Truyện ngắn

thichkhach
07-07-05, 13:34
Phút lâm chung

Nguyễn Nguyên Phước

Cách đây bốn năm, hồi tháng tư, bố tôi phải nằm viện. Bác sĩ nói rằng ông bị xơ gan teo giai đoạn cuối. Suốt ba ngày, bố tôi giãy dụa trong cơn mê sảng. Thỉnh thoảng ông lại kêu lên “Đau quá! Đau quá!”. Bác sĩ giải thích rằng lúc này vì gan quá yếu không đủ khả năng lọc máu đưa lên não nên những gì mà hệ thần kinh trung ương cảm nhận được không phản ánh đúng cảm giác mà thông thường nó vẫn cảm nhận. Cụ thể trong trường hợp của bố tôi, nỗi đau thực chất lại không phải là nỗi đau, những gì ông nói ra miệng khi đó có thể hiểu là một sự phản ánh nỗi nhớ về một nỗi đau nào đó hoặc cũng có thể chỉ đơn thuần là một thói quen, tuy khả năng này, theo suy đoán của tôi, là rất ít vì bố tôi chẳng bao giờ nhắc đến nỗi đau, dù là một nỗi đau cụ thể. Theo như lời bác sĩ, nội tạng bố tôi không có sự tổn thương nghiêm trọng nào thì hẳn nỗi đau kia hẳn là vô lý, chỉ có thể là do tưởng tượng. Đến ngày thứ tư, bố tôi không còn giãy dụa nữa; ông nằm im thiêm thiếp, thỉnh thoảng lại rên khe khẽ rồi thở dài. Bác sĩ nói rằng, cơ thể ông lúc này đã quá mệt mỏi với nỗi đau tưởng tượng kia và nó cần được nghỉ ngơi. Ông cũng nói thêm rằng bố tôi không sống được lâu nữa.
Buổi tối hôm ấy, tôi ngồi bên giường bệnh viện. Đã ba ngày qua, hai anh em tôi hầu như không chợp mắt, cả hai luôn ở trạng thái căng thẳng, lúc nào cũng phải giữ chặt tay và chân bố tôi để ông không giãy dụa quá mạnh làm hỏng ven truyền nước. Tuy nhiên, lúc này tôi lại không cảm thấy mệt mỏi. Đầu óc trống rỗng, tôi hoàn toàn không thể suy nghĩ chuyện gì khác ngoài cái chết mà theo dự đoán của bác sĩ sắp đến với bố tôi. Hôm đó rằm, trăng rất sáng. Hơn nữa, cửa sổ bệnh viện khá lớn không có song sắt. Tôi nhìn bố tôi nằm im trên giường. Thỉnh thoảng, ông lại thở dài, rồi than “Ôi chao ôi!”. Tiếng thở dài đặc biệt đó chắc suốt đời tôi chẳng bao giờ quên, nhất là cái âm “ôi” thứ hai được kéo dài một cách hết sức đặc biệt. Hơn nữa, đặt trong hoàn cảnh của bố tôi, khi mà, theo phỏng đoán của bác sĩ, ông hoàn toàn không có khả năng nhận biết bằng giác quan thì cái tiếng than “chao ôi” kia hẳn phải có gì bí ẩn. Được một lúc, bố tôi thiếp đi. Rồi đột nhiên, ông kêu lên “Mợ ơi! Trời mưa. Con đau quá, mợ ơi!” Tôi nghĩ rằng ông đang gọi bà nội. Bà nội mất năm bố tôi lên tám tuổi. Tôi nhìn khuôn mặt bố tôi. Một khuôn mặt đẹp, hơi nhăn nheo, gò má tóp lại, hai hố mắt trũng sâu, râu ria mấy ngày không cạo mọc tủa tủa. Rồi bố tôi khóc. Nước mắt lặng lẽ chảy trên mặt ông. Có lẽ ông đang nhớ mẹ. Hồi cải cách ruộng đất, bà nội tôi đã mất. Ông nội tôi bị bắt giam rồi chết trong tù. Bố tôi phải lên rừng kiếm củi, còn cô tôi phải đi mót khoai. Rồi bố tôi ra Hà Nội, làm công nhân khuân vác bến Phà Đen, rồi làm công nhân nhà máy cơ khí Hà Nội. Ông về hưu năm tôi học lớp tám. Để nuôi hai anh em tôi ăn học, ông xin làm bảo vệ ở một trường tiểu học. Và ông làm ở đó cho đến ngày em gái tôi vào đại học. Tôi nhìn ông nằm thiêm thiếp trên giường bệnh trong ánh trăng sáng nhờ nhờ và nhớ về ý chí phi thường của ông trong thời kỳ gian khó đó, một ý chí mà đến bây giờ tôi vẫn không sao hiểu được. Giờ hẳn ý chí đó không còn, bởi căn cứ theo lời bác sĩ thì rõ ràng cơ thể của bố tôi giờ không còn thuộc sự điều khiển của ý chí. Tôi nắm tay ông và lặng lẽ khóc. Đột nhiên, một giọng nói trầm ấm vang lên từ phía sau:
- Bố cháu sẽ không sao đâu.
Tôi quay lại nhìn. Đó là giọng nói của người đàn ông giường bên cạnh. Trong ánh trăng rằm, ông ta cũng nằm im thiêm thiếp như bố tôi. Miệng ông ta hơi mỉm cười, làn môi mấp máy một cách khó hiểu. Ông ta khe khẽ nhắc lại:
- Bố cháu sẽ không sao đâu.
Những lời an ủi kiểu như vậy, tôi nghe cũng nhiều. Nó chẳng có tác dụng mấy trong hoàn cảnh hiện tại của tôi. Dù sao, tôi cũng nói lời cảm ơn ông ta. Người đàn ông lặng lẽ nhìn tôi, rồi hỏi:
- Cháu đã yêu bao giờ chưa?
Tôi hơi ngạc nhiên. Lẽ ra ông ta nên hỏi thăm bệnh tình của bố tôi hoặc nói cái gì đại loại như thế. Tôi cảm thấy hơi lúng túng. Một câu hỏi khó. Bố tôi cũng chưa bao giờ hỏi tôi câu hỏi đó. Khó mà nói rằng tôi chưa yêu. Tôi đã từng có cảm tình đặc biệt với một vài cô gái, một thứ tình cảm không rõ ràng lắm. Dường như nó pha trộn nhiều loại tình cảm khác nhau. Dù sao, tôi cũng không đủ can đảm nói với họ là tôi yêu. Hơn nữa, tình yêu, nếu xét theo ý nghĩa của câu hỏi của người đàn ông kia thì hẳn phải là một thứ tình cảm hoặc hai chiều, tức là người con gái kia cũng yêu tôi, hoặc một chiều, nghĩa là chỉ có tôi yêu cô ta, nhưng cả hai đều hiểu rõ nó tồn tại và như thế thì cũng không thể nói là tôi đã từng yêu. Cuối cùng, tôi đành trả lời:
- Cháu chưa yêu bao giờ.
Người đàn ông hơi mỉm cười. Một cái mỉm cười rất khẽ, khẽ đến mức hầu như tôi chỉ cảm thấy đó là một cái mỉm cười chứ không nhìn thấy thực sự.
- Bác thì đã yêu hai lần. Lần thứ nhất, có lẽ là một tình yêu đơn phương. Năm ấy bác hai mươi tuổi, còn cô ấy mười tám tuổi. Cô ấy ưa nhìn, không quá xinh, nhưng ưa nhìn và rất thông minh. Anh trai cô ấy là bạn học của bác. Thực ra là có ba người bạn rất thân: bác, anh trai cô ấy, và một người khác nữa. Người kia cũng yêu cô ấy. Cậu ấy là một chàng trai rất khá. Người dong dỏng cao, rất đẹp trai và giỏi giang. Cuối cùng cô ấy chọn chàng trai kia. Cũng hợp lý thôi. Cậu ấy xét về mọi mặt đều hơn bác. Chẳng hiểu sao, khi hai người kia yêu nhau, tình bạn của ba người bọn bác cứ nhạt dần. Nếu ghen tuông thì lẽ ra chỉ có bác và người yêu cô ấy thôi, hà cớ gì tình bạn với anh trai cô ấy lại không còn như xưa nữa. Cái này quả thật khó hiểu. Rồi cô ấy và anh bạn của bác chia tay. Lý do thì bác không rõ lắm. Quả thật, tình cảm nó rất mù mờ. Đến giờ bác vẫn không hiểu được tại sao lại thế. Lần thứ hai, còn tệ hơn thế, mặc dù lần này không phải là tình yêu đơn phương.
thichkhach
07-07-05, 13:35
Tôi bắt đầu cảm thấy khó chịu. Người đàn ông này hẳn thần kinh không bình thường. Cũng có thể do ông ta bị bệnh nên mới thế chăng. Bố tôi đang nằm kia, mạng sống chỉ còn tính bằng giờ, vậy mà ông ta cứ liên tục lảm nhảm về những mối tình chết tiệt nào đó. Dù sao, là một người lịch sự, tôi cũng không thể hiện sự khó chịu của mình quá đáng. Người đàn ông dường như không quan tâm đến suy nghĩ của tôi. Ông ta tiếp tục lảm nhảm:
- Tình yêu thứ hai, cô ấy đồng ý lấy bác. Cô ấy không xinh nhưng có duyên. Năm ấy bác ba mươi tuổi, còn cô ấy mười chín tuổi. Kể ra chênh nhau cũng hơi nhiều, nhất là khi người ta mười chín tuổi thì một quyết định hôn nhân có lẽ không được chín chắn cho lắm. Năm đầu tiên, cả bác và cô ấy rất hạnh phúc. Năm thứ hai bắt đầu lục đục. Chuyện cơm áo gạo tiền thôi. Lúc ấy, cô ấy mới sinh con, bác làm ở nhà máy, lương ba cọc ba đồng mà bác lại không có tài xoay sở nên khổ lắm. Mà con gái bác đau ốm luôn. Rồi năm thứ ba, thứ tư trôi qua, mọi cái cũng xuôi xuôi. Con gái bác bắt đầu khỏe mạnh, cứng cáp. Rồi đùng một cái, cô ấy bỏ nhà đi, để lại một lá thư dài. Theo như lá thư thì cô ấy bỏ đi theo cái mà cô ấy gọi là “tiếng gọi của tình yêu” hay “tiếng gọi của trái tim”, đại loại là như vậy. Bác không nhớ chính xác. Bác nuôi con một mình khá vất vả. Mấy năm sau, có trát của tòa gọi bác ra làm nhân chứng. Cô ấy phạm tội giết người. Đại khái là sau khi bỏ bác, cô ấy cùng người tình đến một thành phố khác. Không hộ khẩu, không giấy giới thiệu, cô ấy phải đi làm đồng nát, người tình thì đạp xích lô. Hai năm đầu, cuộc sống cũng không đến nỗi nào. Đến năm thứ ba thì anh chàng kia bị tai nạn, liệt toàn thân. Cô ấy ngày phải đi làm đồng nát, trưa và tối về phục vụ anh ta rất khổ sở. Rồi một hôm, quá mệt mỏi, cô ấy nghĩ quẩn, bèn dùng dây thừng xiết cổ người tình. Sau đó, cô ấy treo cổ tự tử nhưng hàng xóm cứu được. Trước tòa, bác vẫn là chồng cô ấy vì chưa ly dị. Hôm ở tòa, cô ấy khóc ghê lắm. Mọi người đều khinh bỉ cô ấy. Không phải bởi cô ấy xiết cổ người tình mà vì đã bỏ bác và con gái mới ba tuổi. Đến bây giờ bác vẫn nhớ ánh mắt của cô ấy. Nhất là đoạn cô ấy kể về lúc thắt cổ người tình. Cô ấy nói rằng không sao quên được cái nhìn của anh ta lúc đó. Bác không biết. Chắc nó phải là một cái nhìn ghê gớm lắm. Cô ấy bị kết án chung thân. Người ta cho bác gặp và nói chuyện với cô ấy nửa tiếng đồng hồ. Cũng chẳng có gì để nói. Cô ấy chỉ xin bác đừng bao giờ kể cho con gái nghe về mẹ nó, cứ nói là đã chết rồi. Nghĩ cũng tội. Thực ra lỗi là tại bác. Bác lẽ ra không nên cưới cô ấy khi cô ấy quá trẻ. Mười chín tuổi không phải là tuổi chín chắn để quyết định một việc lớn như vậy. Lẽ ra cô ấy có thể hạnh phúc nếu không lấy bác. Rồi bác tục huyền với một góa phụ, lần này thì không có tình yêu. Chỉ là đến với nhau thôi. Con gái bác cần có mẹ; nếu không, nó sẽ có cái nhìn lệch lạc về cuộc sống, nhất là cuộc sống tình cảm. Bác học được điều này từ chính người vợ đầu tiên của bác. Cô ấy mồ côi mẹ từ nhỏ. Bố cô ấy ở vậy nuôi con. Có lẽ vì thế cô ấy chẳng bao giờ tìm thấy cái hạnh phúc mà những người bình thường khác vẫn cảm thấy.
Người đàn ông im lặng. Tôi cũng im lặng. Tôi nghĩ đến bố tôi, nghĩ về những điều ông đã dạy tôi. Tôi nghĩ về cuộc đời khốn khổ của ông và tự hỏi liệu có khi nào, trong suốt cuộc đời, ông cảm thấy hạnh phúc không. Dưới ánh trăng rằm, khuôn mặt gày gò khắc khổ của bố tôi nổi bật trên nền trắng của tấm ga trải giường; trông ông giống như một kẻ tử đạo.
Khoảng ba giờ sáng, em gái tôi vào trông bố, còn tôi đi về nhà. Hà Nội ba giờ sáng yên tĩnh lạ thường, dường như chỉ có một mình tôi phóng xe máy trên những con đường ngập tràn gió. Tai tôi lúc đó văng vẳng tiếng nói của người đàn ông kia, một giọng nói đều đều, nhè nhẹ. Khoảng tám giờ sáng, tôi quay lại bệnh viện và một điều kỳ diệu đã xảy ra. Bố tôi đã tỉnh trở lại. Khuôn mặt ông vẫn xanh xao vì mất máu nhiều nhưng ông hoàn toàn tỉnh táo. Ông không nhớ được những gì đã xảy ra trong bốn ngày qua, kể từ lúc vào bệnh viện. Sau này, ông kể lại rằng, trong giây phút mê man ấy, ông nghe có tiếng ai gọi mình, một giọng nói mơ hồ nhưng có cảm giác rất quen thuộc mặc dù không thể nhớ được là giọng nói của ai. Tôi nhìn sang giường của người đàn ông nằm bên cạnh. Người ta đã dọn sạch toàn bộ ga trải giường cùng chăn màn, chỉ còn trơ lại tấm nệm giường. Tôi hỏi em gái tôi:
- Bác hôm qua nằm ở đây chuyển viện à?
Nó rầu rĩ đáp:
- Không, bác ấy mất rồi. Mất đêm hôm qua. Em vào thay anh được một lúc thì con gái bác ấy phát hiện ra bác ấy đã mất. Bác ấy bị ung thư gan.
Đến bây giờ, bố tôi vẫn sống khỏe mạnh không như lời tiên đoán của bác sĩ. Có lẽ ông mắc một chứng bệnh khác mà người ta chưa tìm ra nguyên nhân hoặc cũng có thể cơ thể ông nhạy cảm đến mức chỉ cần chớm bệnh là nó có thể rơi vào trạng thái mê man như thể triệu chứng của bệnh nhân giai đoạn cuối. Cuộc sống có vô số những điều bí mật mà người ta không bao giờ giải mã được. Chẳng hạn như, người đàn ông nói chuyện với tôi đêm hôm ấy, cứ cho rằng thời điểm ấy ông ta còn sống, còn tỉnh táo, nghĩa là không phải một hồn ma đang nói chuyện với tôi, thì cũng khó có thể hiểu được tại sao trong phút lâm chung mà hẳn lúc đó cơ thể phải rất đau đớn, ông ta lại nghĩ về những mối tình đã chết.

Nagoya, 06/2005
Cổ Nhuế
07-07-05, 15:38
Truyện có cấu tứ không tồi, mở bài và kết luận, đặc biệt là mở bài rất khá, thân bài rất tiếc là nhạt và nhảm. Tác giả viết truyện theo lối con tằn rút ruột nhả tơ. Câu hỏi đặt ra là: Con tằm có bao nhiêu ruột?

Nếu tác giả thay vì kể chuyện theo tuyến tính, cố gắng tạo một cấu trúc mới, một cách hành văn gây sốc hơn, thì có lẽ sẽ tập hợp được nhiều con tằm để mà rút ruột dài dài...
Delliah
07-07-05, 15:51
Đi đâu cũng gặp anh Phước này nhỉ. Anh này viết hay mà đúng kiểu bác Nhuế nói, viết như rút ruột. Chẳng biết anh có bao nhiêu ruột để mà rút, đâu chừng cũng được 3, 4 cái rồi.
HTN
07-07-05, 17:18
Bác Cổ Nhuế nói tằm rút tơ là vớ vẩn vì nhiều truyện của anh em là hư cấu. Có phải nhà văn nữ ca leng keng x đâu mà rút tơ với ăn mình. Có mà kứt! Đọc xem truyện này rút mình không nhé!

Tuổi của chó
Nguyễn Nguyên Phước

Bạn tôi tên là Tiến. Đó không phải lỗi của anh. Trong nhà anh, tất cả đàn ông đều tên là Tiến. Đàn bà tất nhiên chẳng ai tên là Tiến. Đàn bà trong nhà Tiến không có tên. Vì họ là đàn bà. Người ta không gọi đàn bà bằng tên. Người ta gọi đàn bà là đàn bà.

Tiến là sinh viên của một trường đại học nào đó mà tôi không biết tên. Thực ra tất cả các trường đại học đều giống nhau. Bởi vậy trường đại học không có tên. Người ta gọi trường đại học là trường đại học. Tiến say mê văn hóa cổ đại. Đấy là tôi nghe nói thế, chứ tôi chưa bao giờ thấy Tiến nhắc đến văn hóa cổ đại. Đôi khi rất bất tiện nếu phải gọi điện đến nhà anh, sẽ chẳng biết gặp ai vì tất cả đàn ông đều tên là Tiến.



Bạn tôi tên là Tiến. Những người đàn ông tên là Tiến đều có khuôn mặt ưu tư. Họ lo lắng điều gì, tôi chẳng biết. Tôi hay nghĩ, nếu Tiến không tên là Tiến, hẳn anh sẽ không thể sống được trong cái gia đình mà tất cả đàn ông đều tên là Tiến. Tất nhiên đó chẳng phải lỗi của anh. Ở lớp học chúng tôi có ba người tên là Tiến nhưng điều đó chẳng gây ra một rắc rối nào. Cũng có khi thầy giáo gọi Tiến lên bảng, cả ba đều giật mình. Năm học lớp tám, vì một cuộc cãi vã với gia đình, Tiến bỏ nhà ra đi. Cậu sống cùng một đứa bạn cũng tên là Tiến, bỏ học từ năm lớp sáu. Cả hai sống trong một căn nhà ổ chuột ngoài đê sông Hồng và kiếm sống bằng nghề gánh than thuê cho đến khi gia đình Tiến tìm thấy cậu. Vì có một sự nhầm lẫn đặc biệt nào đó, hay cũng có thể một phép mầu đã xảy ra, đứa trẻ mà bố mẹ Tiến đưa về không phải con trai của họ, mà là thằng bé gánh than sống ở ngoài đê sông Hồng. Sự nhầm lẫn này lẽ dĩ nhiên chẳng ai phát hiện ra vì cả hai đều tên là Tiến và sau gần hai tháng sống chung, chúng giống nhau như hai giọt nước.



Bạn tôi tên là Tiến. Năm lớp tám, tôi và cậu đi bộ trên cầu Thăng Long. Đến giữa cầu, Tiến trèo lên thành cầu, nhằm thẳng sông Hồng nhảy xuống. Xác Tiến được vớt lên, không ai nhận ra, nhưng những người thân, bằng linh cảm, đều khẳng định đó là xác Tiến. Tôi cũng nghĩ đấy là xác Tiến. Đám ma Tiến, hoa toàn màu trắng. Đến khi làm giỗ bốn chín ngày thì Tiến trở về. Chẳng ai nhớ đến cậu. Người ta chỉ nhớ một đám tang rất to và đang bận làm cỗ bốn chín ngày. Tiến không chết, vì một lý do nào đó tôi không rõ. Năm Tiến mười chín tuổi, cậu được học bổng du học tại Pháp. Tiến có một người bạn gái học kinh tế ở Mỹ. Họ quen nhau qua một forum, biết mặt nhau qua những file ảnh jpeg, và nói chuyện với nhau qua Yahoo Messenger. Thỉnh thoảng họ giận dỗi nhau vì những chuyện không đâu. Tiến mong đến ngày ra trường và đi làm ở Thụy Sĩ. Cậu hy vọng sẽ có một triệu Mỹ kim trước tuổi ba nhăm và nghỉ hưu non ở một trang trại ngoại thành Hà Nội. Bạn gái Tiến mơ ngày mở một quán café ở một phố nào đó gần khu trung tâm; hàng ngày, cô sẽ quản lý quán café và nếu có thời gian rảnh rỗi cô sẽ ngồi đọc những tác phẩm văn học và triết học cổ điển phương Tây.



Bạn tôi tên là Tiến. Anh bốn mươi hai tuổi và hiện làm giám đốc chi nhánh tại Hà Nội của một công ty đa quốc gia có trụ sở chính đặt tại Sài Gòn. Anh có một vợ và hai con, đứa con trai mười tuổi đang học tiểu học và một đứa con gái bốn tuổi đang học mẫu giáo lớn. Anh có một cô bồ là sinh viên năm cuối trường Đại học Ngoại thương, quê Nam Định, làm part-time tại công ty tôi. Đó là một cô gái tóc xoăn, trán dô, mũi hếch và nhiều cá tính. Họ làm tình với nhau vào những buổi trưa tại một khách sạn cách chỗ làm của anh ba con phố. Đôi khi vào những ngày nghỉ cuối tuần, anh tìm được một lý do đặc biệt nào đó để đi với cô về một vùng quê ngoại thành Hà Nội nhưng những ngày cuối tuần kiểu như vậy rất hiếm vì thông thường Tiến phải dẫn vợ và hai đứa con đi ăn tối, uống cà phê, và xem phim vào mỗi tối thứ bảy. Anh hầu như chẳng nhớ nổi tên phim và thường đổ tại tính đãng trí. Vợ Tiến làm phó giám đốc văn phòng đại diện của một hãng dược phẩm của Pháp. Chị mặc bộ vest màu xám, đi giày cao gót màu đen khiến tôi nghĩ đến ngoại trưởng Mỹ, Tiến sĩ Condoleezza Rice, và tự hỏi chị sẽ thế nào nếu khỏa thân trên giường ngủ.



Bạn tôi tên là Tiến. Anh tin rằng có kiếp sau nên cứ vui vẻ mà sống. Anh theo đạo Phật, ăn chay vào ngày rằm và mồng một. Cũng có khi những ngày rằm và mồng một trùng với một đám cưới hay đám giỗ nào đó mà anh không thể từ chối. Anh đành phải ăn mặn và lùi ngày ăn chay chậm một ngày. Tiến tin rằng con người ta sinh ra trên đời là để mắc sai lầm. Bởi vậy thay vì lẩn tránh những lỗi lầm, anh luôn cố tình tìm đến nó. Anh phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác, thỉnh thoảng lại tự an ủi rằng nếu tránh được sai lầm này tất sẽ phạm sai lầm khác lớn hơn.



Vợ Tiến bắt đầu mệt mỏi. Chồng cô không phải là người như cô mong đợi. Cô bắt đầu chán những lời âu yếm trên giường trong những cuộc làm tình chớp nhoáng như một nghi thức xã giao. Cô chán những buổi tối thứ bảy đi xem phim cùng chồng và hai đứa con hay những ngày nghỉ cuối tuần ở Đồng Mô vào mùa hè. Cô chán những ngày chủ nhật và mong chóng đến thứ hai nhưng đến trưa thứ hai cô lại bắt đầu ngóng đợi ngày thứ bảy. Sếp cô là một người đàn ông khô khan. Anh tốt nghiệp Đại học ở Việt Nam, Cao học tại Pháp, lấy vợ năm ba mươi hai tuổi và có một đứa con trai đang học trường Quốc tế Pháp ngữ. Thỉnh thoảng họ đi ăn trưa với nhau, anh than phiền về người vợ quá quắt của mình nhiều đến mức cô gần như thuộc lòng. Một thời gian sau, anh bỏ vợ và họ không còn ăn trưa với nhau nữa mặc dù cô đã rủ mấy lần nhưng anh đều kiếm cớ từ chối.



Bạn tôi tên là Tiến. Tiến đã gần bảy mươi tuổi. Ông hay nhớ đến thời kỳ cải cách ruộng đất, người bố chết trong tù và món cơm độn khoai của một bà góa làng bên. Sau cải cách, ông lên Hà Nội làm cu-li khuân vác ở bến Phà Đen rồi làm công nhân nhà máy dệt. Ngày mồng 9 tháng 12 năm 1989, người ta cho ông về hưu non với một tờ giấy ghi những điều mà ông không thể hiểu nổi. Ông sống cùng một con chó già trong căn nhà mười mét vuông cộng với bốn mét vuông cơi nới thêm; nhà có một cái giường, một cái bàn nhỏ và ba cái ghế đẩu. Nhà tắm kiêm toa-let được làm thêm cách đây hai năm vì nhà xí công cộng của khu tập thể bị phá. Con chó già vốn là của một người bạn quá cố; Tiến không biết nó bao nhiêu tuổi. Chỉ biết rằng nó rất già, lông rụng gần hết. Con chó già mỗi ngày ăn chỉ ăn được một bát cơm. Tiến ăn nhiều hơn nó hai bát. Mùa hè Tiến ăn ít hơn. Mùa hè từ con chó già bốc lên một mùi hôi thối tởm lợm. Con chó già chết vào một ngày mùa đông. Xác nó lạnh ngắt và không còn bốc lên bất cứ mùi hôi thối nào.



Bạn tôi tên là Tiến. Tôi không biết anh bao nhiêu tuổi. Anh làm thầy cúng ở một làng ngoại thành. Đôi khi theo yêu cầu của khách, anh lên đồng. Dân làng đồn rằng mỗi khi anh lên đồng, không những giọng nói, như thường thấy ở những đồng cô, thay đổi mà cả tính cách anh cũng thay đổi theo. Theo quán tính, Tiến sống cuộc đời của khách cho đến tận mấy ngày hôm sau. Nhiều khi anh lẫn lộn. Chẳng hạn, ngày hôm nay, anh lên đồng vào vai một cô gái trẻ, nếu còn sống đến ngày hôm nay thì có lẽ đã là một bà lão, bị chết đuối ở sông Hồng; rồi ngày hôm sau, anh nhập đồng thành một người đàn ông trung niên bị chết trong một tai nạn ô tô; ngày hôm sau nữa, anh lại là một chàng thanh niên du học tự tử vì chứng trầm uất. Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như người đàn ông trung niên, giám đốc của một công ty Trách nhiệm hữu hạn, không đột nhiên có những suy nghĩ của đứa trẻ con, chàng thanh niên chưa vợ suốt ngày than thở mệt mỏi như một người đàn ông có gia đình và cô gái nhỏ thì ưu tư như một bà già sắp chết.



Bạn tôi tên là Tiến. Ngày mồng 1 tháng 4 năm 1997, vợ anh, chẳng có một lý do nào cả, cùng hai đứa con bỏ anh ra đi với một người đàn ông nào đó mà anh không biết tên. Từ đó trở đi anh sống một mình với con chó nhỏ. Vào buổi tối, Tiến hay mua cơm bụi ở quán bà Năm béo đầu ngõ, gói vào túi nylon rồi mang về nhà chia cho con chó cùng ăn. Một năm sau, Tiến bỏ việc, kiếm sống bằng nghề bán sách cũ. Phần lớn thời gian anh ngồi đọc những cuốn sách cổ của Tàu; dần dần anh trở thành một người xem tướng nổi tiếng. Anh vẫn sống ở ngôi nhà cũ cùng với con chó nhỏ. Anh không còn ra quán bà Năm béo mua cơm bụi, hàng ngày có người đưa cơm hộp đến tận nhà anh. Một buổi sáng mùa hè, người ta tìm thấy con chó nằm ủ rũ bên xác Tiến tím ngắt vì lạnh.



Bạn tôi tên là Tiến. Anh là một diễn viên kịch nói nổi tiếng. Có lần anh vào vai một thầy bói đạt đến nỗi từ đó trở đi anh không thể làm diễn viên trở lại được nữa. Anh đành về quê làm thầy bói. Cũng có khi anh nói đúng, cũng có khi anh nói sai nhưng người ta luôn tin anh vì họ tìm thấy ở anh một thứ niềm tin nhiệm màu mà họ không tìm thấy ở bất kỳ một người nào khác; niềm tin ấy mãnh liệt đến mức nó khiến anh và tất cả mọi người tin rằng nghề xem bói là nghề duy nhất mà anh có thể làm và làm tốt hơn tất bất kỳ thầy bói nào trên đời, rằng nếu anh có nói sai thì đó là ý muốn của Thượng Đế chứ không phải là lỗi của anh.



Bạn tôi tên là Tiến. Đó là điều duy nhất tôi biết chắc chắn về anh. Anh qua đời ba ngày sau cái chết của con chó già của người hàng xóm mà không ai biết tuổi.



Nagoya 05/2005
HTN
07-07-05, 17:22
Nguyên Phước bây giờ có thể nói là một trong những người viết truyện ngắn có tuơng lai nhất của 7x Việt Nam, đặc biệt khi đã vượt qua được phong cách của Tâm Trạng Khi Điên bằng các truyện ngắn khác (để tí nữa lấy được em post cho bác trắng mắt ra, thực ra em post giờ cũng được vì là tặng em rồi). Nói chung, bác Cổ Nhuế phê bình văn học như c, lại còn ba phải mười ba cũng ừ, mười bốn cũng gật. Mở Miệng cũng cười, Tiền chiến cũng khoe, Sài gòn cũng chửi, Hà nội cũng bỉ bai. K(h)inh!
thichkhach
07-07-05, 17:49
Hai anh em

To NCD with the author's gratitude for her kind suggestion without which this stuff couldn't be realized

Nguyễn Nguyên Phước

Looke heere vpon this Picture, and on this,
The counterfet presentment of two Brothers
(W. Shakespeare)

Dương kém Hoàng hai tuổi. Nhìn bề ngoài, họ khá giống nhau. Hoàng là một chàng trai tính tình cởi mở, dễ mến; hơn thế, chàng thể hiện sự cởi mở ấy tự nhiên đến mức người ta không cảm thấy một sự cố gắng nào cả, cứ như thể đó là một năng khiếu bẩm sinh. Đám con gái luôn bị mê hoặc bởi nụ cười quyến rũ ẩn dưới cái nhìn hơi giễu cợt của chàng. Những người đố kỵ thường không thấy ở Hoàng một sự say mê đặc biệt nào cả và đi đến kết luận chàng là kẻ hời hợt. Hoàng đương nhiên chẳng lấy đó làm bận tâm; nói chung, chàng chẳng bao giờ bận tâm đến điều gì cả. Hoàng luôn suy nghĩ đơn giản và cho rằng đó là khởi nguồn của hạnh phúc. Dương không nổi bật như ông anh trai. Chàng ít nói, khuôn mặt hơi cau có khiến nhiều người ngại tiếp xúc. Từ bé, Dương đã quen sống lủi thủi một mình.

Tốt nghiệp đại học, Hoàng vào thế chỗ ông bố vừa về hưu trên Bộ. Bốn năm sau, Hoàng lấy vợ. Ngọc có vẻ đẹp cổ kính như trong những bức ảnh đen trắng chụp cách đây nửa thế kỷ. Hoàng lấy vợ được một năm thì Dương chuyển hẳn vào Sài Gòn làm việc. Bàn làm việc của Dương có một giò hoa giả được làm rất khéo đến mức nếu không chạm tay vào thì không thể nhận ra đó là hoa giả. Vào buổi chiều, giò hoa giả sáng rực lên dưới ánh nắng hắt qua cửa kính văn phòng. Những lúc như thế Dương lại nhớ đến chị dâu. Chàng vẫn nhớ lần gặp đầu tiên, Hoàng giới thiệu Ngọc với gia đình. Nàng bước vào phòng, khuôn mặt ửng hồng vì giá lạnh ngoài đường. Mẹ chàng pha trà mời khách. Nàng đỡ lấy tách trà, áp chặt hai bàn tay hơi run run vào thành chén một lúc lâu. Những ngón tay trắng muốt, xanh xao, gầy gầy như dần lấy lại sinh khí. Căn phòng trở nên ấm áp hơn. Dương rất ít nói chuyện với Ngọc ngay cả khi nàng đã là chị dâu chàng. Trong những lần nói chuyện hiếm hoi đó, luôn có mặt ít nhất một người khác. Có lẽ điều đó khiến chàng tự tin hơn. Dương không thể hình dung chàng sẽ xoay sở thế nào nếu phải nói chuyện với Ngọc nếu trong phòng chỉ có hai người. Khi đó hẳn chàng chỉ còn biết im lặng. Chàng hay nghĩ rằng quyết định chuyển vào miền nam là để trốn tránh việc phải tiếp xúc với chị dâu. Nhưng cũng có lúc chàng lại có cảm giác rằng việc đó ít nhiều liên quan đến ông anh trai mà chàng vốn coi thường.

Thỉnh thoảng, Dương vẫn gọi điện về nhà. Thường thì mẹ chàng là người nhấc máy. Giọng bà hơi lạ, khác với giọng nói có phần cay nghiệt mà Dương thường nghe hồi ở nhà. Cha chàng ít quan tâm đến gia đình. Thỉnh thoảng, ông tỏ ra tự hào về Hoàng, người mà theo lời ông chính là bản sao của ông thời trai trẻ nhưng chẳng bao giờ nhắc đến Dương. Sài Gòn ồn ào và náo nhiệt, khác hẳn Hà Nội. Vào những ngày tháng chạp, Dương hay nhớ đến cái rét Hà Nội và căn nhà thời thơ ấu. Mỗi lần gió mùa đông bắc về, chàng thường phải lấy giấy bịt chặt những chỗ hở để tránh gió lùa. Cha mẹ và Hoàng hay càu nhàu về việc đó; họ nói rằng làm như vậy ngôi nhà sẽ xấu đi. Những buổi sáng mùa đông Hà Nội, Dương thường phải dậy sớm từ lúc trời tờ mờ sáng. Lúc đó mọi cái đều thuộc về một thế giới hoàn toàn khác, một thế giới câm lặng. Dương nhìn sang bên kia đường nơi ánh đèn cao áp sáng mờ mờ, cảm thấy lòng mình trĩu nặng vì chỉ lát nữa thôi, thế giới câm lặng kia sẽ hoàn toàn biến mất.

Hồi mới vào Sài Gòn, mỗi khi tỉnh dậy Dương cứ ngỡ mình đang ngủ ở nhà. Đôi khi, chỉ cần nhắm mắt lại là chàng có thể hình dung ra căn nhà của mình: giàn hoa giấy trước cửa, con mèo nhỏ lười nhác nằm bên bệ cửa sổ. Chàng nhớ đến cái ngõ hẹp ở Hà Nội chỉ đủ cho một chiếc xe máy lách qua. Những ngôi nhà chen chúc nhau hẹp đến mức mỗi khi ngước nhìn, bầu trời chỉ còn là một vệt sáng mờ. Ngõ hẹp nối với nhau tạo thành một ma trận khổng lồ với những con đường sâu hun hút thường dẫn đến một bãi đất trống hay cái hồ lớn khiến người ta cảm giác nơi đây là tận cùng của thế giới. Chàng nhớ đến hàng phở trên vỉa hè nơi có những con người lụp xụp ngồi ăn vào mỗi buổi sáng mùa đông. Nghĩ đến Hà Nội, Dương thấy tim mình nhói đau, chàng không hiểu tại sao mình lại rời bỏ nó. Sau ba năm sống ở Sài Gòn, Dương lấy vợ. Vợ chàng là một người hoàn toàn không có gì đặc biệt. Nàng nhu mì ít nói, đến cả nụ cười cũng có phần gượng gạo. Hai người sống trong một căn hộ chung cư nhỏ. Nó tương đối biệt lập với thế giới bên ngoài. Từ cửa sổ nhìn xuống bên kia đường, Dương hay có cảm giác như mình đang biến thành một con mắt của người khổng lồ. Thành phố những lúc như thế bỗng thu nhỏ lại vừa vặn trong tầm mắt đến nỗi chàng tưởng mình đang ở Hà Nội.

Dương không phải là người thành đạt. Mỗi khi thành công đến trong tầm tay thì không hiểu vì một lý do nào đấy, mọi cái đột nhiên biến mất và chàng phải bắt đầu lại từ đầu. Đồng nghiệp nói chung không ưa chàng; dưới mắt họ, Dương là một gã lập dị điên khùng. Người thì thương hại, kẻ thì nói xấu sau lưng nhưng cuối cùng họ đều cảm thấy mệt mỏi. Con người cứng đầu kia hoàn toàn không để tâm gì đến họ. Hắn ta cứ thế lầm lũi bước trên con đường của mình. Khi thất bại, Dương hay nghĩ đến Ngọc. Chàng tin rằng nàng không hạnh phúc. Hoàng nổi tiếng lăng nhăng từ thời sinh viên và chắc chắn anh ta chẳng bao giờ thay đổi.

Mẹ chàng có duy nhất một lần viết thư hồi chàng mới vào Sài Gòn được mấy tháng. Thư viết bằng mực tím, chữ to như chữ học sinh tiểu học, nét hơi run run. “Mẹ biết - bà viết - bố mẹ đã không công bằng với con. Mẹ cũng chẳng hiểu tại sao mọi chuyện lại như thế.” Dương không viết thư trả lời, mấy hôm sau gọi điện thoại chàng cũng chẳng đề cập đến chuyện đó. Những câu chuyện chàng nói với mẹ thường tẻ nhạt và nhát gừng. Mỗi lần dập máy, chàng gần như ngay lập tức nhận ra mình đã quên không nói điều quan trọng nhất, mục đích chính của cuộc điện thoại. Một thời gian sau, Dương hầu như không thể hình dung nổi khuôn mặt của cha mẹ chàng nếu không xem ảnh.

Thỉnh thoảng, Dương tưởng tượng ra cảnh mình sinh ra trong một gia đình khác. Cha chàng không còn là cha chàng, mẹ chàng cũng là người khác, còn chàng là con một. Gia đình này nghèo hơn gia đình chàng, chẳng hiểu sao chàng luôn tưởng tượng như thế. Liệu khi đó chàng có hạnh phúc không? Dương không bao giờ trả lời được. Mỗi lần hình dung ra cảnh mình sống trong gia đình tưởng tượng đó, Dương lại suy nghĩ miên man và dường như có một sức mạnh vô hình lôi chàng đến với câu hỏi kia; nó giống như một con đường định sẵn dẫn đến ngõ cụt, toàn bộ câu chuyện bỗng sụp đổ trong nháy mắt.

Chiều ngày thứ ba, Dương nhận được tin anh trai mất. Một người bà con gọi điện cho vợ chàng. Hoàng bị tai nạn giao thông. Dương hầu như chẳng có cảm giác gì. Lúc đó, trời đã sẩm tổi. Ánh đèn tuýp hắt xuống bình hoa hướng dương đặt góc phòng in trên tường như những con rắn đang ngóc đầu dậy. Vợ Dương đứng cạnh Ngọc, trông nàng rất không thoải mái. Đây là lần thứ hai nàng đến nhà chồng. Chẳng biết sự xa cách bấy lâu hay không khí u buồn của đám tang khiến nàng khó chịu. Mẹ Dương hầu như không dậy được. Bà nằm bẹp trên giường, thỉnh thoảng lại rên khe khẽ, khó nhọc. Khi Dương ra đến Hà Nội thì thi hài của Hoàng đã được khâm liệm. Mọi người nói rằng khuôn mặt Hoàng biến dạng đến mức không thể nhận ra nhưng Dương không thể hình dung được. Chàng chỉ còn được thấy tấm ảnh Hoàng cười rất tươi bên cạnh bát cơm đầy với quả trứng đã ngả sang màu trắng xanh trên chiếc quan tài sơn đỏ. Ngọc hầu như không khóc. Khuôn mặt nàng trắng bệch, toàn thân bất động như một bức tượng bằng đá cẩm thạch. Mắt nàng như đang nhìn về một nơi xa xăm nào đó. Nàng cúi đầu đáp lễ khách viếng tang như một cái máy. Thỉnh thoảng, Dương liếc về phía Ngọc, cảm thấy sợ hãi đến nỗi chàng không đủ can đảm nhìn lâu. Tang lễ xong, Ngọc đưa cho Dương một tờ giấy được gập sẵn làm tư rồi lặng lẽ đi xuống nhà dưới. Dương nhét vội tờ giấy vào ca-táp rồi đi về phòng ngủ, đám tang khiến chàng kiệt sức.

Ngồi cạnh vợ trên máy bay, Dương im lặng suốt. Cô tiếp viên hàng không hỏi câu gì đó không rõ, chàng chỉ nghe loáng thoáng thấy vợ chàng bảo cơm gà cho cả hai. Ngoài ô cửa sổ máy bay, bầu trời chỉ còn một màu xám xịt. Một lúc sau, Dương giở bức thư Hoàng viết cho chàng cách đây một tháng, đọc lại lần nữa. Bức thư viết dở, chỉ có duy nhất một câu “Chúng ta sẽ chẳng bao giờ hạnh phúc.”

Nagoya 04/2005
chomolungma
07-07-05, 20:12
Tôi lại thấy Nguyên Phước viết những truyện sau này nhẹ hơn Tâm trang khi điên và Giờ chết nhưng lại không hay bằng, tuy tác phẩm nào của anh cũng đều ám ảnh bởi chết chóc, điên loạn và có gì đó u ám, ảm đạm.
Có gì đó tuy mơ hồ thôi, nhưng cho thấy dường như tác giả là một người luôn tách mình ra khỏi những phần lớn xã hội còn lại ở chính nơi mình sống.
Cổ Nhuế
08-07-05, 11:01
Chú gì trên kia đã ra đòn độc thủ khi nói rằng, Phước "là một trong những người viết truyện ngắn có tuơng lai nhất của 7x Việt Nam". Tất nhiên đòn này không nhằm vào anh, mà lại nhằm vào Phước, và Phước đã biến thành Bạc Phước.

Đương nhiên là chả có ai quan tâm hay tin tưởng cái nhận định hồ đồ và vô trách nhiệm này cả, ngoài tác giả Bạc Phước.

Những kẻ đang rón rén bước chân vào chiếu văn chương nên nghiêm túc và thận trọng xem xét các lời phê phán. Tất nhiên là không phải sự phê phán nào cũng hữu ích, và dù muốn, con người ta không thể nào chiều theo tất cả các phê phán. Lời chê của anh có thể cũng chẳng làm cho Bạc Phước thành Có Phước, nhưng nó xuất phát từ thiện chí.

Đã là truyện thì đương nhiên là hư cấu, chỉ có chuyện thật chứ không có truyện thật. Viết một cách "rút ruột" không có nghĩa là kể lại những chuyện đã xảy ra với mình hay là mình đã từng chứng kiến hoặc là một chuyện gì đó đã từng xảy ra trong cuộc đời thật.

Người đọc có cảm giác "rút ruột" khi cái hình bóng của tác giả cứ lù lù hiện ra giữa các hàng chữ trong truyện, cái "thông điệp" mà tác giả muốn rao giảng cho người đọc cứ ngáng như cái đũa nằm ngang miệng người đọc. Điều này chỉ xảy ra với những người viết mang tính nghiệp dư. Cứ đọc các tác phẩm của các cây bút đã thành danh mà xem, chúng rất "sạch", không có sạn.

Truyện của Phước được nhiều người đọc bình thường tung hô, thậm chí có người còn không chịu được đã viết bài hạch tội các nhà phê bình tại sao lại không có bài phê bình nghiêm túc về các/một truyện của Phước.

Rất tiếc rằng khi "cặp tuyết lê" mới nhu nhú bằng quả nho thì sẽ chẳng có thằng đàn ông nào xông vào nắn bóp cả. Mà tiên đoán ngay rằng sẽ có ngày nó lớn lên thành "cặp tuyết dừa" mỹ miều thì e rằng đã tát vào mặt tạo hoá. Tác giả của "cặp tuyết nho" nên kiên trì mà chờ đợi cho đến ngày mình có "cặp tuyết cau", lúc đó nếu có thằng đàn ông nào liếc mắt chiêm ngưỡng thì mới nên hãnh diện.

Còn bây giờ thì quá sớm để nói bất cứ cái gì, bút pháp còn quá non, hành văn thì nhiều sạn, và nhất là lồ lộ ra cái hành động ưỡn ngực khoe nho.

Vậy mà có kẻ gào lên là "nhất của thế hệ 7x", thật là một đòn độc thủ đầy tình thương, buồn và tiếc thay.
HTN
08-07-05, 11:09
Hí, bác Cổ Nhuế dễ bị lừa vật. Đấy là anh em, em thích thì cứ nói chứ em nhận xét gì ở đây không bao giờ anh hưởng gì đến Phước hết, vì em nhận xét nhiều trực tiếp với tác giả rồi. Bác nhận xét nói chung là tạm đúng, cả Phước cũng biết vậy nhưng không phải ai cũng định lết theo sự nghiệp văn chương chân chính, nhất là khi người ta có tài hơn ở lĩnh vực khác!
Phương Thảo
03-02-06, 10:07
Hành trình

Nguyễn Nguyên Phước


Đoàn chúng tôi có tất cả bốn người, ngoài tôi ra, còn có một ông già, một chàng thanh niên ngoài hai mươi và một đứa trẻ lên mười. Chắc chắn họ có mối quan hệ huyết thống vì nét mặt mỗi người đều phảng phất hình ảnh của hai người còn lại, cứ như thể là khuôn mặt của cùng một con người ở những thời điểm khác nhau trong cuộc đời. Xét về tuổi tác, chàng thanh niên quá trẻ để có thể là cha đứa trẻ song lại quá già để làm anh trai nó.

Còn ông già, cũng giống như những người già khác, rất khó đoán tuổi nên cũng khó có thể nói rằng ông ta là ông hay là cụ của đứa trẻ và đương nhiên càng khó hơn nữa để có thể suy đoán ra mối quan hệ giữa ông già và chàng thanh niên. Người ta chở chúng tôi đến bờ sông, nơi lau sậy mọc um tùm. Thực ra gọi là bờ sông cũng không phải, từ chỗ neo thuyền ra đến mặt sông lớn là một đoạn con lạch khá dài nhưng bề rộng của nó chỉ vừa đủ cho một con thuyền. Người hướng dẫn viên du lịch nói rằng đây là con đường duy nhất để có thể đi ra sông.

Ba người đồng hành của tôi lần lượt bước lên thuyền, đầu tiên là đứa trẻ, theo sau là chàng thanh niên, cuối cùng là ông già. Họ ngồi cạnh nhau, đối diện với tôi, vẻ mặt nghiêm nghị và tư thế ngồi ngay ngắn của họ giống hệt như ba người học sinh ngồi nghe cô giáo giảng bài. Người hướng dẫn viên du lịch nói rằng đây là một chuyến đi quan trọng. Tôi hỏi anh ta từ trước đến giờ anh đã đi bao nhiêu chuyến đi như thế này rồi. Anh ta đáp: “Tôi không nhớ được. Có lẽ là khoảng hơn một trăm chuyến đi như thế này. Đối với tôi, những chuyến đi luôn quan trọng dù đôi khi nó chẳng có mục đích gì.”

Khi chúng tôi xuống thuyền, trời bắt đầu lờ mờ tối. Người hướng dẫn viên tháo sợi dây chão cột thuyền, anh ta đạp mạnh vào kè đá khiến con thuyền chòng chành rồi từ từ chuyển động ra xa. Sau một hồi loay hoay, cuối cùng anh ta cũng nổ được máy. Trời tối nhưng nhờ có ánh trăng, tôi vẫn có thể nhìn rõ khuôn mặt của từng người. Gió thổi rất mạnh và tôi cảm thấy lạnh. Người hướng dẫn viên giải thích cho chúng tôi rằng ban đầu bao giờ cũng gặp khó khăn nhưng khi chúng ta đã quen rồi thì mọi sự sẽ dễ dàng. Chắc anh ta nghĩ rằng chúng tôi cảm thấy khó ở do con thuyền tròng trành. Ba người đồng hành của tôi vẫn im lặng. Nhìn vào khuôn mặt họ, cái vẻ trầm tư của họ, tôi không thể đoán được họ đang nghĩ gì. Liệu họ có phải là họ hàng của nhau không?
Phương Thảo
03-02-06, 10:09
Người hướng dẫn viên du lịch chỉ về phía sau lưng tôi và nói: “Anh có nhìn thấy cái cột kia không? Chúng ta sẽ đến đó. Chúng ta sẽ phải hướng mũi thuyền chéo chiều dòng nước. Vì vận tốc của dòng nước là rất lớn, lớn hơn rất nhiều vận tốc của con thuyền nên anh sẽ có cảm giác chúng ta đang ngược sông nhưng thực ra không phải như vậy. Chúng ta đang vượt sông. Cái cột kia nhìn có vẻ không xa lắm. Và thực tế thì nó không xa. Nhưng để thuyền cập bến đúng chỗ, chúng ta phải mất rất nhiều thời gian. Rồi anh sẽ thấy. Có những lúc anh sẽ có cảm giác chúng ta bị dòng nước cuốn đi và chúng ta hoàn toàn không làm chủ được con thuyền. Những lúc như vậy, chỉ cần một khoảnh khắc nào đó, anh lơ là không nghĩ đến cái cột kia là chúng ta lập tức sẽ bị cuốn trôi theo dòng nước. Và khi đó chúng ta sẽ hoàn toàn không biết chúng ta sẽ đi về đâu.”

“Vậy đã khi nào anh bị cuốn đi như vậy chưa?”

“Luôn luôn. Thực ra chưa một lần nào tôi cập bến đúng cái cột đó cả. Lần nào tôi cũng bị mất phương hướng.”

“Vậy anh sẽ làm gì nếu anh không tìm thấy cái cột?”

“Thì tôi phải chấp nhận thôi. Những người khách trước cũng phải chấp nhận điều đó. Họ cập bến. Có vậy thôi. Nhưng họ không tìm thấy cái cột.”

“Vậy cái cột đó liệu có tồn tại không? Đã có ai chạm tay vào nó chưa?”

“Chưa. Nhà tôi làm nghề này đã ba đời nay. Tôi chỉ nghe ông nội tôi kể lại rằng trước kia đã có một người đã từng chạm tay vào cái cột. Nhưng đó gần như là truyền thuyết vậy. Chẳng ai biết được người đó tên là gì. Họ chỉ đồn đại thế thôi.”

“Vậy biết đâu nó chỉ là một ảo ảnh.”

“Tôi cũng không biết. Cũng có lúc tôi từng nghi ngờ như anh. Biết đâu đó chỉ là một ảo ảnh. Nhưng bây giờ thì tôi tin, tôi tin rằng nó không phải là một ảo ảnh. Chắc chắn cái cột đó tồn tại, vấn đề là ở chỗ chúng ta có chứng minh được sự tồn tại của nó hay không thôi. Đã rất nhiều lần tôi tiến gần sát đến cái cột. Tất nhiên chỉ là cảm giác thôi, còn gần bao nhiêu thì tôi không biết. Chỉ cảm giác là rất gần. Nhưng rồi đột nhiên tôi mất tập trung, thế là con thuyền cuốn theo dòng nước. Thậm chí nó đi xa đến hàng cây số. Anh biết đấy, dòng nước chảy cực mạnh.”

“Nhưng nếu thế tại sao khi lên bờ chúng ta không tìm kiếm nó. Trên bờ chúng ta đi bộ và không còn chịu ảnh hưởng bởi bất kỳ dòng nước nào.”

“Mọi chuyện không đơn giản như vậy, anh bạn ạ. Nơi duy nhất mà từ đó chúng ta có thể nhìn thấy cái cột là trên dòng sông này. Nếu anh lên bờ, anh sẽ chẳng nhìn thấy cái gì. Hơn nữa có rất nhiêu trở ngại. Ông nội tôi nói rằng cái cột có lẽ bị chắn bởi một dãy núi và người ta không có cách nào tiếp cận được nó bằng đường bộ.”

Thuyền chúng tôi đi được một đoạn. Đúng như người hướng dẫn viên nói, nước sông chảy rất xiết. Chúng tôi tiến rất chậm. Người hướng dẫn viên cứ phải loay hoay chỉnh bánh lái. Có vẻ đây là một nhiệm vụ khó khăn đối với anh ta. Cứ xem cách anh ta loay hoay với cái bánh lái thì có thể đoán rằng kinh nghiệm trong những chuyến đi trước hoàn toàn không có ích gì. Có thể mỗi chuyến đi chỉ là một kinh nghiệm duy nhất, thiếu phổ quát để từ đó anh ta có thể rút kinh nghiệm cho những chuyến đi sau.

Anh ta cứ loay hoay như vậy suốt một tiếng đồng hồ. Con thuyền có vẻ đi đúng hướng. Người hướng dẫn viên tỏ ra hài lòng, mặc dù nét mặt anh ta vẫn còn đôi chút căng thẳng. Tôi nhìn ba người đồng hành. Họ vẫn im lặng.

“Tại sao những người này luôn im lặng nhỉ?” Tôi thì thầm hỏi người hướng dẫn viên.

“À, họ bị câm điếc. Cả ba người. Họ chẳng hiểu chúng ta nói gì đâu. Anh cứ việc nói to lên.”

“Họ là họ hàng à?”

“Không. Họ đi tìm người thân. Ông già đi tìm con trai và cháu nội. Cậu thanh niên đi tìm bố và con trai. Còn đứa bé, tất nhiên, đi tìm ông nội và bố. Nhưng họ chẳng có một mối liên hệ máu mủ nào cả dù, như anh thấy đấy, trông họ rất giống nhau. Họ trở thành những người đồng hành. Ba người lúc nào cũng đi cùng nhau. Họ gần như trở thành một khối không thể tách rời nhưng đáng tiếc họ lại không phải là người mà họ cần tìm. Đã gần một năm nay rồi, ngày nào họ cũng lên thuyền cùng tôi. Chắc họ hy vọng khi đến được cái cột bên kia bờ sông, họ sẽ tìm thấy người họ cần tìm. Tôi thì chẳng tin vào chuyện đó nhưng cũng không muốn làm cho họ tuyệt vọng.”

“Sao anh biết họ đi tìm người thân?”

“À thì người ta đồn vậy. Tôi cũng chẳng biết nhưng tôi nghĩ là đúng. Họ đang đi tìm người thân. Anh cứ nhìn vào mắt họ thì biết. Họ luôn ở tư thế đang đi tìm kiếm cái gì đó. Cái gì đó là gì nếu không phải là người thân.”

“Vậy còn cái cột? Sao anh biết họ cũng cần cập bến vào nơi có cái cột.”

“Cái này thì tôi đoán thôi. Người ta lên thuyền làm gì nếu như không để cập bến đúng vào nơi cần cập bến. Mà họ cứ hết ngày này qua ngày khác lên thuyền cùng tôi và tất nhiên chẳng bao giờ cập bến vào nơi có cái cột. Nếu chúng tôi cập bến đúng nơi cần phải đến thì có lẽ họ đã không còn lên tàu nữa.”

Ba người đồng hành dường như cũng hiểu được phần nào câu chuyện chúng tôi đang nói với nhau. Nét mặt của họ dần dần chuyển sang giận dữ. Có thể họ không muốn người khác soi mói chuyện riêng tư chăng? Hay họ đang che giấu sự nỗi sợ hãi rằng con thuyền đang đi không đúng hướng.

Tôi quay lại nhìn cái cột. Dưới ánh sáng trăng mờ mờ, nó hoàn toàn chẳng có gì đặc biệt. Tại sao người ta lại cố gắng phải cập bến đúng nơi đó? Liệu nó có khác những nơi khác không? Nếu một ngày kia họ phát hiện ra cái cột cũng chẳng có gì đặc biệt thì liệu họ có còn hứng thú cho một chuyến đi như vậy nữa hay không?

Đột nhiên con thuyền khựng lại và quay vòng tròn. Lúc đầu tôi nghĩ rằng có lẽ chúng tôi đã lọt vào một vòng xoáy. Nhưng không phải chỉ có thế. Hình như có rất nhiều vòng xoáy nối tiếp nhau. Chúng tôi vừa thoát khỏi vòng xoáy này thì lại bị vòng xoáy khác tấn công. Cứ như vậy khoảng nửa tiếng đồng hồ. Người hướng dẫn viên ra sức thoát ra khỏi những vòng xoáy. Cuối cùng thì anh ta cũng thành công. Nhưng khi mọi việc kết thúc thì anh ta bỗng nhiên mệt mỏi và buông xuôi bánh lái, rồi gục đầu xuống đầy thất vọng. Khi anh ta ngẩng mặt lên, khuôn mặt thẫn thờ như hóa dại.

“Thế là hết. Chẳng thể thay đổi được nữa rồi.” Anh ta rầu rĩ nói.

“Tại sao anh lại chắc chắn như vậy chứ?”

“Bố tôi dạy tôi như thế. Hầu như chẳng có cái gì sai. Mọi cố gắng bây giờ chỉ là vô ích. Tôi mệt quá rồi.”

“Nhưng chúng ta vẫn còn nhìn thấy cái cột cơ mà. Nếu cố gắng, biết đâu chúng ta lại tới đích.”

“Vô ích thôi. Cái cột bây giờ chỉ còn là ảo ảnh.”

“Thế cách đây một tiếng đồng hồ thì nó không phải ảo ảnh sao?”

“Tất nhiên là không. Khi đó nó là thực.”

“Sao anh biết?”

“Thì người ta bảo tôi thế. Mà sao anh hỏi nhiều thế?”

“Nhưng anh đã bao giờ thực sự trông thấy cái cột đâu?”

“Anh đừng làm tôi bực mình với những câu hỏi ngớ ngẩn nữa.”

“Để tôi thử xem sao?”

“Anh cứ thử đi. Đằng nào cũng thế rồi.”

Tôi cầm bánh lái, cố gẳng bẻ nó theo hướng cái cột nhưng có vẻ vô ích. Dòng nước quá mạnh.

“Khỉ thật!” Tôi nói. “Chúng ta không thể điều khiển được con thuyền.”

“Tôi đã bảo rồi mà. Giờ thì chúng ta chẳng thể làm gì được hết. Mà sao tôi chán cái bọn câm điếc kia thế không biết.”

“Anh nói gì?”

“Lũ câm điếc. Tôi chán chúng nó lắm rồi. Toàn mang rủi ro đến cho tôi. Suốt năm nay, tôi toàn gặp vận xui.”

“Vận xui gì vậy?”

“Đầu tiên bố tôi chết. Trước khi nhắm mắt, ông ấy dặn tôi không được bỏ nghề này. Sau đó thì vợ tôi bỏ đi. Cô ấy không chịu được nữa. Cô ấy bảo cô ấy không chịu được người chồng làm hướng dẫn viên du lịch, suốt ngày đưa khách đến một nơi chẳng bao giờ tới được. Tôi còn biết làm gì nữa? Nhà tôi ba đời làm nghề này. Tôi bỏ làm sao được.”

Khuôn mặt anh ta tức tưởi, gần như sắp khóc. Ba người câm điếc dường như cũng hiểu chúng tôi đang nói về họ. Họ càng trở nên giận dữ. Tất nhiên họ chẳng thể nói gì, chẳng thể biểu hiện gì ngoài sự tức giận trên khuôn mặt. Khi tức giận khuôn mặt họ gần như méo mó.

Con thuyền cứ thế lao đi vun vút theo dòng nước. Tôi nhìn về phía cái mà theo như lời người hướng dẫn viên du lịch lúc này chỉ còn là hư ảnh của cái cột. Thực sự mà nói, theo tầm ước lượng của tôi nó không cách xa bao nhiêu so với ban đầu khi chúng tôi bước lên thuyền nhưng không hiểu sao bây giờ nó lại gợi cho tôi cái cảm giác người hướng dẫn viên du lịch kia mãi mãi sẽ chẳng bao giờ tìm thấy cái cột. Chúng tôi cập bến vào một nơi lạ hoắc.

Khi tôi bước lên bờ, trời bắt đầu hửng sáng. Tôi quay mặt lại, trong phút chốc, con thuyền, người hướng dẫn viên du lịch, ông già, chàng thanh niên và đứa trẻ đã biến mất. Trên mặt sông chỉ còn là một vệt sẫm màu, dưới ánh sáng của buổi sớm mai, trông lạnh lẽo.