Chuyện kể dành cho Gun tình yêu

Sất
18-10-07, 16:50
Bài luận có tên " Trí Thức Việt, một bối cảnh mất định hướng", bài này em hoàn thành được vì tin vào tình yêu Nâu. Bài luận này em đã gửi bên trang damau, họ gửi lại tới 43 câu hỏi cần xem lại. Em sửa một đoạn và đã gửi anh Lê Thanh Huy bên công ty Bách Việt, hiện giờ đang thay anh Cảnh bình vụ tủ sách tinh hoa.

Nhưng topic này dành cho tình yêu Gun, từ câu hỏi của Gun trong topic " nhà văn tathy và nhà văn thanhnienxame" bên văn chương thi phú.

http://www.thanhnienxame.net/showthread.php?p=122276#post122276


Anh là một người thực dụng về mặt tri thức, cái gì anh cũng đọc rất kỹ, và cái gì anh biết anh không thể hiểu vì trình thấp thì anh không lăn tăn gì nữa mà bỏ qua và quên ngay. Cả đoạn trên của Sất, vì logic của anh nó có giới hạn, nên anh chỉ hiểu mỗi đoạn này, thề đấy. Sau Sất viết gì cho anh, cứ chia nhỏ ra, mỗi post một ý cụ thể rõ ràng. Các post có thể nối đuôi nhau thành hàng dài Sất bước một hai một hai. Mà nếu Sất viết một cái mới toe toè loe chả ăn nhập gì với chủ đề thì cứ mạnh dạn làm hẳn quả tô bíc mới cho hoành tráng, anh hứa anh bảo kê vụ này, mọi sự vụ sẽ bị ngăn chặn kịp thời từ khi ban TZV bàn bạc ở các tôbic quản lý không để như Nâu Uây Lạng đâu.

Giờ nói về cái phần anh hiểu, thì anh chỉ khuyên là Sất đừng mang điện thoai di động có gắn camera đi, đừng để bị quay phim chụp ảnh gì nhé. Nhớ phải có các biện pháp an toàn tránh các bệnh lây lan qua đường tz, tránh đi qua các khâu trung gian lòng vòng, chuyện trao đổi phải sòng phẳng rõ ràng, tiền bạc phân minh ái tình thẳng thắn.

Sất ơi, em không phải xin lỗi ai cả@Lãnh tụ Vừu.



Chuyện về tủ sách tinh hoa nhân loại, em google.

http://www.google.com.vn/search?hl=vi&q=T%E1%BB%A7+s%C3%A1ch+tinh+hoa&btnG=T%C3%ACm+v%E1%BB%9Bi+Google&meta=

Mấy trích dẫn trong bài viết em không đưa đường dẫn được vì viết máy tính ở nhà không có nối mạng ( vì lo các bạn đọc lại bảo em sáng tác tiểu thuyết sau khi rút kinh nghiệm chuyện sacombank của bác Đông ).


Em sẽ bốt ở bốt sau.
Sất
18-10-07, 16:55
Bài luận này Sất đã bốt ở TNXM một trích đoạn nhỏ rồi, theo đề nghị của Gun mình bốt nốt.







Tri thức Việt, một bối cảnh mất định hướng.

1.Văn nghệ, gió ngoài luồng thổi vào căn phòng trống.


Định vị cho tri thức có được của một nhóm người như thế nào và được tính đến bằng văn chương đương đại nó bao chứa trong đó. Sau đó là luồng tri thức diễn giải xung quanh sự kiện/tình huống văn nghệ được biểu hiện, giãi bày trong bầu không khí chung của báo chí. Chi tiết này tạo nên sự vận hành mang tính tiến triển (1)
Với điều này thì tri thức Việt đang ở trong tình trạng như thế nào?

Nếu coi sự tiến triển như là trình độ tiếp nhận, cập nhật những thành tựu khoa học kỹ thuật của cuộc sống đương đại thì câu trả lời cho giới văn nghệ trong nước là lép vế. Với chừng hơn 10 trang báo mạng chuyên về văn học nghệ thuật được khởi xướng bởi những cá nhân biên tập người Việt tại nước ngoài. Những trang báo mạng được khởi xướng từ những tổ chức/tập thể cơ quan chuyên trách trong nước hết sức ít ỏi, chừng 4, 5 trang với chất lượng kém hơn hẳn. Có thể kể đến trang evan (thuộc trang báo điện tử vnexpress), mục văn hoá báo mạng vietnamnet sau đó là trang vannghesongcuulong.org khá nhộn nhịp và có sức sống, những trang còn lại như cinet.com (trực thuộc bộ văn hoá thông tin), vhnt.com (thuộc hội nhà văn Việt nam), vanhocnghethuat. org (tạp chí văn học nghệ thuật Việt nam) … thì đều hết sức sơ sài, đang trong thời gian xây dựng, ít tài liệu lưu trữ và không có cập nhật những tác phẩm mới. Những tờ báo chuyên về mảng này trong nước như Văn Nghệ hoặc Văn Nghệ trẻ, tạp chí văn học nước ngoài, tạp chí văn nghệ quân đội vv.. đều chưa thấy có trang web trên mạng.

Riêng trường hợp trang evan.com.vn. Bắt đầu từ phần mục văn hoá của báo điện từ vnexpress, ra đời vào giữa tháng 5.2003, evan đã thực sự trở thành một trang web độc lập chuyên về văn học với “tinh thần thế giới”. Trang báo này có chủ trương nối khoảng cách giữa những trang báo mạng như tienve, gio-o, hopluu của cộng đồng hải ngoại và giới trí thức trong nước. Họ mạnh dạn giới thiệu khá nhiều tác giả hải ngoại và một số tác giả trẻ tại TP Hồ Chí Minh với những quan điểm nghệ thuật gây nhiều tranh cãi và nhạy cảm. Tuy nhiên sau thời điểm thành lập chừng 1 năm, cùng với việc 2 người biên tập chính rời bỏ vị trí này, trang evan có những khủng hoảng. Thời điểm cuối năm 2005, giao diện của trang có một số thay đổi. Hiện nay trang evan dần rời bỏ các tiêu chí ban đầu, đa số tin bài dịch từ báo nước ngoài, tác phẩm ít và không mấy chất lượng so với thời gian đầu. Trường hợp evan thành công trong một năm đầu sau đó không có gì tiến triển, đã chứng tỏ rằng hai người biên tập chính của trang này vào thời điểm đó đã không xác định được biên độ và giới hạn của mình trong việc đưa ra khối lượng vấn đề và khả năng tiêu hoá/thẩm thấu của văn học hiện tồn trên mạng internet và văn nghệ trong nước. Vấn đề này, đặt ra bởi những nhóm văn chương trên mạng, thực sự liên quan tới những khía cạnh chưa được nhắc đến của văn học Sài Gòn trước năm 1975 và những vấn đề chính trị nhạy cảm kèm theo.

Trang báo mạng vannghesongcuulong.org là một trang web khá thành công, tuy nhiên chất lượng dừng ở mức địa phương, tuy vậy họ cũng đã tạo ra những không khí liên mạng hết sức hồ hởi tại khu vực phía nam. Trang tác phẩm tại báo điện tử vietnamnet chủ tâm vào phần dịch thuật và giới thiệu tác phẩm văn học kinh điển nước ngoài, đặc biệt là những tác giả đã đọat giải Nobel cho độc giả trong nước ít kiến thức về văn chương Châu Âu kinh điển. Một vài chuyên đề báo chí văn nghệ tại vietnamnet tỏ ra khá hấp dẫn và có chất lượng. Tuy nhiên trang này ra mắt không thường xuyên, ít vấn đề dám đề cập tới, hoặc đề cập tới nhiều vấn đề một cách nửa chừng, vì ngại kiểm duyệt. Do vậy nó không đủ nội lực để thu hút bao chứa những tác phẩm sáng tác có nội dung đương đại như các trang web hải ngoại.

Như vậy, phần mục văn chương/sáng tác tạo ra một sân chơi riêng vẫn là một khoảng trống. Từ trước đến nay đã có những trang “uy tín” như báo tuần văn nghệ, văn nghệ trẻ, tạp chí tháng văn nghệ quân đội, tạp chí văn nghệ công an…Những trang này hầu như khẳng định tính chất “già mà cay” và rất hiếm hoi có những tác phẩm mang hơi thở thời đại. Rất lâu họ không hề là nơi “ươm mầm” cho những tác giả trẻ. Báo ít tính chất chuyên môn mà có hơi thở xã hội như Tiền Phong, Tuổi Trẻ... Sau thời điểm đổi mới trong những năm 1986 với lớp nhà văn trưởng thành bao gồm Hồ Anh Thái, Văn Cầm Hải, Phan Triều Hải, Phan Thị Vàng Anh, vv... Lớp kế cận tiếp theo không xuất hiện từ những trang báo trung tâm này mà từ hoa học trò, mực tím, tờ báo dành cho lứa tuổi học sinh cấp 3, đó là Phan Hồn Nhiên, Nguyễn Thị Châu Giang, Dương Thuỵ, vv…Một số khác tạo tên tuổi từ các cuộc thi/in sách như Vi Thuỳ Linh, Nguyễn Ngọc Thuần, Vũ Đình Giang vv.

Trong năm 2005, tôi được biết giới văn nghệ trong nước có thêm một vài tạp chí tháng là tạp chí văn nghệ công nhân (thuộc tổ chức công đoàn Việt nam), tạp chí văn nghệ của hội nhà văn TPHCM, tạp chí Thời Văn của nxb Văn Nghệ Tp HCM, có ra một vài số nhưng sau đó hoạt động cầm chừng hoặc ngưng hẳn.


Thời điểm 5, 6 năm trở lại đây, xuất hiện một loạt những trang web trên mạng chuyên về văn chương nghệ thuật hết sức thuyết phục cả về hàm luợng lưu trữ tri thức, tác phẩm cập nhật, tạo ra một sân chơi sáng tạo cho giới sáng tác mà chục năm trở lại đây trụ sở văn chương chính thống là các tờ báo văn nghệ không làm được. Điều đặc biệt là người biên tập đều là Việt kiều đang sinh sống tại nước ngoài, có thể kể đến như sau: hopluu.net, tienve.org, gio-o.com, amvc.free.fr, tapchitho.org, thotanhinhthuc.org, talawas.org, damau.org, newvietart.com..vv... Có một hiện tượng là khá nhiều những tác giả trẻ đều chọn những trang web này cho sự xuất hiện của mình. Họ được biết đến bởi những trang web mạng này trước, sau đó mới trở lại xuất hiện hoặc gây sự kiện trong giới văn chương chính thống trong nước. Ví dụ như Nhóm thơ Mở Miệng, Nhóm Ngựa Trời... Hoặc họ có những tác phẩm xuất sắc trên mạng, sau đó mới trở lại giới văn nghệ chính thống trong nước gây sự kiện bằng xuất bản như hiện tượng “Bóng Đè” Đỗ Hoàng Diệu, tập thơ “Dự báo phi thời tiết” của nhóm “Ngựa Trời”, tiểu thuyết “Chuyện của thiên tài” từ Nguyễn Thế Hoàng Linh, Nguyễn Thuý Hằng với tập thơ/truyện “Thời hôm nay, khoái cảm và điên rồ hợp lý”. Một hiện tượng thêm nữa là rất nhiều những tác giả /nhà văn /nhà thơ có xu hướng cách tân trong nước sau khi đã có tên tuổi và dấu ấn tại hệ thống văn chương chính thống, họ thường xuyên cập nhật, cộng tác trao đổi gửi bài tới những trang báo mạng này.

Cần phải xác định ranh giới và định vị thế nào khi gió thổi đến căn nhà kín và căn phòng trống ?

Tôi cho rằng, đã đến thời điểm mỗi bên chúng cần phải định vị lại trước những hiện tượng mà văn chương trong nước thì “chỉ trích, cho rằng có vấn đề trầm trọng “ trong khi văn chương trên mạng thì “ủng hộ khuyến khích cho rằng có giá trị, sáng tạo”. Thái độ quá khích trong chủ trương của nhóm người biên tập trên những trang báo mạng như tienve, talawas nhằm mục đích tạo ra một tình thế đối lập cho vấn đề nội tình túng quẫn trống trải của văn chương trong nước. Và, họ đã đạt được phần nào mục đích với những lý do hợp lý nào đó. Điều này minh chứng cho thái độ cộng tác của một số trí thức hàng đầu đang sống và làm việc trong những cơ quan công quyền tại Việt nam như Nguyễn Hoà (báo Nhân Dân), Lại Nguyên Ân, Nguyễn Trọng Tạo (Hội nhà văn Việt nam, Nxb Hội nhà văn) ... và những trí thức trẻ hơn như Phạm Xuân Nguyên (Viện Văn học), Nguyễn Bình Phương (tạp chí văn nghệ quân đội), Trần Nguyễn Anh, Lê Anh Hoài (báo Tiền phong), Nguyễn Hữu Hồng Minh (báo Thanh niên) vv...

Tuy nhiên, những vấn đề được đặt ra bởi văn chương trên mạng internet (có thể đằng sau đó là văn chương hải ngoại và văn chương SG trước năm 1975) với sự quá khích khó chiụ của họ gây ra cho chúng ta có một sự hợp lý nào đó cần phải hiểu. Tất nhiên, với những vấn đề lớn và nhạy cảm như vậy cần có một thái độ khách quan và bình tĩnh. Việc biết đến/chấp nhận, thẩm thấu hoá giải luôn cần phải có rất nhiều thời gian, ý thức đầy đủ, sâu sắc và những kế hoạch từng phần cụ thể khoa học và rõ ràng.


2. Tri thức trong nước và hải ngoại, mất biên giới và không … cần phân biệt.

Tới thời điểm hiện giờ, với sự xuất hiện hàng loạt báo chí điện tử hải ngoại trên mạng, có thể kết luận, họ đã hoàn toàn lấn át sân chơi tri thức hiện tồn báo chí in giấy của văn nghệ trong nước. Có thể quan sát thấy về mối liên hệ trong và ngoài của trí thức Việt, vì thế đã trở nên mỏng mảnh không phân biệt. Đường biên mỏng mảnh này được xác định bởi thiếu một không gian văn nghệ trong nước có thể bao chứa vấn đề chính trong nội tình của nó. Sự thiếu không gian này dẫn tới sự trào vượt một số lượng đáng kể vấn đề nóng, cần giải quyết trôi ra ngoài biên giới ”chính thống” bằng hệ thống báo mạng hải ngoại.

Như vậy là ranh giới nam bắc, bên trong bên ngoài của văn nghệ sĩ trong nước và hải ngoại đang xích lại gần nhau với sự xuất hiện của mạng internet. Đây là ranh giới mà trước kia là một khoảng cách biệt vời vợi của hải ngoại và trong nước. Ranh giới này được tính đến từ những năm 1954 -1975 của vĩ tuyến 17 với nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) và nhà nước Cộng Hoà, và sau đó là 1975-1986 với dòng văn nghệ Hải ngoại lưu vong và văn nghệ thời kỳ đổi mới trong nước. Tôi cho rằng, đến nay nó đã có một điểm gặp. Đó là những trang web văn chương trên mạng với chung những vấn đề nội tình bên trong Việt nam như tienve, talawas, gio-o, hopluu, vv… Điểm gặp này chứa đựng những vấn đề hết sức nhạy cảm.

Điểm gặp này đã xảy ra như là một sự hòa giải tốt. Tuy nhiên, sau thời điểm tạo những mối đồng cảm và thu nhận những điểm bổ xung đứt gãy cho một cơ thể thống nhất hoàn chỉnh, thì sự phân biệt cần phải rạch ròi tiếp theo cho cái gì và vì cái gì cũng hết sức cần thiết.

Mối liên hệ của cái đường biên và cái ở giữa bị xoá nhoà, không có sự phân biệt này dẫn đến những đấu tranh và hành động của đám đông văn nghệ sỹ cả trong và ngoài đôi khi tạo thêm mâu thuẫn rối rắm nhằng nhịt. Đường ranh giới trong ngoài tưởng như mờ nhạt nhưng thực ra có thể lại ngày càng hằn sâu. Nếu cùng chiều thì sự lệch pha này đôi khi gây hiệu quả lại mang tính chất tiêu diệt, làm hại nhau, làm rối thêm, cách xa thêm. Như một ví dụ, người của hội nhà văn ủng hộ talawas, gio-o thì bị khai trừ kiểm điểm, còn có vị Việt kiều nào công khai ủng hộ nhà văn trên thì bị cộng đồng Việt kiều tẩy chay. Nếu trái chiều, ví dụ bên trong báo hội nhà văn chửi các bạn Việt kiều phản động, các bạn Việt kiều văn sỹ hải ngoại chửi các bạn ngu dốt, kém hiểu biết vv... Tác động hiệu quả của hành vi này, tất nhiên đôi khi có tác động làm cả 2 bên hiểu nhau hơn, trở lên“thân” nhau hơn bằng việc ý thức được sự tình. Tuy nhiên, nếu không có sự rạch ròi sau thời điểm “chiến tranh lạnh”, thì diễn tiến tiếp theo của sự tình, tình trạng ”chiến tranh nóng” sẽ là sự tình nuốt chửng chính nhau. Sự nuốt chửng/ không phân biệt này, sẽ dẫn đến sự tình những vấn đề nội tại của nó không được giải quyết mà chỉ lở loét, phơi bày, rối ren và bệnh hoạn hơn. Sự không phân biệt cái bên trong, cái bên ngoài này dẫn tới tình trạng những người ngoài cuộc, khi theo dõi sự tình sẽ không hiểu chuyện gì đang xảy ra.Trường hợp những người ngoài cuộc này hoàn toàn không phải là người Việt nam.Còn nếu như những kẻ ngoài cuộc là thế hệ sau Việt nam cả di truyền đã ở vào mớ nhùng nhằng này, họ sẽ trở nên không biết bắt đầu từ đâu nếu có ý thức thay đổi nó,họ lơ ngớ buộc phải chứng kiến và không hiểu sao lại phải buộc tham dự vào nó vì sự tình có lý bệnh hoạn của nó buộc phải ám ảnh.

Cá nhân những trí thức trong nước không đủ mạnh để mang vác nội tại những vấn đề của họ là trách nhiệm mà họ phải làm với xã hội. Trong khi đó, hiểu thấu đáo, lắm trọn vấn đề nội tình trong nước lại là những trí thức nước ngoài mà vị trí thực của họ trong “chính thống” rất mỏng, không có hoặc chính họ bị cộng đồng trong nước trước kia tẩy chay, từ chối. Điều này dẫn đến tri thức trong nước luôn rơi vào tình huống bị giật giây, không hiểu sâu sắc tình huống mà mình tham dự xô đẩy nhiệt tình cho điều chính đáng mơ hồ gì.

Dẫn chứng tiêu biểu cho sự tình này là hiện giờ, báo Văn Nghệ sau thời điểm trương nở tới Văn Nghệ trẻ cách đây 20 năm, hiện giờ với sức ép của vannghesongcuulong, vẫn chưa ra được tờ báo mạng. Dường như nó vẫn cảm thấy đầy đủ khi trộn trạo hay dở, thi thoảng những vấn đề khởi xướng bởi Văn Ngệ vẫn buộc những trang web có tường lửa như talawas, evan báo điện tử gõ lại đăng lên. Trang vannghesongcuulong, tuy thuộc hội nhà văn Việt nam quản lý, vẫn vận hành theo nguyên tắc cũ, tức là tri thức biếu không, tri thức tống vào mặt và không có nhuận bút. Chi tiết này chỉ thêm vào cho khoảng cách trong ngoài, ảo thực hơn mà chưa đi đến mấu chốt của vấn đề.

Tôi cho rằng, chỉ thực sự khi có một tờ báo mạng, hoặc báo giấy, nhận trả nhuận bút làm đối trọng trong nước cho vị trí độc tôn của Văn Nghệ (già và trẻ) thì cơ thể trí thức Việt nam mới có thể phát triển lành mạnh để có thể bao chứa vấn đề những trang web ngoài luồng hải ngoại đặt ra. Tiasang không ở vị trí này và không bao chứa được vấn đề này mặc dù đã ra được bản điện tử. Vì đây là một tờ tạp chí tháng, vấn đề đề cập ở đây mang tính vĩ mô cả phần khoa học tự nhiên, văn hoá nghệ thuật chỉ là một mảng nhỏ trong đó.





3. Lịch sử? Tương lai sẽ là gì nếu hiện tại đe doạ nuốt chửng bởi
một quá khứ bệnh hoạn lở loét?

Điểm mấu chốt của vấn đề của sự gặp gỡ này, nhất thiết tôi cho là thái độ, và hành vi của những văn nghệ sỹ trẻ. Những người sinh ra sau thời điểm 1975, hoàn toàn có khoảng cách, có vị trí và xuất phát điểm khách quan với sự tình. Họ là kẻ không buộc phải mang “căn bệnh có tên cuộc chiến tranh Việt Nam”(2), và đó là một sự tình hoàn toàn khách quan ngoài họ. Thế hệ trước, những người không hề có một lối cách lựa chọn nào khác đã là những kẻ tham dự/buộc phải tham dự, chứng kiến/ buộc phải bất lực trước khoảng cách ngày càng xa vợi của ranh giới nam bắc.

Ranh giới ngày càng khoét sâu với những vấn đề bao chứa cả những sự vận hành của cả một thế giới. Sự vận hành này bao gồm khởi xướng từ cái gọi là sau chiến tranh thế giới lần 2 (một thế giới bệnh hoạn và không sao hiểu nổi ??). Dường như sự vận hành (dành cho thế giới) này, ý nghĩa của nó càng ngày càng thoát ra khỏi sự hiểu biết của kẻ mang nó (Việt nam). Những vấn đề trước kia trí thức Nam/Bắc tưởng như không cùng tiếng nói hiện giờ có thể nói cùng ngồi lại với nhau dù là trên những trang web mạng, hoặc thông qua tường lửa. Chính họ là kẻ mang vết thương, vết thương nhức buốt đó buộc họ phải mang ra phơi bày và cầu cứu bởi rất nhiều người (thế hệ sau), nhất thiết họ cho rằng cần phải được chữa trị cho những vấn đề rối ren trong nước. Và vấn đề này thực sự chỉ được đặt ra bởi những trang web mạng hải ngoại ngoài nước với một vài văn nghệ sỹ cấp tiến trong nước tham gia, nó bị lờ đi, coi như không biết không tồn tại trong văn nghệ sỹ trí thức trong nước ở trong những diễn đàn chính thống như viện nghiên cứu, báo chí hoặc trường đại học. Hoặc chỉ được đề cập đến một cách nửa vời(3).

Như vậy, sự tình được phơi bày và cho rằng hết sức quan trọng này bởi cộng đồng trí thức tại các trang web hải ngoại này có thực sự có ích, có lý với nội tình vấn đề tri thức đất nước không?

Vị trí của tôi, tôi đã chọn câu trả lời là sự phơi bày, chất vấn của những người này trên những trang web mạng đó là có lý và rất hết sức quan trọng và cần thiết. Giả thiết ở đây là, nếu một vấn đề nào đó của quá khứ bị ách tắc, mù mịt với những lý do không được hiểu thì hậu quả của nó là một hiện tại và tương lai không ngừng lặp lại chính vấn đề ắch tắc mù mịt đó như là minh chứng cho một sự không thể tiến triển, ngưng đọng, bế tắc.(4)

Việc cá nhân những văn nghệ sỹ hàng đầu, cấp tiến trong nước vượt ra ngoài khuôn khổ bí bách của các hội đoàn, báo chí để tìm điểm tựa tại cộng đồng văn nghệ sỹ hải ngoại trên mạng là một thực tế. Thực tế này, khiến cho hành động của họ - đấu tranh cho một không gian văn nghệ trong nước thoáng đãng hơn, một bầu không khí xã hội Việt nam hiện thời minh bạch hơn, dân chủ hơn - trở nên hết sức bị động, yếu ớt, nhỏ lẻ, vụ vặt và thiếu sinh khí. Họ không hề tìm điểm tựa, liên kết lại với nhau trong nước trong cuộc sống học thuật thực tế khi đối diện với nhau. Thay vào đó, họ tìm điểm tựa ở những mối liên kết chặt chẽ hơn, đó là liên kết ảo ở bên ngoài. Như vậy thái độ nghiêm túc một cách tri thức họ chỉ có thể cố gắng được một cách bất thình lình trong một vài giây tỉnh thức nào đó một cách đầy bất ổn (Ví dụ về hội nghị lý luận Phê bình tại Đồ Sơn, Hải phòng tháng 10 năm 2006 thấy rõ điều này)(5)


4. Dự án tủ sách tinh hoa,
đầu voi đuôi chuột và ở giữa nhí nhăng?
Dự án tủ sách tinh hoa được coi là một động thái tích cực và đáng kỳ vọng cho nhóm người gọi là Tri thức trong nước. Từ khi dự án được khởi xướng bằng ý tưởng của ông Ngô Tự Lập trên báo Lao Động tới nay đã được 2, 3 năm và đã có những bước tiến triển rất tốt. Đó là việc thành lập riêng một nhà xuất bản cho tủ sách là nxb Tri Thức (cuối năm 2005), một quĩ dịch thuật và … một dự án dịch sách.
“Ý tưởng của dự án là lập ra một 'bản đồ' chừng 500 tác phẩm và tác giả của thế giới mà trí thức Việt Nam cần biết và cần đọc.
Việt-hóa lượng kiến thức này của nhân loại một cách có hệ thống là điều không thể thiếu cho Việt Nam nếu muốn phát triển một nền học thuật và có nền kinh tế dựa trên khoa học.” (Bbc.18.5.06)

Việc xây dựng tủ sách tri thức cơ bản cho nhóm tri thức tinh hoa là một ý tưởng quan trọng. Tuy nhiên việc tổ chức dịch thuật đơn thuần những tác phẩm có giá trị và tác phẩm sau khi trình làng được sử dụng như thế nào mới tương ứng với lời ý nghĩa trong kêu gọi của nó với truyền thông.
Phát biểu của ông Nguyên Ngọc, tháng 1.07, bài phát biểu buổi ra mắt quĩ dịch thuật Phan chu Trinh:

“ Có thể nói, không hề quá đáng, chúng ta hầu như bị đứt mất hàng trăm năm với tinh hoa của tri thức toàn diện của nhân loại. … Quả thật cho đến hôm nay, ta vẫn còn là một ốc đảo cách biệt rất xa với đại dương mênh mông của tri thức nhân loại, cả cổ điển lẫn đương đại, đó là điều không thể và cũng không nên cố tìm cách chối cãi. “

Đôi khi ý thức được tình huống trầm trọng chính là lúc mà tư duy trở nên bế tắc nếu như sự ý thức này chưa sâu sắc đầy đủ để có thể đi tới hành động tìm giải pháp hợp lý. Do vậy, cần phải suy xét xem hành động từ ý tưởng đó triển khai vào thực tế như thế nào thì quan trọng hơn. Đó là việc lựa chọn đầu sách, tổ chức dịch thuật và sau đó là in ấn phát hành, truyền thông xã hội rồi nghiên cứu tiếp nhận phản ứng từ tri thức đó như thế nào đối với xã hội.

Nếu như đối tượng cho những cuốn sách hết sức có giá trị này mập mờ, chung chung thì ý nghĩa to lớn của dự án đặt ra cần phải xem lại.

Hoạt động của tủ sách tinh hoa, nếu việc chọn sách và dịch sách độc lập với các cơ quan, viện nghiên cứu tại trường Đại học trong nước thì dự án này không có gì mới so với những thành tựu mà một loạt nhà sách mọc như nấm sau mưa mấy năm gần đây âm thầm dịch như Trung Tâm VH&NN Đông Tây, Nhà Sách Văn Lang, công ty phát hành sách Kiến Thức, nhà sách Thời Đại v.v.Nxb Văn Hoá Thông Tin đã có xuất bản cuốn “Nguồn gốc các loài” của Dac-uyn. Hoặc Trung tâm Văn hóa Đông Tây gần đây có dịch thuật tủ sách triết học bao gồm 6 cuốn trong đó có một cuốn của nhà triết học cổ đại Aristote bao gồm đạo đức học, nghệ thuật thơ ca, hiện tượng luận Edmund Huserl, triết học nhập môn Karl Jasper v.v.
Sất
18-10-07, 17:07
tiếp theo....



Bắt đầu từ thời điểm bỏ cấm vận những năm 1989, 1990, tất cả những tài liệu này thường được dịch theo nhu cầu thị trường, nhu cầu của cá nhân dịch giả( bỏ tiền ra in và tự phát hành cho tâm huyết của mình được lưu giữ). Không thể nói kho tàng tri thức nhân loại hệ thống xuất bản Việt nam chưa dịch thuật. Có thể diễn đạt, họ đã thực hiện việc này.Nếu tính đến qui tắc nền tảng cho vận hành của cái gọi là nhà xuất bản thì mặc định những sản phẩm của nó phải là tri thức, trong đó việc dịch thuật tri thức nước ngoài là phần sản phẩm không thể thiếu. Tuy nhiên, vấn đề của họ là việc dịch thuật này hết sức rải rác, lẻ tẻ, vụn vặt, không có hệ thống, thiếu liên kết và chưa hoặc hiếm thời điểm nào nó được xây dựng có kế hoạch, có hệ thống và mang tính chất nghiên cứu.

Tủ sách nghiên cứu triết học Mác Lê nin của hệ thống các Viện KHXH từ năm 1954 thì vấn đề dịch thuật là có kế hoạch và bài bản nhất,đúng theo tinh thần của hệ thống XHCN. Diễn giải cụ thể hơn lời phát biểu của ông Nguyên Ngọc, việc tiếp nhận tính lịch sử của vấn đề, ở đây là dòng chảy tư duy từ cổ đại tới giờ của Châu Âu cho tới triết học Mác-Lê và sau đó là tư duy đương đại như triết học hiện tượng luận, phân tâm học, v.v., đã không được tính đến. Do vậy trong nội tình hệ thống đã khu biệt phân lập trong triết học Mác Lê, nguyên nhân này dẫn tới tình trạng biệt lập ốc đảo trong tư duy của nhóm tri thức. Tuy nhiên, rất tiếc, chi tiết này bản thân họ chỉ mới nhận ra gần đây. Cách đây vài tháng, Tạp chí Triết học của viện Triết học Việt Nam( số 3 năm 2007, trang 15) có đăng tải bài viết cuả GS Nguyễn Trọng Chuẩn đề cập tới ý này trong bài viết có tiêu đề ”Góp phần vào việc giảng dạy triết học Mác cho sinh viên ở nước ta hiện nay“. Cần lưu ý là Giáo sư Nguyễn Trọng Chuẩn, hiện là chủ tịch hội đồng khoa học của dự án tủ sách tinh hoa mà mới có một bài viết “rón rén” như vậy thì binh tình nhóm tri thức còn lại đứng sau Giáo sư quả thực đã không thể biết tình trạng nông sâu tới đâu.

So với Trung Quốc, cùng hệ thống XHCN thì chúng ta đã thụt lùi hơn họ rất xa. Ví dụ tiêu biểu là rất nhiều những tư tưởng triết học Châu Âu được một số tác giả tâm huyết .. dịch lại từ tiếng Trung Quốc, ví dụ cuốn Vật tổ và Cấm kỵ in tại nxb Văn hóa Dân tộc cách đây vài năm( rất tiếc, xin lỗi là tôi không nhớ chính xác tên người dịch và năm xuất bản). Cuốn Edmund Husserl do ông Diêu Trị Hoa một trí thức Trung Quốc viết, và được dịch lại qua tiếng Việt bởi ông Trịnh Cư, nxb Thuận Hóa, 2005. Karl Raimund Popper, do ông Quang Lâm dịch từ tiếng Trung Quốc (người viết là Lý Quốc Tú), nxb Thuận Hoá, 2005. Trung tâm Ngôn Ngữ Đông Tây từ đầu những năm 2000 trở lại đây cho dịch thuật lại từ tiếng Trung Quốc một.. tủ sách “Hiện đại thế giới thập đại tư tưởng gia” do nxb Giang Tô nhân dân xuất bản cách đây 12 năm, năm 1995. Trong đó những nhà triết học đương đại của Châu âu họ thường do một nhà Tri Thức Trung Quốc diễn lại theo trình tự tiểu sử cá nhân lối cánh tư duy một cách hết sức khoa học.Lối cách làm sách như thế này tôi cho rằng kiến thức thu nhận được sẽ tạo ra những tri thức có kiến thức thực sự, tuy nhiên ở Việt nam việc này dường như ít được chú ý đến hoặc ngược lại với tinh thần dịch nguyên bản gốc của ông Ngô Tự Lập cho dự án tủ sách tinh hoa này.

Trở lại ví dụ về bài viết của GS Nguyễn Trọng Chuẩn, có thể dễ dàng suy luận từ thời điểm bỏ cấm vận 1986 đến nay, việc lựa chọn tài liệu triết học nói riêng, và khoa học xã hội nói chung, cho việc giảng dạy tại các trường đại học và nghiên cứu tại các viện Khoa học xã hội hầu như không có gì tiến triển. Những cuốn sách, tri thức giảng dạy trong trường đại học ấu trĩ hiển nhiên so với lựa chọn xuất bản cùng ngành này có mặt tại thị trường sách.

So với miền bắc Việt nam thì miền nam tiếp nhận tri thức tư bản, những tác phẩm dịch thuật theo sát dòng chảy tư tưởng thế giới như chủ nghĩa Hiện sinh, Phân Tâm học, Hiện tượng luận. Và việc tổ chức dịch thuật cũng có phần bài bản.
Mâu thuẫn Tri thức Nam-Bắc này diễn ra cùng với thời kỳ chiến tranh khốc liệt suốt từ năm 1954 tới 1975. Khi đất nước thống nhất thì hệ thống tri thức XHCN tảy chay, chối bỏ những tri thức, học thuật đồng thời với những tác phẩm dịch thuật tư duy đương đại có được tại miền nam Việt Nam. Khối lượng tri thức này theo chân những người tị nạn ra nước ngoài. Một số ít còn lại, “ít nguy hiểm hơn” là sách thì được lưu truyền bí mật, không chính thức vào miền Bắc.

Như vậy, hiện tượng trầm trọng mà ông Nguyên Ngọc nêu ra ở trích đoạn trên chỉ đúng với đội ngũ tri thức Miền Bắc sinh ra và trưởng thành trong thời chiến và hiện thời còn giữ những vị trí then chốt trong vận hành nguồng máy xã hội.

Tiếp theo dòng chảy ngầm này, ngay sau thời điểm các nxb in và phát hành sách theo cơ chế thị trường thời điểm những năm 1990, số sách dịch trước năm 1975 được một số nhà sách tâm huyết bỏ vốn ra in lại và túc tắc bán được. Cho tới hiện giờ thì dòng đối lưu hiện tồn sách dịch trước năm 1975 tại TP HCM đã được tái bản gần hết và có tiếng nói/chỗ đứng trong diễn đàn học thuật tai các viện và trường đại học nhưng hiện diện này chưa rõ ràng, đường hoàng và rạch ròi. Do vậy, nếu như dự án “tủ sách tinh hoa” vẫn dịch những cuốn sách giá trị hiển nhiên bán cho số đông đại trà theo mà không nhất thiết tri thức viện nghiên cứu, trường đại học thuộc nhà nước buộc phải phải lưu tâm thì điều này chỉ gợt được phần ngọn của vấn đề. Nếu đi xa hơn, nó sẽ là điểm chốt cho những xung đột và đối kháng bùng nổ không có điểm gặp.

Hiện tượng tủ sách nghiên cứu giảng dạy của các cơ quan vận hành trong hệ thống chính thống cộc lệch, số lượng ít ỏi, cho tới này nó đã trở nên hiển nhiên kém xa lượng tri thức cùng môn ngành này hiện diện trong xã hội bằng hệ thống xuất bản. Nếu không nói là hệ thống tri thức lưu hành trong các viện nghiên cứu và giảng dạy tại các trường đại học vẫn còn vận hành theo lối cách của nền khoa học Liên xô vốn đã phá sản trong chính đất nước đó cách đây 20 năm. Mặc dù “không còn hiện tượng tảy chay” nhưng những tri thức ấu trĩ lỗi thời của học thuật Liên Xô không được xuất hiện đường hoàng trong cách diễn đàn học thuật chính thống mà xuất hiện lén lút, mập mờ, dẫn tới tình trạng song song hiện tồn tư tưởng cũ với tư tưởng mới mà không có điểm dẫn lối dung hoà và hệ thống. Việc không nhất quán trong học thuật dẫn ra những rẽ nhánh chồng chéo, chỉ dẫn hỗn độn về tiêu chí học thuật đã đưa tới những hậu quả xã hội hết sức đáng tiếc. Giáo dục ở trong nước cho thấy rõ điều đó, khi mà lý thuyết tâm lý học Mác xít còn ngự trị trong lối tư duy giáo dục với cái nhìn một chiều cứng nhắc. Như vậy việc xuất hiện thêm vào của dự án tủ sách tinh hoa nhân loại này, số sách chất lượng này in ra tiếp theo vô hình chung đẩy thêm ranh giới đã vốn cách biệt giữa luồng tri thức vận hành trong nguồng máy nhà nước và luồng tri thức trôi nổi ngoài thị trường bằng hệ thống xuất bản.

Như vậy, dự án dịch thuật và chuẩn bị một tủ sách tinh hoa nhân loại dành cho trí thức Việt nam chỉ có thể thành công khi mà nó tìm được điểm dẫn lối cộc lệch, mất phương hướng đang hiện diện trong các viện nghiên cứu, trường đại học nước nhà trước tư duy tri thức đương đại thế giới. Tư duy này là tri thức của hệ thống học thuật Liên xô chúng ta hấp thụ được, tương ứng với tình trạng thế kỷ 18 của tư duy đương đại thế giới. Trước và sau đó là một lịch sử của tiến trình tư duy tri thức Phương Tây thế giới ngoài XHCN mà trước đây vì lý do chính trị xã hội hoàn toàn khách quan chung cho cả hệ thống chúng ta chưa tiếp cận được.


Thời điểm sau mở cửa vài năm, năm 1990, Giáo sư Trần Trọng Đăng Đàn, một chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực khoa học xã hội đã viết một bài báo nhỏ có tiêu đề “lý luận cơ bản ở thế không ổn định, có thể thay đổi”. Bài viết này gần đây, vào năm 2005, được nhà xuất bản văn Nghệ tập hợp cùng một số bài báo khác của GS in trong tập sách “Khoa học xã hội nhìn từ phía văn hoá tư tưởng”. GS Trần Trọng Đăng Đàn phát biểu ngay từ thời điểm đã cách đây 20 năm với một tâm thế mất định hướng và hết sức bất ổn ngay từ tiêu đề của bài báo. Trong bài báo này, GS phát biểu “Việc lựa chọn thích hợp hay không thích hợp khi mở rộng giao lưu, cần phải cảnh giác thứ lý luận triết chung hội tụ dẫn tới xoá bỏ sạch trơn lý luận Mác Lê. Tuy nhiên cũng cần mở rộng đào sâu khía cạnh cốt lõi nhất thứ lý luận mà trước đây liệt vào loại phản mác xít, phi mác xít để có thể phân tích khoa học nhằm hoàn thiện hệ thống lý luận. Chúng ta cố gắng tiếp cận một cách có hệ thống, không nên chắp vá..”


Quả thực trong hệ thống như thứ tư duy đương đại hiện thời trên thế giới, tôi băn khoăn không biết trong số những cuốn sách được chọn dịch nhất thiết cần phải nằm trong “tủ sách tinh hoa nhân loại” tri thức Việt cần phải tham khảo có những cuốn sách nào thẳng tay phê phán nặng nề chủ nghĩa Mác có nguy cơ dấn đến xoá bỏ sạch trơn như GS Trần Trọng Đăng Đàn phát biểu cách đây 20 năm không. Tuy nhiên, phát biểu của GS, theo suy đoán của tôi, đã ở trong một tâm thế tiếp nhận luồng tư tưởng mới hết sức bất ổn. Gần đây, tôi biết một số, hoặc khá nhiều khoa học gia ảnh hưởng lớn tư duy thế giới bây giờ thành danh do việc phân tích vận hành xã hội xã hội chủ nghĩa họăc chủ nghĩa cộng sản. Cụ thể là tủ sách SOS do ông Nguyễn Quang A tổ chức dịch và đưa miễn phí trên mạng talawas cách đây 2, 3 năm. Tuy nhiên nếu không có một sự thẳng thắn nhìn nhận vấn đề thì nỗi bất ổn tiên báo của GS Trần Trọng Đăng Đàn cách đây 20 năm có lẽ đã vô thức truyền lại cho giới tri thức trong nước một dự án sẽ đầy bất ổn, đầu voi đuôi chuột … và ở giữa nhí nhăng?


Từ ngày bắt đầu triển khai ra mắt nhà xuất bản, dự án và quĩ dịch thuật đã được gần 2 năm. Màn dạo đầu hết sức hoành tráng của dự án có sự ủng hộ và có mặt của nhiều vị quan chức đầu ngành trong hệ thống nhà nước. Thời điểm tháng 2.2007, tôi có được bản danh sách một số sách đã dịch và chuẩn bị dịch cùng kế hoạch hoạt động của dự án. Cảm giác của tôi là … thất vọng vì tính chất đại khái, tuỳ thích, tuỳ tiện của bản danh sách không như lời tuyên bố trước truyền thông của nó. Trong bảng kê danh mục, dự án có 3 phần: số sách đã xuất bản (15 cuốn), số sách sẽ xuất bản (21 cuốn) và… sách tiếng Nga (9 cuốn) (người đọc phải tự suy đoán theo trình tự abcd thì số sách này cũng nằm trong dự định sẽ xuất bản). Bản danh sách của “số sách sẽ xuất bản” không ghi rõ là sẽ xuât bản cho thời hạn bao lâu. Các cuốn sách đã tổ chức dịch và xuất bản hoặc đang nằm trong kế hoạch không hề có ghi thời gian xuất bản; thời đại sống của tác giả; sách thuộc phần mục khoa học, triết học hay văn học; sẽ bổ xung cho điều gì với tri thức Việt nam; và lựa chọn dịch thuật cuốn sách đó theo tiêu chí nào. Hoàn toàn đây là một bản liệt kê hỗn độn và thiếu tôn trọng người đọc.

Nếu như theo ý tưởng ban đầu của ông Ngô Tự Lập với bản kê ước lượng 500 cuốn sách, 50 cuốn/1 năm và 3 tỷ đồng cho 50 dịch giả trong một bài báo nhỏ cách đây vài năm thì cho tới giờ nó đang ở tình trạng nào? (thời điểm đăng bài báo này trên báo nào, rất tiếc tôi không có điều kiện tìm hiểu kỹ.) Cuốn sách tổng hợp các bài báo của ông Lập có tên “Minh triết của giới hạn” phát hành vào tháng 1.2005. Tuy nhiên sau đó 1 năm vào tháng 1.2006 thì dự án đã triển khai hết sức hoành tráng với Quỹ Dịch Thuật Phan Chu Trinh và bản đồ tri thức.


“Lý do được đưa ra là do công tác liên kết và truyền thông tốt. Những người thực hiện tin rằng, sẽ có ít nhất 5.000 người trong hơn 80 triệu dân quan tâm và thấy cần thiết phải đọc cuốn sách này. Và sau 10 năm, lượng sách xuất bản chắc chắn sẽ tăng lên vì mặt bằng dân trí sẽ cao hơn. Dự kiến chi phí cho toàn bộ dự án là 35 tỷ đồng, nhưng NXB Tri thức phải huy động từ nguồn vốn xã hội.” .
(Triển vọng của dự án tủ sách các tác phẩm kinh điển - NXB Tri thức, 25/1/2006, trang web cinet thuộc bộ văn hoá thông tin đăng lại từ CAND, tác giả MT)

Như vậy là từ dự tính trong bài báo nho nhỏ của ông Ngô Tự Lập năm 2005 , con số dự tính vào năm 2006 khi hoàn thành dự án đã lên tới 35 tỉ đồng.

Cùng thời điểm này tháng 2.07 tôi có tới dự án để tìm hiểu thông tin. Theo bà Nguyễn Minh Chi, thư ký của quỹ dịch thuật Phan Chu Trinh thì quĩ không hề xin được tiền của nhà nước. Trước đó không lâu có xin được nhà xuất bản Giáo dục 10 triệu, còn lại là quĩ tự vận động các doanh nghiệp tài trợ cho quĩ. Như vậy mục tiêu dằng kéo đội ngũ tri thức trong hệ thống cùng tham gia tạo dựng dự án là hết sức mỏng mảnh. Nguồn vốn xã hội cần phải tự vận động cho quĩ, 80 triệu nhân dân nói chung cần cảm thấy cần thiết cho một dự án hết sức nghiêm trọng thì lý do của nó hết sức thiếu thuyết phục, cảm tính, mơ hồ.


“Phạm Trí Hùng tâm sự, dường như các thế hệ trước nghiên cứu ở Việt Nam thường gặp khó khăn là thiếu tài liệu nguồn. Và từ đó thiếu cái nhìn tổng quát về các vấn đề triết học, khoa học và văn minh thế giới... Tủ sách này nhận được sự cộng tác của các dịch giả, những nhà nghiên cứu và cả những Việt kiều đang sinh sống tại nước ngoài.”
(Triển vọng của dự án tủ sách các tác phẩm kinh điển - NXB Tri thức, 25/1/2006, trang web cinet thuộc bộ văn hoá thông tin đăng lại từ CAND, tác giả MT)


Như vậy, dành cho lý do mơ hồ chưa thể nhận thức được cho một dự án to tát trầm trọng mang tính chất nhân loại Việt nam thế giới cần phải triển khai ra sao cho xứng với 35 tỉ dự kiến cho một 80 triệu nhân dân nói chung cần phải tỉnh thức cần phải dường như cái gì thế nào đã không sao diễn giải ra được rõ ràng?


Báo Thanh Niên ngày 7.11.06, ông Chu Hảo phát biểu rằng ”danh mục sách tham khảo theo đề xuất các nhà khoa học từng chuyên ngành, các nhà thư mục học, các nhà xuất bản, tổ chức”. Báo Thể thao Văn hoá ngày 9.1.07, thì ông phát biểu khác đôi chút “danh mục sách được hỗ trợ từ một số chuyên gia, đầu sách căn cứ vào các cuốn sách đã được dịch ở Anh Pháp, Nhật….rồi xem thích hợp thì dịch”. Sau thời gian đó tôi có trao đổi với ông Ngô Tự Lập thì ông chia sẻ rằng, có một hội đồng thẩm định riêng của nxb Tri thức và Quĩ dịch thuật Phan Chu Trinh. Trong số những tri thức này, hiện đang nắm giữ những vị trí trong ngành khoa học xã hội là 5/11 và tham gia với tư cách cá nhân, cho dự án chứ không phải với tư cách vị trí xã hội mà họ đang nắm giữ. Theo dõi dự án qua báo chí và thi thoảng có hỏi thăm thông tin tới thời điểm này, tôi thấy nó thực sự đang không có tiến triển gì tính từ thời điểm đó.


Như vậy, câu trả lời dành cho dự án tủ sách tinh hoa nhân loại cho tới thời điểm này, đó là sự tự vận động hoàn toàn về nguồn vốn (nhà nước không tài trợ), chọn đầu sách, tổ chức dịch thuật và phát hành đại trà mà nhà nước chỉ liên quan duy nhất ở khâu duyệt bản thảo cho giấy phép. Nếu vậy giải pháp buộc phải lựa chọn này là họ buộc phải đủ nội lực cho phép xây dựng một đội ngũ trí thức trẻ ngoài nhà nước tập hợp xung quanh dự án làm đối trọng khiêu khích cạnh tranh với nhóm tri thức/công chức làm việc trong nhà nước xung quanh các viện thuộc Khoa học xã hội, các trường Đại học khối xã hội. Và cả 2 nhóm này cùng thiết lập một không gian tri thức học thuật trong nước khớp nối những điểm gãy khúc trong tiếp nhận tri thức Phương Tây thời kỳ chiến tranh, bao cấp sau thời điểm mở cửa có thể tiếp tục bổ xung, và đón nhận luồng tư duy đương đại trên thế giới một cách xây dựng. Cùng song song với điều này, đội ngũ này có thể tổ chức dịch thuật những tác phẩm triết học Châu Âu kinh điển trước thế kỷ 15, 16 của Châu âu mà nhóm ý tưởng tủ sách tinh hoa đề xướng như Platon, Arittot, vvv . Việc dịch thuật này có tính chất nghiên cứu sâu, mang tính cơ bản khi mà đội ngũ tri thức đã phát triển đi đến tư duy những vấn đề gốc, thâm sâu lịch sử tư duy đồng đại, lịch đại của vấn đề.



.
Sất
18-10-07, 17:08
...tiếp theo và hết.


Diễn tiến của quá trình thu nhận tri thức vào một người là một quá trình của sự chấp nhận/hiểu/nội nhập hoá/diễn đạt sự hiểu ra bên ngoài bằng hành động, lời nói, tình huống giao tiếp,văn bản... Lưu gĩư tri thức mang tính chất tiến triển của một nhóm người cũng tương tự vậy. Trong đó, tập hợp văn bản, thư viện là cơ sở vật chất cho sự chuyển tiếp xuyên thế hệ. Nhóm những người tham gia vào công việc này tạo không gian nghiên cứu chung làm phát triển, vận hành sự chuyển tiếp xuyên thế hệ này được xảy ra một cách nhanh chóng. Quy tắc vận hành, tạo dựng nên nhóm người nắm giữ tri thức đó cho phép những tài liệu tri thức trung chuyển giữa các thế hệ, hoặc những tri thức vận hành trong xã hội cần phải có điều kiện, nguyên tắc gì mới được phép có mặt trong kho trung chuyển đó. Điều kiện quy tắc này cho phép bản thân hệ thống có khả năng làm chủ, ý thức tòan bộ ý tưởng được diễn đạt (ví dụ như bài báo, tiểu luận, nghiên cứu lý thuyết, vv) thì nằm trong tầng bậc hệ thống tư duy, lý thuyết nào. Đièu này cho phép họ phân loại để phát hiện tri thức giá trị, lưu giữ tìm ra tư duy mới cho phép sự phát triển mang tính tiến hóa. Những nguyên tắc gắt gao chuẩn xác này được thực hiện một cách nghiêm túc bởi những con người cụ thể gọi là trí thức tinh hoa. Cụ thể hơn, những tri thức tinh hoa này giữ vị trí thiết yếu trong hệ thống viện nghiên cứu, xuất bản, trường đại học. Những kết quả có được từ những nguyên tắc chuẩn xác này được thừa nhận tạo thành cái gọi là khoa học xã hội.

Hệ thống luân chuyển tri thức của xã hội Việt nam bao gồm giới tinh hoa của hệ thống quả thực đã có một quy tắc vận hành quá nghiêm ngặt chỉ có thể cho phép bao chứa và đi qua nó là tư tưởng triết học Mác Lê, để phòng vệ và tránh đối diện tình trạng không đủ nội lực này nó đã vô tình gạt bỏ những luồng tri thức khác mà nó có cơ hội bổ xung sau thời điểm bỏ cấm vận năm 1989 cách đây hơn 20 năm. Cần lưu ý là ở Trung Quốc, dẫu cùng hệ thống XHCN, họ đã mạnh dạn đón nhận, dẫn đến những phong trào nghệ thuật, văn chương của họ có cơ hội phát triển hết sức mạnh. Phong trào các nhà văn trẻ Lung le, 8x với gần 1000 nhà văn viết tiểu thuyết bán chạy, trong khi đó những người trẻ tầm tuổi này ở Việt nam chỉ chừng hơn 10 người.

Như vậy, nếu như nhóm tri thức trong hệ thống chưa có thái độ hợp tác và mở rộng cửa đón nhận họ thì mục tiêu của dự án nhằm tập hợp nhóm tri thức những người dịch trong tủ sách này phải tạo thành một đối trọng bổ khuyết mang tính xây dựng cho nhóm tri thức lắm giữ tri thức then chốt đang vận hành nên guồng máy xã hội có mặt trong các sở viện nghiên cứu. Nhóm trí thức này cần phải có những thái độ cá nhân tích cực, cho sản phẩm của họ có cơ hội được tham gia, chấp nhận một cách hợp pháp vào kho trung chuyển chung chính thức của nhóm tri thức trong luồng còn lại nơi các viện nghiên cứu. Nếu khó khăn hơn, tự bản thân nhóm những người này, họ phải tạo dựng một bề dày kiến thức, tổ chức thư viện và những nghiên cứu xuất sắc, vượt trội hơn hẳn nhóm người kia chứ không đơn thuần chỉ là một chiếc máy dịch được lắp nghép lại với nhau cho một suy nghĩ ngây thơ kiểu “nhất định ý tưởng tốt không phải ý tưởng xấu sẽ làm được chỉ cần tri thức hiểu biết cố gắng”. Cấu kết tri thức của nhóm những con người cụ thể tạo nên sự vận hành cho ra đời 100, 500 hay 1000 cuốn sách đó mới là vấn đề quan trọng, theo tôi là quan trọng hơn cả với câu hỏi nhất thiết buộc những người này cùng chia sẻ chung một mục đích đau đỏ, nhất thiết phải trở nên máu thịt. ”Chúng tôi chọn cuốn sách này là vì sao, cho điều gì, có ích cho ai và chúng tôi chọn nó khó khăn như thế nào”. Như vậy, việc cá nhân những người này ngoài việc dịch những tác phẩm tốt còn phải có khả năng tư duy độc lập với các trước tác và bản dịch của chính họ. Tức là bên trong bản thân họ phải có một sự nội nhập hoá và sau đó là thẩm thấu biểu đạt tri thức xuất sắc thì mới làm được chuyện. Sự nội nhập hoá tri thức này chính là công việc của các nhà khoa học chuyên nghiên cứu mà không nhất thiết họ là một người dịch giỏi.


Tình huống nhạy cảm và hết sức chông chênh, tuy nhiên đó là tình huống buộc phải đương đầu. Điều này có thể minh chứng cho sự tình đón nhận bổ xung tư duy đương đại thế giới sau khi bị cô lập với thế giới nhiều năm nếu không có giải pháp bình tĩnh bài bản được sẽ dẫn đến những vận hành vô thức xung đột khó kiểm soát và nhiều nguy cơ.



5. Giải pháp? quá kích văn nghệ hay hoạt động
dân chủ nhân quyền kiểu Chí Phèo.

Đầu năm 2007, trên trang talawas, ông Bùi Tín có viết một bài viết gọi tên đích danh nhiều tri thức văn nghệ trong nước tham gia thường xuyên tại trang này về chuyện hành động thực tế cho xã hội của họ, chuyện dân chủ nhân quyền gì đó thì theo họ cần phải có thái độ nào cái gì thế nào. Trả lời từ của các vị trí thức trong nước hết sức lẻ tẻ, nhũn nhặn tinh thần “bôn sệt” của ông Lại Nguyên Ân và sau đó là thái độ sự thật cần phải duy nhất chống cối xay gió của ông Hoàng Hưng chắc hẳn khiến ông Bùi Tín đã không khỏi buồn lòng.

Thái độ của cộng đồng hải ngoại luôn luôn quá khích. Sau vết thương 1975, với hậu quả của chiến tranh họ vẫn không sao chấp nhận nổi sự thực hiển nhiên. Đảng cộng sản và cụ Hồ Chí Minh là một sự thực hiện tồn chiến thắng trong cuộc chiến tranh nhiều năm với sự có mặt nhiều thế lực ngoài nước mang tính chất quốc tế hiện diện trên đất nước Việt Nam. Sau 30 năm chiến tranh và sau 20 năm CNXH ở LX sụp đổ dường như họ vẫn giữ cái nhìn trái chiều của Miền Nam việt Nam và Miền Bắc Việt nam của những năm trước 1975 mà không thể đứng cao hơn cái nhìn này để có một khoảng cách an toàn và bình tĩnh trước quá khứ. Trái với tình trạng Cộng Sản ở các nước XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, nơi mà hạt mầm văn minh về dân chủ dân quỳên đã có sẵn từ năm 1789 bởi cuộc cách mạng Pháp chỉ chờ dịp nảy mầm, hạt mầm dân chủ ở những nước thuộc địa châu Á kiểu như Việt nam là một sự lai nghép, thí nghiệm sinh học nhiều kỳ công và đáng ngưỡng vọng quả thực không sao có thể kiên nhẫn nổi để chờ cho nó nảy mầm được thành cây. Mặc dù hệ thống XHCN ở Đông Âu đã sụp đổ, nhưng mặt trái của xã hội Cộng Sản với tính chất tồi tệ chẳng hạn, được chứng minh và làm sao được cảm nghiệm chấp nhận /đồng tình/hiểu/thu nhận như là lý lẽ cần phải với trí thức trong nước quả là một công việc nhiều ly kỳ, lắm nhẫn nại, và đôi khi phải chịu trận cả những cơn histeri đồng bóng mới may ra phân biệt nổi. (Lỗ hổng chính trị xã hội cách mạng dân chủ toang hoác của ông Bùi Tín, talawas tháng 3.07. Cạm bẫy ước vọng cắt rạch nhốt trói cộng sản không thể không thực hiện tại sao các bạn cộng sản không thể của ông Định Nguyên talawas tháng 9.07 và cuối cùng là vụ việc Việt Weekly, lịch sử báo chí hải ngoại theo lời trần thuật của Ô Quan Hạ).

Có những chuyện, để giải quyết, kẻ muốn tham dự cuộc chơi phải chấp nhận điều kiện coi như nguyên tắc gia nhập của nó mới tính tới chuyện tham gia cuộc chơi. Như vậy, trong cuộc chơi tri thức người Việt muốn làm thay đổi tốt đẹp gì về chính trị xã hội người Việt có chia làm 2 phe người Việt trong nước và ngoài nước và ở giữa là từ cộng sản buộc phải thừa nhận là từ khóa chung đầu tiên cho cuộc nói chuyện tử tế được ở cả hai phe. Có thể diễn đạt, người Việt trong nước thì Cộng Sản và người Việt ngoài nước thì không Cộng Sản. Để nói chuyện được với nhau, trước hết người Việt ngoài nước phải tôn trọng chiếc từ ”Cộng Sản” như là nó hiện tồn trước đã. Hiện tồn ở đây chưa nói đến tình trạng xấu xa tồi tệ có hại, hay tốt đẹp tươi xinh có ích.

Câu hỏi về cái có thực, hay cái gọi là tri thức hoặc khoa học cho việc chứng minh một cách khoa học, bình tĩnh, ôn hoà để mấy người trong nước vượt qua cái nhìn một chiều, từ đó có một cái nhìn đa chiều và tự bản thân họ nội nhập được tri thức. Từ đó tự họ có nhu cầu múôn thay đổi cho bản thân họ. Chiến đấu với cối xay gió, vẫn là một lối cách mà mấy người trong thế giới hiện đại hăng hái thực hiện để húc đầu vào tường và tự bể trán. Đó là nhận định của tôi cho công cuộc lao đầu vào tường của nhóm tri thức trong nước xung quanh đống từ chữ dịch thuật cần phải chính xác trong cơn bất ổn học thuyết nào với học thuyết nào dự án tủ sách tinh hoa và nhóm tri thức ngoài nước nhảy chồm chồm trong cơn histeri xung quanh mấy vụ dân chủ nhân quyền bất đồng chính kiến trong nước.

Về mặt nguyên tắc hiện tồn trong hệ thống Cộng Sản XHCN, không tồn tại cái gọi là Khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội nhân văn, do vậy nên không có hiện tồn tri thức thực sự theo đúng nghĩa. Như vậy tinh hoa nhân loại cần phải tri giác đầy đủ cho một trí thức tòan cầu đúng nghĩa là một chiêu bài dọa ma tri thức cộng sản? Về mặt nguyên tắc, những người có lý lẽ đúng số ít ở vị trí ít quyền lực hơn, tuy nhiên hiểu biết hơn phải là những người cư xử ôn hòa, hành vi nhã thiệp tinh tế thì chính kiến trái ngược của họ mới thuyết phục được kẻ ngu dốt hơn, số nhiều ở vị trí quyền lực hơn đang ở tình trạng căm nghét chối bỏ/hoặc không thể hiểu sự thuyết phục thê thiết có lý của kẻ kia.

Xét về những hành động cụ thể của nhóm tri thức văn nghệ thì nhóm khởi xướng hành động chính trị kèm theo như, Lý Đợi, Bùi Chát đã có những tác động tích cực. Tuy nhiên phương cách của nhóm này vẫn chưa vượt qua được lối cách “rạch mặt ăn vạ” kiểu Chí Phèo (mà tôi đã từng là nạn nhân bị bạn Lý Đợi rạch mặt ăn vạ đôi lần, cảm thấy hết sức hoảng sợ, buồn nôn và mệt mỏi ). Lối cách này chỉ có tác dụng với nhóm rất ít người ngây thơ vỡ mộng cho một ảo tưởng nào đó về xã hội, họ bị dồn đuổi tới đường cùng dẫn tới tha hoá không thế cứu vãn. Sự tha hoá, lưu manh tâm thần của họ có những lý do, minh chứng thuyết phục từ phía xã hội, nhóm người mà cá nhân mang căn bệnh đó có một niềm tin nào đó cho lý đúng của họ khiến cơ thể xã hội buộc phải chất vấn chính nó. Điều này chỉ có thể được giải mã qua một số ít người phải đóng vai quan toà, luật sư hoặc bác sỹ tâm lý (luôn phải ở vế cao hơn, tri thức, quyền lực và tiền của hơn) trong và ngoài hệ thống. Còn để thuyết phục người lương thiện bình thường còn lại thì rất khó.
Về mặt xã hội, trong thời điểm năm nay, một loạt những hoạt động công khai chống chính quyền nổi lên tại Hà nội và tp HCM và hầu khắp cả nước với hoạt động giúp đỡ dân oan khiếu kiện đất đai của LS Lê Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, nhà báo Trần Khải Thanh Thuỷ và gần đây nhất là vị sư Thích Quảng Độ. Những người này không có lối cách nào khác cũng chọn lối cách đấu tranh quá khích giống như bạn Lý Đợi nhóm thơ Mở Miệng. Tôi cho rằng tính chất trầm trọng của hiện tượng xã hội này thể hiện một xã hội mà bên trong nó như một quả bong căng phồng chực vỡ tung mà những hiện tượng này chỉ báo nho nhỏ. Không thấy động thái nào ngoài một vài ý định lẻ tẻ hụt hơi thành lập hội nhóm văn của mấy cánh văn nghệ đầu têu là nhà thơ Lê Thiếu Nhơn mạnh mồm tại TP HCM. Bên cạnh đó, một loạt động thái đón trước của nội bộ trung ương Đảng, Quốc hội. Việc tách bộ Thông tin Truyền thông và bộ Du lịch Thể thao rồi một loạt những động thái khác của chính phủ trong việc tiến bộ cải cách hành chính khiến giới tri thức trong nước tư duy theo không kịp hoặc ớ ra phục lăn. Gần một năm trước, sau vụ đình bản 1 tháng 2 tờ báo, một thuộc bộ ngoại giao mới ra những số báo đầu tiên, Báo Thời Đại, tờ thứ 2 là tờ Công Lý thuộc Toà Án Nhân Dân tối cao. Chuyện bài báo viết về chuyện tiền thật tiền giả tiền hư hỏng vào cuối tháng 10 năm ngoái. Cánh báo chí chịu ấm ức sau khi thấy mình nói đúng không có nói sai, bị phạt bởi không đi họp,lý do hết sức ấm ức lại ra không đi họp nói chuyện quá thời điểm cho phép lại ra chuyện khích động chiến tranh, thật không sao hiểu nổi. Sau gần 1 năm vụ đình bản báo giới ấm ức chuyện nói thật bị phạt thì ra…lạm phát. Và thế là Bộ văn hoá thông tin được tách ra làm 2 bộ có một bộ riêng quản lý giới báo chí không biết lới lỏng ra hay thít chặt vào. Trong khi ở bên ngoài thì tính chất “ sôi sùng sục” của các diễn đàn/báo điện tử hải ngoại trên mạng mà có thể điểm tên chỉ mặt hầu hết những tri thức hàng đầu trong nước tham gia với câu chữ đầy nhiệt huyết của cụ Phan Khôi những năm 1930 chống tiêu cực(6). Phải chăng thực sự toàn thể tri thức Việt trong và ngoài nước đang biểu hiện một bối cảnh hòan toàn mất định hướng?

Giải pháp dành cho việc từ khóa “Cộng sản” nói chung cần phải chấp nhận ở cả 2 phía đã/sẽ trở nên không “Cộng sản” và lại rất “Cộng sản” là điểm nhập nhẹm nhá nhem trong sự hỗn độn chưa phân biệt của nhóm tri thức trong nước nhập nhoạng tham gia các diễn đàn hải ngoại đủ sức mạnh tái tạo lại một sân chơi văn nghệ trong nước. Sân chơi này, có thể tạo một nơi chỗ có thể bao chứa những vấn đề văn chương, văn nghệ, đặc biệt là nơi có thể đăng tải những tác phẩm sáng tác mang tư duy đương đại. Chính sân chơi sáng tác này mới là nơi nội nhập hóa tri thức và văn minh tạo sức mạnh nội tâm tốt nhất cho giới tri thức. Các sân chơi chật chội thiếu khí thở trong nước hiện giờ (như dự án tủ sách tinh hoa, gần đây nhất là báo Thể thao văn hóa, và trang văn nghệ Việtnamnet ) thì làm sao có thể giật gấu vá vai đủ thu hút một nhóm lớn tri thức có sự chuẩn bị đầy đủ về kiến thức lẫn đạo đức và tài chính bằng công việc thực sự của họ một cách đường hoàng để có thể tự nới rộng ra bầu không khí ngột ngạt họ đang hít thở. Chính đội ngũ này mới có thể hi vọng thúc đẩy sự tiến triển xã hội mang tính xây dựng, bền vững.

Sự nhập nhoạng ở thời điểm này cho thấy tầng lớp chóp bu chính trị và trí thức trong nước đã có những nhận thức và hành động thay đổi trong mối quan hệ nhập nhằng với tri thức hải ngoại. Tuy nhiên do chưa nội nhập đầy đủ và ý thức sâu sắc nên hành động của họ vẫn mang tính giật giây chụp giật, không được dẫn giải một cách đường hoàng một cách tri thức học thuật cho xã hội có thể hiểu rằng thực sự chuyện gì đang xảy ra. Có thể lấy ví dụ lĩnh vực văn nghệ là sự việc tổ chức đêm thơ Nguyên Tiêu đầu năm 2007 với sự xuất hiện của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, sau đó là sự việc in sách của tác giả Dương Nghiễm Mậu - tri thức Sài Gòn trước năm 1975 - và trước đó là hội thảo quốc tế về Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hoá quốc tế vào đầu tháng 11.06 tại Viện Văn học và Viện Harvard-Yenching Mỹ. Những sự kiện này xảy ra chứng tỏ đã có những thay đổi mang tính chất mấu chốt trong nhận thức của những tri thức cốt cán hàng đầu bên trong hệ thống về vấn đề Nam, Bắc trước năm 1975 .Tuy nhiên vấn đề ở chỗ họ biểu hiện tình trạng chính đáng này một cách hết sức bất thình lình, bất ổn, hỗn độn và chụp giật kiến cho báo giới không hiểu chuyện gì xảy ra và do vậy họ không đủ tự tin để diễn giải sự kiện quan trọng chính đáng này bằng những bài báo chính đáng, nghiêm túc cho toàn xã hội biết tới. Sự tiến hóa riêng lẻ này của đội ngũ tri thức chóp bu sẽ dẫn tới điều gì? Theo chỉ dẫn của họ sẽ có những thay đổi bối cảnh xã hội không giải thích và cũng bất thình lình y như vậy (mà chỉ có thể hiểu được một cách tâm thần). Chính chi tiết này sẽ dẫn tới những cơn nổi giận của thế hệ sau khi tới ngưỡng của tình trạng bất ổn của một bối cảnh không thể hiểu nổi là thời điểm tỉnh thức khó có thể kiểm soát.

Như vậy, nếu nhưng trong thời điểm này, đội ngũ tri thức xung quanh tường lửa có thể tụ tập nhau lại trong một diễn đàn báo chí học thuật nào đó trong nước có thể đủ mạnh thì kỳ vọng văn minh dân chủ của ông Bùi Tín có cơ hội nảy mầm một ngày đẹp trời một cách bình thường. Tuy nhiên, những hiểu biết này sao khi một hôm tình cờ nào đó người dân Việt vớ phải, thì sau đó nhất thiết phải là tình huống mà họ ý thức trong một niềm cần thiết cần phải mang tính thôi thúc nội tâm chứ không phải tình trạng biểu diễn nghi thức dân chủ( bầu cử chẳng hạn) mà họ đã mang vác sẵn hộ cụ Hồ từ năm 1945 tới tận bây giờ.



Tháng 9.07
Nguyễn Thị Thuý Quỳnh
--


Chú thích.
(1)Ý này tôi viết dựa trên một nhận xét về việc báo chí Việt nam hiện thời vẫn lấy cảm hứng từ những vấn đề rất cũ hoặc chủ yếu dịch lại từ báo nước ngoài. Có thể tri thức lưu trữ ở dạng tiềm ẩn thì nhiều nhưng con cháu sử dụng, nối tiếp được là không có, rất ít chẳng hạn.Việc tranh luận, dưa ra vấn đề tạo nên một bầu không khí, hoặc không gian bao chứa vấn đề tri thức theo tôi là quan trọng.Việc này sẽ khiến cho tri thức ở dạng tiềm năng được triển nở cùng mới những cập nhật thu nhận mà nó cần phải nhận ra và học tập đểcó thể phát triển.Mà điều này ở nhóm tri thức Việt nam rất yếu. Chi tiết này tôi có diễn giải lại nhiều lần trong phần sau bài viết.
(2) Ý này dựa vào nhận xét của riêng tôi trong bài báo viết về hội nghị này.
(3)Tại hội thảo Quốc tế Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hoá quốc tế vào đầu tháng 11.06 tại Viện văn học và viện Harvard-Yenching Mỹ. Bài viết của GS Phong Lê, cố viện trưởng viện văn học khi phân chia các giai đoạn phát triển văn học đã đặt ra từ trước năm 1945- 1986- nay. GS Phong Lê hoàn toàn không tính đến văn học Miền nam trước và sau năm 1954, 1975, và văn học Hải ngoại. http://www.vienvanhoc.org.vn/reader/?id=54&menu=106
Tại hội thảo cũng đề cập tới khá nhiều vấn đề của văn học trước năm 1975 tại miềm Việt nam và văn học hải ngoại.
(4) Đây là ý riêng của tôi.Có thể nhiều người nước ngoài hoặc Việt kiều cũng có ý này tuy nhiên do điều kiện không phải là người nghiên cứu chuyên môn nên tôi không có dịp tham khảo và trích dẫn.
(5) Đây là ý tưởng chính của học thuyết phân tâm học trong việc điều trị bệnh tâm trí
(6) Phát biểu của ông Lại Nguyên Ân trên talawas hầu hết là đưa lại bài của cụ Phan Khôi những năm 1930 để chứng minh tính chất thời sự của nó.