Không biết dịch từ này thế nào?

justmevn
20-03-06, 16:13
Acquisitions Editor: từng từ thì tra được nghĩa, nhưng ghép lại thì không biết nên dịch thế nào? Bác nào làm hoặc biết về việc xuất bản có thể dịch hộ em phát. Thanks.
justmevn
27-03-06, 14:55
Có phải nó có nghĩa là tổng biên tập, hoặc người hiệu đính chung không? Có ai biết không vzậy?
HaiDang
27-03-06, 16:34
Chú quẳng cái context lên, may ra anh bói được nó là cái gì.
justmevn
27-03-06, 17:03
Publisher’s Acknowledgments
We’re proud of this book; please send us your comments through our online registration form
located at www.dummies.com/register/.
Some of the people who helped bring this book to market include the following:
Acquisitions, Editorial, and Media
Development
Project Editor: Pat O’Brien
Acquisitions Editor: Melody Layne
Copy Editor: Teresa Artman
Technical Editor: Gavin Hoban
Editorial Manager: Kevin Kirschner
Media Development Manager:
Laura VanWinkle
Media Development Supervisor:
Richard Graves
Editorial Assistant: Amanda Foxworth
Cartoons: Rich Tennant
(www.the5thwave.com)
Composition
Project Coordinator: Adrienne Martinez
Layout and Graphics: Amanda Carter,
Andrea Dahl, Lauren Goddard,
Lynsey Osborn, Heather Ryan
Proofreaders: Laura Albert, Brian H. Walls,
TECHBOOKS Production Services
Indexer: TECHBOOKS Production Services
Publishing and Editorial for Technology Dummies
Richard Swadley, Vice President and Executive Group Publisher
Andy Cummings, Vice President and Publisher
Mary C. Corder, Editorial Director
Publishing for Consumer Dummies
Diane Graves Steele, Vice President and Publisher
Joyce Pepple, Acquisitions Director
Composition Services
Gerry Fahey, Vice President of Production Services
Debbie Stailey, Director of Composition Services
Nắng sớm
27-03-06, 17:13
Acquisitions Editor: từng từ thì tra được nghĩa, nhưng ghép lại thì không biết nên dịch thế nào? Bác nào làm hoặc biết về việc xuất bản có thể dịch hộ em phát. Thanks.


Cái từ này mà chú còn phải đi hỏi. Google đâu ?
Làm mất công anh em quá.
http://www.google.com/search?sourceid=navclient&hl=de&ie=UTF-8&rls=SNYJ,SNYJ:2005-28,SNYJ:de&q=Acquisitions+Editor
http://www.astd.org/astd/Publications/books/book_publishing_process.htm
Mime
31-03-06, 13:34
hỏi ké luôn các bác ở Mẽo, cái khỉ này trong tiếng Việt nó là cái gì vậy? Ủy ban? Tks

EPA: Environmental Protection Agency (US government; Denmark)
pepper
31-03-06, 14:15
Cơ quan (Cục ) bảo vệ môi trường ( Agency trong CIA )
Ocean
31-03-06, 21:25
Nhân có thread này cho em hỏi các bác luôn PTO = Paid Time Off thì tiếng Việt dịch cho xuôi là gì ạ? Nghĩa thì là thời gian nghỉ được ăn lương gồm nghỉ ốm và nghỉ phép.

Thks
Biển Xanh
02-04-06, 07:57
Nhân có thread này cho em hỏi các bác luôn PTO = Paid Time Off thì tiếng Việt dịch cho xuôi là gì ạ? Nghĩa thì là thời gian nghỉ được ăn lương gồm nghỉ ốm và nghỉ phép.

Thks

Em nghĩ gọi chung là nghỉ phép thôi, làm gì còn từ gì khác vì nghỉ ốm đôi khi cũng phải lấy từ nghỉ phép mà ra (trong trường hợp mình không muốn lấy giấy của bác sỹ).
Hạt mít
18-04-06, 05:02
Nên dịch "Born global" ra tiếng Việt thế nào nhỉ? Ty nào biết chỉ giúm tớ với. Cảm ơn nhiều.
Gaup
18-04-06, 05:39
Hạt mít cho thêm thông tin đi...văn cảnh thế nào?
Hạt mít
18-04-06, 17:06
Hì, Gấu đây rồi. Ngồi xem Gấu nói chuyện duyên dáng với các bạn mãi, hôm nay bạn mới có dịp hỏi han. :) Bạn đang đọc mấy bài về Internationalization of firms. Cụ thể nó là thế này:

"Firm internationalization has long been regarded as an incremental process, wherein firms gravitate towards psychologically close markets and increase commitment to international markets in a gradual maner. However, much of the recent literature provides clear evidence of rapid and dedicated internationalization by born global firms. Typically, these are smaller entrepreneurial firms that internationalize from inception, or start to shortly thereafter. "
Hạt mít
20-04-06, 05:32
Ơ đâu mất rồi, Gấu và các tình yêu khác không cho bạn cái ý kiến nào à?
pepper
20-04-06, 08:37
Theo anh dich là "khai sinh với định hướng toàn cầu hóa", nghe lủng củng nhỉ, hiểu nghĩa nhưng khó tìm từ Việt đồng nghĩa .
Quan Nhân
20-04-06, 09:46
Từ "born global" này có thể suy từ trong bài ra, nhưng nếu gúc thì ra nghĩa là "internationalized right from the beginning", nên có thể dịch thô là "công ty đa quốc gia ngay từ khởi đầu" hoặc "công ty từ khởi đầu đã là đa quốc gia". Dịch tinh thì phải đợi các bạn khác.

http://marketing.byu.edu/htmlpages/ccrs/proceedings99/rasmussen.htm
lamaquen
20-04-06, 10:29
Anh Gúc bảo, "born global firm" là công ty nhắm tới thị trường quốc tế, chứ không phải hoạt động nội địa trước rồi mới ra quốc tế, ngay từ lúc thành lập (hình như ít nhất là phải 25% thị trường là non-domestic). Tìm từ tiếng Việt tương đương thì tớ chịu :D
Hạt mít
20-04-06, 20:21
Vâng, nôm na ra thì là "các công ty hướng ngoại từ khi thành lập". Ở đây hiểu là các công ty nhắm tới thị trường nước ngoài từ khi còn trứng nước, nhưng tớ không tìm được cách diễn đạt cho xuôi nên mới muốn nhờ các cao nhân ở đây tinh dịch.

Các tình yêu khác cho tớ ý kiến tiếp đi nhé :)
caspi
20-04-06, 22:05
trường hợp này born dịch là gốc cho ngắn, đừng có khai sinh với thành lập làm gì :)
Gaup
20-04-06, 22:28
Các công ty toàn cầu bẩm sinh được không ạ?
lamaquen
20-04-06, 22:43
Nghe được đấy chứ nhỉ. Tiên sư anh Tào Tháo :)
Quan Nhân
20-04-06, 22:53
Từ "bẩm sinh" của bác Gấu em kô biết có dùng cho đối tượng nào ngoài con người được không, ngay cả đối với động vật em cũng thấy ít khi người ta nói là "con ngựa này bẩm sinh là tuấn mã" hoặc "đàn lợn béo bẩm sinh". Huống chi là nói đến công ty với doanh nghiệp.
Gaup
20-04-06, 23:19
Bác em chắc chưa bao giờ nghe đến những cái phép như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ?
Why & Why not?
21-04-06, 08:25
Các công ty toàn cầu bẩm sinh được không ạ?
Gấu già đúng là chảy sệ mịa thật dồi. Làm đe'o gì có chiện "toàn cầu bẩm sinh", rồi còn già hàm cãi cố cái gì "nhân hóa ẩn dụ hóa" . Như cố Hải đăng hay nói. Đến chết!

Câu đấy dịch là: Các công ty khởi thủy toàn cầu/đa quốc gia. Bẩm sinh! Hị hị!
Gaup
21-04-06, 10:11
Khởi thủy là từ của em, các bác em tuyền ăn trộm ăn cắp không thôi.

Khởi thủy là dùng cho cái chỗ sau, cái đoạn mà from inception.

Dùng toàn cầu bẩm sinh là đúng rồi. Ngay trong tiếng Anh cũng đã nhân cách hóa bằng chữ born chứ làm gì có công ty bố với công ty mẹ phịch nhau đẻ ra công ty toàn cầu bẩm sinh đâu cơ chứ.
Mecado
21-04-06, 10:31
Gấu già chảy xệ bảo thủ. Đé,o ai dịch "toàn cầu bẩm sinh" lại còn "nhân cách hóa" dịch mẹ nó là " Gấu có khả năng ngụy biện bẩm sinh". Học nhiều, tư duy nhiều bằng tiếng Anh quên mẹ nó cả tiếng Việt. Dùng khởi thủy là đúng mịa nó rồi còn kak gì nữa.
lamaquen
21-04-06, 11:32
Thưa các bác, em thì em vẫn nghĩ từ "bẩm sinh" của Gấu sát nghĩa hơn. Khởi thủy, khởi nguồn, hay cái gì gì đó của anh Lạng trong kia em không nhớ -theo em thì bọn này hơi xa nghĩa hơn, vì nó không chuyển tải được nghĩa là từ đầu tới giờ vẫn thế.
Quan Nhân
21-04-06, 12:17
Bác Gấu đe'o gì chầy cối vừa thôi dốt thì nhận đi:D. Đoạn dịch này là văn phong kinh tế thuần lấy đâu ra nhân hóa mà tự nhiên bác chen 1 từ "bẩm sinh" vào.

Có chỗ này em định hỏi bác nhưng sau quả này em e là có khi bác cũng đếch trả lời được. Từ born là động từ hoặc tính từ, thế sao nó lại đi cùng bổ nghĩa cho global cũng là tính từ, hay đấy là cách dùng đặc ngữ của Tây nó thế.
pepper
21-04-06, 18:19
Nếu để trạng từ globally bổ nghĩa cho born có nghĩa là khai sinh 1 cách toàn cầu, làm nhéo gì có chuyện này phỏng ạ. Anh nghĩ đây là viết tắt của hàm ý born at the global level hoặc đại loại cái gì đó tương tự thế chứ global ở đây ko thể nào là bổ nghĩa cho born theo kiểu trạng từ bổ nghĩa cho tình từ được.
ThuyVu
21-04-06, 19:19
Nhân có thread này cho em hỏi các bác luôn PTO = Paid Time Off thì tiếng Việt dịch cho xuôi là gì ạ? Nghĩa thì là thời gian nghỉ được ăn lương gồm nghỉ ốm và nghỉ phép.

Thks

Nghỉ có phép bác ạ. Còn nghỉ mà không được trả lương là nghỉ không phép.
Gaup
21-04-06, 20:16
Bác Gấu đe'o gì chầy cối vừa thôi dốt thì nhận đi:D. Đoạn dịch này là văn phong kinh tế thuần lấy đâu ra nhân hóa mà tự nhiên bác chen 1 từ "bẩm sinh" vào.

Có chỗ này em định hỏi bác nhưng sau quả này em e là có khi bác cũng đếch trả lời được. Từ born là động từ hoặc tính từ, thế sao nó lại đi cùng bổ nghĩa cho global cũng là tính từ, hay đấy là cách dùng đặc ngữ của Tây nó thế.

Bác QuanNhan em đ hiểu chữ born dùng thế nào lại còn đi cãi em dịch chữ bẩm sinh...thời buổi dở hơi bác QuanNhan cũng lên làm hải đăng. :)

Anyway, bác xem lại ngữ pháp, cái câu đấy nguyên là firms that were born global - dịch ý ra là những công ty ngay từ khi sinh ra đã có định hướng toàn cầu. Thường thì các công ty toàn cầu truyền thống thường khởi đầu là các công ty địa phương, dần dần rồi mới lên tầm quốc nội, rồi quốc tế. Thời đại mới một thị trường lớn sinh ra những cái công ty có chủ hướng toàn cầu ngay từ ý tưởng - viết tắt lại thì thành born global firms ở đây born và global không bổ nghĩa cho nhau kiểu như undeniably free birds (những con trym tự do "một cách" không thể phủ nhận - ví dụ như trym em :) ) - cả born global ở đây kết hợp lại thành một mệnh đề tính từ hay "tính ngữ".

Sinh ra mà đã có một đặc tính nhất định khác với các "đứa trẻ" khác thì gọi là bẩm sinh đã có tính đấy rồi, như bác QuanNhan em là một công ty dâm bẩm sinh.

Đừng cứng nhắc chuyện dùng từ chỉ cho người để dùng cho công ty hay ngược lại - ngôn ngữ thường hạn chế nên cái giới hạn này không có đâu. Có thể dùng thoải mái tự nhiên. Như em nói cái chữ born trên kia nếu nói cứng nhắc như bác ra thì cũng không thể gọi là Born được bởi vì công ty thì sinh ra thế nào được mà phải được thành lập nên, tạo ra.
Quan Nhân
21-04-06, 21:04
Bác QuanNhan em đ hiểu chữ born dùng thế nào lại còn đi cãi em dịch chữ bẩm sinh...thời buổi dở hơi bác QuanNhan cũng lên làm hải đăng. :)

Anyway, bác xem lại ngữ pháp, cái câu đấy nguyên là firms that were born global - dịch ý ra là những công ty ngay từ khi sinh ra đã có định hướng toàn cầu. Thường thì các công ty toàn cầu truyền thống thường khởi đầu là các công ty địa phương, dần dần rồi mới lên tầm quốc nội, rồi quốc tế. Thời đại mới một thị trường lớn sinh ra những cái công ty có chủ hướng toàn cầu ngay từ ý tưởng - viết tắt lại thì thành born global firms ở đây born và global không bổ nghĩa cho nhau kiểu như undeniably free birds (những con trym tự do "một cách" không thể phủ nhận - ví dụ như trym em :) ) - cả born global ở đây kết hợp lại thành một mệnh đề tính từ hay "tính ngữ".

Sinh ra mà đã có một đặc tính nhất định khác với các "đứa trẻ" khác thì gọi là bẩm sinh đã có tính đấy rồi, như bác QuanNhan em là một công ty dâm bẩm sinh.

Đừng cứng nhắc chuyện dùng từ chỉ cho người để dùng cho công ty hay ngược lại - ngôn ngữ thường hạn chế nên cái giới hạn này không có đâu. Có thể dùng thoải mái tự nhiên. Như em nói cái chữ born trên kia nếu nói cứng nhắc như bác ra thì cũng không thể gọi là Born được bởi vì công ty thì sinh ra thế nào được mà phải được thành lập nên, tạo ra.
Thứ nhất về ngữ pháp, em trích nguyên văn lại cho bác Gấu trym teo bẩm sinh là nguyên văn câu bạn ý hỏi là "rapid and dedicated internationalization by born global firms", bác lại chuyển thành "firms that were born global" là sai mệ nó cơ bản về cấu trúc. Trong câu của bạn ý thì thông thường global mới là tính từ chính, còn như trong câu của bác thì born là tính từ chính. Nếu như theo cách bác diễn giải thì đáng nhẽ cấu trúc của "tính ngữ" nó phải là global born chứ. Để thuyết phục bác phải ví dụ cho em thêm vài cái tính ngữ khác đi xem nào, có nguồn trích dẫn đàng hoàng đe'o chơi kiểu tao nghĩ ra đấy chứ trước nay chưa có tiền lệ nào cả.

Về dịch thuật, tranh luận thêm về từ born, theo con oxford advanced learner's của em (rút kinh nghiệm sau khi tranh cãi với thằng Đào lìn tiêm nó cãi về từ điển online) thì định nghĩa là
"born adj [attrib] having a specific natural quality or ability" như vậy từ born không nhất thiết phải gắn với người bác công nhận không vì nói về quality hoặc là ability cơ mà, high quality of toy hoặc ability to enlarge yours. Nhưng mà từ "bẩm sinh" từ trước đến nay em thấy dân Việt mình toàn dùng cho người thôi chưa thấy thằng nào dùng cho cái gì khác cả. Thành ra bác thừa nhận là bác ngu đi, em hứa là không cười chê bác đâu còn không biết các bạn khác thì thế nào.
Gaup
21-04-06, 22:26
Bác Quan Nhân em thế đíu nào lại đi cãi nhau với bậc thầy về ngôn ngữ. Những thứ bác trích dẫn là những thằng như em viết ra chứ đ ai. Bụt chùa nhà đúng là không thiêng thật.
wasabi
21-04-06, 23:20
Bác Quan Nhân em thế đíu nào lại đi cãi nhau với bậc thầy về ngôn ngữ. Những thứ bác trích dẫn là những thằng như em viết ra chứ đ ai. Bụt chùa nhà đúng là không thiêng thật.
Gấu thế đíu nào đếu cãi lại được anh Nhân em lại đi thẩm du thế này thì có chán chết lên được không cơ chứ. Cùn quá cùn quả. Tự tát vào má 50 cái đi thầy.
Mecado
21-04-06, 23:23
Anh cười lăn mẹ nó xuống ghế ! Trình hài hước và khả năng thủ dâm của Gấu nhất mẹ nó rồi. Thôi Gấu sai rồi Quan nhân xin lỗi Gấu đi. Gấu nó viết ra sách cho mà học bây giờ lại cãi lại thầy là thế đé,o nào. Đúng là quan nhân có tính hay cãi " bẩm sinh" mẹ nó rồi hị hị.
Gaup
21-04-06, 23:26
Bác Quan Nhân em hổng nặng về kiến thức căn bản, em nhớ đã dạy cho nhiều trẻ em cái này từ những năm đầu thập kỷ 90.

"rapid and dedicated internationalization by born global firms" == "rapid and dedicated internationalization by firms that were born global"

Bác em cãi vấn đề gì về cấu trúc?
Gaup
21-04-06, 23:33
Các bác em, không phải là định kiến hay phân biệt gì với bác Quan Nhân hay các bác em nói chung nhưng mà lắm khi cũng thấy hết sức là bất lực. Em không thể nào bị buộc phải chịu trách nhiệm về những thiếu sót ẩn tì nội tì của các bác có nguyên nhân xã hội được.

Ở đây cũng thế mà bên topic bồi thẩm nhân dân cũng thế, để chiến được còn cần rất nhiều trình. Dịch là bẩm sinh em đưa ra là một lựa chọn cho các bác, chứ em không áp đặt các bác em phải dùng. Theo các tiêu chuẩn tót vời của em thì em sẽ dịch như thế, các bác em muốn đưa ý kiến khác thì phải có lý do chính đáng, chứ những lý do lung tung như chỉ dành cho người là tiêu chuẩn của em ko chấp nhận được rồi. Cái này không phải là đúng sai mà là lựa chọn tốt hơn hay chưa tốt bằng.

Em thấy các bác vẫn còn bị cứng nhắc lắm, vẫn còn sợ văn bản lắm - em nói là em viết ra những thứ như thế này có phải là em nói đùa đâu - mà đã đến trình đấy rồi cần gì phải sợ văn bản nữa.

Phỏng ạ?
TheDifference
22-04-06, 02:52
"rapid and dedicated internationalization by born global firms" == "rapid and dedicated internationalization by firms that were born global"

Bác em cãi vấn đề gì về cấu trúc?
Gấu già quả này đúng, anh công nhận. Đây là một cấu trúc ngữ pháp rất thường gặp trong tiếng Anh. Gọi là "Bị động ẩn". Nhưng hình như Gấu già cũng éo biết nó tên là gì nên nói mãi vẫn chịu éo gọi nổi tên ra để thằng Quan nhân nó phục. Hị hị!

Còn chiện thằng Gấu nhà mình vẫn tiếp tục tính thủ dâm "bẩm sinh" của nó thì có gì lạ đâu. 4C đừng cười nó, tội nghiệp.
Gaup
22-04-06, 03:14
Bị động ẩn mịa gì bác em, nó chỉ đơn giản là cách nói ngắn gọn, không phải là hiện tượng ngữ pháp, bác muốn gọi nó là gì cũng được.

Có 2 -3 trường hợp như thế:

The professor who lives in that house died last night.
==The professor living in that house died last night.

Bị động chỗ nào hả bác em?
Hạt mít
22-04-06, 05:52
Gấu già thông dịch bẩm sinh của nó rồi. 4c công nhận lần nữa đi. Cám ơn Gấu nhé.
Mecado
22-04-06, 07:59
Phải nói là Gấu già tinh dịch bẩm sinh chứ em, thế mới đúng. Anh em vào an ủi Gấu đi không nó dỗi nó đé,o thèm dạy học nữa là anh không có cơ hội tham nhũng học phí thì gay.
Quan Nhân
22-04-06, 09:11
Trước hết cả bác Gấu già và thằng Đít nhớ là ở đây có đi cùng với firms có động từ ở thể bị động born đi cùng với 1 tính từ nữa chứ không phải chỉ là 1 tính từ đơn. Đầu tiên xem Gấu già trym teo viết

"rapid and dedicated internationalization by born global firms" == "rapid and dedicated internationalization by firms that were born global"
Ở đây global là gì hả bác trym teo, tính từ hay gì, nó dùng làm gì. Bác lờ chuyện ví dụ tính ngữ đi rồi à, ví dụ đê.

Bây giờ anh xem thằng Đít viết
Gấu già quả này đúng, anh công nhận. Đây là một cấu trúc ngữ pháp rất thường gặp trong tiếng Anh. Gọi là "Bị động ẩn". Nhưng hình như Gấu già cũng éo biết nó tên là gì nên nói mãi vẫn chịu éo gọi nổi tên ra để thằng Quan nhân nó phục. Hị hị!

Còn chiện thằng Gấu nhà mình vẫn tiếp tục tính thủ dâm "bẩm sinh" của nó thì có gì lạ đâu. 4C đừng cười nó, tội nghiệp.
Thằng Đít mày thử nói anh xem cấu trúc bị động ẩn là như thế nào, coi như để anh mở mang kiến thức.

Trym teo bẩm sinh viết tiếp
The professor who lives in that house died last night.
==The professor living in that house died last night.
Khác xa với cấu trúc gồm 1 bị động đi với 1 tính từ bác trym teo bẩm sinh nhá, chả có gì liên quan cả. Bác đưa ví dụ đúng đi, phải là ví dụ đúng ấy, không phải là ví dụ vớ vẩn như thế đâu. Em đã hứa là không cười chê bác rồi, bác thấy từ đầu bao nhiêu bạn cười chê bác mà em có thế đâu:D.
Gaup
22-04-06, 10:56
Bác Quan Nhân em nói cái gì thực ra em không hiểu vì bác em nói chẳng giống ai. Born ở đây là phân từ 2 - past particle - thường vẫn được dùng làm tính từ hàm ý bị động. Born global có nghĩa là global when born - global là trạng thái khi được sinh ra. Trạng thái gì mà sinh ra đã có thì cái trạng thái đấy được gọi là bẩm sinh phải không bác em?

Bẩm sinh là câm, điếc, yêu âm nhạc, thổi kèn giỏi...vv và vv. He's a born musically talented person = he's an innately musically talented person = He's innately talented in music = he was born with musical talents vv và vv.

Bác em không phân vân nữa đi, những thứ này vỡ lòng quá rồi, không thể sai được.

Bác em có gì phân vân nữa?
Quan Nhân
22-04-06, 13:57
Em tặng bác Gấu mấy câu thơ tân hình thức

Gấu già mà đi dịch tinh
Gặp phải chỗ bí dịch linh tinh cả
Tít mù rồi lại trym teo
Đâm xiên đâm xẹo chả giông ai xxx

QN 04/2006
Gaup
22-04-06, 14:14
Cảm ơn mấy câu thơ của bác em, thơ bác em bí thật.

Chả hiểu bác em đã thải mái chưa nhưng mà mấy cái này có cái gì là bí đâu bác em. Cái khác biệt giữa em với bác là thái độ với văn bản. Bác em có vẻ ngại văn bản, nghĩ rằng nó là chuyên môn nên nó thế này thế nọ.

Bác em, đến một mức nhất định rồi, bài gì bất kể ai viết mình cũng không cần phải sợ. Thế thì hiểu mới được tốt và dịch mới được hay - mình mà sợ thì cứ cuống lên cứ tưởng tượng ra những thứ hạn chế, rào cản này nọ. Em đây kể cả lúc dịch cho Clinton hay lúc dịch cho ông xích lô ngoài đường lúc nào cũng tưng tửng hết sức hay.

Nói chung các bác đừng có mà sợ, đ có cái gì đáng sợ cả, tác giả đ nói cái gì cao siêu đến mức các bác em không thể tìm hiểu để cố mà hiểu được và kể cả khi cao siêu quá cũng đ có gì đáng sợ...

em các bác: 1998-1999 Co-editor in chief: Journal of Public and International Affairs, American Association of Public and International Affair Schools. 1999-2000: Managing editor - USAID Privatization Review, Cairo-Egypt. trong việc em làm trước tháng 11 năm ngoái một tháng em phải đọc sửa khoảng khoảng 10 bài hết sức là born technical. gần 10 năm làm biên tập tiếng Anh hết sức là cao cấp em giờ nhìn qua trang giấy cách 10 bước là biết tác giả của nó là con đực hay con cái.

Em mà gặp được thằng như em em lợi dụng nó mà học hỏi thêm chứ cãi nhau với nó những thứ vớ vỉn vỡ lòng với cả làm thơ tân hình thức vớ vỉn để chọc giận nó để được cái đ gì hả bác Quan Nhân? hết sức phản cảm.
Quan Nhân
22-04-06, 15:02
Bác Gấu em bùn cừi quá, quan điểm của em với bác không giống nhau về chuyện dịch thì em viết thế, bác chả giải thích cho em được tường tận lại dơ mấy cái chức Bật Mã Ôn ra dọa, hehe. Bọn Financial Times mấy lỵ Economist nó mời em còn chả thèm làm, nhằm nhò gì mấy cái chức ở tận Egypt hay school :68:. Dứt khoát là quả này không đồng ý với bác, thế cho nó ngắn.

Chiện sợ hay không sợ chả liên can gì ở đây nhưng dịch thuật là phải có những quy tắc nhất định, cái đấy chả là rào cản thì là cái gì hả bác.
Quan Nhân
22-04-06, 15:05
Bổ sung: chiện bác mở lớp dịch thuật em vẫn tham gia như thường, bác đừng dỗi thế chứ:D.
Mio
22-04-06, 15:11
Chiện sợ hay không sợ chả liên can gì ở đây nhưng dịch thuật là phải có những quy tắc nhất định, cái đấy chả là rào cản thì là cái gì hả bác.
Đồng ý. Cơ mà bác nói cái quái gì trên kia em dốt chả hiểu bác em định phủ nhận Gấu cái gì. Bác em nói lại dễ hiểu hơn nhé, em không hiểu thật bác em đừng phân tán vào việc chửi em. Những cái gì mà động từ thể bị động cả tính từ đơn cả tính ngữ, thì sao, liên quan gì đến chuyện dịch với cả rào cản thế nào?

Gấu lấy ví dụ living đúng rồi còn gì, vị trí của động tính từ (ing) và phân từ 2 (ed) có thể thay đổi trước hoặc sau đứng một mình hoặc bắt đầu một ngữ, nhưng chức năng thì tương tự. Gấu chỉ muốn chỉ ra cho Diff rằng là động từ có thể chuyển thành tính từ bằng đuôi ing hoặc ed thế thôi, ẩn iếc gì đâu. Thế bác QN bảo Gấu lấy ví dụ sai gì?
Mio
22-04-06, 15:22
À "cấu trúc gồm 1 bị động đi với 1 tính từ" là gì. Em học ít chửa nghe thấy bao giờ.
lamaquen
22-04-06, 16:23
Thế bây giờ em hỏi bác Quan Nhân em, 2 câu sau câu nào sai câu nào đúng?
- QuanNhan is a sexy born guy
- QuanNhan is a born sexy guy.
Hạt mít
23-04-06, 03:54
Ối giời, chả thấy câu nào đúng cả :flag:
Gaup
23-04-06, 05:04
Nói như bác quan Nhân em cái gì của người thì phải dành riêng cho người chứ không dành riêng cho vật được thì em cũng nói cái gì là động vật thì chỉ dành cho động vật chứ không cho thực vật được - nói như bác em thì con chuột máy tính chuyển sang tiếng việt phải gọi là thiết bị điều khiển tọa độ điểm trỏ trên màn hình máy tính chứ đ ai gọi là chuột vì chuột từ trước chỉ dùng gọi tên con vật chứ đây đang nói về máy tính nghiêm túc cơ mà...

dịch tốt tức là cái gì chưa có thì bịa ra, miễn là đúng ý còn từ ngữ quan trọng đ gì.
lamaquen
23-04-06, 07:35
Ý bạn hạt mít là câu không đúng ngữ pháp hay là bác Quan Nhân không sexy "bẩm sinh"? :D
Hạt mít
23-04-06, 08:36
Ý bạn hạt mít là câu không đúng ngữ pháp hay là bác Quan Nhân không sexy "bẩm sinh"? :D


Sao đằng ấy lại nói toạc ra thế, bác Nhân bác ấy buồn chít. :D
Quan Nhân
23-04-06, 11:25
Chưa thấy gái nào nói anh về chiện born mấy lị sexy cả mà toàn nói thế này kèm biểu hiện phấn khích:
Quan Nhân, oh my god, is an extremely long durable guy.

4c thử dịch câu trên cho anh sang tiếng Việt xem có khá không nào. Chơi chữ với anh hơi bị khó đấy, còn phải học nhiều.

Mk, 4c lăn tăn chiện cấu trúc thì anh giải thích thêm thế này: lúc đấy bác Gấu với Diff nói về chiện cấu trúc phân từ 2 mấy lị bị động ẩn (hay là giản lược mệnh đề bị động) nên anh hơi lẫn 1 tí nhưng đừng có mà lấy thế chọc ngoáy vớ vẩn, anh khẳng định từ born ở đây chính xác là tính từ, global cũng là tính từ. Anh đang muốn thắc mắc về chiện tại sao lại có 2 tính từ (đi cùng 1 danh từ) mà lại bổ nghĩa cho nhau chứ không phải bổ nghĩa cho danh từ đấy, có quy tắc ngữ pháp nào cho chiện này không, nếu có thì nêu ví dụ. Nếu không thì đương nhiên đây là kiểu đặc ngữ chiên môn không áp dụng ngữ pháp chính thống vào.

Bác Gấu, chiện so sánh của bác hơi khập khiễng tuy cũng có ý đúng. Nếu cái gì chưa có tiền lệ thì mình có thể tạo tiền lệ nhưng nó phải đúng ngữ cảnh. Chiện bác lấy ví dụ mouse không hợp lý lắm vì từ chuột vi tính khi bắt đầu được sử dụng cho máy tính đã được diễn tả bằng tiếng Anh là mouse rồi (tức là chưa có tiền lệ, đấy là lần đầu tiên) nên có thể dịch sang tiếng Việt là chuột (cũng chưa có tiền lệ, đấy là lần đầu tiên). Còn đối với từ born thì trước nay trong tiếng Anh nó vẫn được dùng cho cả người và các đối tượng không phải người rồi, còn từ bẩm sinh thì trong tiếng Việt trước nay chỉ dùng cho người. Bây giờ bác chỉ vì muốn dịch 1 từ cho ngắn gọn mà ghép nó vào khiên cưỡng thì tất nhiên mọi người hiểu, nhưng em thấy không hợp ngữ cảnh. Không phải từ nào trong tiếng Anh cũng có thể diễn đạt ngắn gọn bằng tiếng Việt, có những khi mình sẽ phải giải thích dài 1 chút. Tương tự với trường hợp ngược lại dịch từ Việt sang Anh. Ví dụ vế đối ngày xưa "Da trắng vỗ bì bạch" bác thử dịch sang tiếng Anh ngắn gọn cho em xem có được không hay bác phải giải thích mẹ nó bằng mấy câu dài vật.
Gaup
23-04-06, 11:42
Vấn đề là bác em không biết phải không ạ? Chưa nhìn thấy thế bao giờ phỏng ạ? Thế sao còn cứ nằng nặc đổ cho em bác sai.

Chưa biết thì bảo là chưa biết rồi hỏi. Bác em cứ tán chuyện dông dài, chẻ làm tư những sợi tóc tơ ở bẹn, nói tí là lộ nguyên hình bác em bất lực.
hohuong
24-04-06, 12:29
born global theo em có thể dịch là "vốn dĩ đã có tính toàn cầu".
Em đồng ý với bác Gấu là born ở đây là past particple. Trong tiếng Anh có 2 loại participle: present participle và past particple.
- present participle khi đi kèm với to be thì nó là 1 phần của động từ (eg. The man who is eating is my brother.), còn khi không có đt to be đi kèm thì đc gọi là tình từ (The eating man is my brother. hoặc the man eating is my brother.)
- past participle khi có trợ đt have hoặc đt to be đi kèm thì gọi là một phần của động từ (eg. I have bought a new bike./A new bike was bought yesterday.), còn khi đứng một mình với danh từ thì được gọi là tính từ (eg. The bike bought yesterday has broken down.)
dao_hoa_daochu
24-04-06, 12:37
Hố hố... em đé0 để ý, thế đé0 nào có mỗi cái môn dịch thuật mèo quoào này mà các bác em múa may vật vã kinh quá đi.

"Cty bẩm sinh toàn cầu"... dme... cty chứ có phải cái sudoku nhà bác đít đâu, hố hố...

"Quan Nhân, oh my god, is an extremely long durable guy."... dme... đây là hai bạn rủ nhau tập nói tiếng tây, hay là thế đé0 nào ạ?!. hố hố...
Ngọc
24-04-06, 18:20
Các bác làm sao ý, born global firms thì born bổ nghĩa cho cả cụm "global firms" tách tách thế đe'o nào được mà tách, chứ born firms không thì làm gì còn ý nghĩa nữa? Còn về dịch thì theo em là "bởi những công ty mang tính toàn cầu từ ngày đầu thành lập". Chẳng việc gì mà phải giữ nguyên "born" nếu không dịch được sát nghĩa.
Fox
24-04-06, 21:01
Thôi các bác đổi đề tài nhé, dúp dập em cái này với. Chả là con bẹn em nó đang làm dự án gì ấy liên quan đến sông Mê Kông. Nó biết nhiều thứ tiếng, giỏi nhất là tiếng Phần Lan, quê nhà nó, tệ nhất là tiếng Việt (mỗi từ "Cáo" là tên em, em dạy nó, thì nó nói được). Em các bác thì chỉ biết tiếng Mỹ, tiếng Úc mới lị Niu Zi Lần, chứ tiếng Anh thì còn vất vả lắm, bèn bôi lên đây tranh thủ các bác phát.



Analysis
The infilling of the first cascade dam in the Upper Mekong, Manwan Dam, caused water levels to fall to record lows in various parts of the Mekong River in 1992. Further analyses of the water levels and discharge by the model of Indicators Hydrological Alteration (IAH) at two gauging stations: Chiang Saen and Chiang Kong, close to the Chinese dams on the Lower Mekong River, have indicated that the water levels and discharge were significantly lower in the dry seasons (1-, 3- and 7-day minima) in the post-dam period (1992-2003) than in the pre-dam period (1962-1991). However, the water levels and discharge in the wet seasons (1-, 3- and 7- day maxima) were marginally higher in the post-dam period, and the monthly mean values averaged over the entire pre- and post- dam periods remained almost the same.
Discussion
These results together with the information of the high frequency of water fluctuations, could propose that such changes are possible consequences of the Manwan Dam. If the reduction in the low water level and discharge was indeed attributed to the Manwan Dam, it is different from what was expected from a hydropower dam. For example, the hydropower releases water in the dry season and stores water in the wet season, which would increase monthly flows in the dry season, and decrease flows during the flooding season. Uncertainties in the analysis remain due to the move of the gauging site in 1992, same year as the Manwan Dam infilling, in Chiang Saen, the poor rating curves of the water levels and discharge, and the shorter data series of the post-dam period.
Fox
24-04-06, 21:03
Thôi các bác đổi đề tài nhé, dúp dập em cái này với. Chả là con bẹn em nó đang làm dự án gì ấy liên quan đến sông Mê Kông. Nó biết nhiều thứ tiếng, giỏi nhất là tiếng Phần Lan, quê nhà nó, tệ nhất là tiếng Việt (mỗi từ "Cáo" là tên em, em dạy nó, thì nó nói được). Một cuốn sách in ra bằng nhiều thứ tiếng trong đó có tiếng Việt là việc nó đang làm. Nó nhờ em dịch sang tiếng Việt, em đành phải nhắm mắt đưa chân. Em các bác thì chỉ biết tiếng Mỹ, tiếng Úc mới lị Niu Zi Lần, chứ tiếng Anh thì còn vất vả lắm, bèn bôi lên đây tranh thủ các bác phát.



Analysis
The infilling of the first cascade dam in the Upper Mekong, Manwan Dam, caused water levels to fall to record lows in various parts of the Mekong River in 1992. Further analyses of the water levels and discharge by the model of Indicators Hydrological Alteration (IAH) at two gauging stations: Chiang Saen and Chiang Kong, close to the Chinese dams on the Lower Mekong River, have indicated that the water levels and discharge were significantly lower in the dry seasons (1-, 3- and 7-day minima) in the post-dam period (1992-2003) than in the pre-dam period (1962-1991). However, the water levels and discharge in the wet seasons (1-, 3- and 7- day maxima) were marginally higher in the post-dam period, and the monthly mean values averaged over the entire pre- and post- dam periods remained almost the same.
Discussion
These results together with the information of the high frequency of water fluctuations, could propose that such changes are possible consequences of the Manwan Dam. If the reduction in the low water level and discharge was indeed attributed to the Manwan Dam, it is different from what was expected from a hydropower dam. For example, the hydropower releases water in the dry season and stores water in the wet season, which would increase monthly flows in the dry season, and decrease flows during the flooding season. Uncertainties in the analysis remain due to the move of the gauging site in 1992, same year as the Manwan Dam infilling, in Chiang Saen, the poor rating curves of the water levels and discharge, and the shorter data series of the post-dam period.

Cái đoạn em bôi đậm đấy các bác ợ, banana quá.
Quan Nhân
25-04-06, 00:14
infilling: đưa vào sử dụng (em không chắc lắm)

Uncertainties in the analysis remain due to the move of the gauging site in 1992, same year as the Manwan Dam infilling, in Chiang Saen, the poor rating curves of the water levels and discharge, and the shorter data series of the post-dam period.

Những chi tiết không đáng tin cậy tồn tại trong bản phân tích có nguyên nhân vì sự dịch chuyển của khu vực quan trắc ở Chiang Saen vào năm 1992, cùng năm đó Đập Manwan??? được đưa vào sử dụng, những đường đồ thị đánh giá sơ sài về mực nước và lưu lượng xả, và chuỗi số liệu ngắn hơn trong giai đoạn sau khi có đập.
Mecado
25-04-06, 01:02
infilling: đưa vào sử dụng (em không chắc lắm)

Uncertainties in the analysis remain due to the move of the gauging site in 1992, same year as the Manwan Dam infilling, in Chiang Saen, the poor rating curves of the water levels and discharge, and the shorter data series of the post-dam period.

Những chi tiết không đáng tin cậy tồn tại trong bản phân tích có nguyên nhân vì sự dịch chuyển của khu vực quan trắc ở Chiang Saen vào năm 1992, cùng năm đó Đập Manwan??? được đưa vào sử dụng, những đường đồ thị đánh giá sơ sài về mực nước và lưu lượng xả, và chuỗi số liệu ngắn hơn trong giai đoạn sau khi có đập.

+ Dùng nhiều nghĩa ở đây thiên về nghĩa " đưa vào hoạt động"
+ Manwan Dam cùng với Dachaoshan đập lớn nhất của Trung Quốc (hay dùng là nhà máy thủy điện). Trung Quốc đã bị nhiều tổ chức bảo vệ môi trường phê phán vì xây dựng hai con đập khổng lổ này để xây nhà máy thủy điện đã làm ảnh hưởng nặng nề tới hệ sinh thái của lưu vực sông Mê Kông

PS: Gấu tinh dịch ra hhangf đầu đâu vào dịch cho em nó cái này.
Hạt mít
25-04-06, 02:47
- "Uncertainties" theo tớ hiểu là những điều không chắc chắn.
- Hình như tiếng Việt dùng là "có nguyên nhân từ" thay vì dùng "có nguyên nhân vì".
Quan Nhân
25-04-06, 05:14
Cái chỗ anh đánh dấu ??? là vì không biết phiên âm tiếng Việt của Manwan là gì?

Uncertainties nghĩa tra từ điển là những điều không chắc chắn, nhưng trong 1 báo cáo phân tích thì nên hiểu là những phần không đáng tin cậy do lỗi về thu thập hay xử lý số liệu, ở phần sau trong bài dịch cũng nói rõ đấy là những lỗi nào rồi đấy.

Cứ dịch thế đi rồi mọi người vào dịch tinh sau chứ.
Gaup
25-04-06, 05:31
Mãn Loan - Đại Chiếu Sơn
Mio
25-04-06, 14:20
Uncertainties in the analysis remain due to the move of the gauging site in 1992, same year as the Manwan Dam infilling, in Chiang Saen, the poor rating curves of the water levels and discharge, and the shorter data series of the post-dam period.

Bản phân tích còn nhiều vấn đề chưa được xác định vì 3 lý do*, thứ nhất do sự thay đổi vị trí của khu vực quan trắc năm 1992, cùng năm đó đập Mãn Loan (@Gaup) được đưa vào hoạt động, thứ hai do phần đồ thị sơ sài biểu diễn mực nước và lượng xả, và thứ ba/cuối cùng do những nhóm số liệu còn sơ sài hơn trong giai đoạn sau đó.

* Trong những câu phức tạp như này, em nghĩ ta nên liệt kê rõ để các lý do nổi lên rõ ràng, khỏi bị lẫn khi thông tin của mỗi lý do quá dài.
Quan Nhân
25-04-06, 15:03
Sửa lung tung quá, khi đánh giá định tính người ta không dùng từ "chưa được xác định" mà dùng từ "không đáng tin cậy". Tức là bản báo cáo đã đưa ra kết luận về 1 vấn đề gì đó, nhưng tính chính xác của kết luận đó không được đảm bảo do sai sót khi lấy mẫu hoặc phân tích không theo quy trình.

Ví dụ ở đây lý do thay đổi vị trí của khu vực quan trắc liên quan đến sai sót lấy mẫu vì trước năm 1992 lấy mẫu ở 1 ví trí khác, từ năm 1992 lại lấy mẫu ở 1 khu vực khác không phải là khu vực đã lấy mẫu trước năm 1992, như vậy không đảm bảo chính xác được khi so sánh tác động của hoạt động của đập với toàn bộ khu vực nói chung.

Những đồ thị sơ sài biểu hiện mực nước và lưu lượng xả làm số liệu quan sát không đầy đủ đảm bảo có kết luận chính xác. Ví dụ người ta thấy cần quan sát ở ít nhất 10 địa điểm thì kết luận mới đủ tính đại diện thì người phân tích lại chỉ lấy mẫu ở có mỗi 1 địa điểm thôi, thế là sơ sài.

Chuỗi số liệu thời gian là 1 phương pháp hay được dùng trong đánh giá định tính tác động của 1 hoạt động. Người ta lấy số liệu định kỳ theo 1 khoảng thời gian nhất định (1 tháng, 3 tháng hoặc 1 năm) trong 1 giai đoạn thời gian cả trước và sau khi có hoạt động để rút ra quy luật, sau đấy mới xác định tác động của hoạt động. Thông thường nếu lấy chuỗi số liệu thời gian thì phải cân đối, ví dụ nếu lấy chuỗi số liệu với mốc là năm 1992 (năm đập bắt đầu hoạt động) thì phải lấy 30 năm trước và 30 năm sau năm 1992. Ở đây chỉ lấy 30 năm trước và 12 năm sau, nên kết luận mới không đáng tin cậy là vì thế.
Mio
25-04-06, 15:18
OK bác QN, "Bản phân tích còn nhiều nghi vấn/kết luận chưa đáng tin cậy...". OK luôn cả những vấn đề đồ thị và chuỗi số liệu/thời gian etc.

Em chỉ muốn làm tốt hơn cái flow của cả câu thôi. Từ ngữ em để bác.

:)
Fox
25-04-06, 20:18
Cám ơn Quan Nhân. Bác em dịch đúng dồi, nhưng còn hơi khó hiểu tí chút với quốc dân đồng bào. Phần phân tích của bác giúp em hiểu rõ từ discharge và việc lấy các dữ liệu đã đề cập trong bài. Mio có ý kiến để dịch hay, và nghe trơn tru thế là rất hợp lí, cảm ơn!.



Manwan Dam cùng với Dachaoshan đập lớn nhất của Trung Quốc (hay dùng là nhà máy thủy điện). Trung Quốc đã bị nhiều tổ chức bảo vệ môi trường phê phán vì xây dựng hai con đập khổng lổ này để xây nhà máy thủy điện đã làm ảnh hưởng nặng nề tới hệ sinh thái của lưu vực sông Mê Kông

Bác Mêcađô này, tại sao ta không mở topic nghiên cứu về bá quyền của Trung Quốc ở thượng nguồn sông MêKông với các quốc gia ở hạ lưu sông như Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia nhỉ? Em nghĩ, có nhiều điều để bàn đấy.


Gấu tinh dịch gia: Mãn Loan - Đại Chiếu Sơn

Bác Gaup có thể cho em biết tại sao bác có thể phiên ra tiếng Việt? Cơ sở nào, có nhất thiết phải biết tiếng Trung không? Em gặp nhiều trường hợp cứ phải đi hỏi người biết tiếng Trung, kiểu như Tin Hou (Thiên Hậu), Fou Kien (Phúc Kiến), hoặc ngược lại Tống (Song), Nguyên (Yuan), Minh (Ming), Thanh (Qing)????
Gaup
25-04-06, 20:41
Có cái phần mềm quy phiên âm Hán việt đấy bác em. Bác oánh vào chữ Hán nó phọt ra phiên âm Việt, tuy thế tiếng Việt đôi khi cùng một từ Hán lại có đôi ba cách đọc khác nhau cùng nghĩa, chủ yếu là do thanh âm chỉnh để đọc cho thuận miệng.
Gaup
25-04-06, 20:43
À quên, đôi khi chẳng cần phải biết tiếng Trung, bác em cứ gúc cái ra ngay...ví dụ bác em gúc

manwan việt

thì sẽ phòi ra những trang tiếng việt có từ manwan, kiểu gì chẳng có phiên âm phỏng ạ.
daysleeper
26-04-06, 14:59
Các bác cho em hỏi dịch đoạn sau như thế nào ạ, những chỗ em đánh đậm

The growth factor measures the changes in operating income attributable to change in sales quantity. The analysis is similiar to the analysis of quantity (effeciency) variance for a direct materials (direct labor) variance. As sales quantities changes, both sales revenues and operating costs change and the change in operating income is a result of the changes in the sales revenue and operating costs. The net effect of growth on the operating income is the combined growth effects of sales revenue and operating costs.

Em lăn tăn nhất là cái từ effect, không biết dịch sao cho thuận rồi cả: revenue effect of growth, cost effect of growth. Cảm ơn các bác bớt chút thì giờ ngó qua cho em.
Quan Nhân
27-04-06, 17:34
Bác Gấu trym teo chuyên dịch về business không vào giúp em nó, em lại lăn vào trước vậy, bác tinh dịch sau.

The net effect of growth on the operating income is the combined growth effects of sales revenue and operating costs.

Tác động thực của tăng trưởng đối với thu nhập kinh doanh là tác động kết hợp của tăng trưởng đối với doanh thu bán hàng và đối với chi phí kinh doanh.
daysleeper
28-04-06, 10:20
Dạ em dịch cũng chẳng khác gì bác Quan Nhân nhưng cũng cảm ơn bác vén tay áo type cho em mấy dòng an ủi.
dao_hoa_daochu
28-04-06, 14:23
The net effect of growth on the operating income is the combined growth effects of sales revenue and operating costs.
"Kết quả tăng thu nhập trước thuế là kết quả kết hợp của sự tăng doanh thu và chi phí."
daysleeper
28-04-06, 16:00
"Kết quả tăng thu nhập trước thuế là kết quả kết hợp của sự tăng doanh thu và chi phí."
Dạ em kết nhất là từ kết của chị Đào ạ, kết quá đi mất :winkwink:
Quan Nhân
28-04-06, 16:14
Bạn daysleeper cho hỏi ở đoạn trước đoạn bạn cần dịch có phần nào nữa nói về growth không, theo tớ hiểu thì growth này có thể nói đến sự tăng trưởng nào đấy đã được đề cập trước đó. Cụm từ dùng ở đây là effect of growth on smt, thông thường nếu muốn dịch là tăng 1 cái gì đó thì cụm từ hay được dùng là growth of/in smt chứ không thể là growth on smt, nên hiểu ở đây on được dùng là effect (of growth) on smt. Như vậy Đào dịch là kết quả tăng thu nhập, kết quả tăng doanh thu và chi phí có vẻ không ổn.
Gaup
28-04-06, 21:09
On đấy là đúng rồi. Cái net growth của Operating income là combined growth của revenue và cost. Cái net growth này có thể là âm nếu cost lớn hơn revenue. On đấy là vì net growth là effect của combined growth kia lên (on) operating income.
Mime
29-04-06, 15:46
Có cái phần mềm quy phiên âm Hán việt đấy bác em. Bác oánh vào chữ Hán nó phọt ra phiên âm Việt, tuy thế tiếng Việt đôi khi cùng một từ Hán lại có đôi ba cách đọc khác nhau cùng nghĩa, chủ yếu là do thanh âm chỉnh để đọc cho thuận miệng.

Cho em hỏi cái phần mềm ấy là phần mềm gì thế? Chính ra anh Gấup đầu tư làm một quả từ điển phiên âm các từ Hán-Anh-Việt thì hay nhỉ. Tiếng Tàu viết theo bảng chữ cái Latin chuyển sang tiếng Việt chẳng biết đường nào mà lần, nhớ được cái nào thì nhớ thôi, rất thủ công.
Mime
30-04-06, 19:52
Cho em hỏi Assay-master là chức gì các bác ơi? Giáo sư thí nghiệm? nghe quái nhỉ
Mime
30-04-06, 22:11
à quên, cái phần mềm và cách tìm phía trên em đã tự tìm được rồi.
Thi
01-05-06, 21:29
- "Uncertainties" theo tớ hiểu là những điều không chắc chắn.
- Hình như tiếng Việt dùng là "có nguyên nhân từ" thay vì dùng "có nguyên nhân vì".

Uncertainty : Độ không đảm bảo

(Các tài liệu của Cục đo lường chất lượng dịch vậy)
daysleeper
05-05-06, 13:33
Tks bác Gaup với bác Quan..
Em có thêm mấy từ về thống kê nhưng lâu không động đến quên sạch tiếng Việt gọi là thế nào, mấy bác giúp em với ạ.
Normal distribution
Linear trend
Variation/Variability
Quan Nhân
06-05-06, 07:35
Normal distribution: phân phối/bố chuẩn
Variation/variability: sự/độ biến thiên
Fox
16-05-06, 20:28
Hỏi ý kiến các bác tiếp!

Bài viết này là về Tôn giáo Mỹ thế kỉ XX

Em type cả đoạn ra đã, chuẩn đấy các bác ợ.

In 1993 Congess passed the Religious Freedom Restoration Act to require "strict scrutiny" of any state or federal law that conflicts with the free exercise of religion. The supreme court struck down this act in 1997 (in a case involving city zoning laws and a church;s renovation plans), asserting that Congress had overstepped its authority and that the act violated the separation of powers in the federal goverment. Since then several states have passed or introduced bills for state religious freedom restoration laws. The second set of battles in the courts centers around the religious establishment clause. Since the 1960s "no establishment of religion" has been interpreted by many as requiring a strict "separation of church and state". The separation of church and state argument has been levied against traditional Christianity in particular.

Cái đoạn em bôi đậm ấy, khó dịch ra tiếng Việt một cách dễ hiểu với quốc dân đồng bào quá. Mong các bác giúp một chân. Em cảm ơn trước!
Gaup
16-05-06, 20:57
Bác Fox chắc biết hay chắc không biết chữ establish còn có một nghĩa này, em copy ra từ Webster.

6 : to make (a church) a national or state institution

"no establishment of religion" sẽ dịch là nguyên tắc không đưa/biến/thu nạp/hội nạp/kết nạp/... tôn giáo vào quản lý nhà nước...nói đơn giản là sẽ không có quốc giáo, quốc đạo - có tức là chấp nhận tôn giáo có vai trò trong quản lý nhà nước.

đã được nhiều người diễn giải là đòi phải có một sự tách biệt hoàn toàn nhà nước với tôn giáo. Tranh luận về việc tách biệt nhà thờ với nhà nước đã được dùng đặc biệt để nói đến Thiên Chúa giáo truyền thống.
Gaup
16-05-06, 21:02
Ờ quên nói đến chiện này lại nhớ đến ngày xưa em hay đi đố gái từ nào dài nhất tiếng Anh...gái chịu em bảo cho biết là từ này...

antidisastablishmentarianism

gái phục lắm

nhiều năm em cũng không biết cụ thể nghĩa từ này là gì, chỉ biết có liên quan đến việc chống lại nhà thờ trở thành quốc đạo...nhân hôm nay bác hỏi em mới đi tra thì thấy nghĩa đây:

A word used to describe people who are oppsed to the Church of England (founded by Henery the 8th) being the default state church.

http://www.urbandictionary.com/define.php?term=antidisastablishmentarianism
Fox
30-06-06, 19:45
Em phân vân quá, chã biết từ myth ở đây thì nên dịch thế nào là hay nhất, sách xuất bản đến đít rồi. Cứu iem....

THE MODERN MYTHS OF THE MEKONG: PREFACE


The modern world is equally governed by various myths, as were the ancient times to which we usually associate the term myth. The myths are of course volatile and domain specific, but we seem to need "simple truths" that help in understanding the world of extreme complexities, and above all, in making actions in a coordinated way. Whereas such myths often are helpful and pragmatic, they may sometimes also distort our actions and the whole world view as they are very simple projections of a complex entity. Policies and agendas related to development, environment, etc., are exposed to various myths like most human activities. The aim of this volume is to take a closer look to a collection of crucial development concepts on the Mekong River in Southeast Asia that we see as modern myths and go beyond their interface.
This publication is one of the outcomes of a 3-year (2005-2007) research project which analyses Integrated Water Resources Management (IWRM) in the Mekong River Basin. The concept of IWRM has been strongly endorsed by the United Nations (UN) and other important international actors during the past several years.
Gaup
30-06-06, 20:06
huyền thoại
Fox
30-06-06, 20:22
Híc, em vẫn dịch là Bí ẩn, tài liệu này toàn điều tra khoa học tự nhiên về các nguồn nước cũng như những xung đột quanh nó, dịch là huyền thoại nghe văn nghệ quá chăng bác em?

Thôi bác gật đầu là "bí ẩn" đi cho em yên tâm
Gaup
30-06-06, 20:29
Chẳng có gì bí ẩn, ngay đọan đầu đã nói rõ nó là huyền thoại...thế giới hiện đại cũng bị chèo kéo bởi rất nhiều huyền thoại, giống như thời cổ đại là thời mà chúng ta thường gắn với khái niệm huyền thoại.

Em lắc luôn cho bác em mất ngủ.
hohuong
21-08-06, 14:15
Giúp em cái, các bác. Đây là summer assignment của em đấy. Có một số chỗ em chả biết dịch là cái gì cả, thậm chí là còn chả hiểu tác giả muốn nói gì. Các tinh dịch gia đang ở đâu thì về giúp em một tay nhá! Những chỗ in đậm và nghiêng là những chỗ có vấn đề đó ạ.

JetBlue Airways: Starting With Fresh DNA
When David Neeleman launched JetBlue Airways in February 2000, he knew that he was entering into dangerous territory, a landscape that had claimed the lives of a number of ambitious new entrants: Kiwi International Airlines, People Express, and Tower Air, to name a few. He thought that he had figured out a unique way to fill a niche left empty by the big air carriers -- low-cost, high-touch service for harried travelers. But nothing could have prepared Neeleman for the events of September 11 or for their impact on the airline industry. Suddenly, he was operating on pure instinct.
Neeleman's first response was to buck the industry trend. He vowed not to lay off any of the airline's 2,000 employees, even though its planes, in the first weeks after they resumed service, were flying mostly empty to 17 cities from JetBlue's home base at John F. Kennedy International Airport. Neeleman's second big decision was about how to talk to his customers -- New Yorkers, who were the nation's most deeply affected fliers. In the wake of September 11, Neeleman knew that he had to adapt his marketing message. But what should JetBlue say?
In times of crisis, companies tend to fall back on their habitual patterns of behavior. Top-down hierarchies look for one decisive leader -- an approach that can be useful for managing certain operational matters, such as recovering airplanes that are stranded at airports around the country. JetBlue's ability to adapt is rooted in its small size and its focus on teamwork. In this crisis, Neeleman's team rallied together to locate the emotional center of its new marketing strategy.
Neeleman first tried drafting a personal letter that would run as a full-page ad. But he was vetoed by his team, who felt that the message was too self-conscious. Instead, JetBlue ran an ad that told its customers, We know you need time to heal. JetBlue will be here when you're ready to fly again.
Other carriers were urging Americans to shake off their fear of flying. "We really did not want to go down the path of, 'Get America moving again' or 'Get on board. It's important to show bin Laden we're not afraid to fly,' " says Amy Curtis-McIntyre, JetBlue's vice president of marketing. "That resonates in a lot of other parts of the country, but it just didn't feel right for New York. The worst thing that we can do right now is make a mistake. Being quiet is not necessarily a bad thing."
It was a lesson in restraint for Neeleman, a driven, hands-on entrepreneur who felt that the time was right to market JetBlue's low fares. "I'm being totally deferential and patient," Neeleman says, "because I think the situation demands it. I have to trust the instincts of the people around me."

JetBlue Airways: Starting With Fresh DNA
Khi David Neeleman thành lập hãng hàng không JetBlue Airways vào tháng 2 năm 2000, anh biết rằng mình đang dấn thân vào một chốn nguy hiểm, một lĩnh vực đã hạ gục không ít hãng hàng không non trẻ và tham vọng như Kiwi International Airlines, People Express, and Tower Air, đó mới chỉ là một vài ví dụ. Anh cho rằng mình đã tìm được một phương thức độc nhất vô nhị để chiếm lĩnh một thị trường ngách mà các hnãg hàng không lớn đang để ngỏ, một dịch vụ rẻ và chu đáo cho những harried travelers. Nhưng Neeleman không thể ngờ tới những sự kiện trong ngày 11 tháng 9 và ảnh hưởng của chùng đối với ngành hàng không. Trong phút chốc, anh phải điều hành công việc kinh doanh của mình hoàn toàn bằng bản năng.
Phản ứng đầu tiên của Neeleman là kháng cự lại với xu hướng chung của ngành hàng không. Anh thề là sẽ không cho nghỉ việc tạm thời bất kì ai trong số 2.000 nhân viên trong hãng của mình, mặc dù trong những tuần đầu tiên mở cửa trở lại, các máy bay hầu như phải bay không có khách tới 17 thành phố từ trụ sở của JetBlue ở sân bay JFK. Quyết định lớn thứ hai của Neeleman là nói như thế nào với khách hàng của mình, những người dân New York, những khách hàng bị ảnh hưởng nhiều nhất trên toàn quốc. Sau sự kiện 11 tháng 9, Neeleman hiểu là anh phải hiệu chỉnh thông điệp tiếp thị của mình. Nhưng JetBlue phải nói gì?
Khi xảy ra khủng hoảng, các công ty thường hành động theo thói quen. Những công ty có hệ thống cấp bậc từ thấp đến cao (Top-down hierarchies) thường tìm kiếm một lãnh đạo có khả năng ra quyết sách. Đây là một phương pháp có thể có ích trong một số trường hợp nhất định, kiểu như phục hồi lại các máy bay đang bị kẹt tại các sân bay trong nước. Khả năng thích nghi của JetBlue nằm ở chính quy mô nhỏ và mục tiêu làm việc theo nhóm của hãng này. Trong cơn khủng hoảng này, các nhân viên của Neeleman đã cùng hợp lực để tìm ra cốt lõi (the emotional center) của chiến lược tiếp thị mới cho hãng.
Đầu tiên, Neeleman thử soạn thảo một bức thư cá nhân dự kiến sẽ được đăng thành một trang quảng cáo. Nhưng bức thư này đã bị các nhân viên của anh bác bỏ bởi họ cho rằng thông điệp đó quá e dè. Thay vào đó, quảng cáo của JetBlue nói với khách hàng của mình rằng: "Chúng tôi biết phải có thời gian để chữa lành vết thương. JetBlue sẽ có mặt tại đây khi bạn đã sẵn sàng bay trở lại."
Trong khi đó, các hãng hàng không khác đều ra sức thúc giục người dân Mĩ vượt qua nỗi sợ đi máy bay. Amy Curtis-McIntyre, phó giám đốc tiếp thị của JetBlue nói: "Chúng tôi thực sự không muốn đi theo những con đường mòn kiểu như: 'Get America moving again' hay 'Hãy lên máy bay. Cần phải cho Bin Laden thấy là chúng ta không sợ đi máy bay.' Điều này làm rung động người dân trên rất nhiều vùng trong nước nhưng lại không phù hợp chút nào với New York. Điều tồi tệ nhất mà chúng tôi có thể mắc phải là phạm vào một lỗi nào đó. Im lặng không phải lúc nào cũng là một điều dở."
Đây là một bài học với riêng Neeleman (It was a lesson in restraint for Neeleman), một thương gia thực tế và ... (a driven, hands-on entrepreneur), người đã nhận ra rằng đã đến lúc tiếp thị giá vé thấp của JetBlue. "Tôi đang hoàn toàn tỏ ra tôn trọng và kiên nhẫn," Neeleman nói, "bởi vì tôi cho rằng tình thế bắt buộc phải như vậy. Tôi phải tin vào bản năng của những người xung quanh mình."
Biển Xanh
22-08-06, 05:52
harried travelers: những khách hàng lắm yêu cầu
Top-down hierarchies: trong lý thuyết quản lý có 2 mô hình quản lý cơ bàn là Bottom - up và top-down. Top -down management là cách thức quản lý truyền thống theo mệnh lệnh từ trên xuống dưới. Còn Bottom - up (còn gọi là mô hình chóp ngược) là cách quản lý hiện đại trong đó luồng thông tin được truyền đạt ngược lại từ cấp thấp lên cấp cao. Hiểu rõ bản chất như vậy em sẽ dễ dịch.
[B]the emotional center: chị không hiểu từ này lắm nhưng không phải là "cốt lõi" như em dịch, từ này chắc phải hỏi anh Gấu.
Get America moving again: đưa nước Mỹ chuyển động trở lại
a driven, hands-on entrepreneur: Một doanh nhân luôn định hướng bằng kinh nghiệm thực tế (hoặc dịch đơn giản là có óc thực tế)
Mặt Má Hồng
22-08-06, 22:21
driven: năng động. Đúng ra "active" mới là năng động. "Driven" có thể dịch thoát là định hướng.

hands-on: xốc vác, hoặc tháo vát (phải thọc tay vào mà làm, chứ không chỉ tay một ngón hay năm ngón)

harry, harried: khó chịu, khó tính, khó làm vừa lòng.

Top-down hierarchies: hệ thống quản lý hàng dọc xuống.

Starting with fresh DNA: khởi đầu bằng (với) nhân tố mới

DNA là cái nhân của từng tế bào sống (cell). Có thể không phải dịch DNA vì nó là chữ quốc tế rồi.

Chữ "marketing" người VN quen dùng là "tiếp thị" (tiếp cận thị trường?) rồi, nhưng chữ "market" thì phải hiểu là thị trường (danh từ) hoặc buôn/bán (động từ)
Gaup
23-08-06, 01:45
Tiếng Việt nói fresh DNA, DNA tươi thì chả ai hiểu nhưng tiếng Việt có thành ngữ tương tự là thay máu, máu mới, dòng máu mới...để nói với ý tương tự. Dịch là Bắt đầu với một bát tiết canh mới chăng?

driven: có chí tiến thủ

Top-down hierarchies: những cơ cấu tổ chức lãnh đạo/quyết định từ trên xuống

the emotional center:: trọng tâm, điểm nhấn nhục cảm, ờ không, cảm xúc/tình cảm.

Ý nói muốn vỗ về khách hàng bằng tình cảm vì họ vừa bị sốc, giờ muốn tìm ra tâm điểm của hướng tiếp cận này là gì, đánh vào đâu tình ái quốc hay là sự sợ đi máy bay.

Get Amelica moving again: Hãy cùng vực nước Mỹ dậy, hãy cùng giúp nước Mỹ dậy mà đi, dậy mà đi hỡi nước Mỹ ơi.

It was a lesson in restraint for Neeleman: đây là một bài học về tính kiềm chế cho...một doanh gia có trí tiến thủ làm nhiều hơn nói...đại loại thế.

Hình như trong mấy chỗ ko đánh dấu đen có mấy chỗ sai.
lamaquen
23-08-06, 07:08
Em các bác tiếng Việt dốt, nên chỉ chờ các bác dịch ra rồi học từ mới :D Nhưng có cái a lesson in restraint thì em hơi băn khoăn, không biết có phải là bài học về kiềm chế không vì em thấy nó không ăn nhập văn cảnh lắm. Theo kinh nghiệm lớp dịch 101, em gúc 1 lúc -tóm lại là vẫn chưa hiểu lắm, nhưng lơ mơ cảm thấy là nên dịch "in restraint" là "trong lúc khó khăn". Đúng không hả các bác?
hohuong
23-08-06, 09:50
Em cảm ơn cả nhà. Bac Gấu em thấy chỗ nào em ko đánh dấu mà sai thì chỉ giùm em luôn với!

@lamaquen: tớ quả thực cũng vẫn lăn tăn với cách dịch là "bài học về kiềm chế", nhwng tớ cũng ko nghĩ là "in restrain" là "trong lúc khó khăn" đâu maquen ạ. restrain là hạn chế, tớ lại nghĩ là ý muốn nói là riêng với Neeleman (trong hoàn cảnh này). Tát nhiên là tớ cũng ko chắc nên mới đánh dấu ở câu này, để tham khảo ý kiến mọi người.
Gaup
23-08-06, 10:42
It was a lesson in restraint for Neeleman, a driven, hands-on entrepreneur who felt that the time was right to market JetBlue's low fares. "I'm being totally deferential and patient," Neeleman says, "because I think the situation demands it. I have to trust the instincts of the people around me."

Bài học về kiềm chế cho một chú giai có chí tiến thủ lúc nào cũng muốn xốc vác công việc...thế nhưng phải biết tự kiềm chế tự chế ngự những ham muốn tột bực của bản thân và chịu tin cảm tính của những người quanh chàng.

Đúng là bọn trẻ cần phải đọc nhiều hơn nữa để có thể liếc qua cái là hiểu người ta nói gì. Anh khuyên nên đọc tiểu thuyết tiếng Anh chừng 200 quyển tự nhiên giỏi ngay.
hohuong
23-08-06, 12:00
ờ, ờ, có lý đấy!
Gaup
23-08-06, 20:05
Lại chả không có lý, lèo, hồi bé anh đi dịch cabin người ta nói vèo vèo mình phải bám sát đít dịch theo thì làm gì có thời gian mà nghĩ em cảm thấy thế này với em nghĩ thế kia mới tại sao cái này ko đúng trong context. Chịu khó đọc nhiều sách nữa đi, dịch và hiểu như thế này thực sự mới chỉ là những bước chập chững vỡ lòng, có thể là khá trong lớp mà muốn giỏi hơn cả dân bản ngữ thì còn phải tốn nhiều cơm gạo lắm.

Bài học đơn giản nhất là đọc nhiều, đọc chừng 30-40 quyển sách bất kỳ, tiểu thuyết là tốt nhất, xong rồi bắt đầu viết lách, viết blog ý, viết xong thì cứ tháng sau lại quay lại đọc và sửa lại những cái mình đã viết. Nói chung cứ phải vui, ko vui ko học được. Đọc nhiều sách chẳng mấy lúc mà thành giỏi mà ko biết là mình đã giỏi vì cái gì đúng cái gì sai nhìn qua biết ngay.
hohuong
24-08-06, 09:28
anh Gấu cho em share blog của anh đc ko?
Gaup
24-08-06, 10:54
Không được em yêu...:)) đừng nhé
hohuong
24-08-06, 12:48
w­hy not? :12:
mdccc
24-08-06, 18:05
anh Gấu cho em share blog của anh đc ko?

Em ạ, người ta đã không cho thì thôi, cần đếch gì . Em vào blog của anh mà xem nhé: 360.yahoo.com/machleo (nick trong yahoo của anh là machleo em ạ) :winkwink:
Trong list bạn anh, ko có cái nick yahoo gaup chêt tiệt của thằng Gấu đâu
Mặt Má Hồng
24-08-06, 21:46
"A lesson in restraint" tui hiểu có nghĩa là một bài học trong (sự) bó buộc, tức là không có nhiều lựa chọn. Đó là bài học buộc phải lấy trong tình huống như vậy.

Ở điểm khác, "resonate" có nghĩa là cộng hưởng, chứ không phải rung động. Rung động chỉ mới là "vibrate". Vibrate tới một tần số chung nào đó thì tạo cộng hưởng, mà khi có cộng hưởng thì có thể tạo lực hoặc hiệu ứng rất lớn, có thể làm xập cầu, đổ buiding.
Gaup
24-08-06, 21:58
Bài học trong sự bó buộc là dịch word 4 word, người Việt đọc chắc chẳng hiểu bởi ai vào lúc nào chẳng có các bó buộc. Bó buộc người Việt hiểu tốt hơn nếu được gọi là các hạn chế. Hạn chế này là hạn chế tự áp đặt như trong câu sau có nói là chú giai này tự tin, quyết đoán, muốn tự làm giờ phải bình tĩnh và tôn trọng cả những suy nghĩ đến từ cảm tính của người khác. Hạn chế ở đây chính là ý kiến của người khác nữa mà thông thường chú này không đủ kiên nhẫn để lắng nghe/làm theo. Như thế là một bài học về tự chế/kiềm chế phỏng ạ?
Mặt Má Hồng
24-08-06, 22:04
Nếu trong bài gốc nó là chữ "of" thay vì chữ "in" thì bác Gaup đúng chăm phần chăm. :)
Gaup
24-08-06, 23:16
Bác em, of hay in em đều đúng. Bác em thử giải thích cụ thể hơn nữa xem khi viết


trong (sự) bó buộc, tức là không có nhiều lựa chọn. Đó là bài học buộc phải lấy trong tình huống như vậy.

là bác em thực ra định nói cái gì em nghe.
Bắc Thần
24-08-06, 23:34
"A lesson in restraint" là bài học về sự kềm chế chứ đồng chí. Hạn chế nghe không xuôi lắm.

Còn "resonate" mà là cộng hưởng á? Có x nào lại thế. Là đồng cảm, thông cảm, liên đới thì đúng hơn.
Gaup
24-08-06, 23:45
Đúng rồi, resonate giống như tiếng tầu nói đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu
5xu
24-08-06, 23:45
Top-down hierarchies: những cơ cấu tổ chức lãnh đạo/quyết định từ trên xuống


Phân cấp theo chiều dọc (phân cấp từ trên xuống dưới).
Gaup
24-08-06, 23:50
Chào bác 5 xu em. Gớm, bác em đi khéo phải gần năm mới thấy lại thăm.

Vấn đề đây cũng không phải là ở chuyện phân cấp - phân cấp là cách nói kiểu Việt Nam nhà mình kiểu như quán triệt, đả thông, vv. Cái ý phân cấp nó là cái ý chia quyền phỏng ạ? Ở đây đâu có nhấn mạnh đến việc chia quyền đâu. Hierarchy phải hiểu như là một hệ thống cơ cấu tổ chức còn ý phân quyền nằm ở trong cái tính từ top-down.
5xu
24-08-06, 23:56
Chào bác 5 xu em. Gớm, bác em đi khéo phải gần năm mới thấy lại thăm.

Vấn đề đây cũng không phải là ở chuyện phân cấp - phân cấp là cách nói kiểu Việt Nam nhà mình kiểu như quán triệt, đả thông, vv. Cái ý phân cấp nó là cái ý chia quyền phỏng ạ? Ở đây đâu có nhấn mạnh đến việc chia quyền đâu. Hierarchy phải hiểu như là một hệ thống cơ cấu tổ chức còn ý phân quyền nằm ở trong cái tính từ top-down.

Đm, mò mãi mới ra cái password để login đấy.

Anh có biết tiếng Anh đ'o đâu. Tại bên viễn thông nó có cái công nghệ tên là Plesiochronous Digital Hierarchy (PDH), dịch ra tiếng Việt là Phân cấp số cận đồng bộ nên anh suy luận là cái Hierachy có nghĩa là Phân cấp. Xong anh ghép với Top-down là trên dưới có nghĩa là hướng từ trên xuống.

Cứ nông dân thế dịch nó mới thoát và nhanh.
Bắc Thần
25-08-06, 00:08
Cứ nông dân thế dịch nó mới thoát và nhanh.

Đúng rồi. Công việc dịch thuật tài liệu khoa học chủ yếu là đơn giản, nhanh, gọn, lẹ để lấy tiền thôi chứ ai đâu rỗi hơi ngồi phân tích như Gaup công tử thế kia. Dân không phải khoa học thì giảng cách mấy chúng nó cũng x hiểu. Dân khoa học thực sự thì lấy bản gốc đọc thấy còn nhập vào đầu lẹ làng hơn.

"Cây đẩy da" là cây gì thế hả đồng chí? Dùng để đẩy da kia có được không?
Gaup
25-08-06, 00:09
Bác em chỉ cần nói một câu anh PhD em có khi vác mẹ cả cái máy tạo password diễn đàn ra tặng luôn cho bác em.

Thể nào giang hồ cũng đang có trò gì đấy xảy ra. Bác 5xu em tự nhiên qua chơi không phải là việc bình thường nhưng chắc không phải là điềm gở. :))
Gaup
25-08-06, 00:11
Bác em, phân tích nói từng bước một thì nghe dài chứ khi mà đã làm thành quen thì cứ thế mà xúc thôi chứ đâu có phải lần từng bước một. Giống hệt như ấy, thuộc bài rồi thì chỉ 2 phút là đã có thể lăn ra ngủ được rồi không như hồi trẻ đánh vật suốt cả đêm mà chả ăn thua.
Naruto
25-08-06, 00:12
Anh thật, Gấu già nhiều lúc kĩ quá thành ra lắm nhọt. Thoang thoáng như 5xu là được rồi.
Gaup
25-08-06, 00:25
Kỹ cái đ gì bác?
Mặt Má Hồng
25-08-06, 00:37
Resonate ở đây (trong văn cảnh này) dịch là đồng cảm hoặc cùng chia sẻ là hợp lý. Cộng hưởng có vẻ khô khan và vật lý quá!

Về nhóm chữ "lesson in restraint" hiểu restraint là kiềm chế thì đúng, nhưng hạn chế hoặc tự kiềm chế là chệch nghĩa. Vì restraint là hạn chế, là giới hạn nhưng có thêm một phần của sự ép buộc, và nó không có chữ self- ..., tức là tự ... Câu "It was a lesson ..." là câu diễn đạt cho đoạn trên của bài để rồi dẫn tới đoạn sau của câu. Ở đây sự kiềm chế hay bó buộc là không làm gì cả, không nói, không hô hào gì cả, bởi vì đôi khi làm cái gì đó lại là rách việc. Vậy thì với ông anh năng nổ này bây giờ phải kiên nhẫn, lễ phép, nhã nhặn ("deferential and patient") là một điều bắt buộc vì tình huống nó thế ("situation demands it").
Gaup
25-08-06, 00:56
Vầng, như thế là kiềm chế. Phải em nói thế từ đầu không?

Kiềm chế đã là tự hạn chế rồi, làm gì có tự kiềm chế nữa bác em. Có từ tự chế cũng có nghĩa như thế. Đâu phải lúc nào cũng phải có self mới là tự?

Trong này có bác nào (bác Bắc) là người Công giáo ở Mỹ không cho em hỏi nhanh một tí từ tiếng Việt dịch ra tiếng Anh là gì với.
Mặt Má Hồng
25-08-06, 01:12
Khồng, kiềm chế là kiềm chế, hạn chế là hạn chế, tự kiềm chế là tự kiềm chế, tự hạn chế là tự hạn chế chứ bác! Làm sao có chuyện kiềm chế nghĩa là tự hạn chế được. Tiếng Việt lẫn tiếng Anh đều có "tự kiềm chế" bác ạ.

Về chuyện "lesson in restraint" thì bác đúng chưa đủ một chăm phần chăm. Tui có nói bác sai đâu. :)
Gaup
25-08-06, 01:18
Các bác giúp em:

Chưởng Ấn
Thừa Tác Viên Trao Mình Thánh
Hội Đồng Mục Vụ (Pastoral council?)

Diocese và archdiocese khác nhau thế nào (cái đầu là giáo phận)
Giáo luật: catechism hay gì đó

Hội thánh
Cử hành phụng vụ
Ánh sáng tin mừng (gospel light?) người catholic có dùng chữ gospel không?
Gaup
25-08-06, 01:26
Bác em, tiếng Việt và tiếng Anh có những thứ tự mà bên kia không có hoặc không dùng phổ biến bằng nên khi dịch phải thay đổi cho phù hợp. Những từ kiểu tự sướng, tự nhủ, tự hào, tự mãn, tự gắng, tự động, tự kỷ, tự tôn, tự tử, vv không phải cái nào trong tiếng Anh cũng có từ self. Nếu mà bác em cãi lại là cái nào trong số những từ trên kia cũng có thể nói với từ self thì em cũng nói lại là tất cả những động từ hay tính từ dạng transitive đều có thể gắn chữ self vào cho có nghĩa.

Kiềm chế đã có nghĩa là tự hạn chế, hold back, tự kiềm chế là cách nói thừa. Nếu mà nói về người khác thì có thể nói khống chế, hạn chế, chế ngự...bác nghe ai nói em đã kiềm chế không cho anh ý kum bao giờ chưa?

Em nói kiềm chế từ đầu bác em bảo ko phải vì ko có chữ self hay trong khó khăn gì đó phỏng ạ?
Bắc Thần
25-08-06, 01:29
Trong này có bác nào (bác Bắc) là người Công giáo ở Mỹ không cho em hỏi nhanh một tí từ tiếng Việt dịch ra tiếng Anh là gì với.

Hì hì ... hỏi mỗ về đạo thì có khác nào hỏi dân Tây có thích ăn sầu riêng không rồi. Để ráng thử coi:

Nếu Diocese là giáo phận thì archdiocese chắc là giáo xứ rồi. Chưởng ấn, nếu không phải là linh mục, thì chắc là thầy sáu quá (thường là bị rớt trường đào tạo linh mục, he he ...) Còn Giáo luật nghe lạ quá, chắc là điều răn hội thánh quá.
Gaup
25-08-06, 01:33
Đúng là ông Tây ăn xầu riêng bác Bắc. Giáo xứ là parish. Em vừa gúc thấy cái này là tổng giáo phận, tổng giáo phận khác với giáo phận ở chỗ đứng đầu tổng giáo phận là một Hồng Y thì phải.
Bắc Thần
25-08-06, 01:55
Hic hic... thì mình đã bảo là mình đi nhà thờ để rình xem các em mặc thong và low rider thôi chứ có phải là giáo dân (parishioner) ngoan đạo đâu.

Archbishop là Đức Hồng Y thì phải. Vào trang web của các nhà thờ (trong và ngoài nước đều được vì cả hai dùng chung nhiều từ) và đối chiếu một hồi thì ra ngay đấy mà.
Mặt Má Hồng
25-08-06, 02:08
Chưởng Ấn: chắc là phiên âm từ tiếng Chancelier (Pháp) hoặc Chancellor (Anh), là người đứng đầu một tổ chức nào đó (có thể là chính quyền, một đại học ...). Nếu ở đây là giáo phận thì chức này có thể là hồng y hoặc tổng giám muc.

Hội thánh: the Catholic church

Giáo luật: law of the church

Phung vụ: mass or service

Phúc âm, tin mừng: gospel
Gaup
25-08-06, 02:19
Cảm ơn bác em.

em sửa cái Giáo luật là canon laws
Mặt Má Hồng
25-08-06, 02:36
Bác em, tiếng Việt và tiếng Anh có những thứ tự mà bên kia không có hoặc không dùng phổ biến bằng nên khi dịch phải thay đổi cho phù hợp. Những từ kiểu tự sướng, tự nhủ, tự hào, tự mãn, tự gắng, tự động, tự kỷ, tự tôn, tự tử, vv không phải cái nào trong tiếng Anh cũng có từ self. Nếu mà bác em cãi lại là cái nào trong số những từ trên kia cũng có thể nói với từ self thì em cũng nói lại là tất cả những động từ hay tính từ dạng transitive đều có thể gắn chữ self vào cho có nghĩa.

Kiềm chế đã có nghĩa là tự hạn chế, hold back, tự kiềm chế là cách nói thừa. Nếu mà nói về người khác thì có thể nói khống chế, hạn chế, chế ngự...bác nghe ai nói em đã kiềm chế không cho anh ý kum bao giờ chưa?

Em nói kiềm chế từ đầu bác em bảo ko phải vì ko có chữ self hay trong khó khăn gì đó phỏng ạ?


Tui đồng ý là có những chữ tiếng Việt có "tự ..." mà đối chiếu với tiếng Anh không có "self-..." và ngược lại. Nhưng "kiềm chế" thì không nằm trong trường hợp này. Kiềm chế là một động từ có thể dùng cho cả hai cách chủ động và bị động (active and passive), mình kiềm chế người khác hoặc bị người khác kiềm chế; mình kiềm chế mình thì phải có "self" ở đâu đó.

Theo tự điển Hán Việt thì:

Kiềm chế: kèm căp. "Kiềm" cũng có nghĩa là cái kìm để gắp, cái khóa. Còn "chế" có nhiều nghĩa, nhưng nghĩa gần và hợp lý nhất là cai quản (giống như "control" trong tiếng Anh, bởi vì restraint là control by force).

Trường hợp "em đã kiềm chế không cho anh ấy kum" là chuyện có thể xảy ra. Nghĩa là em kiềm chế anh bằng hành động, bằng bạo lực chứ không phải "em chả, em chả" suốt buổi. Bằng hành động như tạt nước lạnh vào mặt cho nó hạ cơn đi, hoặc bằng lực như búng cho nó xìu xuống v.v. và v.v. đều được gọi là kiềm chế. Bằng như tự kiềm chế thì đúng là cứ kẹp chân cho chặt mà líu lo "em chả em chả" suốt!

Khồng, cái vài phần trăm sai là ở "in" với "of" kia.
Gaup
25-08-06, 03:18
Vậy thì ý bác em dịch ra sao?

Cãi nhau với bác cái này silly em mệt. Em vừa viết thư bảo chú tác giả trả lời hộ cho nhanh.

Bác em đừng chiết tự kiểu đấy vì không phải lúc nào cũng đúng. Ví dụ chữ đáo để chiết tự thành đến đáy chả hiểu dịch ra tiếng Anh làm sao.

Bác tìm cho em một ví dụ khả kính về chữ kiềm chế như là một hành động một kẻ tác động lên kẻ khác đi. Bác tìm được 1 ví dụ em tìm được 500 ví dụ khác nói rằng kiềm chế là một hành động tự áp đặt lên mình.

Thôi, chờ tin tác giả vậy.
Mặt Má Hồng
25-08-06, 03:48
Bây giờ mấy bác thử thông dịch lời một bà cụ đi khám bác sĩ như sau (bà bị bệnh đường ruột):

Tôi thấy nó đau lâm râm chỗ này, đôi lúc lại thấy ê ê chỗ kia, rồi có lúc buồn buồn như chấu cắn! Hôm qua thì nó quặn lại như thắt ấy!
Gaup
25-08-06, 04:11
Xin bà hãy kiềm chế dùng những từ địa phương nếu không tôi sẽ phải đóng đinh liên tục kiềm chế bà xuống ghế này.
emambo
25-08-06, 08:25
hehe bạo lực bạo lực - Hồng "kiềm chế" ảnh đi cưng :)
hohuong
25-08-06, 10:07
các bác, nghị viện và quốc hội có khác nhau không ấy nhỉ?
5xu
27-08-06, 02:38
Chào bác 5 xu em. Gớm, bác em đi khéo phải gần năm mới thấy lại thăm.

Vấn đề đây cũng không phải là ở chuyện phân cấp - phân cấp là cách nói kiểu Việt Nam nhà mình kiểu như quán triệt, đả thông, vv. Cái ý phân cấp nó là cái ý chia quyền phỏng ạ? Ở đây đâu có nhấn mạnh đến việc chia quyền đâu. Hierarchy phải hiểu như là một hệ thống cơ cấu tổ chức còn ý phân quyền nằm ở trong cái tính từ top-down.

Thì dịch ra tiếng Việt thì phải theo kiểu Việt nhà mình chứ sao.

Are you clear? (Đồng chí quán triệt chưa?)

PS: Kiềm chế lạm phát (có tự trong đấy không?)
Gaup
27-08-06, 11:06
Bác em gúc ra cái kiềm chế lạm phát phỏng? Em nói 1/500 rồi.
hohuong
05-09-06, 14:50
junior market phải dịch là cái gì bi giờ các bác, thị trường non trẻ hay thị trường thứ cấp?
Thanks in advance!
NiceT
25-09-06, 23:25
các bác cho em hỏi mấy từ trong bowling, tiếng Việt mình có từ tương đương không ạ?

Spare, Miss, Strike, Double, Turkey, 4th Bagger, ..., Perfect

Thx các bác
awayttvn
25-10-06, 21:52
Bác nào dịch chắc ăn giúp em sang tiếng Anh:

- Trưởng phòng tổng hợp
- Trưởng phòng kinh doanh
- Trưởng phòng tín dụng
- Trưởng phòng giao dịch
- Cán bộ tín dụng
- Nhân viên tín dụng
- Phó giám đốc thường trực

Em cảm ơn.