Tìm hiểu về văn hóa.

crocker
03-01-07, 15:29
Hôm nay rảnh rỗi, lưu lạc sang bên này (http://www.chungta.com/Desktop.aspx/KinhDoanh-QTDN/Quan-Ly/Boi_canh_van_hoa/), em đọc được bài của bác Phạm Thành Nghị (Tạp chí Nghiên cứu con người - Viện Nghiên Cứu Con Người, chỗ bác P.M. Hạc) thấy cũng rất chi là chân thành và sâu sắc. Xin phép lôi "trộm" về đây để mọi người tham khảo.

1. Khái niệm văn hóa

Văn hoá, theo các nhà văn hoá học, là sự kết tinh các giá trị vật chất và tinh thần, do con người sáng tạo ra, được truyền bá từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành cốt cách con người, truyền thống của nhóm người, dân tộc. Văn hoá thể hiện cách ứng xử của mỗi con người, nhóm người, dân tộc để người khác hiểu mình và mình hiểu người khác. Văn hoá làm cho các nhóm người, tộc người, dân tộc khác nhau. Văn hoá được các nhà xã hội học định nghĩa như tập hợp các niềm tin, giá trị, tập tục, truyền thống, lối sống và những đặc trưng xã hội khác nữa. Các nhà nhân học coi văn hoá là tập hợp những hành vi và quan niệm mà con người học hỏi được với tư cách là thành viên của xã hội (Schultz & Lavenda, 2001). Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, văn hoá, theo nghĩa rộng, được hiểu là phương thức sống. Người viết "vắn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cộng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" (Hồ Chí Minh, 2000:431).

Người ta thường nói đến văn hoá dân tộc, văn hoá tộc người, văn hoá tổ chức hay văn hoá cộng đồng, đồng thời có những thành tựu văn hoá, văn minh, các giá trị được coi là tài sản của cả loài người. Hơn nữa, ở cấp độ cá nhân, văn hoá được thấm vào nhân cách, lối tư duy, cách thức hành động của từng thành viên cộng đồng, văn hoá được thấm vào từng con người, trở thành nét văn hoá nhân cách, có nhà nghiên cứu gọi là văn hoá chủ thể (Adamopoulos & Kashima, 1999). Văn hoá là sự phát huy các năng lực bản chất của con người, là sự thể hiện đầy đủ nhất chất người, nên văn hoá có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù đó là hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, trong giao tiếp, ứng xử, hay trong những suy tư thầm kín nhất. Các khái niệm văn hoá nhân cách, văn hoá gia đình, văn hoá tổ chức, văn hoá cộng đồng, văn hoá lao động, văn hoá chính trị… đang được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ xã hội (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2000:11). Văn hoá tổ chức là cấp trung gian giữa văn hoá dân tộc và văn hoá chủ thể, có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nhân lực cấp tổ chức.
crocker
03-01-07, 15:37
2. Cấp độ văn hóa


Thông thường văn hoá được nói đến ở hai bộ phận: văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể hay văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần. Văn hoá vật thể là các sản phẩm của các nền văn hoá: đền chùa, miếu mạo, kiến trúc, chứa đựng trong đó những biểu tượng, ý tưởng, niềm tin... Văn hoá phi vật thể là những sản phẩm tinh thần: văn học, nghệ thuật, phát minh khoa học, phong tục tập quán... Đây là sự phân chia mang tính tương đối. Cái gọi là văn hoá vật thể hay văn hoá vật chất thực ra là kết quả vật thể hoá các giá trị tinh thần mà thôi. Vì vậy, hệ thống giá trị tinh thần là quan trọng nhất khi xem xét một nền văn hoá.

Văn hoá, theo Schein (1992), biểu hiện ở 3 cấp độ: cấp độ tạo tác (artifacts), cấp độ giá trị đồng hành (espoused values) và cấp độ những thừa nhận cơ bản (basic underlying assumptions).

Cấp độ tạo tác cho thấy những biểu hiện cụ thể, bề ngoài của văn hoá, bao gồm tất cả những hiện tượng có thể nhìn thấy, nghe thấy và cảm thấy khi gặp, tiếp xúc với những người ở một nền văn hoá khác. Tạo tác bao gồm những sản phẩm thấy được như kiến trúc, ngôn ngữ, sáng tạo mỹ thuật, phong cách ăn mặc, lối nói chuyện, sự biểu lộ tình cảm, những câu chuyện, những nghi lễ, ứng xử. Cấp độ văn hoá này bao gồm những hành vi hữu hình biểu hiện trong quá trình sinh hoạt. Sự học hỏi của cá nhân, nhóm người cuối cùng phản ánh những giá trị gốc, những quan niệm của ai đó về việc phân biệt cái này với cái khác. Khi một nhóm được thành lập hay khi nó đối mặt với một nhiệm vụ hay vấn đề mới thì giải pháp đầu tiên đưa ra phản ánh sự thừa nhận của các cá nhân về cái gì là đúng hay là sai, về cái cần làm và không nên làm. Những cá nhân có quyền lực, uy tín có thể gây ảnh hưởng lên nhóm. Khi những người này thuyết phục nhóm hành động theo niềm tin của mình và nếu hành động mang lại kết quả thì điều đó sẽ dần dần làm thay đổi nhận thức. Sự thay đổi này xảy ra như một quá trình chuyển đổi nhận thức. Trước tiên, nó sẽ được chuyển thành giá trị hay niềm tin chung và cuối cùng chuyển thành sự thừa nhận chung. Quá trình chuyền đổi này xảy ra và sẽ chỉ xảy ra nếu giải pháp được đưa ra tiếp tục thành công, như vậy có nghĩa là nó "đúng đắn" ở nghĩa rộng hơn và phản ánh một bức tranh chính xác về hiện thực. Các thành viên của nhóm sẽ có xu hướng quên rằng họ đã khống chắc chắn về kết quả và rằng quá trình hành động được diễn ra đã được thảo luận, đối chất gay gắt lúc ban đầu. Những giá trị mới được người sáng lập và người lãnh đạo đưa vào, nó tồn tại và dần được chuyển thành những. thừa nhận hiển nhiên dựa trên những niềm tin, chuẩn mực và cách thức ứng xử. Tương tự như vậy, ở cấp độ nhân cách, văn hoá cũng thấm vào từng con người trên các cấp độ: thừa nhận, niềm tin, giá trị và thói quen hành động. Quá trình này cũng bắt đầu từ hành động và được củng cố qua sự thành công, tính đúng đắn của kết quả các hành động đó. Đây là quá trình xã hội hoá các thành viên trong tổ chức, cộng đồng, dân tộc. Cấp độ những thừa nhận cơ bản là cấp độ văn hoá vững chắc nhất.
crocker
03-01-07, 15:40
3. Sự biến đổi văn hoá

Inglehart and Baker (2000) cho rằng hệ giá trị chịu sự tác động của trình độ phát triển kinh tế và đặc trưng của vùng văn hoá. Phát triển kinh tế trong giai đoạn công nghiệp hoá dẫn đến chuyên môn hoá ngành nghề, tăng học vấn, tăng thu nhập, và do đó, thay đổi vai trò giới, thái độ với chính quyền và chuẩn mực tình dục, giảm tỷ lệ sinh, tăng sự tham gia vào chính trị…Tác động của văn hoá đến cuộc sống và đánh giá của con người (giá trị) phụ thuộc vào các vùng văn hoá khác nhau mà theo Huntington có 8 vùng: Thiên chúa giáo Phương Tây, thế giới đạo chính thống, đạo Hồi, đạo Khổng, Nhật Bản, Hin Đu, châu Phi và châu Mỹ La tinh.

Thay đổi văn hoá không diễn ra theo đường thẳng. Trong xã hội công nghiệp, sự giải thích lịch sử và lòng tin thế lực thông qua hoạt động công nghiệp được điều khiển theo quy tắc, trong tổ chức hành chính. Trong xã hội hậu công nghiệp, không tăng thêm sản xuất về số lượng mà tăng địch vụ và khu vực tri thức. Sự chuyển hướng từ chinh phục thiên nhiên, đối chọi với thiên nhiên sang tương tác giữa con người với nhau, tập trung vào trao đổi và xử lý thông tin. Con người làm việc chủ yếu với người khác và với ký hiệu. Do vậy, sự phát triển của xã hội hậu công nghiệp dẫn tới sự tập trung vào sự tự thể hiện mình trong mối quan hệ giữa con người và con người.

Inglehart and Baker (2000) đã phân bố các giá trị theo 2 trục: giá trị truyền thống (Traditional) đối lập với các giá trị thế tục - duy lý (Secular - Rational) và giá trị sinh tồn (Survival) đối lập với giá trị tự thể hiện mình (Self - Expression). Các giá trị mang nội dung kinh tế, chính trị, công việc, gia đình, tôn giáo… đều được đưa vào trong hai trục giá trị này.

Các giá trị truyền thống (thường thấy trong xã hội nông nghiệp) có thể kể đến là không bao dung với ly dị, đồng tính luyến ái và nạo thai, ủng hộ đàn ông thống trị về chính trị và kinh tế, bảo vệ quyền của cha mẹ (con cái nghe lời, chăm chỉ, không đánh giá cao sự sáng tạo, độc lập của con cái), ý nghĩa quan trọng của cuộc sống gia đình phong cách độc đoán, giá trị tín ngưỡng cao. Ở các xã hội tiên tiến, các giá trị này có ý nghĩa theo chiều ngược lại.

Theo trục giá trị Sinh tồn - Tự thể hiện mình, có thể đưa ra các giá trị liên quan đến mức độ tin cậy, sự độ lượng, hạnh phúc, tính tích cực chính trị, tự thể hiện mình. Trong xã hội tiền công nghiệp, các giá trị được tìm thấy ở sự ít an toàn kinh tế và cảm giác hạnh phúc thấp, khó tồn tại trong hoàn cảnh đa sắc tộc và sự thay đổi văn hoá. Trong xã hội hậu công nghiệp, có thể quan sát thấy sự đi chuyển giá trị từ an toàn kinh tế và cơ thể sang nhấn mạnh sự tự thể hiện mình, cảm giác hạnh phúc và chất lượng cuộc sống.

Nghiên cứu của Inglehart & Baker (2000) đã chứng minh rằng giá trị thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế và chịu sự tác động của vùng văn hoá. Nếu xét theo chỉ số thu nhập, các nước có thu nhập đầu người cao có chiều hướng đánh giá cao các giá trị thế tục duy lý, các nước có thu nhập thấp thiên về giá trị truyền thống (theo trục giá trị truyền thống - duy lý), đồng thời các nước có thu nhập cao thiên về các giá trị tự thể hiện mình và các nước có thu nhập thấp có chiều hướng thiên về các giá trị sinh tồn xét theo trục giá trị sinh tồn - tự thể hiện mình. Tuy nhiên, trong cùng một mức thu nhập, các chỉ số giá trị phụ thuộc rất nhiều vào các vùng văn hoá, những đặc điểm tôn giáo, triết lý, thể chế chính trị có ảnh hưởng đến hệ giá trị.

Sự thay đổi giá trị cũng diễn ra theo thời gian do những tác động của kinh tế, chính trị. Hệ giá trị ở Nga và các nước Đông Âu thay đổi từ năm 1991 - 1997 theo hướng đánh giá bi quan hơn, thiên về giá trị sinh tồn hơn (theo trục sinh tồn tự thể hiện mình) và các giá trị truyền thống hơn (theo trục truyền thống - duy lý). Theo độ tuổi của người được phỏng vấn, ở tất cả các xã hội, không phụ thuộc vào trình độ kinh tế và vùng văn hoá, người trẻ tuổi có hệ giá trị thiên về giá trị tự thể hiện mình hơn (theo trục sinh tồn - tự thể hiện mình) và các giá trị duy lý hơn (theo trục truyền thống - duy lý).

Như vậy, do tác động của phát triển kinh tế và văn minh loài người, văn hoá (cụ thể là hệ giá trị) có những biến đổi theo hướng tiến tới một hệ thống giá trị duy lý hơn và tự thể hiện mình hơn. Tất nhiên, ở nơi này nơi kia có những xu hướng cục bộ khác, nhưng nhìn chung văn hoá vẫn biến đổi theo xu thế chung đó.
crocker
03-01-07, 15:42
4. Văn hoá và nguồn nhân lực

* Khái niệm nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fischer & Dornhusch, 1995). Nguồn nhân lực, theo GS. Phạm Minh Hạc (2001), là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó.

Khi nói đến nguồn nhân lực, người ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của thị trường lao động. Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trong trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động. Sự phân loại nguồn nhân lực theo ngành nghề, lĩnh vực hoạt động (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ) đang rất phổ biến ở nước ta hiện nay, nhưng khi chuyển sang nền kinh tế tri thức phân loại lao động theo tiếp cận công việc nghề nghiệp của người lao động sẽ phù hợp hơn. Lực lượng lao động được chia ra lao động thông tin và lao đọng phi thông tin. Lao động thông tin lại được chia ra 2 loại: lao động tri thức và lao động dữ liệu. Lao động dữ liệu (thư ký, kỹ thuật viên...) làm việc chủ yếu với thông tin đã được mã hoá, trong khi đó lao động tri thức phải đương đầu với việc sản sinh ra ý tưởng hay chuẩn bị cho việc mã hoá thông tin. Lao động quản lý nằm giữa hai loại hình này. Lao động phi thông tin được chia 'ra lao động sản xuất hàng hoá và lao động cung cấp dịch vụ. Lao động phi thông tin dễ dàng được mã hoá và thay thế bằng kỹ thuật, công nghệ. Như vậy, có thể phân loại lực lượng lao động ra 5 loại: lao động tri thức, lao động quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp dịch vụ và lao động sản xuất hàng hoá. Mỗi loại lao động này có những đóng góp khác nhau vào việc tạo ra sản phẩm. Nồng độ tri thức, trí tuệ cao hay thấp trong sản phẩm lao động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của lực lượng lao động trí thức, quản lý và phần nào của lao động dữ liệu ở nước ta, tỷ lệ lao động phi thông tin còn rất cao trong cơ cấu lực lượng lao động, do đó hàng hoá có tỷ lệ trí tuệ thấp. Muốn tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, cần tăng nhanh tỷ lệ trí tuệ trong hàng hoá trong thời gian tới.
crocker
03-01-07, 15:45
* Những đặc trưng văn hoá của nguồn nhân lực nước ta hiện nay

Khi nói đến văn hoá theo nghĩa là phương thức sinh hoạt thì văn hoá có mặt trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đời sống cá nhân. Trong các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, tôn giáo, gia đình… con người đều thể hiện hành vi ứng xử trên cơ sở những giá trị, niềm tin, thói quen đã có. Phân tích các lĩnh vực hoạt động trên sẽ giúp tìm ra những đặc điểm văn hoá đang ảnh hưởng tích cực và tiêu cực tới sự đóng góp của nguồn nhân lực vào quá trình CNH, HĐH đất nước và nhờ đó có thể tìm ra các giải pháp khắc phục những nhược điểm đó.

Kinh tế liên quan đến hoạt động sản xuất và phân phối có thể tuân theo cơ chế thị trường hoặc kế hoạch hoá tập trung, cũng có thể phối hợp hai cơ chế này. Trình độ phát triển của nền kinh tế và cách làm ăn kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến cách thức sinh hoạt, làm việc, ứng xử của con người trong xã hội.

Nền kinh tế Việt Nam hiện còn yếu kém, đang trong qúa trình chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang giai đoạn công nghiệp hóa. Quan hệ kinh tế thị trường chưa hoàn thiện. Chính sự manh mún, trình độ lạc hậu của quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa đã tạo ra tác phong làm việc thiếu khoa học, quan hệ hợp tác yếu, tầm nhìn hạn hẹp, tư duy bản vị, cục bộ ở nhiều người lao động. Chế độ đãi ngộ còn dựa vào thâm niên, chưa đánh giá cao nguyên tắc đãi ngộ theo cống hiến.

Nền chính trị bao gồm các cấu trúc và hoạt động liên quan đến phân bổ và sử dụng quyền lực cũng như quy tắc tiếp cận với nguồn lực và các cơ hội phát triển. Thể chế chính trị có thể dân chủ, độc tài, có thể cho phép hay loại bỏ các nhóm sắc tộc, giới, tuổi hay vị thế kinh tế khỏi việc tham gia quyền lực.

Nền chính trị của nước ta đã chuyển sang thể chế dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng, hiến pháp và pháp luật đã bảo đảm quyền tự do của con người. Tuy nhiên, do sự phát triển bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, ý thức và tư duy con người Việt Nam về quyền lực, về chính trị vẫn còn nhiều dấu ấn phong kiến. Hệ thống quản lý hành chính quan liêu trong nhiều năm chiến tranh còn ảnh hưởng rất nặng nề trong cách làm ăn kinh tế và quản lý xã hội. Mỗi cá nhân hãy còn chưa ý thức hết được quyền và nghĩa vụ của mình trong chế độ xã hội dân chủ. Trong Điều tra Giá trị thế giới 2001, người lao động khi được hỏi về xu hướng thiên về tuân thủ theo mệnh lệnh hay muốn làm rõ lý lẽ trước khi thực thi, có tới 46,2% có xu hướng làm theo mệnh lệnh, 40% cho biết muốn thông tỏ trước khi chấp hành và 13,8% tuỳ thuộc tình hình.

Niềm tin vào lực lượng siêu nhân cùng với những giáo lễ, quy tắc có ảnh hưởng lớn đến lối tư duy, cách sống và làm việc của con người. Tín ngưỡng ảnh hưởng đến tạo lập niềm tin, các chuẩn mực đạo đức (tốt hay xấu), ý nghĩa của cuộc sống, thậm chí cách thức ăn, mặc, làm việc và quan hệ với người khác.

Kết quả điều tra giá trị thế giới cho thấy 15% số người được hỏi theo đạo Phật, 30% thờ cúng tổ tiên, 46% số người cho biết không theo tôn giáo nào. Mặc dù không tham gia giáo lễ, đại bộ phận người Việt Nam trực tiếp hay gián tiếp chịu ảnh hưởng của giáo lý đạo Phật. Họ lấy lòng vị tha, từ bi bác ái, tin vào điều thiện để giáo đục con người. Đây là điểm tốt giúp cho xã hội ôn hoà, quan hệ con người thân thiện, nhưng chính triết lý tình thương này làm cho con người ứng xử thiên về tình cảm, thiếu nguyên tắc, coi nhẹ quy định pháp luật trong công việc và cuộc sống.

Gia đình có vai trò rất khác nhau trong các nền văn hoá. Gia đình có thể có quy mô nhỏ chỉ bao gồm cha mẹ và con cái đến gia đình lớn bao gồm nhiều thế hệ sống chung trong một mái nhà. Trong các gia đình nhỏ, trách nhiệm và quyền lợi của cá nhân được đề cao, trong khi đó ở các gia đình lớn các thành viên phải hy sinh quyền lợi, mong muốn và nguyện vọng của cá nhân cho lợi ích chung. Quy mô gia đình chịu sư phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế. ở các nền văn hoá có kinh tế kém phát triển, các thành viên phải lấy gia đình làm nơi nương tựa.

Gia đình ở Việt Nam được đánh giá cao. Kết quả điều tra giá trị thế giới 2001 cho thấy 82,4% số người trả lời cho rằng gia đình rất quan trọng, chỉ có 0,6% cho rằng gia đình không quan trọng, số còn lại cho rằng gia đình khá quan trọng. Tương ứng với các mức đánh giá về tầm quan trọng của chính trị là: 38,7%, 22,1% và 39,2, của tôn giáo: 10%, 66,5% và 23,6%, của công việc là: 56,8%, 6% và 37,1%. Trong bốn giá trị nêu ra, gia đình đứng vị trí cao nhất, cao hơn cả công việc. Chính trị đóng vai trò quan trọng hơn tôn giáo trong hệ giá trị của người Việt Nam hiện nay.

Trong gia đình, con cái phụ thuộc rất nhiều vào cha mẹ và cha mẹ khi già yếu phải trông cậy rất nhiều vào sự chăm sóc của con cái. Có tới 99,3% số người được hỏi cho rằng: dù cha mẹ có phẩm chất hay lỗi lầm như thế nào đi nữa, con cái vẫn phải tôn trọng và yêu quý cha mẹ. Đối với cha mẹ, 87,4% số người được hỏi cho rằng nọ phải cố gắng hết sức với con cái, kể cả khi phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.

Trong xã hội Việt Nam, các thành viên trong gia đình, đòng họ phụ thuộc vào nhau. Quan hệ thân tộc, gia đình vì thế rất chặt chẽ. Sự chia sẻ, chở che giữa các thành viên trong gia đình đã ảnh hưởng đến cách ứng xử trong công việc xã hội. Tác phong gia đình chủ nghĩa đã ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả công tác và tính nguyên tắc trong thực thi pháp luật. Sự cam kết mạnh mẽ với gia đình, đòng họ và người thân quen, nhiều khi, vô hiệu hoá hoặc cản trở cam kết với tổ chức. Do sự cam kết mạnh mẽ với nhân tố bên ngoài đó (trong trường hợp này là gia đình và người thân quen), người lao động, nhiều khi, chỉ coi tổ chức là phương tiện để đạt mực đích của gia đình, đòng họ hay người thân quen. Điều này làm suy yếu chính sách nguồn nhân lực liên quan đến tuyển chọn, bổ nhiệm và đãi ngộ người lao động.

Giáo dục ảnh hưởng lớn đến hình thành nhân cách học sinh và người lao động tương lai. Có những. nền giáo dục yêu cầu tuyệt đối tôn trọng và nghe theo người thầy, sản phẩm của các nền giáo dục đó là những con người thụ động, thiếu kỹ năng giao tiếp và khả năng giải quyết vấn đề một cách độc lập. Trong khi đó ở các nền văn hoá khuyến khích sự tham gia, tồn tái quan hệ bình đẳng giũa thầy và trò, xuất hiện sự khác biệt trong phát triển nhân cách người học. Người học được rèn luyện kỹ năng sống độc lập, được khuyến khích tính tự chủ và khả năng sáng tạo.

Nước ta chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Nho giáo và các giá trị văn hoá Phương Đông, các phẩm chất chuyên cần, vâng lời, có trách nhiệm với tập thể, lòng khoan dung độ lượng được đánh giá cao, trong khi việc giáo đục trí tưởng tượng, tính độc lập, tính cá nhân được đánh giá thấp hơn. Điều này phản ánh trong kết quả điều tra giá trị thế giới: 75,5% số người được hỏi cho rằng cần giáo dục tính chuyên cần ở trẻ em, 70,8% giáo dục tinh thần trách nhiệm, 67,9% giáo dục lòng khoan dung và tôn trọng người khác, trong khi đó chỉ 56,4% số người trả lời cho rằng cần giáo dục trẻ em tính độc lập và 20,2% cần giáo dục trí tưởng tượng.

Ngôn ngữ cũng chứa đựng trong mình những đặc trưng văn hoá. Phong cách ngôn ngữ trực tiếp hay gián tiếp thể hiện văn hoá mở hay đóng. Cách xưng hô, cách diễn đạt thể hiện tính đẳng cấp trong giao tiếp. Ví dụ, đại từ nhân xưng ngôi thứ hai trong tiếng Anh chỉ dùng một từ (you), trong khi tiếng Việt có tới hàng chục từ (anh chị, ông bà, chú bác…), phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tính, vị thế, quan hệ. Do vậy, những người sử dụng tiếng Anh có cơ hội được bình đẳng hơn những người dừng tiếng Việt.

Yếu tố lịch sử và tự nhiên cũng ảnh hưởng đến văn hoá, tính cách con người. Tính cách dân tộc phụ thuộc vào vị thế chính trị, kinh tế, văn hoá của dân tộc đó trong lịch sử. Sống trên dải đất hẹp, thiên nhiên khắc nghiệt, dân ta phải chống chọi với sự khắc nghiệt của tự nhiên như giông bão, lũ lụt và khắc phục hậu quả của chúng để tồn tại. Hơn thế nữa, dân tộc ta đời nào cũng phải đương đầu với sự xâm lược của ngoại bang bằng sức mạnh. Sự nổi bật trong tính cách người Việt là lòng gan dạ, ý chí kiên cường bất khuất trong chiến tranh, nhưng cũng rất yêu hoà bình, có tính cách hiền hoà, ít xâm kích. Những biểu hiện thái quá của nét tính cách này là sự ứng xử dĩ hoà vi quý. Những biểu hiện tiêu cực do chiến tranh để lại có thể thấy ở thói quen làm ăn tạm bợ, coi nhẹ việc tuân theo quy trình kỹ thuật chặt chẽ. Cũng đã ảnh hưởng của nhiều thập kỷ chiến tranh, sự đô hộ của ngoại bang, tư tưởng kỳ thị, cục bộ địa phương, tâm lý vọng ngoại, háo danh… của nhiều người mà có nhà nghiên cứu nhắc đến như những biểu hiện của di chứng nô lệ (Vũ Hạnh, 2000).
crocker
03-01-07, 15:48
Như vậy có thể tóm lược một vài đặc điểm văn hoá của nguồn nhân lực ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của nước ta trong thời gian tới. Trước hết do trình độ phát triển kinh tế thấp, người lao động có lối làm ăn nhỏ lẻ, manh mún, tầm nhìn ngắn hạn, ý thức kỷ luật thấp, làm ăn thiếu tuân thủ quy trình nghiêm ngặt. Người quản lý sử dụng các phương pháp quản lý của lối sản xuất nhỏ lẻ này nên cũng tuỳ tiện, thiếu nguyên tắc. Xã hội được tổ chức theo kiểu cộng đồng, nơi các quan hệ thân tộc đóng vai trò quan trọng. Tục lệ theo lối "phép vua thua lệ làng” hãy còn chi phối hoạt động và lồi sống của nhiều cộng đồng. Pháp luật chưa được tuân thủ nghiêm ngặt.

Quan hệ gia đình chặt chẽ, tôn trọng tình cảm đã ảnh hưởng đến cách ứng xử trong công việc, nhiều khi dẫn đến sự lẫn lộn các quan hệ gia đình và quan hệ công vụ. Do cách xưng hô có nhiều thang bậc, công sở nhiều khi được xem như những gia đình lớn. Cấu trúc xã hội được hành chính hoá, thông tin khó được lưu chuyển tự do từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, giữa các bộ phận và cá nhân dẫn đến việc ra quyết đinh thiếu thông tin do có quá ít ý kiến đóng góp của những người liên quan.

Theo Tạp chí Nghiên cứu con người
freefish
03-01-07, 19:22
Bài của Phạm Thành Nghị chủ yếu ăn cắp quote mỗi nơi mỗi ít, leng keng nhiều và thật đáng buồn là ở VN người ta vẫn quan niệm về văn hóa một cách lãng mạn và kém thực dụng đến vậy. Văn hóa trong thời đại thông tin và hàng hóa ngày nay nó phải là sản phẩm và thương hiệu, cụ thể hơn, anh tự hào về đất nước anh thì anh hãy kể cho tôi nghe một số thứ mà tôi và mọi người biết. Anh nói tới Nhật, tôi biết Nhật có tinh thần võ sĩ đạo, là đất nước mặt trời mọc, hoa anh đào, sumo, áo kimono... Anh nói tới VN thì anh hãy kể cho tôi nghe một số thứ! Ca trù? Cái này tôi không biết! Áo dài? Có nghe sơ sơ nhưng thấy đâu bên Thượng Hải chúng nó cũng mặc thì phải!
crocker
03-01-07, 21:48
Bài này đặt tiêu đề chung chung và có phần hơi lạc đề vì không thấy đề cập nhiều đến việc xây dựng và thể hiện văn hóa mà bác Cá biển em quan tâm. Ở đây hình như là cái nhìn về văn hóa (khuyết tật trong văn hóa) thì đúng hơn là phát và thể hiện các văn hóa đã có.

Em thấy bài này cũng có mấy cái hay:
+ Cung cấp được khái niệm cụ thể về văn hóa.
+ Diễn giải được sự tương tác giữa điều kiện lịch sử, tự nhiên với văn hóa và hành vi của con người.
+ Giới thiệu cách phân loại nguồn lực theo xu thế hiện nay.
Kể ra phần cuối cũng có hơi nhiều các nhận xét không có diễn giải.

Nếu coi đây là dạng tài liệu tổng kết, có giá trị tham khảo để anh em nào đi qua thấy quan tâm đọc chơi cũng là điều có ích.
Bắc Thần
04-01-07, 01:08
... Áo dài? Có nghe sơ sơ nhưng thấy đâu bên Thượng Hải chúng nó cũng mặc thì phải!

Bác em cứ nói thế nào. Áo dài loại mặc đi thi, đi làm mẫu của VN mình hiện bây giờ chỉ mới có đây chưa đến 100 năm, tức là nếu đem đi so sánh với kimono của Nhật Bản và Đại Hàn, hay là sường sám của Trung Hoa thì tự nó đã là một sự thẩm du cực kỳ can đảm nếu không muốn nói là lố bịch rồi.

Nhờ công lao của các anh tạo mẫu thời trang (tiếng Tây gọi designers) thay nhau chăm chỉ hãm hiếp chiếc áo dài bằng những nét sáng tạo rấm rớ chẳng ra đâu vào với đâu của các ảnh mà bây giờ mình nhìn áo dài là thấy ngán, hết muốn tiến xa thêm.

Chán.
giangthu
04-01-07, 02:47
Trong lúc cái áo xường xám của Thượng Hải được coi như là sản phẩm Tây phục thì Việt Nam coi áo dài là cổ truyền. Thật ra các chi tiết của áo dài đã bị Âu hóa từ căn bản như nút bấm, móc áo và vái quần âu phía dưới và cái mông gân cộng với miếng thịt bụng.

Áo dài là một thứ bikini theo sự gợi ý của nó. Những phụ nữ mặc áo dài phần lớn có tư duy không đúng đắn theo tinh thần gợi dục sâu xa.

Nếu chọn là quốc phục thì phải nói là áo tứ thân mới là đại biểu. Đứng bên cạnh Hàn phục và Kimono chẳng khác nào trang phục của phu nhân sang trọng với con ở đợ thích khoe hàng.
Emily
04-01-07, 10:54
Cho hỏi, các bác em có phải người Việt Nam không? Sao các bác em lại thích lôi những thứ của nhà mình ra mà phỉ nhổ chửi bới thế ? Các bác em tưởng các bác em rẻ rúng văn hóa nhà mình là các bác em văn minh hiện đại và hiểu biết à ?

Thằng khôn là thằng biết chấp nhận và trân trọng những gì mình có và không tranh cãi về những thứ không bao giờ thay đổi được. Ngược lại với khôn là ngu. Các bác em hiểu cho.

Em thấy việc lấy áo dài làm truyền thống của Việt Nam mình chả có gì là lố bịch với đáng xấu hổ, chả việc gì mình phải đi so sánh với Trung Quốc và Nhật Pủn cả. Kimônô và sường xám của chúng nó cũng phải có những bước khởi đầu, từ 10 năm, 20 năm, 100 năm, 200 năm... mới được như bây giờ chứ có phải bòm một phát là được cả mấy trăm năm đâu. Vài ngàn năm nữa, nếu so sánh thì chúng nó cũng chỉ hơn mình một tí thời gian chứ có cái gì.

Bản thân em thấy áo dài rất chi là đẹp, mặc vào thướt tha và tôn dáng nhiều, kiểu cách thì rất mềm mại điệu đàng phù hợp với con gái Phương Đông. Còn việc cách tân thì là chuyện tất nhiên bởi vì cái gì đẹp hơn phù hợp hơn thì phải làm chứ.
THE GODFATHER
04-01-07, 13:07
Anh vừa ra tù đang tập leo núi thì thấy chú Bắc với em Thu kèn sáo nhịp nhàng thế!

Nhưng mà lần này thì chửi khí dốt. Anh đồ cái động cơ xấu cho nên mới chửi bừa. Áo dài không chỉ có cách đây ngót 100 năm như kiến thức của chú Bắc. Nó là sự cách tân và cải biến qua nhiều thế hệ, qua thăng trầm của lịch sử, gắn liền với văn hóa lúa nước của Việt Nam.

Cách đây hơn ba nghìn năm, áo dài Việt kiểu hai tà thướt tha đã xuất hiện ở nước ta trên hoa văn trống đồng Ngọc Lũ, Hòa Bình, Hoàng Hạ. Lịch sử cũng ghi lại rằng khi cưỡi voi xông trận đánh đuổi quân Hán, Hai Bà Trưng đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng. Rồi do tôn kính hai bà, phụ nữ Việt tránh mặc áo hai tà mà thay bằng áo tứ thân. Đến thế kỷ 17-19, phụ nữ Việt nơi thành thị đã biến tấu chiếc áo dài tứ thân thành áo dài ngũ thân, nhằm thể hiện sự giàu sang cũng như địa vị xã hội của họ. Chiếc áo ngũ thân cũng là biểu hiện của ngũ hành: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ.

Từ năm 1932 trở đi, làn sóng văn hóa Tây Âu du nhập vào Việt Nam đã làm ảnh hưởng đến thị hiếu của người dân, đặc biệt là quan niệm về thẩm mỹ đối với áo dài. Thời kỳ này Cát Tường tung ra kiểu áo dài mới gọi là áo dài Lemur. Vài năm sau, họa sĩ Lê Phổ đã cải tiến chiếc áo này, loại bỏ những đường nét Tây phương táo bạo để dung hòa với kiểu áo ngũ thân cũ tạo ra kiểu áo cổ kín, vạt dài ôm sát thân người để hai tà áo tự do bay lượn.

Chú hiểu chửa?

Em Thu, nếu cái áo dài em cho là gợi dục, thì cái áo xường xám Thượng Hải mà em ca tụng, nó có ít gợi dục hơn không? Em mặc xường xám Thượng Hải xẻ đùi cao tới bẹn, gặp anh đúng lúc sung tình, mình giao hoan ân ái, thì anh cũng chẳng cần mất một động tác thừa là tuột quần em. Kéo sang thôi, em yêu ạ!

Với anh, áo dài của Việt Nam, kimono Nhật Bản, hanbok Hàn Quốc hay sari Ấn Độ, xường xám Thượng Hải đều đẹp cả. Nhưng anh là dân đầu đen, da vàng mũi tẹt, ăn cơm thổi, cho nên anh yêu áo dài nhất, anh thấy nó đẹp và gắn bó với tâm hồn, quê hương mình nhất.

Và anh tin rằng, cho dù chú Bắc và em có chửi áo dài là "một sự thẩm du cực kỳ can đảm nếu không muốn nói là lố bịch" hay một thứ "bikini gợi dục sâu xa của con đợ thích khoe hàng" thì anh tin rằng, ở đâu có người con gái Việt Nam, thì ở đó có áo dài Việt Nam!
Bắc Thần
04-01-07, 15:13
Hị hị ... Cứ nàm như là có mỗi đồng chí biết xài wiki, biết hỏi bác Google í.

Anh đây không có chê bai cái áo dài cổ điển của nhà đồng chí. Thích nữa là khác. Thế nào là áo dài cổ điển? Áo dài cổ điển là cái áo dài bằng nhung của bà nội anh mặc vào ngày Tết, là cái áo xẻ cổ phăng-ta-di kiểu bà Lệ Xuân của bà bô anh hay mặc đi nhà thờ, là cái áo trắng đơn sơ mộc mạc của các em học sanh trường Phú Nhuận ... vân vân. Mấy cái đấy anh thấy ô-kê, đem đi khoe hay đi thi thì hơi bị lép vế, nhưng mà nói chung là ổn. Anh không có ý kiến gì.

Anh chê là chê những cái áo dài biến thái sa đọa của các anh tạo mẫu thời nay thôi. Đồng chí có thể tham khảo trong video mới nhất của Thúy Nga (hình như là trên Wiki, google chưa có.) Những cái áo đấy nhìn rất là khả ố, nó nhổ toẹt vào những chiếc áo dài mà anh vẫn yêu.

Ở trên anh bẩu rằng áo dài mới có đây chỉ có 100 năm thôi. Như thế là sai, anh nhận khuyết điểm. Thật ra áo dài mới có chưa tới 75 năm. Cho dù đồng chí có biện hộ gì gì về cách tân hay cải biên thì nó cũng chỉ có 75 năm thôi, chưa đủ yếu tố văn hóa hay bề dày lịch sử để so sánh với kimono hay hanbok được. Nó gượng gạo lắm. Kimono với lại Hanbok mặc còn phải có user manual; áo dài của mình anh thấy mặc ra cởi vào không khó lắm. Kimono với lại Hanbok cả bao nhiêu năm không thay đổi (anh thấy trong phim nó như thế) còn áo dài cách tân cải biên vài chục lần. Mặc dù việc cách tân là chuyện tất nhiên bởi vì cái gì đẹp hơn phù hợp hơn thì phải làm, nhưng mà cách tân nhiều lần như thế chỉ nói lên một điều: the original doesn't work!
Bắc Thần
04-01-07, 15:16
"Áo dài ngũ thân" là cái khỉ gì? Nếu ngũ thân là biểu hiện của ngũ hành: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ thì tứ thân là biểu hiện của Bầu - Cua - Tôm - Cá chắc?
giangthu
04-01-07, 21:03
Em chỉ hỏi là tại sao bên Tàu ở thập niên 40 mà mặc áo xường xám bị coi là Tây phục mà ở Việt Nam áo dài được coi là cổ phục.

Chẳng qua áo dài là sản phẩm giả cổ nhưng đa số người Việt Nam không có trình độ văn hóa tôn nghiêm để nhận chân giá trị. Chẳng qua là vì tính gợi dục của nó nên các hiền nhân quân tử An Nam tấm tắc khen ngợi. Đàn bà được khen may mặc ráo riết. Vấn đề là khi nói tới cổ phục là nói tới sự tôn nghiêm văn hóa trong trỏng. Thế mà mười người đàn ông khen áo dài là rõ ràng nghĩ ngay tới chuyện đường cong đường thẳng này nọ.

Áo dài cũng như chữ quốc ngữ là một loại văn hóa đẻ muộn chứ không phải là lịch sử truyền kỳ gì ráo.

Anh Bắc Thần nói như vậy là đúng rồi.
GunZ
04-01-07, 21:57
Áo dài Việt Nam có tên riêng, bạn bè quốc tế đều gọi nó bằng tên Tiếng Việt là "áo dài", cái này tớ vài lần chứng kiến. Có lần tớ để ảnh em Yến Vi mặc áo dài trên màn hình, có mấy ông cùng Lab hỏi cô này là bạn gái mày à, mình bảo không phải, là một diễn viên nổi tiếng ở VN, nhưng mà tao thích là thích cái áo cô ấy mặc, nó là áo truyền thống của phụ nữ VN, mấy bác kia bác nào cũng nói ngay từ "Áo dài".

Văn hóa là tất cả những thứ được con người tạo ra, thế thì áo dài cũng là một nét văn hóa của VN, quan trọng gì nó có lịch sử bao nhiêu năm, quan trọng là bạn bè quốc tế gọi nó bằng cái-tên-riêng-tiếng-Việt "Áo dài".
_Khách
05-01-07, 06:42
Em nghĩ văn hóa là những nét đẹp của xã hội, nó được bồi đắp từng ngày từng tháng, nhờ đó mà tạo nên tính kế tục và tiếp nối của văn hóa. VÌ vậy, không nhất thiết phải nhiều hơn 75 hay 100 năm thì mới là văn hóa phải không ạ? Áo dài đẹp, thanh nhã, quến rũ, lại chỉ có người Việt Nam mới mặc. Như vậy, theo em thì áo dài có thể được coi là một nét văn hóa của người Việt ạ.

À, nói về văn hóa Việt em mới nhớ năm ngoái có đọc bài viết rất hay của Vương Trí Nhàn về cái này, để em copy, các bác xem cho vui nhé:
_Khách
05-01-07, 06:43
Một cách nhìn mới về văn hoá Việt Nam
thông qua việc so sánh với văn hoá Nhật Bản


Nhân đọc Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá của Vĩnh Sính


Vương Trí Nhàn
Hà Nội, Việt Nam



Qua người hiểu mình là một trong những con đường nhận thức được nhiều người công nhận là cần thiết và “có triển vọng”, tức có khả năng tạo nên hiệu ứng có giá trị đích thực đối với những chủ thể đang muốn tự hiểu về mình.



Nhưng lâu nay ở Việt Nam, việc làm này có nhiều chỗ khó. Do những lý do thuộc về địa lý và lịch sử, dân ta thường ít đi rộng ra ngoài mảnh đất sinh sống, từ đó những hiểu biết của mỗi chúng ta về những xứ sở khác, những con người khác, thường thiếu hệ thống thiếu toàn diện, không đủ giúp ta có dịp tốt để đối chiếu so sánh. Mặt khác ta chưa sẵn sàng muốn tái khám phá bản thân. Ta quá tự tin, và tưởng sự mình biết về mình đã quá đủ, không mấy ai ngồi tính xem cần đi đâu thêm, hỏi thiên hạ thêm điều gì nữa.



May thay, vào những ngày này, những hạn chế ấy có điều kiện để khắc phục. Người Việt có mặt trong khắp thế giới hòa nhập vào đời sống khoa học quốc tế, từ đó có dịp nhìn về quê hương mình sáng rõ hơn.



Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá[1] là một tập sách có nội dung khá phong phú. Có bài khái quát Vị trí lịch sử của Trung quốc đối với Việt Nam và Nhật Bản hoặc đề cập tới Trục giao lưu văn hoá Nhật Bản Trung quốc Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Có bài giới thiệu về các nhân vật của lịch sử Nhật như Fukuzawa Yukichi và Asaba Sakitarô, những người mở đầu nền mậu dịch Nhật Việt như Suminokura Ryooi và Yoichi. Có bài so sánh những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ với những đề án có tính cách khải mông của những học giả trong hội trí thức Meirokusha. Có bài giới thiệu tác phẩm cổ điến văn học Nhật như bản dịch Lối lên miền Oku của Matsuo Bashô.



Đằng sau những câu chuyện cụ thể ấy, theo ý tôi, phần nội dung có tính chất nền tảng của tập sách lại là những nhận thức của tác giả về một số khía cạnh cấp bách của văn hoá Việt Nam, quá trình nhận thức này được tiến hành thông qua việc so sánh với quan niệm về những vấn đề đó ở Nhật Bản.



Dưới đây tôi xin phép trình bày một ít thu hoạch rút ra từ Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá. Nếu cách đọc của tôi không trùng với cách đọc của nhiều người, thậm chí không trùng với cách đọc mà chính tác giả đề nghị, thì xin cũng được coi là điều bình thường.
_Khách
05-01-07, 06:44
Mối quan hệ giữa lòng yêu nước và nhu cầu chung sống với thế giới

Một trong những bài viết quan trọng nhất của tập sách này là dành để đề cập tới “Quan niệm về độc lập quốc gia của Việt Nam và Nhật Bản thông qua trường hợp Phan Bội Châu và Fukuzawa”.



Xuất phát từ nhu cầu mở cửa đất nước trong thời đại toàn cầu hoá, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam gần đây đã trở lại với tình hình đầu thế kỷ XX, trong đó có trường hợp Phan Bội Châu và phong trào Đông Du do Phan khởi xướng. Nhưng cách chúng ta giới thiệu còn chung chung và cũ. Hoặc nói nhiều tới các hoạt động hơn là tìm hiểu tư tưởng Phan Bội Châu. Hoặc cũng đề cập tới những quan niệm có tính cách mạng, chẳng hạn tư tưởng dân chủ mà Phan tiếp nhận được, song không đi vào phân tích cụ thể, trong mối liên hệ với các quan niệm thiết yếu khác. Còn trong Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá, Vĩnh Sính có điều kiện lần tới những vấn đề cơ bản đặt ra với cả xã hội ta đầu thế kỷ XX. Ông bắt đầu từ quan niệm về quốc gia của nhà cách mạng Việt Nam, và lấy nhà tư tưởng hàng đầu của nước Nhật là Fukuzawa để so sánh.



Theo cách trình bày của Vĩnh Sính, đặc điểm của lòng yêu nước ở Fukuzawa (1834-1901) là tính chất lý trí của nó. Lòng yêu nước ấy được thận trọng chuyển hoá vào trong công việc suy nghĩ và nghiên cứu. Fukuzawa quan niệm : Khi người nước ngoài tới, trước tiên ta phải tìm hiểu họ, xem họ như thế nào, có gì khác mình giống mình, tại sao họ lại đến được nước mình. Phải thấy về lâu dài, một nước thả nào cũng tìm được tiếng nói chung với các nước khác trên thế giới. Cái gì mình chưa biết thì phải học, học để trở nên văn minh. Công thức tóm tắt “ Phương sách giữ gìn độc lập không thể tìm đâu ngoài văn minh… Độc lập quốc gia là mục tiêu và nền văn minh quốc dân là phương tiện để đạt được mục tiêu đó” (tr. 152).



Từ trường hợp của Fukuzawa,Vĩnh Sính đưa ta quay trở lại soi tỏ trường hợp Phan Bội Châu. Trong khi chăm chú vào công việc cấp bách, Phan ít có cái nhìn rộng ra ngoài. “Phan không bao giờ có ý định tìm hiểu về người Pháp và nước Pháp”, “Nhận thức về quan hệ quốc tế của Phan vừa lỗi thời vừa chủ quan.” ( tr. 299 ). Ông không nhận chân được tình hình chính trị phức tạp và đa dạng của thế giới cận đại cùng những nguyên nhân đã đưa Nhật Bản và các nước phương Tây lên địa vị phú cường. Ngay đối với nước Nhật mà ông muốn cậy nhờ, sự hiểu biết của ông cũng “sơ sài, chủ quan và nông cạn” (tr. 148). Ông sẽ chẳng lặn lội đi đâu, nếu ở trong nước mà cứu được nước. Với ông kẻ thù đến là đánh, dùng biện pháp gì để đánh cũng được, bất cứ giá nào cũng chấp nhận miễn là thành công. Trong bức tranh toàn cảnh về một đất nước Việt Nam như Phan mong muốn, điều quan trọng là nhất thiết không có cường quốc bảo hộ, ngoài ra các vấn đề quan hệ đối ngoại không được đặt ra.[2]



Trong khi Fukuzawa chủ trương chấp nhận trật tự thế giới lúc bấy giờ và từng bước canh tân Nhật Bản theo mô hình các nước phương Tây, thì Phan Bội Châu có xu hướng thiên về ảo tưởng, và cả sự manh động, với hy vọng “đảo ngược thời cuộc” (tr. 143 -144). Lòng yêu nước ở ông có phần đơn giản. Nó dựa trên tình cảm hơn nhận thức. Đúng hơn có thể mượn lời Phan Châu Trinh[3] mà nói thẳng Phan Bội Châu là một nhà đại hào kiệt “có lòng thương nước” nhưng đ㠓không biết cái đạo thương nước” (tr. 302 ). Nguồn gốc của những thất bại của Phan một phần bắt nguồn từ đấy chăng ? Nhưng chẳng phải là nhờ thế, nó lại có ích cho chúng ta hôm nay như một vết xe đổ phải tránh?



Không khó khăn gì lắm, có thể tìm ngay ra được rất nhiều nhân tố để bảo rằng nhà khai sáng Nhật Fukuzawa có gì đó may mắn hơn Phan Bội Châu: Đất nước Phù Tang không bị rơi vào ta kẻ xâm lược, mà chỉ có vài hiệp ước bất bình đẳng buộc phải ký. Và người dân của đất nước ấy đã trải qua nhiều cuộc tiếp xúc khôn ngoan, nhiều bước giác ngộ sâu sắc để có sự trưởng thành trên nhận thức, cũng như bản thân Fukuzawa sớm có dịp tìm hiểu văn hoá nước ngoài và các mối quan hệ quốc tế một cách khoa học. Còn với Phan Bội Châu, dân trí thấp kém là một tình trạng có thật, nếu cứ chờ dân trưởng thành thì không bao giờ giải quyết được công việc. Những hạn chế của Phan chính là hạn chế của dân tộc khi chưa chuyển sang thời hiện đại.



Những liên hệ với tình hình trước mắt

Cần nhớ là bên cạnh lòng yêu nước theo kiểu kịch liệt và thiên về bạo động của Phan Bội Châu, đương thời còn có lòng yêu nước trước tiên đặt vấn đề phải nâng cao dân trí học hỏi phương Tây rồi hãy làm tiếp, một cách yêu nước mới mẻ và khó khăn mà Phan Châu Trinh là đại diện.

Nghĩa là cách nghĩ như của Phan Bội Châu không phải là định mệnh.

Trong khi đó thì cho tới hôm nay, nhiều người chúng ta lại gần như chỉ chấp nhận một cách nghĩ như thế và xem nó là duy nhất đúng. Lòng yêu nước bị chúng ta tuyệt đối hoá.Ta chỉ cho nó có một cách hiểu. Ta xem nó thiêng liêng nên không cho phép ai được bàn thêm, mọi sự bàn bạc đều bị xem là báng bổ có lỗi. “Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì lòng yêu nước cũng hàm hồ nông cạn, vô trách nhiệm”: Một cách nói rất dứt khoát như thế – Fukuzawa đã viết trong cuốn Khuyến học – đối với chúng ta dễ gây sốc. Yêu nước thì bao giờ cũng tốt đẹp chứ làm sao lại có thứ yêu nước hàm hồ nông cạn và vô trách nhiệm? – ta nghĩ đơn giản vậy. Tóm lại, ta để cho lòng yêu mến và kính trọng với Phan Bội Châu bao trùm tất cả dẫn đến suy tôn một chiều, mà không tìm cách nhận thức và đánh giá lại, và tìm ra cái cách yêu nước mà thời đại đang đòi hỏi.[4] Mỗi khi cần đặt Phan Bội Châu bên cạnh Phan Châu Trinh thì bao giờ cảm tình của chúng ta cũng nghiêng về Sào Nam, và nhiều người lại còn có cái nhìn gọi là “mang nhiều thông cảm” với sự ngây thơ của Tây Hồ (!).

Ở đây có một lý do sâu xa. Nửa thế kỷ qua, tư tưởng của Phan Bội Châu là một trong số không nhiều những tư tưởng chi phối sự vận động của xã hội Việt Nam. Nay là lúc những mơ ước cháy bỏng của Sào Nam đã được thực hiện. Nghĩ lại về ông, người ta cho rằng ông chỉ thất bại vì không biết tổ chức quần chúng. Chứ đúng ra Việt Nam giành được độc lập một phần là nhờ kiên trì tư tưởng của ông. Từ đó khái quát lên, cách hiểu về lòng yêu nước của Phan trở thành một di sản chỉ cho phép nói tới với niềm tự hào và lời hứa nhất nhất tuân theo. Bảo rằng nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử có thể rất yêu nước nhưng vẫn “không biết cái đạo thương nước” thì nhiều người sẽ giãy nẩy lên,và sẵn sàng hạ một câu xanh rờn “về yêu nước thì không ai phải dạy cho người Việt”. Vâng, về căn bản, đó là những ý nghĩ thường trực trong ta! Có thể có một lúc nào đó, một số chúng ta cũng bắt đầu mang máng cảm thấy rằng yêu nước theo kiểu ấy ngày nay là không đủ nữa. Nhưng chết nỗi nó là cả một kỷ niệm đẹp, là tuổi trẻ oai hùng của cộng đồng và người ta không muốn tự làm phiền mình, không muốn nghĩ lại mọi sự. Ngay cái chỗ mà Phan Bội Châu về sau phản tỉnh, tự cho là mình sai, và người sau nên rút kinh nghiệm để tránh (Vĩnh Sính đã dẫn ở tr. 302), thì chúng ta vẫn cứ ngần ngại, không dám vạch rõ sự thật. Bởi Phan thời đang hoạt động giống chúng ta quá! Sự dừng lại của Phan lúc ấy góp phần củng cố sự trì trệ của chúng ta hôm nay.[5]

Như thế đấy, tuy không nói ra một cách rành mạch, nhưng đằng sau các dòng chữ, có cảm tưởng là cái thực trạng của nhận thức và tâm lý sau chiến tranh được Vĩnh Sính hiểu khá kỹ càng. Ở chỗ nhiều nhà nghiên cứu chỉ biết ca ngợi một chiều và lảng tránh đi vào thực chất, thì ông đi tiếp. Bằng cách đó, Vĩnh Sính cho thấy sự có mặt của ông là cần cho mọi người. Từ thực tế Nhật Bản, ông giới thiệu với chúng ta một tinh thần yêu nước theo nghĩa hiện đại, nó là thứ tình cảm được soi rọi dưới ánh sáng của lý tính, tức là được đặt trong mối quan hệ với một quan niệm mới mẻ về độc lập quốc gia. Thứ nữa, đây không phải là thứ lý tính với nghĩa tư biện hoặc ra vẻ uyên bác mà là thứ lý tính thâu tóm được bản chất để trở thành tinh hoa của đời sống. Cần chú ý rằng khi nói về Fukuzawa, Vĩnh Sính ghi nhận đây là con người “vừa yêu nước nồng nhiệt vừa có những nhận thức thực dụng sắc bén” (tr. 149 ), thực dụng với nghĩa “ không câu nệ bởi những lý tưởng chính trị hay ý thức hệ xa vời để lỡ mất thời cơ” (tr. 151). Lời đề nghị của tác giả Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hoá đã quá rõ, vấn đề chỉ còn ở chỗ chúng ta có nghe ra hay không thôi.
_Khách
05-01-07, 06:45
Về một khía cạnh tâm lý dân tộc đang là rào cản cho quá trình hòa nhập của Việt Nam với thế giới

Ngoài trường hợp Fukuzawa nói trên, một người Nhật khác được giới thiệu trong tập sách tương đối kỹ là Shiba Ryôtarô (1923-1996). Theo cách nói của Vĩnh Sính, ông là một trong những tác giả đại diện cho nước Nhật và một trong những người viết sử có ảnh hưởng nhất ở Nhật. Ông có viết riêng một cuốn sách ở đó quá trình lịch sử Việt Nam được phân tích khá sắc bén. Trong một nhận xét ngắn gọn rằng ở Việt Nam, “làng xã vẫn là một đơn vị xã hội có tầm quan trọng hơn nhà nước (tr. 280), người ta nhận ra một nhân tố gốc, nó quy định trình độ phát triển của xã hội chúng ta, nó là nguyên nhân cắt nghĩa nhiều thành công cũng như thất bại của chúng ta hôm nay. Trên đường đi vào tâm lý dân tộc, nhà nghiên cứu Nhật không quên ghi nhận người Việt có một số căn bệnh chưa biết bao giờ mới chữa nổi, như cái tình trạng thiếu tinh thần hợp tác với nhau để làm việc chung; đặc biệt, theo Shiba Ryôtarô, một khuynh hướng của người Việt là “xem dân tộc mình ưu việt so với người dân tộc khác” (tr. 288 –289), do đó là một sự cản trở đối với việc học hỏi và chung sống với thế giới.

Vậy là không chỉ quan niệm yêu nước mà nhiều vấn đề khác của văn hoá Việt Nam cũng được Vĩnh Sính mang ra so sánh với Nhật (hoặc với Hàn quốc). Việc giao thiệp với các nước ngoài, đúng hơn cái khả năng của một quốc gia trong việc tiếp nhận và làm giàu thêm cho mình bằng việc nhận thức tình thế và sẵn lòng chung sống với thế giới chung quanh – cái khả năng mà ông từng nói trong bài về Phan Bội Châu – được Vĩnh Sính trở lại nhiều lần, dưới nhiều hình thức, cả bao quát lẫn cụ thể. Bao quát thì như trong bài viết về Minh Trị duy tân, ông khái quát là phải tri kỷ tri bỉ để đưa đất nước tiến lên đài văn minh. Cụ thể thì như ở trang 159, ông đưa ra một bảng thống kê về lượng sách Anh, Pháp, Hà Lan được dịch ở Nhật tính đến thập kỷ cuối cùng thế kỷ XIX, qua đó không chỉ cho thấy tình trạng tiếp thu văn hoá nước ngoài của Nhật, mà cả cái cách họ tiếp nhận nữa. Họ không chỉ dịch sách văn học, cụ thể là mấy cuốn tiểu thuyết thời danh, để ra vẻ mình cũng cập nhật tình hình, theo sát thế giới (!). Cái mà họ ưu tiên hơn là sách học thuật, tức các lĩnh vực của khoa học xã hội. Đối chiếu với tình hình Việt Nam vào thời Tự Đức, chúng ta đủ nhận ra sự chậm trễ là đến mức nào. Hơn nữa,đó không phải chỉ là kém cỏi trong số lượng mà là sự tụt hậu trong trong thang bậc của nhận thức, một điều đến nay vẫn còn tiếp tục diễn biến, và chưa biết bao giờ mới thay đổi được.

Khác với các tiểu luận nói trên, Thiên kỷ III đang mỉm cười có dáng dấp mấy trang sổ tay, ở đó Vĩnh Sính chỉ kể lại ít điều ông ghi nhận được từ một hội nghị văn hoá châu Á tổ chức ở Hàn quốc vào tháng 11-1998. Song sự định hướng của Vĩnh Sính trước sau là nhất quán. Công thức mà ông đề nghị bao giờ cũng bao gồm hai vế (1) mở cửa ra với thế giới, và (2) biết mình biết người, chỉ có đủ hai vế đó thì mới bảo đảm cho tiến bộ. Chẳng hạn, khi bàn về giáo dục, trước hết ông nhắc lại ý kiến của học giả Trung Quốc Hà Phương Xuyên là vươn lên tầm thời đại, chuẩn bị hành trang cho cuộc giao lưu văn hoá. Rồi ngay sau đó ông dừng lại khá kỹ ở một thứ chủ nghĩa quốc gia văn hoá, hay gọi đích danh ra là một thứ “chủ nghĩa sô-vanh văn hoᔠcần phê phán. Nguyên đây là một ý trong bài phát biểu của giáo sư Hàn quốc Park Seong Rae. Ông này thẳng thắn bàn về Hội chứng độc lập (independence syndrome) hay nói nôm na là “bệnh độc lập” của người đồng bào mình. Theo Park Seong Rae “nếu người Hàn quốc càng nhấn mạnh độc lập văn hoá của nước họ đối với các nước láng giềng (Nhật Bản và Trung Quốc) – chẳng hạn như cảm xúc nghệ thuật độc đáo của người Hàn quốc – thì chính bản thân họ lại càng phải chịu thiệt thòi nhiều hơn” (tr. 336). Liên hệ tới Việt Nam, Vĩnh Sính viết “Hội chứng độc lập trong con người Việt Nam cũng khiến đa số chúng ta thiếu tinh thần tiếp thu những điều hay cái lạ của các nền văn hoá khác, đồng thời chỉ thích nói về những gì hay ho ưu việt trong văn hoá Việt Nam hơn là nói ra những khuyết điểm của mình để sửa chữa. Hội chứng độc lập cũng khiến ta thiếu tinh thần khách quan khi buôn bán làm ăn hay giao lưu với nước ngoài, chỉ biết mình nhưng không biết người” ( tr. 337).



Từ văn hoá thế kỷ XVII nói riêng tới văn hoá Việt Nam nói chung

Chu Thuấn Thủy (1600-1682) là một trí thức Trung Quốc sống ở thời nhà Minh bị Mãn Thanh xâm chiếm. Trong quá trình vận động phản Thanh phục Minh, có mấy lần Chu đã lưu lạc sang Việt Nam. Chính quyền đương thời tức các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã có lúc tính chuyện dung nạp ông, nhưng việc không thành, về sau Chu sang ở hẳn Nhật, trở thành một trí thức có công giúp đỡ cho việc đưa nước này vào một giai đoạn hưng thịnh. Trước tác của Chu Thuấn Thuỷ có nhiều, và chắc là phần chủ yếu là về nước Nhật. Tuy nhiên Chu cũng đã kịp ghi chép những ngày làm việc với người Việt, qua tập sách mỏng An Nam cung dịch kỷ sự (Ký sự về việc phục dịch ở An Nam 1657).



Tại sao Vĩnh Sính, với tư cách người dịch và giới thiệu An Nam cung dịch kỷ sự, đưa nó vào tập chuyên khảo của mình?[6] Hẳn là nhà nghiên cứu suốt đời sống xa quê của chúng ta tìm thấy ở đây nhiều điều mà bản thân ông cũng thường suy nghĩ? Cung cấp bức tranh xã hội Việt Nam thế kỷ XVII dưới con mắt Chu Thuấn Thủy, Vĩnh Sính dường như muốn tìm cho những nhận xét của mình về văn hoá Việt (mà ở trên chúng tôi đã ghi nhận) một cơ sở lịch sử chắc chắn, do đó vấn đề đặt ra có thêm sức ám ảnh.



Thực vậy, dưới con mắt Chu, xã hội Việt Nam hiện ra với những nhược điểm cố hữu và rất khó sửa chữa. Đó là một xã hội ít tiếp xúc với các xã hội bên ngoài. Ngay với thế giới Trung Hoa tưởng là quá quen thì chúng ta cũng không hiểu gì. Vừa gặp Chu, các nha lại địa phương đã giở trò hống hách, bắt người ta lạy, hỏi người ta bằng cấp gì, và nếu bảo rằng không có bằng cấp thì lập tức coi thường. Đúng là cái bệnh quá quê mùa và hay chấp nhặt mà ngày nay chúng ta còn bảo lưu khá đầy đủ! Đến như những câu chuyện mà các bậc gọi là thức giả bấy giờ quây vào hỏi Chu Thuấn Thuỷ thì phần lớn cũng là chuyện tầm thường. Sự non kém trong đời sống tinh thần của xã hội bộc lộ ở nhiều mức độ. Thứ nhất là lối học chỉ hớt lấy những cái lạ mà thiếu cơ sở học thuật, một sự ngây thơ trong tư duy khiến đương sự phải cười thầm “ Người quý quốc đọc những truyện như Tam quốc diễn nghĩa hoặc Phong thần mà cả tin là thật, cứ đến đây hỏi tôi hết chuyện này sang chuyện khác mãi không thôi. (Trong khi ấy thì lại bỏ qua không nghiên cứu những sách kinh điển như Ngũ Kinh, Tam sử.) Tựa như bỏ vàng ngọc mà chọn gạch đá, nhổ lúa xanh mà trồng cỏ tranh, không hiểu cái gì phải lấy, cái gì phải bỏ” (tr. 393). Thứ hai là mê muội vì những trò mà nói theo thuật ngữ hiện đại là văn hoá tâm linh. “ Nhưng tại sao chư quân tử từ trên xuống dưới lại cứ đến đòi xem tướng số. Hỏi thật không nhằm chỗ, đến cuối cùng không biết là đã làm nhục Du (Tức CTT. Người coi tướng, người xem sao đông biết bao nhiêu mà đếm cho hết. Trong tứ dân (tức sĩ nông công thương – VS chú) và chín học phái (tức cửu lưu: Nho gia, đạo gia, âm dương gia vv… – VS chú ), họ là hạng người thấp hèn nhất. So họ với nhà nho có đức nghĩa, khác xa một trời một vực, như đen với trắng, như nước với lửa, hoàn toàn tương phản” (tr. 392).



Dù đã kín đáo và lo phòng thân, cuối cùng người khách lạ cũng phải ghi trên mặt giấy cái nhận xét chung mà chúng ta ngày nay đọc lại có thể rất khó chịu, song phải nhận là không thể nói khác: “Tuy là nước nhỏ, nhưng khí kiêu ngạo, học vấn nông cạn, kiến thức có giới hạn, tuy có thể tuyển chọn được người tài năng trong nước Dạ Lang của mình, nhưng không tránh được vẻ ếch ngồi đáy giếng” (tr. 401). Theo ghi chú của Vĩnh Sính, “nước Dạ Lang” nói ở đây là một ẩn dụ, bắt đầu từ câu chuyện có thật về một nước nhỏ thời Hán, trong giao thiệp với thiên hạ mắc bệnh hoang tưởng, từng tranh luận với các sứ giả quanh chủ đề “nước Dạ Lang so với Trung Quốc bên nào lớn bên nào nhỏ”. Dạ Lang tự đại đã thành một thành ngữ có ghi cả trong các từ điển phổ thông như Tân Hoa, Tứ giác, chuyên để chỉ những cộng đồng quen sống biệt lập nên không có ý thức đúng đắn về vị trí của mình trên thế giới.



Đoạn kết : một đề nghị

Trong quan niệm của Phan Bội Châu, yếu tố đầu tiên của một nước Việt Nam mới là không có bóng cường quyền của nước ngoài. Trong khi đó, như nhiều tài liệu đã có nhắc và Vĩnh Sính cũng có ghi lại (tr. 300), trong một cuộc bút đàm, Lương Khải Siêu đã khuyên Phan “Quý quốc chớ lo không có ngày độc lập, mả chỉ nên lo quốc dân không có đủ tư cách độc lập. Thực lực của quý quốc là dân trí dân khí và nhân tài”.



Những nhận xét này không chỉ mới mẻ mà còn thiết thực và chắc chắn là rất cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam hiện nay. Nó cũng là một trong những ý tưởng chính toát ra từ công trình nghiên cứu của Vĩnh Sính khi giới thiệu một số nhân tố trong giao lưu văn hoá Nhật Việt. Vốn đã có cách đánh giá riêng về tình hình trong nước, nên khi đi vào các hiện tượng văn hoá xứ người để làm việc so sánh, nhà nghiên cứu này luôn luôn tìm được những đồng minh sắc sảo và đáng tin cậy.



Nhân đây nhắc lại một xu thế chi phối cách nghiên cứu văn hoá ở ta. Nhìn chung các tác giả ít đi vào tìm hiểu mối quan hệ văn hoá Việt Nam với văn hoá nước ngoài. Ta không coi đây là một con đường để tự nhận thức. Cực chẳng đã, khi cần nói về những ảnh hưởng của văn hoá nước ngoài tới văn hoá Việt Nam, chúng ta thường chỉ nói cho phải phép, để rồi sau đó không quên nhấn mạnh là người Việt rất thông minh, rất cởi mở, và nhất là rất bản lĩnh trong quan hệ với thiên hạ. Xét về mặt này, cuốn sách của Vĩnh Sính rẽ hẳn sang một lối riêng. Tác giả đã làm được cái việc mà nhiều người chỉ mang máng cảm thấy là cần thiết, nhưng không đủ sức đi đến cùng. (Ở tr. 342, khi nhắc tới việc Quán Chi Đào Trinh Nhất đã có bài giới thiệu Chu Thuấn Thủy trên báo Trung Bắc chủ nhật 21-9-1941, Vĩnh Sính lưu ý rằng đó là một tiếng chuông thức tỉnh độc giả về thái độ thủ cựu và bài ngoại của sĩ phu nước ta. Vĩnh Sính chỉ dừng lại ở thái độ sĩ phu nói riêng, nhưng tôi tưởng cần xem đây là một đặc điểm của xã hội Việt Nam nói chung.)



Một đặc điểm nữa thường thấy trong các công trình nghiên cứu giao lưu văn hoá là chúng ta chỉ thích nói tới những nền văn hoá lớn và có quan hệ với ta quá sâu sắc như văn hoá Trung Hoa và văn hoá Pháp. Còn với các nền văn hoá khác kể cả văn hoá các nước Đông Nam Á mà ta gần gũi về mặt địa lý, hoặc văn hoá Hàn quốc, văn hoá Nhật mà ta có nhiều điểm chung, thì mọi việc càng chểnh mảng, tài liệu quá ư nghèo nàn, làm cho lấy lệ, xưa đã vậy mà nay cũng vậy.Về phần Vĩnh Sính, ông có cái may mắn là giữa hai nền văn hoá Việt Nhật có nhiều mối giao lưu thật, và chỉ viết riêng về những sự kiện đó cũng đã rất hấp dẫn. Song ông không dừng lại ở các sự kiện bên ngoài mà để công tìm trong hoàn cảnh lịch sử của hai bên những hoàn cảnh tương tự, rồi phân tích cách giải quyết của mỗi bên, từ đó lý giải các đặc điểm dân tộc đã hình thành trong lịch sử. Trước mắt người đọc, hiệu ứng qua người hiểu mình được chứng nghiệm.



Hướng đi mà Vĩnh Sính đã mở ra, theo tôi cần được tiếp tục. Chẳng hạn, tôi ước ao lúc này có ai đó hiểu biết về lịch sử và văn hoá Thái Lan, thử tìm những mối tương đồng và dị biệt giữa văn hoá Việt Nam với văn hoá Thái Lan. Tôi tin là khi làm việc này, một nhà nghiên cứu nghiêm túc có lòng lo lắng cho tình trạng văn hoá đương thời và muốn góp phần vào qúa trình tự nhận thức của dân tộc – một tác giả như thế có thể có nhiều phát hiện bổ ích, tương tự như trường hợp Vĩnh Sính. Nghiên cứu theo lối so sánh là lĩnh vực mà các nhà nghiên cứu khoa học xã hội người Việt đang sống ở nước ngoài có thể có nhiều đóng góp. Mỗi người thêm một phần công sức thì rồi quá trình tự nhận thức của xã hội Việt Nam mới được đẩy tới và tạo ra một bước ngoặt cần thiết.
emambo
05-01-07, 08:54
Em thấy bài viết của bác Nghị bên trên khá "pro" - trong cái số ít các bài viết mang tính "research" của Ta mà em được đọc - ít ra các ý tưởng đều được đóng, mở ngoặc rõ ràng khi có thể. Đọc vô!

Rồi - bây giờ "đá" qua tới cái áo dài nhà mình. Nếu không kể cái thời mà nhớ khi xưa ta vần nhau trên chiếc xe dạp cũ thì số lần em mặc áo dài đến giờ cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay - chưa qua chân. Tuy ít đấy nhưng đều là dịp có thấy vui trầm trọng, tự nguyện - vì hiện diện ở cái buổi sáng làm lễ cưới nhà bạn. Cái đứa mình hạc xương mai - à không mình dây thun hạt lép - lại ưa gọn, nhẹ, đi nhanh như em - xỏ cái tay áo đã thấy toát mồ hôi... rồi cũng đâu vào đó - thấy mình dưng cũng ẻo lả, mềm mại hẳn đi. Mà thích nhất có lẽ là lúc có thể xuống xề "anh, anh cài dùm em đây, đây, đây nữa...". À thế nên dù gì, vẫn thích!

Em nghĩ dù áo Ta có mang tiếng "lai căng", Ta cũng công nhựn là ông bà Ta sáng tạo đầy mình đó chứ - dứt khoát dù gì cũng phải khác mama Trung Hoa vĩ đại - dứt khoát là phải có quần... dài, dứt khoát là phải có tay... dài, dứt khoát là tà bung... dài - à em nói tới cái áo hiện tại. Chị mặc có kín đáo, hay tung bay, hay úm-ba-la-ra-cái-chi-chi-nữa là duyên của chị. Túm lại, áo thôi mà, mặc thì phải thấy đẹp chớ - trong mắt ta, mắt người. Mà đẹp - theo em nghĩ - đã là có văn hóa tí ti rồi. Cụ thể cái đẹp của Ta nó thế nào, câu trả lời xin dành cho các nhà Thẩm Mỹ học vậy!
_Khách
05-01-07, 09:11
Bác Nghị là bác nào thế mambo nhỉ? (Bài thứ 148 của CCC, sắp thêm một bông mai trên ve áo, hic)
crocker
06-01-07, 12:38
Em biết Vương Trí Nhàn, qua sách báo gần đây, là 1 học giả thực hiện việc nhặt nhạnh, tổng hợp các vấn đề lịch sử văn hóa của người Việt. Trước đây đọc một số bài thì cá nhân thấy việc làm của ông tuy là có ích nhưng không quan tâm lắm. Đọc một số bài nhiều chỗ lan man và không thấy có tác dụng gì thêm nhiều cho bản thân. Qua bài tổng hợp của ông hôm nay, em cũng có gợi mở thêm một số điều nên viết ra đây:

Đoạn 1: Học hỏi

Công thức tóm tắt “ Phương sách giữ gìn độc lập không thể tìm đâu ngoài văn minh… Độc lập quốc gia là mục tiêu và nền văn minh quốc dân là phương tiện để đạt được mục tiêu đó” (tr. 152).
Công thức tóm tắt: “ Phương sách sống tốt nhất không thể tìm đâu ngoài tự chủ… hoàn thiện bản thân là mục tiêu và tiếp cận các phương thức hành động văn minh là con đường dẫn đến mục tiêu đó” (tr.152’) Vấn đề tiếp cận và học hỏi theo cách nào – Cái này cần có lý luận thực tiễn.

Nhưng khổ nỗi thực tiễn hiện nay chưa rõ ràng, đa phần ta mới có tiếp cận mà chưa có kinh nghiệm và chưa trang bị được phương pháp lý luận thực tiễn. Vậy là cần có Hải đăng hay không cần Hải đăng? Lý luận bước một đi mãi thì cũng tới nhưng như thế là không hiệu quả, chậm là thua. Hải đăng ơi ở đâu ra đi, càng nhiều càng tốt, càng đều càng hay! :D
crocker
06-01-07, 12:53
Đoạn 2: Một số gợi mở
“Phá thì dễ mà xây thì khó (@Quảng –bkav), chê thì dễ vì sẵn thực tiễn, đóng góp mới khó vì phải có thực tiễn và nhìn trước được sự việc.” Các bác, nước khác làm gì có trang phục nào giống áo dài trắng của ta. Áo dài ơi tôi yêu áo dài!



”Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì lòng yêu nước cũng hàm hồ nông cạn, vô trách nhiệm”: Một cách nói rất dứt khoát như thế – Fukuzawa đã viết trong cuốn Khuyến học – đối với chúng ta dễ gây sốc.
… Lương Khải Siêu đã khuyên Phan “Quý quốc chớ lo không có ngày độc lập, mả chỉ nên lo quốc dân không có đủ tư cách độc lập. Thực lực của quý quốc là dân trí dân khí và nhân tài”.

Mấy câu này nghĩ được theo nhiều hướng phết các bác ah. Chí khí độc lập của dân mình hình như không có, bị tinh thần nhược tiểu lấn át. Từ đó có phương thức hành động co zo, lý luận thực tiễn một cách giản đơn, sinh ra biến thái và tụt hậu.
Vậy nghĩ thêm, các nhà lãnh đạo của ta liệu có khả năng lý luận và phương pháp hành động vượt ra ngoài tầm kiểm soát của các nước bạn?! Có khả năng lãnh đạo để nâng cao dân trí ở những điểm then chốt, hay cứ theo nguyên tắc cứ tuần tự rồi nó tự đến? Vậy có vượt lên được không?!

Thực ra khi thế giới đã bắt đầu có khái niệm về xã hội hậu hiện đại, thì liệu chúng ta có cần sự cạnh tranh giữa các quốc gia, dân tộc nữa không? Nếu có thì đâu là nguyên nhân cơ bản?! Có phải là sự khẳng định quốc gia, sự khẳng định nguồn gốc xuất thân, khẳng định lịch sử văn hóa của mình chính là sự khẳng định bản thân đồng thời là tự bảo vệ bản thân trước khả năng xâm phạm của các dân tộc khác, các nhóm người khác mà mình không thuộc về.

Có thể một số cá nhân vốn dĩ sống lâu trong một môi trường tạm gọi là văn minh và hiện đại so với đa số khác trên thế giới, sẽ nghĩ rằng không cần thiết đề cao tinh thần dân tộc, rằng tự môi trường văn minh đã là một sự bảo vệ an toàn, chung sống hoàn toàn hòa đồng là lý tưởng. Nhưng không có môi trường văn minh tuyệt đối, luôn có sự đào thải, để cái khác, người khác, nhóm khác được đề cao. Nói vậy không phải để phản đối việc chung sống hòa đồng mà để thấy được tính cá nhân luôn được đề cao trong môi con người. Hãy chọn cách thể hiện và tự bảo vệ mình tốt nhất. Cuộc sống là mở với tất cả chúng ta, vấn đề chúng ta chọn theo hướng nào.

Em nghĩ, hoàn thiện bản thân là mục tiêu, tự chủ là điều kiện cần, tính cộng đồng là điều kiện đủ để an toàn và học hỏi, tiếp cận văn minh là phương thức hành động. Tương lai xa không dự đoán và kiểm soát được.
Xin được thỉnh giáo các bác em!
Bắc Thần
10-01-07, 05:14
Chẳng qua là vì tính gợi dục của nó nên các hiền nhân quân tử An Nam tấm tắc khen ngợi. Đàn bà được khen may mặc ráo riết.

Anh e là điều này hiển nhiên đối với mọi quốc gia chứ không chỉ riêng VN. Trong phim Hồi Ký Của Một Em Phò (Memoir of a Geisha) có đoạn em phò lớn chỉ cho em phò nhỏ mặc kimono thế nào để mồi chài anh chủ tịch. Về sau lại còn có thêm đoạn anh bác sĩ mua trinh em phò nhỏ để "cho con lươn bơi vào trong hốc đá", lúc đặt em đấy nằm xuống để cởi đồ tay anh bác sĩ run run.

Đồng chí nào nói ở trên về văn minh lúa nước anh thấy cũng đúng. Vì lúc nào cũng lo lúa với lo nước cho nên người ta không còn dư thì giờ để lo cho việc ăn mặc. Điều này được thể hiện qua sự đơn giản mộc mạc của áo dài cổ điển của VN: xẻ đơn thì thành 2 mảnh, xẻ kép thì thành tứ thân! Người nghèo thì mặc đơn sơ trần trụi, người giàu sang thì có thêm cái kiềng ở cổ, cái khăn đống ở trên đầu. Áo dài của VN không đa dạng như kimono của Nhật Bản, không cầu kỳ như Hanbok, lại không sặc sỡ màu mè ba lá hẹ như Xiêm La, Ấn Độ.

Nếu áo dài của VN đẹp bình dị như con thiên nga thì kimono và Hanbok đẹp rực rỡ như Khổng Tước, Phượng Hoàng. Thiên Nga đẹp kiểu Thiên Nga; Khổng Tước, Phượng Hoàng đẹp kiểu Khổng Tước, Phượng Hoàng. Chuốc màu cho thiên nga rồi bắt nó đẹp kiểu rực rỡ là không được. Các anh designers hay thích bịa ra thêm những thứ trời ơi đất hỡi cho áo dài như vải màn, cổ tay hình kèn, hình lập thể hoa hòe hoa sói lố lăng rồi bảo đó là văn hóa của VN anh thấy là rất hơi tùy tiện.

Đột phá gần đây anh chấp nhận được là dùng vải thổ cẩm may áo dài. Nhìn đằm thắm đúng với tinh thần của áo dài. Cái đấy anh thích.
lanhu
11-01-07, 22:57
Em đọc 1 bài, nó chia nghiên cứu văn hóa làm 3 mảng:
1, Anthropology
2, Sociology
3, Psychology

Em thấy việc phân loại này khá đầy đủ và đang định dùng nó làm nền tảng cho cái em định làm. Các bác thấy việc chia này có đầy đủ ko?
baby_greenskirt
13-01-07, 00:45
Thế cái bài ấy nó viết khái niệm văn hóa như thế nào hả bác? Vì cách hiểu về văn hóa, cách phân chia nhỏ để nghiên cứu văn hóa rất đa dạng, ít nhất cũng hàng trăm định nghĩa hàng trăm cách phân chia khác nhau. Nếu bác đã thấy tâm đắc với 1 cách nào đó thì cứ sử dụng nó thôi, nhất là khi cách đó phù hợp với mục đích cái bác đang định làm, theo em là như thế.
skywalker
17-01-07, 02:57
Anh có một công thức chung về văn hóa thế này dành cho 4C. Khi 4C muốn so sánh, giải thích một vấn đề gì đấy tại sao ở hai nơi khác nhau nó lại khác nhau: Vd quần áo khác nhau, thành tích học tập khác nhau, tính cách khác nhau v.v. ở Châu Âu, chau mỹ, châu Á v.v. Trước tiên chú thử giải thích do di truyền, tiếp theo giải thích do địa lý, khí hậu. 4c không giải thích được bằng cái đấy nữa thì tất cả nó là do văn hóa.
_Khách
20-01-07, 14:26
Hơ, em tưởng di truyền với địa lý tác động đến văn hóa chứ?
lanhu
23-01-07, 07:29
Em muốn nói đến khía cạnh psychology của văn hóa, nó liên quan đến cá nhân nên em dùng từ individual culture. Nếu các bác đọc từ này, các bác nghe có lọt tai ko? (vì thực ra văn hóa là phải có group mới tạo thành đúng ko ạ?)

Nếu lọt tai, các bác sẽ hiểu nó như thế nào?

Ý của em về individual culture là những gì liên quan đến personal background (family, education...etc...).

Mời các bác cho ý kiến giúp em.

Em cảm ơn trước!
Big Horn
23-01-07, 21:28
Anh không chuyên môn về địa hạt văn hóa nhưng anh nghĩ có lẽ em lanhu thắc mắc về khía cạnh Culture & Society sẽ ảnh hưởng tới từng cá nhân con ngươì có phải không?

Anh chưa bao nghe đến từ "individual culture" cả, vì nền văn hóa là tập hợp của mọi quá trình sinh hoạt trong đời sống hàng ngày của từng cá thể con người mà thành. Bạn nào học về ngành Society Antropology chắc rành vấn đề này!

Database bị làm sao vậy Bi, cái nút ê - đít tìm mãi không thấy!
Bắc Thần
24-01-07, 01:09
Lịch sử cũng ghi lại rằng khi cưỡi voi xông trận đánh đuổi quân Hán, Hai Bà Trưng đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng. Rồi do tôn kính hai bà, phụ nữ Việt tránh mặc áo hai tà mà thay bằng áo tứ thân.

Hai Bà Trưng cỡi voi ra trận đấy. Nếu tôn kính hai bà sao về sau người ta không cỡi tê giác hay lạc đà ra trận cho nó đỡ tốn mía hả đồng chí? Nếu anh đoán không lầm thì chính là vì thấy hai bà mặc áo hai tà mà người ta bắt chước theo để rồi áo dài trở thành loại y phục như ta thấy ngày nay.

Anh có một giả thiết nho nhỏ. Chỉ là giả thiết thôi, không dám chắc lắm. Giả thiết của anh là: vì VN bị chia cắt cho nên áo dài mới trở thành thông dụng như ngày nay. Này nhé, sau năm 54 chiếc áo dài theo chân bà nội anh vào Nam. Mới đầu là nhờ bà Nhu lăng xê lên, sau đó phụ nữ ai ai cũng mặc áo dài. Người ta mặc áo dài đi học, đi làm, đi lễ lộc. Bà già anh còn mặc áo dài đi hộp đêm nhảy đầm với ông bô anh. Ngoài ra áo dài còn theo chân phụ nữ VN đi khắp nơi trên thế giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp, Bỉ ... vân vân. Ca sĩ Bạch Yến xuất hiện trên TV trước khán thính giả Hoa Kỳ hình như cũng mặc áo dài.

Trong khi đó thì ở ngoài Bắc áo dài không được ái mộ lắm. Xem hình cũ và phim tài liệu trắng đen toàn thấy phụ nữ mặc áo lãnh tụ kiểu Trung Cộng, Liên Xô cứng ngắc có thêm hai cái bím tóc. Lâu lâu thấy bà Bình bà Định thì mới mặc áo dài.
giangthu
25-01-07, 06:20
Ao dai is absolutely overrated in Vietnamese and elsewhere. Compared with other national costumes in a region, ao dai Vietnam holds a very modest position of being so called the national dress. It was just a makeover of a regular woman’s outfit blending with some contemporary features during French colonial time. It does not present any authenticity of true Vietnameseness in it. It has history od less than 100 years.

It is overrated. It is shallow and simple. And it is provocative and inviting. Woman wearing ao dai will harbor those kinds ò characteristics. Man regarding ao dai as a beautiful thing may never able free his mind out of bamboo hedge. Stop wearing ao dai and bragging about it. No qua ma.

I am sorry. This computer has no Vietnamese font. No font no fun.
Gaup
25-01-07, 08:27
Ko có font tiếng Việt nên mới được thấy nữ sĩ Giangthu viết anh ngữ tồi quá

Sang mà học bác Bắc Thần dịch thư khiêu dâm của cu Rio đi em.

:)
NNH
25-01-07, 10:02
Bổ sung thêm cái, em GT chỉ được cái giả vờ rất lộ. Không có font TV sao chữ of của em thành chữ ò?
giangthu
26-01-07, 04:48
Oh, please!!! my home computer has VPS key installed. I get used to the Vietnet typing habit. Cann't type vẻy well on other sýtems.

Give me a break.
nghuy
06-03-07, 05:11
Ao dai is absolutely overrated in Vietnamese and elsewhere. Compared with other national costumes in a region, ao dai Vietnam holds a very modest position of being so called the national dress. It was just a makeover of a regular woman’s outfit blending with some contemporary features during French colonial time. It does not present any authenticity of true Vietnameseness in it. It has history od less than 100 years.

It is overrated. It is shallow and simple. And it is provocative and inviting. Woman wearing ao dai will harbor those kinds ò characteristics. Man regarding ao dai as a beautiful thing may never able free his mind out of bamboo hedge. Stop wearing ao dai and bragging about it. No qua ma.

I am sorry. This computer has no Vietnamese font. No font no fun.

TSB con thu, thế national dress của Mỹ là cái gì? Áo tù từ ngày vượt biển hả?
Mặt Má Hồng
06-03-07, 07:30
Truyền thống của chiếc áo dài có lẽ sẽ đặc sắc hơn nếu người ta cố ý tìm hiểu cách ăn mặc của các bậc vua chúa, hoàng hậu, cung phi thời phong kiến xa xưa ... hơn là cách ăn mặc của dân dã. Nếu tui nhớ không lầm đã từng thấy hình Nam Phương hoàng hậu mặc áo dài, và áo dài của cung đình VN cũng có năm bẩy lớp như kimono của Nhật\. Nhưng áo kimono Nhật làm bằng gấm, áo dàn VN làm bằng tơ lụa, the hoặc vải thô.

Có cái tui thắc mắc là tại sao mấy cái áo tứ thân thời nay người ta dàn dựng lại toàn là màu sắc lòe loẹt, sặc sở không vậy? Không lẽ hồi xưa người VN mặc những màu đó!? Coi hình chụp thời xưa thì thấy dường như không phải vậy.
gió
08-03-07, 16:04
Ngày xưa chưa có máy chụp hình màu :D, bác vào Huế xem trang phục của vua chúa thì sẽ thấy chúng tương đối sặc sỡ đấy.

Văn hóa thì quá rộng em đé o biết, còn về thẩm mĩ thì càng nhiều tiền càng lộ ra là dân Việt mình thẩm mĩ kém, rõ nhất là trong thời trang và kiến trúc.
em anh Bim
19-03-07, 15:37
Trong lớp học của em có 90% chúng nó ko biết gì về VN, 10% có biết sơ sơ là VN nằm cạnh TQ. Một trong những cách giới thiệu để một người hoàn toàn ko biết về văn hóa của mình, theo em là dùng Hofstede cultural dimensions (http://www.geert-hofstede.com/)

Power Distance Index (PDI) that is the extent to which the less powerful members of organizations and institutions (like the family) accept and expect that power is distributed unequally. This represents inequality (more versus less), but defined from below, not from above. It suggests that a society's level of inequality is endorsed by the followers as much as by the leaders. Power and inequality, of course, are extremely fundamental facts of any society and anybody with some international experience will be aware that 'all societies are unequal, but some are more unequal than others'.


Individualism (IDV) on the one side versus its opposite, collectivism, that is the degree to which individuals are inte-grated into groups. On the individualist side we find societies in which the ties between individuals are loose: everyone is expected to look after him/herself and his/her immediate family. On the collectivist side, we find societies in which people from birth onwards are integrated into strong, cohesive in-groups, often extended families (with uncles, aunts and grandparents) which continue protecting them in exchange for unquestioning loyalty. The word 'collectivism' in this sense has no political meaning: it refers to the group, not to the state. Again, the issue addressed by this dimension is an extremely fundamental one, regarding all societies in the world.



Masculinity (MAS) versus its opposite, femininity, refers to the distribution of roles between the genders which is another fundamental issue for any society to which a range of solutions are found. The IBM studies revealed that (a) women's values differ less among societies than men's values; (b) men's values from one country to another contain a dimension from very assertive and competitive and maximally different from women's values on the one side, to modest and caring and similar to women's values on the other. The assertive pole has been called 'masculine' and the modest, caring pole 'feminine'. The women in feminine countries have the same modest, caring values as the men; in the masculine countries they are somewhat assertive and competitive, but not as much as the men, so that these countries show a gap between men's values and women's values.



Uncertainty Avoidance Index (UAI) deals with a society's tolerance for uncertainty and ambiguity; it ultimately refers to man's search for Truth. It indicates to what extent a culture programs its members to feel either uncomfortable or comfortable in unstructured situations. Unstructured situations are novel, unknown, surprising, different from usual. Uncertainty avoiding cultures try to minimize the possibility of such situations by strict laws and rules, safety and security measures, and on the philosophical and religious level by a belief in absolute Truth; 'there can only be one Truth and we have it'. People in uncertainty avoiding countries are also more emotional, and motivated by inner nervous energy. The opposite type, uncertainty accepting cultures, are more tolerant of opinions different from what they are used to; they try to have as few rules as possible, and on the philosophical and religious level they are relativist and allow many currents to flow side by side. People within these cultures are more phlegmatic and contemplative, and not expected by their environment to express emotions.



Long-Term Orientation (LTO) versus short-term orientation: this fifth dimension was found in a study among students in 23 countries around the world, using a questionnaire designed by Chinese scholars It can be said to deal with Virtue regardless of Truth. Values associated with Long Term Orientation are thrift and perseverance; values associated with Short Term Orientation are respect for tradition, fulfilling social obligations, and protecting one's 'face'. Both the positively and the negatively rated values of this dimension are found in the teachings of Confucius, the most influential Chinese philosopher who lived around 500 B.C.; however, the dimension also applies to countries without a Confucian heritage.

Em ko biết dịch cái này ra tiếng Việt đâu, có bác nào dịch được thì dịch cho các bạn.

Chỉ số ước tính của VN là:
Power Distance 70
Indivialism 20
Masculinity 40
Uncertainty Avoidance 30
Longterm Orientation 80

Em thấy ko khác biệt với các quốc gia châu Á khác là mấy. Một số quốc gia phương Tây thậm chí có các chỉ số cho thấy xã hội của họ còn thận trọng, thiên về truyền thống hơn là thay đổi và chuyển biến hơn chúng ta nữa.

Em luôn nghi ngờ việc người ta đổ lỗi cho văn hóa hay bất cứ loại truyền thống nào gây ra tình trạng trì trệ về kinh tế và các mặt khác của xă hội. Ở mỗi khu vực trên thế giới, các chỉ số này thường ko chênh lệch nhiều cho thấy về bản chất văn hóa, các quốc gia trong cùng một khu vực luôn có điểm tương đồng, nhưng về trình độ phát triển thì có khi sự khác biệt là rất lớn.

Văn hóa, với em, là cái làm cho các dân tộc khác biệt nhau, chứ ko làm nên đẳng cấp. Đã đến lúc ko nên đổ vấy cho văn hóa hay bất cứ giá trị nào trong quá khứ lỗi lầm của hiện tại. Chúng ta nghèo vì bi giờ chúng ta dốt, chứ ko phải vì hồi xưa ông bà chúng ta đã từng Nho giáo. Thời buổi này việc dùng quá khứ để đoán định tương lai hình như đã lỗi thời.
saphi
06-08-07, 00:26
Văn hóa là cái còn lại khi đã quên đi tất cả, và là cái còn thiếu khi đã học tất cả.
Em thấy lạ quá, cãi nhau mới có 2 trang mà đã chẳng thấy ai nói nữa nhỉ, chủ đề hay thế này. :D