Thiên thần và Quỷ dữ - Bản dịch

Gaup
01-06-06, 00:13
Bên kia theo dõi thấy Tia với Quan Nhân dịch hơi bị vất vả mới cả chất lượng hơi bị chưa biết dịch xong thì để làm gì nên anh làm ra cái thread này để mọi người cùng dịch với nhau xong rồi vừa dịch vừa sửa. Bản tiếng Anh ở đây (http://merlin2.alleg.edu/student/s/serraoa/Dan%20Brown%20-%20Angels%20&%20Demons.pdf) cứ nối đuôi nhau mà dịch. Ai đang dịch cái gì thì nói cho các bạn biết để mọi người không bị chồng lấn. Cuối tuần vừa rồi các bạn trong ban tzv đã làm việc rất vất vả để dịch đuổi kịp Tia. Chân thành cảm ơn chú Bi, Đào, dì Hấp, bác PĐ, bạn Biển Xanh đã làm việc không kể ngày đêm đợt cuối tuần vừa rồi để đưa bản dịch đầu tiên ra cho công chúng.


SỰ VIỆC

Viện nghiên cứu khoa học lớn nhất thế giới là Ủy ban Nghiên cứu Hạt nhân Châu Âu (CERN) (1) gần đây đã thành công trong việc tạo ra những hạt phản vật chất đầu tiên. Phản vật chất giống hệt vật chất trừ việc nó bao gồm các hạt mang điện tích ngược lại với các hạt của vật chất thông thường.

Phản vật chất là nguồn năng lượng mạnh nhất mà loài người từng biết đến. Nó tạo ra năng lượng với 100% hiệu năng (phân hủy hạt nhân chỉ có hiệu năng 1,5%). Phản vật chất không gây ra ô nhiễm hay phát xạ và chỉ một giọt nhỏ là đủ để cung cấp năng lượng cho thành phố New York dùng trong một ngày.

Tuy nhiên vẫn có một điểm bất cập…

Phản vật chất rất không ổn định. Nó bắt cháy khi tiếp xúc với bất kỳ thứ gì …kể cả không khí. Chỉ một gam phản vật chất chứa năng lượng tương đương với một trái bom nguyên tử loại 20 kiloton – bằng với quả bom đã bị thả xuống Hiroshima.

Cho tới gần đây phản vật chất mới chỉ được tạo ra với lượng rất nhỏ (mỗi lần một vài nguyên tử). Nhưng mới đây CERN đã động thổ xây dựng một Máy Giảm tốc Phản Phô-tông là một cơ sở sản xuất phản vật chất hiện đại hứa hẹn tạo ra lượng phản vật chất lớn hơn hiện tại rất nhiều.

Câu hỏi lúc này là: Liệu loại phản chất rất bất ổn định này sẽ cứu giúp thế giới hay nó sẽ bị dùng để tạo ra loại vũ khí giết người ghê gớm nhất từ trước tới nay?

CHÚ THÍCH CỦA TÁC GIẢ

Các thông tin về tất cả tác phẩm nghệ thuật, lăng mộ, đường hầm và kiến trúc ở Rome đều chính xác (cũng như vị trí cụ thể của những thứ đó). Người ta vẫn có thể xem những vật này ngày hôm nay.

Hội Illuminati (2) cũng có thật.

---------
(1) Conseil Européen pour la Recherche Nucléaire – Tiếng Pháp trong nguyên bản.
(2) Illuminati – Những người được khai sáng, tiếng Ý trong nguyên bản.




MỞ ĐẦU

Nhà vật lý Leonardo Vetra ngửi thấy mùi thịt cháy và ông biết đấy là mùi thịt của chính ông. Ông nhìn lên một cách sợ hãi vào bóng đen đang đứng phía trên ông. “Ngươi muốn gì?”

“La chiave,” giọng nói tức giận trả lời. “Mật khẩu.”

“Nhưng … tôi không –”

Kẻ đột nhập ấn thêm lần nữa, khoan cái vật nóng trắng sâu vào ngực Vetra. Có tiếng thịt cháy xèo xèo.

Vetra thét lên vì đau đớn. “Không có mật khẩu nào hết!” Ông cảm thấy mình đang ngất dần đi.

Hình nhân kia trừng mắt. “Ne avevo paura. Ta cũng sợ là đúng thế.”

Vetra cố giữ tỉnh táo nhưng bóng tối dần bao phủ ông. Điều an ủi duy nhất của ông là biết rằng kẻ tấn công sẽ không bao giờ lấy được thứ mà nó đến để lấy. Một chốc sau gã kia lấy ra một con dao và đưa lên phía mặt của Vetra. Con dao lởn vởn trước mặt ông. Rất chậm chạp cẩn thận. Chính xác như một nhà phẫu thuật.

“Vì lòng yêu Chúa!” Vetra thét lên. Nhưng đã quá muộn.
Gaup
01-06-06, 02:33
1

Đứng trên những bậc cao của Kim tự tháp Giza người đàn bà trẻ cười rồi gọi với xuống. “Robert, nhanh lên anh! Em biết là đáng ra em phải lấy một người chồng trẻ hơn nữa!” Nụ cười của nàng như có phép lạ.

Anh cố gắng để tiến lên bằng cô nhưng thấy đôi chân mình nặng như đá. “Chờ anh chút,” anh khẩn cầu, “đi mà em…”

Trong lúc trèo lên anh cảm thấy cảnh vật xung quanh bắt đầu mờ dần. Có tiếng sấm vọng trong tai anh. Mình phải tới được chỗ cô ấy! Nhưng khi anh lại nhìn lên thì người đàn bà đã biến mất. Ở chỗ cô ấy vừa đứng có một ông già với hàm răng rụng gần hết. Ông già nhòm xuống, môi cong lại ra vẻ nhăn nhó. Bỗng nhiên ông ta thét lên đau đớn, tiếng thét vọng khắp sa mạc.

Robert Langdon giật mình tỉnh giấc khỏi cơn ác mộng. Chuông điện thoại bên giường anh đang reo. Vẫn còn ngái ngủ, anh nhấc điện thoại lên nghe.

“A lô?”

“Tôi đang tìm ông Robert Langdon,” có tiếng đàn ông đáp lời.

Langdon ngồi dậy trên cái giường trống của anh và cố gắng tỉnh lại. “Đây … là Robert Langdon.” Anh nhìn qua bên cái đồng hồ số. Lúc này là 5h18 sáng.

“Tôi phải gặp ông ngay.”

“Ai đây ạ?”

“Tên tôi là Maximilian Kohler. Tôi là một nhà vật lý hạt rời.”

“Ông nói nhà gì cơ?” Langdon chịu không tập trung nổi. “Ông có chắc là ông muốn gọi Langdon này không đấy?”

“Ông là giáo sư ngành hình tượng tôn giáo tại Đại học Harvard. Ông đã viết ba quyển sách về biểu tượng học và – ”

“Ông biết bây giờ mấy giờ không?”

“Tôi xin lỗi. Tôi có một thứ ông cần phải xem. Tôi không thể nói chuyện này qua điện thoại được.”

Langdon bật ra tiếng kêu vẻ hiểu biết. Những việc thế này đã từng xảy ra. Một trong những tai họa của việc viết sách về biểu tượng học tôn giáo là những cuộc gọi từ bọn cuồng giáo muốn anh khẳng định giúp cho dấu hiệu mới nhất mà Chúa mới gửi cho bọn họ. Tháng trước một vũ nữ thoát y ở Oklahoma đã hứa là sẽ cho Langdon hưởng một món dâm tình hạng nhất trong đời nếu anh chịu bay xuống và chứng thực hình thập tự xuất hiện nhiệm mầu trên vải trải giường của cô nàng. Langdon đã gọi đó là Tấm vải liệm ở Tulsa(3)

“Ông kiếm đâu ra số điện thoại của tôi?” Langdon cố tỏ ra lịch sự bỏ qua cho người kia chuyện giờ giấc.

“Trên internet. Ở trang mạng của cuốn sách của ông.”

Langdon cau mày. Anh biết thật chắc chắn rằng trên trang mạng của cuốn sách của anh không có số điện thoại nhà anh. Tay này rõ là đang nói láo.

“Tôi cần gặp ông,” người gọi nài nỉ. “Tôi sẽ trả ông nhiều tiền.”

Bây giờ thì Langdon bắt đầu giận. “Xin lỗi ông, nhưng thực sự là tôi-”

“Nếu ông đi ngay bây giờ, ông có thể tới đây lúc-”

“Tôi sẽ không đi đâu hết cả! Bây giờ mới có 5 giờ sáng!” Langdon bỏ máy và lăn ra giường. Anh nhắm mắt và cố ngủ lại nhưng làm thế chẳng được tích sự gì. Giấc mộng lúc trước đã in sâu vào đầu anh. Anh miễn cưỡng khoác cái áo choàng rồi đi xuống dưới nhà.


(3) Tên một thành phố thuộc tiểu bang Oklahoma. Đây là một cách gọi đùa nhại theo tên gọi “Tấm vải liệm ở Turin” tương truyền là tấm vải liệm Chúa Jesus khi chịu thập giá hình.
TheDifference
01-06-06, 13:55
Chân trần, Robert Langdon tha thẩn khắp căn nhà kiểu Victoria vắng lặng nằm trong khu Massachusetts của anh và cố chữa chứng mất ngủ bằng cách anh vẫn hay làm - một tách Nestle’s Quik nóng hổi. Ánh trăng tháng tư lách qua các khung cửa sổ xây chìa ra ngoài vào uốn lượn trên những tấm thảm phương đông. Các bạn đồng nghiệp của Langdon thường hay đùa rằng chỗ anh nhìn giống như một viện bảo tàng nhân chủng học hơn là nhà ở. Các hộc tủ chất đầy các cổ vật tôn giáo đến từ khắp nơi trên thế giới - một cái ekuaba Ghana, một cây thánh giá Tây Ban Nha bằng vàng, một tượng thần vùng quần đảo Cyclade trên biển Aegean, và một miếng thổ cẩm boccus Borneo hiếm có, biểu tượng cho sức mạnh vĩnh hằng của các chiến binh trẻ tuổi.

Khi Langdon ngồi trên chiếc rương bằng đồng của Maharishi - Nhà Tiên Tri Vĩ Đại và thưởng thức vị chocolate ấm áp, bóng anh hắt lên khung cửa sổ. Cái bóng méo mó và nhợt nhạt … như một bóng ma. Một bóng ma già nua, anh nghĩ, nhắc đến một cách tàn nhẫn rằng tinh thần trẻ trung của anh đang tồn tại trong một cái vỏ hữu hạn.

Dù không quá đẹp trai theo kiểu cổ điển, ở anh chàng Langdon 45 tuổi có cái mà các nữ đồng nghiệp vẫn gọi là sự quyến rũ “uyên bác” với những mảng hoa râm điểm trên mái tóc nâu dày, ánh mắt xanh thẳm và xuyên thấu, giọng nói trầm ấm cuốn hút và nụ cười mạnh mẽ, vô tư lự của một vận động viên thuộc đội thể thao trường đại học. Từng chơi môn lặn khi còn trong trường dự bị và đại học, Langdon vẫn giữ được thân hình của một vận động viên bơi lội với chiều cao một mét tám mươi, cân đối và tráng kiện, và được anh chú trọng duy trì bằng cách bơi năm mươi vòng một ngày trong hồ bơi trường đại học.

Các bạn của Langdon luôn coi anh là một người hơi khó hiểu - một người bị lạc giữa các thế kỷ. Vào các kỳ nghỉ cuối tuần người ta có thể thấy anh mặc đồ jeans xanh tha thẩn trong sân trường, đang bàn luận về đồ họa máy tính hay lịch sử tôn giáo với các sinh viên; vào một dịp khác lại bắt gặp anh trong bộ vest may bằng vải “tuýt” Harris với những họa tiết hoa mỹ, ảnh anh trong các trang tạp chí nghệ thuật được phóng to ra để trưng bày tại lễ khai trương các triển lãm tại các viện bảo tàng mà anh được mời đến diễn thuyết.

Tuy là một giảng viên cứng rắn và đòi hỏi một sự tuân thủ kỷ luật chặt chẽ, Langdon, hơn ai hết, lại là người truyền bá điều mà anh ca tụng là “nghệ thuật hài hước tinh tế và lành mạnh đã thất truyền.” Anh tận hưởng sự giải trí với một sự cuồng nhiệt dễ lây lan, điều đã đem lại cho anh tình cảm thân thiết như anh em từ các sinh viên của mình. Biệt hiệu của anh trong trường - “Cá Heo” – đề cập tới cả bản tính hòa nhã lẫn khả năng đã được huyền thoại hóa là lặn một hơi vượt qua toàn bộ đội hình đối phương trong một trận polo nước.

Đang khi Langdon ngồi một mình, chằm chằm nhìn một cách vô định vào bóng tối, sự yên lặng trong căn nhà lại bị phá tan, lần này do tiếng chuông của máy fax. Chán nản đến mức không bực mình được nữa, anh thở hắt ra một tiếng cười mệt mỏi.

Các con dân của Chúa, anh nghĩ. Hai ngàn năm chờ đợi Đấng Cứu Thế, và vẫn cứ cố chấp như quỷ.

Mệt mỏi, anh bỏ trả cái chén vào bếp và chậm chạp đi về phòng làm việc ốp gỗ sồi. Tờ fax mới nhận đang nằm trong khay. Thở dài, Langdon vơ lấy tờ giấy và nhìn vào đó.

Ngay lập tức, một cơn buồn nôn dâng lên.

Trên trang giấy là ảnh một xác người. Thân thể bị lột trần truồng, đầu bị vặn ngược, mặt xoay hoàn toàn ra phía lưng. Trên ngực nạn nhân là một vết bỏng khủng khiếp. Người đàn ông này đã bị đóng dấu … bị đóng dấu với một từ duy nhất. Đó là một từ mà Langdon biết rõ. Rất rõ. Anh nhìn trừng trừng vào các mẫu tự hoa mỹ mà vẫn không tin vào mắt mình.


http://upload.thanhnienxame.net/members/407024efb6.jpg


“Illuminati,” anh lắp bắp, tim đập thình thịch. Không thể nào …

Hết sức chậm chạp như thể lo sợ điều mình sắp chứng kiến, Langdon xoay ngược tờ fax. Và nhìn dòng chữ lộn ngược.

Ngay lập tức, anh cảm thấy hụt hơi. Giống như khi bị xe tải đâm vào. Gần như không tin vào mắt mình, anh xoay tờ fax lần nữa, đọc con dấu theo cả chiều thuận và chiều ngược.

“Illuminati,” anh lẩm bẩm.

Choáng váng, Langdon ngồi phịch xuống ghế và cảm thấy hoang mang tột độ. Dần dần, ánh mắt anh bị hút về phía cái đèn đỏ đang nhấp nháy trên máy fax. Người gửi tờ fax này vẫn còn đó ... chờ nói chuyện. Langdon nhìn chằm chặp vào tín hiệu nhấp nháy của cái đèn một lúc lâu.

Rồi run run, anh nhấc ống nghe lên.
TheDifference
02-06-06, 08:36
2.

Khi Langdon rốt cuộc đã nhấc máy, anh nghe giọng người đàn ông lúc trước: “Bây giờ ông quan tâm rồi chứ?”

“Phải! Thưa ông. Đúng là thế. Ông nói đi!”

“Vừa nãy tôi đã cố nói cho ông hiểu.” Giọng nói nghe cứng nhắc, và máy móc. “Tôi là một nhà vật lý. Tôi điều hành một cơ quan nghiên cứu. Chỗ tôi có một vụ án mạng. Và ông đã nhìn thấy xác chết.”

“Làm sao ông tìm được tôi?” Langdon hầu như không tập trung chú ý được. Đầu óc anh vẫn đang cố gắng rũ bỏ hình ảnh trên tờ fax.

“Tôi đã nói với ông rồi. Trên mạng toàn cầu. Trong trang web về cuốn sách của ông, Tính mỹ thuật trong biểu tượng Illuminati.”

Langdon cố tập trung tư tưởng. Cuốn sách của anh hầu như không được giới học giả chính thống biết đến, nhưng nó đã thu hút được một số lượng người đọc online đáng kể. Tuy nhiên, điều mà người gọi điện khẳng định với anh nghe vẫn không hợp lý. “Làm gì có thông tin liên lạc trên đó”. Langdon căn vặn. “Tôi biết chắc như thê.”

“Ở trung tâm nghiên cứu này, chúng tôi có dưới tay những người rất giỏi tìm kiếm thông tin về người sử dụng trên mạng.”

Langdon hoài nghi. “Nghe có vẻ như trung tâm nghiên cứu của ông biết rất nhiều về mạng.”

“Tất nhiên rồi,” người đàn ông đáp. “Chúng tôi đã phát minh ra nó.”

Trong giọng nói của người ấy có điều gì đó cho Langdon biết là ông ta không đùa.

“Tôi cần phải gặp ông,” người gọi khẩn khoản. “Đây không phải là chuyện ta có thể bàn trên điện thoại. Phòng thí nghiệm của tôi chỉ cách Boston có một giờ bay.”

Đứng trong ánh sáng nhá nhem tại phòng làm việc, Langdon săm soi tờ fax trong tay. Hình ảnh thật ấn tượng. Đây có lẽ là khám phá nổi tiếng nhất thế kỷ về khắc chữ, một thập kỷ nghiên cứu của anh được xác nhận chỉ bẳng một biểu tượng duy nhất.

“Việc gấp lắm,” giọng nói nài ép.

Ánh mắt Langdon dán chặt vào dấu hiệu. Illuminati, anh đọc đi đọc lại. Nghiên cứu của anh thường phải dựa vào các biểu tượng hóa thạch - các thư tịch cổ, những truyền thuyết - nhưng hình ảnh ngay trước mắt anh lại thuộc về thời hiện tại. Thời hiện tại! Anh cảm thấy mình là một nhà cổ sinh vật học đang phải mặt đối mặt với một con khủng long. Một con khủng long sống động.

“Tôi đã mạn phép điều một chiếc máy bay tới đón ông,” người đàn ông nói. “Nó sẽ tới Boston trong vòng hai mươi phút nữa”

Miệng Langdon khô khốc. Một giờ bay…

“Xin thứ lỗi cho sự vô phép của tôi” giọng đó nói. “Tôi cần ông ở đây.”

Langdon nhìn tờ fax lần nữa - một huyền thoại cổ xưa được xác nhận bằng giấy trắng mực đen. Và tiềm ẩn những ý nghĩa đáng sợ. Anh nhìn vô định qua cửa sổ. Những tia nắng ban mai đầu tiên đang rải rác trên những cây bulô vườn sau. Nhưng sáng nay, khung cảnh có cái gì là lạ. Với cái cảm giác kỳ lạ đang tràn ngập trong lòng, sự kết hợp của nỗi sợ hãi và niềm háo hức, Langdon biết rằng anh không còn lựa chọn nào khác.

“Ông đã thắng” anh nói. “Cho tôi biết phải đón máy bay ở đâu.”
TheDifference
03-06-06, 13:13
3.

Cách đó hàng ngàn cây số, trong một căn phòng tối tăm xây bằng đá từ thời Trung cổ, hai người đàn ông đang gặp gỡ.

“Benvenuto, ngươi thành công chứ?” con người quyền lực nói. Ngồi khuất sâu trong bóng tối, không ai có thể nhìn rõ ông ta.

“Si, perfectamenta!” Bóng đen đáp một cách rắn rỏi. Từng lời như được tạc vào vách đá.

“Và bất cứ ai cũng sẽ biết chuyện này do ai làm ra chứ?”

“Bất cứ ai.”

“Tuyệt lắm. Ngươi có cái mà ta muốn chứ?”

Cặp mắt đen như mực của tên sát nhân lóe lên. Hắn lấy ra một thiết bị điện tử nặng rồi đặt lên bàn.

Người ngồi trong bóng tối nói, vẻ hài lòng. “Ngươi làm tốt lắm”

“Được phục vụ cho hội là vinh dự của tôi” gã sát nhân nói.

“Giai đoạn hai sẽ bắt đầu sớm thôi. Hãy nghỉ ngơi tí chút. Đêm nay, chúng ta sẽ thay đổi thế giới.”

4.

Chiếc SAAB 900S của Robert Langdon vọt ra khỏi Đường hầm Callahan và chỉ một lúc sau, nó xuất hiện ở phía đông Cảng Boston, gần lối vào Sân bay Logan. Dừng lại tra bản đồ, Langdon tìm thấy đường Hàng Không và anh rẽ trái sau khi đi qua trụ sở cũ của Hãng Hàng không Miền Đông. Cách lối vào khoảng 300 thước Anh, một nhà chứa máy bay lấp ló trong bóng tối. Một số 4 lớn được sơn trên tường nhà. Anh tấp vào bãi đậu và ra khỏi xe.

Một người đàn ông với khuôn mặt tròn trong bộ đồ bay màu xanh xuất hiện từ phía sau khu nhà. “Ông Robert Langdon?” anh ta hỏi với giọng thân thiện. Langdon không thể xác định được khẩu âm của anh ta.

“Tôi đây,” Langdon vừa đáp vừa khóa cửa xe.

“Rất đúng giờ,” anh chàng kia nói. “Tôi vừa mới hạ cánh. Xin mời đi theo tôi.”

Trong khi họ đi vòng qua tòa nhà, Langdon cảm thấy căng thẳng. Anh không quen với những cuộc gọi điện bí ẩn cũng như những cuộc gặp gỡ bí mật với người lạ. Vì không biết cái gì đang chờ đón mình nên anh vẫn mặc bộ quần áo thường dùng khi lên lớp - quần vải chinos, áo cổ lọ, và 1 áo khoác may bằng vải “tuýt” Harris. Trong khi bước đi, anh vẫn nghĩ về bản fax trong túi áo khoác, và vẫn không thể nào tin vào hình ảnh in trên đó.

Viên phi công dường như cũng cảm nhận được sự căng thẳng của Langdon. “Thưa ông, ông không có vấn đề gì khi đi máy bay chứ?”

“Không có gì,” Langdon đáp. Những xác chết bị đóng dấu mới là vấn đề với tôi. Chỉ đi máy bay không thì cũng chưa đến nỗi nào.

Hai người đi hết chiều dài khu nhà để máy bay rồi vòng qua góc nhà để ra đường băng.

Langdon đứng sững trên đường đi, mồm há hốc, nhìn vào chiếc máy bay đang đỗ trên đường nhựa. “Chúng ta sẽ bay trên cái đó à?”

Người kia nhe răng cười. “Thích không?”

Langdon nhìn chằm chằm một lúc lâu. “Thích à? Cái x gì thế này?”

Chiếc máy bay trước mặt họ rất to, trông hơi giống một chiếc tàu con thoi, ngoại trừ phần mũi đã bị cắt đi, và do đó, trở thành một mặt phẳng. Đỗ trên đường băng, nó trông y hệt một cái nêm khổng lồ. Đễn nỗi lúc đầu Langdon nghĩ là anh hẳn đang nằm mơ. Cái này sẽ bay giống một chiếc Buick . Trên thực tế, nó hoàn toàn không có cánh - chỉ là hai chiếc vây ngắn ở phần sau của thân máy bay. Ở đuôi máy bay, hai chiếc cánh lái nhô lên trên lưng. Toàn bộ những gì còn lại là phần thân máy bay kín mít - dài khoảng 60 mét từ đầu đến đuôi – và dọc theo thân máy bay không có cửa sổ, không có gì hết.

“Đã được nạp 250 tấn nhiên liệu,” viên phi công giới thiệu, y như một ông bố đang khoe khoang về đứa con mới sinh của mình. “Bay bằng hydro lỏng. Vỏ được "dệt" từ titan và sợi cácbua silíc. Nó chịu được tỷ lệ lực kéo trên trọng lượng là 20:1 trong khi hầu hết các máy bay phản lực chỉ đạt tỷ lệ 7:1. Hẳn là giám đốc muốn gặp anh rất gấp. Thường thì ông ấy ít khi điều gã bự này đi lắm.”

“Vật này bay à?” Langdon hỏi.

Viên phi công mỉm cười. “Bay chứ.” Anh ta dẫn Langdon băng qua đường nhựa, về phía chiếc máy bay. “Tôi biết, mới trông cũng thấy choáng, nhưng ông nên làm quen với nó đi. Trong vòng năm năm tới, tất cả những gì ông thấy sẽ là những chú nhóc này - HSCT (High Speed Civil Transports) - Những Phương tiện Vận chuyển Dân dụng Cao tốc. Trung tâm thí nghiệm của chúng tôi là một trong những nơi đầu tiên sở hữu một chiếc.

Hẳn là 1 trung tâm thí nghiệm quái gở. Langdon nghĩ.

“Nguyên mẫu của cái này là một chiếc Boeing X-33,” viên phi công nói tiếp, “nhưng có hàng tá những loại khác - Phi thuyền Không gian Quốc gia, phi cơ Scramjet của người Nga, phi thuyền HOTOL của người Anh. Đây chính là tương lai, chỉ còn cần chút ít thời gian để công chúng làm quen với nó. Ông có thể chào tạm biệt các máy bay phản lực thông thường rồi.”

Langdon nhìn lên chiếc máy bay một cách thận trọng. “Tôi nghĩ là tôi thích một chiếc máy bay phản lực thông thường hơn.”

Viên phi công nâng chiếc cầu thang xếp vào máy bay lên. “Đường này, thưa ông Langdon. Làm ơn đi cẩn thận”

Vài phút sau, Langdon đã ở trong khoang hành khách vắng tanh và ngồi xuống hàng ghế đầu. Viên phi công cài dây an toàn cho anh rồi biến vào phần trước máy bay.

Thật lạ là khoang hành khách của chiếc máy bay này trông giống y như khoang hành khách của một chiếc máy bay dân dụng cỡ lớn, chỉ thiếu cửa sổ. Điều này làm Langdon cảm thấy khó chịu. Suốt đời mình, Langdon bị ám ảnh bởi chứng sợ không gian kín cấp độ nhẹ - di chứng của một tai nạn thời thơ ấu mà anh chưa bao giờ hoàn toàn bình phục.

Sự khó chịu của Langdon với các không gian kín không làm anh suy nhược, nhưng nó luôn làm anh chùng xuống. Nó thể hiện qua những phương thức tinh vi. Anh tránh các môn thể thao trong nhà như racquetball (quần vợt sân tường) hay squash , và anh đã rất vui vẻ bỏ ra cả một gia sản nhỏ để mua căn nhà kiến trúc kiểu Vitoria với trần cao thoáng gió mặc dù luôn sẵn có nhà ở giá hời của khoa. Langdon thường hoài nghi rằng sự say mê thế giới nghệ thuật của anh, từ khi còn là một cậu bé, bắt nguồn từ sự yêu thích các không gian rộng rãi ở các viện bảo tàng.

Các động cơ máy bay khởi động ầm ầm bên dưới, làm toàn thân máy bay rung chuyển. Langdon nuốt khan và chờ đợi. Anh cảm thấy máy bay bắt đầu lăn bánh. Tiếng nhạc đồng quê êm dịu phát ra từ những chiếc loa trên đầu.

Chiếc điện thoại trên vách bên cạnh anh kêu bíp bíp. Langdon nhấc máy.

“Xin chào?”

“Thoải mái chứ, ông Langdon?”

“Tuyệt nhiên không.”

“Đừng lo. Chúng ta sẽ đến đó trong vòng 1 tiếng.”

“Chính xác thì đó là ở đâu?” Langdon hỏi, nhận ra mình không biết gì về nơi sắp tới.

“Geneva,” viên phi công đáp, và tăng tốc. “Trung tâm thí nghiệm nằm ở Geneva.”

“Geneva,” Langdon lặp lại, cảm thấy khá hơn. “Ngoại vi New York. Thực ra tôi có họ hàng ở khu “Hồ Seneca”. Tôi không biết là ở Geneva lại có một trung tâm thí nghiệm vật lý”.

Viên phi công cười thành tiếng. “Không phải Geneva, New York, ông Langdon. Geneva, Thụy Sỹ.”

Mất một lúc lâu trước khi anh nhận ra từ cuối cùng có nghĩa gì. “Thụy Sỹ à?” Langdon cảm thấy các mạch máu chạy giần giật trong cơ thể.

“Tôi nghĩ anh nói trung tâm thí nghiệm chỉ cách Boston một giờ bay!”

“Đúng thế, ông Langdon.” Viên phi công cười khoái chí. “Chiếc máy bay này bay nhanh hơn vận tốc âm thanh 15 lần”.
TheDifference
03-06-06, 17:16
5.

Trên một đường phố châu Âu nhộn nhịp, tên sát nhân luồn lách xuyên qua đám đông. Hắn là một người đàn ông mạnh mẽ, rất linh hoạt với làn da ngăm đen và đầy nhục dục. Các cơ bắp của hắn vẫn còn cảm giác căng cứng do bị kích động bởi cuộc gặp vừa qua.

Mọi việc đã diễn ra trôi chảy, hắn tự nhủ. Cho dù ông chủ của hắn chưa bao giờ lộ mặt, hắn vẫn cảm thấy vinh dự được xuất hiện trước mặt ông ta. Có thật là mới chỉ 15 ngày kể từ khi ông ta liên lạc với hắn lần đầu tiên? Hắn vẫn nhớ từng từ của cuộc gọi…

“Tên ta là Janus” người gọi nói. “Theo một nghĩa nào đó thì chúng ta là anh em bởi có một kẻ thù chung. Ta nghe nói ngươi chuyên làm thuê.”

“Còn tùy vào chuyện ông đại diện cho ai” tên sát nhân trả lời.

Người gọi nói cho hắn biết.

“Ông đang đùa đấy à?”

“Ta nhận thấy là ngươi đã từng nghe nói tới chúng ta” người gọi đáp.

“Dĩ nhiên, hội kín này là một huyền thoại.”

“Nhưng ngươi vẫn nghi ngờ rằng ta là giả?”

“Ai cũng biết các đạo hữu đã tan biến khỏi thế giới này.”

“Một thủ đoạn khôn ngoan. Kẻ thù nguy hiểm nhất là kẻ không làm ai sợ.”

Gã sát nhân ngờ vực. “Hội vẫn tồn tại ư?”

“Ẩn sâu vào bóng tối hơn bao giờ hết. Cắm rễ vào mọi nơi mọi chỗ … thậm chí vào cả pháo đài linh thiêng của kẻ thù không đội trời chung của chúng ta.”

“Không thể nào. Bọn chúng là bất khả xâm phạm”

“Chúng ta có những cánh tay dài.”

“Không ai có thể với xa đến thế.”

“Ngươi sẽ tin, chóng thôi. Một minh chứng không thể chối cãi được về quyền lực của hội đã được biểu lộ. Một hành động duy nhất, bao gồm cả sự phản bội và sự thử thách.”

“Các ông đã làm gì?”

Người gọi nói cho hắn biết.

Mắt của gã sát nhân mở to. “Một nhiệm vụ bất khả thi.”

Hôm sau, các tờ báo trên toàn thế giới giật cùng một tít. Tên sát nhân trở thành một tín đồ.

Bây giờ, 15 ngày sau đó, niềm tin của tên sát nhân càng trở nên vững chắc, không còn một chút nghi ngờ nào nữa. Hội vẫn tồn tại, hắn nghĩ. Tối nay họ sẽ hiện diện để bộc lộ quyền năng.

Trong khi len lỏi qua các con phố, cặp mắt đen của hắn ánh lên đầy linh tính. Một trong những hội bí mật và đáng sợ nhất từng có trên trái đất đã yêu cầu sự phục vụ của hắn. Họ đã lựa chọn khôn ngoan, hắn nghĩ. Hắn có danh tiếng đảm bảo bí mật cho đến chết.

Cho tới lúc này, hắn đã phục vụ họ một cách đầy hiệu quả. Hắn đã giết người và giao vật đó cho Janus theo như yêu cầu. Giờ đây, mọi thứ phụ thuộc vào việc sử dụng quyền lực của Janus để đảm bảo vật đó được đặt đúng vị trí.

Vị trí đó …

Tên sát nhân tự hỏi không biết Janus làm thế nào để giải quyết một việc đáng kinh ngạc như thế. Rõ ràng người này có tay trong. Quyền lực của hội dường như không có giới hạn.

Janus, đây rõ ràng là một bí danh, tên sát nhân nghĩ. Hắn băn khoăn liệu đấy có phải là sự ám chỉ vị thần La Mã với hai khuôn mặt hay đề cập tới “mặt trăng” của sao Thổ? Dù thế nào cũng vậy. Quyền lực của Janus là vô hạn. Điều này đã được chứng minh mà không làm gợn lên dù chỉ một chút nghi ngờ.

Trong khi tên sát nhân đang đi, hắn tưởng tượng ra tổ tiên từ trên cao đang mỉm cười với hắn. Ngày hôm nay hắn đang chiến đấu trận chiến của họ, hắn đang chiến đấu chống lại cùng một kẻ thù mà họ đã chiến đấu chống lại hàng thế hệ, từ thế kỷ XI … khi mà những đạo quân thập tự chinh của kẻ thù lần đầu tiên cướp bóc đất đai của hắn, cưỡng hiếp và giết chóc các đồng bào của hắn, tuyên bố họ là bẩn thỉu, làm ô uế các đền thờ và thần thánh của họ.

Để tự vệ, tổ tiên hắn đã lập ra một đội quân nhỏ, nhưng đầy chết chóc. Đội quân ấy đã trở nên nổi danh trên khắp vùng đất đó như những người bảo vệ - những đao phủ thủ lành nghề phiêu lãng khắp các miền quê, tàn sát bất cứ kẻ thù nào họ bắt gặp. Họ nổi tiếng không chỉ vì những vụ chém giết tàn bạo, mà còn vì việc họ ăn mừng những vụ chém giết đó bằng cách tự dìm mình vào những cơn phê ma túy. Loại ma túy mà họ chọn là một loại thuốc làm say rất hiệu nghiệm mà họ gọi là Hashish .

Đến khi tiếng đồn về họ đã lan tỏa, những kẻ giết người này được biết đến bằng một từ duy nhất - Hassassin - “tín đồ của Hashish.” Cái tên Hassassin trở thành đồng nghĩa với cái chếttrong hầu hết các ngôn ngữ trên trái đất. Ngày nay từ đó vẫn được sử dụng, ngay cả trong tiếng Anh hiện đại … nhưng cũng như nghề giết người, từ này cũng đã tiến hóa.

Bây giờ thì nó được phát âm là assassin
VIETNAM
29-09-06, 10:49
Bác Gấu có hẳn file thì đưa lên cho em xin, em sẽ download về và đọc. em cám ơn bác.
Vernum
15-12-06, 19:40
cái này thôi rồi à các bác