Các cuộc chiến giữa Việt nam - Tàu Khựa từ năm 1974 đến nay!

PhanTom_NTD
28-05-08, 11:51
I/Hải chiến Hoàng Sa 1974
:'
Hải chiến Hoàng Sa là một trận chiến giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc từ 17 đến 19 tháng 1 năm 1974 trên quần đảo Hoàng Sa. Sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương, Việt Nam Cộng hòa đã thu hồi chủ quyền toàn bộ quần đảo này từ chính phủ bảo hộ Pháp nhưng một phần quần đảo đã bị Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho quân ra chiếm giữ khi người Pháp rút đi, Việt Nam Cộng hòa chỉ chiếm giữ và thực hiện chủ quyền được một phần quần đảo cho đến khi cuộc hải chiến xảy ra. Sau trận chiến, Trung Quốc đã chiếm đóng toàn bộ quần đảo cho đến nay.
Bối cảnh

Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo, nhóm đảo mà Việt Nam Cộng hòa bảo vệ và thực hiện được chủ quyền là nhóm Nguyệt Thiềm hay Trăng Khuyết (Crescent group) và nhóm Bắc đảo hay An Vĩnh/Tuyên Đức (Amphitrite group). Dưới thời Việt Nam Cộng hòa đã có đài khí tượng do Pháp xây, trực thuộc ty khí tượng Đà Nẵng và được bảo vệ bởi một tiểu đoàn thủy quân lục chiến.

Năm 1956, Hải quân Trung Quốc chiếm đóng đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc nhóm Bắc đảo.

Năm 1958, Trung Quốc cho công bố bản Tuyên ngôn Lãnh hải 4 điểm, trong đó có tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc bao gồm các đảo Đài Loan, Tây Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam) và Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam), đảo Macclesfield (Trung Sa), quần đảo Bành Hồ (Pescadores)[1].

Vào giai đoạn này, Trung Quốc vẫn là đồng minh hậu thuẫn cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc Chiến tranh Việt Nam chống lại Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ.

Ngày 22 tháng 9 năm 1958, báo Nhân Dân đăng công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc, ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Trung Quốc quyết định về hải phận 12 hải lí của Trung Quốc (nhưng thực chất chỉ tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Việt Nam chứ không hề có dòng nào khẳng định chủ quyền của Trung Quốc ở 2 quần đảo này)[2].

Bức thư của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng năm 1958, tuyên bố "tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc"

Năm 1961, chính phủ Việt Nam Cộng hòa ban hành sắc lệnh khẳng định chủ quyền Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam của Việt Nam Cộng hòa.

Trong thời gian 1964-1970, Hải quân Trung Quốc và Hải quân Việt Nam Cộng hòa chạm súng liên tục trên hải phận Hoàng Sa, nhưng không đưa đến thương vong[3]. Trong thời điểm đó, Việt Nam Cộng hòa cũng thiết lập một sân bay nhỏ tại đảo Hoàng Sa.

Năm 1970, Hoa Kỳ và Nhật Bản ký Hiệp ước trao trả Okinawa (Okinawa Reversion Treaty) trao trả quần đảo Điếu Ngư (Diaoyu) (tức Sento Shosho hay Senkaku Retto của Nhật Bản) về dưới chủ quyền của Nhật Bản với sự phản đối của Đài Loan và Trung Quốc; và cùng năm Đô đốc Elmo Zumwalt, cựu Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ họp báo tuyên bố tại Guam rằng Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong chiến lược triển khai các hải đảo tiền đồn của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ. Theo nhận định của Hải quân Việt Nam Cộng hòa thì đây là sự kiện trao đổi giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, và là nguy cơ cho Việt Nam Cộng hòa trong việc bảo vệ Hoàng Sa.[4].

Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16)

Năm 1971, Hải quân Trung Quốc và Hải quân Việt Nam Cộng hòa tiếp tục chạm súng trên hải phận Hoàng Sa. [5] Những năm cuối của cuộc Chiến tranh Việt Nam, vì nhu cầu chiến trường, tiểu đoàn thủy quân lục chiến của Việt Nam Cộng hòa tại Hoàng Sa được đưa vào đất liền, chỉ còn một trung đội địa phương quân trấn giữ nhóm Nguyệt Thiềm.

Năm 1973, với Hiệp định Paris, Hoa Kỳ và Đệ thất Hạm đội rút quân và thiết bị của Hoa Kỳ ra khỏi quần đảo Hoàng Sa. Như vậy Hoa Kỳ đã xem việc bảo vệ quần đảo này là việc riêng của Việt Nam Cộng hòa.

Năm 1974 Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa quyết định thiết lập một phi trường trên đảo Hoàng Sa có khả năng chuyên chở vận tải cơ hạng nặng C-7 Caribou để chuyển quân nhanh ra nhóm Nguyệt Thiềm. Khi một phái đoàn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa thăm dò một số đảo Hoàng Sa trong việc chuẩn bị thiết lập phi trường nói trên thì khám phá ra sự hiện diện của Hải quân Trung Quốc, và giao tranh xảy ra sau đó.

Tương quan lực lượng

Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4)

Phía Việt Nam có Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5), Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4), Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10), một đại đội hải kích thuộc Hải quân Việt Nam Cộng hòa, một số biệt hải (biệt kích hải quân) và một trung đội địa phương quân đang trú phòng tại đảo Hoàng Sa.

Phía Trung Quốc có Liệp tiềm đĩnh số 274, Liệp tiềm đĩnh số 271, Tảo lôi hạm số 389, Tảo lôi hạm số 391, Liệp tiềm đĩnh số 282, Liệp tiềm đĩnh số 281 và hai chiến hạm số 402 và số 407 chở quân (không rõ loại), Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn 10 Hải quân lục chiến, và hai đội trinh sát.

[sửa]
Diễn tiến

Chiến sĩ Biệt hải Việt Nam Cộng hòa

Ngày 16 tháng 1 năm 1974, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt sau khi đưa một phái đoàn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa thăm dò một số đảo Hoàng Sa phát hiện hai chiến hạm số 402 và số 407 của Hải quân Trung Quốc gần Cam Tuyền, và phát hiện quân Trung Quốc chiếm đóng hoặc cắm cờ Trung Quốc tại các đảo Quang Hòa, Duy Mộng, Vĩnh Lạc.

Poster của Trung Quốc nói về trận chiến ở Hoàng Sa

Sau khi cấp báo về Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải tại Đà Nẵng, HQ-16 dùng quang hiệu yêu cầu các chiến hạm Trung Quốc rời lãnh hải Việt Nam. Các chiến hạm Trung Quốc không rời vùng, và cũng dùng quang hiệu yêu cầu phía Việt Nam Cộng hòa rời lãnh hải Trung Quốc.

Ngày 17 tháng 1 năm 1974, Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) đến Hoàng Sa đổ bộ một toán biệt hải và một đội hải kích xuống Cam Tuyền để nhổ cờ Trung Quốc. Sau đó các chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa rút trở lên tàu. Cùng trong ngày Liệp tiềm đĩnh số 274 và Liệp tiềm đĩnh số 271 của Trung Quốc xuất hiện.

Soái hạm Trần Bình Trọng (HQ-5)

Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Đề đốc Lâm Ngươn Tánh, Tư lệnh phó Hải quân Việt Nam Cộng hòa bay ra Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải tại Đà Nẵng để trực tiếp chỉ huy trận đánh. Ông ban hành lệnh hành quân Hoàng Sa 1 nhằm chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa, Duy Mộng, Vĩnh Lạc. Lực lượng hành quân Hoàng Sa 1 được tăng cường thêm Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) làm soái hạm cho cuộc hành quân, và Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10). Do hải hành lâu ngày chưa kịp tu bổ, HQ-10 tham chiến với một máy bất khiển dụng, chỉ còn một máy hoạt động.

8 giờ 30 ngày 19 tháng 1, hai nhóm Biệt Hải của Việt Nam Cộng hòa gồm 74 người đổ quân đảo Quang Hòa, bị một đại đội của hải quân Trung Quốc tấn công. Cuộc giao tranh dẫn đến thương vong của Hải quân VNCH gồm có 2 người chết và 2 bị thương, các toán Biệt Hải được lệnh rút khỏi đảo[6].

10 giờ 22 cùng ngày, một hộ tống hạm Trung Quốc nổ súng vào khu trục hạm Trần Khánh Dư của VNCH khi đó đang ở gần đảo Quang Hòa. Khu trục hạm Trần Khánh Dư bị hư hại nhẹ nhưng phản pháo bắn chìm hộ tống hạm đối phương.

Đến trưa, hai bên ngừng chiến, các chiến hạm của VNCH tập trung về vùng đảo phía Tây Hoàng Sa, 30 binh sĩ đổ bộ lên các đảo Vĩnh Lạc và Cam Tuyền. Đến lúc đó, trên đảo Hoàng Sa đang có một trung đội Địa Phương Quân thuộc tiểu khu Quảng Nam và 4 nhân viên khí tượng trú đóng.

Trong thời gian xảy ra chiến sự, Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa nhận được thông báo của Văn phòng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ (DAO) tại Sài Gòn, cho biết radar Đệ thất Hạm đội ghi nhận một số phóng lôi hạm (guided missile frigate) và chiến đấu cơ MIG từ Hải Nam đang tiến về phía Hoàng Sa. Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa sau đó yêu cầu Đệ thất Hạm đội trợ giúp, nhưng không thành công. Các chiến hạm Việt Nam Cộng hòa được lệnh rút bỏ quần đảo Hoàng Sa[7].

Đêm hôm đó, 3 chiến hạm VNCH bị hư hại được lệnh rút về căn cứ hải quân Đà Nẵng. Hộ tống hạm HQ 10 trong ngày 19 đã bị trúng hỏa tiễn Styx, chịu thiệt hại nặng và bị chìm, thủy thủ đoàn gồm 82 người bị mất liên lạc.

10 giờ 22 ngày hôm sau, 20 tháng 1, 4 phi cơ MiG-21 và MiG-23 của Trung Quốc oanh tạc các đảo Cam Tuyền, Vĩnh Lạc, và Hoàng Sa. Tiếp đó, quân Trung Quốc đổ bộ tấn công các đơn vị đồn trú của VNCH trên các đảo này. Sau 20 phút, lực lượng của VNCH trên các đảo bị mất liên lạc, bốn chiến hạm còn lại trên vùng biển Hoàng Sa cũng bị trúng đạn và hư hại nhẹ[8]
http://vi.wikipedia.org/wiki/Hình:Pla42.jpg
poster của Tàu về trận chiến

Kết quả

Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10)
Hình:PLAN-389C.jpg
Tảo lôi hạm số 389 Hải quân Trung Quốc

Liệp tiềm đĩnh số 271 Hải quân Trung Quốc, chụp từ chiến hạm VNCH trước khi nổ súng

Theo tài liệu của Việt Nam Cộng hòa thì 274 trúng đạn, tay lái bất khiển dụng phải ủi vào bãi san hô để thủy thủ đoàn đào thoát, 271 hoặc 389 bị chìm tại trận, và 389 và 391 bị hư hại nặng. HQ-10 trúng đạn vào pháo tháp bị chìm tại trận, HQ-16 bị hư hại nặng nghiêng 15 độ, HQ-5 và HQ-4 bị hư nhẹ. Gần 50 thủy thủ và hạm trưởng Ngụy Văn Thà của HQ-10 tử vong. Ngoài ra HQ-5 có 3 quân nhân tử vong và 16 bị thương. Hai ngày sau trận hải chiến, ngày 20 tháng 1, tàu chở dầu Hòa Lan "Kopionella" vớt được 23 người thuộc thủy thủ đoàn của HQ-10 đang trôi dạt trên biển. Đến mười ngày sau, ngày 29 tháng 1, ngư dân Việt Nam vớt được một toán quân nhân Việt Nam Cộng hòa gần Mũi Yến (Qui Nhơn), gồm 1 sĩ quan, 2 hạ sĩ quan và 12 quân nhân thuộc lực lượng đổ bộ lên Quang Hòa, đã dùng bè vượt thoát đảo sau trận hải chiến[9].

Theo một bài "Không thể chấp nhận được!" của Bùi Thanh đăng trên báo Tuổi Trẻ Online ngày Thứ Năm, 06/12/2007, 08:14 (GMT+7}[1] "Trong trận hải chiến lịch sử và không cân sức này, 58 binh sĩ quân đội Sài Gòn đã ngã xuống nhưng không giữ được mảnh đất thiêng liêng của ông cha."

Theo tài liệu của Trung Quốc thì 274, 271, 389, 391 đều trúng đạn, 281, 282 và 402, 407 bị hư hại trung bình, HQ-10 bị chìm tại trận. Trung Quốc bắt giữ 48 tù binh, trong đó có một người Mỹ[10]. Trung Quốc có trao trả tù binh sau đó tại Hồng Kông qua Hội Chữ thập đỏ.

Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ thời điểm này. Sau trận chiến, Việt Nam Cộng hòa đã ra nhiều tuyên bố cũng như trưng ra các chứng cớ lịch sử về chủ quyền của mình[cần dẫn chứng] và đã được Chính phủ Pháp ủng hộ vì trước đây theo Hòa ước Pháp Thanh thì người Pháp đã thực hiện chủ quyền ở quần đảo này. Tuy nhiên, Trung Quốc đã cho đập phá các bia chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa, đào các mộ của người Việt đã chôn ở đây, xóa các di tích lịch sử của người Việt.

Phản ứng trước vụ việc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ tuyên bố rằng "các nước liên quan nên giải quyết mâu thuẫn bằng đàm phán trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, và quan hệ láng giềng". Họ đã không thể làm gì hơn, do tại thời điểm giữa cuộc chiến tranh đó, họ vẫn cần đến viện trợ quân sự và kinh tế của Trung Quốc. Ngay sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc này đã gây ra sự bất bình lớn của Trung Quốc và bắt đầu một thời kì quan hệ căng thẳng giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc[11].

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay vẫn khẳng định chủ quyền hợp pháp đối với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và vùng lãnh hải liên quan trên biển Đông.

*** các tàu của VN Cộng Hòa tham chiến
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/f/f5/HQ-16-LyThuongKiet.jpg
Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/d9/HQ-4-TranKhanhDu.jpg
Khu trục Trần Khánh Dư
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/48/HQ-5-TranBinhTrong.jpg
Soái hạm Trần Bình Trọng
http://vi.wikipedia.org/wiki/Hình:HQ-10-NhatTao.jpg
Hộ Tống Hạm Trần Bình Trọng
http://vi.wikipedia.org/wiki/Hình:BietHai1C.jpg
Chiến sĩ biệt hải VN Cộng Hòa
PhanTom_NTD
28-05-08, 12:01
Hải chiến Trường Sa 1988

Hải chiến Trường Sa 1988 là tên gọi của cuộc xung đột trên biển Đông năm 1988 giữa Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa với Hải quân Nhân dân Việt Nam để chiếm các đảo thuộc quần đảo Trường Sa vào ngày 14 tháng 3 năm 1988 mà kết quả thắng lợi thuộc về Trung Quốc, phía Việt Nam mất 3 hải vận hạm của hải quân Việt Nam, 64 thủy binh Việt Nam được ghi nhận đã chết.
http://vi.wikipedia.org/wiki/Hình:Spratly_Islands-CIA_WFB_Map.png
Trong các tài liệu của Hải quân Nhân dân Việt Nam, sự kiện này được biết đến với tên gọi CQ-88 (Chủ quyền-88).
Bố trí kiểm soát Trường Sa của các nước
Việt Nam chiếm 3 đảo: Trường Sa Lớn (Spratly), Nam Yết (Namyit) và Sinh Tồn (Sincowe). Ngoài 3 đảo, Việt Nam còn chiếm 3 cồn là An Bang(Amboyna), Song Tử Tây (SouthWest) và Sơn Ca (Sand cay), cùng 7 đá nổi, 9 đá chìm và bãi ngầm, tổng cộng 22 đơn vị.
Philippines chiếm 5 đảo: Bình Nguyên (Flat), Vĩnh Viễn (Nanshan), Bến Lộc (West York), Loại Tá (Loaita) và Thị Tứ (Thitu). Ngoài 5 đảo, Philippines còn chiếm 3 cồn , 2 đá nổi và 8 đá chìm, tổng cộng 18 đơn vị.
Đài Loan chiếm Đảo Ba Bình (Itu Aba).
Đảo Trường Sa diện tích 0,13 km², bằng 1/10 Phú Lâm.
Trung Quốc chiếm 2 đá nổi (reef) là Đá Chữ Thập (Fiery Cross) và Đá Ga Ven (Gaven), cùng 6 đá chìm, tổng cộng 8 đơn vị.

Quần đảo Trường Sa là một nhóm gần 100 đảo đá ngầm và đảo nhỏ đang trong tình trạng tranh chấp ở Biển Ðông. Là một phần của các đảo ở Biển Ðông, quần đảo Trường Sa được bao quanh bởi những ngư trường lớn và giàu dầu mỏ, khí đốt, hiện vùng mở rộng (diện tích) của nó vẫn còn chưa được biết và đang trong vòng tranh cãi. Việt Nam, Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, đều tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ quần đảo, trong khi Brunei, Malaysia và Philippines, mỗi nước tuyên bố chủ quyền nhiều phần.

Nhiều nước tham gia cuộc tranh cãi này có quân đội đóng trên từng phần của quần đảo Trường Sa và kiểm soát nhiều căn cứ trên các đảo nhỏ và đảo đá ngầm khác nhau. Ðài Loan chiếm một trong những đảo lớn nhất là đảo Ba Bình. Tháng 2 năm 1995, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chiếm đảo đá ngầm Vành Khăn (Mischief reef), gây nên một cuộc khủng hoảng chính trị lớn ở Ðông Nam Á, đặc biệt với Philippines. Ðầu năm 1999, những cuộc tranh cãi lại tăng lên khi Philippines tuyên bố rằng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đang xây dựng đồn bốt quân sự trên đảo đá ngầm. Mặc dầu những sự tranh cãi sau đó đã giảm bớt một chút chúng vẫn là một trong những nguyên nhân có thể gây ra một cuộc chiến lớn ở Ðông Á có sự tham gia của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa hay một cuộc chiến nhỏ hơn giữa các nước tuyên bố chủ quyền khác.

Chính quyền Việt Nam hiện nay đang trấn giữ 21 đảo. Nhóm đảo này được gộp vào thành một huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa. (Xem bài Trường Sa, Khánh Hòa)
Diễn biến

Trong những tháng đầu năm 1988, Hải quân Trung Quốc cho quân chiếm đóng một số bãi đá thuộc khu vực quần đảo Trường Sa, chiếm giữ Đá Chữ Thập (31-1), Châu Viên (18-2), Ga Ven (26-2), Huy Gơ (28-2), Xu Bi (23-3)[2]. Hải quân Việt Nam đưa vũ khí, khí tài ra đóng giữ tại các đảo Đá Tiên Nữ (26-1), Đá Lát (5-2), Đá Lớn (6-2), Đá Đông (18-2), Tốc Tan (27-2), Núi Le (2-3)[2], bước đầu ngăn chặn được hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng của hải quân Trung Quốc ra các đảo lân cận. Phía Việt Nam dự kiến Trung Quốc có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và Đông kinh tuyến 1150.

Căn cứ vào tình hình xung quanh khu vực Trường Sa, Hải quân Việt Nam xác định: Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu để hải quân Trung Quốc chiếm giữ thì họ sẽ khống chế đường tiếp tế của Việt Nam cho các căn cứ tại quần đảo Trường Sa. Vì vậy, thường vụ Đảng ủy Quân chủng hạ quyết tâm đóng giữ các đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao... Thường vụ Đảng ủy Quân chủng giao cho Lữ đoàn Vận tải 125 cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ này.

Trong khi đó, hải quân Trung Quốc sau khi đưa quân chiếm đóng các đảo chìm Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Xu Bi, Huy Gơ cũng đang có ý đồ chiếm giữ ba đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Đầu tháng 3 năm 1988, Trung Quốc huy động lực lượng của hai hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên lên 9 đến 12 tàu chiến gồm: 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và 1 pông tông lớn.

Trước tình hình đó, ngày 31 tháng 3, Tư lệnh Hải quân Việt Nam lệnh cho vùng 4, Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 146, các hải đội 131, 132, 134 của Lữ đoàn 172 chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Đồng thời lệnh cho Vùng 1, Vùng 3 và Lữ đoàn 125 ở Hải Phòng chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường. Bộ tư lệnh Hải quân điều động 41 tàu thuyền và phương tiện nổi của Lữ đoàn 125, Cục Kinh tế, Vùng 1,3,5, Trường Sĩ quan Hải quân Việt Nam (nay là Học viện Hải quân Việt Nam), nhà máy Ba Son... đến phối thuộc khi cần thiết.

Lúc 19h ngày 11 tháng 3 tàu HQ-604 rời cảng ra đảo Gạc Ma để thực hiện nhiệm vụ trong chiến dịch CQ-88 ("Chủ Quyền 88").

Ngày 12 tháng 3, tàu HQ-605 thuộc Lữ 125 do thuyền trưởng Lê Lệnh Sơn chỉ huy được lệnh từ Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6h ngày 14 tháng 3. Sau 29 tiếng hành quân, tàu 605 đến Len Đao lúc 5h ngày 14 tháng 3 và cắm cờ Việt Nam trên đảo.

Thực hiện nhiệm vụ đóng giữ các đảo Gạc Ma và Cô Lin, 9h ngày 13 tháng 3, tàu HQ-604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và tàu HQ-505 của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. Phối hợp với 2 tàu 505 và 604 có hai phân đội công binh (70 người) thuộc trung đoàn công binh 83, bốn tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146 do Trần Đức Thông Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (thuộc Bộ Tổng tham mưu). Sau khi hai tàu của Việt Nam thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của Hải quân Trung Quốc từ Huy Gơ chạy về phía Gạc Ma, có lúc đôi bên chỉ cách nhau 500 m.

17h ngày 13 tháng 3, tàu Trung Quốc áp sát tàu 604 và dùng loa gọi sang. Bị uy hiếp, 2 tàu 604 và 505 kiên trì neo giữ quanh đảo. Còn chiến hạm của Trung Quốc cùng 1 hộ vệ hạm, 2 hải vận hạm thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma.

Trước tình hình căng thẳng do hải quân Trung Quốc gây ra, lúc 21h ngày 13 tháng 3, Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam chỉ thị cho Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin. Tiếp đó Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị cho lực lượng công binh khẩn trương dùng xuồng chuyển vật liệu xây dựng lên đảo ngay trong đêm ngày 13 tháng 3. Thực hiện mệnh lệnh, tàu 604 cùng lực lượng công binh trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Việt Nam và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.

Lúc này, Trung Quốc điều thêm 2 hộ vệ hạm trang bị pháo 100 mm đến hỗ trợ lực lượng đã đến từ trước, yêu cầu phía VN rút khỏi đảo Gạc Ma. Ban chỉ huy tàu 604 họp nhận định: Trung Quốc có thể dùng vũ lực can thiệp và quyết định chỉ huy bộ đội bình tĩnh xử trí, thống nhất thực hiện theo phương án tác chiến đề ra, quyết tâm bảo vệ Gạc Ma.

Ngày 14 tháng 3, chiến sự diễn ra tại khu vực các đảo Gạc Ma, Cô Lin, và Len Đao.

[sửa]
Bãi Gạc Ma

Sáng ngày 14 tháng 3, từ tàu HQ 604 đang thả neo tại Gạc Ma, Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, phát hiện thấy bốn chiếc tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần. Tổ 3 người gồm thiếu uý Trần Văn Phương và hai chiến sĩ Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Văn Lanh được cử lên đảo bảo vệ lá cờ Việt Nam đang cắm trên bãi.

Phía Trung Quốc cử 2 xuồng chở 8 lính có vũ khí lao thẳng về phía đảo. Chỉ huy Trần Đức Thông ra lệnh cho các thủy thủ từ tàu 604 tiến về bảo vệ bãi để hình thành tuyến phòng thủ, không cho đối phương tiến lên.

6h sáng, Hải quân Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo giật cờ Việt Nam. Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh bị lê đâm và bắn bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương bị bắn tử thương, trước khi chết ông đã hô: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân".[cần chú thích]

Do Hải quân Việt Nam không chịu rút khỏi đảo, lúc 7h30, Trung Quốc dùng 2 chiến hạm bắn pháo 100 mm vào tàu 604, làm tàu bị hỏng nặng. Hải quân Trung Quốc cho quân xông về phía tàu Việt Nam. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ chỉ huy quân trên tàu sử dụng các loại súng AK, RPD, B-40, B-41 đánh trả quyết liệt, buộc đối phương phải nhảy xuống biển bơi trở về tàu.

Hải quân Việt Nam vừa chiến đấu, vừa tổ chức băng bó, cứu chữa thương binh và hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ cờ. Trung Quốc tiếp tục nã pháo, tàu 604 của Việt Nam bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. Vũ Phi Trừ - thuyền trưởng, Trần Đức Thông - lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, cùng một số thủy thủ trên tàu đã tử trận cùng tàu 604 ở khu vực đảo Gạc Ma.

[sửa]
]Đảo Cô Lin

Tại đảo Cô Lin, 6h, tàu HQ-505 của Việt Nam đã cắm hai lá cờ trên đảo. Khi thấy tàu 604 của Việt Nam bị chìm, thuyền trưởng tàu 505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo cho tàu ủi bãi. Phát hiện tàu 505 đang lên bãi, 2 tàu của Trung Quốc quay sang tiến công tàu HQ-505. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đảo thì bốc cháy.

8h15, thủy thủ tàu 505 vừa triển khai lực lượng dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, và đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu 604 bị chìm ở phía bãi Gạc Ma ngay gần đó.

[sửa]
Đảo Len Đao

Ở hướng đảo Len Đao, 8h20 ngày 14 tháng 3, Hải quân Trung Quốc bắn mãnh liệt vào tàu HQ-605 của Hải quân Việt Nam. Tàu 605 bị bốc cháy và chìm lúc 6h ngày 15/3, thủy thủ đoàn của tàu bơi về đảo Sinh Tồn.

Thượng uý Nguyễn Văn Chương và trung uý Nguyễn Sĩ Minh tổ chức đưa thương binh và chiến sĩ về tàu 505 (sau khi bị bắn cháy nằm trên bãi Cô Lin). Thi hài các chiến sĩ Nguyễn Văn Phương, Nguyễn Văn Tư, cùng các thương binh nặng được đặt trên xuồng. Số người còn sức một tay bám thành xuồng một tay làm mái chèo đưa xuồng lết trên mặt nước để tới bãi Cô Lin.

Kết quả

Trong trận chiến ngày 14 tháng 3 năm 1988, Việt Nam bị thiệt hại 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 người tử trận, 11 người khác bị thương, 70 người bị mất tích. Sau này Trung Quốc đã trao trả cho phía Việt Nam 9 người bị bắt, 61 người vẫn mất tích và được xem là đã tử trận.

Việt Nam bảo vệ được chủ quyền tại các đảo Cô Lin và Len Đao. Trung Quốc chiếm đảo Gạc Ma từ ngày 16 tháng 3 năm 1988 và vẫn giữ cho đến nay.

Trong năm 1988, Hải quân Việt Nam đưa quân ra đóng giữ tiếp 11 bãi đá ngầm khác. Ngày 17 tháng 10, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ký văn bản 19/NQ-TƯ về việc bảo vệ khu vực bãi ngầm trong thềm lục địa phía Nam (khu DK1). Ngày 5 tháng 7 năm 1989, Thủ tướng chính phủ ra chỉ thị số 180UT về việc xây dựng cụm dịch vụ kinh tế - khoa học - kỹ thuật thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (DK1), xác định lại chủ quyền Việt Nam đối với khu vực thềm lục địa này. Từ tháng 6 năm 1989, Hải quân Việt Nam bắt đầu đóng giữ các bãi đá ngầm: Tư Chính, Phúc Nguyên, Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Dương, Ba Kè[2

Bất chấp luật lệ chiến tranh

Theo các báo của Việt nam thì khi tàu của Việt Nam bị đánh đắm thì tàu chiến Trung Quốc chặn không cho tàu của Hội Chữ thập đỏ đến cứu. Đây là một sự vi phạm những điều luật cơ bản nhất của chiến tranh[4
PhanTom_NTD
28-05-08, 12:07
Hải chiến Trường Sa 1988

Hải chiến Trường Sa 1988 là tên gọi của cuộc xung đột trên biển Đông năm 1988 giữa Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa với Hải quân Nhân dân Việt Nam để chiếm các đảo thuộc quần đảo Trường Sa vào ngày 14 tháng 3 năm 1988 mà kết quả thắng lợi thuộc về Trung Quốc, phía Việt Nam mất 3 hải vận hạm của hải quân Việt Nam, 64 thủy binh Việt Nam được ghi nhận đã chết.

Trong các tài liệu của Hải quân Nhân dân Việt Nam, sự kiện này được biết đến với tên gọi CQ-88 (Chủ quyền-88).
Bố trí kiểm soát Trường Sa của các nước
Việt Nam chiếm 3 đảo: Trường Sa Lớn (Spratly), Nam Yết (Namyit) và Sinh Tồn (Sincowe). Ngoài 3 đảo, Việt Nam còn chiếm 3 cồn là An Bang(Amboyna), Song Tử Tây (SouthWest) và Sơn Ca (Sand cay), cùng 7 đá nổi, 9 đá chìm và bãi ngầm, tổng cộng 22 đơn vị.
Philippines chiếm 5 đảo: Bình Nguyên (Flat), Vĩnh Viễn (Nanshan), Bến Lộc (West York), Loại Tá (Loaita) và Thị Tứ (Thitu). Ngoài 5 đảo, Philippines còn chiếm 3 cồn , 2 đá nổi và 8 đá chìm, tổng cộng 18 đơn vị.
Đài Loan chiếm Đảo Ba Bình (Itu Aba).
Đảo Trường Sa diện tích 0,13 km², bằng 1/10 Phú Lâm.
Trung Quốc chiếm 2 đá nổi (reef) là Đá Chữ Thập (Fiery Cross) và Đá Ga Ven (Gaven), cùng 6 đá chìm, tổng cộng 8 đơn vị.

Quần đảo Trường Sa là một nhóm gần 100 đảo đá ngầm và đảo nhỏ đang trong tình trạng tranh chấp ở Biển Ðông. Là một phần của các đảo ở Biển Ðông, quần đảo Trường Sa được bao quanh bởi những ngư trường lớn và giàu dầu mỏ, khí đốt, hiện vùng mở rộng (diện tích) của nó vẫn còn chưa được biết và đang trong vòng tranh cãi. Việt Nam, Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, đều tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ quần đảo, trong khi Brunei, Malaysia và Philippines, mỗi nước tuyên bố chủ quyền nhiều phần.

Nhiều nước tham gia cuộc tranh cãi này có quân đội đóng trên từng phần của quần đảo Trường Sa và kiểm soát nhiều căn cứ trên các đảo nhỏ và đảo đá ngầm khác nhau. Ðài Loan chiếm một trong những đảo lớn nhất là đảo Ba Bình. Tháng 2 năm 1995, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chiếm đảo đá ngầm Vành Khăn (Mischief reef), gây nên một cuộc khủng hoảng chính trị lớn ở Ðông Nam Á, đặc biệt với Philippines. Ðầu năm 1999, những cuộc tranh cãi lại tăng lên khi Philippines tuyên bố rằng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đang xây dựng đồn bốt quân sự trên đảo đá ngầm. Mặc dầu những sự tranh cãi sau đó đã giảm bớt một chút chúng vẫn là một trong những nguyên nhân có thể gây ra một cuộc chiến lớn ở Ðông Á có sự tham gia của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa hay một cuộc chiến nhỏ hơn giữa các nước tuyên bố chủ quyền khác.

Chính quyền Việt Nam hiện nay đang trấn giữ 21 đảo. Nhóm đảo này được gộp vào thành một huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa. (Xem bài Trường Sa, Khánh Hòa)

Diễn biến

Trong những tháng đầu năm 1988, Hải quân Trung Quốc cho quân chiếm đóng một số bãi đá thuộc khu vực quần đảo Trường Sa, chiếm giữ Đá Chữ Thập (31-1), Châu Viên (18-2), Ga Ven (26-2), Huy Gơ (28-2), Xu Bi (23-3)[2]. Hải quân Việt Nam đưa vũ khí, khí tài ra đóng giữ tại các đảo Đá Tiên Nữ (26-1), Đá Lát (5-2), Đá Lớn (6-2), Đá Đông (18-2), Tốc Tan (27-2), Núi Le (2-3)[2], bước đầu ngăn chặn được hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng của hải quân Trung Quốc ra các đảo lân cận. Phía Việt Nam dự kiến Trung Quốc có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và Đông kinh tuyến 1150.

Căn cứ vào tình hình xung quanh khu vực Trường Sa, Hải quân Việt Nam xác định: Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu để hải quân Trung Quốc chiếm giữ thì họ sẽ khống chế đường tiếp tế của Việt Nam cho các căn cứ tại quần đảo Trường Sa. Vì vậy, thường vụ Đảng ủy Quân chủng hạ quyết tâm đóng giữ các đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao... Thường vụ Đảng ủy Quân chủng giao cho Lữ đoàn Vận tải 125 cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ này.

Trong khi đó, hải quân Trung Quốc sau khi đưa quân chiếm đóng các đảo chìm Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Xu Bi, Huy Gơ cũng đang có ý đồ chiếm giữ ba đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Đầu tháng 3 năm 1988, Trung Quốc huy động lực lượng của hai hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên lên 9 đến 12 tàu chiến gồm: 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và 1 pông tông lớn.

Trước tình hình đó, ngày 31 tháng 3, Tư lệnh Hải quân Việt Nam lệnh cho vùng 4, Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 146, các hải đội 131, 132, 134 của Lữ đoàn 172 chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Đồng thời lệnh cho Vùng 1, Vùng 3 và Lữ đoàn 125 ở Hải Phòng chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường. Bộ tư lệnh Hải quân điều động 41 tàu thuyền và phương tiện nổi của Lữ đoàn 125, Cục Kinh tế, Vùng 1,3,5, Trường Sĩ quan Hải quân Việt Nam (nay là Học viện Hải quân Việt Nam), nhà máy Ba Son... đến phối thuộc khi cần thiết.

Lúc 19h ngày 11 tháng 3 tàu HQ-604 rời cảng ra đảo Gạc Ma để thực hiện nhiệm vụ trong chiến dịch CQ-88 ("Chủ Quyền 88").

Ngày 12 tháng 3, tàu HQ-605 thuộc Lữ 125 do thuyền trưởng Lê Lệnh Sơn chỉ huy được lệnh từ Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6h ngày 14 tháng 3. Sau 29 tiếng hành quân, tàu 605 đến Len Đao lúc 5h ngày 14 tháng 3 và cắm cờ Việt Nam trên đảo.

Thực hiện nhiệm vụ đóng giữ các đảo Gạc Ma và Cô Lin, 9h ngày 13 tháng 3, tàu HQ-604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và tàu HQ-505 của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. Phối hợp với 2 tàu 505 và 604 có hai phân đội công binh (70 người) thuộc trung đoàn công binh 83, bốn tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146 do Trần Đức Thông Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (thuộc Bộ Tổng tham mưu). Sau khi hai tàu của Việt Nam thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của Hải quân Trung Quốc từ Huy Gơ chạy về phía Gạc Ma, có lúc đôi bên chỉ cách nhau 500 m.

17h ngày 13 tháng 3, tàu Trung Quốc áp sát tàu 604 và dùng loa gọi sang. Bị uy hiếp, 2 tàu 604 và 505 kiên trì neo giữ quanh đảo. Còn chiến hạm của Trung Quốc cùng 1 hộ vệ hạm, 2 hải vận hạm thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma.

Trước tình hình căng thẳng do hải quân Trung Quốc gây ra, lúc 21h ngày 13 tháng 3, Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam chỉ thị cho Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin. Tiếp đó Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị cho lực lượng công binh khẩn trương dùng xuồng chuyển vật liệu xây dựng lên đảo ngay trong đêm ngày 13 tháng 3. Thực hiện mệnh lệnh, tàu 604 cùng lực lượng công binh trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Việt Nam và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.

Lúc này, Trung Quốc điều thêm 2 hộ vệ hạm trang bị pháo 100 mm đến hỗ trợ lực lượng đã đến từ trước, yêu cầu phía VN rút khỏi đảo Gạc Ma. Ban chỉ huy tàu 604 họp nhận định: Trung Quốc có thể dùng vũ lực can thiệp và quyết định chỉ huy bộ đội bình tĩnh xử trí, thống nhất thực hiện theo phương án tác chiến đề ra, quyết tâm bảo vệ Gạc Ma.

Ngày 14 tháng 3, chiến sự diễn ra tại khu vực các đảo Gạc Ma, Cô Lin, và Len Đao.

[sửa]
Bãi Gạc Ma

Sáng ngày 14 tháng 3, từ tàu HQ 604 đang thả neo tại Gạc Ma, Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, phát hiện thấy bốn chiếc tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần. Tổ 3 người gồm thiếu uý Trần Văn Phương và hai chiến sĩ Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Văn Lanh được cử lên đảo bảo vệ lá cờ Việt Nam đang cắm trên bãi.

Phía Trung Quốc cử 2 xuồng chở 8 lính có vũ khí lao thẳng về phía đảo. Chỉ huy Trần Đức Thông ra lệnh cho các thủy thủ từ tàu 604 tiến về bảo vệ bãi để hình thành tuyến phòng thủ, không cho đối phương tiến lên.

6h sáng, Hải quân Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo giật cờ Việt Nam. Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh bị lê đâm và bắn bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương bị bắn tử thương, trước khi chết ông đã hô: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân".[cần chú thích]

Do Hải quân Việt Nam không chịu rút khỏi đảo, lúc 7h30, Trung Quốc dùng 2 chiến hạm bắn pháo 100 mm vào tàu 604, làm tàu bị hỏng nặng. Hải quân Trung Quốc cho quân xông về phía tàu Việt Nam. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ chỉ huy quân trên tàu sử dụng các loại súng AK, RPD, B-40, B-41 đánh trả quyết liệt, buộc đối phương phải nhảy xuống biển bơi trở về tàu.

Hải quân Việt Nam vừa chiến đấu, vừa tổ chức băng bó, cứu chữa thương binh và hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ cờ. Trung Quốc tiếp tục nã pháo, tàu 604 của Việt Nam bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. Vũ Phi Trừ - thuyền trưởng, Trần Đức Thông - lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, cùng một số thủy thủ trên tàu đã tử trận cùng tàu 604 ở khu vực đảo Gạc Ma.

[sửa]
Đảo Cô Lin

Tại đảo Cô Lin, 6h, tàu HQ-505 của Việt Nam đã cắm hai lá cờ trên đảo. Khi thấy tàu 604 của Việt Nam bị chìm, thuyền trưởng tàu 505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo cho tàu ủi bãi. Phát hiện tàu 505 đang lên bãi, 2 tàu của Trung Quốc quay sang tiến công tàu HQ-505. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đảo thì bốc cháy.

8h15, thủy thủ tàu 505 vừa triển khai lực lượng dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, và đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu 604 bị chìm ở phía bãi Gạc Ma ngay gần đó.

[sửa]
Đảo Len Đao

Ở hướng đảo Len Đao, 8h20 ngày 14 tháng 3, Hải quân Trung Quốc bắn mãnh liệt vào tàu HQ-605 của Hải quân Việt Nam. Tàu 605 bị bốc cháy và chìm lúc 6h ngày 15/3, thủy thủ đoàn của tàu bơi về đảo Sinh Tồn.

Thượng uý Nguyễn Văn Chương và trung uý Nguyễn Sĩ Minh tổ chức đưa thương binh và chiến sĩ về tàu 505 (sau khi bị bắn cháy nằm trên bãi Cô Lin). Thi hài các chiến sĩ Nguyễn Văn Phương, Nguyễn Văn Tư, cùng các thương binh nặng được đặt trên xuồng. Số người còn sức một tay bám thành xuồng một tay làm mái chèo đưa xuồng lết trên mặt nước để tới bãi Cô Lin.

[sửa]
Kết quả

Trong trận chiến ngày 14 tháng 3 năm 1988, Việt Nam bị thiệt hại 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 người tử trận, 11 người khác bị thương, 70 người bị mất tích. Sau này Trung Quốc đã trao trả cho phía Việt Nam 9 người bị bắt, 61 người vẫn mất tích và được xem là đã tử trận.

Việt Nam bảo vệ được chủ quyền tại các đảo Cô Lin và Len Đao. Trung Quốc chiếm đảo Gạc Ma từ ngày 16 tháng 3 năm 1988 và vẫn giữ cho đến nay.

Trong năm 1988, Hải quân Việt Nam đưa quân ra đóng giữ tiếp 11 bãi đá ngầm khác. Ngày 17 tháng 10, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ký văn bản 19/NQ-TƯ về việc bảo vệ khu vực bãi ngầm trong thềm lục địa phía Nam (khu DK1). Ngày 5 tháng 7 năm 1989, Thủ tướng chính phủ ra chỉ thị số 180UT về việc xây dựng cụm dịch vụ kinh tế - khoa học - kỹ thuật thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (DK1), xác định lại chủ quyền Việt Nam đối với khu vực thềm lục địa này. Từ tháng 6 năm 1989, Hải quân Việt Nam bắt đầu đóng giữ các bãi đá ngầm: Tư Chính, Phúc Nguyên, Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Dương, Ba Kè
Bất chấp luật lệ chiến tranh

Theo các báo của Việt nam thì khi tàu của Việt Nam bị đánh đắm thì tàu chiến Trung Quốc chặn không cho tàu của Hội Chữ thập đỏ đến cứu. Đây là một sự vi phạm những điều luật cơ bản nhất của chiến tranh[4].
Vàng
28-05-08, 14:21
Bọn em tuy dốt cũng biết đọc wiki mà bác?
embrace
28-05-08, 14:27
Tiếp đi, tiếp đi bạn ơi, đừng nghe lời Vàng.
ĐànBòVàoThànhPhố
28-05-08, 16:29
Tiếp đi, tiếp đi bạn ơi, đừng nghe lời Vàng.

Bác muốn đọc mấy cái này lắm à? Để em send cho bác 100M các thể loại sách báo do phía Cộng Hoà viết. Bác nhé? B-)
PhanTom_NTD
28-05-08, 18:07
Oánh nhau trên biển xong rồi giờ đến trên bộ(biên giới 1979/1984)

Thống kê thương vong

Nguồn từ phía Tàu: 30.000 ngừơi VN chết (chắc có tính cả dân thường)
Nguồn từ phía VN: 26.000 lính Tàu chết
Nguồn thứ ba: Tàu mất 13.000, VN mất 8.000
Nguồn khác: Tàu mất 30.000

Mô tả chiến trận:

Sáng ngày 17/2/1979, pháo binh và rocket bắn dữ dội sang phía Việtnam. Sau đó 85.000 quân Tàu dùng chiến thuật biển người tràn san. Quân Việt nằm trong công sự dùng súng máy quét gọn quân Tàu, cộng thêm mìn và bẫy làm nốt phần còn lại.

Kinh hoàng bởi tổn thất, Tàu nhanh chóng thay thế viên tướng chỉ huy, và tập trung tấn công vào các thị xã tỉnh lỵ. Dùng tăng và pháo, đến ngày 5/3 họ chiếm được Lạng Sơn. Sau đó Tàu rút lui và cảnh cáo Việt Nam không được truy đuổi! Theo ước tính của Tàu, 20.000 lính và dân thường của cả hai phía chết trong 17 ngày chiến tranh.

Cuộc xâm lược này thể hiện sự tương phản mãi mãi của lãnh đạo Tàu: chiến lược tốt, chiến thuật tồi. Trước đó 7 tháng họ đã quyết định huy động 250.000 quân nhưng vì lý do hậu cần tồi, chỉ huy động được đến thế. Còn khi tiến quân chỉ chiếm được các thị xã ở sát biên giới và không rõ liệu có thể tiến xa hơn về phía Nam được không.

Trong thời gian chiến trận phía Việt đã tổ chức một cuộc phản công vào Vân Nam TQ.

Chúng ta tiếp tục trao đổi!

Con đường lịch sử Hà nội - Lạng Sơn

19-4-1979 – Thành phố Lạng Sơn vắng vẻ, bọn Trung Quốc rút đi đã phá hầu hết những tòa nhà quan trọng. Chúng không chiếm được toàn bộ thành phố, và cũng chỉ vào được trong ba ngày, ba ngày luôn luôn bị quân ta phản công, nhưng cũng đủ thì giờ để chúng biến Lạng Sơn thành một nơi hoang tàn. Cảnh Lạng Sơn rất nên thơ với những hàng cây long não đã già, một khung cảnh núi bao bọc, núi đá vôi dựng đứng với nhiều hang động, chen giữa những đồi đất đỏ thoải mái; khắp nơi đồi nào cũng mang trên mình những vệt dài, như những mạchmáu, đó là những chiến hào bà con đã đào từ mấy tháng nay.
Sông Kỳ Cùng nước trong xanh, hai bờ khá cao; chúng đã phá sập cầu ô tô và hỏa xa, đồng bào phải gánh gồng lội qua sông, may mà chưa đến mùa mưa. Qua sông là phố Kỳ Lừa, và hai động Tam Thanh Nhị Thanh; chúng cho bộc phá hang động, chỉ vì đây là những nơi mà nhân dân Việt Nam thường nhắc nhỡ, còn về quân sự thì chẳng có ý nghĩa gì. Cũng như chúng đã phá tan di tích Pác Bó. Nhớ lại chỉ thị của vua Minh cho Trương Phụ phải hủy sạch sách vở và các di tích văn hóa để người Việt Nam quên hết cả nguồn gốc truyền thống dân tộc.
Qua bờ bắc sông Kỳ Cùng, đường xe lửa bị bóc, cầu cống sụp đổ, đường ô tô lâu lâu lại mang những lỗ sâu hoắm do pháo gây ra. Hai bên đường một số thanh niên các bản làng đã trở về chăm sóc đồng ruộng, người già và trẻ con còn phải ở lại dưới xuôi. Đồng Đăng: nhà ga và thị trấn đầu tiên tiếp đón khách từ xa đến Việt Nam hay Việt kiều về nước bằng xe lửa. Nhà ga tan tành, thị trấn hoàn toàn vắng người, từ đó đến biên giới là trận địa, là no man’s land.
Vào đồn công an vũ trang. Gọi là đồn, thực ra là nhà một đồng bào gia đình đã sơ tán. Chúng tôi ngỏ ý muốn đến tận cửa quan Hữu Nghị quay phim. Nói đến mấy chữ Hữu Nghị quan chúng tôi không khỏi trầm ngâm. Ngày xưa các hoàng đế Trung Quốc ngạo mạn gọi là Trấn Nam quan (cửa đè phương Nam), từ hai nghìn năm đã bao lần các triều đại Trung Quốc cho quân qua đây sang xâm lấn nước ta. Rồi cách mạng hai nước thành công, cửa ải đổi là Mục Nam quan (cửa nhìn về phương Nam), rồi Hữu Nghị quan. Mới ngày nào đây đường ô tô xe lửa liên vận còn qua lại như con thoi, nối liền Việt Nam và Trung Quốc, nối liền nước ta với các nước anh em.
Thế mà ngày nay ... anh em công an vũ trang bảo đoàn chúng tôi bỏ xe lần theo đường sắt đã bị phá mà đi bộ tới biên giới. Một tiểu đội công an vũ trang đi trước vừa đi vừa dò mìn, vừa dò xem bên kia có bắn sang không, sau đó mới cho đoàn quay phim bước tới. Chính tiểu đội nầy đêm hôm trước đã dò khúc đường nầy rồi, các đồng chí về đồn chợp ngủ chốc lát lại được lệnh dẫn chúng tôi đi. Phải dò thật kỹ, vì luôn luôn chúng cho bọn thám báo vượt biên đặt mìn tận đến thành phố Lạng Sơn, hoặc bắn vào người đi qua; từ bên kia biên giới chúng cũng bắn sang. Bọn thám báo là những người Hoa trước kia ở nước ta, quen thuộc đường sá, nói tiếng Việt rất sỏi, chúng trà trộn vào bà con đi lại, hay đêm đêm luồn sang đặt mìn trên đường sá, vào các cơ quan. Chỉ huy Trung Quốc sử dụng triệt để đội quân thứ năm nầy, xem nó là một vũ khí chiến lược trong cuộc chiến tranh xâm lăng Việt Nam. Những người Hoa về nước được huấn luyện thành những đội quân biệt kích, gọi là sơn cước, luồn qua đường núi đường rừng, đánh vào phía sau các đồn biên phòng, đánh phá kho tàng cơ quan cầu cống, tung tin làm cho nhân dân hoang mang; hướng dẫn cho quân Trung Quốc đánh vào những nơi hiểm yếu. Từ trước, trong các làng xã, thị trấn, thành phố một bọn mật vụ người Hoa đã tổ chức một mạng lưới phá hoại, chuẩn bị sẵn sàng đón “đại quân”. “Đại quân” tiến vào chúng đánh phá tiếp tay, rồi làm chỉ điểm hướng dẫn quân xâm lược bắn giết đồng bào, đặc biệt giết cán bộ; người Hoa nào còn ở lại chúng buộc làm chỉ điểm, không chịu chúng bắn tại chỗ.
Cách cửa quan vài trăm mét có thể thấy rõ lính Trung Quốc chĩa súng, và từ xa một vành rađa quay không ngớt. Cảm giác đứng trước một bầy cú vọ trương mắt rình mồi. Nhớ lại năm 1967, đến gần đây tôi ngỏ ý muốn qua cửa quan, các đồng chí địa phương bảo: đến đấy phiền lắm ! Họ sẽ mời vào, tặng anh một quyển sách đỏ, anh phải cảm ơn, chúng chụp ảnh anh cầm quyển sách, rồi hôm sau đăng lên báo là cán bộ Việt Nam ca tụng Mao Chủ tịch và hoan nghênh đại cách mạng văn hóa. Dĩ nhiên làkhông bao giờ ta tán thành cách mạng văn hóa, thực chất là một cuộc tranh giành quyền bính trong nội bộ đảng Trung Quốc, dẫn đến giết hại nhau chết hàng mấy triệu người. Không khí ở Hữu nghị quan đã lạnh nguội từ những năm ấy; sau đến Nixon qua Bắc Kinh, tình hình càng căng, rồi từ 1975, chúng lâu lâu lại cho người xịch các mốc biên giới, cho người cày lấn, sang ở lấn vào đất Việt Nam. Dân ta, lực lượng vũ trang của ta phải mời họ trở về, lúc đầu còn đấu khẩu, sau đến đấu bằng tay chân, rồi gậy gộc, chúng cho côn đồ giết hại cán bộ ta. Đâu có phải để thêm hai ba kilômét vào 10 triệu kilômét vuông của Trung Quốc ! Rồi đến ngày 17-2.
Từ tặng quyển sách đỏ đến sẵn ssàng nhả đạn vào ai đến gần biên giới, thực chất chỉ là một đường lối. Quyển sách đỏ không thành công, không tìm ra được một Pol Pot Việt Nam, chúng phải cho “đại quân” vượt biên giới.
Quí mến anh em công an vũ trang quá ! Trên một tuyến biên giới 1.500 km, giữa rừng núi trập trùng, leo đèo lội suối, thiếu nước uống, ăn củ rừng là chuyện thường, anh em phải ngày đêm giữ sao cho chúng không xích được một mét biên giới, phải bảo vệ làng bản, phải đối đầu với bọn thám báo, bọn sơn cước, và phải chịu những mũi tấn công đầu tiên của quân xâm lược. Chúng rất căm ghét anh em, tìm hết cách tiêu diệt anh em. Đời đời nhớ ơn các anh !
Tôi về khách sạn nhân dân Lạng Sơn ngủ. Một nửa khách sạn bị đánh đổ, năm nửa còn lại, có cảm tưởng không biết đổ lúc nào, trong lúc mình đang ngủ cũng nên. Đêm đêm nghe súng anh em bảo vệ thành phố săn đuổi bọn thám báo. Sáng hôm sau từ giã Lạng Sơn; một phút ngừng lại trước tấm biển nhỏ cắm ngay giữa đường phố, ghi tên anh phóng viên của Đảng Cộng sản Nhật BảnTanako, bị bọn xâm lược bắn chết ngày 7-3, hoa chung quanh tấm biển vẫn tươi, đồng bào hàng ngày không quên người đồng chí từ xa đến chiến đấu chung với chúng ta.
.....
Hà Nội, 22-4-1979
NGUYỄN KHẮC VIỆN
PhanTom_NTD
28-05-08, 18:08
Nhìn từ phía bên kia
(Sưu tầm và giới thiệu)

Qua những lời bà Tô Mai Hồng (nguyên sỹ quan tình báo TQ) đã điều trần trước Ủy Ban Tình Báo của Thượng Viện H.Kỳ và một số điểm do bà ta đã ghi lại trong bài "Cuộc thử thách đau thương của T Q" (Chinese Ordeal)

{...}

Trong cuộc chiến tranh thứ nhất ở Đông Dương giữa quân đội Pháp và VN và nhất là trong trận Điện Biên Phủ, thì sự yểm trợ của TQ đối với VN không những được coi như là vô cùng quan trọng mà còn có tính cách quyết định nữa. Qua cuộc chiến tranh Đông Dương thứ hai giữa Bắc VN và Nam VN với đồng minh H.Kỳ thì TQ cũng đã từng tỏ ra rất tích cực trong việc yểm trợ nước "anh em xã hội chủ nghĩa" của họ.

Nhưng qua năm 1972, sau khi tổng thống Nixon viếng thăm Bắc Kinh rồi tiếp theo việc hai nước Hoa, Mỹ tiến dần đến bình thường hóa quan hệ ngoại giao, thì sự giao hảo giữa VN và TQ ngày càng trở nên lạnh nhạt. Sau khi Chu Ân Lai rồi đến Mao Trạch Đông qua đời vào năm 1976, thì những bất đồng ý kiến giữa đôi bên ngày càng tăng thêm và trở nên trầm trọng.

Đáng ghi nhất là vụ tranh chấp chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở miền Nam biển Nam Hải.

{...}

Chỉ còn một giải pháp duy nhất để cứu Thái Lan và dạy cho VN một bài học là dùng biện pháp quân sự, và TQ đã cho dàn 225,000 quân dọc theo biên giới Trung Việt. Ngày 17/2/1979, quân đội TQ bắt đầu tấn công. Trọng pháo của Hồng quân nhã đạn dữ dội vào vị trí của quân đội VN khiến cho một phóng viên H.Kỳ ở trong vùng phụ cận ví cuộc pháo kích nầy giống như một cuộc oanh tạc của phóng pháo cơ B52, có khác chăng là ở thời gian, vì B52 chỉ oanh tạc khoảng hơn một phút thôi, còn cuộc pháo kích này kéo dài hơn 20 phút, và sau đó, 85,000 quân TQ tràn qua biên giới Trung-Việt, xuất phát từ 26 địa điểm khác nhau.

Cuộc chiến tranh "trừng phạt" này kéo dài 16 ngày, từ 17/2/1979 đến 5/3/1979, là một cuộc chiến ác liệt và đẫm máu, vì chỉ trong một thời gian ngắn mà tổn thất của Hồng quân TQ - căn cứ theo bản báo cáo lên thượng cấp - có thể xấp xỉ với số tổn thất của quân đội H.Kỳ trong cuộc chiến tranh Đông Dương thứ hai.

Một sĩ quan Hồng quân TQ từng tham gia cuộc chiến cho biết : "Đây là một cuộc chiến đẫm máu và vô cùng man rợ. Những bạn đồng ngũ của tôi - nhưng không tham gia các trận đánh ở Triều Tiên hay ở Ấn Độ hoặc chưa từng tham gia một cuộc chiến tranh nào khác - đã cho biết là họ không thể nào tưởng tượng được chiến tranh dã man, tàn độc như vậy. Một số lớn đơn vị được gởi ra mặt trận đã không được chuẩn bị kỹ càng về tinh thần cũng như về vũ khí, nên họ đã phải trả một giá rất đắt: đó là mạng sống của họ. Chỉ có một điều duy nhất làm cho anh em binh sĩ vô cùng hể hả là việc san bằng thị trấn Lạng Sơn thành bình địa, mà chính bản thân tôi đã được chứng kiến tận mắt. Vụ phá hoại này đã làm cho chúng tôi vui lòng vì chúng tôi muốn trả thù bọn VN và như một cấp chỉ huy của chúng tôi từng nói "đó là một cái hôn giả biệt " để cho bọn VN luôn luôn nhớ mãi chúng ta. Không phải riêng gì Lạng Sơn, mà tất cả các thị trấn dọc theo biên giới Trung-Việt đều bị san bằng trước khi quân đội chúng ta rút lui khỏi VN; và chúng tôi không bao giờ ân hận hết, có đi chăng nữa là rất tiếc không có cơ hội để san thành bình địa hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng ".

Mấy tuần trước khi chiến tranh bùng nổ, quân của VN đã mở chiến dịch khiêu khích Hồng quân và sau đây là lời khai của một sĩ quan nhân chứng: "Binh sĩ chúng tôi rất bực tức khi bị khiêu khích và nghĩ rằng bọn VN tưởng là chúng cũng mạnh tương đương với chúng ta vì được xếp vào hàng thứ 3 trên thế giới về quân lực, cho nên giờ đây chúng nghĩ rằng chúng muốn tác oai tác quái gì cũng được, vì chúng là bá chủ hiện nay trên bán đảo Đông Dương về lãnh vực quân sự".

Sau khi chiến tranh chấm dứt, chúng tôi có cơ hội để nghiên cứu và phân tích những bản báo cáo về hành quân tại các chiến trường thì thấy rằng Hồng quân TQ đã trả một giá quá đắt cho cuộc thắng trận này vì chưa được chuẩn bị kỹ càng trước khi tham gia cuộc chiến. Có rất nhiều đơn vị được đánh thức dậy từ sáng sớm tinh sương để chuẩn bị hành trang xong là lên đường ra mặt trận. Và qua ngày hôm sau là đã tham gia chiến đấu rồi. Còn đạn dược thì có rất nhiều lô đã quá hạn xử dụng từ lâu, cho nên lắm khi đạn tuy rơi trúng mục tiêu nhưng lại không nổ (Đoạn này hài hước thật). Trong khi đó thì chúng tôi đã tìm thấy trong những đồn bót mà chúng tôi đánh chiếm được của VN vô số vũ khí tối tân được tiếp tế trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương thứ hai, còn đa số đạn dược của chúng ta gởi ra mặt trận được chế tạo trong thập niên 1950. Một số anh em binh sĩ sử dụng rocket bắn chiến xa đã bị địch bắn chết vì mặc dầu đạn đã trúng đích rồi nhưng lại không nổ. Tuy nhiên trong cái rủi lại có chỗ may là nhờ đó mà về sau đồng chí Đặng Tiểu Bình mới phát động chiến dịch canh tân vũ khí. (buồn cười quá)

Thật đáng tiếc là chúng ta không chịu rút tỉa những kinh nghiệm của quân đội H.Kỳ trong cuộc chiến ở VN. Chúng ta tin rằng H.Kỳ đã thua trận vì quân đội của họ không có niềm tin khi lâm chiến. Chính Chủ Tịch Mao đã từng bảo chúng ta là một đạo binh dù cho có vũ khí tối tân mấy đi nữa mà binh sĩ không có niềm tin ở mục tiêu chiến đấu của họ, thì họ không bao giờ mang lại chiến thắng cho chính họ được.

Nếu chúng ta tin và thực sự tin là khi chúng ta dùng hết tiềm năng quân sự của chúng ta vào cuộc chiến tranh "trừng phạt" này, thì quân đội của VN sẽ bị tan vỡ ngay trong vài giờ, và chúng ta sẽ chiếm Hà Nội và Hải Phòng trong một hay hai ngày mà thôi (Hitler có sống lại chắc cũng sốc trước câu khẳng định này). Sau khi trừng phạt xong bọn vong ân bội nghĩa thì chúng ta rút quân về ngay. Nhưng đáng tiếc thay, mọi việc đến với chúng ta không được suôn sẻ cho lắm. Và chúng ta đã phải trả một giá rất đắt cho cuộc chiến thắng này.

Một trong những vấn đề quan yếu trong cuộc chiến là việc sử dụng sao cho hữu hiệu đoàn quân cơ giới của chúng ta, căn cứ vào địa hình, địa vật của miền sơn cước VN cũng như rút tỉa những kinh nghiệm mà H.Kỳ đã thu thập được trong trận chiến tranh thứ hai ở Đông Dương. Nhưng rất tiếc là chúng ta không chịu học hỏi những kinh nghiệm của H.Kỳ trong khi điều động các đoàn quân thiết giáp của chúng ta. Đó là một hành động có thể nói là ngu xuẩn (quá đúng), vì mặc dầu chúng ta đã điều động các trung đoàn thiết giáp vượt qua biên giới trước tiên mà chúng ta vẫn không nắm được ưu thế. Sau đây là một trường hợp điển hình: Một nữ cán bộ VN đóng chốt tại một vị trí sát ngay biên giới, đã dùng rốc kết phá hủy từng chiếc chiến xa một của chúng ta và phá luôn một lèo 7 chiếc. Những trường hợp như thế này đã xảy đến cho rất nhiều trung đoàn, gây thiệt hại rất lớn cho Hồng quân của chúng ta. Có những toán chiến xa tiền sát nhận được lệnh phải băng qua những chiếc cầu ở biên giới nhưng cấp chỉ huy không biết ước lượng sức chịu đựng của những chiếc cầu này nên đã cho từng đoàn chiến xa chạy qua cầu cùng một lượt - thay vì cho qua từng chiếc một - nên cầu bị gãy và cả đoàn chiến xa rơi cả xuống sông.

Sở dĩ xảy ra những chuyện đáng tiếc như thế là vì các sĩ quan chỉ huy thiết giáp của chúng ta nghĩ rằng sĩ quan công binh của VN có trình độ cao, nhưng sự thật lại không phải thế. Và đây là một trường hợp thật là hiếm có: Một đoàn chiến xa trên đường tiến quân gặp phải một ngọn đồi cao, dốc dựng đứng choáng cả lối đi. Viên sĩ quan chỉ huy đơn vị - vì muốn tiến nhanh - nên đã ra lệnh cho tất cả các chiến xa phải trực chỉ leo thẳng lên đỉnh đồi. Vì độ dốc của đồi quá cao nên một số chiến xa bị lật ngược trước khi lăn xuống chân đồi. Viên chỉ huy vẫn cứ ngoan cố, cho rằng vì một số tài xế lái dở nên chiến xa mới bị lật, nên vẫn duy trì lệnh tiến quân. Rốt cục 6 chiến xa bị lật và không xử dụng được nữa. Còn viên sĩ quan chỉ huy đơn vị này thì bị truy tố ra trước tòa án của mặt trận.

Rất nhiều binh sĩ đã bị đưa ra xử trước tòa án mặt trận trong cuộc chiến tranh "trừng phạt" này. Tuy nhiên chỉ trong quân đội mới được biết những tin tức này mà thôi chứ đối với quiần chúng thì những tin nầy vẫn bị ém nhẹm.

Sự thiệt hại về nhân mạng cũng như về vũ khí tuy lớn nhưng cũng không lớn bằng sự thiệt hại về uy tín của Hồng quân, vì mọi yếu kém của quân đội đã được phơi bày ra hết nhất là về phương diện kỷ luật và tuân hành mệnh lệnh.

Vì bất tuân thượng lệnh mà từng xảy ra chậm trễ trong khi hành quân: Tại một ngã tư vùng biên giới gần thị trấn Lạng Sơn, một số lớn xe cộ của nhiều đơn vị đồng thời đến nơi đây cùng một lúc; và chả có đơn vị nào chịu nhường quyền ưu tiên cho đơn vị nào, nên chỉ trong chốc lát một cảnh kẹt xe hỗn loạn xảy ra ngay trước mắt. Lúc bấy giờ trong quân đội chúng ta chưa có vụ mang huy hiệu trên quân phục vì cấp lãnh đạo cho rằng mọi người lính đều ngang nhau, nên không thể nào phân biệt được ai là sĩ quan và ai là lính (Không thể hiểu nổi quân đội chính quy Tàu Khựa). Vì giao thông bị tắt nghẽn quá lâu nên vị tư lệnh lộ quân XLI bèn đứng ra đjều động sự giao thông, giống như tướng Patton đã từng làm khi ông chỉ huy quân đoàn III ở Âu Châu. Nhưng khổ một nỗi là có một số sĩ quan trẻ ở các đơn vị khác, không thuộc lộ quân XLI nên nhất định không chịu nghe theo mệnh lệnh của ông và cứ đòi cho kỳ được quyền ưu tiên qua trước vì họ không biết ông ta là ai. Thậm chí có người sỉ vả rằng ông là ai mà dám đứng ra dành quyền điều khiển việc giao thông tại nơi đây? Khi ông cho biết ông ta tư lệnh lộ quân XLI thì tiếng la ó lại càng to hơn nữa vì họ cho rằng làm gì có chuyện một vị tư lệnh của một lộ quân lại chịu hạ mình xuống làm nhiệm vụ của một anh quân cảnh. Rồi trong tiếng la ó lại có xen lẫn tiếng "Vậy tôi đây là tham mưu trưởng Hồng quân", hoặc "Còn tôi là Đặng Tiểu Bình thì ông nghĩ sao?". Trong lúc đó có một số sĩ quan phụ tá viên tư lệnh lộ quân XLI chạy đến giải thích thêm, nhưng cũng chả có ai chịu nghe và cuối cùng họ đi đến xô xát nhau làm cho người nào người nấy quần áo bê bết cả bùn. May sao khi đó lại có một viên sĩ quan cao cấp kịp thời chạy đến và nhận diện được vị tư lệnh lộ quân XLI, và các viên sĩ quan đang tranh chấp nhau cũng biết mặt viên sĩ quan đến sau cùng, nên mọi việc đã được dàn xếp ổn thỏa. Cần nên ghi nhớ đây là một chuyện có thật. Và sau đó mọi sự việc đã được báo cáo lên lãnh tụ Đặng Tiểu Bình. Hai năm sau cuộc chiến tranh "trừng phạt VN" , lãnh tụ Đặng Tiểu Bình ra lệnh mọi binh sĩ của Hồng quân đều phải mang huy hiệu về quân hàm của họ trên bộ quân phục. (Ôi, đầu óc vĩ đại của chóp bu quân sự Tàu Khưa)

Một sĩ quan khác được phỏng vấn kể tiếp: "Rất nhiều binh sĩ của Hồng quân đã bị thiệt mạng vì bị chính quân đội của ta pháo kích. Sở dĩ có chuyện đáng tiếc như vậy là vì sĩ quan pháo binh của chúng ta không được huấn luyện kỹ càng hoặc trong các đơn vị pháo binh không có sĩ quan tiền thám để cho tọa độ tác xạ, nên các xạ thủ chỉ bắn phỏng chừng mà thôi. Nếu đi sâu vào vấn đề thì nguyên do cũng chỉ tại thiếu sự liên lạc giữa các vị chỉ huy từng vùng của mặt trận".
Vấn đề tiếp liệu cũng gặp nhiều khó khăn vì chúng ta đưa ra mặt trận quá nhiều quân. Chúng tôi không rõ cấp chỉ huy của quân đội H.Kỳ đã rút tỉa được gì trong khi chiến đấu với quân đội VN, chứ theo chúng tôi thì đánh nhau với VN không cần phải đưa ra thật nhiều quân mà chỉ cần đưa ra một số đơn vị được huấn luyện thật kỹ càng, nhất là về chuyên môn. Một vấn đề khác nữa là cấp chỉ huy của chúng ta cho rằng không dùng Không quân để yểm trợ cho bộ binh cũng có thể thắng được VN; vì bên VN có rất nhiều hỏa tiễn SAM do LX cung cấp, những hỏa tiễn phòng không này đã từng hạ nhiều phóng pháo cơ B52 của H.Kỳ, nên cấp chỉ huy của chúng ta mới dè dặt khi nói đến việc sử dụng Không quân để yểm trợ cho bộ binh.

Khi phát động chiến tranh rồi mới thấy là chúng ta thiếu hẵn phương tiện để liên lạc và phối hợp hành động giữa các đại đơn vị cùng được lệnh tấn công một mục tiêu chung. Đó là trường hợp của 2 sư đoàn tuy được lệnh tiến chiếm một thành phố nhỏ mà vẫn cứ tưởng là chỉ có riêng đơn vị của mình được lệnh này mà thôi. Ba sư đoàn được lệnh đánh chiếm Lạng Sơn và ai cũng tưởng rằng thị trấn này có rất nhiều quân VN trấn giữ. Trước khi tấn công, pháo binh của ta đã nhả liên tục hàng trăm ngàn viên đạn đại bác trong vòng 8 tiếng đồng hồ vào thành phố này. Nhưng đến khi vào chiếm Lạng Sơn, chúng ta mới thấy đó là một thành phố bỏ ngỏ và chỉ có khoảng vài trăm thường dân còn sống sót nhưng đều bị điếc vì cuộc pháo kích, cho nên chúng ta cũng đã "giải thoát" hộ cho họ (quân khốn nạn!). Khi cuộc chiến sắp chấm dứt, bên ta đã huy động toàn bộ sinh viên sĩ quan trường công binh của Hồng quân đến đặt mìn trong từng nhà một của thành phố Lạng Sơn, tất cả những xác chết của dân chúng đều được chất thành từng đống và cũng được quấn mìn; khi mọi việc phá hoại được chuẩn bị xong xuôi,ai nấy đều rút ra khỏi thị trấn, thì viên chỉ huy mới nhấn nút cho mìn nổ. Và Lạng Sơn, thành phố lớn nhất của VN ở vùng biên giới kể từ nay đã trở thành bình địa và coi như đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới. (quân khốn nạn Tàu Khựa)

Trong khi tiến quân xuống miền Nam, một số lớn binh sĩ của chúng ta bị thiếu ngủ ngày này qua ngày khác, nên khi có lệnh dừng lại để nghỉ ngơi là anh em rất hoan nghênh. Nhưng nào có nghỉ được phút nào đâu vì du kích quân VN chỉ rình có cơ hội đó để phục kích chúng ta. Đó là chưa kể hầm chông thì có khắp nơi, làm cho binh sĩ của chúng ta thiệt mạng cũng khá nhiều. Có nguồn tin cho hay là nhiều rừng tre ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh đã trở nên xơ xác vì tre đã bị đốn để làm hầm chông ở trên vùng Việt Bắc nhắm làm chậm cuộc tiến quân của quân ta.

Nạn mìn bẫy cũng làm cho quân ta chết khá nhiều, và vì vậy mà quân ta ít khi bắt tù binh vì gặp bất cứ dân VN nào họ cũng đều bắn hạ cho hả cơn giận (một đoàn quân man rợ). Về phía VN, binh sĩ họ cũng có những hành động tương tự như quân của chúng ta. Cho nên sau khi ngưng chiến và trao đổi tù binh thì chỉ có một số rất ít thôi vì đa số thì đã bị giết chết cả rồi.

Một trong những điều làm cho binh sĩ của chúng ta bực tức nhất là bọn nữ du kích VN. Trong khi tiến quân xuống miền Nam, chỗ nào đã đi qua rồi là chúng tôi coi như vùng đó là nơi an toàn, nhưng sự thật thì không phải như thế vì trên nội địa VN không có nơi nào có thể gọi là nơi an toàn đối với chúng tôi cả. Một đoàn chiến xa T59 đi hàng một trên một con đường núi nhỏ hẹp. Gặp khúc quanh ngặt, xe dẫn đầu phải chạy rất chậm mới có thể quẹo được; nhưng trong khi quẹo thì lổ châu mai dùng để nhắm vẫn đứng yên bất động, không quay theo hướng của chiếc xe. Và chính lúc đó là lúc mà tên du kích dùng súng của hắn bắn vào lổ châu mai và giết chết người lái xe. Tài xế của bảy chiếc chiến xa đều bị giết chết khi họ muốn quẹo xe và cả đoàn cơ giới đành phải dừng lại vì không có bộ binh đi theo hộ tống, và ai cũng tưởng đã gặp phải sức chống cự của một lực lượng hùng hậu của địch. Rồi mọi chiến xa đều bắt đầu xạ kích lung tung vì không thấy mục tiêu. Khi dứt tiếng súng thì cảnh vật lại trở về im lặng với cây rừng. Sau đó một chốc, một đại đội bộ binh được gởi đến để lục soát trong vùng. Cuối cùng họ bắt được một nữ du kích VN với một khẩu súng. Viên chỉ huy đoàn chiến xa giận quá bèn cho lột truồng cô bé, đoạn trói cả tay chân rồi ném ra giữa đường. Rồi ông ta nhảy lên một chiếc chiến xa và lái xe này chạy qua chạy lại nhiều lần trên mình cô bé cho đến khi chỉ còn một mớ thịt bầy nhầy trải trên mặt đường núi (quân Tàu Khựa khốn nạn). Trong khi đó binh sĩ của ông ta lên tiếng cổ võ rầm rĩ vang cả khu rừng. Cảnh tượng này cho ta thấy rằng Hồng quân của chúng ta không phải thiếu về vũ khí tối tân, mà thiếu sự chuẩn bị về tâm lý khi phát động cuộc chiến tranh "trừng phạt VN".

Chúng ta cứ tưởng rằng cuộc chiến này sẽ là một cuộc chiến tranh qui ước và người dân thường không tham gia cuộc chiến như một người lính. Nhưng họ có biết đâu ở V.N mọi người dân đều là lính cả; và chính điều này đã cho ta thấy là chúng ta chưa bao giờ chịu rút tỉa những bài học từ kinh nghiệm đã qua của người H.Kỳ.
Phụ nữ VN thường hay giả bộ chào đón chúng ta, nhưng khi đến gần thì họ ném lựu đạn vào chúng ta hoặc cầm lựu đạn nhảy vào giữa đám quân của ta để cùng chết. Có một lần có một cô gái dân sự V.N bị thương và được đưa vào điều trị tại một bệnh viện dã chiến của Hồng quân. Khi vào trong bệnh viện cô bé cho nổ quả lựu đạn mang trong người để tự sát và cũng để giết luôn một số người của chúng ta nữa.

{....}

Binh sĩ của chúng ta khi nghe kể lại những hành động dã man của quân đội VN thì họ rất căm thù và sau đó họ cũng đối xử như vậy với nữ tù binh VN. Một khi binh sĩ ta đã nổi cơn thịnh nộ thì họ cũng biết bắn, giết, đốt phá nhà cửa như điên, và họ rất lấy làm vui thích khi có dịp để trả thù lại quân đội VN.

Trong cuộc chiến tranh "trừng phạt" này, chúng ta đã áp dụng chính sách tiêu thổ đối với VN. Ngay trong vùng Lạng Sơn có mỏ "Lân Tinh", chúng ta đã cho công binh tháo gỡ toàn bộ máy móc và dụng cụ dùng để khai thác hầm mỏ này và mang về TQ. Những gì không mang đi được như đường sá, nhà cửa, các con đường hầm, đều bị phá sạch.

Đối với người ngoại quốc, nhất là đối với H.Kỳ - nước đã thất bại ở VN - thì TQ đã không thành công trong cuộc chiến tranh "trừng phạt VN ", nhưng sự thật thì ngược lại vì nhờ có cuộc chiến tranh nầy mà quân đội TQ đã rút được rất nhiều ưu khuyết điểm để ngày càng tiến bộ thêm lên.
PhanTom_NTD
28-05-08, 18:10
đó là những bài em sưu tầm từ rất nhìu nguồn để giúp mọi người có cái nhìn sáng tỏ về Quan hệ việt nam -trung quốc từ trước tới nay!!
em mong các bác ko xem xin đừng ném đá em kẻo u đầu chít!!!!!!!1
Độc Tửu
28-05-08, 19:04
Vũ khí hạt nhân
Máy bay chiến lược
Tàu ngầm nguyên tử

Có 3 cái đây rải đều từ B vào N, tự khắc bé mà người khác vẫn phải ngước nhìn !
pam
28-05-08, 19:38
Ấy PhanTom_NTD sưu tập thì cứ sưu tập nhưng nên tóm tắt lại ý chính rùi cho các bạn link là được rùi. Với lại copy paste những cái nổi bật và có kèm theo nguồn để còn dễ theo dõi chứ.

Ấy mà không viết hoa đầu dòng là bị cho vào đội khoan cắt bê tông đấy :D
CMKCD
29-05-08, 08:12
Làm tới đi Phantom ới ời ... Phệt ra đây cũng được, có đưa link đi đâu thì cũng phải kéo lên kéo xuống mà đọc chứ có ngắn được tí nào đâu. Nhưng cho nguồn tham khảo cái, nhẩy. Cảm ơn bác.
WarIII
29-05-08, 14:10
Ấy PhanTom_NTD sưu tập thì cứ sưu tập nhưng nên tóm tắt lại ý chính rùi cho các bạn link là được rùi. Với lại copy paste những cái nổi bật và có kèm theo nguồn để còn dễ theo dõi chứ.



Ừ thì em bết cái link (http://http://www.viet-studies.info/kinhte/DDDy_MuoiDaoQuan.htm) vào cho các bác đọc, dưng mà em thấy cái thằng khựa viết bài này có khiếu hài hước cực kì xuất chúng còn nếu không thì chắc là cái loại bồi bút, thằng mõ của chính quyền khựa (em nói thằng viết chứ không phải người dịch đâu nhá). Gì mà ?ai đánh nhau với khựa thì là thằng điên?
PhanTom_NTD
29-05-08, 16:43
em nói thật với các bác nhà mình nhé, tất nhiên tài liệu trên mạng thì có rất nhìu nhưng bị cái là các tài liệu này phân bố rải rác, lẻ lẻ, chưa có trình tự nào cả, chính vì thế mà em ST tất cả lại ,chia các bài viết vào với loại của nó để mọi người tiện theo dõi-các bác hỉu ko!!
Em lấy từ rất nhìu nguồn rồi sắp xếp lại nên khi nào xong em đưa tất cả các nguồn em ST vào 1 chỗ cho khỏi thắc mắc!! Được chưa hả các bố!
Ko hỉu là chắc chã
pam
29-05-08, 17:26
Tớ nói sợ làm ấy PhanTom mất nhiệt tình, lại không post bài nữa thì tớ lại mang tiếng chứ :(

Chã thì đã làm sao? Không lẽ bài của ấy chống chỉ định với tất cả các loại chã?

Ấy nên xác định mục tiêu post bài là gì. Ấy định đưa ra vấn đề để mọi người cùng thảo luận, bổ sung tài liệu, cho ý kiến hay thế nào? Topic của ấy là trong mục Chuyện nghiêm chỉnh đấy.

Ấy muốn tập hợp tài liệu về một mối? OK thôi. Nhưng theo ý của cá nhân tớ thì trừ phi đó là tài liệu độc, khó tìm hoặc không có trên mạng thì mới nên copy paste. Còn nếu chỉ đơn giản dùng google thì ai cũng có thể làm được. Như tớ đã nói, ấy nên tóm tắt sơ lược và copy paste những cái gì ấy thấy là đặc sắc rồi đưa link cho các bạn quan tâm có thể tìm hiểu. Thậm chí nếu đầu tư hơn, ấy có thể tổng hợp tài liệu ấy có thành một bài viết hoàn chỉnh, giải quyết vấn đề ấy nêu ra.
CMKCD
10-06-08, 10:30
Ông PhanTom đâu rồi, vào post bài tiếp đi chứ....Mấy bác kia xê ra, đang đoạn hay của nó.