn :D lần cho anh Trịnh Hòa mà lại ko để lại một dấu ấn nào? Ông Menzi giải thích tại sao ko? cũng có thể do chiến tranh, và nếu như những mảnh thuyền vỡ, gốm sứ các thể loại mà ông ta nhặt được có thể thuộc về các nhà buôn Ấn và Trung Hoa thì sao? có ai phủ nhận là các ông nhà buôn này tự mày mò buôn bán đi biển mà ko tìm ra được America trước đâu?

Và nói chung là ko hẳn là em ko đọc kỹ đâu anh ạ. Mà chẳng qua anh ko có đủ luận điểm để trả lời các khúc mắc. Mà khốn nỗi, đấy lại là những luận điểm quan trọng nhất để chứng minh một cách xác thực cho cuốn sách của bác Menzi
giangthu
17-07-05, 09:27
Thuyết của Menzi là bậy bạ. Ổng viết ra đặng chọc mấy Tàu tự hào mà mua đặng kiếm tiền nhưng ổng bốc cao quá là Tàu nó thộn cả mặt mũi luôn. Thuyết mà thô quá! Thái giám Trịnh Hòa không có đi tới Mỹ Châu đâu.

Bổn Đầu Công đi tới Mã Lai, Ấn Ni xong đi vòng vòng mé đảo Côn Luân của Việt Nam đâu đó thôi á.
Elgnoy
19-07-05, 00:46
Chuyển sang bọt Đọc Sách đê :D.