Hồ Chí Minh - Chân Dung Một Con Người

Nắng sớm
22-03-06, 09:23
Chào các bác!
Hôm nay em vừa sưu tập được một số thước phim lịch sử nói về Bác Hồ. Em muốn chia sẻ nó với anh em TL ta (Cũng vì em thấy nó rất hay và rất quý.)
Đáng lẽ ra em nên để Topic này trong Box '' Âm nhạc, điện ảnh, thể thao'' Hoặc '' Chuyện Nghiêm Chỉnh''. Nhưng em cảm thấy. Đây không phải là chủ đề để bàn luận, tranh cãi, càng không phải những bài ca câu hát hoặc những thước phim lãng mạn về tình yêu tình củm gì gì đó. Mà đây là những thước phim lịch sử, những thước phim để chúng ta có thể nhìn lại để hiểu thêm về đất nước, về con người và cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giành độc lập của Dân Tộc Việt Nam ta. Cũng có thể coi là sách. Thông thường thì người ta đọc sách. Nhưng có Phim, xem sách vậy. :D Quý lắm! Trân trọng lắm! Và cảm động lắm....
Chính vì thế em đặt nó trong Box này. Các bác Mod đừng di chuyển nó sang chỗ khác, các bác nhé! Các bác chú ý cho em. Mọi ý kiến bàn tán hoặc góp đều khuyến khích mang tính chất tích cực. Còn lại đồng chí nào ném đá phá hoại, các bác xóa triệt để hộ em. Không bàn cãi !



Hồ Chí Minh - Chân Dung Một Con Người

http://www.filefarmer.com/2/quangtuan/Bac_Ho/HCM_00.rar
http://www.filefarmer.com/2/quangtuan/Bac_Ho/HCM_01.rar
http://www.filefarmer.com/2/quangtuan/Bac_Ho/HCM_02.rar
http://www.filefarmer.com/2/quangtuan/Bac_Ho/HCM_03.rar
http://www.filefarmer.com/2/quangtuan/Bac_Ho/HCM_04.rar
http://www.filefarmer.com/2/quangtuan/Bac_Ho/HCM_05.rar
http://www.filefarmer.com/2/quangtuan/Bac_Ho/HCM_06.rar
http://www.filefarmer.com/2/quangtuan/Bac_Ho/HCM_07.rar
http://www.filefarmer.com/2/quangtuan/Bac_Ho/HCM_08.rar
http://www.filefarmer.com/2/quangtuan/Bac_Ho/HCM_09.rar
http://www.filefarmer.com/2/quangtuan/Bac_Ho/HCM_10.rar
http://www.filefarmer.com/2/quangtuan/Bac_Ho/HCM_11.rar
Hết :D

Các bác xem vui vẻ !

Còn đây là phần mềm hỗ trợ download :)
http://www.filefarmer.com/2/wolfensohn/idman404f.rar


Em xin nhấn mạnh một điều rằng. Em up bộ phim này lên đây hoàn toàn không phải với chủ nghĩa tôn sùng cá nhân, tôn thờ lãnh tụ một cách mù quáng. Mà càng không vận động các bác phải khen hoặc chê gì cả. Đơn giản là hiểu biết thêm về Đất nước ta trong những năm tháng còn chiến tranh


Ai cũng là con người cả. Nhân bất thập toàn. Em có ý tốt tặng các bác. Các bác cũng coi đây là một tư liệu, một bộ phim nói về một con người, một vị lãnh tụ của đất nước ta. Và tất nhiên, mọi con người đều phải gắn với lịch sử. Xem phim, hiểu thêm về lịch sử. Chứ không phải xem phim để lái ý tốt của người tặng sang kiểu quảng cáo, kiểu tôn sùng cá nhân. Như thế là ngu.
Các bác xem vui !
.
HTA
22-03-06, 09:38
Sói con chuyên môn áp đặt ý kiến! Gia trưởng, gái nó ghét lắm í. :D Thứ nữa là chú mắc bệnh Sùng bái cá nhân, Tôn thờ lãnh tụ, điều này thì cả ĐCS VN lẫn ĐCS TQ đều từng có thời lên án, và cố xóa bỏ. Thế nhé. :D Schlaf gut!
giangthufan
22-03-06, 09:50
Ồ anh Sohn em chuyên chửi gái, mở mồm ra là phịch phiếc kia mà?
Phản cảm ghê. Anh dùng nick khác dược không?
Nắng sớm
22-03-06, 09:53
Ồ anh Sohn em chuyên chửi gái, mở mồm ra là phịch phiếc kia mà?
Phản cảm ghê. Anh dùng nick khác dược không?

Chỗ nào đáng chửi thì phải chửi em ạ. Còn chỗ này không phải là chỗ để em vào ném đá.
giangthu
22-03-06, 10:04
Em cám ơn bác Hồ chí Minh quá sức. Nhờ quân bác vào Nam, ba em mới chạy thiếu điều tóe khói cho nên em mới qua Đài, qua Mỹ ở.

Đời đời nhớ ơn bác quá bác Hồ ơi!

Thật ra Hồ Chí Minh sáng lập hồng triều tại Việt Nam, Có cũng như không. Có thì cũng như vạch ra đường mới gian nan hơn chứ bất chiến tự nhiên thành nhiều khi cái lãnh thổ toàn Việt bây giờ nó ôm trọn như cả Đông Dương bán đảo. Đất nước lịch sử Việt Nam em rành sáu câu. Di sản này để mấy người theo đường khai sáng đang lo tìm cách giải quyết để hội nhập với thế giới.

Hồ Chí Minh cũng tương đương với Mao Trạch Đông ở đại lục cũng như Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn thôi. Đâu có khác gì đâu hả? Nước nào cũng tập thói tôn sùng lãnh tụ vì tâm linh bị trống trãi quá mà.
Nắng sớm
22-03-06, 10:09
Em up xong rồi, em đi ngủ. Các bác Mod trông hộ em. Cái này là phim, và phim để hiểu thêm về lịch sử chứ không phải chỗ để GT hoặc GTfan vào đây mà so sánh vớ vẩn và phát biểu linh tinh.
Các bác xét xem nhé. Nếu cảm thấy không phù hợp, không có sự tôn trọng cần thiết thì ngày mai em sẽ dẹp cái topic này.
giangthufan
22-03-06, 10:12
Đúng rồi chàng yêu.
Nhưng ví như cái anh diễn viên cả đời đóng vai cướp zật hãm hiếp lừa đảo, tự dưng sắm một vai lãnh tụ, thì rất gây phản cảm.
Thành thực khuyên anh nên dùng nick khác. Em không click vào mấy cái link của anh cũng vì lúc nào em cũng nghĩ anh không đứng đắn, chàng hỡi.


Chỗ nào đáng chửi thì phải chửi em ạ. Còn chỗ này không phải là chỗ để em vào ném đá.
HTA
22-03-06, 10:48
Thôi xong. Đề nghị mang chú Vốp fền dôn ra chi bộ đấu tố, rồi xử, có thể áp dụng mức án cao nhất, bắt chuổng cởi 10 năm, muỗi đốt không được gãi. :D Nghị quyết đang chống sùng bái cá nhân, mà chú lại định lập tôn giáo mới, huh? :D

Kô CT xóm đâu dồi?! Ra anh bẩu! :D
A.K
22-03-06, 11:13
Cu W xem lại mấy cái link cho anh. Đai hết rồi, chỉ có cái đầu tiên xem được vài phút rồi hết.

Gái Thu: tự do ngôn luận thì muốn nói cái gì cũng được. Nhưng trước hết nên biết phân tích các yếu tố lịch sử và đánh giá thành quả của một cá nhân đúng mực vào thời điểm bấy giờ. Nghe và xem đài châu á tự do quá rồi nhận xét linh tinh.
giangthufan
22-03-06, 11:23
Thế hả anh? Ta cũng có cái này hả anh? Em lần đầu nghe tới đấy.

....tự do ngôn luận thì muốn nói cái gì cũng được.....
HTA
22-03-06, 11:26
Em Thu, em Fan of Em Thu, nói chung thì diễn đàn này mở ra là mong muốn cả các bạn ở VN cùng tham gia. Mí em cứ nói mạnh quá, nó fireWall cho một cái thì có fải là mất đoàn kết không? Nói chung là chơi bời thì cũng nên í tứ. :D Trộm cắp tứ fương thì cũng nên để một fương lấy vợ chớ, đúng chưa nào hai em thân yêu của anh?! :)
giangthu
22-03-06, 11:40
Thật ra em nói thật lòng. Nghe sao nói vậy. Thời em ở New York, toàn chơi với Tàu Chợ Lớn, Bạc Liêu. Thật ra người Tàu nó xuề xòa ít ôm hận như người Việt. Mặc dù sau trận 75 nó mất nhà mất hãng xưởng nhiều hơn. Vậy mà khi ngồi chung với nhau đem các luận điệu trung dung đạo ra. Xong rồi cám ớn mấy ổng vô cướp nhà rượt người dữ quá cho nên nhờ vậy đám Hoa kiều mới chạy qua Mỹ sướng quá sức. Việt tịch Hoa kiều, một sớm một chiều thành Mỹ tịch Hoa kiều. Mấy cái chợ to to ở Little Saigon là do Hoa-kiều tại Việt sáng lập, xong rồi Việt Nam sau này mới làm theo. Rõ ràng là tái ông thất mã cho mấy người chạy khỏi mà.

Nhớ ơn, vâng nhớ ơn mãi mãi.
HaiDang
22-03-06, 11:55
Đời đời nhớ ơn bác quá bác Hồ ơi!

Anh cũng đời đời nhớ ơn Bác, nhờ có Bác mà đất nước ta vắng bóng bọn thiểu năng suy nghĩ bệnh hoạn tâm hồn như em giangthu anh !

Anh kính cẩn đề nghị em giangthu, để giữ mãi tình cảm anh em vui vẻ dù chỉ là trên mạng, em nên mãi mãi tránh xa những topic nghiêm túc như thế này cho anh nhờ. Anh chỉ sợ có ngày tình yêu mãnh liệt nổi lên anh không kìm được lòng mình, bay sang Mỹ tát cho em phát rụng mịa nó hết răng, nhá !

Em muốn chửi anh hồng vệ binh hiếu chiến thì cứ vô tư, còn lèm bèm ở mấy chỗ như thế này về những topic như thế này thì vô phép em, anh lại văng tục ra đây bây giờ.

Mịa nó cái đám TZV mù hết hay sao ? Nếu các chú không can thiệp thì cũng nên vứt cái hiến pháp TL vào sọt rác đi là vừa !
giangthufan
22-03-06, 12:06
Em không hiểu mấy.
Vậy là sao, chàng hỡi?


....Nếu các chú không can thiệp thì cũng nên vứt cái hiến pháp TL vào sọt rác đi là vừa !
giangthu
22-03-06, 12:27
Thật ra anh HaiDang đừng có mà làm trò "Bảo hoàng hơn vua". Buồn cười quá sức. Thật ra nước Việt Nam muốn tiền tiến thì nên cần mấy người như em là đúng nhất. Em đây vừa trình độ, vừa chuyên môn, lại vừa văn minh đương đại. Còn cứ mà hồng vệ binh mãi mãi thì đất nước làm sao sánh vai với các cường quốc năm châu. Em nói thật, rủi Bác Hồ mà sống lại bác thà chọn mấy loại tiểu bối bối như em khôn ngoan sáng suốt hơn chứ hồng vệ binh và đại cán chẳng qua khác gì nuôi con cún cún. Chung thành lắm nhưng coi bộ bắt làm thịt ăn cho bỏ ghét. Thật đấy! Đừng làm chuyện cho sủa trăng. Bác Hồ không có đi câu nệ như mấy hồng vệ binh đâu hả? Thật đấy.
Mecado
22-03-06, 12:39
Giangthu và fan của em có cần anh mở hẳn topic khác ở trong Hilton không ? Để hai em vào đấy hoài cổ và xả stress rồi mấy chú Hồng vệ binh vào chơi cho vui. Biết vậy nhưng nói ít đi một tý cho đỡ cay nghiệt được không hai em ? Anh cũng rất muốn nói chuyện với hai em. Nhưng anh không biết con mụ Hấp ở VN nó được mời đi uống cafe nói chuyện là nó sẽ yêu hai em lắm đấy ! Thân !
giangthu
22-03-06, 12:51
Nói cho thật là công bằng là ở Mỹ ở Tàu đều có người kính ngưỡng Hồ Chí Minh. Ngay cả ở Đài Loan cũng đâu có ai ác cảm gì đâu hả. Nhưng kính ngưỡng kiểu hồng vệ binh của Việt Nam chẳng qua là tự diêm dúa hóa phong cách mà đương sự cũng đâu có thích. Cho nên đó là căn bệnh tôn sùng. Ở bên Tàu người ta chỉ cần "nhân" hóa Lão Mao còn ở Việt Nam thì thi đua "thánh" hóa Bác Hồ. Như vậy là không được. Nhớ hồi nẳm ở California có một Việt Kiều yêu nước bắt chước thi đua gây phản cảm, phẫn nộ cộng đồng. Rõ ràng là tạo thế cho người bôi nhọ. Cho nên yêm ái theo kiểu HaiDang là sai lầm rồi. Lớn rồi thì không cần phải sợ ma và đòi bú mẹ. Làm như vậy nó rất là buồn cười. Thật đấy.
HaiDang
22-03-06, 12:58
Không sợ ma và đòi bú mẹ, không có nghĩa là quay lại chửi mẹ ! Ngu !
giangthufan
22-03-06, 13:06
Chị Giang em chửi mẹ hồi nào đâu Đèn Biển chàng hỡi?
Hay chị ý lỡ xúc phạm mẹ anh?
Nghe anh quát "Ngu!" em zật nảy mình. Oai thế chứ.


Không sợ ma và đòi bú mẹ, không có nghĩa là quay lại chửi mẹ ! Ngu !
giangthu
22-03-06, 13:08
Mẹ cũng có trăm thứ, chẳng qua nếu là mẹ mình, lòng lang dạ thú thì cũng đâu cần phải hiếu kính gì ráo.

Thật ra lúc xưa mình thù ba mình tại vì ổng có vợ bé. Nhưng sau này mình lớn lên nghe ổng nói con đi học nhiều điều con biết câu "tình bất tự cấm" không? Mình hiểu chuyện mới thương lại ổng. Thương ổng coi như là không còn liên minh với bà má ruột của mình. Nhưng thật sự mà nói tôn sùng cha mẹ cũng là một văn hóa hũ lậu. Sống hàu hòa là hiếu kính. Thờ mãi mãi thì làm sao mà tự lập tư duy mà trưởng thành cho được chứ! Lãnh tụ minh chúa cũng như vậy thôi. Hơn nữa thời đại này theo thể chế dân chủ cộng hòa đâu phải là ăn cơm chúa múa tối ngày mà bảo tồn tư duy thời phong kiến.
Happiness
22-03-06, 13:08
Bạn giangthufan những topic trước còn ăn nói có đầu có đũa 1 tí, đến giờ thấy giở chứng ra roài. Nhắc nhở là tiếp tục tình trạng spam lăng nhăng này sẽ được mời vào Hilton vô thời hạn.
HaiDang
22-03-06, 13:11
Cái thứ đến cha mẹ còn nhéo coi ra gì như em, anh bó tay.

Anh còn nhớ anh xem The Transporter, con bé Thư Kỳ nó bắn phát chết toi ông bố nó, nhưng vẫn phải thốt lên một câu "ổng có là thằng khốn nạn đi nữa thì vẫn là cha em".

Anh thật nhéo hiểu nước Mỹ văn minh kiểu gì mà lại giáo dục em thế này.

Mịa, nhéo nói nữa !

Còn cái thằng quạt kia, tránh xa anh ra :) Anh lạ gì âm mưu của mày :) Còn léo nhéo chàng ơi chàng hỡi nữa là anh thiến ! :)
giangthu
22-03-06, 13:16
Rõ ràng là em hiếu đạo hơn những đứa hiếu kính ngu xuẩn khác. Cuối cùng, ba má đều vui hết cả.

Em dạy má em nói một câu với ổng để ổng ghi nhớ:

"Anh chỉ cần bỏ chút quan tâm với em, còn những chuyện tình cảm bên ngoài có thể thương lượng". Thế là ổng thoát nạn ghen tuông mà bả cũng lấy lại đại thế. Cho nên em là đứa con có hiếu.
Happiness
22-03-06, 13:16
Còn Giangthu, nếu em thấy cả họ nhà em ở bển làm Mẽo da vàng là hạnh phúc sung sướng quá sức như vậy, thì việc tham gia một diễn đàn tiếng Việt với các bạn Việt về những chuyện Việt là không cần thiết, phỏng ạ?

Cho nên em còn tiếp tục những chiện tương tự, thì anh sẽ cho em cút khỏi diễn đàn ngay lập tức và vĩnh viễn, đúng như í em muốn, để em sung sướng cho trọn vẹn.
giangthufan
22-03-06, 13:21
Khiếp quá cô záo tha cho em đi.
Em đâu có định xì bam gì đâu, chẳng qua anh Hải Đăng cứ chưởi chị em ngu, mà chẳng thấy chỉ ra ngu chỗ nào. Em thì ngu thật, nên chỉ zám nói vậy thôi ạ.
Hay TL có phong cách chửi "Ngu" là khen?


Bạn giangthufan những topic trước còn ăn nói có đầu có đũa 1 tí, đến giờ thấy giở chứng ra roài. Nhắc nhở là tiếp tục tình trạng spam lăng nhăng này sẽ được mời vào Hilton vô thời hạn.
giangthu
22-03-06, 13:23
Đúng là nữa đêm gặp trúng đàn ông loại lãnh cảm mà. Đi Đài Loan, Nam Hàn gì đâu về mà cũng không khai tâm chút nào cả?
HaiDang
22-03-06, 13:28
Cái thằng quạt em dại này, ngu thì anh chửi là ngu, chẳng lẽ anh học mày anh chửi là khôn ?


Hay TL có phong cách chửi "Ngu" là khen?

Cái này nhéo phải phong cách TL. Cái này là phong cách riêng của em giangthu.


Thật ra em cũng có rất nhiều người hâm mộ. Cho nên chưởi chẳng qua là sự biểu cảm. Loại biểu cảm này có chút chuyên chính nhưng rất lãng mạn.
Happiness
22-03-06, 13:31
Quán triệt cho toàn thể các bạn, đối với các chủ đề về Đảng, Nhà nước và lãnh tụ, Thăng Long áp dụng cơ chế thông tin một chiều. Ca tụng khen ngợi thì thoải mái còn ngược dòng tức khắc sẽ bị đì, đì cũng thoải mái luôn, rất là tàn ngược mọi rợ, ko có công bình gì ráo.

Mọi thành viên tự nguyện tuân thủ theo sự bắt buộc của diễn đàn :D
Gaụp2
22-03-06, 13:34
Chú HaiDang vẫn là bạn Salut nhà mình đấy à?
lý sáng chỉ
22-03-06, 13:34
Chậc chậc, thôi để em phát biểu thế này cho nó... Trung dung nhá:

Mụ Giáng Thu Phong Nhũ Phì Nhồn có quyền phát biểu theo ý của mình, vấn đề là phát biểu như thế nào thì các bác TL sẽ từ từ dạy dỗ sau. Những cái déo giề mụ Thu béo phun ra chưa hẳn là sai, dưng như bác Gấu (hay bác Thỏ cũng déo nhớ nữa) đã nói thì vấn đề là Nhàm và Nhạt, nhá. Tuyền những thứ ai cũng biết cả, dưng cứ lải nhà lải nhải đến phát ngấy lên. Chiện thối nát chính trị thì hàng ngày người ta tiếp xúc trong nước đều đã thấy cả, cần déo giề mụ Thu béo phải... nhắc.
giangthu
22-03-06, 13:35
Hình như HaiDang này đang có lòng hâm mộ Giáng Thu từ trong nội tâm thâm xứ. Rõ ràng là để tâm về mình hơi nhiều. Mình quan sát thấy rõ là tâm hồn đang bị dao động bởi phong cách của mình. Rõ ràng, là gào thét để tự trấn an nội tâm nhưng thoát lời ra cũng như có chút dư vị khích tình. Tâm lý hữu tình hữu hận kiểu này mình rành sáu câu. Trong kiếm hiệp đầy. Ngọt ngào quá mà!
HaiDang
22-03-06, 14:15
Chú HaiDang vẫn là bạn Salut nhà mình đấy à?

Khồng, khồng và khồng !
Gaụp2
22-03-06, 14:28
Khồng, khồng và khồng !
Không phải salut thế sao cứ salut mãi thế? Chú không sợ salut nó salut cho 1 phát thì đời chú salut luôn à?
Nắng sớm
22-03-06, 14:37
Em đã cho tất lên host. Các bác down về xem.
Các bác TZV đâu hết rồi. Em thấy các bác nên chọn lựa một số bài viết trong này để giữ lại, còn một số bài của hai đứa GT và GTfan các bác nên xóa đi.
Chủ đề này em đã nói trước là không bàn tán. Em có ý tốt up lên tặng mọi người xem để hiểu thêm về lịch sử, đất nứơc và con người Việt Nam ta. Bác dù sao thì cũng là người đã khuất, chúng ta nên tỏ lòng kính trọng. Chỗ này không phải là chỗ để cho hai đứa GT và GTfan kia vào nói năng ngu như thế được.
Còn nếu các bác không có biệp pháp lọc những bài của hai em kia. Em đành phải chịu thôi. Nhưng em buồn. Và chán !
HaiDang
22-03-06, 14:42
Không phải salut thế sao cứ salut mãi thế? Chú không sợ salut nó salut cho 1 phát thì đời chú salut luôn à?

Chú phắn ra chỗ khác cho anh nhờ. Tự nhiên ở đâu nhảy vào đây định làm dân phòng dẹp lòng lề đường à ? Không mướn, nhá !

Anh salut em giangthu anh là một cách biểu cảm lãng mạn. Tầm chú không hiểu được đâu, về nhà mà chơi đồ hàng, nhanh !
Hồ Minh Trí
22-03-06, 15:01
Salut đi rồi, đến HaiDang
Ngửa mặt lên giời, chú sủa trăng!
Hỏi sao giăng tắt, sao giăng tắt?
Giăng tắt bởi vì chán chú Đăng.
HaiDang
22-03-06, 15:26
Hề hề ...

Chú Kòm có chán anh hay thích anh thì trái đất vẫn quay, mặt trời vẫn mọc đằng đông, giăng vẫn sáng đêm rằm, tóm lại là chẳng có vị gì đâu ! Chú với cả chú Ụp hàng dỏm đừng lẵng nhẵng theo anh thế, anh ngại !

Anh với em giangthu anh chửi nhau vốn là chiện riêng tây, vả lại ngày xưa có ai đó đã bẩu rằng thì là :"Trong tranh luận việc thằng này chửi thằng kia ngu là chuyện hết sức kinh thiên địa nghĩa !".

Các chú phắn khẩn trương cho anh nhờ, nhá !
late
22-03-06, 15:34
Mặt trời vẫn mọc đằng đông
Haidang anh vẫn cứ gồng được thôi
Vui nhì em giángthu ơi
Anh em mình nói tơi bời fo`rum
giangthufan
22-03-06, 18:44
Ghi nhớ nhất câu này. Phải thế chứ. Cô záo rõ ra bậc hảo hán. Luật nào ra luật ý. Chuẩn y.
Bi giờ em không còn lăn tăn gì nữa. Cô záo cũng không cần phải trách em là xì bam, nàng hỡi. Các hải đăng cũng không cần chửi em ngu. Hóa ra em thấy em ứ ngu cái gì hết.
Em cũng hoàn toàn chẳng lăn tăn tại sao các anh HaiDang, Sohn, etc.. chưa trở thành phế binh, suốt ngày chỉ phịch mồm trên TL rực rỡ đèn biển.


Quán triệt cho toàn thể các bạn, đối với các chủ đề về Đảng, Nhà nước và lãnh tụ, Thăng Long áp dụng cơ chế thông tin một chiều. Ca tụng khen ngợi thì thoải mái còn ngược dòng tức khắc sẽ bị đì, đì cũng thoải mái luôn, rất là tàn ngược mọi rợ, ko có công bình gì ráo.

Mọi thành viên tự nguyện tuân thủ theo sự bắt buộc của diễn đàn :D
Rio
22-03-06, 19:55
giangthu, giangthufan, 2 em lố bịch quá mức rồi đấy. Bức xúc day dứt lưu luyến quá khứ cái gì thì cũng đừng có dùng cái giọng chì chiết cay nghiệt kiểu thế, nó vận lại vào người đấy. Muốn đóng góp thì có tinh thần xây dựng tí đi, còn muốn phá hoại thì đi chỗ khác nhé, ở lại Mĩ mà phá hoại chúng nó, cho chúng anh nhờ.

giangthufan, em bảo mọi người không chỉ cho em cái chỗ ngu của em ở đâu hả, bởi vì nếu thế thì mọi người cứ phải đi theo quote lại tất tần tật những gì em nói ra mất thôi. Ngu một cách toàn thể toàn diện, lời nào cũng ngu câu nào cũng ngu, ngu từ cái nick ngu đi. Thế thì người ta chỉ có thể nói tẹt mẹ ra là đồ ngu cho nhanh.

Forum mà có chức năng filter thì anh đặt ngay 2 em giangthu, giangthufan lên đầu danh sách, đỡ bẩn mắt.
giangthu
22-03-06, 20:33
Những lời Hồng Giáng Thu thốt nên khiến bao nhiêu anh hùng cách mạng đổ lệ lăn tăn. Buồn chán bắt gián gián mà ăn hả. Lăn tăn nhỏ lệ hôm nay là thì sẽ không òa khóc đổ vỡ vào ngày mai.

Mộng tỉnh thời phân
Dạ trung mộng tỉnh thời phân
Lãng triều cổn cổn tiền đồ quang minh
(Hồng Giáng Thu)
giangthufan
22-03-06, 20:48
Một topic hay thế này mà không có cái gì để nói hay sao Rio chàng. Đồ xì bam. Cáu với gái là bất lực đó chàng.
Tháng này nhận lương chưa, tội nghiệp.
HTA
22-03-06, 21:22
Anh thấy tình hình tô bích này chả có gì để các fò gây hấn với nhau cả. :) Anh đăng quả Đôi mắt của Liệt sĩ Nam cao lên đây cho các fò đọc, coi có fải Chủ nghĩa Tôn sùng Cá nhân, thần thánh Lãnh tụ đã bị Đảng ta chửi từ lâu rồi không? Em Thu em anh chỉ là người thực hiện thôi. Mấy fò nên có một chút thiện cảm khi nói chuyện, như vậy mới tránh khỏi sự áp đặt í kiến.
________________

Ðôi Mắt



Anh thanh niên làng chỉ một cái cổng gạch nhỏ, quay lại bảo tôi:

- Ngõ này đây, ông Hoàng ở đây.

- Cám ơn anh nhé. Lát nữa tôi sẽ sang nhà anh chơi.

Tôi vỗ vai anh bảo vậy. Tôi toan vào. Anh vội ngăn tôi lại:

- Khoan đã. Anh để em gọi cho anh trong nhà xích con chó lại. Con chó to và dữ lắm.

Tôi mở to đôi mắt, khẽ reo lên một tiếng thú vị. Tôi nhớ đến những lần đến chơi nhà anh Hoàng ở Hà Nội. Bấm chuông xong, bao giờ tôi cũng phải chờ anh Hoàng thân hành ra nắm chặt cái vòng da ở cổ một con chó tây to bằng con bê, dúi đầu nó vào gầm cái cầu thang, rồi mới có đủ can đảm bước vội qua đằng sau cái đuôi nó để vào phòng khách.

Tôi rất sợ con chó giống Ðức hung hăng ấy. Sợ đến nỗi một lần đến chơi, không thấy anh Hoàng ra đứng tấn để giữ nó lại buồn rầu báo cho tôi biết nó chết rồi, thì mặc dầu có làm ra mặt tiếc với anh, thật tình thấy nhẹ cả người. Con chó chết vào giữa cái hồi đói khủng khiếp mà có lẽ đến năm 2000, con cháu chúng ta vẫn còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình. Không phải vì chủ nó không tìm nổi mỗi ngày vài lạng thịt bò để nó ăn. Anh Hoàng là một nhà văn, nhưng đồng thời cũng là một tay chợ đen rất tài tình. Khi chúng tôi đến nơi chỉ còn một dúm xương và rất nhiều bản thảo chẳng biết bán cho ai, anh Hoàng vẫn phong lưu, con chó của anh chưa phải nhịn bữa nào. Nhưng xác người chết đói ngập phố phường. Nó chết có lẽ vì chén phải thịt người ươn hay vì hút phải nhiều xú khí. Thảm hại thay cho nó.

Thế mà bây giờ đến thăm anh Hoàng ở chỗ gia đình anh tản cư về, cách Hà Nội hàng trăm cây số, tôi lại được nghe đến một con chó dữ. Thật là thú vị!... Tôi cười nho nhỏ. Chẳng biết tôi cười gì, anh thanh niên cũng nhe răng ra cười. Ðáp lại tiếng anh gọi, tiếng những chiếc guốc mỏng mảnh quét trên sân gạch nổi lên, lẹc khẹc và mau mắn. Một thằng bé mũ nồi đen, áo len xám, chạy ra. Một đôi mắt đen lay láy nhìn tôi...

- Bác Ðộ, ba ơi! Bác Ðộ!...

Thằng Ngữ, con anh Hoàng. Nó chẳng kịp chào tôi, ngoắt chạy trở vào, reo rối rít.

- Cái gì? Cái gì? Hừm!

Tiếng trầm trầm nhưng lại có vẻ nạt nộ của anh Hoàng hỏi nó. (Bao giờ nói với con, anh Hoàng cũng có cái giọng dậm doạ buồn cười ấy). Thằng bé líu ríu những gì tôi nghe không rõ. Rồi thấy tiếng thanh thanh của chị Hoàng giục con:

- Ngữ xích con chó lại. Xích con chó lại cái cột tít đằng kia.

Anh Hoàng đi ra. Anh vẫn bước khệnh khạng, thong thả, bởi vì người khí béo quá, vừa bước vừa bơi hai cánh tay kềnh khệnh ra hai bên, những khối thịt ở bên dưới nách kềnh ra và trông tủn ngủn như ngắn quá. Cái dáng điệu nặng nề ấy, hồi còn ở Hà Nội anh mặc quần áo tây cả bộ, trông chỉ thấy là chững chạc và hơi bệ vệ. Bây giờ nó lộ ra khá rõ ràng trong bộ áo ngũ màu xanh nhạt, phủ một cái áo len trắng nó nịt người anh đến nỗi không còn thở được.

Anh đứng lại bên trong cổng, một bàn tay múp míp hơi chìa về phía tôi, đầu hơi ngửa về đằng sau, miệng hé mở, bộ điệu một người ngạc nhiên hay mừng rỡ quá. Tôi có thì giờ nhận rõ một sự thay đổi trên bộ mặt đầy đặn của anh: trên mép một cái vành móng ngựa ria, như một cái bàn chải nhỏ.

Sửng người ra một lúc, rồi anh mới lâm li kêu lên những tiếng ở trong cổ họng:

- Ối giời ơi! Anh! Quý hoá quá!

Anh quay lại:

- Mình ơi! Anh Ðộ thật. Xa thế mà anh ấy cũng chịu khó đến thăm chúng mình.

Chị Hoàng lúc bấy giờ đã chạy ra, tay còn đang cài nốt khuy chiếc áo dài màu gạch vừa mới mặc vội vào để ra đón khách. Người đàn bà vồn vã:

- Mong bác mãi. Lúc thằng cháu mới chạy vào, nhà tôi cứ tưởng nó trông nhầm. Cứ tưởng bác ở cách hàng mười lăm hai mươi cây số...

Bắt tay tôi xong, anh Hoàng dịu dàng đẩy tôi đi trước. Chị vợ đã nhanh nhẹn chạy trước vào nhà, dọn bàn dọn ghế. Sao lại có sự săn đón cảm động như thế được? Tôi đâm ngờ những ý nghĩ không tốt của tôi về anh, từ hồi Tổng khởi nghĩa trở đi. Sau Tổng khởi nghĩa, anh Hoàng đối với tôi đột nhiên nhạt hẳn đi. Mấy lần tôi đến chơi với anh, định để xem anh thay đổi thế nào trong cuộc thay đổi lớn của dân tộc chúng ta, nhưng đều không gặp anh. Cửa nhà anh đóng luôn luôn. Thằng nhỏ nhà anh đứng bên trong cái cửa nhìn qua một lỗ con, bao giờ cũng hỏi cặn kẽ tên tôi, để một lúc sau ra bảo tôi rằng ông nó không có nhà.

Mấy lần đều như vậy cả nên tôi đã sinh nghi. Lần cuối cùng, trước khi bấm chuông, tôi còn nghe thấy tiếng vợ chồng anh. Nhưng thằng nhỏ vẫn quả quyết rằng ông bà nó về trại những từ tối hôm trước kia rồi. Ðã đích xác là anh không muốn tiếp tôi. Chẳng hiểu vì sao. Nhưng từ đấy tôi không đến nữa. Mỗi lần gặp nhau ở ngoài đường, chúng tôi chỉ bắt tay nhau một cách rất lạnh lùng, hỏi thăm nhau một câu chiếu lệ, rồi ai đi đường nấy. Tôi đã biết Hoàng vẫn có tính tự nhiên "đá" bạn một cách đột ngột, vì những cớ mà chỉ mình anh biết. Có khi chỉ là vì một tác phẩm của người bạn ấy được cảm tình của một nhà phê bình đã chê một vài tác phẩm của anh. Có khi cũng chẳng cần đến thế. Anh có thể là một người bạn rất thân của anh Hoàng khi anh chỉ là một nhà văn ở tỉnh xa chỉ góp mặt với Hà Nội bằng những bài gửi về đăng báo, nhưng nếu anh lại về sống hẳn ở thủ đô, giao thiệp với ít nhiều nhà văn khác, anh sẽ không phải là bạn anh Hoàng nữa. Có lẽ anh Hoàng biết cái giới văn nghệ sĩ Hà Nội chửi anh nhiều quá.
HTA
22-03-06, 21:22
Riêng tôi, trước đây, tôi vẫn không hiểu sao người ta có thể khinh ghét anh nhiều thế. Tận đến lúc bị anh đá tôi mới hiểu. Tôn còn được hiểu rõ ràng hơn. Vào cái hồi quân đội Ðồng minh vào giải giáp quân Nhật ở nước ta, một số gái kiếm tiền trút bộ đầm ra để mặc bộ áo Tầu. Còn anh bạn của tôi, chẳng biết bám được ông má chín nào, ra một tờ báo hằng ngày để chửi vung lên. Chửi hết cả mọi người rồi anh mới lôi đến một số bạn cũ của anh ra. Toàn là những người hiền lành, xưa nay chưa hề chạm đến một sợi tóc của anh. Nhưng tên họ trên những tờ báo của phong trào giải phóng quốc gia được hoan nghênh làm ngứa mắt anh. Anh hằn học gi mỉa họ là những nhà văn vô sản và cho họ là một bọn khố rách áo ôm đã đến ngày mả phát, ăn mặc và tẩm bổ hết cả phần thiên hạ. Tôi cười nhạt. Không phải tôi khó chịu vì những lời vu cáo của anh. Tôi khó chịu chính vì thấy đến tận lúc ấy mà vẫn còn một số nhà văn Việt Nam dùng ngòi bút mình để làm những việc đê tiện thế. Anh Hoàng vẫn là con người cũ. Anh không chịu đổi. Tôi đã tưởng anh với tôi chẳng bao giờ còn thân mật với nhau trở lại... Nhưng sao gặp tôi lần này anh lại hân hoan đến thế? Anh đã đủ thì giờ để lột xác rồi chăng? Hay cuộc kháng chiến mãnh liệt của dân ta đã quét sạch khỏi đầu anh những cái gì cũ còn sót lại? Thật tình, tôi rất cảm động khi nghe thấy anh kể lể:

- Chẳng ngày nào chúng tôi không nhắc đến anh. Nguyên một hôm xem tờ báo của ông hàng xóm thấy có bài của anh, tôi đoán anh làm tuyên truyền ở tỉnh này. Tiện gặp một cán bộ về làng, tôi nhờ gửi cho anh một bức thư. Cũng là gửi cầu may. Thật không dám chắc thư đến tay anh. Mà có đến, có lẽ anh nhiều việc, cũng khó lòng về chơi với chúng tôi. Thế mà lại được gặp anh. Trông anh không lấy gì làm khoẻ mà sao anh đi bộ tài thế? Mà sao anh lại tìm vào được đúng làng này? Hồi mới đến đây, tôi ra khỏi nhà độ mươi bước là đã lạc. Nhiều ngõ quá mà ngõ nào cũng giống ngõ nào. Có khi ra đồng về cũng nhầm ngõ...

Cái nhà Hoàng ở nhờ có thể gọi là rộng rãi. Ba gian nhà gạch sạch sẽ. Hàng hiên rộng ở ngoài. Sân gạch, tường hoa. Một mảnh vườn trồng rau tươi rười rượi. Xinh xắn lắm. Thích nhất là gia đình anh được ở cả nhà. Chủ nhân cũng là người buôn bán trên Hà Nội. Ông thường nhờ vốn liếng và mối hàng của vợ chồng anh. Còn gì hơn là lúc này trả nghĩa lại nhau. Ông đã dọn sang nhà ông bố ở liền bên, nhường lại nhà cho anh hoàn toàn sử dụng. Anh cho tôi biết thế và bảo tiếp:

- Giá chúng tôi chưa tìm được nhà ông thì chưa biết ra sao. Tôi thấy nhiều người tản cư khổ lắm. Anh tính có đời nào anh ruột tản cư về nhà em mà đến lú vợ đẻ, em bắt ra một cái lều ngoài vườn để đẻ!

Tôi cho anh biết người nhà quê mình có tục kiêng...

- Thì đã đành là vậy... Anh nói giọng tức tối và bất bình - Thì đã đành là vậy, nhưng lúc này còn kiêng kỵ gì? Mà có những thế thôi đâu! Thấy anh bây giờ khổ sở, em đã chẳng thương, lại còn xỉa xói, nhắc đến những lúc hoang phí trước để mà xỉ vả. Nào "lúc có tiền thì chẳng biết ăn biết nhịn để dè, chỉ biết nay gà mai chó!", nào "lúc buôn bán phát tài, bảo gửi tiền về quê tậu ruộng vườn thì bảo không cần vườn ruộng, để tậu nhà ở tỉnh kia, bây giờ không bám lấy nhà ở tỉnh đi?..." Tệ lắm! Anh tính mấy đời mới có một phen loạn lạc thế này? Có tiền, thằng nào chẳng ăn chơi? Có mấy người cứ còm cọm làm như trâu, ăn chẳng dám ăn, mặc chẳng dám mặc, ở thì chui rúc thế nào cho xong thôi, để tiền mà tậu vườn, tậu ruộng như họ?

Chị Hoàng tiếp lời chồng:

- Họ làm chính chúng tôi cũng đâm lo. Có thể nói rằng trong một trăm người thì chín mươi người cho rằng Tây không đời nào dám đánh mình. Mãi đến lúc có lệnh tản cư tôi vẫn cho là mình tản cư để doạ nó thôi. Thế rồi đùng một cái, đánh nhau. Chúng tôi chạy được người chứ của thì chạy làm sao kịp? May mà còn vớt vát được ít tiền, một ít hàng để ở cái trại của chúng tôi, ở ngoại thành. Khéo lắm thì ăn được độ một năm. Ðến lúc hết tất nhiên là phải khổ rồi. Chỉ sợ đến lúc ấy, họ lại mỉa lại. Thành thử bây giờ, lý ra thì có muốn ăn một con gà chưa đến nỗi không mua nổi mà ăn, nhưng ăn lại sợ người ta biết, sau này người ta nói cho thì nhục.

Họ tàn nhẫn lắm cơ, bác ạ!

Anh Hoàng cười:

- Mà sao họ đã bận rộn nhiều đến thế mà vẫn còn thì giờ chú ý đến những người chung quanh nhiều đến thế? Anh chỉ giết một con gà ngày mai cả làng này đã biết. Này, anh mới đến chơi thế mà lúc nãy tôi đã thấy có người nấp nom rồi. Ngày mai thế nào chuyện anh đến chơi tôi cũng đã chạy khắp làng. Họ sẽ kể rất rạch ròi tên anh, tuổi anh, anh béo gầy thế nào, có bao nhiêu nốt ruồi ở mặt, có mấy lỗ rách ở ống quần bên trái.

Tôi mỉm cười, cắt nghĩa cho anh hiểu: lúc này họ cần để ý đến những người lạ mặt tới làng. Tôi chắc mấy người nấp nom tôi là mấy người có trách nhiệm trong uỷ ban mấy anh tự vệ.

- Lại còn các ông ủy ban với các bố tự vệ nữa mới chết người ta chứ! Họ vừa ngố vừa nhặng sị. Ðàn bà chửa mà đến nỗi cho là có lựu đạn giắt trong quần! Họ đánh vần xong một cái giấy ít nhất phải mất mười lăm phút, thế mà động thấy ai đi qua là hỏi giấy. Anh đi, hỏi. Anh về, hỏi, hỏi nữa. Anh vừa ra khỏi làng, sực nhớ quên cái mũ, trở lại lấy, cũng hỏi rồi mới cho vào. Lát nữa anh ra, lại hỏi. Hình như họ cho cái việc hỏi giấy là thú lắm.

Anh cười gằn một tiếng, nhìn bao trùm cả người tôi, hỏi:

- Anh sống ở nhà quê nhiều, anh có hiểu tâm lý của họ không?

Anh thử cắt nghĩa hộ tôi tại làm sao họ lại nhiêu khê đến thế?

Từ trước đến nay, tôi chỉ hoàn toàn ở Hà Nội, thành thử chỉ mới biết những người nhà quê qua những truyện ngắn của anh. Bây giờ gần họ, tôi quả là thấy không nhịn được. Không chịu được!
HTA
22-03-06, 21:23
Nỗi khinh bỉ của anh phì cả ra ngoài theo cái bĩu môi dài thườn thượt. Mũi anh nhăn lại như ngửi thấy mùi xác thối. Vợ chồng anh thi nhau kể tội người nhà quê đủ thứ. Toàn là những người đần độn, lỗ mãng, ích kỷ, tham lam, bần tiện cả. Cha con, anh em ruột cũng chẳng tốt với nhau. Các ông thanh niên, các bà phụ nữ mới bây giờ lại càng lố lăng. Viết chữ quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên. Mở miệng ra là thấy đề nghị, yêu cầu, phê bình, cảnh cáo, thực dân phát xít, phản động, xã hội chủ nghĩa, dân chủ với cả dân tân chủ nữa mới khổ thiên hạ chứ! Họ mà tóm được ai thì có mà chạy lên trời! Thế nào họ cũng tuyên truyền cho hàng giờ. Có lẽ họ cho những người ở Hà Nội về như vợ chồng anh đều lạc hậu, chưa giác ngộ nên họ không bỏ lỡ một dịp nào để tuyên truyền vợ chồng anh. Mà tuyên truyền như thế nào!...

Anh trợn mắt bảo tôi:

- Tôi kể cho anh nghe chuyện này thế nào anh cũng cho là bịa. Nhưng tôi có bịa một tí nào, tôi chết. Một hôm, tôi đi chợ huyện chơi. ở nhà đã hỏi đường cẩn thận rồi, nhưng đến một ngã ba, lại quên béng mất, không biết phải rẽ lối nào. Ðành đứng lại, chờ có người đi qua thì hỏi. Chờ mãi mới thấy một ông thanh niên nghễu nghện vác một bó tre đi tới. Tôi chào rồi hỏi: "Ði chợ huyện lối nào, ông làm ơn chỉ giúp tôi!" Anh ta trố mặt nhìn tôi chẳng rằng chẳng nói, như nhìn một giống người lạ mới từ Hoả tinh rơi xuống. Tôi biết hiệu, rút giấy đưa cho anh xem rồi lại hỏi. Bây giờ anh ta mới bảo: "Ông cứ đi lối này, đến chỗ có một cây đa to thì rẽ về tay phải, đi một quãng lại rẽ về tay trái, qua một cách đồng, vào đường gạch làng Ngò, vòng qua đằng sau đình, rẽ về tay phải, đi một quãng nữa là đến chợ". Ðại khái thế, chứ không hoàn toàn đúng thế. Chỉ biết là nó lôi thôi rắc rối, nhiều bên phải bên trái quá, đến nỗi tôi không tài nhận nhận được. Anh ta bày cho tôi một cách: đứng đợi đấy, gặp ai gánh hàng đi chợ thì theo. Tôi cho là phải. Anh ta cười bảo: "Thôi thế chào ông. Cháu vô phép ông đi trước. Cháu vội lắm. Cháu phải vác ngay bó tre này lên Thượng để làm công tác phá hoại, cản cơ giới hoá tối tân của địch. Cuộc trường kỳ kháng chiến của ta phải chia làm ba giai đoạn: giai đoạn phòng ngự, giai đoạn cầm cự, giai đoạn tổng phản công. Giai đoạn phòng ngự nghĩa là..." Anh ta cứ thế, đọc thuộc lòng cho tôi nghe cả một bài dài đến năm trang giấy.

Chị Hoàng cười rú lên. Tôi cũng cười, nhưng có lẽ cái cười chẳng được tươi cho lắm. Anh thấy cần phải thề lần nữa:

- Tôi có bịa thì tôi chết. Mà tôi lại thề với anh rằng lúc ấy tôi ngạc nhiên quá, không còn cười được, vả lại cũng không dám cười. Cười, nhỡ anh ta đánh cho thì tai hại. Nhưng từ hôm ấy ngày nào tôi cũng bắt nhà tôi đóng cổng suốt ngày không dám đi đâu nữa.

Tôi cười gượng. Ðiều muốn nói với anh, tôi đành giấu kín trong lòng không nói nữa. Tôi biết chẳng đời nào anh nhận làm một anh tuyên truyền nhãi nhép như tôi. Vả lại dầu có rủ được anh làm như tôi, khoác cái ba lô lên vai, đi hết làng nọ đến làng kia để nhận xét nông thôn một cách kỹ càng hơn cũng chẳng ích gì. Anh đã quen nhìn đời và nhìn người một phía thôi. Anh trông thấy anh thanh niên đọc thuộc lòng bài "ba giai đoạn" nhưng anh không trông thấy bó tre anh thanh niên vui vẻ vác đi để ngăn quân thù. Mà ngay trong cái việc anh thanh niên đọc thuộc lòng bài báo như một con vẹt biết nói kia, anh cũng chỉ nhìn thấy cái ngố bề ngoài của nó mà không nhìn thấy cái nguyên cớ thật đẹp đẽ bên trong. Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm, người ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản.

Tôi biết lắm. Trước mặt người đàn anh trong văn giới ấy, tôi chỉ là một kẻ non dại, mới tập tọng học nghề. Bởi vậy tôi không dám nói hết những ý nghĩa của tôi ra. Tôi chỉ rụt rè và đưa ra vài điểm nhận xét:

- Có nhiều cái kỳ lạ lắm. Người nhà quê dẫu sao thì cũng còn là một cái bí mật đối với chúng ta. Tôi gần gũi họ rất nhiều. Tôi dã gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, theo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương. Nghe các ông nói đến "sức mạnh quần chúng", tôi rất nghi ngờ. Tôi vẫn cho rằng đa số nước mình là nông dân, mà nông dân nước mình thì vạn kiếp nữa cũng chưa làm cách mạng. Cái thời Lê Lợi, Quang Trung, có lẽ đã chết hẳn rồi, chẳng bao giờ còn trở lại. Nhưng đến hồi Tổng khởi nghĩa thì tôi đã ngả ngửa người. Té ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng, mà làm cách mạng hăng hái lắm. Tôi đã theo họ đi đánh phủ. Tôi đã gặp họ trong mặt trận Nam Trung Bộ. Vô số anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là "nựu đạn", hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh, mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm. Mà không hề bận tâm đến vợ con, nhà cửa, như họ vẫn thường thế nữa. Gặp họ, anh không thể tưởng tượng được rằng chính những người ấy, chỉ trước đây dăm tháng, giá có bị anh lính lệ ghẹo vợ ngay trước mặt cũng chỉ đành im thin thít mà đi, đi một quãng thật xa rồi mới dám lẩm bẩm chửi thầm vài tiếng, còn bao nhiêu ghen tức đành là đem về nhà trút vào má vợ.
HTA
22-03-06, 21:24
Hoàng nhếch một khoé môi lên, gay gắt:

- Nhưng anh vẫn không thể chối được rằng họ có nhiều cái ngố không chịu được. Tôi thấy có nhiều ông tự vệ hay cả vệ quốc quân nữa táy máy nghịch súng hay lựu đạn làm chết người như bỡn. Nhiều ông cầm đến một khẩu súng kiểu lạ, không biết bắn thế nào. Nước mình như vậy, suốt đời không được mó đến khẩu súng thì làm gì biết bắn, họ đánh mãi rồi cũng biết. Thì cứ để cho họ đánh Tây đi! Nhưng tai hại là người ta lại cứ muốn cho họ làm uỷ ban nọ, uỷ ban kia nữa, thế mới chết người ta chứ! Nói thí dụ ngay như cái thằng chủ tịch uỷ ban khu phố tôi ở Hà Nội lúc chưa đánh nhau, nó là một anh hàng cháo lòng. Bán cháo lòng thì nó biết đánh tiết canh, chứ biết làm uỷ ban thế nào mà bắt nó làm uỷ ban? Ông chủ tịch làng này, xem giấy của nhà tôi, thấy đề Nguyễn Thục Hiền, cứ nhất định bảo là giấy mượn của đàn ông. Theo ông ấy, thì đàn bà ai cũng phải là thị này, thị nọ. Chị Hoàng cười nhiều quá, phát ho, chảy cả nước mắt ra. Rút khăn tay lau nước mắt xong, chị chép miệng lắc đầu, bảo tôi:

- Giá bác ở đây thì nhiều lúc bác cũng cười đến chết. Thế mà ông chủ tịch ấy cứ nằn nì mãi hai ba lượt, yêu cầu nhà tôi dạy bình dân học vụ hay làm tuyên truyền giúp.

Anh chồng tiếp:

- Tôi chẳng có việc gì làm, lắm lúc cũng buồn. Nhưng công tác với những người như vậy thì anh bảo công tác làm sao được? Ðành để các ông ấy gọi là phản động.

Muống lảng chuyện, tôi hỏi:

- Lúc này nhiều thì giờ thế, chắc anh viết được. Anh đã viết được cái gì thú chưa?

- Chưa, bởi vì ngay đến một cái bàn viết ra hồn cũng không còn nữa. Nhưng thế nào chúng mình cũng phải viết một cái gì để ghi lại cái thời này. Nếu khéo làm còn có thể hay bằng mấy cái "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng. Phụng nó còn sống đến lúc này phải biết!

Cơm chiều xong vào lúc bốn giờ, Hoàng mời tôi cùng đi với vợ chồng anh đến chơi nhà mấy người ở phố cũng tản cư về. Có đâu một ông tuần phu về hưu, một ông đốc học bị thải hồi vì một vụ hiếp học trò, một cụ phán già trước đây chuyên môn sống về nghề lo kiện, hay chạy cửu phẩm cho thiên hạ. Anh chẳng ưa gì họ bởi vì họ chẳng biết gì đến văn chương nghệ thuật, chỉ tổ tôm là giỏi.

Nói chuyện với họ chán phè. Nhưng nếu chẳng giao thiệp với họ thì cũng chẳng biết đến chơi nhà ai được nữa... Anh vừa đi vừa tâm sự nhỏ với tôi như vậy, và thì hầm kề sát tai tôi những cái thối nát, ngu ngốc, gàn dở, rởm đời của từng người một, trong khi chúng tôi bước chầm chậm để đợi chị Hoàng ra sau chúng tôi một chút.

Chị Hoàng rảo bước để theo kịp chúng tôi. Hai má đỏ ứng vì lửa bếp. Chị cắt nghĩa sự chậm trễ của chị:

- Tôi xem lại nồi khoai lang vui, để lát nữa về ăn. ở đây cao lương mỹ vị chẳng có gì, nhưng được cái thức ăn vặt thì sẵn. Bác ở chơi đây, mai tôi xem nhà ai có mía to mua mấy cây về ướp hoa bưởi ăn thơm lắm.

Ðến một cái cổng gạch lớn có dây leo, anh Hoàng giật dây chuông.

Một thằng bé chạy ra, lễ phép chào:

- Lạy ông!

- Không dám. Cụ Phạm có nhà không cậu?

- Bẩm ông, cụ sang bên ông đốc.

- Sao thấy nói ông đốc ở đây từ sáng?

- Bẩm không ạ! Sáng nay không thấy ông đốc sang chơi bên này.

Chúng tôi quay trở lại. Qua mấy cái ngõ ngoằn ngoèo khác, đến một cái cổng gạch có dây leo khác. Một chị vú ẵm em đứng cổng:

- Lạy ông! Lạy bà!

- Không dám. Ông đốc có nhà hay đi chơi vắng?

- Bẩm ông, ông đốc con sang cụ tuần.

- Sao bên cụ tuần bảo sang đây?

- Bẩm ông, không ạ!

Anh Hoàng quay ra. Ði được mấy bước, anh quay lại khẽ bảo vợ:

- Các bố lại tổ tôm. Mụ Yên Kỷ cũng không có nhà, phải không?

Con mụ ấy cũng là đệ tử tổ tôm hạng nặng. Chắc họ tụ tập ở đây hay ở bên nhà cụ Phạm, sai người gác cổng.

Chị Hoàng không có ý kiến gì. Anh Hoàng vỗ vai bảo tôi:

- Anh nghĩ có buồn không? Tri thức thì thế đấy. Còn dân thì... như anh đã biết.

Tôi thầm rủa sự tình cờ sao lại xô đẩy anh về đây cùng với bằng ấy thứ cặn bã của giới thượng lưu trí thức. Sao anh không đi theo bộ đội, đi diễn kịch tuyên truyền nhập bọn với các đoàn văn hoá kháng chiến để được thấy những sinh viên, công chức sung vào vệ quốc quân, những bác sĩ sốt sắng làm việc trong các viện khảo cứu hay các viện quân y, những bạn văn nghệ sĩ của anh đang mê mải đi sâu vào quần chúng để học họ và dạy họ, đồng thời tìm những cảm hứng mới cho văn nghệ?

Tôi cười nhạt:

- Nghe anh nói, tôi nản quá. Như vậy cuộc kháng chiến của ta có lẽ đến hỏng à?

Anh chộp lấy câu của tôi, nhanh như một con mèo vồ con chuột:

- Ấy đấy, tôi bi lắm. Cứ quan sát kỹ thì rất nản. Nhưng tôi chưa nản có lẽ chỉ vì tôi tin vào ông Cụ. Tôi cho rằng cuộc Cách mạng tháng Tám cũng như cuộc kháng chiến hiện nay chỉ ăn vì người lãnh đạo cừ. Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn một nước như thế nào kia, mới xứng tài. Phải cứu một nước như nước mình kể cũng khổ cho ông Cụ lắm. Anh tính tượng trưng cho phong trào giải phóng cả một cái đệ tứ cường quốc là Ðại Pháp, mà chỉ có đến thằng Ðờ-Gôn.

Tôi nhắc đến tên mấy nhân vật kháng chiến khác của Pháp, còn đáng tiêu biểu bằng mấy Ðờ-Gôn. Anh lắc đầu:

- Bằng thế nào được Hồ Chí Minh!

Và anh tiếp:

- Ông Cụ làm những việc nó cừ quá, đến nỗi tôi cứ cho rằng dù dân mình có tồi đi nữa, ông Cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường. Những cú như cú Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 thì đến chính thằng Mỹ cũng phải lắc đầu: nó cho rằng không thể nào bịp ông già nổi. Thằng Pháp thì nghĩa là gì? Bệt lắm rồi. Không có thằng Mỹ xúi thì làm gì Pháp dám trở mặt phản Hiệp định mồng 6 tháng 3? Mình cho nó như vậy đã là phúc đời nhà nó lắm rồi. Ðáng lẽ nó phải bám chằng chằng lấy chứ?

Buổi tối ăn khoai vùi xong, uống mấy tuần trà rồi đi nằm sớm. Anh sợ tôi đã đi hàng mười cây số, lại ngồi nói chuyện suốt từ lúc đến, chắc không thể ngồi được nữa. Vả lại tuy chưa buồn ngủ nhưng nằm đắp chăn cho ấm và buông màn cho khỏi muỗi thì vẫn tốt. Hai cái giường nhỏ kề song song, cách nhau có một lối đi nhỏ. Màn tuyn trắng toát. Chỉ trông cũng đã thấy thơm tho và thoải mái.

Hoàng với tôi đi nằm trước. Một gói thuốc lá thơm và một bao diêm đặt ở bên cạnh cái đĩa gạt tàn thuốc lá ở đầu giường. Tôi để nguyên cả quần áo tây và chỉ ngay ngáy lo đêm nay một vài chú rận có thể rời sơ-mi tôi để du lịch ra cái chăn bông thoang thoảng nước hoa. Mọi hôm tôi vẫn đắp chăn chung với anh em thợ nhà in, cái giống ký sinh trùng hay phản chủ ấy, ở người tôi, không dám cam đoan là tuyệt nhiên không có.

Chị Hoàng thu dọn đồ đạc, đóng cửa, rồi đem một cây đèn to lại chỗ cây giường chúng tôi, lấy ra một cái chai. Anh Hoàng trông thấy, hỏi:

- Mình thắp đèn to đấy à?

- Vâng, tôi đổ thêm dầu đã.

Anh Hoàng hỏi tôi:

- Anh có thích đọc Tam Quốc không?

Tôi thú thật là chưa bao giờ được xem trọn bộ.

- Thế thì thật là đáng tiếc. Trong tất cả các tiểu thuyết Ðông Tây, có hai quyển tôi mê nhất là Tam Quốc và Ðông Chu Liệt Quốc. Về cái môn tiểu thuyết thì thằng Tàu nhất. Nhưng cũng chỉ có hai bộ ấy thôi. Thuỷ Hử cũng hay, chẳng kém Tam Quốc và Ðông Chu Liệt Quốc. Những tiểu thuyết khác hay đến đâu, anh cũng chỉ đọc một câu. Ðọc đến lần thứ hai là giảm thú rồi. Nhưng Tam Quốc với Ðông Chu thì đọc đi đọc lại mãi vẫn thấy thú như mới đọc.

- Anh có hai bộ ấy ở đây không?

- Bộ Ðông Chu mất ở Hà Nội, không đem đi được. Thế mới sầu đời chứ! Hận quá, may mà bộ Tam Quốc lại để ở ngoại thành, đem đi được. Nếu không thì buồn đến chết.

Anh gạt tàn thuốc lá rồi bảo tiếp:

- Sở dĩ lúc này tôi hỏi anh là có thích đọc Tam Quốc không là vì mỗi tối trước khi đi ngủ, chúng tôi có cái thú đọc một vài hồi Tam Quốc rồi mới ngủ. Nhưng hôm nay anh không biết có nên bỏ cái lệ ấy đi không? Nếu anh thích nói chuyện thì nghỉ một tối để chúng mình nói chuyện cũng chẳng sao.

Cố nhiên là tôi mời vợ chồng anh cứ giữ lệ thường. Anh có vẻ mừng rỡ lắm:

- Vâng, nếu anh cho phép thì ta cứ đọc. Chúng mình cùng nghe rồi lúc nào buồn ngủ thì ta ngủ. Tôi trông anh hơi mệt có lẽ cần ngủ sớm. Không biết đèn sáng lại đọc thế có phiền anh không?

Tôi cho anh biết là tôi vẫn ngủ ngay trong nhà in, đèn sáng và máy chạy ầm ầm, ở đây chăn ấm thế này thì dẫu súng có nổ ngay ở liền bên tôi vẫn ngủ ngon lành lắm... Anh cười cùng cục trong cổ như một con gà trống:

- Vâng, thế thì ta cứ đọc. Mình lấy ra đi.

Chị Hoàng chạy lại bíp lấy một quyển sách bìa dày, gáy da, đem lại.

- Mình đọc hay tôi đọc?

- Mình đọc đi.

Chị để cây đèn lên trên cái đôn thấp ở đầu giường, cởi áo dài lên giường nằm cạnh thằng con đã chui vào chăn trước.

- Hôm qua đọc đến đâu rồi nhỉ. Hình như...

- Không cần, mình đọc lại cái đoạn thằng Tào Tháo nó tán Quan Công ấy. Thế nào? Theo ý anh thì Tào Tháo có giỏi không?

Tôi trả lời qua loa cho xong chuyện:

- Tôi thấy nói là nó giỏi.

- Giỏi lắm anh ạ! Giỏi nhất Tam Quốc. Sao nó tài đến thế.

Chị Hoàng đã tìm thấy, bắt đầu cất tiếng thanh thanh đọc. Anh Hoàng vừa hút thuốc lá vừa nghe. Mỗi khi đọc đến đoạn hay anh lại vỗ đùi kêu:

- Tài thật! Tài thật! Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo.

Nam Cao -- 1948
giangthu
22-03-06, 21:51
Chuyện hay quá! Hay nhất là câu chưởi thề đoạn cuối. Thật ra thời đó coi bộ còn tự do dân chủ hơn thời này rồi á!
Happiness
22-03-06, 22:31
Giangthufan không nghe anh nhắc, vậy giangthufan vào Hilton.
Nắng sớm
22-03-06, 22:48
Các bác đọc kỹ cho em!


Em xin nhấn mạnh một điều rằng. Em up bộ phim này lên đây hoàn toàn không phải với chủ nghĩa tôn sùng cá nhân, tôn thờ lãnh tụ một cách mù quáng. Mà càng không vận động các bác phải khen hoặc chê gì cả. Đơn giản là hiểu biết thêm về Đất nước ta trong những năm tháng còn chiến tranh

Ai cũng là con người cả. Nhân bất thập toàn. Em có ý tốt tặng các bác. Các bác cũng coi đây là một tư liệu, một bộ phim nói về một con người, một vị lãnh tụ của đất nước ta. Và tất nhiên, mọi con người đều phải gắn với lịch sử. Xem phim, hiểu thêm về lịch sử. Chứ không phải xem phim để lái ý tốt của người tặng sang kiểu quảng cáo, kiểu tôn sùng cá nhân. Như thế là ngu.
Các bác xem vui !.
giangthu
23-03-06, 00:17
Thật ra tôn sùng thì cứ việc làm gì mà phải chối. Rõ ràng là hèn quá mà. Thật ra bên đại lục còn nhiều người sùng bái Lão Mao như thần thánh. Hàng năm còn hành hương về quê ổng. Nhưng thái độ của mấy loại nông dân hồng vệ binh này dứt khoát. Thờ Mao Trạch Đông như tính ngưỡng vì uy quyền lúc sinh thời của ổng to lớn bao trùm chẳng khác gì Tần Thủy Hoàng Đế. Chính phủ Trung Quốc không kích động chuyện này. Ở tại Nepal có phiến quân Maoist đòi lập thể chế nhân dân cộng hòa nhưng Trung Cộng còn hứa là giúp Nepal tảo thanh bọn sùng bái Mao Trạch Đông đi quậy thiên địa.
HaMinh
23-03-06, 07:46
Em lấy làm lạ là những loại như giangthu vẫn còn tồn tại trên Thăng Long sau rất nhiều bài post ngu xuẩn và bệnh hoạn. Mặc dù em rất thích câu: "Chó cứ sủa còn đoàn người cứ đi" nhưng nếu mà sủa dại quá thì theo lẽ tự nhiên phải tạch phải không ạ? Do đó, em đề nghị bác Hấp xóa nick giangthu và nhưng nick liên quan đồng thời ban ip vĩnh viễn để khỏi bẩn mắt mọi người. Em cảm ơn rất nhiều
HTA
23-03-06, 10:05
Xem fim thì có quyền nêu cảm nghĩ, chú cấm người ta bình luận vì cái cớ gì hả? Không fải là sùng bái, thần tượng thì là gì? Chú chửi người ta ngu, tại sao lại cấm người ta chửi người khác? :D Mà anh cũng nghi chú là gái, chứ é,o fải là giai, vì giai thì é,o ai lại nghĩ quẩn như thế. :D
HaMinh
23-03-06, 10:14
Xem fim thì có quyền nêu cảm nghĩ, chú cấm người ta bình luận vì cái cớ gì hả? Không fải là sùng bái, thần tượng thì là gì? Chú chửi người ta ngu, tại sao lại cấm người ta chửi người khác? :D Mà anh cũng nghi chú là gái, chứ é,o fải là giai, vì giai thì é,o ai lại nghĩ quẩn như thế. :D

Bác đọc lại xem, giangthu đã xem phim chưa hay người ta vừa post lên thì vào lèm bèm?
giangthu
23-03-06, 10:42
Sự nghiệp của lãnh tụ Hu Zhiming, mình rành sáu câu. Có điều là mình hạ tải không được nhưng chừng chừng cũng đoán được neirong rồi.
lamaquen
23-03-06, 11:50
Sự nghiệp của lãnh tụ Hu Zhiming, mình rành sáu câu. Có điều là mình hạ tải không được nhưng chừng chừng cũng đoán được neirong rồi.

GThu là Đài kiều, hiện sống tại Mỹ, có biết tiếng Việt. Các bác nên nhìn quan điểm của em nó như quan điểm của 1 người nước ngoài-thế mới khách quan được :)
Happiness
23-03-06, 14:03
Lút này, anh nói rồi, chửi ai thì chửi, ko động đến Đảng, Nhà nước và lãnh tụ. Khẳng định là cấm đấy, ko théc méc nữa nhé. Lút vi phạm thì anh cũng cho Lút kút luôn, khỏi lèm bèm.


Chú chửi người ta ngu, tại sao lại cấm người ta chửi người khác?
uzii
23-03-06, 14:06
GThu là Đài kiều, hiện sống tại Mỹ, có biết tiếng Việt. Các bác nên nhìn quan điểm của em nó như quan điểm của 1 người nước ngoài-thế mới khách quan được :)

Pậy, Kẩu Kiều, đang tranh đấu vì Kẩu Quyền ...
Tiểu Đông Tà
23-03-06, 14:07
Salut đi rồi, đến HaiDang
Ngửa mặt lên giời, chú sủa trăng!
Hỏi sao giăng tắt, sao giăng tắt?
Giăng tắt bởi vì chán chú Đăng.

Cho em hỏi hồi trước t/y Kòm có post vài phần trích trong cuốn Ho Chi Minh của William Duiker & cái link của Giao điểm. Nhưng chờ mãi mà nó chỉ có phần Lời giới thiệu. Anh có link nào khác không hay có file thì send em phát nhé.
Em cám ơn!
crocker
23-03-06, 15:14
Thật ra em nói thật lòng. Nghe sao nói vậy. Thời em ở New York, toàn chơi với Tàu Chợ Lớn, Bạc Liêu. Thật ra người Tàu nó xuề xòa ít ôm hận như người Việt. Mặc dù sau trận 75 nó mất nhà mất hãng xưởng nhiều hơn. Vậy mà khi ngồi chung với nhau đem các luận điệu trung dung đạo ra. Xong rồi cám ớn mấy ổng vô cướp nhà rượt người dữ quá cho nên nhờ vậy đám Hoa kiều mới chạy qua Mỹ sướng quá sức. Việt tịch Hoa kiều, một sớm một chiều thành Mỹ tịch Hoa kiều. Mấy cái chợ to to ở Little Saigon là do Hoa-kiều tại Việt sáng lập, xong rồi Việt Nam sau này mới làm theo. Rõ ràng là tái ông thất mã cho mấy người chạy khỏi mà.

Nhớ ơn, vâng nhớ ơn mãi mãi.

Bạn Giang Thu ơi, tớ thấy người nhà bạn giỏi quá, đi khắp 5 Châu 4 Bể. Người ta nói đi một ngày đàng học một sàng khôn, thế mới biết cái đống khôn của nhà bạn nó lớn thế nào, to như cái đống ở bãi Nam Sơn nhà tớ.
Nói vòng vo mãi chẳng bằng nói thật lòng, bạn đang phát huy truyền thống chu du thiên hạ nhận đá đít của gia đình đó. Nước Mỹ quả là tự do và nhân đạo nên nó cũng xếp cho một chỗ ở một trong những bãi rác của nó. Nhưng cũng xin nhắn bạn là cẩn thận không nó thấy khắm quá nó cũng lại đá đít bạn đấy. Nếu có thế thì cũng thành thật khuyên bạn một câu là đừng trở về VN giành buôn nước bọt với bọn tớ. Vì cái bọn an na mit chúng tớ nó chưa hết man ri mọi rợ đâu nên cách cư xử của nó chưa được nhân đạo lắm. Nó có thể giảm khung hình từ xử tử sang cắt lưỡi iến trym đó.
Chân thành khuyên bạn!
P/S: Mình mới vào nhìn bạn đã post được sáu trăm lẻ mấy chục bài thì cũng ngộ được cái sự độ lượng và kiên nhẫn của cái trường học này.
giangthu
23-03-06, 15:19
Vì cái bọn an na mit chúng tớ nó chưa hết man ri mọi rợ đâu nên cách cư xử của nó chưa được nhân đạo lắm

Đồng ý ở chỗ này. Câu này là tự nói đó nhe!
chu_van_quenh
23-03-06, 16:10
P/S: Mình mới vào nhìn bạn đã post được sáu trăm lẻ mấy chục bài thì cũng ngộ được cái sự độ lượng và kiên nhẫn của cái trường học này.

còn phải khâm phục cái gọi là Nghị lực ở Giangthu nữa :D
Nắng sớm
23-03-06, 19:15
Thế em hỏi các bác. Phim em úp có hay không ạ :D
Hị hị :D Chả thấy ai phát biểu cảm tưởng gì cả. Tủi thân ghê :D
HTA
23-03-06, 20:52
Cho em hỏi hồi trước t/y Kòm có post vài phần trích trong cuốn Ho Chi Minh của William Duiker & cái link của Giao điểm. Nhưng chờ mãi mà nó chỉ có phần Lời giới thiệu. Anh có link nào khác không hay có file thì send em phát nhé.
Em cám ơn!

Bác em lên BBC mà coi. Tuy nhiên, để xét về một con người chúng ta fải thực sự khách quan mà nhìn nhận, chứ đứng nghe lời xúi bậy linh tinh mà thành thử mất đi fương hướng. :D

Bác Happiness nóng tính thế. Em có chửi bới gì Đảng đâu? Em là con em cách mạng đấy, nói thiệt chứ không fải là đùa. Tuy nhiên, những cái gì thuộc về chuột thì vẫn cứ fải nói. :D Đó cũng là một sự bày tỏ tình cảm với đồng bào, quê hương mà bác em. Nóng thế bác. :D

Bác Hồ nói gì đi nữa thì vẫn là một vị lãnh tụ có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đối với không chỉ VN, mà cả trên thế giới. Do vậy, chẳng có gì đáng ngại khi mà chúng ta cùng thảo luận về Bác cả. :D Mặc dù kiến học thô thiển, nhưng em cũng đủ sức để chửi nhau với bất kì chú nào muốn bôi nhọ, hạ thấp đi những công lao đóng góp của Bác đối với nước nhà. :D
Pie
24-03-06, 06:37
Em không ngại quan trường cách trở mà tìm đến chốn Thăng Long hào hoa mong được diện kiến tương phùng với những bậc anh hào như Gaup, Happiness, hay HaiDang ... và vô số các bậc đàn anh khác...
Có điều em thấy lạ, tại saoThăng Long ta không đề cao việc chấp phát - xử hình ? Em ngưỡng mộ những bậc anh hào ở đây bao nhiêu thì lại thấy phiền lòng với những kẻ phá hoại bấy nhiêu...
Đành rằng, thiên hạ có kẻ này người nọ. Nhưng quân pháp thì bất vị thân, càng không phân biệt giới tính, người ra kẻ vào Thăng Long phải hiểu một điều cốt yếu, tôn trọng người khác cũng chính là tôn trọng mình... Cái đó được quy định trong Thăng Long đệ nhất hiến pháp rồi, khỏi nhắc lại ...
Mọi người được quyền bình đẳng nêu và bảo vệ chính kiến của mình, nhưng không phải vì thế mà dẫm lên thành tâm của người khác, đạp lên hiến pháp Thăng Long, phỉ nhổ lại cội nguồn và dân tộc mình...
Đôi điều lấy ra từ tâm, làm lễ vật diện kiến các đấng minh quân của Thăng Long, âu cũng là tâm huyết với một nơi hào kiệt quần hùng, khí khái ngàn năm, hào hoa nức tiếng...
Mong các bậc chấp pháp trưởng lão dùng luật để giữ lấy tình, dùng khí khái để thu hút hào kiệt bốn phương, để Thăng Long ta ngàn năm còn mãi ...
Cung kính !

PS: To Wolfensohn , đôi khi cũng thấy bác hơi trẻ con nhí nhảnh nhưng bác mở cái topic này được lắm. Tiêu đề khỏe khoắn, giản dị nhưng khí phách, nội dung phim chân thực và có tính lịch sử cao, xứng đáng là nét chấm phá mới cho đất Thăng Long văn hiến ta đó ! Bác cố gắng phát huy nhé !
giangthu
24-03-06, 21:04
đạp lên hiến pháp Thăng Long, phỉ nhổ lại cội nguồn và dân tộc mình...

Dân trí càng ngày càng biểu hiện thấp kém. Chắc là bố mẹ lúc xưa đi đấu tố địa chủ hăng say lắm hả! Ngu thấy rõ.
Gaup
24-03-06, 21:17
Mấy ngày vừa rồi anh nghe thấy nhiều người kêu ca về Giangthu. Anh sẽ mở một thread bên trưng cầu dân ý để xem các bạn muốn giải quyết việc này thế nào. Trưng cầu dân ý kiểu này chắc không thể bảo là không dân chủ.
Hồ Minh Trí
24-03-06, 22:31
Cho em hỏi hồi trước t/y Kòm có post vài phần trích trong cuốn Ho Chi Minh của William Duiker & cái link của Giao điểm. Nhưng chờ mãi mà nó chỉ có phần Lời giới thiệu. Anh có link nào khác không hay có file thì send em phát nhé.
Em cám ơn!
Anh xin cáo lỗi với em TĐT rằng anh độ rày khá bận nên không còn nghiên cứu về lãnh tụ HCM nữa mà chuyển sang nghiên cứu về Ông cụ. Dạo này anh được gặp Ông cụ thường xuyên, từ khi ở ẩn đến nay ông cụ đang ấp ủ viết hồi ký nên cụ thường gọi anh đến nghe ông cụ kể có anh ghi chép. Hồi ký dự định mang tên "Phải Gió - Hồi ức một hải đăng". Thật không ngờ hồi trẻ cụ hoạt động cách mạng dẻo dai thế mà giờ đây vẫn còn rất minh mẫn và phong độ. Hầu hết các thành viên ở đây đều xuất hiện trong các chương trong hồi ký ông cụ. Tuy nhiên anh chỉ quan tâm đến các chương ông cụ viết về hậu cung TL. Giờ anh đang ghi chép đến chương Mây, đã gặp khá nhiều sự kiện bất ngờ và thú vị. Cụ còn bật mí với anh trước rằng đến chương Xuân chương Xoan chương late sẽ hứa hẹn nhiều tình tiết hấp dẫn hơn nữa.

Nếu em quan tâm thì ráng chờ, anh sẽ send em dăm phát nếu Ông cụ cho phép.
Mây
24-03-06, 22:42
Mũi Kòm dài ra rồi kìa.
TrueLie
25-03-06, 06:15
The ballad of Ho Chi Minh
Autore: Ewan MaCall
Anno: 1954
Tematica: antimperialisti -
N. visite: 291

» scarica pdf: testo



Far away, across the ocean
Far beyond the sea's eastern rim
Lives a man who is Father of the Indochinese people
And his name is Ho Chi Minh!

Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh

Ho Chi Minh was a deep sea sailor
Served his time out on the seven seas
Work and hardship were part of his early education
Exploitation his ABC's

Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Chi Minh came home from sailing
And he looked out on his native land

Saw the want and the hunger of the Indochinese people
Foreign soldiers on every hand
Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh

Ho Chi Minh went to the mountains
Where he formed a determined band
Heroes sworn to liberate the Indochinese people
Drive invaders from the land


Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh

Fourteen men became a hundred
A hundred thousand and Ho Chi Minh
And the wind stirs the banner of the Indochinese people
Victory's Army- the Viet Minh

Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh

Every soldier is a farmer
comes the morning he grabs his hoe
Comes the evening she swings her rifle on her shoulder,
This the Army of Uncle Ho

Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh

From Viet Bac to the Saigon Delta
From the mountains to the Plain of Reeds
March the men and the women of the Indochinese people
Sowing freedom with victory seeds


Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh

Ho!
TrueLie
25-03-06, 06:20
http://www.chieracostui.com/costui/images/foto/holapide.jpg
giangthu
25-03-06, 06:45
Rõ ràng thời đó ký ức dân tộc là cả Đông Dương bán đảo tức là Indochine (Ấn Độ Chi Na) trong tự điển của Đào Duy Anh nói rõ. Thế mà khởi nghĩa một hồi còn lại cái hang Bắc Bố. Xong phải liên minh với Nga-Tàu đánh Pháp Mỹ. Biết vậy thì liên minh luôn với Pháp Mỹ ngay từ đầu thì đỡ mất công.

Em thề là Pháp mà giữ được Đông Dương tới ngày hôm nay thì không chừng thiếu điều đất Âu Châu bây giờ là thực địa của Việt Nam. Đánh Tây cho mệt. Đánh Mỹ cũng mệt bỏ mẹ. Bây giờ trong nước còn có xu hướng đánh Tàu coi như tự chuốc vào họa diệt môn chắc.

Bớt hiếu chiến chút đi hả! Nói thật đấy!
hat.tieu
25-03-06, 07:00
Coi xong phim này, em đã khóc. :( Em nói thật là, Pháp và Mỹ đã không cho VN mình cơ hội để hòa bình. :( Họ là kẻ mạnh, và họ đã ép ta chơi theo ván bài của họ, và chúng ta đã thắng, dù phải mất mát quá nhiều. Lịch sử mới xảy ra, xin ai đừng bóp méo nó, mà xúc phạm tới những người đã ngã xuống vì một nền độc lập dân tộc, và toàn vẹn quốc gia. Xin đừng vì miếng cơm, manh áo cá nhân mà chà đạp lên Đồng Bào, Đất Mẹ, Quê Cha.

Xin thắp một nén nhang cho những người con của Tổ Quốc đã ngã xuống để bảo vệ một nền độc lập tự do cho Tổ Quốc. Xin cúi mặt chia sẻ nỗi mất mát tới những bà mẹ đã mất đi những đứa con nơi đất khách quê người chỉ vì những toan tính của giới cầm quyền lực. Chúng con xin gửi lời cám ơn tới những bà mẹ VN anh hùng, đã sinh ra, và nuôi dưỡng những chiến sĩ anh hùng, sẵn sàng hy sinh cả mạng sống của mình cho Đồng Bào, cho Đất Nước! :(

Một phút mặc niệm trong lòng. :(
giangthu
25-03-06, 07:06
Mẫn cảm vậy thì cũng nên thắp nhang ngoài biển Đông. Ngoài ngoải đồng bào vượt biên sau trận 75 chết cũng nhiều lắm đấy. Nhà mình có chú thím đều chết vùi ngoài khơi Rạch Giá. Mẫn cảm thì phải có nội tâm trong sáng à nghe, không thiên lệch à nghe. Khóc một chiều kiểu đó hơi bị giống giọt nước mắt cảm ứng trong đám ma. Hơi giống cải lương phường chèo đóng tuồng sân khấu về khuya.
chu_van_quenh
25-03-06, 10:28
Em thề là Pháp mà giữ được Đông Dương tới ngày hôm nay thì không chừng thiếu điều đất Âu Châu bây giờ là thực địa của Việt Nam. Đánh Tây cho mệt. Đánh Mỹ cũng mệt bỏ mẹ. Bây giờ trong nước còn có xu hướng đánh Tàu coi như tự chuốc vào họa diệt môn chắc.

Bớt hiếu chiến chút đi hả! Nói thật đấy!


Nói ngu vãi, lướt mie nó đi nó nước nó trong
Rio
25-03-06, 15:41
Mẫn cảm vậy thì cũng nên thắp nhang ngoài biển Đông. Ngoài ngoải đồng bào vượt biên sau trận 75 chết cũng nhiều lắm đấy. Nhà mình có chú thím đều chết vùi ngoài khơi Rạch Giá. Mẫn cảm thì phải có nội tâm trong sáng à nghe, không thiên lệch à nghe. Khóc một chiều kiểu đó hơi bị giống giọt nước mắt cảm ứng trong đám ma. Hơi giống cải lương phường chèo đóng tuồng sân khấu về khuya.

Thu em, khi gặp những cảm xúc em không hiểu được, thì đừng chửi những người may mắn hơn em có thể cảm nhận được. Trong trái tim nhỏ xíu của em chỉ chứa đầy những hận thù căm ghét đố kị bứt rứt bất mãn nhỏ nhen ti tiện, nhiều đến mức tràn cả ra ngoài, dưới dạng những suy nghĩ lời nói trào qua miệng em làm ô uế u tối những nơi em đặt chân vào, trong đó có diễn đàn này. Hơn 600 bài của em không có bài nào đóng góp xây dựng tích cực, chỉ thấy toàn phê bình chửi bới dèm pha quê nhà, bới móc xỉa xói những văn hóa của cội nguồn, bêu riếu xúc phạm những thành quả mà bao nhiêu con người đã phải đổ mồ hôi xương máu xây dựng nên. Đầu óc chật chội với những suy nghĩ negative đấy thì còn đâu chỗ cho tình thương đồng loại, cho thông cảm với đất nước, cho tình yêu con người. Hay trong mắt em thì người Việt nam chúng anh không phải là con người. Em vào đây làm gì nếu như mọi người ở đây chỉ làm em khó chịu, và em cũng làm mọi người khó chịu. Đi đi em.
Nắng sớm
25-03-06, 17:40
The ballad of Ho Chi Minh
Autore: Ewan MaCall
Anno: 1954
Tematica: antimperialisti -
N. visite: 291

» scarica pdf: testo



Far away, across the ocean
Far beyond the sea's eastern rim
Lives a man who is Father of the Indochinese people
And his name is Ho Chi Minh!

Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh

Ho Chi Minh was a deep sea sailor
Served his time out on the seven seas
Work and hardship were part of his early education
Exploitation his ABC's

Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Chi Minh came home from sailing
And he looked out on his native land

Saw the want and the hunger of the Indochinese people
Foreign soldiers on every hand
Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh

Ho Chi Minh went to the mountains
Where he formed a determined band
Heroes sworn to liberate the Indochinese people
Drive invaders from the land


Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh

Fourteen men became a hundred
A hundred thousand and Ho Chi Minh
And the wind stirs the banner of the Indochinese people
Victory's Army- the Viet Minh

Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh

Every soldier is a farmer
comes the morning he grabs his hoe
Comes the evening she swings her rifle on her shoulder,
This the Army of Uncle Ho

Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh

From Viet Bac to the Saigon Delta
From the mountains to the Plain of Reeds
March the men and the women of the Indochinese people
Sowing freedom with victory seeds


Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh
Ho Ho Ho Chi Minh

Ho!

Hay! Cảm ơn bác !!!!
Nắng sớm
25-03-06, 17:45
Rõ ràng thời đó ký ức dân tộc là cả Đông Dương bán đảo tức là Indochine (Ấn Độ Chi Na) trong tự điển của Đào Duy Anh nói rõ. Thế mà khởi nghĩa một hồi còn lại cái hang Bắc Bố. Xong phải liên minh với Nga-Tàu đánh Pháp Mỹ. Biết vậy thì liên minh luôn với Pháp Mỹ ngay từ đầu thì đỡ mất công.

Em thề là Pháp mà giữ được Đông Dương tới ngày hôm nay thì không chừng thiếu điều đất Âu Châu bây giờ là thực địa của Việt Nam. Đánh Tây cho mệt. Đánh Mỹ cũng mệt bỏ mẹ. Bây giờ trong nước còn có xu hướng đánh Tàu coi như tự chuốc vào họa diệt môn chắc.

Bớt hiếu chiến chút đi hả! Nói thật đấy!


Em giangthu à. Em cần học lại những bài học từ tiểu học. Anh nói không sai.
Để hôm nào anh up cho em xem cái phim nói về VN, nói về Hanoi dưới thời Pháp thuộc. Để em còn có cơ hội mà hiểu được bài học vỡ lòng: Bài học về kẻ xâm lược và định nghĩa thế nào là thuộc địa.
Em ăn nói ngu, ngu lắm í. Anh đ éo biết diễn tả như thế nào :(
Có lẽ cần tìm hiểu kỹ vấn đề trước khi nói thì đỡ bị chửi nhiều hơn em ạ.
Ngu lắm í!
giangthu
25-03-06, 20:07
Thật ra mọi người đọc từ đầu thì hiểu rõ, mình rất là căm ghét Pháp thực dân. Nhưng sau này mình cũng bớt ghét nó tại vì nó có ác độc cũng do ứng xử của mình. Đọc Vương Hồng Sển thấy dưới thời Pháp thuộc ở miền Nam cũng vậy thôi. Chẳng khác gì Singapore, Hương Cảng. Vấn đề tự tôn dân tộc thì cũng phải tranh đấu để giành chút chủ quyền cho toàn Việt. Nhưng đánh nhau xong tự mình cai trị lấy mình mà chà đạp nhân cách của nhau như chó mèo thì sống trong nhượng địa tô giới coi bộ còn sướng hơn. Tự do báo chí, hội họp, đình công bãi khóa đủ thứ. Nhờ vậy các nhà cách mạng mới ra bài vận động được. Bây giờ hả? Viết chút là bị kiểm duyệt hăm dọa đủ thứ lại bị hồng vệ binh nhao nhao đấu tố về tư tưởng.

Cho nên các hy sinh máu xương của các người đi trước không phải là biểu hiện thành quả của ngày hôm nay đâu mà các tự hồng vệ binh mạo xưng. Kiểm điểm nhân cách lại đi.

Nhà mình có gần nguyên bộ Nam Phong Tạp Chí, nhiều khi mình đọc xong thấy thời thực dân thế mà lại có cái hay của nó. Thật là Âu phong Á vũ rất là đương đại trào lưu.

Cái áo dà mà phụ nữ Việt Nam đang mặc rõ ràng là trào lưu đương đại vẻ kiểu thời thực dân chứ đâu phải cổ truyền gì đâu. Học bài cho thuộc đi.

Mã Lai, Nam Dương có đánh đá gì đâu mà phục hồi toàn bộ. Đánh nhau chỉ lấy được 1/5. Xong rồi bày trò bắt chước Trung Quốc đấu tố địa chủ là tê liệt. Đúng là bần cố nông nhảy bàn mà.
Biển
25-03-06, 21:32
Em ăn nói ngu, ngu lắm í. Anh đ éo biết diễn tả như thế nào :( Có lẽ cần tìm hiểu kỹ vấn đề trước khi nói thì đỡ bị chửi nhiều hơn em ạ.
Ngu lắm í!
Tại không biết diễn tả thế nào nên chửi gái bô bô thế hả? Giang Thu, em thông cảm cho nó em à? Thằng bạn anh ba đời bần cố nông, ơn Đảng ơn chính phủ nên mới được mở mày mở mặt như bây giờ em ạ.
Thôi đừng giận nó làm gì, xứ Bắc Kỳ thì 10 thằng thì 9 thằng như nó em ạ. :)
giangthu
26-03-06, 00:48
Có một bọn người bần cố nông học hành thô sơ tới mức không phân biệt được giữa Đất Nước với Chính Quyền, Tổ Quốc với Chính Phủ, Dân Tộc với Đảng chấp chính. Đem tình yêu hổn loạn này làm hùm bà lằng lên rồi gặp ai cũng chưởi người khác ngu.

Người khác không ngu vì người khác phân biệt được Tổ Quốc, Dân Tộc, Quê Hương khác xa với chính quyền, lãnh tụ, và chính đảng cầm quyền. Chừng nào mà khái niệm này còn không phân biệt nổi thì đừng có mà chưởi người khác ngu hả?

Xương máu anh hùng cũng không đứng chung với mấy đầu óc tăm tối của bọn hồng vệ binh đểu cáng. Anh hùng chết cho nghĩa cử cao cả hơn giành cái nghèo nàn hôm nay. Hỏi ra ai cũng biết.

Anh hùng đổ xuống có phải để có ngày hôm nay. Hỏi tức là trả lời. Đánh Pháp để khỏi làm nô lệ bây giờ qua tận Đài Loan ở đợ nhà người quen làm mình đây nhiều khi chịu nghẹn lây.

Rõ ràng xương máu là vô nghĩa mà. Có hiểu không hả? Đồ ngu!
Lão Nông
26-03-06, 00:57
Có một bọn người bần cố nông

...

Có hiểu không hả? Đồ ngu!

Không hiểu!

Hỏi tức là trả lời, anh rành sáu câu. Bớt hiếu chiến chút đi hả! Nói thật đấy!
Babylon
26-03-06, 01:00
Anh Gấu xịn với chị Hấp đâu rồi giời ơi!!!!!!!!!!!!
hat.tieu
26-03-06, 01:08
Có một bọn người bần cố nông học hành thô sơ tới mức không phân biệt được giữa Đất Nước với Chính Quyền, Tổ Quốc với Chính Phủ, Dân Tộc với Đảng chấp chính. Đem tình yêu hổn loạn này làm hùm bà lằng lên rồi gặp ai cũng chưởi người khác ngu.

Người khác không ngu vì người khác phân biệt được Tổ Quốc, Dân Tộc, Quê Hương khác xa với chính quyền, lãnh tụ, và chính đảng cầm quyền. Chừng nào mà khái niệm này còn không phân biệt nổi thì đừng có mà chưởi người khác ngu hả?

Xương máu anh hùng cũng không đứng chung với mấy đầu óc tăm tối của bọn hồng vệ binh đểu cáng. Anh hùng chết cho nghĩa cử cao cả hơn giành cái nghèo nàn hôm nay. Hỏi ra ai cũng biết.

Anh hùng đổ xuống có phải để có ngày hôm nay. Hỏi tức là trả lời. Đánh Pháp để khỏi làm nô lệ bây giờ qua tận Đài Loan ở đợ nhà người quen làm mình đây nhiều khi chịu nghẹn lây.

Rõ ràng xương máu là vô nghĩa mà. Có hiểu không hả? Đồ ngu!

Em xin chia sẻ với chị giangthu. :) Tuy nhiên, chị nên nói rõ ràng ra thì hay hơn, chứ em nghĩ nhiều người trong đây hiểu sai về chị. :)

Đúng thật các anh các chị coi lại thời đại này đi. Em thấy về bản chất thì chúng ta đang lặp lại những gì đã xảy qua ngày hôm qua. Mời các bác đọc lại Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao thì sẽ rõ. Đúng là người ngựa, ngựa người. :(
giangthu
26-03-06, 01:25
Thật ra mấy câu nặng nề trên là ám chỉ vào thái độ của cá nhân người chưởi chị chứ không đụng tới chủ đề. Nhưng tại vì sao Hồng Vệ Binh bần cố nông vẫn tri hô hoán lên. Tại vị nó đang dùng vị trí của con chó cảnh đứng trước bàn thờ. Chị mà nặng tay thì đụng tới đồ lễ vật. Cho nên nó dùng hậu trường để bình phản lại chị đây. Vấn đề ở chỗ chó trước bàn thờ mà nói chuyện nghiêm trang là phi điển lễ.

Cho nên, chủ đề chị nói là hoàn toàn nghiêm túc. Anh Gấu và anh Hấp thấy rõ bản chất này mà nương tay cho chị, cho nên hôm qua tới giờ chị đâu có bị cảnh cáo gì thêm. Anh Hấp hả !!!?

Vấn đề ở chỗ nhiều khi người ta phải lấy chổi để quét mạng nhện trong đình. Cử chỉ này là vệ sinh. Chỉ có mấy con nhền nhện dăng vào chỗ hiểm mà được lây mùi cúng tế. Tưởng mình cũng là linh vật hộ pháp chắc. Đồ ngu.
TrueLie
26-03-06, 04:19
Hỏi tí là giangthu đã xem qua bộ phim kia chưa nhỉ? Cảm giác thế nào?
giangthu
26-03-06, 04:39
Download đâu có được đâu mà coi. Chỉ cách download cho mình coi lại phát.
TrueLie
26-03-06, 04:52
right click, chọn save target as ... là xong

Công nhận phim này có quả nhạc nền hay thật, nghe thấy thấm tận tâm can. Đây cũng là một cái khác giữa văn hóa Việt và Tàu.
giangthu
26-03-06, 05:41
TrueLie à,

Làm hết cách rồi mà chẳng làm sao download được. Có cách nào khác không?
TrueLie
26-03-06, 05:48
Hết thuốc rồi, chia buồn vậy.
giangthu
26-03-06, 05:51
Có lẽ là không có duyên. Biết làm sao bây giờ. Thôi em đi coi phim Ngày Xuân của Hàn Quốc vậy.

Phim Trung Quốc nó có nhạc rất là bi tráng kiểu cổn cổn Trường Giang đúng là có cái hay của nó.

Nhưng nếu có biện pháp nào khác để download thì cũng cho biết nhé!
giangthu
26-03-06, 06:31
Hồ Chủ tịch với các anh hùng chiến sỹ miền Nam 1965

ĐÔI CHÂN QUÂN GIẢI PHÓNG

CÒN NHANH HƠN CẢ MÁY BAY MỸ

MINH THU (*)

“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà

Miền Nam mong Bác nỗi mong cha

Bác nghe tùng bước trên tiền tuyến

Lắng mỗi tin mừng tiếng súng xa...”

(Tố Hữu- Bác ơi )

Trong những năm dài kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Bác Hồ không phút giây nào không nhớ đến miền Nam. “Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi ". Nỗi vui buồn của Bác luôn hoà quyện cùng với 14 triệu con tim của đông bào và chiến sĩ miền Nam yêu quý. Mỗi chiến công từ tiền tuyến vọng về là một liều thuốc quý làm tăng thêm sức khoẻ và năng lực công tác của Người.

Đáp lại nghĩa tình sâu nặng đó, đồng bào và chiến sĩ miền Nam đă đạp bằng mọi gian khổ hy sinh, chiến đấu ngoan cường, đánh đuổi quân xâm lược để sớm đón Bác vào thăm quê hương “Thành đồng Tổ quốc”.Như thường lệ, mọi năm cứ đến dịp sinh nhật Bác Hồ, đồng bào và chiến sĩ miền Nam hăng hái thi đua lập công dâng Bác. Vào mùa sinh nhật mừng Bác Hồ tròn 75 tuổi, quân và dân Biên Hoà, Bà Rịa- Long Khánh sôi nổi vào trận với quyết tâm giành thắng lợi lớn. Từ ngày 07-05 đến 14-05-1965 bộ đội chủ lực quân khu miền Đông phối hợp với bộ đội địa phương dân quân du kích tỉnh Bà Rịa – Long Khánh liên tiếp đánh địch giành nhiều thắng lợi ở Tài Lài, Ba Sa, chi khu Định Quán. Ta làm chủ quốc lộ 20, buộc địch phải lập cầu không vận Sài Gòn- Đà Lạt. Hòng giành lại con đường chiến lược quan trọng này, ngày 15- 05- 1965 địch đã đưa lực lượng từ Long Khánh lên giải tỏa mở đường. Bộ đội ta phục kích diệt địch trên đoạn đường gần cầu La Ngà ( từ cây số 109 đến 111), nơi cách đây 17 năm ngày 01- 03- 1948 chi đội 10 (bộ đội Biên Hòa đã lập nên chiến công oanh liệt đánh tan một đoàn xe quân sự, diệt và bắt sống hàng trăm tên giặc Pháp xâm lược. Trên tuyến đường dài hơn 2km, toàn bộ quân ứng cứu của địch đã lọt vào trận địa phục kích của bộ đội ta. Tiến không được, lui không kịp, cả tiểu đoàn biệt động quân và một đại đội bảo an bị tiêu diệt, hơn mười xe quân sự bị bắn cháy. Nhân dân và bộ đội miền Đông gọi chiến thắng này là chiến thắng La Ngà 2.

Cũng trong ngày này, (15- 08 - 1965) Bác Hồ bắt đầu lên máy bay thực hiện chuyến đi công tác kết hợp dưỡng bệnh ở Trung Quốc. Mặc dầu ở xa Tổ quốc, bộn bề với trăm công nghìn việc khác, nhưng không lúc nào Người không lo nghĩ và theo dõi mọi diễn biến ở nước nhà, nhất là tình hình chiến sự ở miền Nam.

Sáng ngày 19- 05- 1965, trong một biệt thự thuộc khu quân sự Ngọc Tuyền gần Di Hoà Viên, một thắng cảnh nổi tiếng ở ngay giữa thủ đô Bắc Kinh, từ sáng sớm Bác Hồ đã thức dậy và ngồi vào bàn làm việc. Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng của Người, đẩy nhẹ cửa bước vào mang hoa tặng Bác. Bác đưa cả hai tay đón nhận lấy bó hoa, vẻ xúc động hiện lên nét mặt. Bác thân mật bảo đồng chí Vũ Kỳ ngồi xuống bên cạnh và báo cáo với Bác những nét chính tình hình ở nhà từ ngày ra đi. Sau khì trình bày diễn biến những trận không kích của giặc Mỹ ở miền Bắc, đông chí tiếp tục báo cáo tình hình chiến sự ở miền Nam, trước hết đồng chí báo cáo với Bác về trận phục kích của quân giải phóng miền Đông Nam bộ trên tuyến đường 20 (La Ngà - Định Quán) … Hãng UPI ngày 16 - 05 đưa tin thêm về trận quân giải phóng tiêu diệt gọn một đoàn xe quân sự 12 chiếc trên đường 20 ( Sài Gòn- Đà Lạt) Một phát ngôn quân sự Mỹ nói: “Quân du kích đã chiếm đoàn xe trong một trận phục kích giũa ban ngày. Họ đă đánh nhanh rút nhanh đến nỗi các máy bay lên thẳng và máy bay ném bom đến cứu nhưng không tìm thấy bóng dáng nào của du kích nữa”. Bác cười rất vui nói:

- Chú thấy không, đôi chân của quân giải phóng còn nhanh hơn cả máy bay địch.

Đồng chí báo cáo thêm với Bác về trận đánh sân bay Biên Hoà. Đêm 16- 05 ta phá hủy 42 máy bay, làm chết và bị thương150 tên Mỹ. Sáng ngày 17- 05 một quả bom 250 kg lại nổ trong sân bay làm cho bọn Mỹ rất hốt hoảng. Theo hãng UPI, bọn chóp bu Mỹ đang nơm nớp lo sẽ còn nhiều vụ nổ lớn xẩy ra, ở căn cứ không quân Tân Sơn Nhất cũng chịu chung số phận như thế... Tên thiếu tướng Mỹ M.Casơ chỉ huy lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ số 9 được giao nhiệm vụ bảo vệ căn cứ Đà Nẵng đã thú nhận rằng quân của hắn sẽ “Không thể ngăn chặn được những cuộc tiến công bằng súng cối của Việt Cộng...”

Nghe đến đây Bác nói: " Thượng sách là rủ nhau cuốn khỏi Việt Nam..."(l)

Thấy đồng chí ngừng lại một hỏi lâu, Bác tiếp tục hỏi:

- Hết rồi hả? Các mặt trận khác ra sao?

Vì thời gian có hạn, buổi sáng nay còn nhiều công việc khác nên đồng chí chuyển sang phần mừng sinh nhật Bác ở bên nhà... “Bác im lặng đưa mắt nhìn ra cửa sổ. Rõ ràng Bác thích nghe tin chiến thắng của quân và dân hai miền hơn là nghe những thư, điện chúc tụng...”

Trong những tháng năm này đối với Bác Hồ, có lẽ không cớ niềm vui nào lớn hơn là niềm vui nhận được tin chiến thắng ở cả hai miền Nam Bắc.

Một vinh dự lớn của quân và dân Biên Hòa, Bà Rịa- Long Khánh là những đóa hoa chiến công dâng Bác, chiến thắng La Ngà 2, chiến thắng sân bay Biên Hờa đã đến kịp thời với Bác đúng vào ngày 19- 05 - 1965, mừng Bác Hồ kính yêu tròn 75 tuồi.

Biên Hòa, tháng 5 năm 1991

M.T

(*) Tên thật. Trần Toản, Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ & Môi trường Đồng Nai

(1). Vũ Kỳ. Bác Hồ viết Di chúc, NXB Sự thật, Hà Nội, 1989.

Thật ra cứ lo hái hoa dâng bác mà sát phạt chiến trường chứ đâu thấy chỗ nào nhân ái hài hòa nhân văn nhân đạo đâu hả. Chỗ nào cũng thấy giải phóng quân quyết sát quá trời. Nghe rởn tóc. Trong lúc đó đọc hồi ký của cánh hữu không ai kiên cố tâm can tới mức mừng vui trước cái chết của đối phương. Nhân bản lại chút đi.
Nắng sớm
26-03-06, 08:17
Có lẽ là không có duyên. Biết làm sao bây giờ. Thôi em đi coi phim Ngày Xuân của Hàn Quốc vậy.

Phim Trung Quốc nó có nhạc rất là bi tráng kiểu cổn cổn Trường Giang đúng là có cái hay của nó.

Nhưng nếu có biện pháp nào khác để download thì cũng cho biết nhé!

Thấy em giangthu tuy sống xa nhà mà vẫn quan tâm đến tình hình nước nhà và cũng thích nghiên cứu lịch sử. Thôi thì anh up lại cho giangthu xem thử cho biết vậy.
Khi xem phim, đề nghị giangthu cứ thoải mái thả dòng tâm trạng. Nhưng nói chung, anh cảm động thật nhiều khi xem phim này. Xem đi xem lại nhiều lần rồi mà vẫn thấy có cảm giác ấy.
Cũng chẳng thừa khi biết thêm một chút.
Giangthu thử xem xem.
Nhé !

Phần 1/4 http://s40.yousendit.com/d.aspx?id=02XNAGGOVSRJB35A11K4T58W6T
Phần 2/4 http://www.megaupload.com/?d=UJYI9UN8 or http://s38.yousendit.com/d.aspx?id=1YNZPVZN7CBC63EOOTJ1Z2K4IB
Phần 3/4 http://s37.yousendit.com/d.aspx?id=2VLREQ29FR94E36ZV0S3GYH7PJ
Phần 4/4 http://www.megaupload.com/?d=0FRW2JEF or http://s39.yousendit.com/d.aspx?id=2BI7STMYA6EP92AJ6YRK82Q6X4

Xong :D

Giangthu down được báo anh nhé !
giangthu
26-03-06, 09:27
Em nghỉ là hết cách rồi. Tại vì sao cái máy của em đọc không được loại file .rar nhỉ?

GiangThu
Nắng sớm
26-03-06, 09:30
Em nghỉ là hết cách rồi. Tại vì sao cái máy của em đọc không được loại file .rar nhỉ?

GiangThu

Thế em đã down được mấy cái film đó về chưa, còn nếu down được về rồi mà không có winrar để mở thì anh up lên tặng em vậy !

Vào đây down winrar về cài vào để đọc file *.rar
http://www.rarlab.com/download.htm

hoặc là trực tiếp ở đây:

http://www.rarlab.com/rar/wrar351.exe

Chỉ dùng 1 lần nên không cần cờ rách!
late
26-03-06, 10:19
Giangthu cứ dịu giọng thế này có phải dễ nghe không. Mà giangthu cứ từ từ mà nói, đi đâu phải vội. Tại giangthu nói có 1 số điều đúng, nhưng những điều ấy, anh em biết cả rồi. Những điều còn lại, thì chả đúng mấy. :)
TrueLie
26-03-06, 18:18
Có cái thư HCM gửi tổng thống Mỹ năm 46.
http://killeenroos.com/5/hcminhmemo.jpg
Biển
26-03-06, 18:57
Cái chữ ký này hơi khác so với chữ ký trong Huân chương của ông nội mình.
giangthu
27-03-06, 11:57
Cám ơn nhiều, em đã download được và đã coi xong phim.

Hồng Giáng Thu
quasa
27-03-06, 11:59
ơhh, thế không ý kiến gì à Thu?
mà khi nào thì ký thế kia, khi nào thì ký thế này
quasa
27-03-06, 12:30
Tớ mới nhận được lời dặn dò của lãnh đạo. Lãnh đạo nói chân tình là bây giờ ở trển đé o cần các em phải hô hào , bảo vệ... gì đâu, chỉ cần các em học thật tốt. viết nhiều bài báo quốc tế, tìm nhiều ứng dụng về cho nước đỡ nghèo, đỡ nhục. Có vậy thôi.
Quay xuống dưới lại bị ngay một thằng đàn em phang cho một câu, rằng thì là các bố lo mà làm đi, nói in ít thôi.
Đến là xấu hổ
wasabi
27-03-06, 13:43
Mấy hôm có xem vụ Về nguồn gì đó của bác Giáp, truyền hình trực tiếp trên TV. Ông ấy lẫn rồi, nói năng quanh quẩn vài ý gì đó. Nhưng ông Giáp nói được một câu thế này.

"Các đồng chí, tôi với các đồng chí đã quyết chiến đấu để Việt Nam thoát khỏi mối nhục mất nước. Giờ còn mối nhục nghèo hèn, các đồng chí có quyết tâm xây dựng đất nước để thoát khỏi mối nhục đó không?"

Vài ngày sau thì nghe tin có một nhóm cựu chiến binh lửa đạn không giết được, thì lại bị chính tay lái xe cho tông xuống vực, chết cả. Rồi những kẻ chỉ biết vơ về mình, cho thỏa cái chí cha truyền con nối, để thỏa danh vọng quyền lực, còn nhân dân nghèo hèn, cực khổ. Đó là những kẻ không biết nhục cái nhục dân tộc nghèo hèn. Rồi có những người không biết nhục cái nhục mất nước nữa, để bi bô ba cái luận điệu dở hơi.

Những người cố tình không biết mối nhục ấy, thì đáng khinh hơn là đáng thương.

PS: Bác gì ở trang 1: "Chó cứ đi đoàn người cứ sủa" là câu của con Rantanplan trong Luky Luke :D
Tiểu Đông Tà
27-03-06, 14:00
Anh xin cáo lỗi với em TĐT rằng anh độ rày khá bận nên không còn nghiên cứu về lãnh tụ HCM nữa mà chuyển sang nghiên cứu về Ông cụ. Dạo này anh được gặp Ông cụ thường xuyên, từ khi ở ẩn đến nay ông cụ đang ấp ủ viết hồi ký nên cụ thường gọi anh đến nghe ông cụ kể có anh ghi chép. Hồi ký dự định mang tên "Phải Gió - Hồi ức một hải đăng". Thật không ngờ hồi trẻ cụ hoạt động cách mạng dẻo dai thế mà giờ đây vẫn còn rất minh mẫn và phong độ. Hầu hết các thành viên ở đây đều xuất hiện trong các chương trong hồi ký ông cụ. Tuy nhiên anh chỉ quan tâm đến các chương ông cụ viết về hậu cung TL. Giờ anh đang ghi chép đến chương Mây, đã gặp khá nhiều sự kiện bất ngờ và thú vị. Cụ còn bật mí với anh trước rằng đến chương Xuân chương Xoan chương late sẽ hứa hẹn nhiều tình tiết hấp dẫn hơn nữa.

Nếu em quan tâm thì ráng chờ, anh sẽ send em dăm phát nếu Ông cụ cho phép.

Anh Kòm cho em nhận thầu PR quả này đi. Em sẽ xin bác Gấu & dì Hấp mở 1 quán sách nhỏ - Sách-của-Kòm để bán hàng. Nhưng anh nhớ đừng đề hẳn tên ra thế, anh cứ e ấp mập mờ kiểu : Xoan thì là X, Xuân thì là X có râu ... cho em
Quên, anh cần chỉnh sửa, thêm dấu hay bôi đậm bản thảo thì cứ send em nhé :p
Nắng sớm
27-03-06, 16:09
Mấy hôm có xem vụ Về nguồn gì đó của bác Giáp, truyền hình trực tiếp trên TV. Ông ấy lẫn rồi, nói năng quanh quẩn vài ý gì đó. Nhưng ông Giáp nói được một câu thế này.

"Các đồng chí, tôi với các đồng chí đã quyết chiến đấu để Việt Nam thoát khỏi mối nhục mất nước. Giờ còn mối nhục nghèo hèn, các đồng chí có quyết tâm xây dựng đất nước để thoát khỏi mối nhục đó không?"

Vài ngày sau thì nghe tin có một nhóm cựu chiến binh lửa đạn không giết được, thì lại bị chính tay lái xe cho tông xuống vực, chết cả. Rồi những kẻ chỉ biết vơ về mình, cho thỏa cái chí cha truyền con nối, để thỏa danh vọng quyền lực, còn nhân dân nghèo hèn, cực khổ. Đó là những kẻ không biết nhục cái nhục dân tộc nghèo hèn. Rồi có những người không biết nhục cái nhục mất nước nữa, để bi bô ba cái luận điệu dở hơi.

Những người cố tình không biết mối nhục ấy, thì đáng khinh hơn là đáng thương.




Đọc bài viết của wasabi mình cũng thấy có liên quan đến bài báo này.
Các bác tham khảo nhé !



Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ?

LTS: Chúng tôi xin lấy đầu đề bài báo trên đây của nhà sử học Dương Trung Quốc làm diễn đàn để bạn đọc tham gia phân tích, mổ xẻ tranh luận nhằm nhận chân giá trị của dân tộc và kiến nghị các giải pháp chấn hưng dân khí, góp phần thúc đẩy tiến trình phát triển của đất nước. Bài tham gia diễn đàn xin gửi về tòa soạn Báo Thanh Niên 248 Cống Quỳnh, Q.1, TP.HCM (ngoài bìa ghi: Bài tham gia diễn đàn “Nước Việt Nam ta nhỏ hay không nhỏ” hoặc địa chỉ e-mail: thanhhang@thanhniennews.com)

1. Thứ bảy tuần trước, tôi và nhiều người khác được gặp và nghe ông cựu thủ tướng danh tiếng của CHLB Đức Gerhart Schroeder tâm sự. Ông nói rằng đây là lần thứ ba ông sang Việt Nam. Hai lần trước với tư cách là người đứng đầu chính phủ, ông thực hiện sứ mệnh ngoại giao. Giờ thì ông sang với tư cách cố vấn cho một tập đoàn công nghệ truyền thông của Thụy Sĩ đã có 15 năm hoạt động tại Việt Nam. Lần này ông đến vì "tình yêu đối với Việt Nam". Ông cho biết tình yêu ấy nảy sinh trong thực tiễn hoạt động của một chính khách và từ ký ức một thời trai trẻ khi chịu tác động của sự kiện Việt Nam, biểu trưng cho một lịch sử giải phóng hào hùng và một nền văn hóa đặc sắc.

Tương tự như điều ông G.Schroeder nói, tôi cũng từng nghe một phó thị trưởng thành Venice (Italia) tự giới thiệu khi tiếp đón Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An: "Tôi thuộc thế hệ Việt Nam". Cũng một lời tương tự như vậy từ một nhà lãnh đạo Quốc hội châu Âu tại Bruxelles (Bỉ)... và rất nhiều người khác, kể cả nhiều người Mỹ mà tôi đã gặp...

2. Hãy đọc lại Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi: "Xét như nước Đại Việt ta - Thật là một nước văn hiến - Bờ cõi sông núi đã chia - Phong tục Bắc Nam cũng khác - Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước - Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương - Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau - Mà hào kiệt đời nào cũng có". Nhà bác học Lê Quý Đôn khi viết về dân tộc của mình luôn nói tới niềm tự hào "Nước Nam ta nổi tiếng là văn hiến...", "văn vật điển chương rất đẹp, không kém gì Trung Quốc".

Ngô Thời Nhậm đi sứ phương Bắc, lúc trở về làm bài thơ Hoản nhĩ ngâm (Mỉm cười mà ngâm ngợi) thốt lên niềm tự hào "May mắn thay ! Chúng ta được sinh ra ở nước Nam... chớ bảo rằng ta kém văn minh...". Phan Thanh Giản đi sứ Tây kinh, tàu đến một cảng biển ngoại quốc, theo thông lệ phải giương quốc kỳ của sứ đoàn, Phan bèn lấy tấm lụa rồi dùng son mà viết 2 chữ lớn là "Đại Nam" treo lên mũi tàu mà biểu trưng niềm tự hào dân tộc nơi đất khách quê người...

Những chuyện như thế trong sử sách nhiều lắm. Không có niềm tự hào ấy chúng ta không tồn tại được, và chính sự phấn đấu để tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam đã làm nên niềm tự hào đó.

3. Ngót trăm năm đô hộ của thực dân Pháp là một nỗi nhục lớn của dân tộc Việt Nam sau hơn một thiên niên kỷ tự chủ, hơn mười lần đánh thắng mọi thế lực ngoại xâm. Đến thế kỷ XIX, chỉ vài trăm tên lính đánh thuê đã hạ nổi thành Hà Nội có những người anh hùng như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu cầm quân rồi phải tự vẫn cho khỏi thẹn với núi sông. Những bài học trên ghế học trò "Tổ tiên ta là người Gô-loa" mà thực dân nhồi sọ. Thảm cảnh của những người cu li Việt phải tha phương cầu thực ở những đồn điền hải ngoại và của những trai tráng người Việt sang làm bia đỡ đạn bên trời Âu trong hai cuộc đại chiến cũng như sự khốn cùng của nhân dân dưới ách áp bức của thực dân và phong kiến... đã dồn nén lòng tự ái dân tộc thành một sức mạnh phi thường khi có được ngọn cờ tụ nghĩa. Từ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học... đến Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đều thấm cái nỗi nhục mất nước để tạo nên sức vùng dậy của cả một dân tộc giành quyền làm chủ của mình.

Dân tộc ấy đã công khai tuyên bố quyền tự chủ của mình trên những nguyên lý phổ quát của nhân loại. Và dân tộc ấy đã tự chứng minh sức mạnh của mình bằng ba cuộc chiến tranh vệ quốc liên tiếp trong hơn 4 thập kỷ với biết bao nhiêu xương máu khi đã không còn con đường lựa chọn nào khác ngoài ý chí "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".

4. Nhưng điều gì khiến cho công cuộc 20 năm Đổi mới được biểu dương như những thành tựu to lớn mà có người còn sánh với những chiến công của lịch sử giữ nước, mà cuối cùng chúng ta vẫn không tránh được nguy cơ tụt hậu? Ai cũng biết giữ được mức tăng GDP thuộc loại nhất nhì khu vực, đặc biệt là giữ được sự ổn định về an ninh là một cố gắng rất lớn. Nhưng mục tiêu thoát khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa vời. Phải tìm cho ra những lý do của sự tụt hậu mới mong thoát được nguy cơ tụt hậu.

Đương nhiên, chiến tranh luôn được viện dẫn làm lý do hàng đầu. Chiến tranh tàn phá của cải vật chất để lại những hậu quả rất nặng nề. Chiến tranh mang lại nhiều đau thương mất mát, kể cả những di chứng lâu dài cho con người... Những lý do ấy đều thấy được, cân đong đo đếm được và trên thực tế ta đã có nhiều thập kỷ khắc phục. Nhưng còn có một lý do mà không phải là khó thấy. Đó chính là nếp nghĩ và hành xử.

Vì sao đứng trước hiện tượng hàng vạn người phụ nữ phải rời quê hương đi làm dâu xứ người trong một hy vọng thoát khỏi cảnh nghèo và cả nạn bạo hành trong gia đình mà không ai nghĩ đến một giải pháp để ngăn chặn ngoài nỗi bức xúc được phản ánh trên báo chí và liệu những người có trách nhiệm với đất nước có ai cảm thấy đó là nỗi nhục để tìm cách chấm dứt. Mời được càng đông người nước ngoài đầu tư vào nước ta, vay được càng nhiều tiền của thiên hạ được coi là thước đo của sự tín nhiệm của thế giới đối với Việt Nam. Nó mang lại những nguồn lực cần thiết nhưng mấy ai quan tâm đến tỷ trọng lợi nhuận rơi vào túi ai mà vẫn được tính vào một phần thành tựu GDP của đất nước và ai sẽ phải gánh vác để trang trải những món nợ đáo hạn? Và những cuộc đình công, bãi công của thợ thuyền giờ đây có còn làm nên một phần của truyền thống giai cấp hay không? Những vụ bê bối, tham nhũng bạc triệu đô la gây nên sự ồn ào trên dư luận và sự bận bịu của các cơ quan điều tra và xét xử mà chưa làm nên sự xúc động đến mức chẳng có một ai từ chức vì sự xấu hổ về trách nhiệm của mình, v.v và v.v...

Cách hành xử và tâm thế của chúng ta dường như luôn mặc cảm Việt Nam giờ đây là nước nhỏ. Không ít những phát biểu của các quan chức luôn khiến ta nghĩ rằng Tổ quốc của mình giống như những địa phương mong được xếp vào diện nghèo hay vùng sâu vùng xa của thế giới để được hưởng những ưu tiên được trợ giúp, mà không thấy nỗi hèn nhục của một nước nghèo và tụt hậu.

Lại nhớ đến điều mà vị Đại tướng góp phần đánh thắng hai đế quốc to nhắc nhở: Có một thế hệ hàng ngày nhìn vết đạn của ngoại xâm trên thành Cửa Bắc để nuôi chí rửa sạch nỗi nhục mất nước. Bây giờ, nếu mỗi ngày, cùng với dự báo thời tiết chúng ta công bố thứ hạng về trình độ phát triển cùng những món tiền nợ nước ngoài để thấm được cái nỗi nhục tụt hậu, chúng ta mới chiến thắng nghèo hèn để vươn lên cho xứng đáng với dân tộc của mình...

5. Tôi đã gặp hai con người, hai nhà doanh nghiệp quyết định đặt tên cho những công trình và thương hiệu của mình bằng những quốc danh thời xa xưa. Một người đặt cho cái không gian tâm linh của một khu công viên văn hóa rất rộng lớn ở Bình Dương là "Đại Nam quốc tự". Còn một người là chủ một hãng bia mang tên "Đại Việt", cơ sở nộp ngân sách lớn nhất của tỉnh Thái Bình. Hỏi vì sao lại đặt tên như vậy, cả hai đều nhắc đến tâm thế của người xưa về niềm tự hào dân tộc, rằng chính vì niềm tự hào ấy mà ông cha ta đã để lại cho thế hệ chúng ta cả một cơ đồ, một giang sơn gấm vóc. Cả hai đều chất vấn tôi bằng một câu hỏi: "Vậy thì Việt Nam có phải là một nước nhỏ hay không?". Và cả hai đều cho rằng nếu tâm thế của ta nhỏ thì đáng là nước ta nhỏ, nếu chỉ bó mình trong những ước vọng chật hẹp thì mục tiêu thoát khỏi nguy cơ tụt hậu là vô vọng. Còn như tâm thế ta lớn thì dám làm cái lớn và sẽ làm cho nước ta lớn, như cha ông ta đã tư duy và hành xử.

Viết bài báo này, tôi cũng muốn bạn đọc cùng chia sẻ với cái câu hỏi sâu sắc: "Việt Nam là nước nhỏ hay không nhỏ?".

Dương Trung Quốc (Tháng 3.2006)

(Nguồn http://www2.thanhnien.com.vn/Xahoi/2006/3/27/143405.tno)
hat.tieu
27-03-06, 21:27
Các anh các chị có quyền tự hào, và nên tự hào về dân tộc. Nhưng chỉ thế thôi còn chưa đủ, hãy chứng minh bằng hành động. :) Không nên cãi nhau với những người chê bai bằng cách, mày thấy thấy chúng tao đã từng thế này, đã từng thế nọ, trong khi bản thân mình thì chẳng ra cái đếk gì cả. :D
catbui
14-04-06, 01:50
Không hiểu sao các ty cứ nói nhiều về cái chủ đề này nhỉ? Ai đúng, ai sai, tốt xấu thế nào thì thực tế đã chứng minh rồi. Ở đây toàn là những nhà ní nuận cao siêu cả, nhìn thực tế sẽ thấy ní nuận mình đúng hay sai, phỏng ạ? Gần 1 thế kỷ kể từ khi ĐCS ra đời rồi, hơn nữa chúng ta đang ở giai đoạn "quá độ", anh em cứ thoải con gà mái đi!!!
Gắng học cho giỏi, kiếm cái bằng ngon về làm thư ký cho các sếp PMU 18 là ấm vợ ấm con rồi, cãi chửi nhau làm gì cho lắm. Gắng lên nào, Sói cưng!!!
Nắng sớm
22-04-06, 16:18
Em úp lại phục vụ các bác có nhu cầu nhé. Cái link cũ down hơi chậm :D

http://two.fsphost.com/BacHo/
Cả bộ phim về Bác Hồ ở đây ạ.

Thêm một phim ngắn nữa :)
http://two.fsphost.com/Bac/180505theodongTS_TGvoiHCM(1).wmv
Nắng sớm
22-04-06, 16:52
Có thêm một bộ phim tài liệu về Con Đường Mang Tên Bác. Các bác, các bạn có hứng thú tìm hiểu thì down về xem :)

http://two.fsphost.com/Bac/DuongHCM/
FOG
22-04-06, 21:14
Bạn nào có cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Võ Lâm Minh Chủ" của Trần Dân Tiên cho tớ đăng ký mua lại. Nhớ phải là bản gốc, không phô-tô, version càng xưa càng tốt, rách một tý cũng được nhưng phải còn nguyên trang và dễ đọc. Tớ có thể trả 100 ngàn tuy nhiên cũng có thể thỏa thuận lại. Tớ ở Hà Nội. Cám ơn.
giangthu
25-04-06, 04:26
Quyển sách đó là tự biên tự diễn mà. Ai dè tự tán dương ca tụng mình ên làm tiền đề cho sự tôn sùng. Em biết chuyện này lâu quá rồi, ai ai cũng biết nhưng giả bộ không biết hoặc không được nói.
nghuy
25-04-06, 16:06
Các đ/c nên tìm đọc cuốn Chân Dung Bác Hồ của Kiều Phong bình loạn về Cuốn đi đường kể chuyện
tbm_
26-04-06, 06:58
Xóa và mời nhà thơ lên cột điện.............
toetoet
17-07-06, 16:25
Em úp lại phục vụ các bác có nhu cầu nhé. Cái link cũ down hơi chậm :D

http://two.fsphost.com/BacHo/
Cả bộ phim về Bác Hồ ở đây ạ.

Thêm một phim ngắn nữa :)
http://two.fsphost.com/Bac/180505theodongTS_TGvoiHCM(1).wmv

Bác Wolfensohn,

Em cố down theo đường two.fsphost mà Bác chỉ dẫn mà không được. Có lỗi file lost gì đó. Bác làm ơn up lại được không? Phiền Bác quá! Mong Bác bỏ quá cho nhà em nhẩy :-)

Đa tạ
Nắng sớm
17-07-06, 22:07
Ok, bác đợi em tí, tí em up lên Mega hoặc Oxyshare bác có down được không? Mấy cái host này lởm quá.
nhaphat
17-07-06, 22:28
Bác up lên yousendit.com cho dễ down!
Nắng sớm
18-07-06, 00:20
Đây là bộ phim ''Chân Dung Một Con Người'' mà đồng chí toetoet cần nhé. Bộ phim này mình chia làm 2 phần, toetoet và các bác down về xem nhé.


http://www.megaupload.com/?d=FYK9PLN7

http://www.megaupload.com/?d=INPVJU40

or

http://www.yousendit.com/transfer.php?action=download&ufid=37F1D1C00D1AB1F7

http://www.yousendit.com/transfer.php?action=download&ufid=73F5F33D0198F08A




Còn đây là bộ phim tài liệu về Con Đường Mang Tên Bác.

http://www.megaupload.com/?d=G6J6BH7W

or


http://www.yousendit.com/transfer.php?action=download&ufid=F05D1DBB36C7F0C8




Đây là một phim ngắn, cũng nói về Bác. Cũng hay.

http://www.megaupload.com/?d=S8ZH7860

Link USI : http://www.yousendit.com/transfer.php?action=download&ufid=FD5F6884058CE443
giangthu
18-07-06, 10:18
Chưa đọc Trần Dân Tiên, không nhìn ra chân tướng. Càng đọc Trần Dân Tiên càng thấy bản lai diện mục thấy rõ.
toetoet
18-07-06, 15:43
Cảm ơn bác Wolfensohn. Đã 'nhập hàng' xong - chất lượng tuyệt.
Karpetbagger
18-07-06, 16:41
Bạn nào có cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Võ Lâm Minh Chủ" của Trần Dân Tiên cho tớ đăng ký mua lại. Nhớ phải là bản gốc, không phô-tô, version càng xưa càng tốt, rách một tý cũng được nhưng phải còn nguyên trang và dễ đọc. Tớ có thể trả 100 ngàn tuy nhiên cũng có thể thỏa thuận lại. Tớ ở Hà Nội. Cám ơn.
Không biết bạn đùa hay nghiêm túc? Quyển này mới tái bản, bán thoải con gà mái trên Tràng Tiền.
Nắng sớm
22-07-08, 02:00
Có quyển này do bác Nam là thành viên sáng lập FPT dịch ra nói về Bác cũng rất hay. Mời các bác, bác nào có hứng đọc thì đọc cho biết thêm tí về lịch sử của dân mình.#



Hồ Chí Minh - Một Cuộc Đời


Lời tựa của tác giả 3
Danh sách các tổ chức được nhắc đến trong cuốn sách này: 3
Mở đầu 6
Mất nước 8
Con ngựa hoang 19
Nhà cách mạng tập sự 31
Con Rồng Cháu Tiên 37
Thanh kiếm báu 47
Nghệ Tĩnh đỏ 52
Mất hút 58
Trong hang Pacbo 66
Triều dâng 73
Những ngày tháng 8 84
Tái thiết và kháng chiến 95
Hổ và Voi 111
Nơi đó, Điện biên phủ 121
Giữa hai cuộc chiến 129
Tất cả cho tiền tuyến 144
From Man to Myth 156
Nắng sớm
22-07-08, 02:01
Tựa


Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng
Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu nhi Việt nam

Từ bé, tôi đã được dạy bài hát này, vì thế bây giờ vẫn thuộc. Lên 8 tuổi, tôi vẫn nhớ như in một buổi sáng, bà ngoại gọi tôi thảng thốt: “Nam ơi, Bác Hồ mất rồi”, chẳng biết gì nhưng thấy cả nhà khóc tôi cũng òa lên khóc. Lớn dần lên, biết thêm rất nhiều bài hát hay, thỉnh thoảng được khen là “cháu ngoan”,... thấy Bác vẫn là một cái gì đó thiêng liêng, nhưng quả thật giống như một vị thánh chẳng có ích gì nhiều trong cuộc sống.

Học xong, về nước, những háo hức của công việc mới lôi đi. Cho đến năm 1999, khi FPT quyết định xuất khẩu phần mềm. Bước ra nước ngoài, hầu như rất ít người biết đến Việt nam là gì, ở đâu, ngoài việc Việt nam gắn liền với chiến tranh và Hồ Chí Minh. Hè năm 2002, Phan Phương Đạt mang về một cuốn sách. “Ho Chi Minh, a life”. Tôi liền mượn đọc. Gấp cuốn sách lại, ký ức nguyên vẹn của buổi sáng năm 1969 lại ùa về. Nước mắt cứ tự nhiên tràn ra. Bỗng nhiên hiểu ra sự cô đơn khôn cùng của Bác trước lúc ra đi, được Trần Hoàn diễn tả lại xúc động trong bài hát của mình. Chợt thấy những tư tưởng của Bác sao mà gần gũi, thật phù hợp cho hoàn cảnh của Fsoft lúc đó khi khách hàng thưa thớt, anh em chán nản. Tôi đã đọc đi đọc lại mấy lần, và quyết tâm dịch quyển sách này ra tiếng Việt. Tôi muốn chia sẻ với vợ tôi, với con gái tôi, với bạn bè tôi, với đồng nghiệp của tôi về những điều tầm thường mà vĩ đại của con người HCM, về những bi kịch và oai hùng của nước Việt nam thế kỷ 20, thế kỷ loạn lạc nhất trong lịch sử loài người.

Nhiều bạn bè tôi hay hỏi, liệu lịch sử Việt nam có thay đổi nếu như năm 1945, HCM chấp nhận thỏa hiệp với Pháp để tránh cuộc chiến tranh? Tôi không biết. Nhưng nếu dựa vào những gì Người kịp làm trong năm đầu tiên của nước cộng hòa non trẻ, cũng như những ý nguyện được để lại trong bản di chúc, có thể nói rằng dân tộc ta đã không may, khi không có được một quãng thời gian hòa bình đủ dài để HCM thể hiện tài năng chấn hưng đất nước của mình.
Đọc cuốn sách này, có thể nói bất cứ một người dân Việt nào muốn, đều có thể tìm thấy hinh ảnh mình trong cuộc đời của HCM. Có thể hiểu vì sao, con người Bác lại có sức thuyết phục và lôi cuốn lạ kỳ. Từ ông Tây, ông Mỹ, đến trí thức, dân thường. Mới cách đây mấy tháng khi ở Nhật bản, tôi được biết những người thuyền viên Việt nam sang Nhật bỏ trốn, đã chọn HCM làm ông tổ nghề, vì theo họ, H cũng đã làm thuyền viên và cũng đã bỏ trốn.

Xin cám ơn tác giả W. Duiker đã đem lại cho tôi một cái nhìn toàn diện về tổ quốc tôi trong thế kỷ XX thông qua tiểu sử của người con ưu tú nhất mà đất nước đã sản sinh ra - Hồ Chí Minh.

Nguyễn Thành Nam
Nắng sớm
22-07-08, 02:03
Bác nào thích thì em up cả quyển lên mạng để down, còn không em cóp pết vào đây.

Lưu ý là phần đầu truyện có một số chỗ sai chính tả, em có đọc nhưng không sửa. Đoạn giữa về sau em có sửa lại chính tả do lỗi gõ.
Nắng sớm
22-07-08, 02:04
Lời tựa của tác giả

Tôi (W. Duiker) đã bị hấp dẫn bởi HCM từ giữa những năm 1960, khi còn là một nhân viên đối ngoại trẻ tuổi làm việc tại toà đại sứ Mỹ. Tôi đã bị lúng túng khi phát hiện thấy những du kích Việt cộng trong rừng tỏ ra có kỷ luật và được động viên tốt hơn quân đội chính quy của chính quyền Sài gòn được chúng tôi ủng hộ. Tôi đã để tâm tìm hiểu và tìm ra lời giải thích qua vai trò chiến lược và động lực thúc đẩy của nhà cách mạng Việt nam lão thành HCM

Sau khi ra khỏi chính phủ để tiếp tục con đường nghiên cứu khoa học của mình, tôi đã nghĩ tới việc viết tiểu sử của con người kỳ lạ này, nhưng tôi nhanh chóng nhận ra rằng trong bối cảnh lịch sử thời đó, chưa thể có đầy đủ điều kiện để tiếp cận các nguồn thông tin. Bởi thế cho đến tận gần đây, khi cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới trở nên cởi mở hơn đã thúc đẩy tôi bắt đầu sự nghiệp khó khăn này.

Hôm nay, sau hơn 2 thập kỷ trăn trở, tôi muốn cám ơn các con gái tôi Laura và Claire đã không phàn nàn kêu ca, lắng nghe cha chúng thuyết giảng hàng giờ về Việt nam. Tôi vô cùng biết ơn vợ tôi Yvone, người đầu tiên đọc bản thảo, người đã kiên nhẫn chấp nhận HCM như một thành viên của gia đình chúng tôi.





Danh sách các tổ chức được nhắc đến trong cuốn sách này:

Đảng cộng sản Annam (ACP): đảng được thành lập tại Đông dương năm 1929 sau khi Hội thanh niên cách mạng bị giải thể. Sau đó được sát nhập vào Đảng cộng sản Việt nam tháng 2/1930
Đội tuyên truyền giải phóng quân (APB): tiền thân chính thống của quân đội Việt nam
Cứu quốc quân: các đơn vị vũ trang được tổ chức hoạt động chống Pháp và Nhật, sau đó được sát nhập vào APB thành quân giải phóng Việt nam (VLA)
Quân đội Việt nam cộng hòa: quân đội của chính quyền miền Nam từ 1956-1975
Quốc gia Liên hiệp Việt nam (ASV): chính quyền của Bảo đại được hiệp định Elysee năm 1949 thừa nhận. ASV hợp tác với Pháp trong cuộc chiến tranh Pháp – Việt minh.Sau hiệp định Geneva ASV bị chính quyền miền Nam độc lập thay thế
Tâm Tâm Xã (Association of like mind): tổ chức cách mạng cực đoan do một số phần tử di cư thành lập ở Nam trung quốc năm 1924. Sau này bị Q biến thành Việt nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội
Hội nghiên cứu chủ nghĩa Max: Hội trên giấy do đảng cộng sản đông dương lập ra khi tự giải tán và rút vào bí mật tháng 11 năm 1945.
Cao đài: một tôn giáo hổ lốn phát sinh ở Nam bộ vào cuối thế chiến thứ nhất. Cao đài chống lại tất cả các chính quyền muốn kiểm soát nó. Hiện vẫn đang còn hoạt động
Đảng nhân dân cách mạng Campuchia (CPRP): một trong 3 đảng thừa kế đảng Cộng sản Đông dương bị giải tán năm 1951. Các lực lượng vũ trang của CPRP được gọi là Khơ me đỏ. Giữa những năm 60,Đảng cộng sản Khơ me thay thế CPRP.
Trung ương cục miền Nam (COSVN): cơ quan đầu não của đảng cộng sản ở phía Nam trong hai cuộc chiến tranh. Thành lập năm 1951 và giải tán sau năm 1975
Quốc tế cộng sản: tổ chức cách mạng được thành lập tại nước Nga Xô viết năm 1919, lãnh đạo hoạt động của các đảng thành viên. Giải tán năm 1943. Đảng CS Đông dương gia nhập năm 1935.
Đông dương cộng sản Đảng (CPI): Tổ chức chết yểu, gồm những phần tử ly khai khỏi Thanh niên Hội năm 1929. Đầu năm 1930, lại hợp nhất với Tân Việt và Hội thành đảng Cộng sản Việt nam.
Đảng hiến pháp: đảng chính trị ôn hòa do một số phần tử cải lương thành lập ở Nam bộ đầu những năm 1920. Đảng này chủ trương dành quyền tự trị dưới sự bảo trợ của Pháp. Lãnh đạo là Bùi Quang Chiêu hay lên tiếng phê phán đảng Cộng sản và bị thủ tiêu trong thời gian cách mạng tháng 8.
Đảng Đại Việt: thành lập trong thời kỳ thế chiến 2, theo Nhật chống Pháp. Đảng này tồn tại ở Nam Việt nam đến tận năm 1975.
Việt nam dân chủ cộng hòa (DRV): chính phủ do HCM lập ra ngày 2/9/1945. Hiệp định Geneva năm 1954 thừa nhận chủ quyền của DRV ở miền Bắc VN. Năm 1976 đổi thành CH XHCN Việt nam
Đông kinh nghĩa thục (Hanoi Free School): trường học do một số nhà yêu nước lập ra ở Hà nội để thúc đẩy cải cách trong thập kỷ đầu của thế kỷ 20. Sau khi bị Pháp đóng cửa, những nhà sáng lập đã truyền đạt ý tưởng vào trường Dục Thanh ở Phan thiết, nơi Q đã từng dạy năm 1910.
Việt nam cách mạng Đồng minh Hội (Đồng minh Hội): con đẻ của tướng Quốc dân đảng Trương Phát Khuê, liên kết một số đảng theo đường lối dân tộc chủ nghĩa, thành lập tháng 8/1942. Khuê định dùng liên minh này để chống Nhật ở Đông dương. Mặc dù Q đã tranh thủ lợi dụng cho mục đích của mình, sau thế chiến II, Hội này quay ra chống Đảng cộng sản đông dương kịch liệt. Khi cuộc chiến với Pháp nổ ra tháng 12/1946, Hội này coi như giải tán.
Mặt trận Tổ quốc: thành lập năm 1955, thay thế cho mặt trận Liên Việt và trước đó là Việt minh
Hòa hảo: cũng là một tôn giáo hổ lốn do nhà sư Huỳnh Phú Sổ thành lập năm 1939. Cực kỳ chống Pháp, và chống cả Cộng. Hiện vẫn đang hoạt động
Thanh niên cao vọng: một tổ chức dân tộc do Nguyễn An Ninh lập ở Sài gòn giữa những năm 1920. Chết yểu.
Đảng cộng sản Đông dương (ICP): do HCM và các đồng chí thành lập tháng 10/1930. Trước đó là đảng cộng sản Việt nam. Tự giải tán năm 1945. Thành lập lại năm 1951 dưới tên Đảng lao động Việt nam.
Liên bang Đông dương: kế hoạch của ICP để thống nhất Đông dương. Sau năm 1951, kế hoạch này được gọi là “mối quan hệ đặc biệt” giữa ba nước.
Liên hiệp Đông dương: tổ chức hành chính do Pháp lập ra cuối thế kỷ 19 để bảo đảm luật lệ của Pháp ở khu vực.
ủy ban kiểm tra quốc tế: giám sát thực thi hiệp định Geneva, gồm có Canada, ấn độ, Ba lan
Đảng nhân dân cách mạng Lào: đảng do ĐCS Việt nam bảo trợ, thành lập đầu năm 1950, còn hay được gọi là Pathet Lào
Mặt trận Liên Việt: do ICP thành lập năm 1946 để tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng với đảng, sát nhập với Việt minh năm 1951, đến năm 1955 bị Mặt trận Tổ quốc thay thể
Quốc học: trường trung học uy tín ở Huế, thành lập năm 1896, đào tạo các quan lại thế hệ mới, dạy tiếng Pháp và các môn văn minh phương Tây. Q học trường này từ 1907-1908.
Vệ quốc quân: tên khác của Giải phóng quân (VLA) sau CMT8, được chọn để tránh rắc rối với lực lượng Tàu đang chiếm đóng.
Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (NLF): liên minh rộng rãi nhiều nhóm chống đối tại miền Nam, thành lập năm 1960 dưới sự bảo trợ của DRV, giải tán năm 1976.
ủy ban giải phóng dân tộc: thành lập ở Tân trào để chuẩn bị cho CMT8. H làm chủ tịch
Tân Việt: đảng cách mạng chống Pháp, thành lập cuối những năm 1920, sau đó sát nhập vào với ICP
Quân đội nhân dân Việt nam: thành lập ở DRV sau 1954, thừa kế Giải phóng quân Việt nam hoạt động trong chiến tranh chống Pháp.
SEATO: liên minh do Mỹ thành lập để ngăn chặn sự bành trướng của CNCS ở Đông Nam á.
Thanh niên tiền phong: do Phạm Ngọc Thạch thành lập trong thời gian thế chiến 2, được Nhật ủng hộ. ICP đã dùng lực lượng này để hỗ trợ CMT8 tại Sài gòn.
Việt cộng: tên miệt thị để chỉ quân giái phóng miền Nam Việt nam, lực lượng vũ trang của NLF
Việt minh: do ICP đứng ra thành lập tháng 5/1941. Lực lượng chính trị chủ yếu trong chiến tranh với Pháp sau 1945
Đảng cộng sản Việt nam: do H thành lập tháng 2/1930. Sau đó đổi thành ICP. Đến tháng 12/1976 mới lấy lại tên này.
Đảng dân chủ Việt nam: tập hợp những phần tử yêu nước không cộng sản trong thành phần Việt minh. Tồn tại đến sau năm 1976
Quân đội quốc gia Việt nam: tên chính thức của các lực lượng vũ trang của Quốc gia liên hiệp do Bảo đại cầm đầu. Năm 1956 được Quân đội Việt nam cộng hòa thay thế.
Việt nam quốc dân đảng: đảng dân tộc không cộng sản, thành lập ở Bắc kỳ năm 1927. Trong nhiều thập kỷ là đối trọng chính trị chủ yếu của ICP. Nay đã bị giải tán.
Việt nam quang phục Hội: đảng chống thực dân do Phan Bội Châu thành lập năm 1912. Mục tiêu thay thế chế độ quân chủ bằng nền cộng hòa. Sau mấy cuộc nổi dậy thất bại, đảng bị mất uy tín và tan rã.
Nắng sớm
22-07-08, 02:05
Mở đầu

Sáng 30/4/1975, từng đoàn xe tăng Liên xô do các chiến binh Bắc Việt với mũ cối gắn sao vàng vẫy cờ của PRG vượt qua những vùng ngoại ô Sài gòn tiến thẳng tới dinh Độc lập. Đoàn xe từ từ vượt qua Toà Đại sứ Mỹ, nơi những chiếc trực thăng đang di tản những người Mỹ cuối cùng. Chiếc tăng đầu tiên do dự đôi chút rồi húc đổ cánh cổng sắt tiến thẳng vào sảnh. Viên chỉ huy lao ra, leo lên nóc toà nhà thay thế lá cờ ba que của Việt nam cộng hoà bằng lá cờ xanh đỏ của PRG. Cuộc chiến dai dẳng nhất trong lịch sử nước Mỹ đã đến hồi kết sau gần 1 thập kỷ ác liệt và đẫm máu, cướp đi hơn 58 ngàn sinh mạng.

Chiến thắng của cộng sản tại Sài gòn là kết quả của sự quyết tâm và tài năng của VWP dưới sự lãnh đạo của Lê Duẩn cộng với sự hy sinh của các chiến binh - bộ đội (tương tự như người Mỹ gọi các người lính là GI) , những người đã chiến đấu và ngã xuống vì sự nghiệp cách mạng trong các cánh rừng và đầm lầy Việt nam. Nhưng cao hơn tất cả, chiến thắng đó được xác định bởi một tầm nhìn, ý chí và sự lãnh đạo của một con người: HCM.

Đặc vụ của QTCS tại Matxcơva, thành viên của phong trào cộng sản quốc tế, người kiến tạo cho thắng lợi của Việt nam, không nghi ngờ gì nữa, HCM là một trong những nhà chính trị có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20. Đồng thời, ông cũng là một trong những con người bí hiểm nhất, một nhân vật mờ ảo mà lý lịch và động cơ của ông luôn gây nên những cuộc tranh luận không ngừng.

Ông là một nhà dân tộc chủ nghĩa hay là một người cộng sản? Hình ảnh một con người giản dị và quên mình là chân thật hay đơn giản chỉ là kết quả của các ngón kỹ xảo? Với những người ủng hộ, Hồ là biểu tượng của chủ nghĩa nhân đạo cách mạng, người cống hiến cả cuộc đời mình cho hạnh phúc của đồng bào và các dân tộc bị áp bức. Với những người đã được tiếp kiến ông, Việt nam hay nước ngoài, ông là một người hết sức nhã nhặn, một nhà yêu nước quên mình, luôn đau nỗi đau chung của dân tộc. Những người phê phán lại vạch ra những hành động cách mạng quá trớn được thực hiện dưới tên ông, tố cáo ông là con thằn lằn hoa, là sói đội lốt cừu.

Câu hỏi về tính cách và động cơ của HCM là tâm điểm của các cuộc tranh luận tại Mỹ về đạo lý của cuộc chiến ở Việt nam. Với những nhà phê phán chính sách của chính phủ Mỹ, ông đơn giản là một nhà cách mạng đấu tranh vì độc lập của Việt nam, một đối thủ mạnh mẽ của chủ nghĩa đế quốc trong Thế giới thứ ba. Những người ủng hộ cuộc chiến thì lại nghi ngờ về động cơ yêu nước, cho rằng ông là đặc vụ của Stalin.

Đối với người Mỹ, cuộc luận chiến về sự đam mê của HCM dần dần đã thành quá khứ. Nhưng đối với Việt nam, nó gợi lên những câu hỏi có tính chất nền móng, bởi vì nó định nghĩa một trong những vấn đề căn bản của cách mạng Việt nam: mối quan hệ dựa sự tự do của con người và bình đẳng kinh tế trong Việt nam sau chiến tranh. Từ sau cuộc chiến, nhiều đồng chí hiện đang cầm quyền đã mượn uy ông để biện hộ cho mô hình cộng sản phát triển đất nước. Họ nói rằng, mục tiêu cuối cùng của ông là kết liễu sự bóc lột toàn cầu của chủ nghĩa tư bản, xây dựng một xã hội mới theo những viển vông của K. Marx. Nhưng cũng có một vài giọng chống đối đã phản biện rằng, thông điệp lớn nhất của cuộc đời ông là xoa dịu quy luật đấu tranh giai cấp của Marx bằng cách hoà trộn nó với đạo đức Khổng tử và thuyết ba ngôi của cách mạng Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái. Họ dẫn lời của ông: Không có gì quý hơn độc lập, tự do.

Sự phức tạp trong tính cách của ông thể hiện sự phức tạp của thế giới thế kỷ 20, thế kỷ của chủ nghĩa dân tộc, cách mạng, chủ nghĩa bình đẳng và cuộc đấu tranh cho tự do. Dù tốt hay xấu, HCM là hiện thân của hai thế lực chủ yếu đang điều khiển xã hội hiện đại: sự khát khao độc lập dân tộc và cuộc tìm kiếm công lý xã hội và bình đẳng kinh tế. Đã đến lúc phải phơi bày nhân vật bao trùm thế kỷ 20 này cho sự phân tích lịch sử.

Tuy cái tên HCM được hàng triệu triệu người biết đến, nhưng không phải dễ dàng có thể kiểm tra được các nguồn thông tin về ông. Như một nhà cách mạng chống Pháp ông luôn luôn phải sống trong bí mật, sử dụng nhiều tên tuổi khác nhau. Thống kê cho thấy ông đã sử dụng hơn 50 cái tên trong cuộc đời và các bài viết. Bản thân HCM cũng làm vấn đề thêm phức tạp bằng cách tự sáng tạo ra những huyền thoại về cuộc đời mình. Vào cuối những năm 1950, một số tiểu sử của HCM được công bố và chỉ đến gần đây các nhà nghiên cứu mới xác nhận được những tác phẩm đó thực sự là của HCM.

Phong cách lãnh đạo của ông cũng làm các nhà nghiên cứu chú ý. Mặc dù là người sáng lập ra Đảng cộng sản Đông dương (ICP), nhưng khác với Lênin, Stalin hay Mao Trạch Đông, HCM thường lãnh đạo bằng cách thuyết phục và đồng thuận thay cho việc áp đặt ý chí của mình. Ông cũng rất kín đáo với những tư tưởng và động cơ bên trong của mình. Trái với các nhà cách mạng nổi tiếng khác, ông không sa đà vào các cuộc tranh luận về hệ triết học tư tưởng mà tập trung toàn bộ tâm trí của mình để giải quyết các vấn đề cụ thể để giải phóng Việt nam và các dân tộc bị áp bức khỏi ách đô hộ của phương Tây.

Trong một cuộc phỏng vấn khi được hỏi sao ông không bao giờ viết các chuyên luận về tư tưởng, HCM đã trả lời rằng ông muốn nhường việc đó lại cho Mao. Trong những năm cuối của ông, các tác phẩm nghiêm túc về học thuyết đều do những học trò của ông như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh hay Lê Duẩn viết.

Bao giờ cũng có những yếu tố huyền thoại bao quanh những con người nổi tiếng. Không phải ai cũng biết cách tạo và hưởng thụ những huyền thoại như HCM. Từ vị trí trong đền thờ của những vị thánh cách mạng, HCM chắc sẽ rất vui lòng được biết rằng, hương khói huyền thoại bao quanh ông vẫn còn nguyên trong cuốn tiểu sử này.
Nắng sớm
22-07-08, 02:09
Mất nước

Khi đội quân của ông đang rong ruổi ầm ĩ trên các đường phố tiếp nhận sự đầu hàng của quân thù, ông lặng lẽ vào thành phố, trong một ngôi nhà 2 tầng nhỏ với chiếc máy chữ đã theo sát mình từ Matxcova đến Trung hoa và Việt nam trong những tuần đầu 1941.

2h chièu ngày 2/9/1945 trên lễ đài dựng tạm tại một quảng trường mà sau này được gọi là Ba Đình, trong bộ quần áo kaki bạc màu, với chất giọng còn đậm nguồn gốc xứ Nghệ, ông đã đọc bản tuyên ngôn khai sinh cho một dân tộc độc lập. Những lời đầu tiên của bản hiến pháp đã làm sửng sốt một số người Mỹ có mặt trong đám đông: "Tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá đã cho họ những quyền tối thượng trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Tại thời điểm đó, chỉ có ít người biết được HCM chính là đại diện của QTCS, người sáng lập ra ICP năm 1930. Đối với đa số dân Việt nam, HCM chỉ đơn giản là một người yêu nước, đã phục vụ lâu dài cho đất nước. Trong suốt 1/4 thế kỷ tiếp sau, nhân dân Việt nam và cả thế giới mới có cơ hội đê chiêm nghiệm, đánh giá con người này.

Cuộc trường chinh của HCM đến quảng trường Ba đình ngày đó, được khởi đầu từ một ngày hè năm 1858, khi hạm đội Pháp nổ súng tấn công thương cảng Đà nẵng. Mặc dù cuộc tấn công không phải hoàn toàn là bất ngờ. Trước đó vài thập kỷ, các nhà truyền giáo Pháp đã lang thang khắp nơi để cứu rỗi tâm hồn Việt, các nhà buôn thì bận rộn tìm kiếm thị trường và tìm những con đường thâm nhập vào Trung quốc, các nhà chính trị Pháp thì tin rằng, chỉ có thôn tính các thuộc địa tại châu á mới giúp nước Pháp đứng vững ở vị trí siêu cường. Cho đến giữa thế kỷ, người Pháp vẫn hy vọng bằng con đường ngoại giao thuyết phục được triều đình Huế chịu ảnh hưởng của họ. Tuy nhiên khi các cuộc đàm phán chắng đi đến đâu, chính quyền của Hoàng đế Luise quyết định dùng vũ lực.

Cuộc chiến với Pháp không phải là cuộc chiến đầu tiên của Việt nam. Có thể nói, hiếm có dân tộc nào trên châu á đã chiến đấu bền bỉ và lâu dài để bảo vệ nền độc lập của mình hơn người Việt nam. Từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên, khi nước cộng hoà Roma còn đang trong trứng nước, Trung hoa đã xâm chiếm Việt nam và thực hiện hàng loạt các chương trình chính trị và văn hoá để đồng hoá dân tộc này. Mặc dù Việt nam đã giành được độc lập vào thế kỷ thứ 10, phải đến hàng trăm năm sau, khi Việt nam chấp nhận một hình thức triều cống, các hoàng đế Trung hoa mới chịu chấp nhận sự thật về một nước Việt nam độc lập.

Hơn nghìn năm chung sống với Trung hoa đã để lại những hệ quả sâu sắc. Hệ thống chính trị, văn học, nghệ thuật, tư tưởng, tôn giáo và cả ngôn ngữ Hoa đã bắt rễ sâu bền trên mảnh đất Việt nam. Mặc dù những yếu tố dân tộc chưa bao giờ biến mất trong văn hoá Việt nam, đối với người quan sát không được đào tạo bên ngoài, Việt nam chẳng khác gì một con rồng thu nhỏ hình ảnh của người láng giềng khổng lồ ở phía Bắc.
Tuy có vẻ như người Việt sẵn sàng hấp thụ những ảnh hưởng văn hoá từ phương Bắc, họ vô cùng cương quyết trong vấn đề độc lập dân tộc. Những vị anh hùng dân tộc, từ Hai Bà Trưng đến Lê Lợi, Nguyễn Trãi đều xuất thân từ các cuộc kháng chiến. Lịch sử đã hình thành một dân tộc có có đặc tính dân tộc và ý chí chống ngoại xâm mạnh mẽ.

Cuộc đấu tranh về sự tồn vong đã hun đúc truyền thống quân sự, sẵn sàng chấp nhận dùng vũ lực để bảo vệ đất nước. Từ sau khi giành được độc lập, Việt nam (lúc đó gọi là Đại Việt) đã có cuộc hành quân lâu dài về phương Nam chống lại Champa. Bắt đầu từ thế kỷ 13, Đại Việt đã bắt đầu thắng thế và thôn tính hoàn toàn Champa vào thế kỷ 17. Đất nước Việt nam trải dài đến tận mũi Cà mau trong vịnh Thái lan và Việt nam trở thành một cường quốc ở ĐNA. Tuy nhiên đất nước đã phải trả giá cho sự phát triển. Các mâu thuẫn đã phát sinh ra cuộc nội chiến dai dẳng Đằng Trong - Đằng Ngoài. Gia Long tạm thời thống nhất được đất nước từ đầu thế kỷ 19, tuy nhiên các mâu thuẫn quyết liệt giữa các vùng về quyền lợi kinh tế chưa bao giờ được giải quyết trọn vẹn.

Cũng tại thời điểm đó, các hạm đội châu Âu, theo chân của Vasco da Gama bắt đầu lảng vảng dọc bờ biển Nam Trung Hoa và vịnh Thái lan để tìm kiếm kim loại quý, đặc sản và các linh hồn cần cứu rỗi. Không chịu ngồi nhìn kẻ kình địch Anh củng cố lực lượng tại ấn độ và Miến điện, người Pháp quyết định chọn Việt nam.

Vào năm 1853, Tự Đức lên ngôi. Thật không may, ông vua trẻ này phải gánh trên vai trách nhiệm chống lại cuộc xâm lược đầu tiên sau nhiều thế kỷ. Tuy có thiện chí và thông minh, ông vua này lại thiếu tính cương quyết và có một sức khoẻ ẻo lả. Khi quân Pháp tấn công Đà nẵng, bản năng của Tự Đức đã mách bảo là phải chiến đấu. Hạm đội của đô đốc Charlé Rigault de Genuoilly, đợi mãi không thấy sự nổi dậy của quần chúng như các nhà truyền giáo thông báo, lại bị bệnh tả và lỵ hoành hành đã bỏ Đà nẵng và tấn công vào Sài gòn, một thành phố đang trên đà phát triển. Sau 2 tuần, Sài gòn thất thủ. Thất bại tại phía Nam đã làm nản lòng Tự Đức. Ông đồng ý đàm phán và cắt 3 tỉnh Nam Bộ (sau đó là 3 tỉnh nữa) thành thuộc địa của Pháp với tên gọi Cochin China. Pháp đã thắng hiệp đầu. Trong những năm tiếp sau, triều đình cố gắng giữ độc lập. Nhưng sau khi Pháp tấn công Hà nội và chiếm một số thành phố tại châu thổ sông Hồng thì triều đình hoàn toàn bị tê liệt. Ông vua ốm yếu Tự Đức vừa chết trước đó vài tháng đã để lại một triều đình đầy mâu thuẫn. Sau vài tháng đấu đá, Tôn Thất Thuyết nắm được quyền bính và đưa Hàm Nghi lên ngôi với hy vọng tiếp tục kháng chiến. Theo yêu cầu của Việt nam, Nhà Thanh gửi quân sang giúp đỡ nhưng vô hiệu. Năm 1885,Trung hoa rút quân và ký hiệp định với Pháp, bãi bỏ chế độ triều cống của Việt nam. Tại Huế, Hàm Nghi phải bỏ chạy lên núi cùng với Tôn Thất Thuyết. Triều đình chấp nhận nhượng bộ và để cho Pháp trên thực tế thôn tính nốt Tonkin (Bắc bộ) và Annam (Trung bộ), mặc dù triều đình bù nhìn vẫn được duy trì ở Annam.

Quá trình Pháp thôn tính Việt nam là cuộc thị uy của các quốc gia tiên tiến phương Tây đang bước vào thời đại công nghiệp hoá. Bị thúc ép bởi nhu cầu tìm kiếm nguyên liệu rẻ và thị trường, phương Tây đã dùng vũ lực để áp đặt chế độ cai trị của mình. Vào cuối thế kỷ 19, tất cả các quốc gia Nam và Đông Nam á (trừ Thái lan - Xiêm) đã trở thành thuộc địa.

Triều đình đầu hàng không đồng nghĩa với kết thúc mong muốn độc lập của Việt nam. Rất nhiều các quan lại và tướng lĩnh không chấp nhận hạ vũ khí. Đáng kể nhất là phong trào Cần Vương (Cứu Vua) của Phan Đình Phùng tại Hà tĩnh. Khi Hoàng Cao Khải, bạn thơ ấu của Phan đến khuyên ông đầu hàng, ông đã khảng khái trả lời như một nhà nho yêu nước:

"Nếu Trung Hoa, hàng ngàn lần mạnh hơn chúng ta, lại có biên giới chung với chúng ta, đã không thể dùng sức mạnh để đè bẹp Việt nam, chỉ có thể nói sự tồn vong của dân tộc Việt nam đã chính là nguyện vọng của Thượng đế"

Tuy nhiên sự tồn tại của hai nhà Vua: Đồng Khánh và Hàm Nghi đã tạo nên một sự chia rẽ sâu sắc trong tầng lớp trí thức nho giáo theo tư tưởng Trung quân trong suốt gần nửa thế kỷ sau.
Nắng sớm
22-07-08, 02:10
Nghệ An, nơi có những bãi biển yên ả, những dãy núi tím đỏ, những cánh đồng lúa xanh, là trung tâm của phong trào chống Pháp. Mảnh đất hẹp và cằn cỗi này luôn phải đối mặt với mọi thử thách của thiên nhiên, đã làm cho những con người sống trên nó nổi tiếng là cứng đầu và bất trị. Trong 2 thập kỷ cuối của thế kỷ 19, nhiều người trong số những tầng lới ưu tú nhất của Nghệ an đã chiến đấu và hy sinh dưới ngọn cờ Cần Vương.

Tại đây, làng Kim Liên - Huyện Nam Đàn, năm 1863, vợ hai của phú nông Nguyễn Sinh Vương (hay còn gọi là Nguyễn Sinh Nhâm), bà Hà Thị Hy đã sinh con trai đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc. Vợ cả của Vương đã chết trước đó vài năm, để lại cho chồng một con trai khác tên là Nguyễn Sinh Tro. Lên 4 tuổi, Sắc mồ côi cả cha lẫn mẹ và được anh Tro nuôi nấng. Do thường xuyên bị hạn hán đe doạ, người dân phải làm đủ mọi việc để sống: thợ mộc, thợ đấu, thợ rèn, thêu. Tuy vậy truyền thống học hành vẫn được đề cao. Nhiều nhà nho đèn sách đi thi hoặc mở thêm lớp dạy học kiếm sống.

Mặc dù gia phả nhà Vương còn ghi lại nhiều đời đỗ đạt, Sắc không có nhiều cơ hội để trở thành thư sinh. Những buổi đi chăn trâu cho anh, cậu thường ghé vào nghe ké lớp học của Vương Thúc Mậu. Lớn lên, Sắc đã nổi tiếng khắp làng về tính ham học và được Hoàng Dương (Hoàng Xuân Dương), bạn của Mậu, chú ý. Để ý thấy cậu bé thường xuyên nằm trên lưng trâu đọc sách trong lúc chúng bạn chơi đùa, Dương nhận lời đỡ đầu cậu. Năm 15 tuổi, Sắc theo Dương chuyển sang làng Hoàng Trù và bắt đầu học với cha nuôi của mình. (theo truyền thống nho giáo, những học trò tài năng thường hay được họ hàng hoặc người thân đỡ đầu. Khi đỗ đạt, cả cha mẹ và người đỡ đầu đều được hưởng vinh quang)

Họ Hoàng bắt đầu từ Hưng Yên và có dòng dõi khoa bảng. Bố của ông Dương đã từng ba lần đi thi và đậu tú tài. Trong lúc chồng dạy học, vợ ông là Nguyễn Thị Kép và hai con gái là Hoàng Thị Loan và Hoàng Thị An suốt ngày bận rộn ngoài đồng để nuôi sống gia đình. Truyền thống xã hội Việt nam trao nhiều quyền cho người phụ nữ, tuy nhiên với ảnh hưởng ngày càng lan rộng của đạo Khổng đến thời điểm đó, vai trò của phụ nữ ngày càng trở nên thứ yếu. Họ không có cơ hội được hưởng giáo dục. Trong bối cảnh đó, bà Kép và con gái đã may mắn hơn vì có được chút ít kiến thức. Gia đình bà Kép cũng có truyền thống khoa bảng và bố bà cũng đậu tú tài.

Cậu bé Sắc đã lớn lên trong một môi trường như vậy. Cũng không ngạc nhiên khi cậu phải lòng cô bé Loan xinh đẹp. Mặc dù bà Kép hơi băn khoăn vì cậu mồ côi cha mẹ, đám cưới vẫn được tiến hành vào năm 1883. Cặp vợ chồng trẻ được bố mẹ vợ cho một căn nhà 3 gian ấm cúng ngay cạnh nhà. ở giữa hai nhà là gian nhà nhỏ đặt bàn thờ tổ tiên. Trong 7 năm sau đó, bà Loan sinh được 3 người con: con gái Nguyễn Thị Thanh, 1884; con trai Nguyễn Sinh Khiêm năm 1888 và ngày 19 tháng 5 năm 1890, cậu bé Nguyễn Sinh Cung mà sau này là HCM ra đời .

Năm 1891, Sắc ra Vinh thí Tú Tài và bị trượt. Không nản chí ông vẫn tiếp tục đèn sách. Năm 1893, bố vợ ông qua đời, ông phải đi dạy thêm để giúp đỡ gia đình. 5/1894 Sắc đi thi lần thứ hai và đỗ cử nhân. Thông thường người có học vị cử nhân thường tim các vị trí trong bộ máy chính quyền. Ông Sắc lại quyết định sống thanh bạch bằng nghề dạy học tại quê nhà. Và bà Loan lại tiếp tục ra ruộng.

Tình hình kéo dài không lâu, mùa xuân năm 1895, Nguyễn Sinh Sắc ra Huế thi Hội. Ông bị trượt nhưng quyết định xin ở lại vào trường Quốc tử giám để ôn thi cho kỳ sau. Quốc tử giám có nguồn gốc từ những ngày đầu độc lập tại Hà nội và là nơi đào tạo cho bộ máy cai trị của triều đình. Nhờ một số người bạn giúp đỡ, Sắc được nhận học bổng. Ông quay về Nghệ an để đón vợ và con vào.

Không có tiền để đi tàu thuỷ, gia đình Sắc quyết định đi bộ. Vào thời đó, đường từ Vinh đi Huế hết sức vất vả và nguy hiểm phải vượt qua những cánh rừng rậm đầy hổ báo cũng như luôn phải đối phó với những băng cướp đường. Họ đi khoảng 30 km/ngày và mất tổng cộng khoảng 1 tháng. Khi mệt quá cậu bé Cung 5 tuổi được cha mẹ cõng và kể cho những câu chuyện về những vị anh hùng cứu nước Việt nam.

Mặc dù đã trở thành trung tâm chính trị của cả nước (Gia Long quyết định chuyển kinh đô vào miền Trung để thể hiện ý chí thống nhất đất nước của mình), Huế tại thời đó cũng chỉ có không đến chục ngàn dân. Kiệt sức vì đi đường, Sắc may mắn được một người bạn cho ở nhờ. Sau đó gia đình chuyển đến một căn nhà nhỏ trên phố Mai Thúc Loan, nằm gần tường đông của Cấm thành trên bờ bắc sông Hương. Sắc ít khi đến trường, ông thích tự học ở nhà và dạy con cũng như con cái của lớp quan lại láng giềng. Cậu bé Cung từ nhỏ đã tỏ ra rất thích tìm hiểu thế giới xung quanh. Khi quan sát những nghi lễ cung đình, cậu đã hỏi mẹ, liệu không biết vua có què không mà phải đi kiệu.

Năm 1898, Sắc thi trượt lần 2 và buộc phải chấp nhận công việc dạy học tại thôn Dương Nỗ. Bà Loan thì kiếm thêm bằng công việc may vá và giặt thuê. Chủ trường Dương Nỗ, một tay phú nông đã đồng ý cho 2 con trai của Sắc được tham dự trường. Có thể đây là nền giáo dục Khổng tử chính thức đầu tiên mà cậu bé Cung được hưởng.

Tháng 8/1900 Sắc được bổ nhiệm làm giám khảo trường thi tại Thanh hóa. Ông mang cậu bé Khiêm đi, còn Cung ở lại Huế với mẹ. Trên đường về, ông ghé qua Kim Liên để xây lại mộ cho bố mẹ. Đây được coi là vinh hạnh vì thông thường cử nhân không được làm giám khảo, tuy nhiên cái giá của chuyến đi là quá đắt. Tại Huế, bà Loan đã qua đời ngày 10/2/1901 vì hậu sản sau khi sinh cậu bé thứ tư: Nguyễn Sinh Xin. Bà con hàng xóm vẫn nhớ cảnh cậu bé Cung vừa đi vừa khóc qua các nhà để xin sữa nuôi em. Khuôn mặt tươi vui của cậu trở nên buồn rười rượi.

Nghe tin vợ chết, ông Sắc lập tức trở về Huế và mang các con ra Hoàng Trù. Cậu bé Cung khi đó đã là một học trò nhanh trí và nhớ được khá nhiều chứ Hán, tuy nhiên bố cậu vẫn lo cậu ham chơi và gửi cậu học ở một người bà con xa bên vợ: ông Vương Thúc Đỗ. Vương nổi tiếng thời bấy giờ vì không bao giờ đánh học trò và thường chiêu đãi các học trò của mình bằng những câu chuyện những anh hùng chống ngoại xâm, trong đó có anh cả của ông, người đã từng chiến đấu dưới ngọn cờ Cần Vương.

Sắc quay lại Huế sau vài tháng, nhưng các con ông vẫn ở Hoàng Trù với bà nội. Thanh lúc này đã là một cô gái trưởng thành, giúp bà nội việc đồng áng. Ngoài việc nhà, cậu bé Cung chạy chơi khắp xóm với chúng bạn, câu cá, thả diều. Trong các trò chơi, bao giờ cậu cũng là người kiên trì nhất. Cậu thích nhất là leo lên núi Chung, thả tầm nhìn xuống những cánh đồng lúa, rặng tre và dãy Trường sơn xanh mờ phía xa. Trên núi có đền thờ Nguyễn Đức Du, một vị tướng chống quân Nguyên Mông. Cũng trên núi này, năm 1885, ông Vương Thúc Mậu, người mà ông Sắc thường mon men học lỏm ngoài cửa, đã phất cờ khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương. Chỉ có một nốt buồn trong giai đoạn này của cuộc đời Cung: em Xìn cậu đã chết lúc mới 1 tuổi.

Quay về Huế, Sắc lại đi thi và lần này ông đỗ Tiến sĩ đệ nhị, hay Phó Bảng. Tin vui này làm nức lòng cả hai làng Kim Liên và Hoàng Trù. Lần đầu tiên từ giữa thế kỷ 17, khu vực này mới có người đỗ cao như vậy. Kim Liên từ nay đã có thể coi mình là "Đất văn vật". Cũng như lần trước Sắc từ chối những nghi lễ long trọng, ông phân phát thức ăn cho người nghèo. Tuy nhiên ông chấp nhận căn nhà 3 gian và 2 sào ruộng như là quà tặng của làng Kim Liên. Gia đình ông chuyển về Kim Liên.

Phó bảng là một học vị danh giá và thường mang lại quyền lực cũng như tiền bạc. Tuy nhiên Sắc không có mong muốn tham gia vào quan trường trong cảnh nước mất. Lấy cớ là đang để tang vợ, ông quyết định ở lại Kim Liên dạy học. Ông cũng lấy tên mới là Nguyễn Sinh Huy (sinh ra cho danh dự)

Khi đó cậu bé Cung đã 11 tuổi, bắt đầu vào tuổi trưởng thành. Theo thông lệ, bố cậu đặt tên cho cậu là Nguyễn Tất Thành (Người sẽ thành công). Cậu được bố gửi đến học lớp của nhà nho Vương Thúc Quý, con của Vương Thúc Mậu, người đã nhảy xuống hồ tự tử để khỏi rơi vào tay giặc Pháp. Cũng như Sắc, sau khi đỗ đạt, Quý từ chối quan trường, ở làng dạy học, bí mật tìm cách lật đổ chế độ bù nhìn ở Huế. Khác với thông lệ, ông không bắt học sinh học thuộc lòng mà tìm cách cho các em hiểu được bản chất nhân đạo của các tác phẩm của Khổng Tử. Trước mỗi giờ học, ông lại thắp hương trước bàn thờ cha ngay trên tường lớp học để khắc sâu tinh thần yêu nước, chiến đấu cho Việt nam độc lập vào tâm trí các học trò của mình. Đáng tiếc là chẳng bao lâu sau lớp học bị đóng cửa vì Quý bỏ làng theo quân khởi nghĩa. Thành theo học một thầy giáo khác, nhưng không chịu nổi kiểu dạy nhồi sọ cổ lỗ, cậu quay về học với bố. Cũng như bạn mình, Sắc không bao giờ khuyến khích học trò học chỉ để đỗ đạt làm quan, mà hãy tìm cách cứu giúp đồng loại.

Thành nhận được học vấn không chỉ ở trên lớp học. Bác thợ rèn hàng xóm tên là Diên thường xuyên dạy cậu nghề và dẫn cậu đi săn chim. Những buổi tối, cậu thường cùng bạn bè quây quần quanh bác để nghe kể chuyện. Diên thường kể về những anh hùng dân tộc như Lê Lợi, Mai Thúc Loan. Ông cũng say sưa kể về cuộc chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ trong phong trào Cần Vương, về cuộc tự sát của Vương Thúc Mậu, về sự hy sinh của Phan Đình Phùng. Thành rất xúc động được biết rằng nhiều bà con của cha cậu cũng đã chiến đấu và hy sinh vì chính nghĩa.

Tinh thần yêu nước bắt đầu thấm sâu vào cậu bé. Thành phát hiện ra rằng những quyển sách cậu đọc chỉ nói về lịch sử Trung quốc. Cậu đi bộ ra Vinh để mua sách về lịch sử Việt nam, không đủ tiền, cậu nán lại, học thuộc lòng để có thể về kể lại cho các bạn bè của mình.

Cho đến giờ, Thành chưa có nhiều điều kiện để biết về người Pháp. Cậu chỉ nhìn thấy họ khi còn nhỏ ở Huế, và vẫn thường ngạc nhiên tự hỏi không hiểu sao quan quân lại phải cúi đầu trước người ngoại quốc. Anh em cậu cũng hay lân la chơi với các công nhân Pháp đang xây dựng cầu Tràng Tiền. Thỉnh thoảng họ đùa với cậu và cho kẹo. Về nhà Thành hỏi mẹ, tại sao những người Pháp cũng lại khác nhau? Tại quê nhà Nghệ An, công trình làm đường sang Lào đã làm biết bao thanh niên trong làng phải trở thành thân tàn ma dại, hoặc không bao giờ trở về. Con đường sang Lào, "con đường chết" đã làm cho sự thiếu thiện cảm của Thành với người nước ngoài càng mạnh mẽ thêm.

Một trong những người bạn gần gũi với Nguyễn Sinh Sắc là nhà yêu nước nổi tiếng Phan Bội Châu, quê cách Kim Liên chỉ vài cây số. Mặc dù bố đỗ tú tài và được học kinh điển từ nhỏ, đối với Châu số phận của đất nước quan trọng hơn là quan trường. Khi còn trẻ ông đã tụ tập những thanh niên cùng chí hướng, phất cờ khởi nghĩa tại quê nhà. Khi bị giặc Pháp đàn áp, ông đã phải chạy vào rừng ẩn náu.

Năm 1900, Châu thi đỗ giải nguyên. Không hề có ý định quan trường, ông bắt đầu xây dựng phong trào tại các tỉnh miền Trung. Trong khi đi vận động, Châu thường ghé qua Kim Liên thăm các ông bạn là Nguyễn Sinh Sắc và Vương Thúc Quý. Họ thường trải chiếu ngồi uống rượu, có cậu Thành phục vụ. Thành rất ấn tượng về phong cách lưu loát, nhã nhặn của Châu. Nhờ đã được đọc trước một số tác phẩm của Châu, Thành rất kính trọng lòng yêu nước và chia sẻ sự khinh bỉ của ông với triều đình thối nát ở Huế .

Châu nghiên cứu các tác phẩm của những nhà cải cách Trung Hoa như Khang ưu Vị, Lương Kỳ Siêu và tin tưởng rằng Việt nam phải từ bỏ xã hội truyền thống, tiếp thu công nghệ và cách tổ chức xã hội của các nước phương Tây thì mới có thể tồn tại được. Nhưng Châu lại tin rằng chỉ có lớp học giả mới có thể dẫn dắt đến những thay đổi đấy. Ông cũng muốn mượn một số di sản truyền thống để có thể có được sử ủng hộ của nhân dân. Vì thế, khi thành lập Hội Duy Tân năm 1904, ông đã mời hoàng thân Cường Để, một thành viên hoàng gia làm chủ tịch hội.
Nắng sớm
22-07-08, 02:10
Cùng với các nhà cải cách Trung hoa, Phan Bội Châu rất ngưỡng mộ mô hình Nhật bản. Hoàng đế Minh Trị đã tụ tập được các tầng lớp ưu tú trong xã hội, thay đổi một cách sâu sắc xã hội Nhật bản. Chiến thắng của Nhật hoàng trước quân đội Nga năm 1905 được coi như là biểu tượng của sức mạnh châu á trước quân xâm lược châu Âu. Cuối năm 1904, Phan Bội Châu đi Nhật và bắt tay xây dựng trường học tại Yokohama để đào tạo những thanh niên Việt nam yêu nước. Đó là khởi đầu của phong trào Đông Du.

Khi quay về Việt nam, Châu đến Kim Liên và đề nghị anh em Tất Thành tham gia Đông Du. Nhưng Thành đã từ chối. Theo một số người, cậu cho rằng dựa vào Nhật để đánh Pháp chẳng khác gì "Đuổi hổ cửa trước, đưa sói vào cửa sau". Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng đó là quyết định của bố cậu. Trong bản tự truyện của mình, HCM đã giải thích rằng, ông muốn sang Pháp để "nắm được bí quyết thành công của phương Tây ngay tại quê hương của nó" . Sau đó ít lâu, Thành đề nghị bố cho mình đi học tiếng Pháp. Ông Sắc hơi băn khoăn vì tại thời đó, chỉ có những người chịu làm tay sai cho Pháp mới học tiếng Pháp. Nhưng cuối cùng ông cũng đồng ý, có thể do ảnh hưởng từ các tác phẩm của những nhà cải cách Trung hoa đang thuyết phục nhà Thanh thay đổi. Mặc dù gắn chặt sự nghiệp của mình với nền giáo dục truyền thống, Sắc hiểu rằng các con ông phải thích nghi với những hiện thực mới. Ông cũng thường hay nhắc đến lời dạy của Nguyễn Trãi về việc phải hiểu được kẻ địch mới có thể đánh bại chúng.

Hè năm 1905, Thành bắt đầu học tiếng Pháp với một người bạn của bố tại Kim Liên. Tháng 9, ông Sắc đã xin cho cả hai con mình vào trường dự bị Pháp-Việt tại Vinh. Các trường kiểu này tại các tỉnh miền Trung được thành lập theo quyết định của toàn quyền Dume, nhằm lôi kéo các trí thức trẻ khỏi nền giáo dục Khổng tử, chuẩn bị nhân sự cho bộ máy cai trị. Hai anh em Thành lần đầu tiên được học tiếng và văn hoá của Pháp. Các cậu còn được học chữ quốc ngữ do các nhà truyền giáo sáng lập vào thế kỷ 17 và đang được truyền bá trong giới trí thức tiến bộ.

Tháng 6, năm 1906, Sắc quyết định nhận chức phong của triều đình và đưa cả hai con trai vào Huế. Vẫn như xưa, họ đi bộ nhưng cả hai cậu bé đã lớn nên cũng đỡ vất vả hơn. Các cậu thường tra khảo nhau về các tên tuổi qua các triều đại phong kiến Việt nam.
Thành phố đã có nhiều thay đổi. Tường thành của kinh đô cổ vẫn soi bóng xuống bờ bắc sông Hương, những cô gái điếm tóc dài tha thướt vẫn khẩn khoản mời chào khách hàng. Nhưng những cơn bão lớn trong hai năm vừa qua đã để lại nhiều ngôi nhà đổ nát rêu phong hai bên sông. Những ngôi nhà trắng kiểu châu Âu của các cố vấn Pháp cũng đang nhanh chóng thay thế những cửa hàng lụp xụp trong khu thương mại cũ.

Ban đầu mấy cha con sống nhờ một người bạn, nhưng rồi họ được phân một căn phòng nhỏ trong trại lính cũ cạnh cửa Đông Ba bên bờ tường phía đông của cấm thành. Họ sống đơn giản, thức ăc chủ yếu là cá muối, vừng, rau quả và gạo rê tiền. Nước uống được sử dụng từ giếng chung hoặc từ con kênh chảy ngang cửa Đông Ba.

Được sự giúp đỡ của Cao Xuân Đức, một quan chức của Hàn Lâm Viện đã giúp ông từ lần trước, Sắc được phân làm thanh tra Bộ Lễ, theo dõi các học sinh của Quốc học. Đây là một chức quan nhỏ so với học vị phó bảng của ông. Các bạn ông đều đã làm đến tri huyện hoặc cao hơn. Chắc chắn là triều đình đã nghi ngờ vào sự trung thành của Sắc khi ông từ chối làm quan.

Thực tế là Sắc không cảm thấy dễ chịu phục vụ trong bộ máy đang thối ruỗng. Ông thường chia sẻ với bạn bè sự cấp thiết của việc cải cách. Không giải thích được quan điểm "trung quân ái quốc" trong hoàn cảnh thực tế, ông khuyên học sinh từ bỏ con đường quan trường. Theo ông, tầng lớp quan lại hiện tại chỉ biết hà hiếp nhân dân.

Dễ dàng lý giải được sự thất vọng của Sắc về hệ thống xã hội lúc đó. Mô hình chính quyền nho giáo phụ thuộc rất nhiều vào sự trong sạch về đạo đức của tầng lớp quan lại được tuyển chọn qua thi cử. Hệ thống chỉ có hiệu quả nếu các quan lại áp dụng các tiêu chuẩn đạo đức như phục vụ xã hội, chính trực và nhân từ, được huấn luyện từ nhỏ, trong việc thực thi quyền lực. Thế nhưng từ cuối thế kỷ 19, sự bạc nhược của triều đình đã dẫn đến sự suy thoái của các thể chế xã hội. Uy tín của Hoàng đế giảm sút nghiêm trọng. Tầng lớp quan lại lợi dụng chức quyền để làm giàu. Ruộng công bị chiếm hữu, nhà giàu lại được miễn thuế.

Một tiếng nói phản kháng quan trọng nữa vào thời điểm đó là Phan Chu Trinh - người đỗ phó bảng cùng năm với Sắc. Trinh sinh năm 1872 tại Quảng Nam, là con út trong một gia đình 3 anh em. Bố ông là quan võ, cũng đã từng tham gia thi cử nhưng không thành, theo Cần Vương và bị đồng đội xử tử vì bị nghi làm phản. Trinh làm việc Bộ Lễ từ năm 1903. Ông đặc biệt quan ngại về nạn ăn hối lộ và bất tài của các viên chức tại nông thôn. Ông đã từng công khai nêu vấn đề này cho các thí sinh tham gia kỳ thi năm 1904. Năm 1905, Trinh từ chức, ông dự kiến tham khảo ý kiến với các nhà nho khác trên toàn quốc về phương thức hành động trong tương lai.

Trinh gặp Châu tại Hồng Kông và theo Châu sang Nhật. Trinh tán thành những cố gắng của Châu trong việc đào tạo cho thế hệ mới nhưng họ bất đồng trong việc sử dụng thành viên của hoàng gia cho phong trào. Trinh cũng cho rằng, tốt hơn hết là thuyết phục Pháp phải tiến hành những cải cách cần thiết cho xã hội Việt nam. Tháng 8 năm 1906, Trinh công bố bức thư cho toàn quyền Paul Beau chỉ ra tình hình nguy kịch tại Việt nam.
Trong bức thư, Trinh đánh giá cao những thay đổi mà Pháp mang đến cho Việt nam trong lĩnh vực giao thông và liên lạc. Nhưng ông phản đối việc duy trì một triều đình bù nhìn thối nát, phản đối sự coi thường và khinh bỉ người Việt dẫn đến sự căm thù trong dân chúng. Trinh kêu gọi toàn quyền Pháp tiến hành ngay những cải cách xã hội theo các định chế dân chủ phương Tây. Nhân dân Việt nam sẽ đời đời biết ơn.

Bức thư của Trinh gây chấn động lớn trong tầng lớp trí thức Việt nam, đẩy cao sự mâu thuẫn với chính quyền. Chế độ thực dân của Pháp, dưới chiêu bài "khai hoá văn minh", bóc lột các tài nguyên thiên nhiên và áp đặt lối sống phương Tây, đã tạo nên sự căm thù trong tất cả các tầng lớp xã hội Việt nam lúc đó. Trí thức căm hận trước các cuộc tấn công vào các định chế và chuẩn mực nho giáo. Nông dân rên xiết dưới các loại thuế khoá nặng nề, nhất là thuế rượu, cấm nông dân chưng ruợu gạo và phải mua các loại rượu vang Pháp đắt tiền cho những ngày lễ tết. Công nhân các đồn điền cao su phải dãi nắng dầm mưa và thường là bỏ xác nơi đất khách quê người. Công nhân nhà máy và thợ mỏ cũng chẳng hơn gì, lương thấp, làm ngoài giờ và điều kiện sống thì dưới đáy xã hội.
Trinh không phải là người duy nhất tìm kiếm câu trả lời cho sự tồn vong của đất nước ở phương Tây. Đầu năm 1907, một nhóm các trí trức yêu nước đã lập ra Trường Hà nội tự do, hay còn gọi là Đông Kinh Nghĩa Thục, theo mô hình Học viện của nhà cải cách Nhật bản Fukuzawa Yukichi. Mục tiêu của trường là tuyên truyền các tư tưởng tiến bộ của Trung hoa và phương Tây vào tầng lớp thanh niên Việt nam. Đến giữa hè, trường đã mở được 40 lớp với hơn 1000 sinh viên. Phan Bội Châu khi đó vẫn đang ở Nhật bản, tiếp tục tuyển sinh cho chương trình đào tạo của mình và gửi các bài thơ đầy nhiệt huyết về nước. Một trong những bài thơ hay nhất là "Việt nam Vong quốc Sử", hay Lịch sử của một Việt nam mất nước. Đáng buồn, bài thơ lại được viết bằng chứ Hán.

Được một thời gian, chính quyền Pháp nghi ngờ mục đích giáo dục của Đông Kinh Nghĩa Thục và ra lệnh đóng cửa vào tháng 12. Nhưng người Pháp không thể ngăn được các cuộc thảo luận về sự tồn vong của dân tộc trên khắp đất nước. Tại Quốc Tử Giám, Huế, Nguyễn Sinh Sắc dạy các học sinh: làm quan của một xã hội nô lệ còn tệ hơn là nô lệ. Nhưng ông không tìm được lời giải. Sau này, HCM nhớ lại cha ông thường ngửa mặt tự hỏi: Đi về đâu, “Anh, Nhật hay Mỹ?”

Sau khi quay lại Huế, theo lời khuyên của Cao Xuân Đức, Sắc gửi hai con mình vào trường Đông Ba nằm trong hệ thống giáo dục Việt Pháp mới. Trường nằm ngay trước cổng Đông Ba của thành Nội, trên khuôn viên cũ của chợ Đông Ba sau khi chợ được chuyển đi chỗ khác vào năm 1899, có 4 phòng học và văn phòng. Các năm đầu, học sinh được dạy bằng 3 thứ tiếng: Pháp, Hán, Việt. Lên năm trên, tiếng Hán bị hạn chế. Không phải ai cũng đồng tình, nhưng Thành tỏ ra hài lòng. Ngay từ khi ở Vinh, thầy giáo dạy tiếng Pháp của cậu đã dạy: "muốn đánh Pháp phải hiểu Pháp, muốn hiểu Pháp phải biết tiếng Pháp". Ban đầu, Thành hơi bị lập dị với đôi guốc mộc, tóc dài và bộ quần áo nâu sồng, trong lúc các bạn cậu hoặc khăn đóng, áo dài hoặc đồng phục kiểu phương Tây. Nhưng cậu hoà nhập nhanh. Cậu học cật lực và trong một năm đã hoàn thành chương trình hai năm học.

Mùa thu năm 1907. hai anh em Thành thi đậu vào Quốc học Huế, trường cao nhất trong hệ thống giáo dục Pháp Việt. Trường được thành lập vào năm 1896 theo chỉ dụ của vua Thành Thái, nhưng đặt dưới sự điều khiển của Thống sứ Pháp. Trường có 7 bậc, 4 lớp bậc tiểu học và 3 lớp bậc trung học, chương trình tập trung vào tiếng Pháp và văn hoá. Triều đình muốn dần dần thay thế Quốc Tử Giám để đào tạo tầng lớp cai trị mới. Vì thế dân địa phương thường gọi là: "Trường thiên đường".

Tuy nhiên điều kiện sống và học tập ở đó khó có thể gọi là "thiên đường". Nhà chính vốn là một trại lính, mái lợp rạ, nay trở nên dột nát và xiêu vẹo. Xung quanh có một số túp lều tre. Cổng trường được xây theo kiểu mái Trung hoa hai tầng hướng ra đại lộ Jules Ferry. Thành phần học sinh khá đa dạng. Một số theo kiểu tự học, được học bổng như Thành. Số khác con nhà giàu có xe đưa đón. Cũng như các trường khác, thầy giáo rất nghiêm khắc, không chần chừ khi dùng roi vọt. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là ông Nordemann, lấy vợ Việt nam và nói được tiếng Việt. Hiệu trưởng tiếp theo là ông Logiou, đã từng là lính lê dương.

Bạn bè nhớ lại Thành thường ngồi cuối lớp, ít khi để ý đến những gì xảy ra trong lớp. Nhưng cậu nổi tiếng với nhiều câu hỏi đôi khi có tính khiêu khích, nhất là những câu hỏi về ý nghĩa của những tác phẩm của các nhà triết học ánh sáng Pháp. Cậu rất giỏi ngoại ngữ và được các thầy cô quý. Một trong những thầy giáo có nhiều ảnh hưởng với Thành là Lê Văn Miên, tốt nghiệp trường Mỹ thuật Paris. Tuy thường xuyên đả kích chế độ thực dân, Miên có một kiến thức sâu rộng về văn hoá Pháp. Ông dạy các học sinh về những người Pháp tốt hơn ở nước Pháp, thổi vào tâm hồn các em một thành phố Paris vĩ đại với các bảo tàng và thư viện. Tuy học rất giỏi, nhưng giọng nói và điệu bộ nhà quê của Thành thường bị các bạn trêu chọc. Một lần, không giữ được bình tình cậu đã thọi cho một kẻ trêu chọc một quả. Thầy giáo đã khuyên cậu, tốt hết là hãy dồn sức vào việc tìm hiểu những vấn đề thế giới. Quả vậy, Thành quan tâm nhiều đến chính trị. Sau giờ học, cậu thường tụ tập ngoài bờ sông, chờ đợi những tin tức của Phan Bội Châu, cùng nhau đọc thơ: "á tế á ca", bài thơ về một châu á tự do khỏi ách nô lệ da trắng.

Một động lực thúc đẩy lòng yêu nước của Thành ở trường là thầy Hoàng Thông. Thông thường dạy học sinh: mất nước nghiêm trọng hơn mất nhà, mất nước là mất tất cả. Thành thường đến nhà thầy đọc sách. Một số nhà nghiên cứu còn cho rằng Thông đã cho Thành tiếp xúc với một số nhóm khởi nghĩa.

Cuối năm 1907, tình hình ngày càng trở nên căng thẳng. Vua Thành Thái lên ngôi từ năm 1889 đã buộc phải thoái vị vì bị nghi ngờ có liên quan đến quân nổi loạn chống Pháp. Tuy nhiên vị vua kế vị 8-tuổi càng có tư tưởng chống Pháp hơn. Theo gương Hoàng đế Minh trị Nhật bản, ông lấy hiệu là Duy Tân, nhằm mục đích mang lại cách tân cho đất nước.
Tuy nhiên đại đa số các tầng lớp tiến bộ Việt nam cho rằng đã quá muộn để có thể hy vọng gì đó ở triều đình phong kiến. Nguyễn Quyền ở trường Hà nội Tự do đã viết một bài thơ kêu gọi đồng bào cắt bỏ mái tóc dài búi tó, như một cử chỉ đoạn tuyệt với quá khứ phong kiến. Thành và các bạn thường đi cắt tóc rong, vừa đi vừa hát:

Tay lược, tay kéo, Cắt! Cắt! Cắt đi sự ngu dốt, cắt đi sự trì trệ, Cắt! Cắt!

Từ đầu năm 1908, sự bất bình bắt đầu lan rộng trong nông dân. Giữa tháng Ba, đám đông nông dân tụ tập tại phủ tri huyện tại Quảng Nam và tiến về Hội An. Họ đòi miễn các loại sưu cao thuế nặng, và được sự ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp trí thức. Phong trào bắt đầu lan rộng ra các tỉnh duyên hải miền Trung và có dấu hiệu bạo lực. Triều đình đem quân đàn áp bắt bớ, sau khi các nông dân biểu tình chiếm một số công sở, giam giữ một số quan lại. Đôi khi đoàn biểu tình bắt và cắt trọc những người qua đường. Người Pháp gọi đây là "Cuộc nổi dậy tóc ngắn"
Nắng sớm
22-07-08, 02:11
Đến cuối mùa xuân, những làn sóng nổi dậy đã dội đến chân thành Huế. Trong tuần đầu tháng Năm, dân làng Công Lương biểu tình chống thuế. Viên quan đến xử lý bị bắt trói cho vào cũi, chở đến cổng Thống sứ Pháp. Ngày 9/5, khi đoàn biểu tình đi qua chỗ các sinh viên, Thành đã bất ngờ kêu gọi hai người bạn của mình tham gia để làm phiên dịch cho các nông dân. Cậu lật ngửa chiếc mũ nan, báo hiệu vứt bỏ "status quo" của mình. Trước sức ép của đoàn biểu tình, Thống sứ Lavecque phải tiếp đoàn đại biểu nông dân có cậu học sinh Nguyễn Tất Thành làm phiên dịch. Cuộc đàm phán thất bại, kể cả sau khi vua Duy Tân đã can thiệp. Quân đội Pháp đã xả súng lên cầu Tràng Tiền làm hàng trăm người chết và bị thương.

Đêm đó Thành phải đi trốn. Các bạn cậu chẳng ai có thể ngờ rằng, sáng hôm sau, khi tiếng chuông báo hiệu giờ học vừa dứt, cậu lại xuất hiện, ngồi đúng vào vị trí của mình. Nhưng cũng không được lâu. Đúng 9:00, một sĩ quan cảnh sát Pháp xuất hiện và sau khi nhận ra Thành, đã yêu cầu ban giám hiệu đuổi ngay kẻ phản nghịch ra khỏi trường.
Trong những tuần tiếp theo, tình hình tiếp tục phức tạp. Cuối tháng sáu, những người theo Phan Bội Châu tiến hành cuộc đầu độc các sĩ quan Pháp tại Hà nội sau đó khởi nghĩa cướp chính quyền. Tuy nhiên do có kẻ phản bội, cuộc binh biến bất thành. Quân Pháp đàn áp dã man, 13 người bị xử tử, nhiều người bị lưu đày. Hốt hoảng, triều đình hạ lệnh bắt tất cả các trí thức yêu nước. Phan Chu Trinh cũng bị bắt và bị đưa về Huế xử. Nhờ có Thống sứ Pháp can thiệp, Trinh thoát chết nhưng bị đày đi Côn Đảo. Từ năm 1911, Trinh sống lưu vong tại Pháp.

Do hành động của hai cậu con trai, Sắc bị khiển trách và bị đưa về làm tri huyện Bình Khê, Bình Định. Đây là một vùng không phải là quá heo hút, nhưng là nơi xuất phát của khởi nghĩa Tây Sơn chống lại nhà Nguyễn. Bởi thế triều đình thường đưa những viên quan lại không vừa ý về đó. Anh trai Thành là Khiêm cũng bị theo dõi, đến năm 1914 thì bị xử về tội mưu phản. Nhà chức trách còn tra hỏi cả chị gái Thành ở Kim Liên vì nghi ngờ về tội chứa chấp 1 số phần tử mưu phản.

Sau khi bị đuổi khỏi trường, Thành mất tích mấy tháng. Có tin đồn là anh đi xin việc một số nơi nhưng đều không được nhận. Nhưng chắc chắn là anh không quay lại quê vì đã bị theo dõi. Sau đó, Thành quyết định đi bộ vào phía Nam để tránh sự theo dõi của triều đình. Cũng có thể vào thời điểm đó anh đã quyết định xuất dương tìm đường cứu nước tại phương Tây. Điạ điểm thuận tiện nhất vào thời điểm đó chỉ có thể là cảng Sài gòn. Tháng 7/1909 Thành dừng lại tại Bình Khê để gặp cha mình. Cuộc gặp gỡ không mấy vui vẻ với anh vì ông Sắc đang trầm uất, suốt ngày uống rượu. Sắc đã mắng nhiếc và cho cậu con trai mấy gậy.

Sau đó Thành đến Quy Nhơn ở nhờ nhà một người bạn của cha mình là Phạm Ngọc Thọ. Theo lời khuyên của Thọ, Thành đâm đơn thi vào chân giáo viên của một trường học địa phương dưới tên là Nguyễn Sinh Cung. Chủ tịch hội đồng thi vốn là giáo viên cũ của cậu tại trường Đông Ba nên rất quý cậu. Tuy nhiên không hiểu sao chính quyển tỉnh biết được thành tích bất hảo của Thành và tên anh bị đưa ra khỏi danh sách dự thi.

Không thất vọng, Thành đi tiếp đến Phan Rang gặp Trương Gia Mỗ, đồng nghiệp của cha cậu ở Huế và cũng là bạn của Phan Chu Trinh. Chủ nhà đã thuyết phục Thành chậm lại chuyến xuất ngoại của mình và xin cho anh một chân dạy học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết). Vì đã cạn tiền, Thành chấp nhận. Trước khi đến Phan Thiết, anh phải chứng kiến một cảnh tượng đau lòng khi các sĩ quan Pháp cười ha hả bắt các công nhân cảng Việt nam phải nhảy xuống nước trong giông tố. Nhiều người đã chết.

Trường Dục Thanh được các nhà yêu nước địa phương thành lập theo mô hình trường Tự do Hà Nội. Ngôi nhà là sở hữu của một nhà thơ bản xứ, nằm ở bờ nam sông Phan Thiết. Trường do hai người con của nhà thơ điều hành. Cổng trường kẻ rõ khẩu hiệu: "Đoạn tuyệt với cổ hủ, đem tới văn minh". Ngôn ngữ chính thức là quốc ngữ, một số môn được dạy bằng tiếng Pháp và tiếng Hán. Thành đến Phan Thiết ngay trước Tết nguyên đán năm 1910, và nhận trách nhiệm dạy tiếng Hán và quốc ngữ. Anh còn kiêm luôn chân dạy võ. Theo trí nhớ của các học viên, thầy giáo Thành rất được ngưỡng mộ. Mặc bộ bà ba trắng, đi guốc mộc, Thành dạy theo phong cách của Socrat khuyến khích các học sinh đưa ra những ý tưởng của riêng mình. Thành cùng các học sinh thăm quan các vùng phụ cận, lên rừng, xuống biển. Khung cảnh khá điền viên ngoài việc một xưởng nước mắm ở khá gần với những hương vị đặc biệt làm cho học sinh khó tập trung.

Chương trình giảng dạy tại Dục Thanh mang nội dung yêu nước khá rõ ràng. Thành thường mở đầu bài giảng của mình bằng bài thơ từ trường Tự do Hà Nội

Ôi, thượng đế có thấu nồi khổ đau
Dân ta mang xiềng xích, héo mòn trong tai ương

Bởi thế chủ đề tranh cãi không bao giờ là mục tiêu giành độc lập mà là bằng cách nào. Các thầy giáo trong trường chia làm 2 phe. Một bên ủng hộ Phan Chu Trinh với đường lối cải cách, bên kia ủng hộ Phan Bội Châu với chủ trương dùng vũ lực và dựa vào Nhật bản. Thành không chọn phe, cậu biết rằng cậu phải hiểu tận cùng tình thế trước khi quyết định.
Đầu năm 1911, trước khi năm học kết thúc, Thành biến mất. Nguyên nhân chính xác về sự ra đi của Thành không rõ ràng, nhưng có thể có liên quan đến tin cha cậu chuyển vào Cochin China. Trước đó, đầu năm 1910, Sắc bị triệu hồi khỏi Bình Khê. Trong thời gian làm tri huyện ở đó, ông nổi tiếng là ủng hộ người nghèo, tha cho các nông dân tham gia biểu tình, khoan dung với những tội hình sự lặt vặt. Ông cho rằng lố bịch để mất thời gian vào những việc đó khi nước đã mất. Ngược lại ông rất cứng rắn với bọn nhà giàu và có thế lực. Sau khi tẩn 100 roi vào mông một nhân vật thế lực trong vùng và sau đó tên này lăn ra chết, Sắc bị gọi về Huế, hạ 4 bậc, phạt đánh roi và cách chức. Theo lời bạn bè, Sắc cũng chẳng buồn. Ông nói: "nước đã mất, liệu có thể có nhà được không?" Đầu năm 1911, ông xin phép chính quyền Pháp được đến Cochin China nhưng bị từ chối. Hồ sơ của cảnh sát Pháp viết:

"Nguyễn Sinh Sắc... bị nghi ngờ là đồng loã với Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu. Con trai y, đang học ở Huế bỗng nhiên mất tích, nghi rằng đang ở Cochin China. Sắc chắc muốn gặp con và hội kiến với Trinh."

Nhưng Sắc cũng chẳng đợi được cấp phép, ngày 26/2/1911, ông tới Tourane (Đà nẵng) và lên tàu đi Sài gòn. Đến nơi, ông tìm được một chân dạy tiếng Hán và bán thuốc Nam để kiếm sống.

Liệu Thành có biết được tất cả thông tin về cha cậu và rời Phan Thiết để đi tìm cha? Một người bạn của Thành ở Dục Thanh cho biết là cậu đã chia sẻ với anh ta là sẽ cùng ăn tết với cha. Hay cậu đã biết mình bị theo dõi và quyết định lẩn trốn? Ngay sau khi Thành đi, một viên chức Pháp có đến trường tìm hiểu tung tích cậu. Thành đi chỉ để lại một mảnh giấy nhỏ, nhờ các bạn trả lại sách cho thư viện. Chẳng bao lâu sau, trường Dục Thanh cũng bị đóng cửa.

Sài gòn là miền đất hoàn toàn mới lạ với cậu thanh niên Nguyễn Tất Thành. Một thời chỉ là thành phố nhỏ trên bờ sông Sài gòn, thành phố đã lớn rất nhanh và vượt cả cố đô Hà Nội với dân số lên tới hàng trăm ngàn. Sự lớn mạnh của Sài gòn chủ yếu dựa trên lĩnh vực kinh tế. ở đây đã hình thành cả một lớp thương nhân người Âu, Việt và người Hoa định cư trên khu vực này từ thế kỷ trước. Lĩnh vực làm ăn chủ yếu là khai thác các đồn điền cao su dọc biên giới Campuchia (cây cao su được đưa vào Việt nam từ Brazil vào cuối thế kỷ 19) và canh tác lúa trên những cánh đồng rộng lớn đồng bằng Nam Bộ. Trong 25 năm đầu của thế kỷ 20, Nam Bộ đã đứng thứ ba trên thế giới về xuất khẩu gạo.

Ban đầu Thành sống trong một vựa lúa cũ. Chủ vựa lúa là Lê Văn Đạt còn có xưởng sản xuất chiếu cói và có quan hệ với các thành viên của trường Dục Thanh. Thành tìm được cha, lúc đó đang ở tạm trong một nhà kho cũ. Qua các mối quen biết của Dục Thanh, Thành tìm được một ngôi nhà ở phố Châu Văn Liêm gần cảng Sài gòn. Được cha khuyến khích, Thành bắt đầu chuẩn bị cho chuyến đi của mình. Vào tháng Ba, cậu đăng ký tham gia một lớp thợ mộc và sắt, chắc là để kiếm tiền cho chuyến đi. Sau khi được biết phải mất ba năm mới có thể thành nghề kiếm tiền, Thành bỏ học, đi bán báo cùng với một người bạn từ Kim Liên, tên là Hoàng.

Chỗ ở của Thành ở gần bến Nhà Rồng nơi các con tàu xuyên đại dương thường xuyên lui tới. Thành quyết định tìm việc làm trên một trong những con tàu đó để ra nước ngoài. Thời đó chỉ có hai hãng tàu hoạt động tại cảng Sài gòn là Messageries Maritimes và Chargeurs Reunis. Chỉ có hãng Reunis cần tuyển người địa phương cho một số vị trí phụ bếp và bồi bàn. Thông qua một người bạn ở Hải phòng đang làm trong hãng, Thành đã có được cuộc hẹn phỏng vấn với thuyền trưởng tàu Đô đốc Latouche Treville vừa đến từ Tourane. Ngày 2/6, một anh thanh niên tên là Ba xuất hiện ở cầu tàu. Thuyền trưởng Louis Eduard Maisen e ngại nhìn khuôn mặt thông minh nhưng thân hình khá mảnh khảnh của anh. Ba quả quyết là việc gì anh cũng làm được và đã thuyết phục được Maisen cho một chân phụ bếp. Ngày hôm sau, anh bắt tay ngay vào công việc rửa bát, giặt quần áo, lau sàn, nhặt rau và đốt lò. Ngày 5/6, "Đô đốc LT" hú còi rời sông Sài gòn ra biển Nam Trung Hoa, thẳng tiến tới Singapore lúc đó đang thuộc Anh.

Tại sao Nguyễn Tất Thành lại quyết định rời đất nước? Trong bình luận gửi nhà báo xôviết Ossip Mandelstam nhiều năm sau, HCM đã viết "Khi tôi 13 tuổi, lần đầu tiên tôi nghe thấy những từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Lúc đó tôi nghĩ mọi người da trắng đều là người Pháp. Và vì người Pháp viết ra những từ đó, tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp để có thể hiểu được ý nghĩa đằng sau những từ đó". Muộn hơn, HCM cũng đã trả lời tương tự cho câu hỏi của phóng viên Mỹ Anna Luise Strong:

"Nhân dân Việt nam, bao gồm cả cha tôi, thường xuyên tự đặt câu hỏi, ai sẽ giúp chúng ta cởi bỏ ách thống trị của Pháp. Nhiều người nói Nhật bản, có người nói Anh, lại có người nói Mỹ. Tôi thấy tôi phải ra nước ngoài. Sau khi đã tìm hiểu họ sống như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi"

Các nhà viết sử ở Hà nội cũng thường nhắc đến những hồi ức của HCM về việc rời đất nước như một sứ mệnh cứu nước. Cũng nên nhớ rằng HCM hay có khuynh hướng kịch hoá những sự kiện trong đời mình cho những mục đích khác. Tuy nhiên, không nghi ngờ gì, khi rời Sài gòn tháng 6 năm 1911, cậu thanh niên Nguyễn Tất Thành đã hoàn toàn nhận thức được những bất công mà đất nước mình đang phải gánh chịu và trong nước không có lời giải. Biết đâu, anh có thể tìm kiếm được những lời giải ở nước ngoài.
Nắng sớm
22-07-08, 02:13
Con ngựa hoang


Mặc dù không có những ghi chép chính xác về các hoạt động của Thành sau khi rời Việt nam, những bằng chứng thu thập được cho phép dự đoán rằng phần lớn thời gian của Thành dành cho việc lang thang trên biển và đi qua khắp 5 châu. Vào thời đó, chế độ thực dân châu Âu đã thuộc địa hóa hầu như cả thế giới. Trên các bến cảng á, Phi, Mỹ la tinh, những người dân bản xứ xun xoe thoả mãn nhu cầu của các ông chủ da trắng. Trong các tác phẩm sau này, HCM đã miêu tả sự tàn bạo của các ông chủ và sự khốn cùng của dân lao động một cách hết sức ấn tượng. Có thể phần lớn các quan điểm cách mạng của HCM đã được hình thành trong giai đoạn này.

Tàu LT là một tàu nhỏ đối với các tàu vượt đại dương, dài khoảng 400 fut và có trọng tải nhỏ hơn 6000 tấn. Vì thế cuộc sống của Thành trên tàu hết sức vất vả. Tuy nhiên anh vẫn nhìn đời một cách hóm hỉnh: "nhân vật của chúng ta vừa huýt sáo vừa chùi toa lét và đổ rác". Một trong những đối thủ chính trị của HCM sau này, ông Bùi Quang Chiêu đã tình cờ gặp Thành trong chuyến đi. Ông lấy làm kinh ngạc sao một người thông minh như Thành lại chấp nhận một thứ lao động khổ sai như vậy. Thành chỉ cười và nói, anh cần đi đến Pháp để đòi sửa lại bản án cho cha.

LT cập bến Marseilles ngày 6 tháng bảy năm 1911 sau khi đã qua Singapore, Colombo và Port Said. Thành nhận được những đồng lương đầu tiên khoảng 10 frances. Chừng đó chỉ đú cho vài ngày trên bờ, nhưng Thành đã có thể dừng bước uống cafe trên đường Cannebiere, để được gọi bằng "Ngài". Thành ngạc nhiên kết luận: "Người Pháp ở Pháp tốt hơn và lịch sự hơn người Pháp ở Đông dương". Sau khi tìm hiểu các hang cùng, ngõ hẻm, gặp gỡ đủ các loại đĩ bợm ở đây, Thành tự hỏi, tại sao người Pháp lại không khai hoá văn mình cho đồng bào chính quốc trước.

Thành quay lại tàu trước khi nó nhổ neo và đến Le Havre ngày 15 tháng 7. Sau đó LT giong buồm đi Dunkirk, rồi quay về Marseilles và neo ở đó đến giữa tháng 9. Từ đó, Thành đã viết một bức thư gửi thẳng cho tổng thống Pháp. Quả là một sự kiện gây tò mò, và đáng để in toàn văn bức thư ở đây:

Marseilles
15 tháng 9 năm 1911
Thưa ngàI Tổng thống!
Tôi rất rất lấy làm vinh dự được nhờ ngài một việc nhỏ để có thể được vào học tại trường Thuộc địa như một sinh viên thực tập.
Hiện tại, để kiếm sống, tôi đang phải làm việc tại hãng Chargeurs Réunis (tàu đô đốc LT). Tôi đang bị bỏ rơi và rất muốn có được một nền giáo dục đầy đủ. Tôi muốn trở thành có ích cho nước Pháp về vấn đề các đồng bào của tôi, và giúp họ có thể được hưởng những thành quả của giáo dục.
Tôi sinh tại tỉnh Nghệan thuộc Annam
Vô cùng biết ơn Ngài Tổng thống đã ra tay cứu giúp

Nguyễn Tất Thành
Sinh năm 1892
Con ông Nguyễn Sinh Huy (Tiến sĩ)
Sinh viên Pháp ngữ và Hán ngữ


Trường Thuộc địa được thành lập năm 1885 nhằm mục đích đào tạo nhân viên cho bộ máy cai trị của Pháp tại thuộc địa, có khoảng 20 học bổng cho các sinh viên từ Đông Dương. Một số nhà nghiên cứu tỏ ra ngạc nhiên về quyết định xin học của Thành, họ cho rằng có thể lúc đó Thành đã từ bỏ giấc mộng ái quốc để đeo đuổi con đường công chức. Tuy nhiên, thực ra quyết định này chẳng có gì khác với việc gia nhập Quốc học Huế. Rõ ràng là Thành chưa quyết định được mình sẽ phải chọn con đường nào để cứu nước. Và điều có ích nhất bây giờ là tiếp tục sự nghiệp học hành. Trong bức thư viết cho chị cậu mùa hè năm 1911, Thành cũng đã nói với chị là sẽ đi học tại Pháp khoảng 5-6 năm. Cũng có thể đây chỉ là một động tác “qua người” đẹp mắt, mà sau này HCM cũng đã nhiều lần sử dụng, nguỵ trang cho ý đồ đích thực của mình nhằm đạt được mục đích cuối cùng.
Từ Marseilles, tàu LT về Việt nam và cập bến Sài gòn vào khoảng giữa tháng 10. Thành rời tàu và tìm cách gặp cha. Từ khi mất việc, Sắc lang thang bán thuốc nam và dạy học trong khắp Nam bộ. Thậm chí có lần còn bị bắt vì say rượu. Mặc dù rất có thể trong khoảng thời gian đó, ông đang ở loang quanh Sài gòn, nhưng không có bằng chứng là hai cha con đã gặp nhau. Ngày 31/10/1911, Thành viết một lá thư cho Toàn quyền Pháp tại Annam, giải thích về việc cha con chia cách đã 2 năm và nhờ chuyển cho cha một khoản tiền nhỏ nhưng không được trả lời.

Quay trở lại Marseilles, Thành nhận được tin là đơn xin học của mình đã bị từ chối. Nhà trường chỉ nhận những học sinh được toàn quyền Đông Dương giới thiệu. Khi tàu được đưa lên bờ sửa chữa tại Le Havre, Thành quyết định ở lại. Anh xin vào làm vườn cho một chủ tàu ở Sainte-Addresse, một khu nghỉ mát đã nổi tiếng nhờ những bức tranh mà Monet vẽ tại đây. Hàng ngày, lúc rảnh rỗi anh lang thang trong thư viện của ông chủ hoặc luyện tiếng Pháp với con gái ông chủ. Có thể là Thành đã đi Paris gặp Phan Chu Trinh trong thời gian này. (Theo một số nguồn tin, ông Sắc đã viết cho Thành một thư giới thiệu cho Trinh khi cậu rời Việt nam). Nếu họ gặp nhau, chắc chắn chủ đề sôi nổi nhất là cuộc cách mạng dân quyền của Trần Dân Tiên lật đổ triều đình nhà Thanh để thành lập một nước cộng hoà kiểu phương Tây.

Thành có quan hệ rất tốt với chủ nhà, và chính ông này đã giới thiệu cậu cho một con tàu đi châu Phi cũng của hãng Chargeurs Reunis. Mặc dù nhiều người ngăn cản, Thành vẫn quyết chí ra đi. Anh đã đến một loạt các nước á-Phi, bao gồm Algeria, Tunisia, Morroco, India, Indochina, Saudi Arabia, Senegal, Sudan, Dahomey và Madagascar. Anh bị mê hoặc bởi những điều nghe được, học được. Những cảnh tượng kinh hoàng của chế độ thuộc địa cũng gây cho anh những xúc động sâu sắc. “Đối với bọn thực dân, tính mạng những người dân thuộc địa không đáng 1 đồng xu.”

Trong những năm đó, Thành đã đến nhiều hải cảng trên Tây bán cầu. Sau này, HCM đã kể lại cho những người bạn Cuba của mình rằng ông đã đến Rio và Buenos Aires. Con tàu của anh cũng đã ghé qua bờ Đông nước Mỹ, và Thành đã chọn NewYork làm nơi dừng chân của mình. Anh rời tàu và quyết định tìm việc để ở lại nước Mỹ.

Giai đoạn này là một trong những giai đoạn mù mờ nhất trong cuộc đời HCM. Theo lời ông và một số người quen biết khác, anh đã làm đầy tớ cho một gia đình giàu có ở NY với mức lương “trên trời” là $40/tháng. Ngoài giờ làm việc, Thành lang thang với bạn trong khu China town, ngửa cổ ngắm những toà nhà chọc trời NewYork, tham dự các cuộc họp của hội da đen Harlem, và ngạc nhiên khi thấy pháp luật công nhận sự bình đẳng của những kẻ nhập cư châu á. Sau này, một đoàn đại biểu các nhà hoạt động hoà bình Mỹ đã hỏi HCM: tại sao ông lại đến nước Mỹ? HCM đã trả lời, ông nghĩ là nước Mỹ là biểu tượng chống chủ nghĩa thực dân châu Âu và sẽ giúp Việt nam giành độc lập. Nhưng ông đã nhầm.

HCM còn nói là ông đã từng sống ở Boston và làm bánh ngọt cho khách sạn Parker House. Ông cũng đã đi thăm một số bang miền Nam để chứng kiến cảnh bọn 3K hành hình người da đen mà sau này ông đã miêu tả rất sống động trong một truyện ngắn viết khi đang ở Nga những năm 1920. Rất tiếc là chỉ có ít bằng chứng rõ ràng về việc HCM đã từng ở nước Mỹ. Một là bức thư ký tên là Paul Tất Thành gửi cho toàn quyền Pháp xin phục hồi cho cha anh. Bức thư đóng dấu NY ngày 15/12/1912. Thứ hai là tấm bưu thiếp gửi Phan Chu Trinh từ Boston, kể rằng anh đang phụ bếp tại khách sạn Parker House
HCM nói với một nhà báo Mỹ, bà Anna Louise Strong rằng quãng thời gian ở Mỹ ảnh hưởng rất ít đến quan điểm chính trị của ông vì lúc đó ông còn quá trẻ. Nhiều khả năng là HCM rời Mỹ vào năm 1913. Sau chặng dừng chân ở Le Harve, anh đến Anh để học tiếng Anh. Trong một bức thư gửi Phan Chu Trinh, anh nói rằng đã ở London bốn tháng rưỡi để học tiếng Anh và giao lưu với người nước ngoài. Bức thư chắc phải được viết trước khi nổ ra đại chiến thế giới I, tháng 8 năm 1914, vì Thành còn hỏi PCT sẽ đi nghỉ hè ở đâu. Bức thư thứ hai cho PCT, Thành đã bình luận về sự khởi đầu của chiến tranh. Anh cho rằng những kẻ dây vào sẽ phải lãnh đủ, anh chờ đợi những sự thay đổi lớn ở châu á và hy vọng chiến tranh sẽ làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của Pháp.
Nắng sớm
22-07-08, 02:16
Trong hồi ký của mình HCM đã thừa nhận những công việc rất cực nhọc của ông ở Anh như quét tuyết và đốt lò. Một vài người quen khi gặp Thành ở Pháp đã nhận thấy bàn tay của anh bị cái lạnh làm cho cong queo. Cũng may là sau đó anh tìm được một chân phụ bếp trong khách sạn Drayton Court rồi chuyển đến Carton giúp việc cho đầu bếp nổi tiếng Auguste Escoffier và ông đã từ chối cơ hội để trở thành đầu bếp.

Ngoài việc lang thang ở Hayden Park với cây bút chì và quyển sách để học tiếng Anh, Thành còn tham gia vào các hoạt động chính trị của Hội công nhân hải ngoại, tham gia vào các cuộc biểu tình đòi độc lập của người Ailen. Có thể là trong thời gian này Thành đã lần đầu tiên làm quen với các tác phẩm của Karl Max. Anh vẫn không quên nỗi đau mất nước. Trong một bức thư gửi PCT, Thành đã viết những câu thơ:

Đương đầu với trời đất
Thôi thúc bởi ý chí
Người anh hùng phải chiến đấu cho đồng bào

Có một điều Thành không biết là các bức thư của anh gửi cho PCT đều rơi vào tay mật thám Pháp. Trong khi khám xét căn hộ của PCT, chúng đã phát hiện ra những bức thư ký tên N. Tất Thành gửi từ số 8, Stephen Street, Tottenham Court Road, London. Trong một bức thư, người thanh niên này còn thề thốt là sẽ tiếp tục sự nghiệp của PCT. Cảnh sát Pháp đã nhờ các đồng nghiệp Anh tìm kiếm nhưng chẳng thấy ai ở địa chỉ đó. Cảnh sát Anh lục khắp London được 2 sinh viên Việt nam tên là Thành, trong đó có một Nguyễn Tất Thành, nhưng họ chẳng có dính líu gì đến chính trị.
Không có nhiều tài liệu minh chứng cho hoạt động của HCM ở Anh. Một số nhà sử học thậm chí nghi ngờ ông đã ở Anh. Họ cho rằng ông đã bịa ra giai đoạn đó để có được tấm áo xuất thân vô sản. Điều này hơi vô lý vì HCM chẳng bao giờ phủ nhận nguồn gốc nhà nho của mình. Tuy nhiên có nhiều chứng cớ khằng định được HCM đã ở London.

Thời điểm chính xác Thành quay về Pháp cũng gây nhiều tranh cãi. ít nhất là chính quyền Pháp cũng không biết gì về chuyện này cho đến khi có một sự kiện làm cho Thành trở thành người Việt nam yêu nước nổi tiếng nhất ở đất nước mình. HCM viết rằng, ông đã quay về Pháp khi chiến tranh còn đang xảy ra. Một số người quen cũ của ông ở Pari cho rằng ông đến Pháp năm 1917 hoặc 1918. Viên mật vụ được phân công theo dõi ông vào năm 1919 báo cáo rằng HCM đã “ở Pháp từ lâu”. Nhiều nguồn cho rằng đó là khoảng tháng 12/1917.

Lý do Thành về Pháp có thể dễ hiểu. Sau chiến tranh, số người Việt nam tại Pháp đã tăng lên gấp bội so với trước đó. Hàng ngàn người Việt nam làm việc tại các công xưởng, tham gia quân đội so với không đến 100 người trước chiến tranh. Qua mối quan hệ đã sẵn có với Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường, Thành có thể thâm nhập vào cộng đồng chính trị Việt nam hải ngoại nhằm mưu đồ cứu nước. Trinh đang được coi là lãnh tụ của phong trào, nhưng sau khi bị bắt vì nghi ngờ phản bội hồi đầu chiến tranh, Trinh trở nên rất thận trọng.

Sau khi về Paris, Thành nhanh chóng tham gia vào các hoạt động kích động công nhân Việt nam trong bối cảnh các cuộc chống đối ở Pháp ngày một nhiều do sự kéo dài khốc liệt của chiến tranh. Cũng chưa rõ, làm thế nào Thành có thể tham gia vào các hoạt động đó. Có thể với tư cách của Hội công nhân hải ngoại? Cũng có thể là quan hệ trực tiếp với các nhà hoạt động cánh tả.

Một nhà hoạt động cách mạng, Boris Souvarine, sau này trở thành sử gia nhớ lại đã từng gặp Thành ngay sau khi anh từ London trở về. Ông cho rằng đó là vào khoảng năm 1917. Thành thuê 1 căn hộ dơ dáy tại Montmartre và tham gia sinh hoạt với chi bộ đảng Xã hội Pháp tại đó. Souvarine đã giới thiệu Thành với Leo Poldes, người sáng lập câu lạc bộ Faubourg. Các buổi nói chuyện diễn ra thường xuyên về tất cả các chủ đề từ chính trị tới những điều huyền bí. Souvarine nhớ lại là Thành rất bẽn lẽn, thậm chí khúm núm, nhưng hoà nhã và ham học. Mọi người còn gọi anh là “Người câm ở Montmartre”.

Leo Poldes là người đã rèn luyện tính nhút nhát của Thành bằng cách bắt anh phát biểu trước cử toạ. Trong bài phát biểu đầu tiên của mình miêu tả sự thống khổ của nhân dân thuộc địa, Thành thậm chí còn nói lắp. Không mấy người trong cử toạ hiểu, nhưng họ thông cảm với chủ đề và Thành được hoan hô nhiệt liệt. Sau đó Thành được mời phát biểu thường xuyên.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn nhà văn Mỹ Stanley Karnow, Leo đã nhận xét về Thành trong thời gian anh tham gia câu lạc bộ Faubourg: “có hơi hướng của Chapline, hài hước nhưng buồn, vous savez”. Leo đặc biệt có ấn tượng về đôi mắt sáng và lòng ham mê học hỏi của Thành. Anh đã vượt qua được nỗi sợ hãi phải phát biểu trước công chúng và tích cực tham gia vào các cuộc tranh luận. Qua đó Thành quen biết những nhân vật nổi tiếng trong giới trí thức cách mạng Pháp: nhà văn xã hội Paul Louis, nhà quân sự Jacque Doriot, tiểu thuyết gia Henri Barbeusse với những tác phẩm miêu tả sự cùng cực của binh lính trên mặt trận.

Đã gần 30 tuổi, và hầu như kinh nghiệm nghề nghiệp chỉ loanh quanh mấy việc phụ bếp hoặc dạy học, lại không có giấy phép làm việc Thành không thể xin được việc ổn định. Anh phải làm đủ việc từ bán món ăn Việt nam, kẻ bảng hiệu, dạy chữ Hán, làm nến... Cuối cùng anh kiếm được một chân tô màu ảnh đen trắng trong một hiệu ảnh của Phan Chu Trinh. Vào những thời gian rỗi Thành hay ngồi lì trong thư viện và đọc các tác phẩm của Secxpia, Tolxtoi, Lỗ Tấn, Hugo, Zola, Dickens. Gia tài của anh chỉ có cái va li và thưỡng xuyên chuyển chỗ trong những nhà trọ chật hẹp của khu công nhân Paris
Thủ đô của nước Pháp cuối chiến tranh vẫn tham vọng trở thành trung tâm chính trị và văn hoá của thế giới phương Tây. Rất nhiều những nhà tư tưởng lỗi lạc của thế kỷ 19 đã sống ở Paris. Không khí cách mạng càng sục sôi trong giai đoạn cuối chiến tranh, khi sự tàn bạo của cuộc chiến đổ thêm dầu vào phong trào chống chủ nghĩa tư bản.

Việt nam chiếm số lượng lớn nhất trong cộng đồng hải ngoại tại Paris thời điểm đó: khoảng 50000 người, trong đó có hàng trăm con em trí thức. Trong bầu không khí bị chính trị hoá cao độ, lớp sinh viên này đã hoàn toàn chín muồi cho những hoạt động chính trị hướng tới độc lập dân tộc. Rất tiếc là chẳng có gì xảy ra cả. Trong giới có ảnh hưởng, một số muốn mặc cả với Pháp cho thêm quyền tự chủ đổi lấy việc đã tham gia bảo vệ mẫu quốc trong chiến tranh, một số thì lại bí mật đi đêm với Đức để hy vọng Pháp thua trận. Theo cảnh sát Pháp, Phan Chu Trinh và bạn ông là Phan Văn Trường đã thử cả hai phương án này. (Phan Văn Trường sinh năm 1878 tại Hà đông, học luật và trở thành công dân Pháp năm 1910). Cả hai đã thành lập “Hội đồng thân ái” trước khi chiến tranh xảy ra, nhưng chỉ thu thập được khoảng 20 chục thành viên. Trinh, được coi là nhà ý tưởng, tỏ ra rất ít có khả năng tổ chức. Tuy nhiên, do có tin đồn về việc họ đang dự kiến lật đổ chính quyền tại Đông dương, cả hai đã bị tạm giam ngay sau khi chiến tranh nổ ra. Chính vì lý do đó mà những bức thư Thành gửi cho Trinh đều rơi vào tay cảnh sát Pháp. Sau khi được tha, Trường và Trinh không dám nghĩ đến chuyện thách thức chế độ thực dân nữa. Cộng đồng Việt nam hải ngoại thực sự đình trệ về mặt chính trị.

Thành muốn nhanh chóng thay đổi tình hình đó. Mặc dù, cho đến lúc đó thành tích chính trị của anh mới chỉ là phiên dịch cho cuộc biểu tình tại Huế năm nào. Trông bề ngoài hoàn toàn không bắt mắt, bạn bè đều phải thừa nhận anh có một đôi mắt sáng và cái nhìn mãnh liệt như xuyên thấu suy nghĩ của người đối thoại.

Hè năm 1919, được sự bảo trợ của Trinh & Trường, Thành thành lập Hội ái quốc Annam. Ngoài những thành viên trí thức, Thành còn lôi kéo thêm một số thành viên từ tầng lớp lao động mà anh quen từ hồi còn làm thuỷ thủ tại Marseilles, Le Havre, Toulon. Bề ngoài, hội không đặt ra những mục tiêu cực đoan để lôi kéo đông đảo sự tham gia của cộng đồng người Việt. Việc dùng chữ Annam thay cho Việt nam muốn cho chính quyền thấy Hội không phải là mối nguy hiểm cho chế độ thực dân. Thực chất, ngay từ đầu, Thành muốn biến hội thành một lực lượng hiệu quả chống lại chế độ thực dân ở Đông Dương. Anh đã liên lạc với những hội tương tự của người Triều tiên và Tuynizi.

Đây là một thời điểm hết sức thuận lợi cho những hoạt động tương tự. Sau chiến tranh, Paris trở thành trung tâm kích động của các nhóm chống thực dân. Các cuộc thảo luận về chủ đề này diễn ra thường xuyên ở quốc hội Pháp. Toàn quyền Albert Sarraut đã phát biểu tại Hà nội hứa hẹn nhiều quyền hơn cho nhân dân Việt nam. Năm 1919, đại diện các nước Đồng minh thắng trận họp tại Versailles để đàm phán điều kiện đầu hàng của khối Trung tâm và tổ chức thế giới sau chiến tranh. Tổng thống Mỹ Wilson đã mang lại niềm hy vọng cho các dân tộc thuộc địa bằng luận cương 14 điểm, trong đó thừa nhận quyền tự quyết của tất cả các dân tộc.

Ngày 18/6/1919, Hội ái quốc Annam do Nguyễn Ai Quốc ký tên đã công bố bản kiến nghị 8 điểm có tên: “Yêu cầu của nhân dân Annam” gửi các quốc gia Đồng minh, đề nghị áp dụng những tư tưởng của Wilson cho thuộc địa của Pháp tại Đông Nam á. Ngôn ngữ của bản kiến nghị rất ôn hoà, không đặt điều kiện độc lập dân tộc mà chỉ đòi hỏi quyền tự quyết về chính trị, sự bình đẳng giữa người Pháp và người Việt, quyền tự do báo chí, hội họp, bãi bỏ các loại thuế hà khắc.

Nhiều nhà sử học đã nghi ngờ rằng Thành là tác giả duy nhất của bản kiến nghị. Họ cho đó là công sức tập thể. Nhiều người cho rằng đây là tác phẩm của Phan Văn Trường, người được cho là trí thức nhất trong hội. Trong cuốn tự truyện của mình, HCM tự nhận mình là tác giả và Phan Văn Trường đã chỉnh văn phạm tiếng Pháp cho ông. Tuy nhiên việc Thành có là tác giả hay không không quan trọng bởi chính anh là người đã tổ chức công bố bản kiến nghị và sau đó tự nhận mình là Nguyễn ái Quốc. Chính Thành đã đưa tận tay bản kiến nghị cho các thành viên chủ yếu của nghị viện và tổng thống Pháp. Cũng là anh dấn bước trên các hành lang của điện Verseille để trao bản kiến nghị cho các đoàn đại biểu Đồng minh. Qua các mối quan hệ của mình Thành đã công bố bản kiến nghị trên báo Nhân đạo và nhờ các chiến hữu từ thời còn thuỷ thủ phân phối hơn 6000 bản copy trên các đường phố Paris.

Chẳng có hồi âm nào từ chính quyền Pháp mặc dù các cuộc thảo luận về vấn đề thuộc địa vẫn đang diễn ra tại nghị viện. Hội nghị Versaille cũng làm thinh về chủ đề này. Tổng thống Wilson, dưới sức ép của các đồng minh đã không bảo vệ tuyên bố 14 điểm của mình. Cả thế giới thuộc địa bị thất vọng.
Tuy nhiên bản kiến nghị cũng đã làm kinh ngạc giới chức chính trị Pháp. Ngày 23/6, tổng thống Pháp viết thư cho toàn quyền Albert Sarraut, đề nghị xem xét và xác định danh tính tác giả. Tháng 8, tin từ Đông dương báo về: bản kiến nghị đang được phân phát trên các đường phố Hà nội và đã gây nên cuộc thảo luận sôi nổi trong báo giới. Tháng 9, Thành chính thức xác nhận mình là Nguyễn ái Quốc trong một cuộc phỏng vấn cho một phóng viên người Mỹ của một tờ báo Trung hoa tại Paris. Cũng vào quãng thời gian đó, thanh tra mật thám Pháp Paul Arnoux, chuyên theo dõi cộng đồng Việt nam hải ngoại, tình cờ gặp Thành đang đi phân phát truyền đơn. Sau mấy lần uống cafe, bị ảnh hưởng bởi nhiệt huyết của chàng trai trẻ, Arnoux đã liên lạc với Bộ thuộc địa và thu xếp để Albert Sarraut gặp Thành. Và cuộc gặp đã diễn ra ngày 6 tháng 9 tại toà nhà Bộ thuộc địa ở phố Ordinot. Các mật thám Pháp đã tranh thủ thời cơ này để chụp ảnh hòng tìm ra tung tích chính xác của Thành.

Có thể NAQ (như Thành đã tự gọi mình) đã nuôi một chút hy vọng bản kiến nghị của mình có thể thấu tai chính quyền Pháp và mang lại những thay đổi ở Đông Dương. Bản tính của anh là tin vào những điều tốt đẹp của con người, kể cả kẻ thù. Sau khi đi một vòng Thuỵ sĩ, ý, Đức, Thành đã kể với bạn của mình: “nếu bạn là người tốt, ở đâu bạn cũng gặp người tốt” . Cũng có thể là Thành đã tin vào những lời dụ dỗ của A. Sarraut. Trong cuộc trả lời phỏng vấn cho tờ báo Trung hoa Thế giới, sau khi phàn nàn về tình hình tồi tệ ở Đông Dương, Thành đã thừa nhận là trước tiên cần có quyền tự do ngôn luận để nâng cao dân trí sau đó mới có thể tính đến quyền tự trị, tiến lên độc lập.

Nhưng những hy vọng của NAQ đã nhanh chóng bị tàn lụi. Ngay sau cuộc gặp gỡ, Thành đã gửi đến A. Sarraut toàn văn bản kiến nghị cùng với bức thư đi kèm như sau:

Như đã trao đổi với Ngài hôm qua, tôi xin gửi kèm đây toàn văn Bán kiến nghị. Vì Ngài đã thật là tốt bụng cho phép tôi nói chuyện thẳng thắn, tôi đã mạo muội hỏi Ngài rằng liệu đã có hành động nào được tiến hành liên quan đến 8 điểm kiến nghị. Đáng tiếc là câu trả lời không được thoả mãn.
Xin Ngài nhận cho lòng kính trọng của tôi.
Nguyễn ái Quốc

Mấy ngày sau, mật thám Pháp đã xác định được NAQ tên thật là Nguyễn Tất Thành, con ông Nguyễn Sinh Sắc và đã tham gia xúi giục nổi loạn ở Huế năm 1908.

Cho dù động cơ gửi Bản kiến nghị là gì đi nữa, không nghi ngờ là NAQ đã gây được tiếng vang to lớn trong phong trào yêu nước Việt nam tại Pháp. Người già thì kinh ngạc vì sự táo tợn của anh thợ tô màu. Thanh niên thì như được tiếp thêm nhiệt huyết. Một số kẻ khôn ngoan thì coi anh như “Người man rợ”. Họ thì thầm: liệu có thể hy vọng được gì ở một tay đầu gấu xứ Nghệ?

Bán kiến nghị cũng đã mang lại cho NAQ sự kính trọng của các đồng chí trong Đảng Xã hội Pháp (FSP). Mặc dù lúc đó đã quen với những tên tuổi lớn của FSP như Marcel Cachin, Paul-Vaillant Couturier, Leon Blum, Edouard Herriot, Henri Barbusse và cháu của Karl Max –Jean Longuet, theo lời của Zecchini, Thành chưa bao giờ được coi là thành viên đầy đủ của FSP cho đến khi Bản kiến nghị được công bố.

HCM đã thừa nhận rằng ông tham gia FSP vì “họ thông cảm với tôi, với cuộc đấu tranh của những dân tộc bị áp bức”. Thiên hướng về CNXH của HCM cũng như của nhiều nhà dân tuý châu á khác có thể giải thích như hậu quả tự nhiên của chế độ thuộc địa tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đế quốc. Nhưng giải thích như thế cũng chưa đầy đủ. Các nhà trí thức châu á, (đặc biệt là ở Trung quốc và Việt nam) cảm thấy đạo đức tập thể của chủ nghĩa xã hội phương Tây xem ra gần gũi với đạo Khổng hơn thái độ vị kỷ và chạy đua lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản. Đối với họ sự hào nhoáng của các thành phố thương mại thật đáng tởm, còn nền công nghiệp thì bị tha hoá bởi sự tham lam và bành trướng. Ngược lại chủ nghĩa xã hội tán dương các cố gắng tập thể, kêu gọi lối sống giản dị, bình đẳng về của cải và cơ hội có nhiều điểm tương đồng với nho giáo. Xem ra là từ Khổng tử tới Max gần hơn tới Adam Smith và John Mill.
TrueLie
22-07-08, 02:17
Ối buồn quá :( Em vừa mới đặt mua trên mạng quyển này bằng tiếng Anh cách đây mấy ngày xong. Biết thế đợi bác Sói em tung lên đọc đỡ tốn tiền, hic hic
Nắng sớm
22-07-08, 02:17
Từ năm 1920 trở đi Ngài (Monsieur) Nguyễn tham gia tích cực hơn các hoạt động chính trị của FSP, Liên đoàn lao động và Liên minh quyền con người. Nhưng có vẻ như ông cũng dần dần nhận ra rằng, các đồng chí của ông chẳng mấy quan tâm đến các vấn đề thuộc địa. Max có khuynh hướng trọng Âu và hội của ông cũng vậy. Thuộc địa, nói cho cùng, cung cấp của cải cho cách mạng và công việc cho các công nhân.

Cuộc cách mạng Bolsevich ở Nga đã làm sâu sắc thêm sự bất đồng trong hàng ngũ những người xã hội, giữa một bên là phe ôn hoà của Jean Longuet, Leo Blum và phe cấp tiến của Couturier và Cachin. Nên nhớ rằng lúc đó Quốc tế thứ nhất của Max đã bị thay bởi Quốc tế II chủ trương ôn hoà và đấu tranh nghị viện. Vào cuối năm 1919, một uỷ ban ủng hộ lời kêu gọi của Lênin thành lập Quốc tế thứ ba, đấu tranh vũ lực để giành chính quyền cho giai cấp vô sản, đã được thành lập trong nội bộ FSP. NAQ cũng tích cực tham gia, quyên góp tiền cho chế độ Xôviết. Tuy nhiên ông vẫn tỏ ra ngờ nghệch, mơ hồ về sự khác nhau giữa Quốc tế II và Quốc tế III, đặc biệt mù mờ trong lĩnh vực lý thuyết. Có lần Quốc còn đề nghị Longuet giải thích ý nghĩa của chủ nghĩa Max. Ông này ngượng nghịu chỉ cho Quốc chỗ tìm đọc cuốn Tư bản luận. Đúng lúc đó “Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lê nin ra đời đã biến Quốc từ một người yêu nước thành nhà cách mạng Marxist chân chính. Sau này, NAQ thừa nhận, ông chẳng hiểu gì các cuộc cãi vã lúc đó và đơn giản chỉ ủng hộ phe nào đứng về phía nhân dân các thuộc địa. Lê nin đã chỉ ra rằng, chế độ thuộc địa là dinh luỹ cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc, và các Đảng cộng sản châu Âu cần liên minh với các phong trào giải phóng dân tộc á-Phi chống lại kẻ thù chung. Khác xa với các nhà xã hội Paris, Lê nin là con người của hành động và đã chinh phục hoàn toàn NAQ.

NAQ bắt đầu viết cho các báo cánh tả từ hè 1919. Các bạn phóng viên của ông như Jean Longuet, Gaston Monmosseau đã giúp hoàn thiện lối viết mộc mạc và nhiều khi quá thẳng của Quốc. Bài báo đầu tiên: “Vấn đề người bản xứ” được đăng trên báo Nhân đạo ngày 2/8/1919. NAQ cho rằng, người Pháp chẳng mang lại gì cho người bản xứ. Mang tiếng là khai hoá văn minh, hệ thống giáo dục của họ chỉ nhồi sọ và phục vụ một số nhỏ con cái các quan chức. Quốc dự đoán, người Việt nam hoàn toàn không được chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh với các nước láng giềng, sớm muộn sẽ bị Nhật bản đè bẹp về kinh tế. Trong một bài khác “Đông dương và Triều tiên” đăng trên báo Nhân dân tháng 10/1919, và sau đó là “Thư gửi Ngài Outrey” Quốc đả kích Maurice Outrey, đại diện cho Nam bộ tại Nghị viện Pháp vì tay này đả kích Hội an nam ái quốc và cho rằng chẳng có ai đàn áp dân chúng cả.
Công việc thợ ảnh của Quốc rõ ràng là chẳng bận rộn lắm. Ngoài viết báo, anh còn bắt tay vào viết một tác phẩm dài với tên gọi “Những người bị áp bức” với sự giúp đỡ của một nhà văn chống chế độ thuộc địa Paul Vigne d’Octon. Anh cố tình sử dụng rất nhiều trích dẫn mà không nói rõ nguồn, hy vọng khi các nhà xuất bản xúm vào đòi quyền tác giả sẽ làm cho cuốn sách nổi tiếng hơn. Đáng tiếc là bản thảo cuốn sách này bị đánh cắp. Nhiều người cho rằng mật thám Pháp đã “tháu”, tuy nhiên không thấy có bằng chứng lưu lại trong hồ sơ. Mặc dù không có nhiều thông tin về nội dung cuốn sách, chúng ta có thể dự đoán là rất nhiều dữ liệu đã được dùng lại trong cuốn sách viết được công bố năm 1925: “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Giọng điệu cuốn sách này đã gay gắt hơn rất nhiều, thể hiện rõ quan điểm Marxism của Quốc.

Quãng tháng 7/1919, NAQ chuyển đến căn hộ của Phan Chu Trinh tại Villa des Gobelins, (gần quảng trường Italia, khu trung lưu của Paris) cùng với 1 số đồng nghiệp khác. So với những chỗ ở trước của Quốc thì đây quả là một sự cải thiện đáng kể. Tuy nhiên cuộc sống chung cũng có nhiều vấn đề. Theo các báo cáo của cảnh sát Pháp theo dõi Trinh, NAQ và PCT thường to tiếng với nhau về con đường của cách mạng Việt nam. Quốc cho rằng các quan lại Việt nam như những con cừu non trong tay Pháp, sử dụng để ngăn cản và bóc lột nhân dân. Trinh thì cho rằng Quốc quá nông nổi: “Anh bạn Quốc, hãy để tôi nói rằng anh còn rất trẻ và có cái đầu nóng. Anh muốn 20 triệu đồng bào ta đứng lên làm gì đó khi họ không có một tấc vũ khí trong tay. Tại sao lại phải tự sát một cách vô mục đích như vậy?” Trinh muốn dựa vào Pháp để cải cách chế độ đã thối nát trong tay các nhà nho. Quốc thì coi Pháp là kẻ thù số một: “Tại sao 20 triệu dân ta không làm gì đó để buộc chính quyền phải coi chúng ta như những con người. Kẻ nào không coi chúng ta là người, kẻ đó là kẻ thù. Chúng ta không thể chung sống với chúng. Không thể chịu nhục!” Quốc nói, “Ông có kinh nghiệm hơn tôi, nhưng hãy nhìn xem. Cha anh ta đã đòi cái mà ông đòi suốt hơn 60 năm nay. Hỏi họ nhận lại được cái gì?” Tuy nhiên Quốc vẫn rất kính trọng Trinh và thường dẫn ông này đến các cuộc hội họp của các nhà cách mạng cấp tiến, hy vọng rằng Trinh sẽ thay đổi quan điểm.

Trong lúc đó, chính quyền Pháp vẫn tiếp tục thẩm tra nhân thân của Quốc. Họ đã thẩm vấn cha, anh và chị của Thành và hy vọng có thể kiểm tra vết sẹo trên tai từ thời nhỏ. Năm 1920, khi vào viện vì bị apxe, Quốc đã bị cảnh sát chụp ảnh. Ngày 17/8/1920, Albert Sarraut, khi đó đã là Bộ trưởng thuộc địa, ra lệnh phải truy xét bằng được nguồn gốc của NAQ. Quốc bị chất vấn tại Bộ thuộc địa. Sau đó 3 ngày lại bị gọi lên đồn cảnh sát. Tại đó Quốc khai mình sinh năm 1894, tại Vinh có 6 anh chị em và đều đã chết cả. “Hắn ta là ai vậy? Hắn thường xuyên thay tên đổi họ và hiện đang dùng một cái tên mà ngay cả người mù tịt về tiếng Việt cũng thừa hiểu nghĩa là gì. Hắn không có một tí giấy tờ tuỳ thân nào từ Đông Dương, thế mà dám can thiệp vào công việc chính trị của chính phủ, tham gia các đảng phái, phát biểu tại các cuộc hội họp. Và còn cười vào mũi chúng ta bằng những thông tin giả mạo”. Đó là nội dung báo cáo của Pierre Guesde cho Bộ thuộc địa. Cũng theo báo cáo đó, mật thám Pháp đã nhận dạng chính xác NAQ là Nguyễn Tất Thành.

Trong một thời gian dài, các phong trào xã hội Pháp do nhiều phe phái hợp thành:
- những người theo Auguste Blanqui đòi lật đổ cái đã, xây dựng xã hội mới tính sau.
- những nhà cải cách ôn hoà, đệ tử của Eduard Bernstein và Quốc tế II
- những lý thuyết gia cấp tiến có nguồn gốc từ cách mạng Pháp chứ không phải Marx
- những lãnh đạo công đoàn, đấu tranh đòi quyền lợi trước mắt và không quan tâm lắm đến ý thức hệ

Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất đã giáng một đòn mạnh vào sự thống nhất mong manh trong một FSP hỗn tạp. Và khi Lenin đứng lên kêu gọi cuộc thánh chiến chống chủ nghĩa tư bản, các thành viên của FSP phải lựa chọn chỗ đứng của mình. Tại hội nghị Strasbourg tháng 2/1920, mặc dù đa số đồng ý ly khai với Quốc tế II, cũng còn rất đông người phản đối gia nhập Quốc tế III. Cuộc tranh luận ngày càng trở nên quyết liệt. Marcel Cachin và Tổng bí thư Louise Frossard sau khi tham gia đại hội QTCS lần thứ hai ở Matxcơva, đã tổ chức một cuộc biểu tình với khoảng 30 ngàn người tham gia tại ngoại ô phía Tây Paris ngày 13/8. NAQ chen trong đoàn người lắng nghe Cachin nhân danh QTCS phát động cuộc chiến đấu giải phóng các dân tộc bị nô lệ, đánh thẳng vào thành trì của chủ nghĩa đế quốc. Trước thềm đại hội Tour vào cuối tháng 12, các cuộc họp cấp địa phương diễn ra liên miên, với hai nhóm tả hữu và lớp lưng chừng dưới cờ của Jean Longuet. NAQ ít tham gia tranh luận, khi phải phát biểu, ông kêu gọi sự đoàn kết và chú ý đến các vấn đề thuộc địa: “Các đồng chí, chúng ta đều là những nhà xã hội. Dù là quốc tế Hai, Hai rưỡi, hay Ba, chúng ta đều cùng muốn giải phóng giai cấp công nhân... Trong lúc các đồng chí tranh cãi ở đây, đồng bào của tôi đang chết dần chết mòn”

NAQ được mời đi dự đại hội với tư cách đại diện cho nhóm các đảng viên từ Đông Dương.

Đại hội khai mạc ngày 25/12/1920 trong một trường dạy đua ngựa cạnh nhà thờ St. Julian trên bờ nam sông Loire. Gian đại hội được trang trí bằng các bức ảnh nhà xã hội Jean Jaure và những khẩu hiệu kêu gọi giai cấp công nhân đoàn kết. Bục phát biểu được dựng tạm bằng những tấm ván gỗ đặt lên trên các giá cưa. 285 đại biểu đại diện cho 178,000 đảng viên, ngồi sau các bàn gỗ theo khuynh hướng chính trị của mình. NAQ ngồi với cánh tả do Marcel Cachin lãnh đạo. Chủ đề chính của đại hội là có tham dự QTCS hay không?

Với bộ comple rộng thùng thình trên một cơ thể mảnh khảnh của đại biểu châu á duy nhất, NAQ nổi bật giữa một đám hàng trăm tay người Âu râu ria xồm xoàm. Vì thế ảnh Quốc được báo Le Matin đăng ngay sáng hôm sau. Lần theo bức ảnh, cảnh sát mò đến định tóm NAQ, nhưng các đại biểu đã xúm vào bảo vệ được Quốc.

NAQ đã lên diễn đàn ngay hôm đầu tiên của hội nghị. Ông nói một mạch, không cần giấy tờ và đi thẳng vào vấn đề, đả kích sự tàn bạo của chế độ thực dân và kêu gọi các nhà xã hội hành động ủng hộ các dân tộc bị áp bức. Bài diễn thuyết của ông bị Jean Longuet cắt đứt với lý do rằng ông ta đã bàn đến chuyện đấy rồi. Quốc đã nhanh trí ví von ngay với quan điểm của Max (ông của JL): “tôi đành phải áp dụng chuyên chính của sự im lặng”. Theo Quốc, chỉ có gia nhập quốc tế III mới chứng tỏ rằng FSP đánh giá được tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa. “Nhân danh loài người, nhân danh tất cả các nhà xã hội cánh hữu và cánh tả, chúng tôi khẩn thiết kêu gọi các đồng chí. Hãy cứu chúng tôi” đó là những lời cuối cùng của bài phát biểu của NAQ.

Ngay sau đó Jean Longuet vội vã giải thích rằng ông ủng hộ nhân dân Việt nam và vấn đề đang được thảo luận ở quốc hội. Nhưng Couturier đã bác bỏ luận điểm đó: nhân dân thuộc địa đang cần những hành động chứ không phải các cuộc thảo luận.

Ngày 27, Cachin chính thức đề nghị FSP chấp nhận những điều kiện của Lênin và gia nhập quốc tế III. Hơn 70% đại biểu ủng hộ. Những người đối lập đã rời khỏi hội trường để phản đối. Các đại biểu còn lại đã biểu quyết tách ra khỏi FSP và thành lập Đảng cộng sản Pháp (FCP). Tuy nhiên chẳng có cuộc thảo luận tiếp theo nào về vấn đề thuộc địa và chủ tịch đoàn đã từ chối đề nghị (chắc là của NAQ) ra một thông cáo ủng hộ các dân tộc thuộc địa.

Tại đại hội Tour, NAQ đã đưa ra chính kiến rõ ràng, ông không chỉ quan tâm đến sự thành công của cách mạng quốc tế mà còn cả vận mệnh của dân tộc mình. Trong một nhận xét gửi cho bạn mình Quốc viết: “Tôi không có may mắn được học hành trong trường đại học. Nhưng tôi đã được học trong cuộc sống từ lịch sử, xã hội đến khoa học quân sự. Người ta phải yêu quý điều gì? Khinh thường điều gì? Người Việt nam chúng tôi yêu độc lập, lao động và tổ quốc”.

Nhưng NAQ cũng bắt đầu cảm thấy thất vọng về các đồng nghiệp của mình ở FCP. Tháng 2/1921, NAQ bị ốm phải vào viện. Khi khỏi bệnh, Q viết bài “Đông Dương” cho tạp chí Người Cộng sản. Bài báo đã thể hiện thái độ phê bình gay gắt đối với sự thiếu quan tâm của FCP tới các vấn đề thuộc địa. Ngược lại với quan điểm thế giới vô sản đại đồng, NAQ khẳng định: “các dân tộc Đông dương sẽ sống mãi”. Ông cũng từ bỏ hy vọng giành được mục tiêu mà không phải dùng đến vũ lực. “Dưới bề ngoài dễ bảo là sự bất bình đang sôi sục, chờ dịp bùng nổ”.

Trong bài báo thứ hai dưới cùng một tiêu đề viết trong tháng 5, NAQ đề cập đến khả năng tiến hành cách mạng tại các nước thuộc địa. Nên nhớ rằng, tại thời điểm đó, các nhà cách mạng cấp tiến châu Âu cho rằng phải còn lâu các dân tộc chậm tiến mới có thể tiến hành cách mạng. Cũng trong tháng đó, Stalin đăng đàn trên báo Sự thật khẳng định “các dân tộc tiên tiến sau khi tự giải phóng bản thân, sẽ có trách nhiệm giải phóng các dân tộc chậm tiến”. Về phía mình, NAQ cho rằng các điều kiện cách mạng đã hình thành ở Trung quốc và Nhật bản, rất có thể một ngày gần đây, Trung quốc sẽ là đồng minh với Nga trong cách mạng toàn cầu. Quả là một sự tiên tri khi tình hình ở Trung quốc lúc đó còn đang rối ren sau cái chết của Viên Thế Khải và Tôn Dật Tiên thì phải đi tị nạn.

NAQ đã dẫn ra những chứng cớ lịch sử cho rằng chủ nghĩa cộng sản có nhiều cơ hội để phát triển ở châu á hơn châu Âu. Người Trung hoa cổ đại đã áp dụng hệ thống “bình điền”, chia ruộng đất thành những phần bằng nhau cho nông dân và dành một phần cho ruộng công. Hơn 4000 năm trước, nhà Hạ đã áp dụng chế độ lao động bắt buộc. Và chính Khổng Tử đã qua mặt Quốc tế cộng sản khi tuyên truyền học thuyết về bình đẳng tài sản từ thế kỷ 6 trước công nguyên. Ông nói, sẽ không có hoà bình cho thế giới cho đến ngày xây dựng được một nhà nước toàn cầu. Ông còn thuyết giảng: “người ta không sợ có ít, chỉ sợ chia không bình đẳng”. Một trong những học trò của ông là Mạnh Tử còn đi xa hơn trong việc xây dựng kế hoạch chi tiết cho sản xuất và tiêu thụ. Những truyền thống như vậy vẫn còn ảnh hưởng to lớn trong những xã hội châu á. Chẳng hạn, Việt nam đã áp ụng những hạn chế trong việc mua bán đất đai, 1/4 đất ruộng được sử dụng như tài sản công. Khi các dân tộc châu á thức dậy, họ sẽ trở thành một thế lực to lớn của cách mạng, lật đổ chủ nghĩa đế quốc toàn cầu.
NAQ còn dùng ngòi bút của mình để vạch trần những ảo tưởng của xã hội văn minh Pháp. Trong bài báo với nhan đề: “nền văn minh thượng đẳng”, viết tháng 9 năm đó, NAQ chế diễu nguyên tắc tam ngôi của cách mạng Pháp, sử dụng những ví dụ cụ thể trong một cuốn hồi ký của 1 người lính Pháp. Trong tờ Le Libertaire, Quốc kể lại những sự tàn bạo của các thầy giáo Pháp ở trường quốc học Huế, ngay dưới khẩu hiệu Aimez la France, qui vous protege.
Nắng sớm
22-07-08, 02:19
Chính quyền Pháp càng ngày càng theo dõi NAQ chặt chẽ hơn vì sự cấp tiến của ông. Đầu năm 1921, Allbert Sarraut lại mời Quốc lên Bộ thuộc địa và tuyên bố “Nếu Pháp trả lại độc lập của Đông Dương cho ông, ông làm sao có thể điều hành được. Các ông làm gì có đủ sức mạnh”. NAQ đã trả lời “Ngược lại, các ông sẽ thấy chúng tôi sẽ biết cách cai trị như thế nào. Nhật bản và Xiêm cũng chẳng có bề dày lịch sử hơn chúng tôi, và họ là những dân tộc tự do”. Đến đó, AS chủ động đổi chủ đề.
Việc Quốc tham gia Đảng cộng sản Pháp đã làm tình hình tại Villa des Gobellin thêm căng thẳng. Một người bạn thân của Quốc là Trần Tiến Nam đã tâm sự với 1 cô bạn gái của mình (trong thời gian Đại hội Tour) là ít người đồng tình với quan điểm của NAQ. Cảnh sát theo dõi ngôi nhà cũng thông báo là thường xuyên có những cuộc cãi lộn. Mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm vào tháng Bảy. Ngày 6/6, Quốc tham gia vào đoàn biểu tình công nhân kỷ niệm những chiến sĩ ngã xuống trong Công xã Paris 1871, bị cảnh sát đánh tơi bời may mắn thoát được về nhà. Bạn cùng phòng được một phen khiếp vía. Trần Tiến Nam vội vàng chuyển chỗ vì sợ dính líu. Ngày 11/7, cảnh sát báo cáo đã xảy ra một cuộc cãi vã lớn từ 9h tối tới tận sáng hôm sau. Quốc thu xếp hành lý bỏ đến ở với mình là Võ Văn Toàn ở 12 Rue Buot. Một tuần sau, Paul Couturier thu xếp được cho Quốc một căn phòng nhỏ tại số 9 ngõ cụt Compoint khu công nhân Batignolles - Tây bắc Paris.

Chỗ ở mới thật là thảm hại so với tiện nghi tại Villa des Gobellin. Căn phòng chỉ vừa đủ để kê một chiếc giường, một chiếc bàn nhỏ và tủ quần áo. Cửa sổ nhòm thẳng vào tường nhà người khác. Không điện, nước, lò sưởi.

Công việc của NAQ cũng thay đổi thường xuyên, anh làm thợ tô màu cho PCT đến ngày 7/1920. Sau đó chuyển sang vẽ bích hoạ cho một nhà sản xuất đồ gỗ Tàu ở khu Latin. Lại chuyển đến hiệu ảnh tại phố Froidevaux. Cuối cùng Q cũng tìm được một chỗ làm ở hiệu ảnh gần nhà sau khi chuyển khỏi Villa des Gobellin. Nhưng đồng lương còm cõi khoảng 40 fr/tuần có vẻ chẳng ảnh hưởng gì đến lối sống của Q. Anh vẫn thường xuyên dự các cuộc miting, thậm chí ở tỉnh xa, thăm triển lãm, đi thư viện, thù đãi bạn bè trong căn phòng nhỏ của mình.Trong số những người quen mới có ca sĩ Maurice Chevalier và nhà văn Collete. Chắc chắn là NAQ được FCP tài trợ thêm.

Cuộc chia tay tại Villa des Gobellin có lẽ đã được khơi mào bằng sự bất đồng xung quanh việc thành lập Uỷ ban các vấn đề thuộc địa thuộc FSP. Khoảng giữa tháng sáu, Quốc đã dẫn PCT đến dự một cuộc họp của Uỷ ban. Vài tuần sau, Quốc dự cuộc họp thứ hai tại Fontaineblau. Sau khi trở về 2 ngày, đã xảy ra cuộc cãi lộn cuối cùng (cảnh sát còn thông báo là trước đó 1 ngày có 6 người đàn ông lạ mặt đến căn hộ). Một trong những hoạt động đầu tiên của ủy ban là thành lập Hội Liên thuộc địa, nhằm tạo một tiếng nói chung cho đại diện tất cả các thuộc địa hiện đang sinh sống ở Pháp. Lúc mới thành lập hội có khoảng 200 thành viên, chủ yếu là Việt nam và Madagascar, thêm vài thành viên Bắc Phi và ấn độ. NAQ là động lực chủ yếu của tổ chức mới cùng với Nguyễn Thế Truyền, Max Bloncourt, Hadj Ali người Alger. Chính tại đây anh hiểu ra những khó khăn to lớn khi liên kết các lực lượng thuộc địa thành một tổ chức thống nhất. Người Việt thì đòi một tổ chức thuần Việt, người Phi thì cho rằng dân châu á kiêu căng, hợm mình. Một số phần tử cấp tiến châu Âu muốn tham dự thì lại bị cho ra rìa... Các cuộc họp cứ vắng dần, từ hơn 200 người xuống còn khoảng 50. Trong một phiên họp thậm chí chỉ có 27 mống, kể cả hai cô gái Pháp, bồ của các thành viên. Q cũng có một số bạn gái nhưng chẳng dính dáng gì đến chính trị. Tuy nhiên Q cũng đã có một thành công nhỏ là thuyết phục được Phan Văn Trường tham gia.

Hội họp chẳng phải là hoạt động duy nhất của Q trong thời gian này. Anh đã học được từ những người bạn Pháp cách sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền cách mạng. Được sự đồng tình của uỷ ban và Hội, Q thành lập báo Le Paria (Người cùng khổ) viết bằng tiếng Pháp, nhưng có thêm tiêu đề tiếng Hoa và Arab. Báo ra hàng tháng và số đầu tiên ra ngày 1/4/1922. NAQ là tổng biên tập kiêm phóng viên chính, và thỉnh thoảng kiêm luôn cả việc trình bày và phát hành. Qua các trang NCK, Quốc tiếp tục rèn luyện kỹ năng viết báo của mình. Lối viết của anh đơn giản, không hoa mỹ, chịu ảnh hưởng nhiều của Leo Tonstoi. Q chủ yếu dựa trên các sự kiện và con số để nêu quan điểm của mình. Độc giả có cảm tưởng như Q là một từ điển thống kê sống về cuộc sống khổ cực tại các thuộc địa. Đôi khi, anh sử dụng giọng văn châm biếm thay cho các con số. Lối châm biếm của anh cũng rất trực diện, đi thẳng vào vấn đề không mang tính triết lý như Lỗ Tấn thời bấy giờ. Sau này, rất nhiều nhà nghiên cứu cũng không thể hiểu nổi, tạo sao một con người có sự quyến rũ cá nhân sâu sắc và một tính cách huyền ảo lại có thể áp dụng một cách hành văn có vẻ vụng về và đơn giản như vậy. Đây chính là chìa khoá của tính cách và sự hiệu quả trong hoạt động cách mạng của HCM. Không giống như nhiều lãnh tụ Marxist khác, HCM luôn coi độc giả của mình là tầng lớp bình dân: nông dân, thợ thuyền, viên chức, binh lính, chứ không phải các trí thức của xã hội. Ông không có ý định gây ấn tượng bằng sự uyên bác, sắc sảo của mình mà thuyết phục độc giả bằng sự đơn giản và sống động, để chia sẻ các quan điểm về thế giới và con đường tiến tới thay đổi. Độc giả sành điệu sẽ có khi cảm thấy chán ngấy, ngược lại, những bài viết tố cáo, kêu gọi lại có sức mạnh phi thường. Phút chốc, NCK đã trở nên nổi tiếng là tiếng nói đại diện cho các dân tộc bị áp bức. Bất cứ ai sẽ bị bắt ngay lập tức nếu bị bắt gặp đang đọc báo. NAQ nhớ lại “Hầu như tất cả các số báo đều được Bộ thuộc địa mua hết”. Tuy nhiên một số lượng nhỏ cũng được chuyển về các thuộc địa qua kênh các thuỷ thủ. Đồng thời, NAQ vẫn tiếp tục viết cho các báo cánh tả khác tại Paris. Năm 1922, Khải Định sang Pháp dự Triển lãm thuộc địa, được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 8 tại Marseille. Mặc dù đã được Sarraut đề nghị im lặng, NAQ và PCT vẫn tận dụng cơ hội này. Trên tờ Dán báo, 9/8/1922, Q miêu tả Khải Định như một món đồ trang trí được bày trong tủ kính của Triển lãm trong khi dân chúng thì bị đày xuống bùn đen. NAQ con viết vở kịch “Con rồng tre” được công diễn tại CLB Fabourg. Sự khinh quân này đã đẩy cha con NAQ tới sự chia rẽ sâu sắc hơn. Khi nhận được tin con, Sắc đã tuyên bố, đứa con nào không công nhận hoàng đế, đứa con đấy cũng không có cha.

Chuyến đi thăm của Khải Định là cơ hội cuối cùng cho Q và Trinh đứng trên một trận tuyến. Trước đó, tháng 2/1922, Trinh đã gửi cho Quốc một lá thư. Mặc dù vẫn bảo vệ quan điểm của mình về việc nhấn mạnh giáo dục, Trinh tự nhận mình là một “con ngựa già”, con Q đang là một “chú ngựa hoang” đầy sức sống. Tuy nhiên Trinh khuyên Q đừng mất thời giờ tại nước ngoài như Phan Bội Châu mà hãy về nước chiến đấu. Nếu chẳng may thất bại, sẽ có người khác đứng lên tiếp tục. Q lại có những kế hoạch khác. Bây giờ anh đã trở nên một nhân vật chủ chốt trong phong trào cấp tiến của Pháp. Được sự trợ giúp của George Pioch, kỹ năng phát biểu của anh đã hoàn thiện và Q thường xuyên tranh luận với các lãnh đạo chủ chốt của FCP. Anh cũng bị mật thám Pháp quan tâm kỹ lưỡng. Ngày 22/6/1922, Albert Sarraut lại mời Q lên Bộ thuộc địa. Sau khi đe doạ sẽ trừng trị thẳng tay những hoạt động nhập khẩu cách mạng vào Đông Dương, AS định mua chuộc Q: “Tôi rất kính trọng ý chí của anh. Hãy để quá khứ thành quá khứ. Chúng ta đã là bạn. Khi nào anh cần gì cứ bảo tôi”. NAQ đứng dậy cám ơn và nói: “Điều tôi cần nhất trong cuộc đời là độc lập cho đồng bào của tôi. Xin phép ngài cho tôi đi”.

Vài ngày sau, Quốc viết thư cho Bộ thuộc địa. (Bức thư này cũng được công bố trong báo Nhân đạo và Người cùng khổ). Trong thư Q đã cám ơn chính phủ Pháp đã cung cấp một số “phụ tá” (tức các mật thám theo dõi) và rất lấy làm “xấu hổ” vì đã tiêu tốn mồ hôi của giai cấp vô sản. Q cũng cung cấp luôn lịch hoạt động hàng ngày của mình

“Sáng: từ 8h-12h, tại cửa hàng
Chiều:tại toà báo
Tối: ở nhà hoặc đi học
Chủ nhật/ngày nghỉ: viện bảo tàng, thăm quan
Tôi mong rằng phương pháp này sẽ làm Ngài hài lòng, kính thư – Nguyễn ái Quốc”

Sarraut tất nhiên là chẳng có bụng dạ nào để ý đến sự châm biếm của Q. Ông này liên lạc với Toàn quyền Đông dương Maurice Long, đề nghị bắt và đưa về VN. Long cho rằng cứ nên giữ Q ở Pháp, dễ theo dõi hơn. Sarraut lại đề nghị đầy Quốc đến vùng Nam Trung Quốc. Long cũng không đồng ý, sợ Q có thể lãnh đạo cách mạng trong nước từ đó.

Tuy nhiên điều làm Q thất vọng hơn cả là thái độ của các đồng chí trong cánh tả Pháp về vấn đề thuộc địa. Sau khi xuất hiện rùm beng, Hội Liên thuộc địa nhanh chóng bị lãng quên. Theo Q ngay cả báo Nhân đạo cũng không quan tâm đến vấn đề đúng mức. Q cho rằng các báo tư sản còn miêu tả thuộc địa kỹ hơn, thậm chí đã tạo cho mọi người hình ảnh các nước thuộc địa hết sức mỹ mãn: “cát, mặt trời, gió biển, những hàng dừa xanh và các thổ dân loè loẹt”. Điều này làm cho giọng điệu của Q ngày càng trở nên chống Pháp. Trong loạt bài báo miêu tả cảnh khổ cực của các công nhân cảng Marseilles cuối năm 1921, Q đã ký tên Nguyễn Ô Pháp (tức là ông Nguyễn ghét Pháp). Q còn tranh luận nảy lửa với một lãnh đạo của FCP về vấn đề thuộc địa. Đến nỗi, Jacques Doriot – một ngôi sao mới nổi của FCP phải thì thầm khuyên Q dịu giọng.

Tháng 3/1923, một mặt để tiết kiệm tiền, mặt khác tiện làm việc, Q chuyển từ ngõ Compoint đến căn phòng 100fr/tháng ở tâng trên của trụ sở báo NCK tại Rue du Marche des Patriarches. Đây là chỗ ở cuối cùng của Q ở Paris. Một nhân vật Việt nam quan trọng đã giúp Q rất nhiều trong việc phát hành báo là Nguyễn Thế Truyền. Truyền sinh năm 1898, đến Paris năm 1920 để nghiên cứu kỹ nghệ. Năm 1921 Truyền gia nhập FCP và trở thành đồng minh thân cận nhất của Q trong cộng đồng Việt nam.
Trong một lần đại hội FCP vào tháng 10 năm trước, NAQ gặp Dmitri Manuilsky, đại diện của QTCS tại Liên xô. Ông này rất đắc ý nghe Quốc đả phá kịch liệt sự thiếu quan tâm đến các vấn đề thuộc địa của FCP. Nhiều tháng sau, khi Mauilsky được phân công chuẩn bị bản báo cáo về các vấn đề dân tộc và thuộc địa cho Đại hội 5 QTCS mùa hè năm 1924, ông lập tức nhớ đến chàng thanh niên Việt nam đầy nhiệt huyết. Q được mời đến Moscow làm việc cho QTCS.

Đối với Q, lời mời đến Moscow là phần thưởng to lớn cho nhiệt huyết anh đã bỏ ra cho Đảng. Đây cũng là cơ hội to lớn để Q quay về châu á và Việt nam. Nhưng vốn tính cẩn thận, Q thông báo cho bạn bè là chuẩn bị đi nghỉ 3 tuần ở miền Nam Pháp. Ngày 13/6/1923, sau khi không để lại một chút nghi ngờ nào cho 2 “trợ lý” của cảnh sát Pháp, Q đi ra cửa sau của một rạp chiếu bóng, đến Gare du Nord và lên tàu đi Berlin trong vai một nhà buôn châu á giàu có. Đến Berlin, Q đi tiếp đến Hamburg, lên tàu Karl Liebknecht đến nước Nga Xô viết. Ngày 30/6 Q cập bến Petrograd với hộ chiếu của một nhà buôn Trung quốc Trần Vang

Chuyến đi của NAQ đã làm cho cả cảnh sát Pháp và những người bạn của Q nhức đầu. Q đã chính thức nói không với con đường cải cách của PCT để đi theo Vladimir Lenin.

“Mặc dù Q còn trẻ và có thể có những hành động thiếu suy nghĩ. Nhưng điều quan trọng là anh ta có một trái tim của con người yêu nước. Anh đã chọn con đường cô đơn và đầy gian khó để giải phóng dân tộc mình. Và tất cả chúng ta phải kính trọng trái tim can đảm đó”. Đó là những lời tâm huyết của PCT dành cho người đồng chí trẻ tuổi của mình trong bức thư gửi cho bạn bè tháng 9/1923.
Nắng sớm
22-07-08, 02:21
Nhà cách mạng tập sự



Năm 1923, Nước Nga đang phục hồi từ 7 năm chiến tranh, cách mạng và nội chiến. Ngoài Moscow, Petrograd và một số thành phố lớn thuộc phần lãnh thổ châu Âu, cuộc cách mạng tháng 10 vẫn chỉ là cuộc “Cách mạng trên điện báo” (theo lời của Leo Trotsky). Trên những cánh đồng Nga mênh mông, gần 50 000 đảng viên Bolsheviks đang tìm cách thuyết phục hàng chục triệu nông dân Nga, vốn chẳng biết gì về những ý tưởng của Karl Max, lại càng không quan tâm đến số mệnh của cách mạng vô sản thế giới.

Để điều chỉnh lại chính sách cưỡng đoạt mà nhà nước Bolshevik đã sử dụng để thiết lập quyền lực của mình trong cuộc nội chiến, Lenin đã buộc phải thừa nhận rằng nước Nga xô viết phải đi qua giai đoạn quá độ của chủ nghĩa tư bản. Năm 1921, Lenin tung ra chính sách kinh tế mới NEP, công nhận quyền tư hữu ruộng đất, áp dụng chế độ thuế thay cho trưng thu, nhà nước chỉ kiểm soát những ngành công nghiệp quan trọng.

Những cảm tưởng đầu tiên của NAQ tại thiên đường của CNXH, cái mà anh đã từng tô màu rực rỡ trong những bài báo hồi còn ở Pháp, không được dễ chịu cho lắm. Q bị giữ lại mấy tuần trong không khí căng thẳng, cho đến khi có một đại diện của FCP đến nhận diện. Sau đó Q được phân làm việc tại văn phòng Viễn đông của QTCS (gọi tắt là Dalburo)

Dalburo được thành lập tháng 6/1920 theo sáng kiến của Maring (Người Hà lan tên thật là Hendrik Sneevliet, sau này trở thành cố vấn thường trực cho Đảng CS Trung quốc), do nhà Đông phương học người Nga, Safarov lãnh đạo. Mục tiêu là tuyên truyền cho tư tưởng cách mạng tại vùng Trung đông và Viễn đông. Maring còn đề nghị thành lập các trường học để huấn luyện cho những hạt nhân cách mạng từ châu á và châu Phi.

Vô cùng nhanh nhạy trong việc gây ấn tượng, mới chân ướt, chân ráo đến nơi Q đã viết thư cho ban chấp hành trung ương FCP, đả kích cơ quan này đã không thực hiện đúng nghị quyết của đại hội 4 QTCS về việc mở rộng các hoạt động liên quan đến các vấn đề thuộc địa. Anh nhấn mạnh “nhân dân thuộc địa được hứa hẹn mà không thấy có hành động, tự nhiên sẽ đặt câu hỏi, liệu các đồng chí cộng sản là nghiêm túc hay lừa bịp”. Cuối thư Q nhắc lại, điều kiện tiên quyết để gia nhập QTCS là cam kết tiến hành một cách có hệ thống các hoạt động tuyên truyền để hỗ trợ giải phóng các dân tộc thuộc địa. Q cũng viết thư cho chủ tịch đoàn chủ tịch QTCS, trình bày các ý tưởng của mình để ủng hộ cuộc đấu tranh ở Đông Dương. NAQ miêu tả Việt nam như một thuộc địa chỉ có 2% vô sản mà lại vô tổ chức, tầng lớp trung lưu bé tí tập trung ở vài thành phố lớn, giai cấp tiểu tư sản ủng hộ độc lập nhưng không có chủ kiến chính trị rõ ràng, nông dân thì đông, bị áp bức và nếu được tổ chức tốt sẽ có tiềm năng lớn. Q cũng nhấn mạnh, động lực cách mạng chủ yếu bây giờ nằm trong tay các trí thức và nhà nho yêu nước. Bởi thế Q cho rằng mục tiêu đầu tiên là phải có hành động chung giữa các lực lượng cách mạng dân tộc và Đảng cộng sản.

Tư tưởng của NAQ chính là tư tưởng của Lenin trong “Luận cương các vấn đề dân tộc và thuộc địa”. Mặc dù những tư tưởng đó không còn là rất mốt như thời sau đại hội 2 của QTCS, nhưng các nhà lãnh đạo xô viết buộc phải chú ý đến chàng thanh niên châu á đầy tham vọng này và tính đến anh trong các nước cờ lâu dài ở châu á.

Năm 1923, quan điểm của Lenin về một nhà nước công nông trong các xã hội chưa qua cuộc cách mạng công nghiệp lại được khuấy lên. Năm 1922, một số kẻ theo chủ nghĩa dân túy đã lập nên “Quốc tế xanh” ở Prague, khuyến khích thành lập các đảng nông dân với đường lối chính trị mới. Các phần tử cấp tiến Đông Âu, do Dombal (đảng viên cộng sản người Balan) khởi xướng, cũng muốn QTCS phải có một tổ chức tương tự để lôi kéo sự ủng hộ của nông dân. Tuy không hào hứng lắm nhưng ban chấp hành QTCS cũng quyết định lợi dụng Triển lãm nông nghiệp quốc tế tại Moscow để tổ chức hội nghị Nông dân quốc tế vào ngày 10/10/1923. Những nhà tổ chức cũng gom được khoảng 150 đại biểu từ các nước tham dự triển lãm. NAQ được bầu đại diện cho Đông dương. Trong bài phát biểu của mình vào ngày 13, NAQ, qua các ví dụ và sự kiện đơn giản, đã chỉ ra rằng nông dân là nạn nhân bần cùng nhất của chủ nghĩa đế quốc. Bởi thế, Q kết luận QTCS chỉ có thể là QTCS chân chính nếu có được sự tham gia tích cực của nông dân châu á.

Hội nghị đã quyết định thành lập Quốc tế Nông dân do A. Smirnov làm tổng thư ký. NAQ được bầu làm 1 trong 11 thành viên của chủ tịch đoàn của Hội đồng Nông dân quốc tế.

Tháng 12/1923. NAQ nhập học tại Đại học Cộng sản cho những người bị áp bức phương Đông. Trường này do Lênin lập ra từ năm 1921, nhưng lại đặt dưới quyền của Stalin nên còn được gọi là trường Stalin, chuyên dạy cho các học viên từ các nước châu á và các học viên không phải dân tộc Nga từ miền đông Nga. Một trường khác, gọi là trường Lênin, chuyên đào tạo cán bộ cho châu Âu.
Trường có khoảng 1000 học viên từ 62 dân tộc khác nhau, trong đó 900 là đảng viên cộng sản, 150 là phụ nữ, khoảng một nửa xuất thân từ nông dân, số còn lại là công nhân và “trí thức vô sản”. Có vẻ NAQ là học viên đầu tiên từ Đông Dương.

Khoảng 150 giáo viên dạy đủ các môn từ Toán học cho tới Lịch sử phong trào cách mạng và công nhân cũng như chủ nghĩa Max, trong ngôi nhà số 10 trên phố Tverskaya. Học viên còn được học các hoạt động cách mạng như tổ chức biểu tình, rải truyền đơn. Học viên đều dùng bí danh trong sinh hoạt. Các môn học được dạy bằng tiếng Pháp hoặc tiếng mẹ đẻ. Tiếng Nga được khuyến khích sử dụng trong giao tiếp. Năm học kéo dài từ tháng 9 tới tháng 7 với 3 tuần nghỉ Noel, 1 tuần nghỉ Xuân và nghỉ Hè. Trường có hai trại hè ở Crưm. Vào các kỳ nghỉ, học viên được huy động tham gia tăng gia sản xuất. Điều kiện học tập ở đây khá lý tưởng, trường có 2 thư viện với gần 47000 đầu sách. Mỗi dân tộc lớn đều có phòng riêng với các sách báo bằng tiếng mẹ đẻ.

Ngay sau lễ kỷ niệm 3 năm ngày thành lập trường, Q đã viết thư cho Petrov, bí thư Dalburo, phàn nàn là hầu như chẳng có người Việt nam nào học ở đây cả. Q đề xuất trường Stalin đặc biệt quan tâm đến đào tạo đội ngũ cán bộ thế hệ mới cho châu á tiến tới thành lập Liên bang Cộng sản Phương Đông.

Trường Phương Đông có hai mức: căn bản 3 năm và tại chức 7 tháng. Nhiều khả năng là Q học lớp 7 tháng vì anh còn phải làm việc tại QTCS. Lãnh đạo QTCS coi Q là một thành phần quan trọng, thêm đại diện cho các nước châu á và thuộc địa trong vô khối những tổ chức quốc tế được thành lập thời bấy giờ. Anh được mời đến quảng trường Đỏ dự miting và phát biểu trong ngày quốc tế lao động với tư cách là thành viên của Quốc tế lao động Đỏ. Q còn dự đại hội của Quốc tế phụ nữ và nói chuyện với vợ goá của Lenin: Krupskaya.

Bằng vô số cách khác nhau, Q dần dần trở thành một nhân vật nhẵn mặt trong giới lãnh đạo QTCS và quen thân với các cây đa cây đề như Bukharin, Dmitrov, Thalemann, Kuusinen. Q còn chơi với một số bạn bè Trung quốc học cùng trường như Chu Ân Lai. Q cũng gặp Tưởng Giới Thạch khi ông này thăm Nga 3 tháng cuối hè năm 1923. Có vẻ như mọi người đều thích Q. Ruth Fischer, một nhà cộng sản cội người Đức nhận xét: “NAQ không gây ấn tượng từ lần gặp đầu tiên, anh ta chinh phục bằng lòng hào hiệp và sự giản dị”. Là một người thực tế, không tham gia các cuộc tranh luận vô bổ về học thuật, Q đã tránh được sự bất đồng đang hình thành lúc đó trong giới lãnh đạo xô viết, dẫn đến sự méo mó của Đảng Bolsevic và QTCS trong thập kỷ tiếp theo.

Nhà báo Ossip Mandelstamd, người đã phỏng vấn Q tháng 12 năm 1923 cho báo “Ngọn lửa nhỏ” viết về Q:

Một người trẻ tuổi mảnh dẻ, thấm đẫm những triết lý của đạo Khổng, với cặp mắt to và xuyên thấu. Khi anh ta nói về đất nước mình, cả người anh như co giật, mắt anh chói lên những tia hào quang. Anh ta phát âm từ “văn minh” với một sự ghê tởm lộ rõ, và đặc biệt phẫn uất với việc nhà thờ Thiên chúa chiếm mất 1/5 đất trồng trọt của đồng bào anh.

Boris Souvarin, người sau này đã rời bỏ FCP, tuyên bố: “Q đã trở thành một người Stalinist hoàn hảo”
Chỉ có một người không mấy ấn tượng với Q. Đó là M. Roy, một đảng viên cộng sản ấn. Ông này cho rằng Q là một người yếu đuối cả về thể xác và tư tưởng. Trớ trêu thay, chính Q là một trong số ít người ủng hộ luận điểm của Roy cho rằng các nước châu á cũng có thể làm cách mạng. Roy sau này trở thành đặc phái viên của QTCS tại Trung quốc và theo nhiều nhà quan sát, chính sự yếu kém của ông này đã làm Đảng cộng sản Trung quốc thất bại trong cuộc tranh giành quyền lực năm 1927.
Nắng sớm
22-07-08, 02:23
Quốc còn dành nhiều thời giờ để viết cho các báo cánh tả ở Pháp cũng như Inprecor (cơ quan ngôn luận của QTCS). Chủ đề của ông rất rộng: từ chủ nghĩa đế quốc ở Trung quốc, 3K ở Mỹ, thiên đường Liên xô đến sự cùng khổ của nhân dân Đông dương. Cùng với các bạn Trung quốc tại trường Stalin, Q viết một cuốn sách nhỏ: “Trung quốc và thanh niên Trung quốc” xuất bản bằng cả tiếng Nga, Trung và Anh. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Q trong thời kỳ ở Nga, và có lẽ trong cả cuộc đời là cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp”, được xuất bản ở Paris năm 1926 (NXB Lao động). Tác phẩm chủ yếu đả kích chế độ thực dân Pháp tại Đông dương, tuy cũng có vài dẫn chứng khác tới các thuộc địa châu Phi.

Tuy nhiên cách hành văn dông dài cũng như trình bày cẩu thả làm có nhà nghiên cứu cho rằng, có lẽ ai đó đã mượn tên Q để xuất bản. Tuy nhiên nếu xét kỹ giọng điệu và văn phong, có vẻ như vẫn là Q. Chắc chắn là cuốn sách đã được ra đời một cách vội vàng.

Một điều dễ nhận thấy trong các bài viết của Q là niềm tin “ngây thơ” với Liên xô và đặc biệt là tình cảm với Lênin. Có lẽ thất vọng lớn nhất trong đời Q là không được gặp Lenin. Năm 1923, khi được hỏi mục đích đến Liên xô, Q đã trả lời: để gặp Lenin. Rất tiếc tháng Giêng năm 1924, Lenin qua đời. Giovani Germanetto, một người quen Italia của Q kể lại:

“Matxcova, tháng giêng 1924, lạnh buốt, nhiệt độ xuống dưới –40. Lenin mất mấy ngày trước đó. Có tiếng gõ nhẹ vào cửa phòng chúng tôi ở khách sạn Lux. Một người thanh niên châu á mảnh dẻ bước vào tự giới thiệu là NAQ. Anh nói muốn đi tiễn đưa Lenin. Tôi khuyên anh nên ở nhà đợi thêm một chút vì thấy anh ta ăn mặc rất mỏng manh. Chúng tôi uống chè rồi Q về phòng mình.

Quãng 10h đêm lại thấy có tiếng gõ cửa. Vẫn đồng chí Q. Mặt, tay, mũi, tai tím ngắt vì lạnh. Anh lập cập nói đã đến thăm Lenin. Anh không thể đợi được đến ngày mai để viếng người bạn tốt nhất của các dân tộc bị áp bức trên thế giới.... Cuối cùng anh xin chúng tôi một chén trà nóng”

Theo Yevgeny Kobelev, sau khi dự đám tang Lenin, Q đã giam mình vào trong phòng và viết: “Người là cha, anh, thầy, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Người là ngôi sao dẫn đường cho các dân tộc bị áp bức. Người sẽ sống mãi trong hành động của chúng ta”

Tuy nhiên nếu để ý đến những chi tiết nhỏ nhặt, dễ nhận thấy là không phải cái gì tại nước Nga xôviết cũng làm Q dễ chịu. Tháng 12/2003, người ta phân cho Q vào 1 buồng của khách sạn Lux với 4-5 anh bạn nữa. Và có vẻ mấy anh này không phải là những người đồng phòng dễ chịu. Tháng 3, Q viết thư kêu cứu: “ban ngày tôi không ngủ được vì ồn, ban đêm tôi không ngủ được vì rận/rệp” Cuối cùng Q được chuyển sang một phòng khác.

Về chiến lược đường lối cách mạng, cũng chẳng phải mọi thứ đều suôn sẻ. Từ khi đặt chân đến Nga, Q liên tục thả bom xuống những người bạn có thế lực của mình về các vấn đề thuộc địa. Trong một bức thư viết tháng 2/1924 cho người bạn tại Trung ương QTCS (chắc là Manuilsky), Q cảm ơn bạn đã nêu vấn đề thuộc địa tại hội nghị của FCP ở Lyon. Cũng ngày đó, Q viết thư cho Tổng thư ký QTCS Grygori Zinoviev đòi được gặp mặt thảo luận về vấn đề thuộc địa. Không được trả lời, Q viết lá thư thứ hai kêu ca là tại sao không trả lời lá thư thứ nhất. Zinoviev quyết định lờ đi.

Chẳng biết Q định thảo luận gì với Zinoviev, nhưng tháng Tư, Q công bố bài báo: “Đông dương và Thái bình dương” trong tạp chí Inprecor. Ông tuyên bố giai cấp vô sản châu Âu thực là ngây thơ khi cho rằng các vấn đề châu á chẳng liên quan gì đến họ. Sự bóc lột các thuộc địa không những đang làm giàu cho các nhà tư bản và các chính trị gia vô liêm sỉ mà còn dẫn đến hiểm hoạ chiến tranh đế quốc. Khi đó thì công nhân châu á và Đông dương chết, giai cấp vô sản châu Âu cũng bị hiểm hoạ. Tầm quan trọng của “vấn đề phương Đông” đã được Roy nêu lên từ Đại hội 2 năm 1920 nhưng bị các đồng chí châu Âu gạt đi. Họ cho rằng, trước hết các Đảng châu Âu phải dành được chính quyền trước. Các đồng chí châu á cứ đợi đã! Thoạt đầu quan điểm châu á được sự ủng hộ từ các cấp cao nhất: Lenin và cả Stalin. Tuy nhiên sau khi Lenin chết đi, Stalin chuyển trọng tâm sang đấu đá để dành quyền lực tại Moscow. Zinoviev tìm cách lảng tránh. Maring bỏ QTCS chạy lấy người, thậm chí Manuilsky, vì thiếu các thông tin thực tế, đành tập trung vào các điều kiện tại Balkans.

Vai trò của nông dân còn thấp kém nữa. Thậm chí Bukharin còn chế nhạo Thomas Dombal là: “Một người nông dân hão huyền”. NAQ không chịu đầu hàng, phát biểu tại hội nghị Quốc tế nông dân tháng 6/1924. Tuy nhiên ông cũng phải thừa nhận với một người bạn đó chỉ là: “tiếng kêu cứu giữa hoang mạc”.

Đại hội lần thứ 5 của QTCS tại Matxcova vào ngày 17 tháng 6 năm 1924 là cơ hội tuyệt vời để Q chiếm lĩnh diễn đàn về vấn đề thuộc địa. Đó cũng là mục tiêu của chuyến đi Nga của ông theo lời mời của Manuilsky. Vì lúc đó chưa có đảng cộng sản tại Đông dương, Q nằm trong thành phần của FCP. Hơn 500 đại biểu từ khoảng 50 nước tham dự.

Mặc dù chương trình nghị sự có hẳn một phiên họp về vấn đề thuộc địa và các dân tộc ngoài Nga, các thủ lĩnh của CPSU đang bù đầu với cuộc đấu đá giữa Stalin và Trotsky, bởi thế các đồng chí châu á cũng chẳng được quan tâm lắm.

Ngay tại phiên họp đầu tiên, Q đã làm cho mọi người chú ý. Khi đại biểu Koralov đang đọc dự thảo nghị quyết để công bố, Q đã đứng lên hỏi: liệu văn kiện này có nhắm tới nhân dân các nước thuộc địa không. Koralov bực tức trả lời, đã có phiên họp riêng về vấn địa thuộc địa, cần gì phải bàn ở đây. Q không chịu và yêu cầu đại hội phải đề gửi nhân dân các nước thuộc địa trong tất cả các văn kiện của mình. Ngày 23/6, đến phiên Q phát biểu. Người thanh niên Việt nam mảnh dẻ dõng dạc tuyên bố: Tôi ở đây

để nhắc nhở QTCS về sự tồn tại của các thuộc địa. Có vẻ như các đồng chí không chịu hiểu rằng, số phận của giai cấp vô sản thế giới, đặc biệt giai cấp vô sản ở các nước thực dân gắn chặt với số phận của các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa. Thuộc địa chứa đựng hiểm hoạ cũng như tương lai của cuộc cách mạng thế giới.

Tôi nghe bài phát biểu hùng hồn của nhiều đồng chí ở mẫu quốc, nhưng xin lỗi, các đồng chí định giết con rắn bằng cách dẫm lên đuôi nó. Chúng ta đều biết là sức mạnh và nọc độc của con rắn đế quốc nằm nhiều ở thuộc địa hơn ở mẫu quốc. Thuộc địa cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, binh lính cho chiến tranh. Trong tương lai thuộc địa sẽ là thành trì của phản cách mạng. Nếu muốn phá vở một vật gì đó, các đồng chí đủ thông minh để chọn công cụ thích hợp. Đập trứng thì cần thìa, đập đá cần rìu. Vậy sao các đồng chí lại không muốn sức mạnh, sự tuyên truyền của cách mạng tương xứng với kẻ thù. Trong khi các đồng chí lờ đi các thuộc địa, chủ nghĩa tư bản dùng thuộc địa để hỗ trợ, bảo vệ và đánh lại các đồng chí.

Ngày 1/7, Q phát biểu lần nữa, tiếp sau sự chỉ trích của Manuilsky đối với một số đảng cộng sản châu Âu về vấn đề thuộc địa. Q trực tiếp chỉ ra sự yếu kém của FCP và đảng cộng sản Anh, Hà lan và đưa ra một loạt các biện pháp cải thiện tình hình. Mặc dù chưa dám khẳng định nông dân sẽ đóng vai trò chủ đạo trong cuộc cách mạnh sắp tới, NAQ cũng nhấn mạnh vai trò của họ:

Nạn đói đang hoành hành trên tất cả các thuộc địa Pháp. Nông dân căm thù và sẵn sàng nổi dậy. Nhưng họ không có tổ chức và lãnh đạo. QTCS cần phải giúp họ đứng lên tự giải phóng mình.
Với những bài phát biểu sắc bén của mình, NAQ đã trở thành một nhân vật gây chú ý với giới lãnh đạo QTCS. Chân dung của Q do hoạ sĩ Nga Kropchenko N.I. vẽ xuất hiện trên Báo Công nhân Nga số cuối tháng Bảy. Báo Pravda chạy một tiêu đề giật gân: “Từ lời nói đến hành động – Diễn văn của đại biểu Đông dương NAQ”. Tuy nhiên, chẳng ai ngờ được, chẳng bao lâu sau quan điểm coi trọng nông dân trong cách mạng châu á sẽ bị coi la dị giáo và sẽ bị Matxcova trừng phạt.

Không hiểu có phải vì những lời phê phán của Q mà lãnh đạo QTCS đã chú ý đến việc tuyển mộ nhiều nhà cách mạng trẻ từ châu á đưa sang Nga để đào tạo. Trong những năm sau đó, chỉ riêng từ Việt nam đã có hơn 100 học viên. Nhóm học viên Việt nam đầu tiên đến qua đường Pháp vào khoảng giữa năm 1925. FCP cũng lẳng lặng sửa sai bằng cách thành lập Uỷ ban thuộc địa do Jacques Doriot lãnh đạo. FCP còn tổ chức một trường đào tạo ở ngoại ô Paris dành cho các học viên từ các nước thuộc địa trước khi chuyển tiếp sang trường Stalin ở Nga. Một trong 8 học viên đầu tiên của trường này là người Việt nam.

Với sự xuất hiện tại Đại hội V của QTCS, Q đã chấm dứt giai đoạn “tập sự”, chính thức trở thành nhà lãnh đạo cách mạng châu á, người phát ngôn cho các vấn đề phương Đông và nông dân. Q cảm thấy đã hoàn tất công việc của mình tại Moscow, sẵn sàng trở về châu á để bắt tay xây dựng phong trào. Đó cũng là mục đích chính của Q khi rời nước Pháp. Trong lá thư của mình gửi Uỷ ban TƯ của QTCS năm 1924, Q viết:

Khi tôi đến Matxcova tôi nghĩ sẽ chỉ ơ đây 3 tháng trước khi sang TQ để liên lạc với đất nước tôi. Bây giờ đã là tháng thứ 9 và tôi vẫn chờ đợi trong vô vọng. Tôi không hề có ý định đưa ra các luận điểm về sự tồn tại hay không tồn tại của các tổ chức công nhân, của các phong trào dân tộc chủ nghĩa hay của những hội nhóm bí mật nào đó. Chúng ta cần nghiên cứu tình hình một cách nghiêm túc và nếu ở đó chưa có gì thì phải Thành lập một cái gì đó.

Chuyến đi của tôi sẽ phải có các nhiệm vụ sau:

- Tạo mối liên lạc giữa Đông dương và QTCS
- Nghiên cứu tình hình kính tế chính trị xã hội tại thuộc địa
- Liên lạc với các tổ chức đã có sẵn
- Tạo cơ sở thông tin và tuyên truyền

Làm thế nào để có thể hoàn thành những nhiệm vụ đó? Trước hết là phải đi Trung quốc. Sau đó thì phải làm bất cứ việc gì mà tình hình yêu cầu. Cần bao nhiêu tiền? Tôi đã trao đổi với các đồng chí Trung quốc, chắc là khoảng US100/tháng (chưa tính thuế), không kể chi phí chuyến đi sang TQ. Tôi nghĩ là chúng ta đã có đủ thông tin căn bản để thảo luận.

Nỗi khát khao được trở về của Q được sự ủng hộ của Dalin, đặc vụ của QTCS nằm trong phái đoàn của Borodin trợ giúp Tôn Trung sơn tổ chức lại QDĐ theo đường lối Lenin. Khi về Matxcova Dalin cũng ở khách sạn Lux và có nhiều dịp nói chuyện với Q.

Tháng Tư năm 1924, sau khi tháp tùng đoàn đại biểu TQ từ Yakutsk về Matxcova, Q được mời lên phòng làm việc của Manuilsky. “Thế nào, anh bạn trẻ? Anh có sẵn sàng chiến đấu không?”

Manuilsky đồng ý cử Q về Quảng đông với điều kiện Q phải hỗ trợ các dân tộc khác trong vùng. Chẳng bao lâu sau, Q được cử làm thành viên Ban bí thư Viễn đông (Dalburo) của QTCS. Tuy nhiên bộ máy quan liêu đã làm cản trở chuyến đi của anh vì không tìm được công việc thích hợp. Bực mình Q đề nghị chỉ cần chi trả tiền vé, anh sẽ tự lao động để kiếm sống. Cuối cùng, ngày 25/9, Dalburo quyết định: “Đồng chí NAQ sẽ đi Quảng châu”

Q đã thuyết phục được QTCS cử về quê hương với cái giá khá đắt Vì không có vị trí chính thức, anh phải sống một cách bất hợp pháp trong thành phố đầy rẫy những mật vụ Anh, Pháp. Q còn phải tự kiếm sống trong một đất nước mà anh chưa bao giờ đến. (Trước khi đi anh đã tranh thủ nhận nhiệm vụ với hãng tin ROSTA thỉnh thoảng gửi bài từ TQ về kiếm thêm tí chút)

Q rời Matxcova một ngày tháng 10 trên chuyến tàu xuyên Xiberi khởi hành từ ga Yaroslavskii, sau khi đã nhờ Dombal thông báo với mọi người là bị ốm. Q còn viết một lá thư gửi cho một người bạn Pháp thông báo anh không được phép đi Đông dương, bởi thế sẽ quay về Pháp.

Q ở lại Vladivostock vài ngày rồi lên một con tàu Xoviet. Tàu cập bến Quảng châu ngày 11/11/1924
Nắng sớm
22-07-08, 02:24
Ok, các bác đọc đi, mai em cóp tiếp :D

@Bác Lai: Bác em thích thì em up luôn lên mạng cả quyển, bác em đọc một mạch là xong :D
Nắng sớm
22-07-08, 02:30
Con Rồng Cháu Tiên



Châu á năm 1924 đã khác xa so với thời Q ra đi năm 1911. Mặc dù Thế chiến thứ Nhất không phá vỡ hệ thống thuộc địa tại Nam và Đông Nam á, Trung quốc đã thay đổi sâu sắc. Mùa thu năm 1911, một cuộc cách mạng đã phá vỡ triều đình Bắc Kinh. Những người nông dân của Tôn Dật Tiên đã nổi dậy lật đổ nhà Thanh nhưng đã không qua mặt được Viên Thế Khải. Tháng 2/1912 TDT đã buộc phải nhường chức tổng thống của nước cộng hoà mới thành lập cho VTK với trụ sở tại Bắc kinh.
Viên thực chất muốn trở thành hoàng đế. Tuy nhiên đảng viên của Tôn, chiếm gần nửa trong nghị viện đã không cho Viên thực hiện điều này. Tháng Giêng năm 1914, Viên giải tán quốc hội và điều hành bằng sắc lệnh. Đảng của Tôn bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Tôn phải chạy ra nước ngoài. Năm 1916, Viên đột ngột qua đời. Trung Hoa rơi vào vòng loạn đả của các thủ lĩnh địa phương. Mặc dù chính quyền vẫn còn tồn tại một cách mong manh tại Bắc kinh, nhưng men xã hội đã tích luỹ khắp nơi. Tháng 1/1919, sinh viên nổi dậy tại BK và các thành phố lớn. Cũng năm đó, Tôn đổi tên đáng thành Quốc dân Đảng, hùng cứ tại Quảng Châu (dưới sự bảo trợ của một thủ lĩnh địa phương). Tháng 4/1921, Tôn tuyên bố thành lập nước cộng hoà mới và tự phong làm tổng thống.

Tại Nga, sau khi tạm yên tình hình trong nước, năm 1920, đảng bộ Viễn đông được thành lập tại Iakurst để lãnh đạo phong trào cộng sản vùng Viễn đông-Thái Bình dương. Grigorin Voitinsky được cử sang TQ. Sau khi ở BK một thời gian ngắn, ông sang Thượng hải và bắt đầu tụ tập các lực lượng cách mạng trong vùng. Mùa hè năm 1922, Đảng cộng sản TQ được thành lập tại Thượng hải. Maring (đảng viên cộng sản người Hà lan), người được cử thay Vointinsky phụ trách Quốc tế cộng sản tại TQ đã rất kiên quyết yêu cầu ĐCS TQ kết hợp với QDĐ. Tháng giêng 1923, hai đảng ký thoả thuận Nội Liên (bloc within) để thành lập mặt trận thống nhất TQ dưới sự hỗ trợ của Nga. Các đảng viên CCP được mời tham dự QDĐ

Tại Đông Dương, tình hình cũng thay đổi nhanh chóng, mặc dù có thể không nhanh như bên Trung Hoa. Dân số ở cả 3 miền tăng từ 7 triệu năm 1880 đến 16 triệu năm 1926 (Tokin: 6, Annam: 5 và khoảng hơn 4 triệu tại Cochin China). Mặc dù vẫn là đất nước nông nghiệp nặng nề, đến giữa những năm 20 đã có khoảng 1 triệu dân sống ở các đô thị, chủ yếu là Hà nội và Sài gòn.

Phong trào đấu tranh giành độc lập cho Việt nam đã hầu như suy sụp. Những nhà cải lương phải im tiếng sau khi PCT bị bắt và đày sang Pháp. Phan Bội Châu khởi đầu khá ấn tượng, lôi kéo được sự hỗ trợ của nhiều nhà yêu nước xuất chúng, cũng dần dần héo hắt sau mấy cuộc khởi nghĩa vội vàng thất bại, đặc biệt sau khi Phan Bội Châu bị bắt ở Nam Trung quốc.

Năm 1911, nghe tin cuộc cách mạng của Tôn Trung Sơn, PBC đã từ bỏ ý định phục hồi chế độ quân chủ, lập ra đảng mới: Việt nam Quang phục Hội. Mục tiêu của Châu là xây dựng mô hình nước cộng hoà kiểu Tôn. Năm 1912, Châu gặp Tôn và được hứa Việt nam sẽ là nước đầu tiên được giúp đỡ một khi cách mạng thành công tại Trung hoa. Đáng tiếc sau đó, Châu bị mấy thủ lĩnh địa phương tống giam vì các hoạt động lật đổ. Năm 1917, khi Châu ra tù, Quốc dân đảng đã bị mất quyền, Tôn thì đã chạy sang Nhật bản. Một lần nữa hy vọng vào sự trợ giúp của nước ngoài bị tan vỡ. Có vẻ như Châu đã hoàn toàn mất hết kiên nhẫn, ông thậm chí còn đề nghị hợp tác với Pháp, hy vọng vào sự cải cách của chế độ thực dân. Đầu những năm 20, bộ máy cách mạng của Châu tại Việt nam thực tế đã tan vỡ. Châu ra sống lưu vong tại Nam Trung hoa với một số những môn đệ gần gũi nhất. Thời kỳ Phan Bội Châu rõ ràng đã đến hồi kết thúc.

Hai Phan thất bại đã cho thấy một sự thay đổi lớn lao trong xã hội Việt nam. Tầng lớp quý tộc-học giả truyền thống, những người đã chi phối nền chính trị Việt nam hàng thế kỷ qua, đã mất dần ảnh hưởng. Mặc dù nhiều học giả đã nhận thức được sự thay đổi của thời cuộc và vai trò ngày càng tăng của quần chúng, như một giai cấp, họ không cảm thấy tự tin. Phan Bội Châu nhắc nhiều đến hình ảnh: “hàng chục nghìn anh hùng vô danh, đánh đuổi thực dân Pháp”, nhưng đảng viên của ông chỉ gồm toàn những học giả với đời sống khá giả. Mặc dù cương lĩnh của đảng là cổ vũ thương mại và công nghiệp, thành phần lãnh đạo đảng lại chủ yếu là các địa chủ. Những nhà quý tộc giàu có khăn áo thướt tha mở cửa hàng để quyên vốn cho đảng, thực chất coi khách hàng bằng nửa con mắt.

Khoảng cuối chiến tranh thế giới thứ nhất, chế độ thi cử kiểu Khổng tử bị bãi bỏ trên khắp Việt nam. Chữ quốc ngữ được phổ biến ở khắp 3 miền. Mặc dù đa số thanh niên vẫn phải học ở các thầy đồ làng truyền thống, con cháu của các quý tộc đã được gửi đi học tại các trường kiểu Pháp như Quốc học. Họ được dạy bằng tiếng Pháp và được tiếp tục đưa sang Pháp đào tạo. Cùng lúc đó, một tầng lớp trung lưu mới được hình thành. Họ là những nhà buôn, chủ hãng hoặc công chức trong các công sở của người châu Âu. Họ ngưỡng mộ lòng yêu nước của Phan và các bạn, nhưng trong lòng họ giễu cợt các quan điểm bảo thủ. Họ mặc đồ Tây, uống vang Bordeaux và nói tiếng Pháp. Nhà văn Pháp Paul Monet miêu tả họ như: “nguyên mẫu của nền văn minh Pháp, bị tách khỏi những tín ngưỡng truyền thống, hoàn toàn coi thường Khổng tử vì họ không hiểu”. Các quan chức thuộc địa Pháp vui mừng vì có những thành quả đầu tiên của quá trình văn minh hoá. Họ không hề ngờ rằng, chính thế hệ này mới là những người thách thức sự thống trị của họ.

Những hành động bất nhất của nhà cai trị Pháp vô tình lại tăng thêm nỗi thất vọng của dân Việt. Năm 1919, toàn quyền Albert Sarraut hứa hẹn: “sẽ coi những con dân của mình như người anh em và dần dần phục hồi toàn bộ nhân quyền”. Ngay cả NAQ khi đó đang ở Paris, cũng không khỏi khấp khởi một chút hy vọng mong manh về đất nước đã sản sinh ra khẩu hiệu: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Tuy nhiên sau khi AS được thăng chức đưa về cố quốc, chẳng ai hơi đâu nhớ đến những lời hứa đó nữa. Hệ thống trường học thiếu tiền, cả nước chỉ có khoảng 5000 học sinh trung học. Nếu trước đây trong chế độ phong kiến, có đến 25% dân số có khả năng giải mã được trên những ký tự ngoằn ngoèo của chữ Hán, thì sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tỷ lệ biết chữ (kể cả quốc ngữ hay chữ Hán) chỉ vào khoảng 5%. Những thống kê này đặt một dấu chấm hỏi to đùng lên “Sứ mệnh mang lại nền văn minh” của thực dân Pháp. Mặc dù không ít người Việt nam đã cống hiến cho mẫu quốc trong thế chiến thứ Nhất, họ vẫn không được bộ máy thực dân công nhận ngay tại nước mình. 10000 viên chức Pháp được trả lương cao gấp nhiều lần đồng nghiệp Việt nam. Đại đa số trong hơn 40000 người châu Âu, nhiều người đến Việt nam “trên răng, dưới dép”, nay khá giả nhìn dân bản địa không khác gì một con chó. Chính quyền độc quyền sản xuất muối, thuốc phiện và rượu bán cho dân với giá cắt cổ. Hơn 500 ngàn nông dân không ruộng đất, phải cày thuê cuốc mướn, nộp tô đôi khi tới 50% mùa màng cho khoảng 5 vạn địa chủ. Georges Garros, trong cuốn sách xuất bản giữa thập kỷ Forceries humaines lạnh lùng nhận xét: người Pháp mà rơi vào hoàn cảnh ấy, chắc chắn sẽ làm cách mạng. Về phần mình, trong cuộc trả lời phỏng vấn Ossip Mandelstam năm 1923 tại Moscow, NAQ miêu tả Việt nam như một dân tộc: “bị đẩy vào địa ngục”.

Một lớp các nhà hoạt động chính trị mới ra đời khoảng giữa những năm 20 là con đẻ của tâm trạng vỡ mộng của xã hội. Họ được đào tạo theo hệ thống trường Tây, ngưỡng mộ văn hóa Tây, đọc sách báo Tây nhưng phẫn nộ vì sự bất công mà nhà cầm quyền Pháp áp đặt cho đồng bào của mình. Họ đòi hỏi: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” cho dân tộc mình.

Những hạt giống phản kháng đầu tiên nảy mầm ở Sài gòn nơi khoảng cách giàu nghèo, bản xứ và ngoại quốc rõ rệt nhất. Sài gòn cũng là nơi tập trung nhiều ngoại kiều và công nhân nhất do sự phát triển kinh tế nhanh chóng. Người đầu tiên là nhà địa chủ Bùi Quang Chiêu, người mà NAQ đã từng gặp trong chuyến xuất ngoại đầu tiên của mình. Ông ra tờ báo La Tribune Indigene và thành lập Đảng Hiến pháp, đảng chính trị đầu tiên ở Đông dương. Mặc dù Chiêu và các đồng sự gây sức ép đòi Pháp cho người Việt nam nhiều quyền hơn nữa trong đời sống chính trị, mục tiêu của các ông là giảm sự thống trị của Hoa kiều trong lĩnh vực kinh tế.
Nắng sớm
22-07-08, 02:31
Người mà người Pháp sợ hơn là Nguyễn An Ninh. Ông này là con của một nhà nho Nam bộ, có liên quan đến Trường Tự do Hà nội, sau đó tham gia vào phong trào kháng chiến của Phan Bội Châu. Ninh tốt nghiệp luật ở Paris, đã từng gặp NAQ và tỏ ra rất ham thích chính trị. Về nước đầu những năm 20, Ninh ra báo: La Cloche Felee (Tiếng chuông rè) để kêu gọi tinh thần yêu nước của dân chúng và đòi cải cách chính trị. Cũng như Phan Chu Trinh, Ninh ngưỡng mộ văn hoá phương Tây và coi đó là sự bù đắp cho nền Nho giáo kìm hãm sự sáng tạo của con người. Theo ông đó là nguyên nhân mà ta mất nước. Ông kêu gọi khởi xướng một nền văn hoá mới, không bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng du nhập của Khổng tử và Lão tử. Cũng như Mahamat Ghandi, Ninh cho rằng giải pháp nằm trong vấn đề tinh thần và chỉ có thể tìm thấy trong nhân dân. ảnh hưởng của Ninh mạnh đến nỗi đại sứ Maurice Cognacq phải mời lên thẩm vấn. Ngài đại sứ thông báo là các hoạt động của Ninh đã bị theo dõi chặt chẽ và Ninh phải thôi ngay, nếu không ngài sẽ buộc phải có những hành động không hay. Ngài còn châm biếm, dân Việt còn ngu lắm, làm sao hiểu được những điều ông phát biểu, tốt hết là ông hãy đến Moscow. Ninh bỏ ngoài tai và vẫn tiếp tục hoạt động

Khi NAQ đến Quảng đông tháng 11/1924, thành phố đang náo động vì hàng ngàn người đổ ra bờ sông để bày tỏ sự ủng hộ đối với chính quyền Tôn Trung Sơn và tiễn tổng thống đi Bắc kinh. Từ tháng giêng năm 1923, theo sự thoả thuận với Maring mật vụ của QTCS, Tôn thi hành chính sách: Nội liên, đưa một số Đảng viên CCP vào những vị trí quan trọng của quốc dân đảng. Sau khi đại diện của QTCS – Mikhail Borodin đến Quảng đông, Quốc dân đảng được tái cơ cấu theo đường lối của Lê nin. Học viện quân sự Hoàng phố được mở ra để đào tạo các sĩ quan trẻ cho cách mạng. Tưởng Giới Thạch, cánh tay phải của Tôn được bổ nhiệm làm Giám đốc, Chu Ân Lai làm chính uỷ học viện.

Quyết định của Tôn nghiêng về nước Nga xô viết và hợp tác với CCP làm cho giới ngoại giao và thương mại phương tây ở Quảng đông sôi máu. Mùa hè năm 1924, chính quyền Anh ra lệnh đàn áp các cuộc biểu tình của công nhân trên Đảo Sa điện. Đáp lại, công nhân công bố tổng bãi công. Chính phủ Tôn cử quân đội đến ủng hộ các công nhân bãi công. Hội Công thương Quảng đông (chủ yếu gồm các thương gia phương Tây) thành lập các đội du kích vũ trang để bảo vệ cộng đồng phương tây. Đã xảy ra các cuộc đụng độ giữa họ và quân đội chính phủ.

Tình hình bắc Trung quốc cũng thay đổi nhanh chóng. “Tướng Thiên chúa” Phương Du Tường lật đổ Vu Bắc Phú ở Bắc kinh. Phương có cái nhìn thiện cảm với chế độ của Tôn và mời Tôn lên Bắc kinh đàm đạo. Tôn đồng ý.

Mặc dù không được giao nhiệm vụ rõ ràng, vừa đến Quảng châu, NAQ đã ngay lập tức bắt liên lạc với Borodin và được ông này mời đến ở cùng với mình tại Bao công Quán, một biệt thự ngay cạnh cơ quan trung ương của QDĐ. Tầng 1 là văn phòng của 20 nhân viên phái bộ QTCS. Tầng 2, Quốc và Borodin ở. Cả hai đã từng gặp nhau ở Moscow, cùng nói được tiếng Anh (Borodin đã ở Chicago) và cùng chia sẻ mục tiêu thúc đẩy cách mạng ở châu á. Vì thế nên họ nói chuyện rất tâm đầu ý hợp. Để che mắt mật thám Pháp, NAQ lấy tên là Lý Thuỵ. Chỉ có Borodin và vợ biết được danh tính của NAQ. Quốc được phân vào phân xã của cơ quan thông tấn Xô viết ROSTA. Trong các bài viết về Moscow, Q thường ký tên Nilovskii. Thỉnh thoảng Q còn làm việc phiên dịch hoặc đại diện cho Quốc tế nông dân. Tuy nhiên, mục đích chính của chuyến trở về của NAQ là xây dựng hạt nhân cho một đảng mới theo kiểu Lenin, từ đó tìm cách đưa phong trào cách mạng Việt nam vào tổ chức, theo ý chỉ của mình.
Sự hiểu biết của các nhà cách mạng Việt nam lúc đó về chủ nghĩa Max và cuộc cách mạng Nga lúc đó hết sức đơn giản. Một nhà dân tuý nói: “Chúng tôi không theo chủ nghĩa cộng sản, chúng tôi theo những người cộng sản, bởi vì họ hứa sẽ mang lại quyền tự quyết cho các dân tộc. Chúng tôi chờ đợi họ như những vị cứu tinh.” Có người còn ngây thơ: “Nếu phương Tây căm thù người Nga và những người cộng sản, họ phải là những người tốt.”

NAQ không hề có một ảo tưởng nào. Từ năm 1922, trong một bài báo viết tại Paris, ông nhận xét, đa số nhân dân tại thuộc địa hiểu Bolsevism là: “Đạp đổ tất cả hoặc tẩy chay nước ngoài. Cả hai cách hiểu đều nguy hiểm”. Quần chúng “đã sẵn sàng nổi dậy, nhưng họ không biết bắt đầu như thế nào”. Việc xây dựng một đảng đại diện cho các tư tưởng Max và Lenin nhưng lại đáp ứng được khát vọng: độc lập dân tộc của đông đảo quần chúng, là một việc cấp bách nhưng vô cùng khó khăn.
Người Việt nam nổi tiếng nhất ở TQ khi đó là Phan Bội Châu. Sau khi ra tù vào năm 1917, Châu đã có một thời ve vãn ý tưởng dàn xếp với Pháp nhưng nhanh chóng vỡ mộng. Ông xoay sang dưỡng lão tại Hàng Châu ở nhà của đệ tử có tên là Hồ Học Lâm. Tuy đã 55 tuổi, lại chẳng có cơ sở nào ở trong nước, nhưng hình ảnh một nhà cách mạng lão thành quắc thước với bộ râu quai nón và cặp kính trắng lạnh lùng vẫn có sức hấp dẫn lớp trẻ. Khoảng đầu những năm 20, một nhóm các thanh niên trí thức Việt nam do Lê Hồng Phong, Lê Văn Phan (sau này gọi là Lê Hồng Sơn), Lê Quang Đạt và Trương Văn Lệnh dẫn đầu đã vượt biên sang nhận Châu làm sư phụ. Một điều thú vị là nhóm này hầu như đều đến từ Nghệ an và sau đều trở thành nòng cốt của tổ chức cách mạng do Quốc thành lập .
Nhóm thanh niên kích động này nhanh chóng cảm thấy tù túng với tổ chức của Châu. 8 tháng trước khi Quốc tới Quảng châu, tháng 3/1924, họ tách ra thành lập tổ chức mới lấy tên là Tâm Tâm Xã. Nóng nảy và dễ kích động, họ cho rằng mọi thứ lý thuyết đều vớ vẩn, họ theo đuổi đường lối của Auguste Blanqui ở châu Âu thế kỷ 19, người đã kích động khởi nghĩa tại Pháp, Italia và Tây ban nha. Mục tiêu của tổ chức là tuyên truyền và khủng bố để châm ngòi cho việc lật đổ chế độ cai trị của Pháp.

Người đỡ đầu cho tổ chức là Lâm Đức Thụ. Ông này tuy đã 36 tuổi và giàu có nhờ lấy một bà vợ giàu, nhưng sinh ra trong một gia đình chống Pháp, lại có tiền và quan hệ rộng rãi nên rất có uy tín. Trụ sở của TTX đóng ngay tại hiệu thuốc của vợ chồng Thụ tại Da Trường, một phố nhỏ gần trụ sở QTCS. Một trong những phi vụ đầu tiên của nhóm là đánh bom toàn quyền Đông dương Martial Merlin khi tay này đến thăm Quảng đông tháng 6/1924. Đáng ra chàng thanh niên ngăm đen đẹp trai Lê Hồng Sơn sẽ xử lý vụ này, tuy nhiên anh này với biệt danh “Hit man” quá quen mặt với cảnh sát. Phạm Hồng Thái, một chàng trai mới lò dò từ Đông dương sang được giao nhiệm vụ thay thế. Anh này là con một viên quan đã từng tham gia phong trào Cần vương ở Nghệ An, được tiêm nhiễm tư tưởng cách mạng trong thời gian học tại trường Pháp ở Hà nội. Sau một thời gian làm thợ cơ khí ở ga ra, rồi thợ mỏ, Thái cùng các bạn là Lê Hồng Phong và Hồ Tùng Mậu chuồn sang Trung quốc.

Tối 19/6, khách sạn Victoria trên đảo Sa điện ồn ào những lời chúc tụng nhân đại tiệc chúc mừng toàn quyền Pháp. Đúng 8:30, khi món súp đang được dọn ra thì một tiếng nổ đinh tai nhức óc đã biến bàn tiệc thành một địa ngục. Năm thực khách chết ngay tại chỗ, hàng chục người khác bị thương nằm la liệt. Trên đường trốn chạy, Thái nhảy xuống sông và chết đuối trên sông Châu Giang. Thoát chết trong gang tấc, Merlin rời Quảng châu ngay hôm sau trong khi đám tang người liệt sĩ trẻ được tổ chức trọng thể. Đây là vụ ám sát một quan chức cao cấp châu Âu đầu tiên ở châu á. Tiếng bom Sa điện đã gây một cú sốc lớn trong cộng đồng người Pháp và tôn Phạm Hồng Thái lên vị trí “tử vì đạo”. Chính quyền Tôn Trung Sơn quyết định dựng bia tưởng niệm. Phan Bội Châu thì tranh thủ vụ việc để “đánh bóng” lại hình ảnh của mình. Ông này viết một bài tiểu sử về Thái như một cộng sự trong tổ chức của ông . Tháng 7/1924, trong chuyến đi dự lễ khai trương bia tưởng niệm Thái, Châu đã trao đổi với một số đệ tử về việc thay Quang Phục Hội bằng Việt nam Quốc dân đảng, theo mô hình đảng của Tôn. Châu trở về Hàng châu tháng 9/1924.

Mặc dù Merlin thoát hiểm nhờ có một thực khách có hình dạng giống ngài toàn quyền một cách kỳ lạ (vị này chết ngay tại chỗ), nhưng vẫn có những nghi ngờ về kẻ phản bội ở trong hàng ngũ. Một thành viên của Tâm Tâm Xã, Lê Quang Đạt, đã công khai đặt vấn đề về vai trò của Lâm Đức Thụ vì những mối quan hệ của ông này với Pháp. Tuy nhiên Lê Hồng Sơn đã gạt đi, và Thụ vẫn tiếp tục cộng tác với tổ chức .

Năm tháng sau vụ đánh bom, NAQ đến Quảng châu. Nhưng chỉ ngày hôm sau, ông đã tiếp cận các thành viên TTX trong vai một nhà báo Trung quốc họ Vương. Những hành vi cấp tiến của họ làm Q rất khoái. Việc đầu óc họ còn trong trắng về lý thuyết càng thuận tiện cho việc tuyên truyền những tư tưởng Max-Lenin. Q thích Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu nhưng đặc biệt ưu ái chàng trai chắc nịch Lê Hồng Phong, người được đích thân Châu tuyển mộ.

Với bản lĩnh của mình, có vẻ như Q chẳng gặp khó khăn gì khi dụ khị mấy chàng trai trẻ. Tháng 12/1924, Q báo về Matxcova là đang bắt liên lạc và hợp tác với “một nhóm nhà cách mạng Việt nam”. Tháng 2/1925, Q thành lập nhóm 9 người và đặt tên là Quốc dân đảng Đông dương, 5 trong số đó được ông coi là nòng cốt của Đảng cộng sản tương lai. Q khuyến khích các thành viên về nước chiêu mộ thêm đệ tử, hoặc tham gia quân đội QDĐ Trung hoa, hay gia nhập CCP. Q cần gấp sự hỗ trợ về tài chính và tài liệu tuyên truyền từ Maxcova. Mặc dù không nhất trí với các phương pháp đấu tranh của Châu, Q vẫn sử dụng ông này vào việc xây dựng tổ chức của mình. Thông qua các thành viên TTX, Q lần ra mối quan hệ với Châu. Châu có vẻ cũng như đã nhận ra được danh tính của Lý Thuỵ. Vào khoảng giữa tháng 2 và tháng 3, Châu viết cho Q một bức thư có nhắc đến cuộc gặp đầu tiên của hai người ở Kim liên. Châu hoàn toàn ủng hộ đường lối của Q trong việc cải tổ lại đảng của mình. Tuy nhiên Q nhanh chóng nhận thấy rằng Châu và nhiều cộng sự lớn tuổi của ông không thể là hạt nhân cho một tổ chức mới mà Q đang gây dựng. Q thành lập Cộng sản đoàn với 5 hạt nhân ưu tú, trong đó có Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu.

Sự xuất hiện của một nhân vật hoạt động tích cực như vậy ở trụ sở QTCS, tất nhiên là gây chú ý cho các mật vụ Pháp. Một đặc vụ với bí danh “Noel” được cử sang từ Paris với mục đích xác định được danh tính của Lý Thuỵ. Kẻ giúp đỡ đắc lực nhất cho Noel chính là Lâm Đức Thụ với bí danh là “Pinot”. Tay này làm điệp viên hai mang cho cả Pháp và các lực lượng cách mạng. Tháng 3, Thụ chụp được 1 tấm ảnh Q cùng với các dồng chí trước cửa trụ sở Quốc dân đảng. Phòng Nhì nhanh chóng xác nhận: Lý Thuỵ chính là Nguyễn ái Quốc.
Nắng sớm
22-07-08, 02:32
Sự hình thành của một đảng cách mạng mới đã chín muồi. Tháng 6, tại nhà Lâm Đức Thụ, Q cùng với các nòng cốt trong Cộng sản đoàn lập nên Hội thanh niên cách mạng Việt nam. Cùng vói các hoạt động của Hội, tờ báo Thanh niên mà đa phần các bài là do Quốc viết đã đặt dần dần nền móng của một tầm nhìn mới vượt qua cả chủ đề độc lập dân tộc.

Nhờ mối liên hệ của chính quyền Tôn Trung Sơn với QTCS, Quảng châu lúc đó được coi như là “Matxcơva của phương Đông” thu hút các nhà cách mạng từ Triều tiên, ấn độ, Đông dương và Tây ấn thuộc Hà lan. Từ kinh nghiệm hoạt động ở Paris, Q cùng với đặc vụ của QTCS người ấn độ Roy và lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha, thành lập “Hội các dân tộc bị áp bức châu á”. Phiên họp đầu tiên của Hội được tiến hành vào giữa tháng Bảy.

Cương lĩnh hoạt động của Hội thanh niên cách mạng được xây dựng dựa trên hai trụ cột chủ nghĩa dân tộc và cách mạng xã hội theo mô hình của Lenin được đại hội QTCS lần II phê chuẩn năm 1920. Tuy nhiên nếu Lenin coi cách mạng dân tộc chỉ là một bước chiến thuật nhằm lôi kéo sự ủng hộ của những người theo chủ nghĩa dân tộc, cương lĩnh của Hội lại tỏ ra chú trọng đến độc lập dân tộc hơn nhiều là số phận của cách mạng thế giới. Chính điều đó đã gây nhiều nghi ngờ cho nhiều nhà quan sát về sự trung thành của Q với các tư tưởng Maxism và cuộc đấu tranh để xây dựng ảo tưởng cộng sản. Trên thực tế cuối những năm 20, đã xuất hiện những bài viết chỉ trích Q ở Matxcơva và từ những người cộng sự của Q.

Có nhiều lý do để khẳng định, Q trước tiên là một nhà yêu nước. Trong bài báo “Con đường đưa tôi đến với Lenin” viết năm 1960, Q khẳng định, chính khao khát độc lập cho Việt nam đã đưa ông đến với chủ nghĩa Max. Khác với Lenin, đối với Q độc lập dân tộc gần như đã là mục tiêu cuối cùng. Q thường xuyên phát biểu: “cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam sẽ được tiến hành vào một thời điểm thích hợp”.

Tuy nhiên cũng khó có thể nói, Q chỉ coi chủ nghĩa Max chỉ là công cụ cho cuộc đấu tranh giành độc lập của mình. Những bài viét và phát biểu của cậu ở Paris và Matx về một thế giới tương lai sôi sục nhiệt huyết. Trước khi chết, khi trả lời một phóng viên Xoviet, Q đã ân hận mãi về việc đã đả kích một nữ đồng chí của mình ở Nga vì đã mặc lụa tơ tằm và đi giày cao gót. “Chẳng nhẽ những người trẻ tuổi ăn mặc đẹp lại là điều xấu xa?” Câu hỏi ngơ ngác của cô gái đã hằn sâu vào trí nhớ Q.

Nếu Q vừa là nhà dân tộc chủ nghĩa vừa là một người theo chủ nghĩa Max, câu hỏi làm thế nào kết hợp giữa bản chất yêu nước của Q và đòi hỏi tinh thần quốc tế vô sản của chủ nghĩa Max đã được Lenin phần nào đề cập đến trong “Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa”. Lenin đề xuất kháI niệm “Liên hiệp” các quốc gia độc lập như một hình thái chuyển tiếp trước khi thành lập “Quốc gia vô sản toàn cầu”. Sự liên kết giữa nước Nga cách mạng, Hungary và Phần lan cũng như giữa Armeni và Azerbaijan không thể không ảnh hưởng đến Q. Trong một bức thư gửi QTCS, Q đã đề nghị tuyển mộ thêm nhiều học viên vào trường Stalin cho “Liên hiệp cộng sản Đông phương”. Một tài liệu mới được tìm thấy ở Nga viết năm 1924, ký tên là Nguyễn. Có đến 99% đó chính là Q. Khi bàn về tương lai của Đảng cộng sản Việt nam, tài liệu khẳng định: “Cần phải tính đến thực tế Việt nam và giương cao ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc dưới danh nghĩa của QTCS” . Cương lĩnh của Việt nam thanh niên cách mạng Hội cũng nhắc đến cách mạng toàn cầu như “mục đích cuối cùng” của Hội.

Tại sao Q lại không chọn con đường phi bạo lực đòi lại độc lập dân tộc mà lại tin vào cách mạng trên phạm vi toàn thế giới? Mùa xuân năm 1925, Nguyễn Thượng Huyền, (cháu của Nguyễn Thượng Hiền, người đã có thời là hiệu trưởng Đông kinh nghĩa thục), có viết một bài báo và nhờ Q nhận xét. Trong bài báo, Huyền cho rằng nguồn gốc cách mạng là từ Kinh dịch và Khổng tử cho rằng thay đổi triều đại chính là cách mạng. Huyền kết luận, thất bại của các cuộc khởi nghĩa chống Pháp là tất yếu vì sự hung bạo của chúng và độc lập chỉ có thể đạt được bằng các cuộc chống đối phi bạo lực trong xã hội như Mahatma Gandhi. Trong bức thư trả lời, Q đã tỏ ý nghi ngờ nguồn gốc cách mạng và cho rằng nó xuất phát từ văn hoá Tây phương. Cách mạng thay đổi các thể chế điều hành đất nước, còn cải cách chỉ cải tiến chúng. Thay đổi triều đại không phải là cách mạng. Về thất bại của cách mạng ở Việt nam, Q viết:

Không lẽ ông chờ đợi người Pháp khoanh tay nhìn ông đuổi họ ra? Tốt nhất là hãy tự nhìn lại mình: tại sao người Pháp lại cai trị được dân ta? Sao ta lại ngu thế? Bây giờ ta phải làm gì? Ông so sanh với người ấn độ, Ai cập. Họ có đảng phá chính trị, các hội nông dân, các tổ chức. Ta không có đảng, không có tuyên truyền, không có tổ chức. Họ như chiếc ô-tô có cả tài xế, còn ta mới chỉ có cái khung xe. Vậy mà ông muốn ta chạy như họ!

Để kết luận, Q dẫn câu chuyện của La Fontaine về các con chuột đùn đẩy nhau đeo chuông lên cổ mèo. “Giờ đây, các con rồng cháu tiên Việt nam chẳng khác gì những con chuột. Thật là nhục nhã”
Tại Hàng châu, PBC rất quan tâm đến những gì đang diễn ra. Ông hứa sẽ đến Quảng châu thăm Q mùa hè năm 1925. Trong bức thư viết cho Q trước đó, Châu hết lời khen ngợi sự sáng suốt và kinh nghiệm của Q, Châu còn tỏ vẻ vui mừng vì đã có người nối nghiệp vì ông đã quá “đát”. Tuy nhiên rõ ràng là Châu vẫn muốn đóng một vai trò trong tổ chức. Trong một bức thư khác gửi cho Hồ Tùng Mậu, ông đã cạnh khoé phê bình Q và các đồng sự quá nóng vội. Trước đó, Châu cũng đã từng than vãn là Q bỏ rơi ông. Khoảng giữa tháng 5, Châu rời Hàng châu đi Thượng hải. Tại đó, nhờ có mật báo, các mật thám Pháp trong vai tài xế taxi đã đợi sẵn, tóm gọn và chở thẳng ông về Hà nội để xét xử về tội phản quốc.

Vụ bắt giữ này đã gây ra một cuộc tranh cãi lâu dài và lôi thôi nhất trong lịch sử rắm rối của chủ nghĩa dân tộc Việt nam. Nhiều thành viên của Thanh niên hội cho rằng chính thư ký của Châu, Nguyễn Thượng Huyền đã phản bội ông. Châu cũng nghĩ thế. Tuy nhiên một số người theo chủ nghĩa dân tộc không cộng sản lại nghi ngờ Lâm Đức Thụ và thậm chí NAQ đã dựng lên vụ này để kiếm tiền thưởng và dùng Châu như một anh hùng - “vật tế thần” cho phong trào. Quan điểm này cũng được nhiều nhà nghiên cứu phương Tây nhắc lại nhưng không có những chứng cớ cụ thể. Các tài liệu của phòng nhì Pháp không rõ, nhưng xu hướng không cho rằng Q có dính líu. Họ cũng cho là Huyền có thông tin tốt hơn về sự di chuyển của Châu. Lâm Đức Thụ về sau tự nhận trách nhiệm nhưng không đáng tin cậy vì ông này ưa khoác lác và thổi phồng.

Mặc dù không phủ nhận là Q có thể phản bội Châu nếu tin rằng điều đó phục vụ lợi ích cách mạng, nhưng trong vụ này rõ ràng là Q không tin là có thể khai thác được gì cho phong trào từ việc bắt Châu. Thanh niên Hội vẫn tập trung sử dụng hình ảnh Phạm Hồng Thái để tuyên truyền và lôi kéo các thành viên của mình. Vả lại một lãnh tụ có tính chất biểu tượng dễ điều khiển ngoài tự do rõ ràng có lợi hơn cho phong trào so với ngồi tù ở Việt nam. Cũng cần nhận thấy rằng đến cuối đời Châu vẫn dành sự kính trọng cao nhất cho Q.

Toà đã xử Châu khổ sai chung thân ngày 23/11/1925 dẫn đến một phong trào phản kháng mạnh mẽ trong khắp nước. Toàn quyền mới, đảng viên Xã hội Varrene chẳng muốn khởi đầu sự nghiệp của mình bằng sự thù hận, đã đề nghị Paris giảm xuống án quản thúc tại gia ở Huế. Trước khi giảm án, Varrene đã đề nghị Châu hợp tác. Lúc đầu ông này từ chối nhưng sau đã tỏ ra khôn ngoan hơn. Tuy vẫn giữ quan hệ với các thành viên chủ chốt của phong trào dân tộc, thỉnh thoảng Châu lại đưa ra những phát ngôn có thể coi là có lợi cho Pháp ví như khen ngợi hệ thống giáo dục của Pháp ở Đông dương. Theo mật thám Pháp, một số phần tử quá khích thậm chí đã có kế hoạch ám sát Châu. Châu chết tại Huế năm 1940.

Trong thời gian vụ án Châu, một lãnh tụ cải lương khác là Phan Chu Trinh đã trở về Việt nam sau nhiều thập kỷ trong sự chào đón của dân chúng. Ông này chết năm 1926 vào tuổi 53 và đám tang ông đã trở thành một sự kiện dân tộc. Q có vẻ như không hài lòng cho rằng Pháp đã cường điệu sự kiện này nhằm mang lại một bộ mặt nhân tính hơn cho chính sách thực dân của mình và đánh lạc hướng dân chúng.

Nhờ sự cố gắng không mệt mỏi của Q, những tư tưởng Marxism dần dần được phổ biến trong các tầng lớp cách mạng ở Việt nam. Những nhà yêu nước trẻ được đưa từ trong nước sang và được đào tạo tại một cơ sở có cái tên rất kêu: Trường chính trị đặc biệt cho Cách mạng Việt nam. Trường này ban đầu được đặt tại phố Dân Sinh, sau đó chuyển sang một toà nhà 3 tầng thuộc sở hữu của một người thân Cộng sản ở phố Văn Minh (đối diện với Đại học Quảng đông, bây giờ là bảo tàng Lỗ Tấn ). Tầng 1 là cửa hàng, lớp học và văn phòng của Q ở tầng 2 còn ký túc xá ở tầng 3. Đằng sau có cửa hậu để chạy trốn khi cảnh sát vây bắt. Giáo viên chủ yếu là các thành viên Thanh niên Hội như Mậu, Quốc, nhưng thỉnh thoảng cũng có thầy từ phái đoàn Xôviet như Vasily Blucher (Galen), P.A. Pavlov, M.V. Kuibyshev, V.M. Primakov, hoặc từ CCP như Lý Đạo Cơ, Chu Ân Lai, Lý Phu Quân và nhà tổ chức nông dân Bằng Bái. Một phần ba kinh phí của trường do CCP đài thọ, phần còn lại là đóng góp từ các tổ chức khác nhau, trong đó có các học viên Việt nam tại học viện Hoàng Phố.

Thầy Vương (bí danh của Q) là thầy giáo nổi tiếng nhất trường. Học viên đều yêu ông thầy mảnh khảnh, mắt sáng, giọng ấm, hài hước, dễ gần và đặc biệt kiên nhẫn trong việc giải thích các khái niệm khó. Thầy Vương trở thành cuốn bách khoa sống khi cần đến các số liệu. Một học viên đến giờ còn nhớ: “Thầy kể vanh vách, thực dân Pháp đã trộm bao nhiêu tấn thóc, Ngân hàng Đông dương kiếm được bao nhiêu lợi nhuận, ông Varrene đã chở về nước bao nhiêu cổ vật của dân ta”.

Cũng như ở Paris, Q vừa là thầy giáo, vừa là cố vấn tinh thần, một người nghiêm khắc và một người bày trò có hạng. Q dạy học viên cách ăn nói, phát biểu, cách thông cảm với nhân dân. Q lo lắng nơi ăn, chốn ở và động viên các học viên bằng một sự lạc quan vô bờ bến vào sự thắng lợi của cách mạng. Như một nghi lễ, khi kết thúc khoá học, Q dẫn các học viên thăm mộ của 72 liệt sĩ Trung hoa trên đồi Hoàng Hoa và tuyên thệ trước lăng Phạm Hồng Thái.

Một số học viên tài ba hơn (ví dụ như Lê Hồng Phong) được phái đi tu nghiệp tiếp ở Moscow. Một số người sung quân đội hoặc tham gia học viện Hoàng Phố. Nguyễn Lương Bằng, một con nhà lao động, được chỉ thị kiếm việc trên tàu viễn dương để móc nối giữa Hải phòng và Hongkong. Hơn 70 học viên đã tốt nghiệp cho đến hết năm 1927.

Đa số học viên quay về Việt nam và tiếp tục tìm kiếm thêm lính mới. Lớp này đa số cũng từ tầng lớp môn sinh. Cảnh sát Pháp xác nhận khoảng 90% thành viên Thanh niên hội là tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Năm 1928, hội có khoảng 300 thành viên ở Đông dương, trong đó khoảng 150 ở Cochin China (Sài gòn, Cần thơ, Mỹ tho), 80 ở Annam và 70 ở Tonkin. Một năm sau, con số đã lên đến hơn 1700. NAQ đã đi những bước quan trọng đầu tiên, tuy rất nhỏ và thận trọng, để chuẩn bị cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việtnam. Ông đã viết trước đó vài năm: “Thật là sai lầm khi cho rằng Đông dương đã sẵn sàng cho cách mạng, nhưng càng sai lầm hơn khi nghĩ rằng họ cam chịu và không muốn làm cách mạng”

NAQ quá kinh nghiệm để hiểu rằng, muốn duy trì được tổ chức hãy còn trong trứng nước của mình, tuyên truyền là quyết định. Tạp chí Thanh niên ra đời. Được in tại Quảng châu, xuất bản hàng tuần và gửi sang Việt nam qua đường thuỷ. Từ 21/6/1925 đến 5/1930, tổng cộng đã có 208 số được phát hành. Cũng như với tờ Người cùng khổ, NAQ sử dụng lối hành văn đơn giản, với nhiều biếm họa đả kích chế độ thực dân Pháp cũng như bọn vua chúa bù nhìn. Hầu hết các bài xã luận đều do ông viết nhưng không ký tên. Thanh niên Hội còn phát hành tờ Lính Kách Mệnh 2 tuần 1 lần và tạp chí Việt nam Tiền phong hàng tháng.
Nắng sớm
22-07-08, 02:33
Đối với các hội viên nằm trong chương trình đào tạo, Q viết hẳn một cuốn sách nhỏ lấy tên là Đường Kách mệnh. Đây là cuốn sách đầu tiên bằng tiếng Việt giải thích những luận điểm căn bản của chủ nghĩa Max-Lenin và khả năng áp dụng ở Việt nam. Tuy không có mục đích trước nhưng chắc chắn 1 số bản của cuốn sách này được tuồn về Việt nam. Cuốn sách được viết bằng một văn phong cực kỳ đơn giản. Q biết chắc rằng đa số độc giả thậm chí còn chưa biết thế nào là Kách mệnh (thuật ngữ này mới được đưa vào tiếng Việt đầu thế kỷ 20, tiếng Hán có nghĩa là Thay đổi số mệnh), bởi thế, ngay từ đầu ông đã định nghĩa KM là “phá hủy cái cũ, xây dựng cái mới, phá hủy cái xấu, xây dựng cái tốt”. Tiếp đó, Q tiến hành phân thành 3 loại KM:

1. Tư sản (như ở Pháp, Nhật, US)
2. Dân tộc (như ở Italy thế kỷ 19, cách mạng 1911 ở Trung quốc)
3. Giai cấp (như cách mạng tháng 10 Nga)

Q khẳng định tất cả các cuộc KM đều được tiến hành theo hai giai đoạn: giai đoạn dân tộc và giai đoạn toàn cầu. Tất nhiên quan điểm này được mượn của Lenin, nhưng Q cũng đã khéo léo lồng ý của mình vào đó. Ông không khẳng định rõ bao giờ thì giai đoạn 2 mới bắt đầu. Thậm chí ông cho rằng, KM Việt nam chỉ có thể chuyển sang giai đoạn 2 nếu hầu như tất cả các nước đã làm việc đó. Q nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của liên minh công nông, đặc biệt là vai trò của nông thôn trong KM Việt nam với hơn 90% dân làm nông nghiệp. Giống như giai cấp công nhân trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản, người nông dân trong Đường KM “không có gì để mất ngoài xiềng xích”. Cái mà họ cần, như Q đã từng viết ở Pháp trước đó là Tổ chức và Sự lãnh đạo. Cách mạnh Việt nam cần có một Đảng vững mạnh với những tư tưởng dễ hiểu và theo đuổi.

Một vấn đề thú vị được đề cập đến trong cuốn sách là tính cách của “nhà cách mạng”. Có thể so sánh với cuốn “Tự bạch về nhà cách mạng” nổi tiếng của Nechayev, một tay khủng bố Nga thế kỷ 19. Ông này cho rằng, nhà cách mạng là công cụ mù quáng để thực hiện những lý tưởng cách mạng. Họ phải tàn nhẫn, dùng mọi thủ đoạn để đạt được mục tiêu, phải tuân thủ kỷ luật đảng, sẵn sàng từ bỏ những quan hệ bè bạn, gia đình, thậm chí lừa dối vì lợi ích của CM. Tuy quan điểm cực đoan của Nechayev bị phê phán nhiều, nhưng Lenin vẫn rất khoái và nhiều điểm trong cuốn “Tự bạch” trở thành tiêu chuẩn của người Bolsheviks. Có nhiều điểm tương đồng trong định nghĩa của Q về nhà cách mạng, như tuân thủ kỷ luật đảng, đặt quyền lợi cách mạng lên trên quyền lợi cá nhân. Nhưng điểm khác biệt chủ chốt ở cái hồn tinh thần nằm đằng sau hai bản tiêu chuẩn này. Trong khi Lenin cho rằng những quan điểm đạo đức không liên quan lắm đến tính cách của người CM thì Q hầu như áp dụng tất cả những chuẩn mực đạo đức của người quân tử trong đạo Khổng: tiết kiệm, cởi mở nhưng công bằng, cương quyết sửa chữa lỗi lầm, thận trọng, ham học và quan sát, không kiêu ngạo và khoan hồng.

Nếu tính đến tài năng xuất chúng của Q trong việc thay đổi hình thức tuyên truyền cho những đối tượng khác nhau, có thể cho rằng Q cố tình giữ những “bình cũ” để đưa “rượu mới” vì biết rằng đa số hội viên của ông xuất phát từ những gia đình nho học và chắc chắn vẫn giữ những giá trị căn bản của đạo Khổng. Tuy nhiên, thực tế cuộc đời HCM đã chứng tỏ rằng đạo đức cá nhân ông: hình ảnh một con người giản dị và hào hiệp với niềm lạc quan vô bờ bến và tinh thần nghiêm túc và hiến dâng cho những lý tưởng cách mạng, đã trở thành sự đảm bảo tiêu chuẩn của ảnh hưởng của ông trong đảng. Đối với rất nhiều người khác, HCM trở thành biểu tượng của chủ nghĩa cộng sản Việt nam.

Cuốn sách của Q còn thỏa mãn những logic thầm kín của Việt nam. Trong khi bảo đảm rằng cách mạng VN sẽ được giúp đỡ từ cách mạng thế giới, người đọc cũng sẽ lấy làm sung sướng được biết rằng phương Tây cũng chưa ra gì và sẽ còn phải trải qua những thời loạn lạc. Việc phân tích nguyên nhân thất bại của các nhóm dân tộc chủ nghĩa cũng rất có ý nghĩa cho lớp trẻ. Q đã chỉ ra rằng các nhóm này thiếu hẳn một tư tưởng, một ý niệm rõ ràng về tương lai của Việt nam độc lập. Phật giáo với triết lý chịu đựng không thể là tác nhân thay đổi. Khổng giáo bị mất giá trị trầm trọng do sự đầu hàng của triều đình. Bởi thế các nhóm dân tộc chủ nghĩa chủ yếu được xác định bởi vùng, miền, chiến thuật hay cá nhân thủ lĩnh. Những hành động của họ chỉ biểu hiện sự phẫn uất của một nhóm người trước một kẻ thù muôn lần mạnh hơn.

Có thể coi Đường Kách mệnh là cuốn sách tư tưởng nhưng quá hoang sơ, thậm chí nhiều chỗ gây bối rối cho người đọc về chủ nghĩa Max-Lenin. Tuy nhiên với quan điểm tuyên truyền rất rõ ràng của Q: càng đơn giản càng tốt, cuốn sách đã trở thành công cụ giới thiệu tư tưởng tốt cho những nhà cách mạng sơ khởi. Ngoài ra, Q đã tiến một bước dài trong phong trào cách mạng Việt nam và thế giới bằng việc lần đầu tiên nhấn mạnh vai trò của nông thôn ở Việt nam và tương lai cách mạng châu á. Một số nhà quan sát còn cho rằng ĐKM là tác phẩm đầu tiên của “chủ nghĩa cộng sản nông thôn”, một biến thể của chủ nghĩa Max-Lenin, vốn thường được gắn cho Mao Trạch Đông.

Tính đến mùa xuân năm 1927, chỉ với 2 năm ở Quảng châu, Q đã trở thành một thành viên được kính trọng và không thể thiếu của phong trào cách mạng ở đây. Q chơi thân với Chu Ân Lai, nhà tổ chức thanh niên Trương Đại Lợi (cần xem lại Zhang Tailei), lãnh tụ cánh tả của Quốc dân Đảng Lão Trung Khải (Liao Zhong Kai). Cuộc sống xem ra đã có vẻ ổn định, Q dự kiến kiếm 1 cô vợ Tàu vừa để học tiếng và lo việc gia đình và nhờ “thổ công” Lâm Đức Thụ lo hộ vụ này. Q chỉ đặt một điều kiện: “không trả một xu” (trái với tục lệ người Hoa)

Nhưng chẳng có vấn đề gì, Thụ tìm ngay được 1 cô tên là Tăng Tuyết Minh, con gái vợ ba của một nhà buôn. Sau khi bố chết, cô này bị đuổi ra khỏi nhà, sống vạ vật cho đến khi làm quen được với vợ của Thụ. Nhiều đồng chí của Q đã phản đối cuộc hôn nhân này vì cho rằng Minh không được học hành đầy đủ, tuy nhiên Q vẫn quyết định cưới và hai vợ chồng cùng sống trong căn phòng của Q tại biệt thự của Borodin. Tuyết Minh khá xinh (theo lời kể thì mặt tròn, môi nhỏ, da mịn, tóc thề ngang vai), nhưng chẳng quan tâm gì đến các vấn đề dân tộc và cách mạng. Sau mấy lần thử tìm cách dụ dỗ thất bại, Q từ bỏ ý định thay đổi quan điểm chính trị của vợ. Có nguồn tin cho rằng, vợ chồng Q có một đứa con gái.*

Tuy nhiên mây đen đang che phủ dần sự nghiệp của Q ở Quảng châu. Trong khi ông đang tìm cách dẹp yên những đốm lửa bất hoà ở trong nước thì tình hình Trung quốc thay đổi nhanh chóng. Cuộc hôn phối khó khăn Quốc – Cộng trong những năm qua được duy trì chủ yếu nhờ uy tín cá nhân của Tôn cũng như quan hệ thân thiết giữa Tôn và Borodin. Tuy nhiên cái chết của Tôn năm 1925 trong khi đang thương thảo với tướng Phương Yuxiang, đã thay đổi tất cả. Sau một cuộc chiến quyền lực ngắn, Tưởng Giới Thạch lên nắm quyền. Tưởng tạm thời duy trì liên minh mặc dù có sự phản đối quyết liệt của phái hữu trong QDĐ. Bản thân Tưởng cũng chẳng có thiện cảm gì với cộng sản. Sau chuyến viếng thăm Matxcova năm 1923, Tưởng hiểu rằng mục đích cuối cùng của Matxcova là loại bỏ đảng của ông ta. Ngày 12/4/1927, trong chiến dịch chung tiễu trừ cát cứ tại phía Bắc và Trung nguyên, Tưởng đã ra tay, điều quân tàn sát hàng ngàn đảng viên cộng sản và những người ủng hộ tại Thượng Hải.

Quảng châu phản ứng tức thì, quân đội của Lu Jishen bao vây hơn 2000 đảng viên cộng sản. Hàng trăm học viên thân cộng tại Hoàng Phố (trong đó có một số Việt nam) bị bao vây và bắn chết. Bạn Q, Trương Lợi cũng nằm trong số này. Khi quân của Lý tiến hành bao vây lãnh sự quán Liên xô, Borodin và một số cộng sự phải trốn sang Vũ hán. Ban đầu, phòng nhì Pháp cũng nghĩ là Q sẽ chạy theo Borodin. Thực tế thì Q đã ở lại vì tin tưởng vào những mối quan hệ của mình với QDĐ. Tuy nhiên ông cũng ẩn vào một chỗ hẻo lánh hơn và đi bán báo để kiếm tiền sinh sống. Chẳng được bao lâu, Trương Văn Lệnh, một tay chân trước đây của Tâm Tâm Xã, đang là quan chức của chính quyền thành phố, đã mật báo là đã có lệnh bắt Q và ông phải trốn càng nhanh càng tốt. Người đã chỉ điểm Q chính là Nguyễn Hải Thần. Thần vốn là bạn thân của Thụ và đã từng ở nhà ông này. Q muốn hợp tác với Thần và những thành viên còn sót lại của Phan Bội Châu VNQDĐ, nhưng Thần kịch liệt phê phán xu hướng thân cộng của Thanh niên hội. Năm 1926 Trương Bội Công mò đến từ Bắc kinh càng thôi thúc Thần phải thành lập đảng mới để chống lại ảnh hưởng của hội.

Ngày 5/5/1927, Q lên tàu đi Hồng kông bỏ Tuyết Minh lại Quảng châu. Cùng ngày, nhà ông bị khám xét. Một lần nữa Nguyễn ái Quốc lại lên đường.
vnuh
22-07-08, 09:20
Phim Ho Chi Minh - cua hang History Channel :

Chân dung của vị lãnh tụ đã giải phóng dân tộc mình và chiến thắng các cường quốc Tây phương. Thông qua chiến thắng đế quốc Pháp và Mỹ, Hồ Chí Minh đã chứng tỏ được mình là một trong những lãnh tụ xuất sắc nhất của thế giới trong thế kỷ 20.

Download :
http://rapidshare.com/files/126543525/Biography-HCM.part1.rar
http://rapidshare.com/files/126545841/Biography-HCM.part2.rar
http://rapidshare.com/files/126548369/Biography-HCM.part3.rar
http://rapidshare.com/files/126705602/Biography-HCM.part4.rar

(Source (http://www.fotech.org/htt/?p=87))
Nắng sớm
23-07-08, 03:33
Các bác em không đọc sách này à?
TrueLie
23-07-08, 03:39
Em nghĩ bác Sói up cả quyển lên thì hay hơn :D
Nắng sớm
23-07-08, 03:49
Đây các bác :D

http://www.filefreak.com/pfiles/57550/Ho_Chi_Minh.rar

Pass: thanhnienxame.net
Nắng sớm
25-07-08, 14:50
Các bác đọc thấy giọng văn và cách viết của thằng cha này hay không? Em khoái cái giọng văn tưng tửng của hắn, rất cuốn hút :D

Mà theo các bác, thông tin bác Hồ mình một thời quan hệ tình cảm với Nguyễn Thị Minh Khai và sau đó Minh Khai bị Lê Hồng Phong cưa đổ lúc phái đoàn sang LX tham dự họp rồi hai người cưới nhau tại LX làm Bác Hồ rất buồn có thật không nhỉ?

Nghe mà đau lòng quá.

Rồi cái đoạn lúc bác về già, nhờ thằng cha nào đó bên tàu kiếm cho một cô gái Quảng Đông để chăm nom cuộc sống "tại vì ở VN ai cũng gọi tôi là Bác!" nữa, đoạn này em cũng thấy buồn cười.

Cũng có thật không các bác em? Ai biết gì kể anh em nghe đi.
noitartsiger
25-07-08, 16:36
1. Vụ NTMK là có thật, tổ chức phải bố trí LHP cưới NTMK để bác khỏi dính đến tình cảm.
2. Vụ cô gái QĐ là cô Tăng Tuyết Minh, không phải QĐ và đây là người vợ chính thức có hôn thú hẳn hoi.
quiz
25-07-08, 16:39
Hờ, down rồi, cảm ơn bạn Wolfensohn.
Nắng sớm
25-07-08, 16:41
1. Vụ NTMK là có thật, tổ chức phải bố trí LHP cưới NTMK để bác khỏi dính đến tình cảm.
2. Vụ cô gái QĐ là cô Tăng Tuyết Minh, không phải QĐ và đây là người vợ chính thức có hôn thú hẳn hoi.


TTM thì ai mà chả biết bác em, lúc đó là thời còn trẻ. Còn đoạn sau này về già rồi, lúc sức khoẻ yếu rồi nhưng lúc loé sáng Bác nhờ lão kia cơ, vì lúc đó ở VN ai cũng gọi bác là Bác rồi, không tìm được ai.
Nắng sớm
25-07-08, 16:54
Trích

Q tham gia đại hội với tư cách quan sát viên từ Dalburo với mật danh là Linov. Mặc dù không phát biểu chính thức nhưng chắc chắn là Q rất tích cực sau hậu trường, la cà trò chuyện. Q cũng tham gia vào bữa tiệc chào mừng việc kết nạp ICP do Maurice Thorez, một lãnh đạo đảng CS Pháp tổ chức.

Tuy chiến lược mới làm Q hài lòng vì nó phù hợp với tư tưởng mặt trận rộng rãi mà ông đã đặt ra cho Thanh niên Hội và vẫn giữ vai trò là người phát ngôn chủ yếu cho Đông Nam á tại Ban chấp hành QTCS, chắc hẳn là Q không dễ chịu khi phải ngồi ngoài lề đại hội và nhìn LHP xuất hiện trong hào quang như một nhà lãnh đạo của ICP mới. Tệ hơn nữa, mối tình với Minh Khai cũng đi đên hồi kết. Chẳng mấy chốc sau khi đại hội kết thúc Minh Khai và Phong làm lễ kết hôn tại Matxcova. Trong khi đó, tất cả các tài liệu của lãnh đạo ICP gửi đi từ Makao cho QTCS trước đại hội đều nhấn mạnh là “vợ đ/c Quốc” (Le femme de Quoc) tức Minh Khai (MK) sẽ có mặt trong thành phần đoàn. Chỉ có khả năng là Phong đã cưa đổ MK trên đường đi dự đại hội. Sao lại đến nông nỗi vậy? Có nguồn cho rằng chẳng qua Q và MK đã bị xa nhau quá lâu. Cũng có nguồn cho rằng QTCS đã cấp cho Q “một người vợ tạm thời”. Lại có tin đồn là Q đã có con gái với một cô bạn người Nga.

Quan hệ giữa Q và MK là một trong những vấn đề gây bối rối nhất trong cuộc đời ông. Mặc dù Q không bao giờ nhắc đến chuyện này, các nguồn tin chính thức của đảng đều phủ nhận, tuy nhiên các bằng chứng cho thấy họ đã có quan hệ khá khăng khít. ít nhất là các đồng chí của họ đều coi họ là vợ chồng. Tuy nhiên nếu nói như một nhà sử học nào đó là Q đã bị “thất bại kép”: mất cả vợ và chức lãnh đạo đảng vào tay LHP thì cũng chưa thực sự ổn lắm. Thực tế cuộc đời Q đã cho thấy ông ưa chuộng những mối quan hệ ngẫu hứng để khỏi ảnh hưởng đến các mục đích chính trị của mình. Có thể ngay từ đầu Q đã coi mối quan hệ với MK là tạm thời.






Từ 1965...



H cũng chia sẻ cùng những khó khăn chung của nhân dân và sống rất giản dị trong căn nhà sàn, đầy những kỷ niệm lãng mạn của những ngày đầu kháng chiến. Thời gian bắt đầu in dấu ấn của mình. Các phóng viên nước ngoài đều nhận thấy H có những lúc khó thở, chuyển động chậm chạp, và thỉnh thoảng mất tập trung. H bắt đầu viết di chúc lần đầu tiên vào dịp sinh nhật lần thứ 75. Cũng trong tháng 5/65, H cùng với thư ký riêng Vũ Kỳ đi TQ 3 tuần, vừa để tránh bom, vừa để tư vấn chiến lược với TQ, đồng thời tranh thủ nghỉ ngơi. Sau khi gặp Mao ở Trường Sa, H tiếp tục đến Bắc kinh để thảo luận với các lãnh đạo TQ khác. Khi có người quan ngại về sức khỏe và hỏi H có ngủ ngon không, ông đã trả lời: “Hỏi chú Kỳ thì biết”. Mặc cho H phản đối, TQ vẫn tổ chức sinh nhật H rầm rộ với vô số khách mời là các cô gái trẻ (Vũ Kỳ cho biết là H rất “tôn trọng” họ). Kết thúc đàm phán, H đi Sơn đông thăm quê hương của Khổng tử. Trước miếu thờ Đại Sư phụ, H nhắc lại sự cam kết sâu sắc của Khổng giáo với những giá trị nhân đạo. H giải thích nguyên tắc Đại Đồng (Great Unity), chính là nền móng của quan điểm xã hội công bằng hiện tại. Hòa bình vĩnh viễn chỉ có được khi thế giới trở nên đại đồng. Trên máy bay về nước, H đã làm thơ ghi lại những cảm xúc của mình khi được thăm quê hương của người con vĩ đại của Trung hoa.

Sau khi đi về, sức khỏe của H tiếp tục giảm sút, mặc dù có lúc có những phút lóe sáng bất thường. Trong một chuyến viếng thăm của Tào Trư đến Hà nội, H đột ngột nhờ Tào kiếm cho một cô gái trẻ Quảng đông để đỡ đần trong cuộc sống. Khi Tào hỏi lại, sao H không kiếm một cô gái Việt nam, H nói: “ở Việt nam, ai cũng gọi tôi là Bác”. Về đến TQ, Tào báo cáo lại với Chu Ân Lai, vì sự việc tế nhị, Chu tư vấn với ban lãnh đạo VN và vụ việc bị cho chìm xuồng

Đấy là hai đoạn em thắc mắc, bác nào biết gì kể anh em nghe mới.

Bác Vàng đâu rồi nhỉ?
KuTí
25-07-08, 23:18
Vụ Tăng Tuyết Minh không liên quan đến cô gái Quảng Đông (nếu có). Tăng Tuyết Minh là "vợ" của cụ em thời cụ còn hoạt động trong bóng tối. Theo lão người tàu chuyên nghiên cứu về cụ là Hoàng Tranh thì bà này có thật (nghe đâu còn kiếm ra cả giấy hôn thú), là dân tàu nhưng theo công giáo.
Trong phim "Ku Tí ở Hương Cảng" cũng có đề cập đấy thôi, tuy không nói trắng ra.
Hồi cụ bên Phú lãng sa làm ku li thì chắc cũng nhiều em theo, vì một chàng trai cao ráo, tuấn tú, hiểu biết, lịch sự với phụ nữ thì thời nào cũng có cả một rổ gái theo cả. Mà hồi ấy thì đã xác định sau này làm Bác đâu mà lăn tăn. Tuy nhiên bọn tây thì quan hệ luyến ái rất chi thường tình và giản dị, nên tìm được nhân chứng vật chứng là hơi bị khó. Như thằng Sói nó chả ma phang nát bým bao em tây nhưng sau này nó mà thành lãnh tụ thì cũng có mà kiếm được căn cứ cái khỉ mốc.
TrueLie
26-07-08, 00:09
Trong phim "Ku Tí ở Hương Cảng" cũng có đề cập đấy thôi, tuy không nói trắng ra.


Có phải trong phim này bác Tí em cùng đồng bọn đang ngồi trên máy bay hạng ghế bi-si-nít của Cathay Pacific thì bị Chu Lai đại hiệp và cộng sự phi lên chỉ đạo cơ trưởng lùa xuống hạng phổ thông không :24:
Nắng sớm
26-07-08, 02:54
Các bác em đã đọc hết quyển sách này chưa? Kiểu gì thì kiểu em vẫn luôn rất tôn trọng và biết ơn ông Cụ - một người cả đời dành trọn cho đất nước. Những việc vợ con gái mú này kia với em đó là chiện cực kì con người và bình dị, phịch phọt chơi bời các thể loại cũng như những nhu cầu tối giản nhất như ăn uống vậy.

Còn chiện lúc cụ mừng sinh nhật lần thứ 7x bên tàu có được các đồng chí tàu tổ chức hoành tráng và mời rất nhiều gái đẹp đến. Cụ cũng đã rất "tôn trọng" họ. Đọc đến đây, em càng hiểu rằng - một con người đi rộng biết nhiều như Cụ đến già như thế rồi mà hành xử vẫn lịch lãm trai lơ hoành tráng thế, chứng tỏ thời giai trẻ cũng anh hào kinh khủng lắm.

Em ngưỡng mộ dã man.
KuTí
26-07-08, 03:15
Mẹ cái bọn tàu chệt bôi bác, chứ 7x mà cụ em còn gái gú được thì gọi bằng thần y. Về sức khoẻ thì bắt đầu những năm 60 cụ sức khoẻ yếu hẳn ít xuất hiện trước công chúng hơn trước nhiều, kể cả khoản viết lách.
Em cũng có ý kiến như ku Sói. Chuyên gái mú phịch phọt là chuyện rất thường tình ở đời, đặc biệt là nơi các bậc chính danh quân tử. Còn khoản phịch như thế nào, với những ai lẫn ai... về căn bản là sự lựa chọn của mỗi người.

Gái thời nào vẫn là gái, gặp những bậc anh hùng hào kiệt mà chả rủ tình thương yêu ngùn ngụt, yêu đương say đắm phang phiếc mí thế loại chỉ là chuyện nhỏ. Cho nên cụ em hồi xưa có bao nhiêu chị nhiêu em là chuyện nhỏ như Ku Tí em đây được các gái ngưỡng mộ và hiến dâng vậy.

Sẽ có mấy đồng chí nhảy vào bảo là chuyện gái mú là bình thường dung dị nhưng tại sao lại dấu kín. Chuyên này cũng là chuyện cực kì bình thường luôn. Gái mú là chuyện cá nhân, tiết lộ hay không là tuỳ hoàn cảnh và cũng là sự lựa chọn rất chi là cá nhân.

Bạn Chu Nai: Hồi ấy Ku Tí em cưỡi tàu hoả dùng than Đô đốc Leonardo bác ạ. Máy bay nó mới phát minh nên tốn kém lắm.
A.K
26-07-08, 12:47
Anh đang vận động cơ quan mặc quần short với áo ngắn tay đi làm trong mùa hè nắng nóng này nhưng ở trên cấp anh nói là: "chưa có chủ trương". Ở VN mới có chiến dịch học tập và làm việc theo gương bác nên anh tính hỏi có chú nào còn mất tấm hình bác mặc quần short ngắn thì cho anh để anh đập vào mặt mấy thằng già cơ quan anh 1 cái.

Suốt ngày nó toàn bắt anh mặc suit với giày tây đi làm với cái nóng 34độC có chết anh không cơ chứ!
hự
26-07-08, 15:44
Bác Sói có bản gốc quyển này không? Chứ cứ bị dịch ra tiếng Việt là em thấy nó cứ hồng hồng tím tím thế nào ấy.
Ví dụ, ngay đoạn mở đầu về thời niên thiếu của cụ, nói về việc bố cụ không ra làm cho triều đình thì ghi rất chi tiết cụ Sắc nghĩ thế lọ thế chai, đến lúc cụ ra làm với triều đình thì lại chả ghi chép một tí gì về các suy nghĩ lúc quyết định việc đó cả. Nên em thấy Tây viết mà cũng như ta viết thế thì chả có đé-o gì là khách quan cả, đọc phí cả thời gian :).
detector
26-07-08, 15:45
Đây này bác A.K:
http://svlen.ru/forum/images/upload/ho_chi_minh_4.jpg

Băng của Hồ đại ca trông hoành vãi :-)

Còn cái này không biết xắn quần hay quần soóc:

http://svlen.ru/forum/images/upload/500px-Ho_Chi_Minh_at_Lijang_River_(China)_in_1961.jpg
lady_greenskirt
28-07-08, 19:56
Cảm ơn bác Sói. Em đọc liền một mạch và quyết định đặt mua quyển tiếng Anh ở amazon. Cứ nghĩ giá khi học sử có những tài liệu tham khảo thế này, có phải đỡ mù mờ hơn không. Mà thảo nào, học môn tư tưởng Hồ Chí Minh ở trường đại học em không hiểu lắm những gì viết trong sách.

Nhân tiện, em đã đọc nhiều hồi ký của các tướng về giai đoạn chống Pháp rất hay, rất cụ thể, chi tiết, có suy nghĩ, cảm xúc, con số trước và trong từng trận đánh. Tuy nhiên chưa đọc được quyển hồi ký của tướng nào (ko phải dạng chung chung về chiến lược chiến thuật như ông Giáp với ông Dũng viết) trực tiếp tham gia các trận đánh về kể lại chi tiết cùng với suy nghĩ, cảm xúc trong các trận đánh giai đoạn chống Mỹ. Bác nào biết chỉ cho em với, tên quyển hoặc tác giả thôi cũng được để em tìm đọc. Đặc biệt em muốn tìm đọc về những trận đánh của B70 hay sư 308 trong thời chống Mỹ sau này hoặc các trận đánh vùng Tây Nguyên.

Thanks các bác trước >:D<
giangthu
28-07-08, 21:22
Tướng ông Giáp lúc trẻ giống y trang cái nhân vật gì đó trong phim Kung-Fu của Châu Tinh Trì đạo diễn.
newnick
28-07-08, 22:02
Em down bản của bạn sói rồi mà chưa đọc. Mới xong cái "Mao Trạch Đông". Cuốn này là hồi ký của bạn Lý là bác sĩ riêng chi Mao những 22 năm. Phải nói là so với Mao, bác Hồ của chúng ta khổ quá. Không thể theo được.
giangthu
28-07-08, 22:25
Lão Mao không tinh bằng cho nên không dấu được thôi. Mới lại Lão Mao, Lão Kim không che dấu tình ái và dục vọng coi như đó là phong độ hào hoa của mình.

Các lãnh tụ Trung Cộng có nữ đồng chí là một sự nghiệp hoàn thiện. Trong lúc đó đố ai biết vợ của những đồng chí cách mạng Việt Nam như Lê Khả Phiêu, như Đỗ 10.....

Bác Hồ không khổ đâu mà các cháu lo. Bác ăn rau cho thiên hạ thấy chứ buồng trong ăn vịt quay từ Bắc Kinh đố ai biết được.

Một đặc điểm khác là trong lúc bác làm chủ tịch nước VNDCCH, lương bổng hoạt động Quốc Tế Cộng Sản còn nguyên vẹn. Bác không khổ gì đâu. Hút thuốc toàn là ngoại hạng. Thiên hạ đâu có biết.
newnick
29-07-08, 00:02
Mỗi cháu thugiang của Bác biết thôi. Đúng là cháu ngoan, cái gì cũng biết. ^^

Thơm má (cheek) em thugiang 02 cái 02 bên được không?
giangthu
29-07-08, 00:14
Em có bằng chứng là đồng chí tổng lý Chu Ân Lai lúc đó thường gởi vịt quay Bắc Kinh bằng chuyên cơ tới Hà Nội.

Khi nào cũng bảo là ăn rau trồng bằng nước tiểu, ăn mắm mút dòi. Thực ra là khổ nhục chi kế chứ sơn hào hải vị chất ở buồng trong.

Nhưng phải nói lão Mao, lão Kim Chính Nhật đều biết ăn ngon đặng phục vụ Tổ Quốc.

Các cháu nhi đồng từ từ rồi biết càng thêm vỡ mộng.

Em còn có bằng chứng Bác Hồ đã từng ăn qua thịt chó lại còn khen ngon. Điều này đối với em mà nói là điều tối kỵ dẫn tới lòng tiễn mộ sâu sắc như HVB ngoài ngoải.
newnick
29-07-08, 00:18
Em đừng chà đạp lên thần tượng của anh có được không thugiang? Em đừng chà đạp lên hình tượng đẹp đẽ của lãnh tụ Việt Nam quê anh không thugiang?

Em có biết là ở đây cũng có nhiều người thần tượng em lắm không??? hỡi em?
TrueLie
29-07-08, 00:19
Không hiểu việc Bác Hồ ăn thịt chó thì liên quan gì đến việc không thần tượng cụ nhỉ :D

Cụ Hồ ăn thịt chó chỉ càng tăng thêm lòng ái mộ của quần chúng thanh niên Thăng Long với cụ. Ăn thịt chó mới đúng là người VN chân chính, mới là đại trượng phu đội trời đạp đất :D. Ông cụ ăn thịt chó thì cũng giống Thiết Cách Ngoã Lạp hút xì gà vậy.
Trần Vãi
29-07-08, 02:01
Bác Hồ không khổ đâu mà các cháu lo. Bác ăn rau cho thiên hạ thấy chứ buồng trong ăn vịt quay từ Bắc Kinh đố ai biết được.

Một đặc điểm khác là trong lúc bác làm chủ tịch nước VNDCCH, lương bổng hoạt động Quốc Tế Cộng Sản còn nguyên vẹn. Bác không khổ gì đâu. Hút thuốc toàn là ngoại hạng. Thiên hạ đâu có biết.

Thật chứ giangthu không hổ là trang nữ kiệt. Đọc đến tận giờ mới vỡ ra tại sao giangthu sống sót giữa mưa đá TL đến tận giờ. Tranh luận mà lôi toàn những chuyện thâm cung bí sử chén vịt quay, lại cẩn thận rào thêm " Thiên hạ đâu có biết" thì đố thằng nào cãi được. Biết de'o đâu mà cãi, giangthu nhỉ ?

Tranh luận hay nhận định thì cũng được thôi, nhưng có cần phải cùn đến mức lấy cả mấy cái suy diễn bệnh hoạn của mình đặt nghiến lên người khác không ? Chưa nói tới vấn đề cụ là vĩ nhân hay người kiệt xuất gì, chỉ riêng cái cách nói đơm đặt cho 1 người đã khuất , anh thấy đe'o được. Nói như kiểu giangthu dễ bỏ mợ, anh thuộc dạng chã cũng nói được dăm câu, đại để: vừa suy nghĩ post bài, giangthu vừa thọt nốt tay kia vào váy, TL đâu có biết !!! Chả nhẽ giangthu nghe xong lại cãi em đe'o thủ dâm ? Cần đe'o gì phải cãi, mà có cái gì đâu mà cãi, vì anh cũng chỉ nói bừa ( đúng sai ra sao anh cũng không dám chắc)

Anh thật, em post cái gì nó đỡ đáng chửi hơn đê...
giangthu
29-07-08, 02:12
Chén vịt quay là chuyện quá nhỏ. Ai cũng có thể chén được, nhất là lên hàng lãnh tụ, ăn uống cầu kỳ chút đã có sao. Nhưng thiên hạ cứ ca tụng vẻ đẹp thanh đạm của lãnh tụ. Nên em đem tích vịt quay ra cho bõ ghét.

Ai phản đối việc bác không ăn được 3 con vịt quay lúc đồng chí Chu Ân Lai gửi tới vào năm 69 thử xem.

Nói chung bôn ba tứ hải như vậy là chén rất nhiều thứ ngon. Nhất là có thời bác làm ở nhà hàng rồi. Không lẽ không cảm nhận được mỹ thực mà ăn rau ăn cà mãi hay sao hả?

Ăn rau ăn cà chẳng qua là hiếu thực chứ đâu phải thanh đạm gì đâu. Mấy món nhà quê này nhiều khi nó hơi gây thèm. Em cũng có khi ăn hoài. Cảm động quá!
Bắc Thần
29-07-08, 02:29
Thu cứ nà bôi bác nãnh tụ. Bác lúc nào cũng đạm bạc, giản dị. Bác chỉ có ăn cà muối, đặc biệt là cà xứ Nghi Lộc - Nghệ An. Một lần về thăm quê, ăn cơm không thấy món cà Nghi Lộc, Bác hỏi.

Trong khi mọi người đi kiếm món cà muối cho Bác, Bác đọc câu :

Khi xưa em ở dưới sông
Vì chưng Nghi Lộc em trồng lên khô.

Bác muốn đùa một tí cho vui, vì người ta thường cho dân Nghi Lộc là “dân cà có cuống, cà có đuôi”. Người Nghi Lộc khi nói các âm không phân biệt dấu rõ ràng.

Đoạn cuối là anh lụm được từ báo Đảng rồi paste vào đấy. Các bạn khỏi gúc làm chi mất công.
giangthu
29-07-08, 02:36
Đúng rồi, dân Nghệ An làm mắm cà đi ngang phải nói là bốc mùi, thế là có nhà thơ đi ngang xứ này mới làm bài, em chỉ nhớ mang máng

Tiếc cho cái mũi vô duyên
Câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An

Dân này nóng giọng không ai hiểu
Wo Ai Ni
29-07-08, 03:08
Đúng rồi, dân Nghệ An làm mắm cà đi ngang phải nói là bốc mùi, thế là có nhà thơ đi ngang xứ này mới làm bài, em chỉ nhớ mang máng

Tiếc cho cái mũi vô duyên
Câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An

Dân này nóng giọng không ai hiểu

Bým hời Bým hỡi bảo Bým hay
Bým ở đưòng mô Bým đến đây
Chớ cậy lầu son cùng gác tía
Có ngày thớt nghiến với dao phay

Dòng bôi đậm là sao nhỉ ? Không hiểu.
Trần Vãi
29-07-08, 04:05
Anh ơi ảnh em nè !
...............................
Vầng, em ngồi cạnh con chó ạ
...............................
Úi giời, nhìn sạch sẽ vậy thôi nhưng nó hay ăn bẩn lắm!
...............................
Chính xác là kư't đấy ợ !
...................................
Ok, chúng ta sẽ bàn sâu hơn về k ứt ...

Công nhận đọc bài này giống y như mạch tranh luận của giangthu. Mọi câu chuyện đều có thể dẫn vào toilet.
Cô chịu khó ghé mắt qua xem mấy cái post của cô nó là cái thứ gì ? Cô bắt anh đọc mấy cái đống lổn nhổn của cô thì anh cũng đành mạn phép kính cô 1 bãi. Chắc hợp khẩu vị của cô ? Anh đoán vậy vì thấy post của cô thường có phân, nước tiểu và mùi thúi hoắc...

Loại như cô đâu có đủ tư cách nhận xét về người khác ?!!!
giangthu
29-07-08, 04:21
Có một người từng nói, điểm cuối của tình yêu là chiếc giường. Em đồng ý với quan niệm này tuy nó hơi sượng sùng chút.

Nhưng có người tự dưng muốn chứng minh không phải. Càng chứng minh thì càng biến thái. Không vợ không con không ăn ngon mặc đẹp làm cha thiên hạ quá sức.

Bác Hồ là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và của nhân loại. Cả cuộc đời bác chỉ chăm nom cho dân tộc Việt Nam. (Có một bài hát gì mà em quên tên hát như rứa)

Làm như nhận được thánh chỉ xuống trị dân chắc.
giangthu
29-07-08, 05:14
Có người mới gởi email bên yahoo cho em bảo là dân Nghệ An nói thổ âm không có chương trình nào kiểm duyệt. Ví dụ như con cằc. Đố là con gì?
the have-nots
29-07-08, 09:22
Con mẹ giangmai bao lần mày xoen xoét bảo có bằng chứng nhưng rồi có lôi ra được cái mả mẹ. Dạo trước bảo có tài liệu vụ ông Hồ thẩm mỹ đâu hả?
hellotekar
29-07-08, 09:25
Có một bà phụ huynh lên thăm con học trường múa. Bạn phòng KTX của con gái bà chỉ phòng học mà con gái bà đang học. Bà lên tới phòng thì phòng học che toàn cửa kính đen, bà ghé sát tai nghe thì nghe thầy giáo đang giảng bài cho học sinh: Khi tôi tùng cắc cái thứ nhất thì các cô quay lộn lại đằng trước, khi tôi tùng cắc cái thứ hai thì các cô quay lộn lại đằng sau. Bà cụ phát hoảng. (Thầy giáo người NGHỆ AN).
Nắng sớm
29-07-08, 16:55
Đúng sai ra sao này kia thế nào các bạn như Bắc với em giangthu cũng nên thoang thoáng một tí, nên tìm đọc những tài liệu do Tây người ta viết, những tài liệu này tương đối khách quan vì thực ra người ta chả ăn uống hoặc khen tụng ca ngợi lãnh tụ của đất nước này nước kia làm mẹ gì. Thằng nào ra sao người nào thế nào sự thật thế nào người ta viết thế, Giangthu em là người cũng ham tìm hiểu mà không đọc những cái khách quan một tí thì thật là phí. Chuyện người ta ăn gì uống gì chẳng liên quan gì đến tư tưởng cũng như hành động của người ta, chiện người ta phịch ai như thế nào tư thế cổ triền hay chạy theo mốt và có nuốt hay không nuốt cũng chẳng ảnh hưởng mẹ gì đến nhân cách của người ta. Cái người ta làm, người ta theo đuổi, cái người ta đạt được và lịch sử nó đã quyết định số phận dân tộc mình ra sao thì nên tìm hiểu mà biết mà phân tích, đừng đứng ngoài chê này chê kia rồi bảo đáng lẽ ra thế này thế kia rất chã.

Thế Giangthu và Bắc bác em đã đọc được những quyển sách gì về Vn, về bác Hồ rồi mà sao nói cái gì cũng như thật thế? Hay toàn đọc những tài liệu của mấy thằng chiên cổ động dân chủ ăn không nên đọi nói không lên lời tuyên truyền còn viết sai chính tả chuyên chọc ngoáy đời tư người khác để tư lợi? Đọc mấy cái đó ngu người, mất thời gian mà phí cuộc đời lắm.

Trong chuyện anh up trên kia, Giangthu cứ đọc cái đoạn cụ Hồ nhà mình loay hoay với giường chiếu hoành tráng trông rất tội do thằng nào nó tả lại xong nó còn đoán chắc đêm nay cụ nhà ta ngủ dưới thảm chứ không biết leo lên giường, rồi chi tiết lúc già cụ bị ốm xong hoặc là được người dân tộc chữa khỏi hoặc là được thằng sĩ quan Mẽo nào đó nó tiêm thuốc cho khỏi, đoạn đó cụ ốm mà phải nằm trong ổ rơm nghe rất tội.

Gì chứ, anh mà làm lãnh tụ á, thì hậu cung anh phải ít nhất 1000 gái tơ. Mỗi tuần anh thay máu mình bằng máu gái tơ một lần, khi tắm anh phải có 8 gái cởi truồng đứng cạnh để anh lùa tay chỗ nào cũng dính vào bím gái ti gái, anh lăn mình đi đâu cũng toàn thịt là thịt chứ không thể cam chịu nghĩ cho dân như những tiền nhân khổ ải như kia được, đã thế rồi còn bị chúng nó chửi là phét. Thu thấy thế mới ra dánh lãnh tụ Thu nhỉ? Thằng nào bi bô lắm chiện anh cắt lưỡi cả lượt, xem có tung tin đồn nhảm bảo lãnh tụ như anh mà đéö biết hưởng thụ đúng cách như dân chơi nữa không? :D

Mẹ, lãnh tụ như mình mà thua dân chơi à?
Bắc Thần
30-07-08, 06:49
Blah blah blah ...

Hình như là đồng chí Wolfensoln cố tình muốn chơi khó anh em? Những théc méc, ưu tư của đồng chí người ta đã giả nhời rồi còn gì. Đẹp/xấu, đúng/sai không phải là vấn đề đang mổ xẻ ở đây. Cái điều đang bị ném đá tơi tả ở đây là sự tôn thờ sùng bái lãnh tụ một cách mù quáng, thiếu logic. Đồng chí Bác loay hoay với giường chiếu? Oh my God! Ai thấy điều đó mà ghi lại thành Biography nghe như đúng rồi.

Cái Bác làm, Bác theo đuổi, cái Bác đạt được và lịch sử nó đã quyết định số phận dân tộc của Bác ra sao thì vẫn còn ở đó chứ có đi á đâu mà sợ.


... đoạn đó cụ ốm mà phải nằm trong ổ rơm nghe rất tội.


Hic ... Anh đọc "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch" không thấy có đoạn này.
giangthu
30-07-08, 10:29
Em đọc hết toàn bộ chủ đề trong hơn hai năm qua, thấy tư tưởng định kiến của em và Bắc Thần huynh không hề thay đổi gì ráo. Dĩ nhiên thời này em hiền hậu nhuần nhã hơn. Chứng tỏ tư tưởng của chúng ta quá đứng đắn và chín muồi khi nhận định lịch sử dân tộc.

Anh Sói quan điểm bị em thay đổi. Tiến bộ thay. Thơm cái
nhaphat
30-07-08, 11:24
Bác HỒ em vô cùng vĩ đại, cho dù cụ ăn thịt chó hay phấc hoa hậu thế giới thì chân lý đó cũng không hề thay đổi!
Gieng
04-08-08, 16:13
Tằng nào design rồi in ảnh Giáng Thu lên tờ 500 khìn cho anh, mà chỉ đạo mấy thằng nhà in in nổi chứ đừng in chìm đặng thằng dân đen như anh đây vuốt qua cái là thấy nổi phồng lên ý. Èo mẹ gái thế này mà éo được đưa ảnh lên tiền có mà điên mẹ nó cả xã hội nhỉ.
Nắng sớm
03-09-08, 04:46
Quốc Tang Chủ Tịch Hồ Chí Minh

http://i246.photobucket.com/albums/gg94/haqn/hunganhqn1.jpg

http://www.megaupload.com/?d=2P9E1WCU

hoặc:

http://rapidshare.com/files/142091110/lequoctangchutichhochiminh.hunganhqn.wmv

http://www.mediafire.com/?zjsnlbmbzcj

Nguồn: UDS
giangthu
03-09-08, 05:32
Công nhận nó dịch phim gian dối quá nhể. Tiếng Nhật nói một đường nó phóng qua một kiểu tuyên truyền. Em nghe tiếng Nhật được chút mà thấy quá lộ liễu.

Còn cái dân ngoài Bắc lem luốc lại mềm lòng khóc than như đàn bà. Nhìn sợ quá đi.
Bắc Thần
03-09-08, 06:15
Công nhận nó dịch phim gian dối quá nhể. Tiếng Nhật nói một đường nó phóng qua một kiểu tuyên truyền. Em nghe tiếng Nhật được chút mà thấy quá lộ liễu.

Còn cái dân ngoài Bắc lem luốc lại mềm lòng khóc than như đàn bà. Nhìn sợ quá đi.


Em cứ nà cực đoan! Bọn Tây nó khóc John Lennon đầy đấy thôi.

Nhưng mà công nhựn nhìn thấy hysteria sợ muốn vãi bún! Nếu anh thấy con, cháu của anh dư nước mắt khóc nguời dưng thảm thương rồi còn té lên té xuống như ni chắc anh xấu hổ không biết giấu mặt đi đâu cho hết.

Nhưng mà nghĩ lại hình như hồi Kennedy bị ám sát chết cũng có người khóc. Chắc là tại chết oan. Bác của mình sống no đủ rồi mới chết mà vẫn có người đấm ngực than khóc đòi đi theo Bác thì quả thật là anh không hiểu nổi.
giangthu
03-09-08, 08:11
Cái đám khóc than đó chắc trong lòng chăm chú một điều như là:
"Đánh cho Mỹ cút ngụy nhào
Đánh cho chết mẹ đồng bào miền Nam"

Cám ơn quá bác hồ ơi!
hophi
03-09-08, 22:00
Lâu lâu vào tnxm, thấy anh Bắc vẫn phong độ như ngày nào, không biết các cố nhân xưa giờ thế nào rồi.

Biết là anh make fun for fun, nhưng em nghĩ trêu trẻ con mãi làm gì? hay anh chỉ thích làm Châu Bá Thông?



Em cứ nà cực đoan! Bọn Tây nó khóc John Lennon đầy đấy thôi.

Nhưng mà công nhựn nhìn thấy hysteria sợ muốn vãi bún! Nếu anh thấy con, cháu của anh dư nước mắt khóc nguời dưng thảm thương rồi còn té lên té xuống như ni chắc anh xấu hổ không biết giấu mặt đi đâu cho hết.

Nhưng mà nghĩ lại hình như hồi Kennedy bị ám sát chết cũng có người khóc. Chắc là tại chết oan. Bác của mình sống no đủ rồi mới chết mà vẫn có người đấm ngực than khóc đòi đi theo Bác thì quả thật là anh không hiểu nổi.
Bắc Thần
03-09-08, 22:50
Lâu lâu vào tnxm, thấy anh Bắc vẫn phong độ như ngày nào, không biết các cố nhân xưa giờ thế nào rồi.

Biết là anh make fun for fun, nhưng em nghĩ trêu trẻ con mãi làm gì? hay anh chỉ thích làm Châu Bá Thông?

Í! Phải hophi đó hông? Không biết đứa nào táy máy phá hư vietkiem làm anh em hết chỗ chơi phải dạt vòm đi mất cả rồi. Có ai hồi trước sinh hoạt ở bển vào điểm danh phát.

Anh thì dạo này bớt giết người bừa bãi nên tăng-xông xuống thấy rõ, ăn ngủ đã trở nên điều độ hơn. Bác sĩ nói là nếu tập thêm duỡng sinh thì sẽ sống đến ngoài 120 tuổi. Anh đang cố gắng rèn luyện bản thân và trau dồi đạo đức để mai mốt khi chết có chã ở khắp ba miền TL khóc lóc thảm thiết như bọn dân Triều Tiên đói khổ khóc bác Kim.

Đồng chí dạo này khoẻ không? Từ hồi lãnh bằng đến giờ là mất biến luôn hén! Cái patent đã xong chưa? Đã có cháu nhỏ nào chưa? Vụ dịch tài liệu tiếng Nhật về tướng Cờ Đen cho lão Uzii đến đâu rồi? Có định đi đám cưới em nó không?
xekokai
04-09-08, 02:24
Bậc trượng phu ngang dọc giang hồ mấy chục năm mà không nhớ một câu là xúc phạm người đã viên tịch chỉ là hành động của kẻ hạ lưu lau chùi võ đường.
Bắc đệ lâu lâu không vào phởn chí có hơi quá, thôi gọi cân thịt bò ra đây chén chú chén anh. Việtkiem tụi lão Ú có kế hoạch cuối năm thống nhất xây dựng lại rồi. Nghe phong phanh giang hồ nói nam bắc admin cũ mới có gặp nhau bàn bạc giải quyết vấn đề rồi.
Harry Potter
04-09-08, 21:02
Các chú nên quy phục nhamonquan đi, dựng lại làm gì cho mệt.
xekokai
04-09-08, 23:27
Tây Độc đại tiên Danh lừng Trung thổ Oai lực vô biên Đánh đâu thắng đó

Hố hố hố

Tây Đôc đại ca văn thành võ đức, nhân nghĩa anh minh, thương sinh trạch bị, thọ dữ thiên tề thiên thu trường trị, nhất thống giang hồ. `rotfl`
Pooc
20-11-08, 16:34
đề nghị không bêu xấu cán bộ cấp cao nhé ;))
giangthu
02-12-08, 06:26
Lão Sói đâu vào đây chị biểu cái coi.

Em có ý kiến gì khi có học giả Đài Loan đã chứng minh là bác Hồ Chí Minh chính ra là Hồ Tập Chương chứ không phải Nguyễn Ái Quốc. Chị đang dự đoán sẽ có điều gì rung chuyển Ba Đình trong nay mai. Liệu hồn nghe!
Guest
06-12-08, 03:36
Anh ở trung tâm HN đây, anh thấy cái tin vịt đấy có mà rung được cái lông lìn con phò chứ anh đzit thấy có gì để quan tâm cả.

Một lũ phò dở hơi!
Nắng sớm
06-12-08, 03:43
Lão Sói đâu vào đây chị biểu cái coi.

Em có ý kiến gì khi có học giả Đài Loan đã chứng minh là bác Hồ Chí Minh chính ra là Hồ Tập Chương chứ không phải Nguyễn Ái Quốc. Chị đang dự đoán sẽ có điều gì rung chuyển Ba Đình trong nay mai. Liệu hồn nghe!

Thế em dự đoán như thế nào nếu Phan An gọi điện mời em tối nay đi anh ấy giải khuây?
giangthu
06-12-08, 04:44
Thế em dự đoán như thế nào nếu Phan An gọi điện mời em tối nay đi anh ấy giải khuây? Nan giải quá đi thôi! Không ngờ phiêu lưu tình ái bây giờ ấn tượng với Phan An như nhạt nhòa. Lúc xưa, Phan An mà gọi điện thì tim đập rộn ràng. Bây giờ thỉnh thoảng để anh gọi liên tiếp cảm thấy hối tiếc vô cùng.

Dù sao, Phan An cũng có vợ rồi. Dù sao em cũng không làm gì có lỗi với ảnh. Vẫn còn yêu Phan An tha thiết nhưng không có lối thoát nào để bao dung cho cuộc tình này. Nói thì dễ chứ chuyện tình tam giác không dễ đâu. Em hẹn hò với Phan An trong New Year Eve tại New York, nhưng lại quá vui mừng vì ảnh đã khất lại vì chắc là không kiếm cớ được với "mụ vợ".

X-mas này em sẽ gặp má của Ricardo càng làm hồi hộp quá! Em lo ngại lắm nhưng Ricardo nói sẽ đừng lo lắng. Nhưng thử hỏi có bà má nào mà cho con trai hẹn hò với gái "già" hơn 6 tuổi chứ hả! Không biết mình phải lâm vào tình huống nan giải như thế nào. Ôi dà! Nan giải bách phiến sầu
_Jun_
06-12-08, 08:44
Giáng Thu giống Bạch Cốt tinh lắm.
kyanh
11-12-08, 19:39
Hông vô xem được mí Bác ơi. Hix hix, Bác nào bít cách chỉ cho em mí. Em là dân hỉu "tàm tạm" về máy tính thui. minh.tri_huynh@yahoo.com.vn
awayttvn
15-12-08, 14:31
Đỉnh cao chói lọi - Dương Thu Hương

http://forums.thuyngaonline.com/printable.aspx?m=811721

Cái này mới đọc vài trang, nhận định chớp nhoáng là nó được viết theo chiều hướng văn học. Không nên đánh đồng nhân vật nào với con nguời thực nhưng có thể tham khảo góc nhìn về hiện sinh của những con người ở những vị trí có thực. Sách lịch sử thường không nhìn con người dưới lăng kính hiện sinh và nhiều chiều kích cũng như tỉ mỉ của văn học. Văn học không có nhiệm vụ phản ánh hiện thực như sử học (thường không hoàn thành nhiệm vụ) nhưng nhiều khi nó đem lại những điều thật hơn sự thật. Bởi nó gần với tâm hồn con người hơn là những tư liệu mang tính hình thức bị lái theo chiều hướng chính trị. Rất nhiều người ở phe này hay phe kia hay những người lười suy ngẫm nhìn vào quá khứ theo con mắt của thứ tư liệu hình thức đó.

Đang đọc tiếp, có thể sẽ có những nhận định khác.


Lời tác giả

Tôi vốn không đủ khả năng sáng tác hoàn toàn dựa vào trí tưởng tượng. Mọi cuốn sách tôi viết đều xây dựng trên một câu chuyện thực. Dẫu vậy, vẫn cần nhắc lại một cách nghiêm cẩn rằng tiểu thuyết là tiểu thuyết. Tiểu thuyết không phải tự truyện hoặc sự lắp ghép một chuỗi tiểu sử của các nhân vật.

Như mọi cuốn đã in, ― Đỉnh cao chói lọi‖ trung thành với nguyên tắc ấy. Nhưng, để tránh mọi hiểu lầm đáng tiếc có thể xảy ra, tôi xin nhấn mạnh một lần nữa với trường hợp đặc biệt này : Nhân vật Trần Vũ và các nhân vật liên đới với ông. Để lấy cảm hứng xây dựng nhân vật Trần Vũ, tôi đã mượn hình mẫu ông Vũ Kì, nguyên giám đốc bảo tàng Hồ chí Minh. Nhưng ngược lại, nhân vật Tố Vân hoàn toàn không dính líu tới phu nhân Vũ Kì cũng như gia đình bà. Đây là sự lắp ghép giữa hình mẫu nam với một hình mẫu nữ khác, không xa môi trường quan chức cao cấp Việt nam thời đó bao lăm. Sự lắp ghép này là một trong những ngón nghề cổ lỗ của các tiểu thuyết gia mọi thời đại. Không có một biệt đãi nào dành cho riêng tôi.

Trên thực tế, tôi không hân hạnh quen biết ông Vũ Kì, bởi không có ý định khép mình trong triều đình cộng sản. Thêm nữa, vì dị ứng trầm trọng với mọi lề thức nhiêu khê và quan dạng trong môi trường này nên tuy thâm tâm ngổn ngang những tò mò lẫn niềm cảm mến tôi cũng khó lòng tự cưỡng để tìm cách gặp ông. Chỉ đến khi nghe tin ông ốm yếu, tôi mới trộn mình vào đám sai nha để nhìn mặt ông, dù là nhìn từ xa. Đó là lần đầu tiên và cũng là cuối cùng. Năm sau ông qua đời.

Đối với tôi, ông Vũ Kì là một trong số vô cùng ít ỏi những người còn giữ được tinh thần nghĩa hiệp, lòng chung thuỷ giữa thầy trò và bằng hữu; những đức tính vô cùng tốt đẹp của dân tộc Việt mà trong nửa thế kỉ thống trị, chế độ cộng sản đã tàn hoại một cách thành công.

Phu nhân Vũ Kì cũng như gia đình bà có đầy đủ quyền tự hào vì có một người chồng, người cha, người ông như thế.
awayttvn
15-12-08, 14:36
Trích 1 đoạn:


Bất giác ông buông tiếng thở dài, không để ý người cận vệ đã đứng sau lưng :
- Thưa chủ tịch, người có chỉ thị gì không ?
- Chỉ thị ?
Ông hỏi lại rồi chợt nhận ra vẻ xao nhãng của mình :
- Chú đã thấy anh em tập hợp bên dưới đi cứu hộ. Chỉ có tôi và chú đứng ở đây. Chúng ta là những người vô dụng.
- Dạ, thưa chủ tịch....
Người lính ấp úng, cổ anh ta đỏ ửng lên. Rồi khuôn mặt và hai bàn tay cũng rần rần đỏ nốt. Anh ta lùi lại, nhìn ông với cặp mắt nhớn nhác, hoang mang. Ông chợt nhận ra sự hớ hênh của mình :
- Ồ, tôi muốn nói rằng trong lúc này, chú và tôi là hai kẻ vô dụng vì chúng ta không thể chạy xuống thung lũng giúp đỡ nạn nhân. Nhưng ngoại trừ lúc này, chúng ta đều là những người hữu ích, ai gánh vác phận sự của người nấy....
X-ray
15-12-08, 20:50
Cách đặt vấn đề của chị Hương là được, phân biệt sự thật lịch sử và sự thật tiểu thuyết, rạch ròi. Cái mập mờ nhập nhằng của hư cấu và cái móc áo mà câu chuyện phủ bên ngoài cho hấp dẫn, thường hay bị nhầm lẫn, nhưng chính vì thế mà nó hấp dẫn nhân dân vốn thích thú với những thể loại này.

Nói đi nói lại, hải đăng có thể bị đặt sai chỗ, chứ hải đăng đe'o bao giờ sai, thế cho nhanh. Đằng này lịch sử đã rồi, giờ có nói gì thì nó đã diễn ra như thế, giờ 4C mới có chuyện để tám, cãi cọ làm đe'o gì cho mệt người.

Với anh, ông cụ vẫn luôn luôn là hải đăng.
X-ray
15-12-08, 21:10
Nhắc đến chị Hương, anh nhớ một thuở thiên đường mù đọc chị từ hồi mới lớn, văn phong khá hấp dẫn, lại cũng dễ đọc. Bây giờ đọc lại vẫn nhận ra phong cách ấy, dù đã nhiều thay đổi. Nếu bỏ qua tất cả những chuyện thị phi kiểu "tôi sinh ra để làm giặc", v v... thì vẫn thấy đây là cây bút đọc được.
Chipheo
24-12-08, 11:30
Văn phong của Dương Thu Hương vẫn là thứ văn phong "chuẩn" về câu chữ.
Nếu không muốn nói là đẹp. Như những tác phẩm ở giai đoạn đầu: Hành trình thơ ấu, Chuyện tình kể trước lúc rạng đông, Chân dung người hàng xóm, Bên kia bờ ảo vọng,...
Có điều là ý nghĩa tác phẩm và tư tưởng người cầm bút thế nào thôi. Sang đến "Những thiên đường mù" thì chất chứa nhiều cay nghiệt rồi.
Tất nhiên, người chứng kiến lịch sử được quyền bày tỏ những gì họ nghĩ. Đấy cũng là cái may cho người đọc là được biết thêm những góc khuất và mặt trái của tấm huân chương!
Tuy nhiên, bây giờ "viết trong bóng tối" với hòng soi sáng lại lịch sử và thời cuộc có vẻ như là một nỗ lực rất "tuyệt vọng"! Như là "nói vào đường dây điện thoại chưa mắc" theo ví von của ai đó về văn chương hải ngoại, tôi mượn lại. Có khi im lặng lại là hơn!?