Thơ Tây

Phương Thảo
04-04-06, 06:56
Isakawa Takuboky (Nhật Bản)

Thơ năm câu

1

Nơi giọt nước mắt

Vừa rơi

Đã thành một viên cát.

Ôi bây giờ ngươi nặng sao

Nước mắt.



2

Chàng trai kia

Cười thật hồn nhiên và thơ ngây.

Nếu chàng trai chết,

thế giới này

Sẽ buồn thêm một ít.



3

Tôi lại đi

Trên đất làng thân yêu của tôi.

Đôi chân bây giờ rất nhẹ.

Nhưng trái tim,

Trái tim tôi không thế.



4

Đầu thu

Nước sạch và trong.

các ý nghĩ tắm xong

Bước lên

lại hoàn toàn mới mẻ.



5

Một hôm, khi tôi cũng đói,

Ve vẩy chiếc đuôi gầy,

Con chó đói lại gần tôi, ghếch mõm

Như chìa tay.

Tôi thấy lòng nhẹ hơn.

(Thái Bá Tân dịch)
Phương Thảo
04-04-06, 06:59
Karen Lindsey (Mỹ)

Mẹ sầu bi

(thứ bảy Tuần thánh 1965)

I

Chung quanh cây thập tự

cỏ

đã chết.

Hôm qua

được tưới bằng máu người, và

nước mắt mẹ

cỏ mùa xuân đã nâu,

và rủ mềm và chết

Hôm qua mẹ đã khóc, hôm nay

mẹ chờ đợi;

nhưng ngày mai, Mẹ hỡi,

tảng đá ở cửa mồ

sẽ được nhấc ra,

những vết thương ác nghiệt và đỏ

trở thành lộng lẫy.

Và ngày mai cỏ sẽ sống.



II

ở đây, ở Hoa thịnh đốn,

cỏ thời xanh

và sống động.

Bị du khách dẫm đạp

không thôi,

cỏ đã lớn lên toàn thắng

sau khi họ đi qua.

Rõ rệt và dịu êm

mùi cỏ sống động

kêu lên với chúng ta

rằng cả chúng ta nữa chúng ta

cũng sống.



III

Mẹ ơi, hôm qua mẹ đã khóc

hôm nay mẹ đợi chờ,

nhưng ngày mai đã

Phục sinh...



IV

Trên một cánh đồng châu á,

cỏ

thời xanh.

Mẹ ơi, một người đàn bà khác

đang khóc, như đã khóc

hôm qua; bà không chờ đợi

gì hết

Con trai bà đã chết; nơi những

vết thương anh,

sâu bọ gặm nhấm thịt da;

máu anh và nước mắt mẹ anh

đã nhận chìm

vĩnh viễn

cỏ ngày xưa xanh.

Ôi, Maria,

mẹ hãy khóc đứa con này!

Nó không phải là thiên sứ

để lay vần

tảng đá

của cả ngàn cửa mồ.

(không biết tên người dịch)
Phương Thảo
04-04-06, 07:01
A.Akhmatova (Nga)

Lời thề



Và những gì hôm nay phải tạm biệt

người yêu

Cứ để nó kết thành nỗi đau trong

sức mạnh

Chúng ta thề với em thơ,

thề với người đã khuất

Không một kẻ thù nào chinh phục nổi

chúng ta.

1941

(không biết tên người dịch)
lão ma
04-04-06, 15:11
Nguyên tác các bài thơ đâu, sao không thấy?
Phương Thảo
03-11-06, 10:05
Lời cầu nguyện

Lermontov

Tôi cầu xin ngài hỡi Đấng Toàn Năng
Đừng kết án tôi và đừng trừng phạt
Bởi trần thế tối tăm như hầm mộ
Tôi vẫn yêu sự khủng khiếp này
Bởi ít khi vào được hồn tôi
Những lời ngài thiêng liêng sáng suốt
Bởi những quẩn quanh trong những sai lầm
Trí não tôi ở cách ngài xa lắc
Bởi phún thạch của dòng cảm hứng
Luôn trào lên trong ngực của tôi
Bởi những đợt sóng cuồng hoang dại
Khiến mắt tôi bị bóng tối che mờ
Bởi trần thế tôi quá ư gắn bó
Nên đến với ngài tôi e sợ làm sao
Và thường với thanh âm của những bài ca tội lỗi
Tôi đã chẳng nguyện cầu ngài hỡi vị thần linh

Giờ hãy dập tắt đi ngọn lửa diệu kỳ
Và cả đống lửa hồng đang cháy rực
Hãy biến trái tim tôi thành chai đá
Và hủy diệt cái nhìn thèm khát ở nơi tôi
Hãy cho phép tôi hỡi vị thần Sáng Tạo
Giải phóng mình khỏi sự mê đắm những bài ca
Thì khi ấy trên con đường hẹp của sự cứu rỗi
Một lần nữa tôi: lại hướng đến ngài.

(1829)

(Không biết tên người dịch)
_Khách
03-11-06, 10:11
Thơ Haikư:

Nhìn kỹ tôi thấy
Đóa Nazuna
Bên bờ giậu.

Basho
Thiên lương
09-11-06, 04:33
@Phương Thảo: Nhật gọi là Tây à? Lào mới là Tây còn Nhật là Đông thôi.
paraffin
16-02-07, 18:37
ARTHUR RIMBAUD

- Phương Thảo -

Tiểu sử Arthur Rimbaud chính là bài thơ hay nhất của y.

Arthur Rimbaud sinh ngày 20 tháng Mười năm 1854 tại Charleville, nằm ở vùng đông bắc nước Pháp. Cho đến năm 15 tuổi, y vẫn là một học sinh ngoan, giỏi Toán, tiếng La-tinh và có chút tài lẻ về thơ phú. Tuy nhiên, do không được nuôi dạy dưới mái trường XHCN, nên bản thân y đã sớm rơi vào con đường sa đọa. Trong một lần cay cú, y đã viết lên bức tường nhà thờ một tuyên bố rất bi đát "Thượng đế là cục cứt." Tuyên bố này về sau đã trở thành slogan của rất nhiều giáo phái bí mật.

Từ Charleville, Arthur nhảy tàu lên Paris, tất nhiên là y trốn vé. Tại đây, y đã gặp một thiếu nữ rất xinh đẹp. Theo bản năng của con đực, y buông lời tán tỉnh gạ gẫm nhưng không may cho y là khi đó mama đại tổng quản của cô nàng đỏng đảnh kia cũng có mặt ở đó. Hậu quả là Arthur nhận được những điệu cười hô hố của hai mẹ con nhà kia. Điệu cười táo tợn ấy, đầy chất khả ố cộng thêm cái nồng độ đậm đặc của sự đểu cáng khiến y không bao giờ quên. Y đã viết thư cho bạn miêu tả tâm trạng của y khi đó như sau "Tôi hốt hoảng như ba mươi sáu triệu con chó mới đẻ."

Thất bại trong lần tỏ tình đầu tiên, y tìm đến nhà Paul Verlaine xin tá túc. Và chính tại nơi đây, Verlaine đã làm cho y mở mắt ra rằng y không chỉ là một gã làm thơ siêu hạng mà còn là một tay pê-đê chính cống. Arthur cảm thấy như vừa tìm lại chính bản thân mình nhưng không may cho y là sau đó vợ của Verlaine, một con mụ quý tộc rởm đời nhưng lắm tiền đã lờ mờ linh cảm thấy có gì đó không bình thường và đã cấm cửa y. Arthur lại phải lang thang ở Paris và y viết cho Verlaine một lá thư hồng hồng tim tím rất chi là lâm ly, bi đát như sau

"Cứt. Verlaine ạ. Anh đã bao giờ nhìn thấy tôi ăn cứt chưa? Nếu anh mà nhìn thấy tôi ăn cứt thì anh sẽ thấy rằng nuôi tôi không đến nỗi tốn kém." Lá thư ấy khiến Paul Verlaine cảm động, y khóc sướt mướt mất mấy đêm liền, sau đó quyết định làm Juliette bỏ nhà đi theo Romeo.

Cái mối tình mèo mả gà đồng ấy kéo dài được khoảng 2 năm. Thế cũng đã là quá nhiều với một hành động táo tợn đi ngược lại thuần phong mỹ tục thiếu sự quản lý của các cơ quan chức năng. Kết quả là trong một lần cãi cọ, Verlaine đã bắn Rimbaud nhưng may cho y là đạn chỉ trúng tay, Verlaine chỉ bị kết án đâu có hai năm tù. Ra tù, Verlaine trở lại làm một người chồng, người cha gương mẫu.

Còn Rimbaud, với bản chất lưu manh sẵn có trong người, y quay về quê viết nốt tác phẩm "Một mùa ở địa ngục". Sau đó, y từ bỏ thi ca và bắt đầu đi hoang, khắp thế giới. Cuối cùng y quyết định lập nghiệp ở châu Phi với vai trò của một tay buôn lậu thuốc súng. Một điều ngạc nhiên là ở giai đoạn này, Arthur đã thành straight cứ như thể y chưa bao giờ từng là pê-đê vậy. Y có hàng tá nhân tình ở châu Phi.

Hoàng tử thi ca đã kết thúc cuộc đời mình ngày 10 tháng Mười Một năm 1891, hưởng dương ba mươi bảy tuổi, tại một bệnh viện ở Marseille, như một kẻ loser chính hiệu: nghèo đói, cụt chân và cô đơn.

Arthur Rimbaud có một ảnh hưởng rất lớn đối với các trường phái thi ca hiện đại như thơ siêu thực, thơ thế hệ Beat. Những người chịu ảnh hưởng của y nhiều vô kể, trong đó có thể kể đến: T.S. Eliot, Henry Millers, Bob Kaufman, Jim Morrison, Bob Dylan, John Lennon...

Ở Mỹ thậm chí người ta còn làm một bộ phim về cuộc đời y có nhan đề là Rambo, do tài tử Sylvester Stallone đóng vai chính. Tuy nhiên, nhân vật chính tức nhà thơ Rimbaud đã phải đổi tên vì người Mỹ đếch biết nói tiếng Pháp.
Phương Thảo
15-03-08, 20:28
Chinese Poem
by *. D. McClatchy

Whatever change you were considering,
Do not plant another tree in the garden.
One tree means four seasons of sadness:
What is going,
What is coming,
What will not come,
What cannot go.


Here in bed, through the south window
I can see the moon watching us both,
Someone’s hand around its clump of light.
Yours? I know you are sitting out there,
Looking at silver bloom against black.
That drop from your cup on the night sky’s
Lacquer you wipe away with your sleeve
As if its pleated thickets were the wide space
Between us, though you know as well as I do
This autumn is no different from the last.
Phương Thảo
23-05-08, 20:41
The rock
T.S. Eliot

The Eagle soars in the summit of Heaven,
The Hunter with his dogs pursues his circuit.
O perpetual revolution of configured stars,
O perpetual recurrence of determined seasons,
O world of spring and autumn, birth and dying!
The endless cycle of idea and action,
Endless invention, endless experiment,
Brings knowledge of motion, but not of stillness;
Knowledge of speech, but not of silence;
Knowledge of words, and ignorance of the Word.
All our knowledge brings us nearer to death,
But nearness to death no nearer to God.
Where is the Life we have lost in living?
Where is the wisdom we have lost in knowledge?
Where is the knowledge we have lost in information?
The cycles of heaven in twenty centuries
Brings us farther from God and nearer to the Dust.

The lot of man is ceaseless labor,
Or ceaseless idleness, which is still harder,
Or irregular labour, which is not pleasant.
I have trodden the winepress alone, and I know
That it is hard to be really useful, resigning
The things that men count for happiness, seeking
The good deeds that lead to obscurity, accepting
With equal face those that bring ignominy,
The applause of all or the love of none.
All men are ready to invest their money
But most expect dividends.
I say to you: Make perfect your will.
I say: take no thought of the harvest,
But only of proper sowing.

The world turns and the world changes,
But one thing does not change.
In all of my years, one thing does not change,
However you disguise it, this thing does not change:
The perpetual struggle of Good and Evil.