Thú tội của một sát thủ kinh tế

tuananh247
07-04-06, 22:39
Khoảng hai năm nay, cuốn Confessions of an Economic Hit Man, Nhà Xuất bản Penguin, New York, của John Perkins đã trở nên một “hiện tượng” ở Mỹ (và đang lan ra nhiều nước khác). Dù tác giả là một người trước đây hầu như không tên tuổi, và cuốn sách không được một tờ báo lớn nào nói đến (mãi đến gần đây), nó đã leo lên hàng thứ sáu (vào đầu tháng 3-2006) trong danh sách các quyển bán chạy nhất. Cuốn sách cũng đang được nhiều đại học khuyến khích sinh viên đọc, và nghe đâu Hollywood cũng sẽ quay thành phim với tài tử Harrison Ford thủ vai chính.

Tóm tắt, đây là “hồi ký” của một nhân vật tên John Perkins, tự xưng đã từng làm “sát thủ kinh tế”. “Sát thủ kinh tế”, theo lời Perkins, là người được giới đại doanh thương Mỹ gửi sang các quốc gia đang phát triển để thực hiện những mưu đồ kinh tế đen tối nhằm phục vụ quyền lợi của giới này, và gián tiếp là của nước Mỹ. Cuốn sách là “tự thú” của Perkins về những “tội phạm” mà ông ta khai là đã làm trong thập niên 1970.

Tác giả kể: sau khi tốt nghiệp đại học, ông ta được một công ty tư vấn ở Boston (Mỹ) tuyển mộ làm chuyên viên kinh tế với hai nhiệm vụ. Đầu tiên, ông sẽ được gửi sang một quốc gia đang phát triển để biện minh (thường là dối trá) những dự án cơ sở hạ tầng (như xa lộ, đê đập, mạng điện...) cách nào để các quốc gia này vay được tiền của các tổ chức và ngân hàng quốc tế và, cùng lúc, giúp các đại công ty Mỹ (như Bechtel, Halliburton) “trúng thầu”. Sau đó, “sát thủ kinh tế” Perkins phải làm thế nào để các quốc gia ấy... phá sản, không trả được nợ. Khi đã sa vào hoàn cảnh ấy, các nước này phải nghe lời chủ nợ, trở thành một “đàn em” dễ bảo của Mỹ, cho Mỹ khai thác dầu hỏa và các tài nguyên thiên nhiên khác, lập căn cứ quân sự, hoặc ít nhất thì cũng bỏ phiếu theo Mỹ ở Liên hiệp quốc.

Sự nghiệp của Perkins bắt đầu ở Indonesia năm 1971 với nhiệm vụ lập một dự án mạng điện cho đảo Java. Ông ta nhận lệnh đưa ra những dự báo kinh tế cực kỳ lạc quan để USAID (Cơ quan Viện trợ kinh tế của Mỹ) và các ngân hàng quốc tế có thể cho Chính phủ Indonesia vay tiền. Tất nhiên, dự án ấy sẽ thất bại (hoặc không nhiều lợi ích như dự báo), Indonesia không thể trả nợ, và sa vào cái “còng” của Mỹ.

Chu toàn tốt đẹp sứ mạng ở Indonesia, năm 1972 Perkins được gửi sang Panama. Làm “cố vấn” cho “kế hoạch phát triển toàn bộ” của nước này, Perkins được sếp ra lệnh đề nghị một loạt dự án không thực tế, ngụy tạo các con số, tưởng tượng một tương lai sáng ngời cho Panama để Ngân hàng Thế giới đầu tư hàng tỉ đô la vào cơ sở hạ tầng ở nước này. Perkins cũng không quên gài vào những hợp đồng cho vay một số điều kiện mà chỉ các công ty Mỹ mới thỏa mãn được. Thâm độc hơn, vì Chính phủ Panama lúc ấy có thái độ “kình” Mỹ, cụ thể là muốn Mỹ trả lại kênh Panama, Perkins được chỉ thị phải làm sao để các nhà lãnh đạo nước này “nhu mì” hơn đối với Mỹ.

Song, có lẽ “thành tích” rực rỡ nhất của Perkins là ở Ảrập Saudi, nơi Perkins “hạ cánh” năm 1974. Như mấy lần trước, ở đây Perkins cũng được lệnh thổi phồng dự báo tăng trưởng để biện minh cho các món vay và các hợp đồng với các công ty Mỹ. Quan trọng hơn, Perkins thú nhận rằng, để tránh tái diễn cuộc khủng hoảng dầu hỏa như vào những năm 1970, ông ta được lệnh thuyết phục Chính phủ Ảrập Saudi (1) không để dầu hỏa chảy vào Mỹ bị gián đoạn, ở một giá “phải chăng”; (2) dùng tiền bán dầu hỏa để mua ngân khố phiếu của Mỹ; (3) rồi lại dùng tiền lãi để thuê các tập đoàn kinh doanh của Mỹ “hiện đại hóa” Ảrập Saudi theo kiểu phương Tây. Perkins khoe rằng ông đã biến Ảrập Saudi thành “con bò sữa có thể vắt đến ngày về hưu” cho ông và các sếp của ông, và tự đắc là “Bộ Ngân khố Mỹ thuê chúng tôi, trả lương chúng tôi với tiền của Ảrập Saudi, để xây dựng cơ sở hạ tầng ở đó, thậm chí nhiều thành phố của họ là hoàn toàn do chúng tôi xây dựng”.




Sau vài chuyến công tác nữa ở Iran và Colombia, Perkins giải nghệ “sát thủ” năm 1980. Bị “lương tâm cắn rứt” từ đó đến nay, ông ta viết cuốn này (dù bị cản trở nhiều lần, ông ta nói).



***

Phải nhìn nhận rằng Thú tội của một sát thủ kinh tế quả hấp dẫn như truyện gián điệp: những cái chết bí ẩn, những buổi trưa làm tình vụng trộm, những thành phố nhiệt đới có vẻ kỳ bí đối với người phương Tây, những cuộc trốn thoát trong đường tơ kẽ tóc. Tuy nhiên, đọc kỹ, có nhiều điều không ổn về tác phẩm lẫn tác giả này.



Trước hết, ai biết chút ít về thời cuộc, về chính trị thế giới, và không quá ngây thơ, hẳn sẽ không lấy làm lạ về những xì căng đan mà Perkins kể lại. Có ai lạ gì chuyện các nhà lãnh đạo những nước nhỏ, đang phát triển (và đôi khi của vài quốc gia đã phát triển) bị nước ngoài mua chuộc (bằng tiền hoặc bằng sex), bắt chẹt, hăm dọa... Thậm chí, áp lực này diễn ra một cách chính thức, công khai, ngay trong những cuộc gặp giữa các nhà lãnh đạo, bị báo chí phanh phui, lắm khi còn để lại dấu vết trong các hiệp ước thương mại. Đó là những chuyện “thường ngày ở huyện”. Có đại diện (thương mại, ngoại giao, quân sự...) nào của Mỹ (và hầu hết mọi nước khác) từ thấp đến cao, lại không sử dụng mọi thủ đoạn để đem lại lợi ích cho mình?



Đằng khác, chả lẽ lãnh tụ các nước chậm tiến không bao giờ phạm lỗi lầm, quyết định sai về dự án này, kế hoạch nọ và không tham ô? Cần gì những người như Perkins chỉ bảo, thúc giục? Và đúng là các tư vấn ngoại quốc hay thổi phồng triển vọng các dự án, song chắc gì chỉ các công ty ngoại quốc thủ lợi?



Cái mới lạ ở cuốn này là Perkins kể những thủ đoạn của các nhà ngoại giao, nhà kinh tế (thường là nghiêm trang đạo mạo) dưới dạng hồi ký hấp dẫn như một truyện gián điệp đầy tình tiết ly kỳ (có “sát thủ”, có rượu, có đàn bà, có án mạng, có hẹn hò giữa đêm khuya ở nhà ga, quán xá...), úp mở nghi vấn (nhưng không bằng cớ, thậm chí không đưa tên nhân chứng) về những “bí ẩn” trong cái chết của Tổng thống Kennedy, tướng Torrijos của Panama, ngay cả của mục sư Martin Luther King... Có thể Perkins nói thật, có thể ông nói phét. Làm sao biết được?



Hơn nữa, những chi tiết ông đưa ra lại làm cho người đọc thắc mắc thêm: cớ gì mà một công ty tư vấn to lớn, có uy tín lâu đời ở Boston lại chọn Perkins (lúc đó chưa đến 30 tuổi, mới xong cử nhân kinh doanh) để giao những sứ mạng quan trọng như vậy? Vài phân tích kinh tế của Perkins càng làm người đọc hoài nghi kiến thức của ông ta. Chẳng hạn, không ai hiểu biết về kinh tế lại so sánh doanh thu của xí nghiệp và GDP của quốc gia (hai phạm trù hoàn toàn khác nhau), để kết luận rằng công ty này “mạnh” hơn quốc gia nọ. Nhiều chi tiết trong sách là hoàn toàn sai. Chẳng hạn tác giả bảo rằng National Security Agency (cơ quan tuy rất lớn, song chỉ chuyên về mật mã) là một cơ quan kinh tế của Chính phủ Mỹ... Cũng nên để ý là hầu hết kinh nghiệm của Perkins là khoảng 30 năm về trước.



Tóm lại, Thú tội của một sát thủ kinh tế là một cuốn sách hấp dẫn, “mua vui cũng được một vài trống canh”, và nếu người đọc chưa bao giờ nghe về những thủ đoạn lươn lẹo, dối trá, quỷ quyệt, hắc ám của các đại công ty ở các quốc gia chậm tiến, thì cũng nên đọc để biết vài nét chính. Song, đối với những chi tiết về hành tung của tác giả, cũng như những gì mà ông không đưa bằng chứng, thì hãy cứ... tồn nghi.

từ TBKTSG.
-----------------
P.S: Em chưa bao giờ nghe về những thủ đoạn lươn lẹo, dối trá, quỷ quyệt, hắc ám của các đại công ty ở các quốc gia chậm tiến, thì cũng nên đọc để biết vài nét chính, bác nào có book này cho em xin :)
chairuou
08-04-06, 10:16
National Security Agency - Hay khi nói cái này ý tác giả muốn nói đến Ủy Ban Chứng Khoán Quốc gia nhỉ, em nge đồn cái UB này của chú SAM cũng quyền lực lắm? Có lẽ nào là lỗi chính tả khi in ấn để nó thành ra NSA không ợ ? còn chuyện vnexpress dịch sai cái UB chứng khoán này thì có lâu lâu rồi, nhớ hồi đó cũng cười được 1 lúc.
lý sáng chỉ
10-04-06, 10:52
Bác Tuananh47 muốn biết về cái déo gì "...thủ đoạn lươn lẹo, dối trá, quỷ quyệt, hắc ám của các đại công ty ở các quốc gia chậm tiến..." thì nên tìm hiểu ở VN trước, nhìn xa xôi làm déo gì.

Cái quote sau em đã tự tiện edit một số ngôn từ bỉ báng có thể làm rác tai các bác TL, phần còn lại em nghĩ rằng chắc nó cũng có 1 phần sự thật, vì theo lý thuyết Nói dối, người ta phải trưng ra một tí sự thật làm mồi trước đã, bác nào biết những thông tin liên quan thì vào cần phơm một phát thì tốt quá.

Có thật sự là những chiêu thức mà bác Tuananh47 đề cập ở trên đang được thi triển tại VN ko?



...các tổ chức tín dụng, hoặc các cá nhân có quyền quyết định trực tiếp (đặc biệt là các tổ chức tín dụng của chỉ một quốc gia như JBIC của Nhật Bản, và cũng là tổ chức đang tài trợ tín dụng cao nhất cho Việt Nam) đã lợi dụng để vơ vét lợi ích cho doanh nghiệp của họ, cho quốc gia họ. Bề ngoài thì họ tỏ ra là nhân đạo, tốt đẹp, khách quan, có xét duyệt cân nhắc từng chi tiết nhỏ và rất ưu ái giúp đỡ đất nước Việt Nam nhưng thật ra họ làm những việc đó chính là đang trực tiếp (xin nhấn mạnh từ này) bòn rút tài sản quốc gia của Việt Nam, họ muốn người dân Việt Nam nhiều thế hệ sau biến thành “con nợ” của họ. Rõ ràng họ làm những việc đó là có mục đích rất đen tối.

Xin đưa ra một số dẫn chứng rất điển hình để nhận thấy sự nguy hiểm, tàn bạo và hậu quả của nó:

- Các khoản tín dụng lớn cho Việt Nam vay chủ yếu là với mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông, điện lực và cấp thoát nước. Vậy một người có tri thức, hiểu biết và có lương tâm nào mà lại chấp nhận được giá thành trên luận chứng kỹ thuật, giá dự toán và giá thành thực tế chi phí cho công trình thực hiện toàn bộ dự án tại Việt Nam thì đều ngang bằng hoặc gần bằng với các công trình xây dựng tại Nhật Bản (đến trẻ con và những người kém hiểu biết nhất cũng không thể chấp nhận được sự thật phi lý đó, có lẽ vì thế mà giá nhà đất tại Hà nội mới đắt bằng đất ở Tokyo ?). Khi giải thích và giải trình những chi phí đó, bao giờ cũng có kiểu báo cáo thành tích rất quen tai như: tổng dự toán công trình A có thấp hơn công trình B đã thực hiện trước đây ..., tổng chi phí thực hiện dự án có giảm (x %) so với dự toán được duyệt, tiết kiệm cho Ngân sách (yz đồng) ... . Có lẽ cần phải nhắc lại cho mọi người rằng ở thời kỳ La Mã có “cái thước ngọc” là tiêu chuẩn đo lường cho cả xã hội, nếu viên quan giữ thước cắt bớt đi một chút là toàn bộ giá trị thật của xã hội sẽ thay đổi. Không hiểu Việt Nam lấy đâu ra cái “thước Made in Japan” để đo những dự án ở Việt Nam ?

- Tổ chức JBIC đưa ra những quy định rất khắt khe trong việc được nhận những khoản tín dụng của họ (thật ra việc này cũng chẳng có gì là lạ vì đó là những qui định của những người có quyền ra điều kiện với người khác, đang ban phát phương tiện, ban ơn cho người khác). Trên thực tế thì tất cả các khoản tín dụng cho vay của một quốc gia nào thì đều cho phép ưu tiên các doanh nghiệp của quốc gia họ, hoặc chỉ định sử dụng công nghệ, hoặc thiết bị của những quốc gia đó, và gần như 100% là sẽ do các doanh nghiệp của họ đóng vai trò “thầu chính”, điều đó là dễ hiểu và chấp nhận được hay không là tuỳ người sử dụng tín dụng, họ đâu có ép phải vay.

Thế nhưng những quy định của JBIC cho họ những đặc quyền còn hơn vậy rất nhiều và là những “đánh đố” để không có một tổ chức, quốc gia nào khác có thể can thiệp vào được. Họ hiểu được sự khó khăn của Nhà nước VN nên họ ra sức chèn ép, tạo ra những quyền lợi rất lớn cho các doanh nghiệp của Nhật trong suốt quá trình từ chuẩn bị dự án đến thực hiện và hoàn thành dự án. Chẳng hạn như quy định: chỉ duy nhất doanh nghiệp Nhật Bản và Việt Nam được tham gia dự án (không chấp nhận tất cả các hình thức liên doanh hoặc thầu phụ mà có các doanh nghiệp các quốc gia khác tham gia) họ làm như vậy là loại bỏ tất cả các đối thủ, chỉ còn lại các doanh nghiệp Việt Nam (không thể gọi là đối thủ) thì họ đưa ra các điều kiện như tài chính và kinh nghiệm (chẳng hạn như khả năng tài chính phải có 1 tỉ USD ..v.v và v.v...) để loại ra nốt. Vậy là chỉ còn duy nhất có một mình họ, nói gì cũng đúng, báo giá bao nhiêu cũng được. Cuối cùng các công ty của Nhật chỉ cần bắt tay với nhau vậy là hơn 80 triệu người dân Việt Nam để cho họ qua mặt. Vậy mới có việc công trình tại Việt Nam giá trị lại đắt ngang bằng tại Nhật Bản. Rất đơn giản vì việc thiết kế do họ, việc lập dự toán do họ, giá trị họ tính bao nhiêu mà mấy ông “chủ đầu tư” chẳng phải thông qua (vì sự bắt buộc, vì sự tham nhũng và không có năng lực). Cuối cùng đến giai đoạn thực hiện thì những cái gì có giá trị như máy móc thiết bị thì họ cung cấp, các “ông chủ” chỉ còn được họ giao cho những công việc lao động nặng nề, bán sức lao động lấy chút giá trị rẻ mạt, cũng là để chiếu cố với nước chủ nhà và để tỏ “tình hữu nghị”. Chính vì vậy theo con số của các chuyên gia kinh tế thì khoảng từ 25% đến 40% số tiền mà JBIC cho vay đã chính thức ở lại nước Nhật (đây là giá trị không cần phải giải ngân, vì tổng giá trị người Nhật giữ lại tính cả chi phí thực thì rất nhiều, có khi lên tới 80%). Thử hỏi nếu chỉ cần lãi suất 1/10 như vậy cả nhân dân Việt Nam, các kiều bào ở nước ngoài và các tổ chức tín dụng khác trên Thế giới sẽ dồn tiền để cho chính phủ Việt Nam vay có gấp bao nhiêu lần phải vay của người Nhật không ?

- Tổ chức JBIC vừa được quyền ăn vừa được quyền nói. Bên ngoài thì họ tỏ ra là có thiện chí giúp đỡ, có xét duyệt chiếu cố (trên thực tế thì hàng năm Việt Nam là quốc gia nhận được khoản tín dụng lớn nhất của JBIC, đây cũng là nguyên nhân khẳng định được cả mặt thật của vấn đề), tỏ ra ban ơn, gia ân. Rất nhiều lần JBIC huỷ bỏ các quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam mà cụ thể nhất là ở các dự án Nhà máy nhiệt điện Phả Lại 2 và hiện tại là Đường hầm Thủ Thiêm (cũng như ADB trong dự án Cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước thành phố Hồ Chí Minh), họ đã không chấp nhận quyết định trúng thầu của Thủ tướng Việt Nam vì nhà thầu đó không phải là đối tượng đã được họ chọn và phân chia quyền lợi từ trước. Vậy là Việt Nam chỉ còn biết làm lại quyết định khác để chọn nhà thầu mà các tổ chức tín dụng đ㠓chỉ định bán công khai”.
tuananh247
11-04-06, 08:50
kính bác Lý sáng trỏ :), em đâu muốn thế có điều ở VN thì ko ai viết thành sách cả, có chăng chỉ tìm thấy trên forum như những cái bác vừa nói ở trên,