Sự cáo chung của Lịch sử (bản dịch tạm)

a-tu-la
15-03-06, 15:28
Tác giả: Francis Fukuyama nổi tiếng trên thế giới sau khi công bố bài báo năm 1989 "Sự cáo chung của lịch sử?" (The End of History?). Tính đến nay thấm thoắt đã gần 20 năm, nhưng dường như không có nhiều độc giả Việt Nam biết đến bài báo này, dù một số có thể đã nhiều lần nghe đến cái nhan đề khêu gợi trí tò mò của nó. Giờ đây đọc kỹ lại bài báo, chúng ta thấy có nhiều điểm không đồng ý với tác giả, nhưng giá trị tham khảo có lẽ vẫn còn giá trị. Vậy xin dịch tạm phục vụ đồng bào Việt Nam, mà trước hết là 4C trong Thăng Long.

Ghi chú của dịch giả: Khi dịch xong một lượt, tôi đọc lại tự thấy rất không hài lòng với vốn tiếng Việt của mình. Vậy mong các bác giúp tôi chỉ rõ những đoạn diễn đạt dông dài khó hiểu, hoặc là dịch chưa chính xác, để tôi học hỏi và sửa chữa với tinh thần thực sự cầu thị. Dự định bài này sẽ đuợc gửi cho một tạp chí online phù hợp nào đó



Sự cáo chung của lịch sử?
Francis Fukuyama, The National Interest, Mùa Hè 1989

Khi theo dõi dòng sự kiện trong thế kỷ vừa rồi hay cái gì tương tự, ta khó tránh khỏi cảm thấy một cái gì đó rất căn bản đã diễn ra trong lịch sử thế giới. Năm vừa qua đã chứng kiến biết bao bài viết bình luận về sự kết thúc của cuộc Chiến tranh Lạnh, và về cái thực tế rằng “hoà bình” đã tới với nhiều vùng trên thế giới. Đa số các phân tích này đều thiếu một khuôn khổ lý thuyết rộng lớn hơn để phân biệt cái gì là bản chất và cái gì là vô tình hay ngẫu nhiên trong lịch sử thế giới, và vì thế có thể thấy trước là đều hời hợt. Nếu ông Gorbachev bị tống khỏi Điện Kremlin hay một Ayatollah tuyên bố về thời đại hoàng kim đang mở ra cho một vùng trung tâm ở Trung Đông, thì cũng những nhà bình luận ấy hẳn sẽ bám theo đó mà tuyên ngôn về sự tái sinh của một kỷ nguyên xung đột mới.

Thế nhưng, tất cả những người này đều cảm thấy mơ hồ rằng có một quá trình nào đó to lớn hơn đang vận động, một quá trình tạo ra mối liên kết và trật tự cho những sự kiện nổi bật hàng ngày. Thế kỷ XX chứng kiến thế giới các nước phát triển sa vào một cơn bộc phát bạo lực vì tư tưởng hệ, khi chủ nghĩa tự do bước vào cuộc đấu, trước tiên với tàn dư của chủ nghĩa chuyên chế, rồi thì chủ nghĩa bôn-xê-vích và chủ nghĩa phát xít, và cuối cùng là một chủ nghĩa Mác được cập nhật, mà nó đã đe doạ dẫn tới ngày tận thế cuối cùng với một cuộc chiến hạt nhân. Nhưng cái thế kỷ khởi đầu đầy tự tin vào khúc khải hoàn sau cuối của nền dân chủ tự do phương Tây, vào lúc khép lại, dường như đang lượn trọn một vòng tới điểm mà nó đã bắt đầu: không phải tới điểm “cáo chung của tư tưởng hệ” hay đồng quy của chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội, như được dự đoán trước kia, mà tới sự chiến thắng hào hùng của chủ nghĩa tự do về chính trị và kinh tế.

Khúc khải hoàn lừng lẫy của phương Tây, của ý tưởng phương Tây, thấy rõ ràng trước hết là qua sự suy kiệt tuyệt đối của các hệ thống khác đã từng tồn tại song hành cùng chủ nghĩa tự do phương Tây. Trong thập kỷ vừa qua, đã có những thay đổi hoàn toàn đúng đắn trong môi trường trí thức của hai nước cộng sản lớn nhất thế giới, và những khởi đầu của các phong trào cải cách to lớn tại cả hai nước này. Nhưng hiện tượng này vượt ra ngoài khuôn khổ chính trị cấp cao, và còn có thể thấy qua sự lan toả không cưỡng lại được của văn hoá tiêu thụ phương Tây trong những bối cảnh rất đa dạng, như thị trường của nông dân và những bộ TV màu có mặt khắp nơi ở Trung Quốc, các quán ăn văn phòng và những của hàng may mặc mở ra trong năm ngoái ở Moscow, nhạc Beethoven xâm nhập các cửa hàng băng đĩa Nhật Bản, và nhạc rốc chơi tưng bừng ở những nơi như Prague, Rangoon, và Tehran.

Những gì chúng ta đang mục kích không chỉ đơn thuần là sự cáo chung của cuộc Chiến tranh Lạnh, hay là diễn tiến của một giai đoạn đặc biệt thời lịch sử hậu chiến, mà là sự cáo chung của lịch sử hiểu theo nghĩa: đó là điểm cuối cùng trong sự tiến hoá tư tưởng hệ của nhân loại và sự phổ quát hoá nền dân chủ tự do phương Tây như là hình thức cuối cùng của các chính quyền loài người. Nói như thế không có nghĩa là sẽ không còn các sự kiện để điền vào những báo cáo thường niên về quan hệ quốc tế của tờ Foreign Affairs, bởi vì chiến thắng của chủ nghĩa tự do mới chỉ diễn ra trên lãnh địa tư tưởng và ý thức, mà vẫn còn chưa hoàn thành trong thế giới thực hay thế giới vật chất. Nhưng có những lý do vững chãi để tin rằng đó sẽ là cái lý tưởng thống trị thế giới vật chất trong dài hạn. Để hiểu vì sao lại thế, trước hết chúng ta phải xem xét một số vấn đề lý thuyết liên quan đến bản chất của sự thay đổi lịch sử.
a-tu-la
15-03-06, 15:29
I

Ý niệm về sự cáo chung lịch sử không phải là một sáng tạo mới. Người tuyên truyền nổi tiếng nhất cho nó là Karl Marx, người tin rằng hướng đi của sự phát triển lịch sử là một hướng đi có mục đích được xác định bởi sự tác động qua lại giữa các lực lượng vật chất, và sẽ đi tới điểm cáo chung chỉ khi nó đạt tới một chế độ utopia cộng sản chủ nghĩa, và khi ấy mọi mâu thuẫn trước đó đều được giải quyết. Nhưng khái niệm lịch sử như là một quá trình biện chứng với một khởi đầu, trung gian, và kết thúc lại được Marx vay mượn từ vị tiền bối vĩ đại người Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel.

Không biết là tốt hay xấu, nhưng một phần lớn trong di sản duy sử luận (historicism) của Hegel đã đi vào hành trang trí thức của chúng ta ngày nay. Ý niệm rằng loài người đã trải qua một chuỗi các giai đoạn ý thức nguyên thuỷ trên con đường tiến hoá đến ngày hôm nay, và rằng các giai đoạn này tương ứng với mỗi hình thức tổ chức xã hội, như các xã hội bộ lạc, chủ nô, thần quyền và cuối cùng là bình quân dân chủ, đã trở thành các hình thức không thể thiếu trong hiểu biết của chúng ta về loài người. Hegel là triết gia đầu tiên sử dụng ngôn ngữ của khoa học xã hội hiện đại, mà theo ông con người chỉ là sản phẩm của môi trường xã hội và lịch sử cụ thể xung quanh anh ta, và không phải một tập hợp ít hay nhiều các thuộc tính “tự nhiên,” như các lý thuyết gia về quyền tự nhiên (natural right) trước đó thường chủ trương. Sự làm chủ và chuyển hoá môi trường tự nhiên của con người thông qua việc áp dụng khoa học và công nghệ về nguồn gốc không phải là một khái niệm Mác-xít, mà là một khái niệm của Hegel. Không giống như các nhà duy sử luận sau này, mà tương đối luận lịch sử (historical relativism) của họ thoái hoá thành tương đối luận không một lời giải thích, Hegel tin rằng lịch sử lên đến đỉnh điểm vào một thời khắc tuyệt đối - thời khắc tại đó một hình thức xã hội và nhà nước duy lý, tột cùng dành chiến thắng.

Thật không may cho Hegel là người ta chủ yếu biết đến ông như vị tiền bối của Marx, và thật không may cho chúng ta là rất ít trong chúng ta quen thuộc với các tác phẩm của Hegel một cách trực tiếp, mà chỉ có thể nhìn nó qua lăng kính của chủ nghĩa Mác. Tuy nhiên, tại Pháp, đã có một nỗ lực cứu vãn Hegel khỏi những diễn giải mác-xít về ông, và phục hồi ông như một nhà triết học sáng suốt nhất khi nói về thời đại chúng ta. Trong số các nhà diễn giải Hegel ở Pháp, người vĩ đại nhất chắc chắn là Alexandre Kojève, một người Nga nhập cư xuất chúng, đã thuyết giảng một loạt sê-mi-na có ảnh hưởng lớn lao ở Paris trong những năm 1930 tại Trường Ecole Practique des Hautes Etudes.(1) Mặc dù không nổi tiếng lắm ở Mỹ , Kojève lại có ảnh hưởng to lớn trong đời sống trí thức ở châu Âu. Trong số các học trò của ông, có những người sẽ trở thành ngôi sao rực sáng trong tương lai như Jean-Paul Sartre về cánh Tả hay Raymond Aron bên cánh Hữu. Chủ nghĩa hiện sinh sau Thế chiến II vay mượn rất nhiều phạm trù cơ bản từ Hegel thông qua Kojève.

Kojève đã nỗ lực phục sinh Hegel của Hiện tượng học Tinh thần, Hegel người tuyên bố lịch sử đã cáo chung vào năm 1806. Bởi vì ngay từ khi ấy Hegel đã nhìn thấy trong chiến thắng của Napoleon trước vương triều Phổ tại trận Jena khúc khải hoàn của các lý tưởng Cách mạng Pháp, và sự phổ quát hoá đang tới gần của cái nhà nước đã kết hợp các nguyên lý tự do và bình đẳng với nhau. Kojève, trước thực tế của những sự kiện hỗn loạn xảy ra một thế kỷ rưỡi sau đó, không hề từ khước Hegel, mà nhất quyết cho rằng Hegel đã đúng về bản chất.(2) Trận Jena đánh dấu sự cáo chung của lịch sử bởi vì đó là thời điểm đội tiên phong của nhân loại (một thuật ngữ khá quen thuộc với những người mác-xít) biến những nguyên lý của Cách mạng Pháp thành hiện thực. Dù còn rất nhiều việc phải làm sau năm 1806 -- loại bỏ chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ, mở rộng quyền bầu cử tới người lao động, phụ nữ, người da đen và các chủng thiểu số khác, v.v… -- nhưng các nguyên lý cơ bản của nhà nước dân chủ tự do đã đạt tới đỉnh cao của nó. Hai cuộc thế chiến trong thế kỷ này cùng những cuộc cách mạng và nổi dậy theo sau chúng chỉ đơn thuần là hiệu ứng mở rộng những nguyên lý này về không gian, để đưa những miền đất khác nhau trong nền văn minh nhân loại tiến lên tầm mức của những tiền đồn tiến bộ nhất, đồng thời thúc đẩy những xã hội ở Châu Âu và Bắc Mỹ vốn là đội tiên phong của nền văn minh thực thi chủ nghĩa tự do của họ một cách đầy đủ hơn nữa mà thôi.

Cái nhà nước trỗi dậy vào lúc cáo chung của lịch sử là tự do trong chừng mực nó thừa nhận và bảo vệ quyền tự do phổ quát của con người qua một hệ thống luật pháp, là dân chủ trong chừng mừng nó tồn tại với sự ưng thuận của những người bị trị. Đối với Kojève, cái gọi là "nhà nước nhất thể phổ quát" tìm thấy hiện thân sống động của nó tại các nước Tây Âu thời hậu chiến -- chính xác là những nhà nước mềm dẻo, thịnh vượng, tự thỏa mãn, hướng nội, độ lượng, mà dự án vĩ đại nhất của chúng không gì hào hùng hơn là việc sáng lập khối Thị trường Chung.3 Nhưng điều này đã từng chỉ là niềm kỳ vọng. Bởi vì lịch sử loài người và cuộc xung đột để xác định nên nó dựa trên tồn tại của các “mâu thuẫn”: việc kiếm tìm sự thừa nhận lẫn nhau của con người nguyên thuỷ, biện chứng của ông chủ và nô lệ, sự chuyển hoá và làm chủ thiên nhiên, cuộc đấu tranh cho việc thừa nhận phổ quát pháp quyền, và sự phân đôi giữa người vô sản và nhà tư bản. Nhưng trong nhà nước nhất thể phổ quát, tất cả các mâu thuẫn trước đó được giải quyết và toàn bộ nhu cầu của con người được thoả mãn. Không còn cuộc đấu tranh hay xung đột về những vấn đề “lớn”, và do đó không còn cần những vị tướng hay quan chức; cái còn lại chỉ đơn thuần là các hoạt động kinh tế. Và thực sự thì cuộc đời của Kojève nhất quán với những gì ông rao giảng. Tin rằng sẽ không còn việc cho các triết gia, bởi vì Hegel (được hiểu một cách đúng đắn) đã đạt tới tri thức tuyệt đối rồi, nên Kojève từ bỏ việc dạy học sau khi chiến tranh kết thúc và dành phần đời còn lại của mình làm việc như một viên chức trong Cộng đồng Kinh tế Châu Âu cho đến khi ông mất năm 1968.

Đối với những người cùng thời với ông vào giữa thế kỷ [XX], lời tuyên bố của Kojève về sự cáo chung của lịch sử chắc hẳn phải giống như thứ chủ nghĩa duy ngã kỳ cục điển hình của một anh trí thức Pháp, như đã xuất hiện khi Thế chiến II đang dày xéo nhân loại và vào thời cực điểm của cuộc Chiến tranh Lạnh. Để thấu hiểu vì sao Kojève đã có thể táo bạo kiên trường đến thế trong việc xác quyết rằng lịch sử đã cáo chung, trước tiên chúng ta phải hiểu ý nghĩa của nó trong chủ nghĩa duy tâm Hegel.

(còn tiếp, khá dài)
Cavenui
15-03-06, 15:41
Em chen ngang 1 tẹo: nghe nói là cái NXB gì chỗ bạn bè bác La đang dịch cuốn "The End of History and the Last man" (Hết phim lịch sử và gã đàn ông cuối cùng) của Fukuyama. Không hiểu cuốn này và bài báo này có liên quan gì đến nhau không?
Phương Thảo
15-03-06, 16:38
Thằng La dịch dốt và liều gần bằng thằng Nút. Anh đọc thử mỗi cái paragraph đầu đã thấy sai tùm lum.


Khi theo dõi dòng sự kiện trong thế kỷ vừa rồi hay cái gì tương tự, ta khó tránh khỏi cảm thấy một cái gì đó rất căn bản đã diễn ra trong lịch sử thế giới. Năm vừa qua đã chứng kiến biết bao bài viết bình luận về sự kết thúc của cuộc Chiến tranh Lạnh, và về cái thực tế rằng “hoà bình” đã tới với nhiều vùng trên thế giới. Đa số các phân tích này đều thiếu một khuôn khổ lý thuyết rộng lớn hơn để phân biệt cái gì là bản chất và cái gì là vô tình hay ngẫu nhiên trong lịch sử thế giới, và vì thế có thể thấy trước là đều hời hợt. Nếu ông Gorbachev bị tống khỏi Điện Kremlin hay một Ayatollah tuyên bố về thời đại hoàng kim đang mở ra cho một vùng trung tâm ở Trung Đông, thì cũng những nhà bình luận ấy hẳn sẽ bám theo đó mà tuyên ngôn về sự tái sinh của một kỷ nguyên xung đột mới.


IN WATCHING the flow of events over the past decade or so, it is hard to avoid the feeling that something very fundamental has happened in world history. The past year has seen a flood of articles commemorating the end of the Cold War, and the fact that "peace" seems to be breaking out in many regions of the world. Most of these analyses lack any larger conceptual framework for distinguishing between what is essential and what is contingent or accidental in world history, and are predictably superficial. If Mr. Gorbachev were ousted from the Kremlin or a new Ayatollah proclaimed the millennium from a desolate Middle Eastern capital, these same commentators would scramble to announce the rebirth of a new era of conflict.

Nguồn (http://www.wesjones.com/eoh.htm)


Anh tạm dịch lại:

Theo dõi những dòng sự kiện hay một cái gì tương tự trong vòng một thập kỷ qua, người ta khó lòng tránh khỏi cái cảm giác rằng một cái gì đó hết sức căn bản đã và đang diễn ra trong lịch sử thế giới. Năm qua đã có hàng loạt những bài bình luận về chung cuộc của chiến tranh lạnh và về cái thực tế rằng "hòa bình" dường như đang "bùng nổ" ở rất nhiều nơi trên thế giới. Hầu hết những phân tích này đều thiếu một khung khái niệm rộng hơn để có thể phân biệt được trong lịch sử thế giới cái gì thuộc về bản chất, cái gì chỉ là ngẫu nhiên hoặc tình cờ và do đó những phân tích này đều có thể thấy trước là hời hợt. Nếu như xảy ra chuyện ông Gorbachev bị tống ra khỏi điệm Klemlin hay việc một thủ lĩnh hồi giáo tuyên bố về một thời kỳ hoàng kim sắp đến trên một thủ đô đổ nát tan hoang nào đó ở Trung Đông, thì chính những nhà bình luận ấy sẽ lập tức bám lấy nó để loan báo về sự tái sinh của một kỷ nguyên xung đột mới. (*)

------------------------------------
(*) Chú ý câu cuối là một unreal conditional sentence với hàm ý mỉa mai vì năm 1988 Gorbachev vẫn còn tại vị.
Mecado
15-03-06, 17:14
Em thì cứ dịch mịa nó thế này cho nó thuần Việt:Dịch thuật thì chỉ cần bám ý chứ cần đé,o gì mà cứ bám từ.

Theo dõi những dòng sự kiện và những diễn tiến tương tự trong một thập kỷ qua. Người có liên tưởng tới một chuyện gì đó rất cụ thể, đã và đang diễn ra với lịch sử thế giới. Trong năm vừa qua đã có hàng loạt những bài bình luận về kết cục của chiến tranh lạnh và về một thực tế rằng đấu tranh đòi "hòa bình" dường như đang được dịp "bùng nổ" ở rất nhiều nơi trên thế giới. Hầu hết những phân tích này đều thiếu một cơ sở lý luận sâu, rộng để có thể phân biệt được trong lịch sử thế giới cái gì thuộc về bản chất, cái gì chỉ là ngẫu nhiên và do đó những phân tích này đều có thể thấy là hời hợt thiếu chiều sâu. Giả như xảy ra chuyện ông Gorbachev bị tống ra khỏi điệm Klemlin hay việc một thủ lĩnh hồi giáo tuyên bố về một thời kỳ hoàng kim sắp đến tại một thủ đô đổ nát hoang tàn nào đó ở Trung Đông, thì chính những nhà bình luận ấy sẽ lập tức bấu víu lấy nó để mà tiên đoán về sự hồi sinh của một kỷ nguyên mới với những xung đột mới.


IN WATCHING the flow of events over the past decade or so, it is hard to avoid the feeling that something very fundamental has happened in world history. The past year has seen a flood of articles commemorating the end of the Cold War, and the fact that "peace" seems to be breaking out in many regions of the world. Most of these analyses lack any larger conceptual framework for distinguishing between what is essential and what is contingent or accidental in world history, and are predictably superficial. If Mr. Gorbachev were ousted from the Kremlin or a new Ayatollah proclaimed the millennium from a desolate Middle Eastern capital, these same commentators would scramble to announce the rebirth of a new era of conflict.


------------------------------------
a-tu-la
15-03-06, 17:19
Thằng La dịch dốt và liều gần bằng thằng Nút. Anh đọc thử mỗi cái paragraph đầu đã thấy sai tùm lum.

Anh tạm dịch lại:

Theo dõi những dòng sự kiện hay một cái gì tương tự trong vòng một thập kỷ qua, người ta khó lòng tránh khỏi cái cảm giác rằng một cái gì đó hết sức căn bản đã và đang diễn ra trong lịch sử thế giới. Năm qua đã có hàng loạt những bài bình luận về chung cuộc của chiến tranh lạnh và về cái thực tế rằng "hòa bình" dường như đang "bùng nổ" ở rất nhiều nơi trên thế giới. Hầu hết những phân tích này đều thiếu một khung khái niệm rộng hơn để có thể phân biệt được trong lịch sử thế giới cái gì thuộc về bản chất, cái gì chỉ là ngẫu nhiên hoặc tình cờ và do đó những phân tích này đều có thể thấy trước là hời hợt. Nếu như xảy ra chuyện ông Gorbachev bị tống ra khỏi điệm Klemlin hay việc một thủ lĩnh hồi giáo tuyên bố về một thời kỳ hoàng kim sắp đến trên một thủ đô đổ nát tan hoang nào đó ở Trung Đông, thì chính những nhà bình luận ấy sẽ lập tức bám lấy nó để loan báo về sự tái sinh của một kỷ nguyên xung đột mới. (*)

------------------------------------
(*) Chú ý câu cuối là một unreal conditional sentence với hàm ý mỉa mai vì năm 1988 Gorbachev vẫn còn tại vị.

Công nhận bác Thảo em nhanh tay tinh mắt. Em phục. Em tẩn mẩn dịch bài này mỗi lần trên tàu điện ngầm từ nhà đến trường và từ trường về nhà, để giết thời gian. Về các nhận xét của bác Thảo, em thấy:

- Cái cụm decade bị dịch là thế kỷ công nhận quá chã, chã đến mức có thể không tính đến.

- Cái cụm hòa bình có động từ seems em bỏ qua thế là chưa được. Công nhận sai.

- Cụm conceptual framework dịch sát như bác naturally là first choice, dưng em lại hay quen tay dịch theo kiểu em, kể không sát lắm. Đọc lại thấy cứ dịch sát conceptual như là biến thể của danh từ "khái niệm" thì vẫn trôi chảy. Nên chọn kiểu dịch của bác cũng rất ổn.

- Cụm thủ đô hoang tàn đổ nát phải công nhận bây giờ em mới nhìn thấy cái tính từ desolate. Không biết là bỏ qua lúc nào.

- Cụm Ayatollah thì giống như cụm Sa Hoàng ở Nga cũ, hay Sa-tan ở Ottoman, em không dịch như bác, mà sẽ để nguyên và có chú thích, vì cái ấy là danh từ riêng để chỉ các Hải đăng ở Iran. (cũng như không chơi dịch Sa Sa Hoàng thành Vua Nga)

- Còn câu nói về sự tống khứ anh Góc Ba Chốp thì sẽ phải có chú thích, vì khi viết bài này nước Nga chưa có đại loạn, và anh Chốp được coi như một nhân vật thân phương Tây, cấp tiến. Việc tống anh Chốp ra hàm ý là sự trở lại của phe cộng sản thủ cựu (và do đó "lịch sử" tiếp diễn), chứ không phải như diễn biến sau này là sự thay thế của một anh còn máu hơn anh Chốp.

Cảm ơn sự góp ý của bác Thảo rất nhiều. Em mới dịch qua một lượt, sẽ còn phải hiệu đính và chú giải vài lần cho nó hợp lý.

To Ca-ve Núi: Không biết cuốn sách kể trên Alpha tổ chức dịch thế nào, ra sao rồi. Nếu đang triển khai đuợc thì tốt. Bài báo này là một phiên bản đầu tiên của cuốn sách ấy. (sách in sau 3 năm). Nếu sách ra trong tương lai, chắc mình sẽ để bài này vào cuối sách như là phần tham khảo.
Tequila
15-03-06, 17:28
undefined

Anh tạm dịch lại:

Theo dõi những dòng sự kiện hay một cái gì tương tự trong vòng một thập kỷ qua, người ta khó lòng tránh khỏi cái cảm giác rằng một cái gì đó hết sức căn bản đã và đang diễn ra trong lịch sử thế giới. Năm qua đã có hàng loạt những bài bình luận về chung cuộc của chiến tranh lạnh và về cái thực tế rằng "hòa bình" dường như đang "bùng nổ" ở rất nhiều nơi trên thế giới. Hầu hết những phân tích này đều thiếu một khung khái niệm rộng hơn để có thể phân biệt được trong lịch sử thế giới cái gì thuộc về bản chất, cái gì chỉ là ngẫu nhiên hoặc tình cờ và do đó những phân tích này đều có thể thấy trước là hời hợt. Nếu như xảy ra chuyện ông Gorbachev bị tống ra khỏi điệm Klemlin hay việc một thủ lĩnh hồi giáo tuyên bố về một thời kỳ hoàng kim sắp đến trên một thủ đô đổ nát tan hoang nào đó ở Trung Đông, thì chính những nhà bình luận ấy sẽ lập tức bám lấy nó để loan báo về sự tái sinh của một kỷ nguyên xung đột mới. (*)

------------------------------------
(*) Chú ý câu cuối là một unreal conditional sentence với hàm ý mỉa mai vì năm 1988 Gorbachev vẫn còn tại vị.

Các bác em ngoại ngữ giỏi khỏi bàn những xem ra nội ngữ lại vấn đề. Một đoạn văn với ý tứ không phức tạp như trên mà các bác em viết cứ sao sao, làm em phải chú ý đọc đi đọc lại tới hai lần mới hiểu. Em thử dịch lại từ tiếng Việt:

Theo dõi những dòng sự kiện hay những diễn biến nào đó trong vòng một thập kỷ qua, người ta khó lòng tránh khỏi cảm giác rằng trong lịch sử thế giới đã và đang diễn ra một cái gì đó rất căn bản. Năm qua đã có biết bao bài bình luận về chung cuộc của Chiến tranh lạnh, về thực tế của một "nền hòa bình" dường như đang bùng nổ tại nhiều nơi trên thế giới. Hầu hết các phân tích này đều thiếu một khung khái niệm rộng hơn hòng phân biệt được: trong lịch sử thế giới cái gì là bản chất, cái gì là ngẫu nhiên hoặc tình cờ. Do đó những phân tích này đều có thể thấy trước là hời hợt. Giả sử xảy ra chuyện ông Gorbachev bị tống cổ khỏi điện Kremli, hay một thủ lĩnh hồi giáo bỗng dưng tuyên bố về thời kỳ hoàng kim sắp đến trên một thủ đô tan hoang đổ nát nào đó ở Trung Đông, thì chính những nhà bình luận ấy sẽ lập tức bám ngay lấy nó để dự báo rằng một kỷ nguyên xung đột mới sẽ tái sinh.

**
Tequila
15-03-06, 17:33
Ơ post xong mới thấy bác Mecado post trước rồi. Có khi em với bác bắt tay với nhau mở dịch vụ dịch Việt - Việt cho các dịch gia. Bác nhể!
paraffin
15-03-06, 17:54
Em cũng chia sẻ với bác Tequila sự không thích những đại từ phiếm chỉ trong văn viết. Em xin phép mạo muội sửa tiếng Việt thêm thế này được không ạ

Theo dõi những dòng sự kiện hay những diễn biến nào đó trong vòng một thập kỷ qua, người ta khó lòng tránh khỏi cảm giác rằng trong lịch sử thế giới đã và đang diễn ra một xu hướng (cứ tạm vu cho nó thế :)) rất căn bản. Năm qua đã có biết bao bài bình luận về chung cuộc của Chiến tranh lạnh, về thực tế của một "nền hòa bình" dường như đang bùng nổ tại nhiều nơi trên thế giới. Hầu hết các phân tích này đều thiếu một khung khái niệm rộng hơn hòng phân biệt phần bản chất và phần ngẫu nhiên hoặc tình cờ trong lịch sử thế giới. Do đó những phân tích này đều có thể thấy trước là hời hợt...
dao_hoa_daochu
15-03-06, 18:02
Em chen ngang 1 tẹo: nghe nói là cái NXB gì chỗ bạn bè bác La đang dịch cuốn "The End of History and the Last man" (Hết phim lịch sử và gã đàn ông cuối cùng) của Fukuyama. Không hiểu cuốn này và bài báo này có liên quan gì đến nhau không?
"The end of history?" là một article mà Francis Kukuyama anh anh đã viết ở trên tờ The National Interest, gây chấn động mạnh ở Mỹ và nhiều nước dân chủ, kéo theo hàng loạt các cuộc tranh luận trong suốt 4 năm về các luận điểm của anh anh.

Đến năm 1992, anh anh tập hợp các tư liệu liên quan và viết lại toàn bộ thành cuốn "The end of history anh the last man".

Năm 2005, cuốn sách này đã được tái bản. Và có vẻ như tư tưởng của anh anh đang dần được chấp nhận một cách rộng rãi trên quy mô toàn cầu.

Bác La, theo như cái nội dung tiếng anh của nó, thì để là "Sự cáo chung" nghe nó có vẻ hơi "khủng bố" sao đó, em sợ là nó không thật đúng tinh thần. Có lẽ là nên chọn một cái phương án nó chung dung hơn một chút, như là "Điểm kết của lịch sử?" chẳng hạn. Bác thử xem lại xem. Cái này hay phết, tại có vẻ như là Francis Fukuyama anh em không định nghĩa "lịch sử" theo cách thông thường.
Mecado
15-03-06, 18:19
4c nói nhỏ thôi, không cu Gấu chuyên gia tinh dịch nó nhảy vào nó chửi cho thối mũi cả bọn vì tiếng Việt mà còn lởm khởm thì dịch dọt léo giề. Vấn đề căn bản của các chú dịch thuật lé,o phải là ở tiếng Anh mà là ở ngay chính ngôn ngữ mẹ đẻ của mình là tiếng Việt. Vốn từ nghèo, sử dụng từ không linh hoạt cố chấp thế mới đau chứ.
a-tu-la
15-03-06, 19:55
Mình có đề cập qua ý nghĩa của chữ "Lịch sử" cũng như cuốn sách của bác Fukuyama ở đây rồi, http://www.thanhnienxame.net/showthread.php?t=2260


"The end of history?" là một article mà Francis Kukuyama anh anh đã viết ở trên tờ The National Interest, gây chấn động mạnh ở Mỹ và nhiều nước dân chủ, kéo theo hàng loạt các cuộc tranh luận trong suốt 4 năm về các luận điểm của anh anh.

Đến năm 1992, anh anh tập hợp các tư liệu liên quan và viết lại toàn bộ thành cuốn "The end of history anh the last man".

Năm 2005, cuốn sách này đã được tái bản. Và có vẻ như tư tưởng của anh anh đang dần được chấp nhận một cách rộng rãi trên quy mô toàn cầu.

Bác La, theo như cái nội dung tiếng anh của nó, thì để là "Sự cáo chung" nghe nó có vẻ hơi "khủng bố" sao đó, em sợ là nó không thật đúng tinh thần. Có lẽ là nên chọn một cái phương án nó chung dung hơn một chút, như là "Điểm kết của lịch sử?" chẳng hạn. Bác thử xem lại xem. Cái này hay phết, tại có vẻ như là Francis Fukuyama anh em không định nghĩa "lịch sử" theo cách thông thường.
Gaup
15-03-06, 20:26
cảm ơn atula tin tưởng (anh và) các bạn mà post cái này qua đây. anh đang chuyển bị đưa cu Minh đi nên hôm nay chưa góp ý được.

Nhắn với các bác em....

bác nào cũng sai cái đoạn...flow of events in the past decade or so, cái or so này không phải là những sự kiện tương tự mà là bổ nghĩa cho cái past decade có nghĩa là trong khoảng một thập kỷ vừa qua

các bác em toàn dịch cái gì đó tương tự hay thế đó nghe rất cute nhưng mà bực

@Mecado, hôm qua internet ở nhà em chết con bà nó mất, sáng nay nó mới restore lại service giờ em lại phải đi đến tối mai mới về, bác em hết lòng chờ em về em gửi bác đủ các loại stata.
Tequila
16-03-06, 10:37
bác nào cũng sai cái đoạn...flow of events in the past decade or so, cái or so này không phải là những sự kiện tương tự mà là bổ nghĩa cho cái past decade có nghĩa là trong khoảng một thập kỷ vừa qua

các bác em toàn dịch cái gì đó tương tự hay thế đó nghe rất cute nhưng mà bực


Hóa ra là thế, hehe, hôm qua em đọc các bác dịch mãi mà chả hiểu cái gì đó tương tự là cái gì.
a-tu-la
16-03-06, 13:59
Bác Gấu nói ra cái lỗi kia làm em sáng ra nhiều. Cảm on bác. Chú Minh đến chơi à bác?

Bên kia Alpha có gợi ý dịch "universial homogenous" (nhất thể phổ quát) là "đại đồng" kể thật là hay và rất đáng suy ngẫm. Tôi chỉ e mỗi một điều nó giống cách diễn đạt Khổng giáo quá. Còn cách dịch phải nói là thích. Ý các bác thế nào?

Các bác khác: về gợi ý cách dịch của các bác tôi sẽ nghiên cứu thêm.

Bác Đào bảo "The End" nên dịch là gì cho nó nhẹ thôi, chứ không phải "cáo chung." Thực ra đây là một cách dịch truyền thống mất rồi, nên thành ra quen miệng.

"The End" đuợc dùng ví dụ như với Marx: "Immanuel Kant and the End of German Classical Philosophy" được ta dịch là: "Immanuel Kant và sự Cáo chung của triết học cổ điển Đức". Chính vì cách dịch gây ấn tượng này mà hậu sinh hay thích lặp lại.

Một từ khác tương tự là "Poverty" (nghèo nàn) thường được dịch là "Sự khốn cùng" (The Poverty of Philosophy) thực ra không chính xác lắm. Dịch là "Sự nghèo nàn" đúng hơn nhiều. Nhưng hậu sinh ở ta lại thích dùng cụm "khốn cùng" cho nó mạnh mẽ. Vì thế "Poverty of Historicism" mới được dịch là "Sự khốn cùng của duy sử luận" cho nó hợp dòng.
a-tu-la
16-03-06, 14:04
II

Đối với Hegel, những mâu thuẫn thúc đẩy lịch sử trước hết nằm trong địa hạt ý thức con người, tức là, ở tầm mức tư tưởng4 – không phải các dự thảo cho năm bầu cử phổ thông của các chính trị gia Mỹ, mà là những tư tưởng theo nghĩa là những thế giới quan được thừa nhận rộng rãi, có thể được hiểu rõ nhất dưới cụm từ tư tưởng hệ. Tư tưởng hệ theo nghĩa này không chỉ bị giới hạn trong các học thuyết chính trị rõ ràng và phổ thông như ta thường gán cho cụm từ này, mà còn có thể bao hàm cả tôn giáo, văn hoá, và phức hệ giá trị đạo đức nằm dưới bất cứ xã hội nào.

Quan điểm của Hegel về mối quan hệ giữa địa hạt tinh thần và thế giới vật chất hay thế giới thực cực kỳ phức tạp, bắt đầu với thực tế rằng đối với ông sự phân biệt giữa hai thế giới chỉ là bề ngoài mà thôi.5 Ông không tin rằng thế giới thực là tương thích hay có thể làm cho tương thích với các định kiến mang tính tư tưởng hệ của các giáo sư triết học theo bất kỳ cách thức dễ dãi nào, hay rằng thế giới “vật chất” không thể vươn tới thế giới tinh thần. Thực sự thì Hegel vị giáo sư tạm thời phải thôi việc vì một sự kiện hết sức vật chất, đó là trận Jena. Nhưng dù tác phẩm hay ý nghĩ của Hegel có thể bị cắt ngang vì một viên đạn từ thế giới vật chất, thì bàn tay bóp cò khẩu súng lại đến lượt nó chịu sự thúc đẩy bởi những tư tưởng tự do và bình đẳng đã định hướng cho cuộc Cách mạng Pháp.

Đối với Hegel, mọi hành vi con người trong thế giới vật chất, và do đó là lịch sử nhân loại, bắt nguồn từ trạng thái ý thức trước đó - một ý tưởng tương tự như quan điểm được thể hiện về sau bởi John Maynard Keynes khi ông nói rằng quan điểm của các nhà chính trị thường bắt nguồn từ các nhà kinh tế đã quá cố hay những ông học giả nào đó từ thế hệ trước. Cái ý thức này có thể không hiển hiện rõ ràng và tự nhận biết, như các học thuyết chính trị hiện đại, mà thường thể hiện dưới hình thức tôn giáo hay những thói quen đạo đức hoặc văn hoá bình thường. Thế nhưng lĩnh vực ý thức này trong dài hạn nhất định sẽ biểu lộ rõ ràng trong thế giới vật chất, mà thực chất là tạo ra thế giới vật chất theo chính hình tượng của nó. Ý thức là nguyên nhân chứ không phải kết quả, và có thể phát triển độc lập với thế giới vật chất, do đó cái thông điệp ẩn thực sự nằm dưới mớ bòng bong hiển hiện các sự kiện đương thời là lịch sử của tư tưởng hệ.

Chủ nghĩa duy tâm của Hegel đã bị đối xử khá tàn tệ dưới tay các nhà tư tưởng sau ông. Marx đã đảo ngược hoàn toàn trật tự của tinh thần và vật chật, chuyển đổi toàn bộ lĩnh vực ý thức – tôn giáo, nghệ thuật, văn hoá, và bản thân triết học, thành một “thượng tầng kiến trúc,” cái hoàn toàn bị quyết định bởi phương thức sản xuất vật chất đương thời. Nhưng một di sản đáng buồn khác của chủ nghĩa Mác là cái khunh hướng chúng ta co về những kiến giải duy vật chủ nghĩa hay vị lợi về các hiện tượng lịch sử và chính trị, cùng thái độ bất đắc dĩ của chúng ta khi phải tin vào quyền năng độc lập của tư tưởng. Một ví dụ gần đây về điều này là cuốn Sự hưng vong của các đại cường (The Rise and Fall of the Great Powers) thành công vang dội của Paul Kennedy, mà trong đó nó quy kết sự suy vong của các đại cường đơn thuần bắt nguồn từ sự bành trướng quá mức về kinh tế. Hiển nhiên là, điều này đúng ở một mức độ nào đó: một đế quốc mà nền kinh tế của nó chỉ vừa hơn mức sinh tồn không thể làm phá sản ngân khố của nó một cách vô hạn định đuợc. Nhưng liệu một xã hội công nghiệp hiện có sức sản suất rất cao sẽ lựa chọn tiêu dùng 3 hay 7 phần trăm thu nhập quốc dân (GNP) cho quốc phòng lại hoàn toàn là vấn đề của những ưu tiên chính trị trong xã hội ấy, mà sự ưu tiên này đến lượt nó lại được quyết định trong lĩnh vực ý thức.

Khuynh hướng duy vật chủ nghĩa trong tư tưởng hiện đại không chỉ là đặc điểm của những người theo phe Tả nhiệt thành với chủ nghĩa Mác, mà còn thấy ở nhiều người chống chủ nghĩa Mác sôi nổi. Thật vậy, về cánh hữu có cái mà ta có thể gọi là trường phái Tạp chí Phố Uôn (Wall Street Journal) duy vật tất định luận (deterministic materialism), là trường phái tối giản tầm quan trọng của tư tưởng hệ cùng văn hoá, và coi con người về căn bản là cá nhân duy lý, tối đa hoá lợi nhuận. Chính mô hình cá nhân này cùng với mưu cầu động lực vật chất của anh ta được ấn định như là nền tảng cho đời sống kinh tế trong các sách giáo khoa kinh tế học.6 Một ví dụ nho nhỏ sẽ minh hoạ cho đặc điểm bất ổn của quan điểm duy vật chủ nghĩa kiểu này.

Max Weber mở đầu cuốn sách nổi tiếng của ông, Đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản (The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism), bằng việc lưu ý thành tựu kinh tế khác nhau giữa các cộng đồng Tin lành và Công giáo trên khắp châu Âu và nước Mỹ, được gói gọn trong câu thành ngữ rằng người Tin lành thì ăn ngon còn người Công giáo thì ngủ ngon. Weber nhận xét rằng theo bất cứ học thuyết kinh tế nào coi con người là kẻ duy lý tối đa hoá lợi nhuận, thì tăng một chút tiền công sẽ làm tăng năng suất lao động. Nhưng trên thực tế, trong nhiều cộng đồng nông dân truyền thống, tăng tiền công lại có hiệu ứng ngược lại là làm giảm năng suất lao động: khi tiền công cao hơn, một anh nông dân đã quen với tiền công 2,5 mác một ngày nhận ra rằng anh ta có thể kiếm được cùng số tiền ấy dù có làm việc ít đi, và thế là liền làm ít đi vì anh ta thích được nghỉ ngơi hơn là có thêm thu nhập. Sự lựa chọn giữa nghỉ ngơi và thua nhập, hay giữa cuộc sống quân nhân của các chiến binh thành Sparta với sự giàu có của những thương gia thành Athena, hay thậm chí giữa cuộc sống khổ hạnh của các doanh nhân tư bản chủ nghĩa buổi sơ kỳ với cuộc sống của các vị quý tộc nhàn rỗi truyền thống, không thể nào giải thích được bằng sự tác động của các lực lượng vật chất phi nhân tính, mà dễ dàng hơn nhiều nếu nhìn nó từ lĩnh vực ý thức – cái mà ở đây chúng ta đang đề cập một cách rộng lớn như là tư tưởng hệ. Và quả thực, một mệnh đề trung tâm trong tác phẩm của Weber là chứng minh rằng, đối lập với Marx, phương thức sản xuất vật chất, không những chẳng phải là “nền tảng”, mà chính là “thượng tầng kiến trúc” mà cội rễ nằm trong tôn giáo và văn hoá, và rằng để hiểu được sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản hiện đại và các động cơ lợi nhuân, chúng ta phải nghiên cứu cái khởi nguyên của chúng trong lĩnh vực tinh thần.
dao_hoa_daochu
16-03-06, 14:11
Tóm lại là dịch là cái gì "Sự cáo chung của lịch sử?" nghe hết sức là dở hơi. Dịch là


"Điểm kết của lịch sử?"

hoặc

"Lịch sử sẽ kết thúc?"

là hay nhất. Trong hai cái đấy thì "Lịch sử sẽ kết thúc?" hay hơn.
Gaup
16-03-06, 15:14
Đào nói đúng, La ạ. Ko thể dịch là cáo chung được. The end ở đây không có nghĩa là kết thúc kết cục như mấy ví dụ La đưa mà có nghĩa là giai đoạn phát triển tột cùng, không thể phát triển hơn được nữa. the end ở đây có nghĩa là the last stage of development chứ không phải là the elimination/cancellation/abolishment of...

để mai về nhà anh xem rồi góp ý mới.
HaiDang
16-03-06, 19:15
Cái tiêu đề là quan trọng nhất, theo anh nên chiển là "Lịch sử đã hết mịa nó rồi sao ?"
Biển
17-03-06, 20:41
Bác La. Nếu em có dịch pragmatism là chủ nghĩa hành động thì các chú các bác có nhẩy vào hấp diêm em không ạ? Từ điển nhà mình chỗ nào cũng dịch là thực dụng, sách nào cũng nói là thực dụng. Chửi bới nhau cũng mang ra dùng, mặc dù nguyên gốc Hy Lạp pragma nghĩa là hành động. Phim hành động cũng là pragma, phỏng ạ. Hay các bác em bảo em nên dịch là phim thực dụng cho nó giống các cụ?
Nghèo khổ --> khốn cùng
Hành động --> thực dụng
Không hiểu thế hệ cha chú chúng ta cố tình hay vô ý nữa?
@ Anh Gấu anh La và các bạn ở US hôm nào rỗi làm bài về pragmatism cho giảng cho lũ chã như em mở mang thêm về xứ Cờ hoa cái được không ạ?
Gaup
17-03-06, 21:53
Anh gửi bản tiếng Anh để mọi người có thể cùng tham khảo.

The End of History?*

Francis Fukuyama**





IN WATCHING the flow of events over the past decade or so, it is hard to avoid the feeling that something very fundamental has happened in world history. The past year has seen a flood of articles commemorating the end of the Cold War, and the fact that "peace" seems to be breaking out in many regions of the world. Most of these analyses lack any larger conceptual framework for distinguishing between what is essential and what is contingent or accidental in world history, and are predictably superficial. If Mr. Gorbachev were ousted from the Kremlin or a new Ayatollah proclaimed the millennium from a desolate Middle Eastern capital, these same commentators would scramble to announce the rebirth of a new era of conflict.

And yet, all of these people sense dimly that there is some larger process at work, a process that gives coherence and order to the daily headlines. The twentieth century saw the developed world descend into a paroxysm of ideological violence, as liberalism contended first with the remnants of absolutism, then bolshevism and fascism, and finally an updated Marxism that threatened to lead to the ultimate apocalypse of nuclear war. But the century that began full of self-confidence in the ultimate triumph of Western liberal democracy seems at its close to be returning full circle to where it started: not to an "end of ideology" or a convergence between capitalism and socialism, as earlier predicted, but to an unabashed victory of economic and political liberalism.

The triumph of the West, of the Western idea, is evident first of all in the total exhaustion of viable systematic alternatives to Western liberalism. In the past decade, there have been unmistakable changes in the intellectual climate of the world's two largest communist countries, and the beginnings of significant reform movements in both. But this phenomenon extends beyond high politics and it can be seen also in the ineluctable spread of consumerist Western culture in such diverse contexts as the peasants' markets and color television sets now omnipresent throughout China, the cooperative restaurants and clothing stores opened in the past year in Moscow, the Beethoven piped into Japanese department stores, and the rock music enjoyed alike in Prague, Rangoon, and Tehran.

What we may be witnessing is not just the end of the Cold War, or the passing of a particular period of postwar history, but the end of history as such: that is, the end point of mankind's ideological evolution and the universalization of Western liberal democracy as the final form of human government. This is not to say that there will no longer be events to fill the pages of Foreign Affair's yearly summaries of international relations, for the victory of liberalism has occurred primarily in the realm of ideas or consciousness and is as yet incomplete in. the real or material world. But there are powerful reasons for believing that it is the ideal that will govern the material world in the long run. To understand how this is so, we must first consider some theoretical issues concerning the nature of historical change.

I

THE NOTION of the end of history is not an original one. Its best known propagator was Karl Marx, who believed that the direction of historical development was a purposeful one determined by the interplay of material forces, and would come to an end only with the achievement of a communist utopia that would finally resolve all prior contradictions. But the concept of history as a dialectical process with a beginning, a middle, and an end was borrowed by Marx from his great German predecessor, Georg Wilhelm Friedrich Hegel.

For better or worse, much of Hegel's historicism has become part of our contemporary intellectual baggage. The notion that mankind has progressed through a series of primitive stages of consciousness on his path to the present, and that these stages corresponded to concrete forms of social organization, such as tribal, slave-owning, theocratic, and finally democratic-egalitarian societies, has become inseparable from the modern understanding of man. Hegel was the first philosopher to speak the language of modern social science, insofar as man for him was the product of his concrete historical and social environment and not, as earlier natural right theorists would have it, a collection of more or less fixed "natural" attributes. The mastery and transformation of man's natural environment through the application of science and technology was originally not a Marxist concept, but a Hegelian one. Unlike later historicists whose historical relativism degenerated into relativism tout court, however, Hegel believed that history culminated in an absolute moment - a moment in which a final, rational form of society and state became victorious.

It is Hegel's misfortune to be known now primarily as Marx's precursor; and it is our misfortune that few of us are familiar with Hegel's work from direct study, but only as it has been filtered through the distorting lens of Marxism. In France, however, there has been an effort to save Hegel from his Marxist interpreters and to resurrect him as the philosopher who most correctly speaks to our time. Among those modern French interpreters of Hegel, the greatest was certainly Alexandre Kojève, a brilliant Russian émigré who taught a highly influential series of seminars in Paris in the 1930s at the Ecole Practique des Hautes Etudes.[1] While largely unknown in the United States, Kojève had a major impact on the intellectual life of the continent. Among his students ranged such future luminaries as Jean-Paul Sartre on the Left and Raymond Aron on the Right; postwar existentialism borrowed many of its basic categories from Hegel via Kojève.

Kojève sought to resurrect the Hegel of the Phenomenology of Mind, the Hegel who proclaimed history to be at an end in 1806. For as early as this Hegel saw in Napoleon's defeat of the Prussian monarchy at the Battle of Jena the victory of the ideals of the French Revolution, and the imminent universalization of the state incorporating the principles of liberty and equality. Kojève, far from rejecting Hegel in light of the turbulent events of the next century and a half, insisted that the latter had been essentially correct.[2] The Battle of Jena marked the end of history because it was at that point that the vanguard of humanity (a term quite familiar to Marxists) actualized the principles of the French Revolution. While there was considerable work to be done after 1806 - abolishing slavery and the slave trade, extending the franchise to workers, women, blacks, and other racial minorities, etc. - the basic principles of the liberal democratic state could not be improved upon. The two world wars in this century and their attendant revolutions and upheavals simply had the effect of extending those principles spatially, such that the various provinces of human civilization were brought up to the level of its most advanced outposts, and of forcing those societies in Europe and North America at the vanguard of civilization to implement their liberalism more fully.

The state that emerges at the end of history is liberal insofar as it recognizes and protects through a system of law man's universal right to freedom, and democratic insofar as it exists only with the consent of the governed. For Kojève, this so-called "universal homogenous state" found real-life embodiment in the countries of postwar Western Europe - precisely those flabby, prosperous, self-satisfied, inward-looking, weak-willed states whose grandest project was nothing more heroic than the creation of the Common Market.[3] But this was only to be expected. For human history and the conflict that characterized it was based on the existence of "contradictions": primitive man's quest for mutual recognition, the dialectic of the master and slave, the transformation and mastery of nature, the struggle for the universal recognition of rights, and the dichotomy between proletarian and capitalist. But in the universal homogenous state, all prior contradictions are resolved and all human needs are satisfied. There is no struggle or conflict over "large" issues, and consequently no need for generals or statesmen; what remains is primarily economic activity. And indeed, Kojève's life was consistent with his teaching. Believing that there was no more work for philosophers as well, since Hegel (correctly understood) had already achieved absolute knowledge, Kojève left teaching after the war and spent the remainder of his life working as a bureaucrat in the European Economic Community, until his death in 1968.

To his contemporaries at mid-century, Kojève's proclamation of the end of history must have seemed like the typical eccentric solipsism of a French intellectual, coming as it did on the heels of World War II and at the very height of the Cold War. To comprehend how Kojève could have been so audacious as to assert that history has ended, we must first of all understand the meaning of Hegelian idealism.
Gaup
17-03-06, 21:56
II

FOR HEGEL, the contradictions that drive history exist first of all in the realm of human consciousness, i.e. on the level of ideas[4] - not the trivial election year proposals of American politicians, but ideas in the sense of large unifying world views that might best be understood under the rubric of ideology. Ideology in this sense is not restricted to the secular and explicit political doctrines we usually associate with the term, but can include religion, culture, and the complex of moral values underlying any society as well.

Hegel's view of the relationship between the ideal and the real or material worlds was an extremely complicated one, beginning with the fact that for him the distinction between the two was only apparent.[5] He did not believe that the real world conformed or could be made to conform to ideological preconceptions of philosophy professors in any simpleminded way, or that the "material" world could not impinge on the ideal. Indeed, Hegel the professor was temporarily thrown out of work as a result of a very material event, the Battle of Jena. But while Hegel's writing and thinking could be stopped by a bullet from the material world, the hand on the trigger of the gun was motivated in turn by the ideas of liberty and equality that had driven the French Revolution.

For Hegel, all human behavior in the material world, and hence all human history, is rooted in a prior state of consciousness - an idea similar to the one expressed by John Maynard Keynes when he said that the views of men of affairs were usually derived from defunct economists and academic scribblers of earlier generations. This consciousness may not be explicit and self-aware, as are modern political doctrines, but may rather take the form of religion or simple cultural or moral habits. And yet this realm of consciousness in the long run necessarily becomes manifest in the material world, indeed creates the material world in its own image. Consciousness is cause and not effect, and can develop autonomously from the material world; hence the real subtext underlying the apparent jumble of current events is the history of ideology.

Hegel's idealism has fared poorly at the hands of later thinkers. Marx reversed the priority of the real and the ideal completely, relegating the entire realm of consciousness - religion, art, culture, philosophy itself - to a "superstructure" that was determined entirely by the prevailing material mode of production. Yet another unfortunate legacy of Marxism is our tendency to retreat into materialist or utilitarian explanations of political or historical phenomena, and our disinclination to believe in the autonomous power of ideas. A recent example of this is Paul Kennedy's hugely successful The Rise and Fall of the Great Powers, which ascribes the decline of great powers to simple economic overextension. Obviously, this is true on some level: an empire whose economy is barely above the level of subsistence cannot bankrupt its treasury indefinitely. But whether a highly productive modern industrial society chooses to spend 3 or 7 percent of its GNP on defense rather than consumption is entirely a matter of that society's political priorities, which are in turn determined in the realm of consciousness.

The materialist bias of modern thought is characteristic not only of people on the Left who may be sympathetic to Marxism, but of many passionate anti-Marxists as well. Indeed, there is on the Right what one might label the Wall Street Journal school of deterministic materialism that discounts the importance of ideology and culture and sees man as essentially a rational, profit-maximizing individual. It is precisely this kind of individual and his pursuit of material incentives that is posited as the basis for economic life as such in economic textbooks.[6] One small example will illustrate the problematic character of such materialist views.

Max Weber begins his famous book, The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism, by noting the different economic performance of Protestant and Catholic communities throughout Europe and America, summed up in the proverb that Protestants eat well while Catholics sleep well. Weber notes that according to any economic theory that posited man as a rational profit-maximizer, raising the piece-work rate should increase labor productivity. But in fact, in many traditional peasant communities, raising the piece-work rate actually had the opposite effect of lowering labor productivity: at the higher rate, a peasant accustomed to earning two and one-half marks per day found he could earn the same amount by working less, and did so because he valued leisure more than income. The choices of leisure over income, or of the militaristic life of the Spartan hoplite over the wealth of the Athenian trader, or even the ascetic life of the early capitalist entrepreneur over that of a traditional leisured aristocrat, cannot possibly be explained by the impersonal working of material forces, but come preeminently out of the sphere of consciousness - what we have labeled here broadly as ideology. And indeed, a central theme of Weber's work was to prove that contrary to Marx, the material mode of production, far from being the "base," was itself a "superstructure" with roots in religion and culture, and that to understand the emergence of modern capitalism and the profit motive one had to study their antecedents in the realm of the spirit.

As we look around the contemporary world, the poverty of materialist theories of economic development is all too apparent. The Wall Street Journal school of deterministic materialism habitually points to the stunning economic success of Asia in the past few decades as evidence of the viability of free market economics, with the implication that all societies would see similar development were they simply to allow their populations to pursue their material self-interest freely. Surely free markets and stable political systems are a necessary precondition to capitalist economic growth. But just as surely the cultural heritage of those Far Eastern societies, the ethic of work and saving and family, a religious heritage that does not, like Islam, place restrictions on certain forms of economic behavior, and other deeply ingrained moral qualities, are equally important in explaining their economic performance.[7] And yet the intellectual weight of materialism is such that not a single respectable contemporary theory of economic development addresses consciousness and culture seriously as the matrix within which economic behavior is formed.

FAILURE to understand that the roots of economic behavior lie in the realm of consciousness and culture leads to the common mistake of attributing material causes to phenomena that are essentially ideal in nature. For example, it is commonplace in the West to interpret the reform movements first in China and most recently in the Soviet Union as the victory of the material over the ideal - that is, a recognition that ideological incentives could not replace material ones in stimulating a highly productive modern economy, and that if one wanted to prosper one had to appeal to baser forms of self-interest. But the deep defects of socialist economies were evident thirty or forty years ago to anyone who chose to look. Why was it that these countries moved away from central planning only in the 1980s' The answer must be found in the consciousness of the elites and leaders ruling them, who decided to opt for the "Protestant" life of wealth and risk over the "Catholic" path of poverty and security.[8] That change was in no way made inevitable by the material conditions in which either country found itself on the eve of the reform, but instead came about as the result of the victory of one idea over another.[9]

For Kojève, as for all good Hegelians, understanding the underlying processes of history requires understanding developments in the realm of consciousness or ideas, since consciousness will ultimately remake the material world in its own image. To say that history ended in 1806 meant that mankind's ideological evolution ended in the ideals of the French or American Revolutions: while particular regimes in the real world might not implement these ideals fully, their theoretical truth is absolute and could not be improved upon. Hence it did not matter to Kojève that the consciousness of the postwar generation of Europeans had not been universalized throughout the world; if ideological development had in fact ended, the homogenous state would eventually become victorious throughout the material world.

I have neither the space nor, frankly, the ability to defend in depth Hegel's radical idealist perspective. The issue is not whether Hegel's system was right, but whether his perspective might uncover the problematic nature of many materialist explanations we often take for granted. This is not to deny the role of material factors as such. To a literal-minded idealist, human society can be built around any arbitrary set of principles regardless of their relationship to the material world. And in fact men have proven themselves able to endure the most extreme material hardships in the name of ideas that exist in the realm of the spirit alone, be it the divinity of cows or the nature of the Holy Trinity.[10]

But while man's very perception of the material world is shaped by his historical consciousness of it, the material world can clearly affect in return the viability of a particular state of consciousness. In particular, the spectacular abundance of advanced liberal economies and the infinitely diverse consumer culture made possible by them seem to both foster and preserve liberalism in the political sphere. I want to avoid the materialist determinism that says that liberal economics inevitably produces liberal politics, because I believe that both economics and politics presuppose an autonomous prior state of consciousness that makes them possible. But that state of consciousness that permits the growth of liberalism seems to stabilize in the way one would expect at the end of history if it is underwritten by the abundance of a modern free market economy. We might summarize the content of the universal homogenous state as liberal democracy in the political sphere combined with easy access to VCRs and stereos in the economic.
Gaup
17-03-06, 21:57
III

HAVE WE in fact reached the end of history? Are there, in other words, any fundamental "contradictions" in human life that cannot be resolved in the context of modern liberalism, that would be resolvable by an alternative political-economic structure? If we accept the idealist premises laid out above, we must seek an answer to this question in the realm of ideology and consciousness. Our task is not to answer exhaustively the challenges to liberalism promoted by every crackpot messiah around the world, but only those that are embodied in important social or political forces and movements, and which are therefore part of world history. For our purposes, it matters very little what strange thoughts occur to people in Albania or Burkina Faso, for we are interested in what one could in some sense call the common ideological heritage of mankind.

In the past century, there have been two major challenges to liberalism, those of fascism and of communism. The former[11] saw the political weakness, materialism, anomie, and lack of community of the West as fundamental contradictions in liberal societies that could only be resolved by a strong state that forged a new "people" on the basis of national exclusiveness. Fascism was destroyed as a living ideology by World War II. This was a defeat, of course, on a very material level, but it amounted to a defeat of the idea as well. What destroyed fascism as an idea was not universal moral revulsion against it, since plenty of people were willing to endorse the idea as long as it seemed the wave of the future, but its lack of success. After the war, it seemed to most people that German fascism as well as its other European and Asian variants were bound to self-destruct. There was no material reason why new fascist movements could not have sprung up again after the war in other locales, but for the fact that expansionist ultranationalism, with its promise of unending conflict leading to disastrous military defeat, had completely lost its appeal. The ruins of the Reich chancellery as well as the atomic bombs dropped on Hiroshima and Nagasaki killed this ideology on the level of consciousness as well as materially, and all of the pro-fascist movements spawned by the German and Japanese examples like the Peronist movement in Argentina or Subhas Chandra Bose's Indian National Army withered after the war.

The ideological challenge mounted by the other great alternative to liberalism, communism, was far more serious. Marx, speaking Hegel's language, asserted that liberal society contained a fundamental contradiction that could not be resolved within its context, that between capital and labor, and this contradiction has constituted the chief accusation against liberalism ever since. But surely, the class issue has actually been successfully resolved in the West. As Kojève (among others) noted, the egalitarianism of modern America represents the essential achievement of the classless society envisioned by Marx. This is not to say that there are not rich people and poor people in the United States, or that the gap between them has not grown in recent years. But the root causes of economic inequality do not have to do with the underlying legal and social structure of our society, which remains fundamentally egalitarian and moderately redistributionist, so much as with the cultural and social characteristics of the groups that make it up, which are in turn the historical legacy of premodern conditions. Thus black poverty in the United States is not the inherent product of liberalism, but is rather the "legacy of slavery and racism" which persisted long after the formal abolition of slavery.

As a result of the receding of the class issue, the appeal of communism in the developed Western world, it is safe to say, is lower today than any time since the end of the First World War. This can he measured in any number of ways: in the declining membership and electoral pull of the major European communist parties, and their overtly revisionist programs; in the corresponding electoral success of conservative parties from Britain and Germany to the United States and Japan, which are unabashedly pro-market and anti-statist; and in an intellectual climate whose most "advanced" members no longer believe that bourgeois society is something that ultimately needs to be overcome. This is not to say that the opinions of progressive intellectuals in Western countries are not deeply pathological in any number of ways. But those who believe that the future must inevitably be socialist tend to be very old, or very marginal to the real political discourse of their societies.

0NE MAY argue that the socialist alternative was never terribly plausible for the North Atlantic world, and was sustained for the last several decades primarily by its success outside of this region. But it is precisely in the non-European world that one is most struck by the occurrence of major ideological transformations. Surely the most remarkable changes have occurred in Asia. Due to the strength and adaptability of the indigenous cultures there, Asia became a battleground for a variety of imported Western ideologies early in this century. Liberalism in Asia was a very weak reed in the period after World War I; it is easy today to forget how gloomy Asia's political future looked as recently as ten or fifteen years ago. It is easy to forget as well how momentous the outcome of Asian ideological struggles seemed for world political development as a whole.

The first Asian alternative to liberalism to be decisively defeated was the fascist one represented by Imperial Japan. Japanese fascism (like its German version) was defeated by the force of American arms in the Pacific war, and liberal democracy was imposed on Japan by a victorious United States. Western capitalism and political liberalism when transplanted to Japan were adapted and transformed by the Japanese in such a way as to be scarcely recognizable.[12] Many Americans are now aware that Japanese industrial organization is very different from that prevailing in the United States or Europe, and it is questionable what relationship the factional maneuvering that takes place with the governing Liberal Democratic Party bears to democracy. Nonetheless, the very fact that the essential elements of economic and political liberalism have been so successfully grafted onto uniquely Japanese traditions and institutions guarantees their survival in the long run. More important is the contribution that Japan has made in turn to world history by following in the footsteps of the United States to create a truly universal consumer culture that has become both a symbol and an underpinning of the universal homogenous state. V.S. Naipaul traveling in Khomeini's Iran shortly after the revolution noted the omnipresent signs advertising the products of Sony, Hitachi, and JVC, whose appeal remained virtually irresistible and gave the lie to the regime's pretensions of restoring a state based on the rule of the Shariah. Desire for access to the consumer culture, created in large measure by Japan, has played a crucial role in fostering the spread of economic liberalism throughout Asia, and hence in promoting political liberalism as well.

The economic success of the other newly industrializing countries (NICs) in Asia following on the example of Japan is by now a familiar story. What is important from a Hegelian standpoint is that political liberalism has been following economic liberalism, more slowly than many had hoped but with seeming inevitability. Here again we see the victory of the idea of the universal homogenous state. South Korea had developed into a modern, urbanized society with an increasingly large and well-educated middle class that could not possibly be isolated from the larger democratic trends around them. Under these circumstances it seemed intolerable to a large part of this population that it should be ruled by an anachronistic military regime while Japan, only a decade or so ahead in economic terms, had parliamentary institutions for over forty years. Even the former socialist regime in Burma, which for so many decades existed in dismal isolation from the larger trends dominating Asia, was buffeted in the past year by pressures to liberalize both its economy and political system. It is said that unhappiness with strongman Ne Win began when a senior Burmese officer went to Singapore for medical treatment and broke down crying when he saw how far socialist Burma had been left behind by its ASEAN neighbors.

BUT THE power of the liberal idea would seem much less impressive if it had not infected the largest and oldest culture in Asia, China. The simple existence of communist China created an alternative pole of ideological attraction, and as such constituted a threat to liberalism. But the past fifteen years have seen an almost total discrediting of Marxism-Leninism as an economic system. Beginning with the famous third plenum of the Tenth Central Committee in 1978, the Chinese Communist party set about decollectivizing agriculture for the 800 million Chinese who still lived in the countryside. The role of the state in agriculture was reduced to that of a tax collector, while production of consumer goods was sharply increased in order to give peasants a taste of the universal homogenous state and thereby an incentive to work. The reform doubled Chinese grain output in only five years, and in the process created for Deng Xiaoping a solid political base from which he was able to extend the reform to other parts of the economy. Economic Statistics do not begin to describe the dynamism, initiative, and openness evident in China since the reform began.

China could not now be described in any way as a liberal democracy. At present, no more than 20 percent of its economy has been marketized, and most importantly it continues to be ruled by a self-appointed Communist party which has given no hint of wanting to devolve power. Deng has made none of Gorbachev's promises regarding democratization of the political system and there is no Chinese equivalent of ghost. The Chinese leadership has in fact been much more circumspect in criticizing Mao and Maoism than Gorbachev with respect to Brezhnev and Stalin, and the regime continues to pay lip service to Marxism-Leninism as its ideological underpinning. But anyone familiar with the outlook and behavior of the new technocratic elite now governing China knows that Marxism and ideological principle have become virtually irrelevant as guides to policy, and that bourgeois consumerism has a real meaning in that country for the first time since the revolution. The various slowdowns in the pace of reform, the campaigns against "spiritual pollution" and crackdowns on political dissent are more properly seen as tactical adjustments made in the process of managing what is an extraordinarily difficult political transition. By ducking the question of political reform while putting the economy on a new footing, Deng has managed to avoid the breakdown of authority that has accompanied Gorbachev's perestroika. Yet the pull of the liberal idea continues to be very strong as economic power devolves and the economy becomes more open to the outside world. There are currently over 20,000 Chinese students studying in the U.S. and other Western countries, almost all of them the children of the Chinese elite. It is hard to believe that when they return home to run the country they will be content for China to be the only country in Asia unaffected by the larger democratizing trend. The student demonstrations in Beijing that broke out first in December 1986 and recurred recently on the occasion of Hu Yao-bang's death were only the beginning of what will inevitably be mounting pressure for change in the political system as well.

What is important about China from the standpoint of world history is not the present state of the reform or even its future prospects. The central issue is the fact that the People's Republic of China can no longer act as a beacon for illiberal forces around the world, whether they be guerrillas in some Asian jungle or middle class students in Paris. Maoism, rather than being the pattern for Asia's future, became an anachronism, and it was the mainland Chinese who in fact were decisively influenced by the prosperity and dynamism of their overseas co-ethnics - the ironic ultimate victory of Taiwan.

Important as these changes in China have been, however, it is developments in the Soviet Union - the original "homeland of the world proletariat" - that have put the final nail in the coffin of the Marxist-Leninist alternative to liberal democracy. It should be clear that in terms of formal institutions, not much has changed in the four years since Gorbachev has come to power: free markets and the cooperative movement represent only a small part of the Soviet economy, which remains centrally planned; the political system is still dominated by the Communist party, which has only begun to democratize internally and to share power with other groups; the regime continues to assert that it is seeking only to modernize socialism and that its ideological basis remains Marxism-Leninism; and, finally, Gorbachev faces a potentially powerful conservative opposition that could undo many of the changes that have taken place to date. Moreover, it is hard to be too sanguine about the chances for success of Gorbachev's proposed reforms, either in the sphere of economics or politics. But my purpose here is not to analyze events in the short-term, or to make predictions for policy purposes, but to look at underlying trends in the sphere of ideology and consciousness. And in that respect, it is clear that an astounding transformation has occurred.

Émigrés from the Soviet Union have been reporting for at least the last generation now that virtually nobody in that country truly believed in Marxism-Leninism any longer, and that this was nowhere more true than in the Soviet elite, which continued to mouth Marxist slogans out of sheer cynicism. The corruption and decadence of the late Brezhnev-era Soviet state seemed to matter little, however, for as long as the state itself refused to throw into question any of the fundamental principles underlying Soviet society, the system was capable of functioning adequately out of sheer inertia and could even muster some dynamism in the realm of foreign and defense policy. Marxism-Leninism was like a magical incantation which, however absurd and devoid of meaning, was the only common basis on which the elite could agree to rule Soviet society.
Gaup
17-03-06, 21:58
WHAT HAS happened in the four years since Gorbachev's coming to power is a revolutionary assault on the most fundamental institutions and principles of Stalinism, and their replacement by other principles which do not amount to liberalism per se but whose only connecting thread is liberalism. This is most evident in the economic sphere, where the reform economists around Gorbachev have become steadily more radical in their support for free markets, to the point where some like Nikolai Shmelev do not mind being compared in public to Milton Friedman. There is a virtual consensus among the currently dominant school of Soviet economists now that central planning and the command system of allocation are the root cause of economic inefficiency, and that if the Soviet system is ever to heal itself, it must permit free and decentralized decision-making with respect to investment, labor, and prices. After a couple of initial years of ideological confusion, these principles have finally been incorporated into policy with the promulgation of new laws on enterprise autonomy, cooperatives, and finally in 1988 on lease arrangements and family farming. There are, of course, a number of fatal flaws in the current implementation of the reform, most notably the absence of a thoroughgoing price reform. But the problem is no longer a conceptual one: Gorbachev and his lieutenants seem to understand the economic logic of marketization well enough, but like the leaders of a Third World country facing the IMF, are afraid of the social consequences of ending consumer subsidies and other forms of dependence on the state sector.

In the political sphere, the proposed changes to the Soviet constitution, legal system, and party rules amount to much less than the establishment of a liberal state. Gorbachev has spoken of democratization primarily in the sphere of internal party affairs, and has shown little intention of ending the Communist party's monopoly of power; indeed, the political reform seeks to legitimize and therefore strengthen the CPSU'S rule.[13] Nonetheless, the general principles underlying many of the reforms - that the "people" should be truly responsible for their own affairs, that higher political bodies should be answerable to lower ones, and not vice versa, that the rule of law should prevail over arbitrary police actions, with separation of powers and an independent judiciary, that there should be legal protection for property rights, the need for open discussion of public issues and the right of public dissent, the empowering of the Soviets as a forum in which the whole Soviet people can participate, and of a political culture that is more tolerant and pluralistic - come from a source fundamentally alien to the USSR's Marxist-Leninist tradition, even if they are incompletely articulated and poorly implemented in practice.

Gorbachev's repeated assertions that he is doing no more than trying to restore the original meaning of Leninism are themselves a kind of Orwellian doublespeak. Gorbachev and his allies have consistently maintained that intraparty democracy was somehow the essence of Leninism, and that the various lib era1 practices of open debate, secret ballot elections, and rule of law were all part of the Leninist heritage, corrupted only later by Stalin. While almost anyone would look good compared to Stalin, drawing so sharp a line between Lenin and his successor is questionable. The essence of Lenin's democratic centralism was centralism, not democracy; that is, the absolutely rigid, monolithic, and disciplined dictatorship of a hierarchically organized vanguard Communist party, speaking in the name of the demos. All of Lenin's vicious polemics against Karl Kautsky, Rosa Luxemburg, and various other Menshevik and Social Democratic rivals, not to mention his contempt for "bourgeois legality" and freedoms, centered around his profound conviction that a revolution could not be successfully made by a democratically run organization.

Gorbachev's claim that he is seeking to return to the true Lenin is perfectly easy to understand: having fostered a thorough denunciation of Stalinism and Brezhnevism as the root of the USSR's present predicament, he needs some point in Soviet history on which to anchor the legitimacy of the CPSU'S continued rule. But Gorbachev's tactical requirements should not blind us to the fact that the democratizing and decentralizing principles which he has enunciated in both the economic and political spheres are highly subversive of some of the most fundamental precepts of both Marxism and Leninism. Indeed, if the bulk of the present economic reform proposals were put into effect, it is hard to know how the Soviet economy would be more socialist than those of other Western countries with large public sectors.

The Soviet Union could in no way be described as a liberal or democratic country now, nor do I think that it is terribly likely that perestroika will succeed such that the label will be thinkable any time in the near future. But at the end of history it is not necessary that all societies become successful liberal societies, merely that they end their ideological pretensions of representing different and higher forms of human society. And in this respect I believe that something very important has happened in the Soviet Union in the past few years: the criticisms of the Soviet system sanctioned by Gorbachev have been so thorough and devastating that there is very little chance of going back to either Stalinism or Brezhnevism in any simple way. Gorbachev has finally permitted people to say what they had privately understood for many years, namely, that the magical incantations of Marxism-Leninism were nonsense, that Soviet socialism was not superior to the West in any respect but was in fact a monumental failure. The conservative opposition in the USSR, consisting both of simple workers afraid of unemployment and inflation and of party officials fearful of losing their jobs and privileges, is outspoken and may be strong enough to force Gorbachev's ouster in the next few years. But what both groups desire is tradition, order, and authority; they manifest no deep commitment to Marxism-Leninism, except insofar as they have invested much of their own lives in it.[14] For authority to be restored in the Soviet Union after Gorbachev's demolition work, it must be on the basis of some new and vigorous ideology which has not yet appeared on the horizon.

IF WE ADMIT for the moment that the fascist and communist challenges to liberalism are dead, are there any other ideological competitors left? Or put another way, are there contradictions in liberal society beyond that of class that are not resolvable? Two possibilities suggest themselves, those of religion and nationalism.

The rise of religious fundamentalism in recent years within the Christian, Jewish, and Muslim traditions has been widely noted. One is inclined to say that the revival of religion in some way attests to a broad unhappiness with the impersonality and spiritual vacuity of liberal consumerist societies. Yet while the emptiness at the core of liberalism is most certainly a defect in the ideology - indeed, a flaw that one does not need the perspective of religion to recognize[15] - it is not at all clear that it is remediable through politics. Modern liberalism itself was historically a consequence of the weakness of religiously-based societies which, failing to agree on the nature of the good life, could not provide even the minimal preconditions of peace and stability. In the contemporary world only Islam has offered a theocratic state as a political alternative to both liberalism and communism. But the doctrine has little appeal for non-Muslims, and it is hard to believe that the movement will take on any universal significance. Other less organized religious impulses have been successfully satisfied within the sphere of personal life that is permitted in liberal societies.

The other major "contradiction" potentially unresolvable by liberalism is the one posed by nationalism and other forms of racial and ethnic consciousness. It is certainly true that a very large degree of conflict since the Battle of Jena has had its roots in nationalism. Two cataclysmic world wars in this century have been spawned by the nationalism of the developed world in various guises, and if those passions have been muted to a certain extent in postwar Europe, they are still extremely powerful in the Third World. Nationalism has been a threat to liberalism historically in Germany, and continues to be one in isolated parts of "post-historical" Europe like Northern Ireland.

But it is not clear that nationalism rep resents an irreconcilable contradiction in the heart of liberalism. In the first place, nationalism is not one single phenomenon but several, ranging from mild cultural nostalgia to the highly organized and elaborately articulated doctrine of National Socialism. Only systematic nationalisms of the latter sort can qualify as a formal ideology on the level of liberalism or communism. The vast majority of the world's nationalist movements do not have a political program beyond the negative desire of independence from some other group or people, and do not offer anything like a comprehensive agenda for socio-economic organization. As such, they are compatible with doctrines and ideologies that do offer such agendas. While they may constitute a source of conflict for liberal societies, this conflict does not arise from liberalism itself so much as from the fact that the liberalism in question is incomplete. Certainly a great deal of the world's ethnic and nationalist tension can be explained in terms of peoples who are forced to live in unrepresentative political systems that they have not chosen.

While it is impossible to rule out the sudden appearance of new ideologies or previously unrecognized contradictions in liberal societies, then, the present world seems to confirm that the fundamental principles of sociopolitical organization have not advanced terribly far since 1806. Many of the wars and revolutions fought since that time have been undertaken in the name of ideologies which claimed to be more advanced than liberalism, but whose pretensions were ultimately unmasked by history. In the meantime, they have helped to spread the universal homogenous state to the point where it could have a significant effect on the overall character of international relations.
Gaup
17-03-06, 21:59
IV

WHAT ARE the implications of the end of history for international relations? Clearly, the vast bulk of the Third World remains very much mired in history, and will be a terrain of conflict for many years to come. But let us focus for the time being on the larger and more developed states of the world who after all account for the greater part of world politics. Russia and China are not likely to join the developed nations of the West as liberal societies any time in the foreseeable future, but suppose for a moment that Marxism-Leninism ceases to be a factor driving the foreign policies of these states - a prospect which, if not yet here, the last few years have made a real possibility. How will the overall characteristics of a de-ideologized world differ from those of the one with which we are familiar at such a hypothetical juncture?

The most common answer is - not very much. For there is a very widespread belief among many observers of international relations that underneath the skin of ideology is a hard core of great power national interest that guarantees a fairly high level of competition and conflict between nations. Indeed, according to one academically popular school of international relations theory, conflict inheres in the international system as such, and to understand the prospects for conflict one must look at the shape of the system - for example, whether it is bipolar or multipolar - rather than at the specific character of the nations and regimes that constitute it. This school in effect applies a Hobbesian view of politics to international relations, and assumes that aggression and insecurity are universal characteristics of human societies rather than the product of specific historical circumstances.

Believers in this line of thought take the relations that existed between the participants in the classical nineteenth century European balance of power as a model for what a de-ideologized contemporary world would look like. Charles Krauthammer, for example, recently explained that if as a result of Gorbachev's reforms the USSR is shorn of Marxist-Leninist ideology, its behavior will revert to that of nineteenth century imperial Russia.[16] While he finds this more reassuring than the threat posed by a communist Russia, he implies that there will still be a substantial degree of competition and conflict in the international system, just as there was say between Russia and Britain or Wilhelmine Germany in the last century. This is, of course, a convenient point of view for people who want to admit that something major is changing in the Soviet Union, but do not want to accept responsibility for recommending the radical policy redirection implicit in such a view. But is it true?

In fact, the notion that ideology is a superstructure imposed on a substratum of permanent great power interest is a highly questionable proposition. For the way in which any state defines its national interest is not universal but rests on some kind of prior ideological basis, just as we saw that economic behavior is determined by a prior state of consciousness. In this century, states have adopted highly articulated doctrines with explicit foreign policy agendas legitimizing expansionism, like Marxism-Leninism or National Socialism.

THE EXPANSIONIST and competitive behavior of nineteenth-century European states rested on no less ideal a basis; it just so happened that the ideology driving it was less explicit than the doctrines of the twentieth century. For one thing, most "liberal" European societies were illiberal insofar as they believed in the legitimacy of imperialism, that is, the right of one nation to rule over other nations without regard for the wishes of the ruled. The justifications for imperialism varied from nation to nation, from a crude belief in the legitimacy of force, particularly when applied to non-Europeans, to the White Man's Burden and Europe's Christianizing mission, to the desire to give people of color access to the culture of Rabelais and Moliere. But whatever the particular ideological basis, every "developed" country believed in the acceptability of higher civilizations ruling lower ones - including, incidentally, the United States with regard to the Philippines. This led to a drive for pure territorial aggrandizement in the latter half of the century and played no small role in causing the Great War.

The radical and deformed outgrowth of nineteenth-century imperialism was German fascism, an ideology which justified Germany's right not only to rule over non-European peoples, but over all non-German ones. But in retrospect it seems that Hitler represented a diseased bypath in the general course of European development, and since his fiery defeat, the legitimacy of any kind of territorial aggrandizement has been thoroughly discredited.[17] Since the Second World War, European nationalism has been defanged and shorn of any real relevance to foreign policy, with the consequence that the nineteenth-century model of great power behavior has become a serious anachronism. The most extreme form of nationalism that any Western European state has mustered since 1945 has been Gaullism, whose self-assertion has been confined largely to the realm of nuisance politics and culture. International life for the part of the world that has reached the end of history is far more preoccupied with economics than with politics or strategy.

The developed states of the West do maintain defense establishments and in the postwar period have competed vigorously for influence to meet a worldwide communist threat. This behavior has been driven, however, by an external threat from states that possess overtly expansionist ideologies, and would not exist in their absence. To take the "neo-realist" theory seriously, one would have to believe that "natural" competitive behavior would reassert itself among the OECD states were Russia and China to disappear from the face of the earth. That is, West Germany and France would arm themselves against each other as they did in the 193Os, Australia and New Zealand would send military advisers to block each others' advances in Africa, and the U.S.-Canadian border would become fortified. Such a prospect is, of course, ludicrous: minus Marxist-Leninist ideology, we are far more likely to see the "Common Marketization" of world politics than the disintegration of the EEC into nineteenth-century competitiveness. Indeed, as our experiences in dealing with Europe on matters such as terrorism or Libya prove, they are much further gone than we down the road that denies the legitimacy of the use of force in international politics, even in self-defense.

The automatic assumption that Russia shorn of its expansionist communist ideology should pick up where the czars left off just prior to the Bolshevik Revolution is therefore a curious one. It assumes that the evolution of human consciousness has stood still in the meantime, and that the Soviets, while picking up currently fashionable ideas in the realm of economics, will return to foreign policy views a century out of date in the rest of Europe. This is certainly not what happened to China after it began its reform process. Chinese competitiveness and expansionism on the world scene have virtually disappeared: Beijing no longer sponsors Maoist insurgencies or tries to cultivate influence in distant African countries as it did in the 1960s. This is not to say that there are not troublesome aspects to contemporary Chinese foreign policy, such as the reckless sale of ballistic missile technology in the Middle East; and the PRC continues to manifest traditional great power behavior in its sponsorship of the Khmer Rouge against Vietnam. But the former is explained by commercial motives and the latter is a vestige of earlier ideologically-based rivalries. The new China far more resembles Gaullist France than pre-World War I Germany.

The real question for the future, however, is the degree to which Soviet elites have assimilated the consciousness of the universal homogenous state that is post-Hitler Europe. From their writings and from my own personal contacts with them, there is no question in my mind that the liberal Soviet intelligentsia rallying around Gorbachev have arrived at the end-of-history view in a remarkably short time, due in no small measure to the contacts they have had since the Brezhnev era with the larger European civilization around them. "New political thinking," the general rubric for their views, describes a world dominated by economic concerns, in which there are no ideological grounds for major conflict between nations, and in which, consequently, the use of military force becomes less legitimate. As Foreign Minister Shevardnadze put it in mid-1988:

The struggle between two opposing systems is no longer a determining tendency of the present-day era. At the modern stage, the ability to build up material wealth at an accelerated rate on the basis of front-ranking science and high-level techniques and technology, and to distribute it fairly, and through joint efforts to restore and protect the resources necessary for mankind's survival acquires decisive importance.[18]

The post-historical consciousness represented by "new thinking" is only one possible future for the Soviet Union, however. There has always been a very strong current of great Russian chauvinism in the Soviet Union, which has found freer expression since the advent of glasnost. It may be possible to return to traditional Marxism-Leninism for a while as a simple rallying point for those who want to restore the authority that Gorbachev has dissipated. But as in Poland, Marxism-Leninism is dead as a mobilizing ideology: under its banner people cannot be made to work harder, and its adherents have lost confidence in themselves. Unlike the propagators of traditional Marxism-Leninism, however, ultranationalists in the USSR believe in their Slavophile cause passionately, and one gets the sense that the fascist alternative is not one that has played itself out entirely there.

The Soviet Union, then, is at a fork in the road: it can start down the path that was staked out by Western Europe forty-five years ago, a path that most of Asia has followed, or it can realize its own uniqueness and remain stuck in history. The choice it makes will be highly important for us, given the Soviet Union's size and military strength, for that power will continue to preoccupy us and slow our realization that we have already emerged on the other side of history.
Gaup
17-03-06, 22:00
V

THE PASSING of Marxism-Leninism first from China and then from the Soviet Union will mean its death as a living ideology of world historical significance. For while there may be some isolated true believers left in places like Managua, Pyongyang, or Cambridge, Massachusetts, the fact that there is not a single large state in which it is a going concern undermines completely its pretensions to being in the vanguard of human history. And the death of this ideology means the growing "Common Marketization" of international relations, and the diminution of the likelihood of large-scale conflict between states.

This does not by any means imply the end of international conflict per se. For the world at that point would be divided between a part that was historical and a part that was post-historical. Conflict between states still in history, and between those states and those at the end of history, would still be possible. There would still be a high and perhaps rising level of ethnic and nationalist violence, since those are impulses incompletely played out, even in parts of the post-historical world. Palestinians and Kurds, Sikhs and Tamils, Irish Catholics and Walloons, Armenians and Azeris, will continue to have their unresolved grievances. This implies that terrorism and wars of national liberation will continue to be an important item on the international agenda. But large-scale conflict must involve large states still caught in the grip of history, and they are what appear to be passing from the scene.

The end of history will be a very sad time. The struggle for recognition, the willingness to risk one's life for a purely abstract goal, the worldwide ideological struggle that called forth daring, courage, imagination, and idealism, will be replaced by economic calculation, the endless solving of technical problems, environmental concerns, and the satisfaction of sophisticated consumer demands. In the post-historical period there will be neither art nor philosophy, just the perpetual caretaking of the museum of human history. I can feel in myself, and see in others around me, a powerful nostalgia for the time when history existed. Such nostalgia, in fact, will continue to fuel competition and conflict even in the post-historical world for some time to come. Even though I recognize its inevitability, I have the most ambivalent feelings for the civilization that has been created in Europe since 1945, with its north Atlantic and Asian offshoots. Perhaps this very prospect of centuries of boredom at the end of history will serve to get history started once again.





Notes:



1. Kojève's best known work is his Introduction à la lecture de Hegel (Paris: Editions Gallimard, 1947), which is a transcript of the Ecole Practique lectures from the 1930's. This book is available in English entitled Introduction to the Reading of Hegel arranged by Raymond Queneau, edited by Allan Bloom, and translated by James Nichols (New York: Basic Books, 1969). (back to text)

2. In this respect Kojève stands in sharp contrast to contemporary German interpreters of Hegel like Herbert Marcuse who, being more sympathetic to Marx, regarded Hegel ultimately as an historically bound and incomplete philosopher. (back to text)

3. Kojève alternatively identified the end of history with the postwar "American way of life," toward which he thought the Soviet Union was moving as well. (back to text)

4. This notion was expressed in the famous aphorism from the preface to the Philosophy of History to the effect that "everything that is rational is real, and everything that is real is rational." (back to text)

5. Indeed, for Hegel the very dichotomy between the ideal and material worlds was itself only an apparent one that was ultimately overcome by the self-conscious subject; in his system, the material world is itself only an aspect of mind. (back to text)

6. In fact, modern economists, recognizing that man does not always behave as a profit-maximizer, posit a "utility" function, utility being either income or some other good that can be maximized: leisure, sexual satisfaction, or the pleasure of philosophizing. That profit must be replaced with a value like utility indicates the cogency of the idealist perspective. (back to text)

7. One need look no further than the recent performance of Vietnamese immigrants in the U.S. school system when compared to their black of Hispanic classmates to realize that culture and consciousness are absolutely crucial to explain not only economic behavior but virtually every other important aspect of life as well. (back to text)

8. I understand that a full explanation of the origins of the reform movements in China and Russia is a good deal more complicated than this simple formula would suggest. The Soviet reform, for example, was motivated in good measure by Moscow's sense of insecurity in the technological-military realm. Nonetheless, neither country ion the eve of its reforms was in such a state of material crisis that one could have predicted the surprising reform paths ultimately taken. (back to text)

9. It is still not clear whether the Soviet people are as "Protestant" as Gorbachev and will follow him down that path. (back to text)

10. The internal politics of the Byzantine Empire at the time of Justinian revolved around a conflict between the so-called monophysites and monothelites, who believed that the unity of the Holy Trinity was alternatively one of nature or of will. This conflict corresponded to some extent to one between proponents of different racing teams in the Hippodrome in Byzantium and led to a not insignificant level of political violence. Modern historians would tend to seek the roots of such conflicts in antagonisms between social classes or some other modern economic category, being unwilling to believe that men would kill each other over the nature of the Trinity. (back to text)

11. I am not using the term "fascism" here in its most precise sense, fully aware of the frequent misuse of this term to denounce anyone to the right of the user. "Fascism" here denotes nay organized ultra nationalist movement with universalistic pretensions - not universalistic with regard to its nationalism, of course, since the latter is exclusive by definition, but with regard to the movement's belief in its right to rule other people. Hence Imperial Japan would qualify as fascist while former strongman Stoessner's Paraguay or Pinochet's Chile would not. Obviously fascist ideologies cannot be universalistic in the sense of Marxism or liberalism, but the structure of the doctrine can be transferred from country to country. (back to text)

12. I use the example of Japan with some caution, since Kojève late in his life came to conclude that Japan, with its culture based on purely formal arts, proved that the universal homogenous state was not victorious and that history had perhaps not ended. See the long note at the end of the second edition of Introduction à la Lecture de Hegel, 462-3. (back to text)

13. This is not true in Poland and Hungary, however, whose Communist parties have taken moves toward true power sharing and pluralism. (back to text)

14. This is particularly true of the leading Soviet conservative, former Second Secretary Yegor Ligachev, who has publicly recognized many of the deep defects of the Brezhnev period. (back to text)

15. I am thinking particularly of Rousseau and the Western philosophical tradition that flows from him that was highly critical of Lockean or Hobbesian liberalism, though one could criticize liberalism from the standpoint of classical political philosophy as well. (back to text)

16. See his article, "Beyond the Cold War," New Republic, December 19, 1988. (back to text)

17. It took European colonial powers like France several years after the war to admit the illegitimacy of their empires, but decolonialization was an inevitable consequence of the Allied victory which had been based on the promise of a restoration of democratic freedoms. (back to text)

18. Vestnik Ministerstva Inostrannikh Del SSSR no. 15 (August 1988), 27-46. "New thinking" does of course serve a propagandistic purpose in persuading Western audiences of Soviet good intentions. But the fact that it is good propaganda does not mean that is formulators do not take many of its ideas seriously. (back to text)
Phương Thảo
17-03-06, 22:17
Thế léo nào mình chửi thằng La dịch sai thì hóa ra mình cũng dịch sai nốt. Nhọ nồi vãi.

Mà dịch "cáo chung" là hợp lý rồi. "Lịch sử" theo nghĩa của thằng cha Fukuyama này không giống như thông thường. Thằng này nhìn lịch sử theo quan điểm của thằng viết sử, nghĩa là lịch sử là phải có events, đe'o có events đe'o gọi là lịch sử. Tương lai thì nó tưởng tượng ra thế giới đại đồng, chả còn mâu thuẫn đối kháng con mẹ gì, chỉ còn mấy cái mâu thuẫn nho nhỏ kiểu uýnh bom khủng bố Bin La đen vớ vẩn. Mà đe'o có oánh nhau thì viết sử thế đe'o nào được phỏng ạ? Học phổ thông ngày xưa, cứ đến đời vua nào có uýnh nhau là viết rõ dài, còn lại thì chỉ viết "từ thời ấy đến thời ấy, mưa thuận gió hòa, blah blah". Ba dòng là hết chữ. Giống mình hồi bé hỏi ông già sao phim về cụ Hồ làm chán thế, ông già bảo "Vì cụ Hồ có yêu đương kặc gì đâu mà có tư liệu để làm phim." Có khi đến cái thời "the end of history", lịch sử lúc đấy chỉ còn ghi lại những cuộc phắc nhau, giống Thăng Long mình. Hoặc cũng có thể lúc đấy xã hội ảo nó phát triển lúc đấy lịch sử sẽ thành lịch sử ảo của Võ Lâm truyền kỳ mí MU online. Mâu thuẫn đối kháng lúc đó sẽ không phải là mâu thuẫn công-nông-trí thức nữa mà là mâu thuẫn kiểu Bách bò-Công tử Bạc Liêu. Biết đâu lúc đấy có khi anh Gấu nhà mình lại chả đi vào lịch sử với tư cách là người sáng lập ra một diễn đàn "thối inh in tờ nét".

Đọc bài thằng này lại nhớ lại chục năm về trước học triết học Mác Lê. Thằng bạn bẩu "Khi nào tiến tới chủ nghĩa cộng sản thì có nghĩa là tận thế. Vì Mác bảo đấu tranh là động lực phát triển, mà chủ nghĩa cộng sản thì đe'o có mâu thuẫn, suy ra đe'o có động lực phát triển, mà đe'o phát triển thì là tận thế. " Cuối cùng cả lớp có mình nó thi lại môn Triết.

Hôm nào rỗi thằng Đào với anh vào bi bô tí về definition of "history" cho nó vui cái nhể. Forum hồi này đìu hiu quá.
Gaup
18-03-06, 00:38
Một vài suy ngẫm trước khi bắt tay vào dịch:

1. Thanh âm, ngữ điệu, giọng nói, tiếng cười

Khi dịch, cố gắng gạt bỏ những định kiến thành kiến mình sẵn có với tác giả. Tạm quên đi anh này là cô gái hay nàng tiên, bài báo này của anh ý có ảnh hưởng to lớn kỳ vĩ thế nào. Nếu mình đã hiểu được những gì anh ý viết đến mức nghĩ rằng mình có thể dịch những gì anh ý viết thì anh ý cũng chỉ là thằng bạn mình thôi.

Quên đi bản thân và quan hệ tương đối của mình với tác giả là việc quan trọng vì mình đang dịch cho quần chúng đọc, quần chúng nói chung là thờ ơ với việc người viết này là ai và từ ngữ điệu của mình cũng như nội dung của bài viết mà người ta sẽ tự quyết định quan điểm của người ta về tác giả. Không nên prime người ta trước bằng các loại signal ko cần thiết mà vì mình là người có đọc, có học, có nghiên cứu chuyên sâu mình biết rõ hơn người ta.

Tác giả viết bài này với giọng điệu ko quá hàn lâm, nghiêm túc, ngắn gọn, ý tứ gọn gàng không quá trau chuốt. Nói chung là giống cách viết những bài báo chuyên môn thông thường. Và vì tác giả đưa ý kiến của mình ra cho công chúng vật lộn nên tác giả giữ giọng khách quan khiêm nhường cần có. Bản dịch cũng nên giữ lại được những điểm chính nói trên.

2. Tựa đề

Tựa đề của cái gì cũng quan trọng bởi vì nó chứa đựng cái ý của tác giả là để cho nó mang vác cái phần hồn chính của bài viết, quyển sách, câu chuyện. Nên bỏ thời gian suy nghĩ xem xét giữa các lựa chọn khác nhau.

Nói riêng về bài này và riêng với bác Phương Thảo là dịch là cáo chung là không nên nếu không nói thẳng ra là dịch sai.

Lấy một ví dụ là câu đơn hết sức đơn giản: the end of the road

Thì cũng có hai nghĩa rõ ràng, trong hai ngữ cảnh sau.

1. We walked for miles and reached the end of the road by about 3pm. We stopped, made love, then turned around to walk home.

(Câu này trích trong hồi ký Bò cái Betty của tôi của chú Đào kể về tình yêu dị giới của chú thời chú còn đi chăn bò trên Ba Vì.)

2. They decided to destroy the road that Betty and I used to walk together. That was a sad end of the road.

(Câu này trích trong hồi ký Bò cái Betty của tôi của chú Đào kể về tình yêu dị dạng của chú thời chú còn đi chăn bò trên Ba Vì.)

Dễ dàng thấy trong ngữ cảnh 1, the end chỉ điểm cuối con đường; ngữ cảnh 2 the end chỉ sự kết cục, cáo chung của con đường.

Sau khi đọc bài của FF có thể thấy là ý tác giả đồng nhất với ý trong ngữ cảnh 1. Tác giả định nói rằng lịch sử đã phát triển đến giai đoạn tột cùng của nó. Lịch sử ở đây cũng phải hiểu là lịch sử của tổ chức xã hội loài người chứ không phải lịch sử tự nhiên hay lịch sử của loài người.

3. Phụ chú, phụ chú, phụ chú

Khách thập phương nói chung là dốt nên xin nhớ là luôn ghi chú ghi chú ghi chú để giúp khách hiểu. Đừng đòi hỏi khách phải biết trước hay tự biết, giải thích ko bao giờ thừa, giải thích kể cả thừa cũng không bao giờ tồi.
Gaup
18-03-06, 03:35
Để tạm đây cuối tuần này có thời gian em các bác ngồi làm


IN WATCHING the flow of events over the past decade or so, it is hard to avoid the feeling that something very fundamental has happened in world history. The past year has seen a flood of articles commemorating the end of the Cold War, and the fact that "peace" seems to be breaking out in many regions of the world. Most of these analyses lack any larger conceptual framework for distinguishing between what is essential and what is contingent or accidental in world history, and are predictably superficial. If Mr. Gorbachev were ousted from the Kremlin or a new Ayatollah proclaimed the millennium from a desolate Middle Eastern capital, these same commentators would scramble to announce the rebirth of a new era of conflict.


Khi theo dõi dòng sự kiện trong thế kỷ vừa rồi hay cái gì tương tự, ta khó tránh khỏi cảm thấy một cái gì đó rất căn bản đã diễn ra trong lịch sử thế giới. Năm vừa qua đã chứng kiến biết bao bài viết bình luận về sự kết thúc của cuộc Chiến tranh Lạnh, và về cái thực tế rằng “hoà bình” đã tới với nhiều vùng trên thế giới. Đa số các phân tích này đều thiếu một khuôn khổ lý thuyết rộng lớn hơn để phân biệt cái gì là bản chất và cái gì là vô tình hay ngẫu nhiên trong lịch sử thế giới, và vì thế có thể thấy trước là đều hời hợt. Nếu ông Gorbachev bị tống khỏi Điện Kremlin hay một Ayatollah tuyên bố về thời đại hoàng kim đang mở ra cho một vùng trung tâm ở Trung Đông, thì cũng những nhà bình luận ấy hẳn sẽ bám theo đó mà tuyên ngôn về sự tái sinh của một kỷ nguyên xung đột mới.





And yet, all of these people sense dimly that there is some larger process at work, a process that gives coherence and order to the daily headlines. The twentieth century saw the developed world descend into a paroxysm of ideological violence, as liberalism contended first with the remnants of absolutism, then bolshevism and fascism, and finally an updated Marxism that threatened to lead to the ultimate apocalypse of nuclear war. But the century that began full of self-confidence in the ultimate triumph of Western liberal democracy seems at its close to be returning full circle to where it started: not to an "end of ideology" or a convergence between capitalism and socialism, as earlier predicted, but to an unabashed victory of economic and political liberalism.



Thế nhưng, tất cả những người này đều cảm thấy mơ hồ rằng có một quá trình nào đó to lớn hơn đang vận động, một quá trình tạo ra mối liên kết và trật tự cho những sự kiện nổi bật hàng ngày. Thế kỷ XX chứng kiến thế giới các nước phát triển sa vào một cơn bộc phát bạo lực vì tư tưởng hệ, khi chủ nghĩa tự do bước vào cuộc đấu, trước tiên với tàn dư của chủ nghĩa chuyên chế, rồi thì chủ nghĩa bôn-xê-vích và chủ nghĩa phát xít, và cuối cùng là một chủ nghĩa Mác được cập nhật, mà nó đã đe doạ dẫn tới ngày tận thế cuối cùng với một cuộc chiến hạt nhân. Nhưng cái thế kỷ khởi đầu đầy tự tin vào khúc khải hoàn sau cuối của nền dân chủ tự do phương Tây, vào lúc khép lại, dường như đang lượn trọn một vòng tới điểm mà nó đã bắt đầu: không phải tới điểm “cáo chung của tư tưởng hệ” hay đồng quy của chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội, như được dự đoán trước kia, mà tới sự chiến thắng hào hùng của chủ nghĩa tự do về chính trị và kinh tế.


The triumph of the West, of the Western idea, is evident first of all in the total exhaustion of viable systematic alternatives to Western liberalism. In the past decade, there have been unmistakable changes in the intellectual climate of the world's two largest communist countries, and the beginnings of significant reform movements in both. But this phenomenon extends beyond high politics and it can be seen also in the ineluctable spread of consumerist Western culture in such diverse contexts as the peasants' markets and color television sets now omnipresent throughout China, the cooperative restaurants and clothing stores opened in the past year in Moscow, the Beethoven piped into Japanese department stores, and the rock music enjoyed alike in Prague, Rangoon, and Tehran.


Khúc khải hoàn lừng lẫy của phương Tây, của ý tưởng phương Tây, thấy rõ ràng trước hết là qua sự suy kiệt tuyệt đối của các hệ thống khác đã từng tồn tại song hành cùng chủ nghĩa tự do phương Tây. Trong thập kỷ vừa qua, đã có những thay đổi hoàn toàn đúng đắn trong môi trường trí thức của hai nước cộng sản lớn nhất thế giới, và những khởi đầu của các phong trào cải cách to lớn tại cả hai nước này. Nhưng hiện tượng này vượt ra ngoài khuôn khổ chính trị cấp cao, và còn có thể thấy qua sự lan toả không cưỡng lại được của văn hoá tiêu thụ phương Tây trong những bối cảnh rất đa dạng, như thị trường của nông dân và những bộ TV màu có mặt khắp nơi ở Trung Quốc, các quán ăn văn phòng và những của hàng may mặc mở ra trong năm ngoái ở Moscow, nhạc Beethoven xâm nhập các cửa hàng băng đĩa Nhật Bản, và nhạc rốc chơi tưng bừng ở những nơi như Prague, Rangoon, và Tehran.


What we may be witnessing is not just the end of the Cold War, or the passing of a particular period of postwar history, but the end of history as such: that is, the end point of mankind's ideological evolution and the universalization of Western liberal democracy as the final form of human government. This is not to say that there will no longer be events to fill the pages of Foreign Affair's yearly summaries of international relations, for the victory of liberalism has occurred primarily in the realm of ideas or consciousness and is as yet incomplete in the real or material world. But there are powerful reasons for believing that it is the ideal that will govern the material world in the long run. To understand how this is so, we must first consider some theoretical issues concerning the nature of historical change.



Những gì chúng ta đang mục kích không chỉ đơn thuần là sự cáo chung của cuộc Chiến tranh Lạnh, hay là diễn tiến của một giai đoạn đặc biệt thời lịch sử hậu chiến, mà là sự cáo chung của lịch sử hiểu theo nghĩa: đó là điểm cuối cùng trong sự tiến hoá tư tưởng hệ của nhân loại và sự phổ quát hoá nền dân chủ tự do phương Tây như là hình thức cuối cùng của các chính quyền loài người. Nói như thế không có nghĩa là sẽ không còn các sự kiện để điền vào những báo cáo thường niên về quan hệ quốc tế của tờ Foreign Affairs, bởi vì chiến thắng của chủ nghĩa tự do mới chỉ diễn ra trên lãnh địa tư tưởng và ý thức, mà vẫn còn chưa hoàn thành trong thế giới thực hay thế giới vật chất. Nhưng có những lý do vững chãi để tin rằng đó sẽ là cái lý tưởng thống trị thế giới vật chất trong dài hạn. Để hiểu vì sao lại thế, trước hết chúng ta phải xem xét một số vấn đề lý thuyết liên quan đến bản chất của sự thay đổi lịch sử.
Phương Thảo
18-03-06, 13:49
Úi chà, có nhẽ đâu thế. Lịch sử là khái niệm trừu tượng, con đường là khái niệm cụ thể, Gaup ví von thế anh buồn lắm.

Đây nhé.



This does not by any means imply the end of international conflict per se. For the world at that point would be divided between a part that was historical and a part that was post-historical. Conflict between states still in history, and between those states and those at the end of history, would still be possible. There would still be a high and perhaps rising level of ethnic and nationalist violence, since those are impulses incompletely played out, even in parts of the post-historical world. Palestinians and Kurds, Sikhs and Tamils, Irish Catholics and Walloons, Armenians and Azeris, will continue to have their unresolved grievances. This implies that terrorism and wars of national liberation will continue to be an important item on the international agenda. But large-scale conflict must involve large states still caught in the grip of history, and they are what appear to be passing from the scene.

The end of history will be a very sad time. The struggle for recognition, the willingness to risk one's life for a purely abstract goal, the worldwide ideological struggle that called forth daring, courage, imagination, and idealism, will be replaced by economic calculation, the endless solving of technical problems, environmental concerns, and the satisfaction of sophisticated consumer demands. In the post-historical period there will be neither art nor philosophy, just the perpetual caretaking of the museum of human history. I can feel in myself, and see in others around me, a powerful nostalgia for the time when history existed. Such nostalgia, in fact, will continue to fuel competition and conflict even in the post-historical world for some time to come. Even though I recognize its inevitability, I have the most ambivalent feelings for the civilization that has been created in Europe since 1945, with its north Atlantic and Asian offshoots. Perhaps this very prospect of centuries of boredom at the end of history will serve to get history started once again.


Rõ ràng mưu đồ của chú này là chia thời gian phát triển thành hai giai đoạn lớn. Giai đoạn "lịch sử" và giai đoạn "hậu lịch sử".

Giai đoạn lịch sử thì sẽ gồm nhiều giai đoạn con như: công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bổn, xã hội chủ nghĩa ..... đã diễn ra.

Giai đoạn "hậu lịch sử" là cái gì thì vẫn chưa biết nhưng đại khái nó đang tới.

Ngay từ đầu chú FF này đã rào đón rất rõ ràng về chuyện "lack of larger conceptual framework" với ý đồ cần thiết mở rộng khái niệm "post-history".

Nếu như thằng này nó định dùng "the end of history" như nghĩa "history at the deathend, at the last stage of development" thì nó đưa khái niệm "post-history" ra làm quái gì.
Gaup
18-03-06, 22:04
Bác em, dùng so sánh cái đường em thấy chả có gì sai. History và post-history cũng chẳng có gì conflict với cái ý em nói. Post-history chẳng qua giống như beyond the end of the road - không nhất thiết là phải tiến thêm đi đâu, chỉ cần là đã vượt qua mức tới hạn là thành post rồi.

Atula không dịch tiếp à? Anh nghĩ Atula sẽ bị mắc một đoạn do dịch mấy từ ideal, ideology, consciousness, material, materialistic không tốt từ đầu nên về sau chúng nó sẽ đá nhau...

Không phải chỗ nào ideas cũng dịch là ý kiến, tư tưởng, hay ideal là ý tưởng, ideology là ý thức hệ. Trong đoạn bàn về Hegel chẳng qua là nhắc lại tranh luận duy tâm duy vật, ý thức quyết định vật chất hay vật chất quyết định ý thức. Nếu dịch ideal là ý tưởng/lý tưởng thì một lúc sau là chân nọ sẽ đá chân kia.
dao_hoa_daochu
19-03-06, 00:16
Em đồ là nếu như mà bi giờ để cho hai cái lão A-tu-la mới Phương Thảo gạo chữ này dịch mấy cái tài liệu kiểu như Kama Sutra, chúng sẽ dịch là "Cực khoái là sự cáo chung của hoạt động tình dục" hố hố...
Gaup
19-03-06, 05:37
Hoặc câu the end justifies the means thành sự cáo chung biện minh cho phương tiện
Phương Thảo
19-03-06, 09:43
Ơ thế hóa ra tiếng Anh hay nhỉ?

Bây giờ chẳng hạn tớ muốn diễn đạt một đoạn ý rằng bạn Đào cực kỳ ngu, nghĩa là không thể ngu hơn, hay nói như bạn Gấu là tiến trình ngu của bạn Đào đạt đến the last stage of the development of stupidity rồi, thì tớ phải viết cái tai tồ là "Đào - the end of stupidity" à? Đến lúc ấy bạn La lại dịch là "Đào - sự cáo chung của sự ngu dốt", còn bạn Đào với bạn Gấu sẽ dịch là "Đào - điểm kết của sự ngu dốt".

Có nhẽ đâu thế?

Mình cũng háo hức quá đi...
lamaquen
19-03-06, 10:34
Nếu vậy thì dùng "tận cùng" được ko các bác? Cái này em nghĩ dùng cho cả ví dụ của bác Đào và bác Thảo đều đúng cả :D
Gaup
19-03-06, 11:41
Thôi Đào ơi, nhà dạo này vắng khách anh em mình cứ nhẹ nhàng với bác Thảo vậy em ạ. Chả đi đâu mà thiệt.

Bác Thảo em. Nói the end of cái gì đó thông thường là nói tắt của the end of cái existence của cái thứ đó. Với những thứ mà bản thân nó bao gồm các thứ bậc phần giai đoạn như con đường, quyển sách, lịch sử, vv thì the end còn có nghĩa là ở điểm cuối, điểm tột cùng. Trong trường hợp này em sợ là bác có đọc nhưng chưa có hiểu là the end ở đây không phải nói về việc lịch sử sẽ bị triệt tiêu mà chỉ là sẽ ở điểm cuối mùa xuân vĩnh kửu chủ nghĩa cộng sản muôn năm.
dao_hoa_daochu
19-03-06, 12:49
Bác Thảo em. Nói the end of cái gì đó thông thường là nói tắt của the end of cái existence của cái thứ đó. Với những thứ mà bản thân nó bao gồm các thứ bậc phần giai đoạn như con đường, quyển sách, lịch sử, vv thì the end còn có nghĩa là ở điểm cuối, điểm tột cùng. Trong trường hợp này em sợ là bác có đọc nhưng chưa có hiểu là the end ở đây không phải nói về việc lịch sử sẽ bị triệt tiêu mà chỉ là sẽ ở điểm cuối mùa xuân vĩnh kửu chủ nghĩa cộng sản muôn năm.
Em thì nghĩ là các bác ấy cũng chả tư duy phức tạp được đến thế đâu. Quá dễ hiểu là đơn giản là ngay trong tiếng Việt mẹ đẻ, các bác ấy cũng không thể mà phân biệt được một sự "kết thúc" bình thường, đơn giản là "hết", thì có gì khác so với cái bẹn gì mà "cáo chung".

http://img158.imageshack.us/img158/9627/spmoon7mj.gif
Phương Thảo
19-03-06, 14:35
Chúng mày làm anh dỗi rồi đấy. :mad: :mad: :mad:

Tuy nhiên cho đến giờ ngoài cái bốt lăng nhăng con đường con điếc dở hơi của thằng Gấu ra hoặc như mấy dòng bi bô Kamasutra của thằng Đào ra, anh vẫn chưa thấy chúng mày đưa ra được lý lẽ thuyết phục gì từ bài viết trên để cho thấy rằng, "the end of history" chỉ có thể dịch là "điểm kết của lịch sử" theo cái nghĩa lịch sử vẫn còn.

Lý lẽ về post-history của anh cực kỳ đơn giản. Ở bất kỳ một thời điểm nào đó, tại một địa điểm cố định chỉ có thể tồn tại duy nhất một trạng thái. Nghĩa là ở Việt Nam chẳng hạn, nếu bây giờ nó ở giai đoạn "post-history" thì có nghĩa là "giai đoạn history" đã bị eliminated. Chứ làm đe'o gì có chuyện nhà nước phong kiến và nhà nước xã hội chủ nghĩa cùng tồn tại.
Gaup
19-03-06, 22:11
Chế độ phong kiến với nhà nước xã hội chủ nghĩa không thể đồng thời tồn tại là bởi vì chúng là những giai đoạn phát triển theo trình tự từ thấp lên cao của tổ chức xã hội noài người. Lịch sử của loài người như một/các xã hội có tổ chức được tạo ra và đánh dấu bởi những cái hình thức tổ chức xã hội tồn tại trong từng thời kỳ như là phong kiến, tư bản, vv. Trong bài này anh này nói là anh ấy tin là ở một vài phần của thế giới người ta đã đạt đến hình thức mà anh ấy tin là cao nhất, không thể có hình thức nào sau đấy nữa, lịch sử không vì thế mà diệt vong/mất đi/bị cáo chung - lịch sử vẫn được defined bằng cả cái giai đoạn cuối đấy nữa và cả mùa xuân vĩnh kửu muôn hoa đua nở xã hội công bằng và văn minh về sau - bác em cố hiểu nhanh để chúng ta cùng vào bài. Nếu mà dịch đoạn nào cũng tranh luận thế này thì chắc mấy tháng cũng không sửa xong được cái bài này, phỏng ạ.
dao_hoa_daochu
19-03-06, 23:03
Đúng rồi, em nghĩ là bi giờ cái phần quan trọng nhất là tiêu đề thì đã có thể chốt lại được rồi.


The End of History?

dịch là

LỊCH SỬ SẼ KẾT THÚC?

là hay nhất. Hai câu hỏi, vang lên bằng hai ngôn ngữ khác nhau, nhưng gây được cảm giác y hệt như nhau. Nhẹ nhàng và học thuật.

PS

Tuy nhiên cho đến giờ ngoài cái bốt lăng nhăng con đường con điếc dở hơi của thằng Gấu ra hoặc như mấy dòng bi bô Kamasutra của thằng Đào ra, anh vẫn chưa thấy chúng mày đưa ra được lý lẽ thuyết phục gì từ bài viết trên để cho thấy rằng, "the end of history" chỉ có thể dịch là "điểm kết của lịch sử" theo cái nghĩa lịch sử vẫn còn.
"Vẫn còn" đếch đâu bác em? Francis Fukuyama anh em bảo là nó hết thật đấy chứ bác. Có điều là nó chỉ "đơn giản là hết" thôi. Trong khi đó, thì tiếng việt nếu nói là "sự cáo chung" của cái gì đó, sự cáo chung của chế độ phong kiến, của chủ nghĩa thực dân, của chế độ admin độc tài, của phương án "cáo chung" của lão Phương Thảo... thì nó có một cái tính chất là đấy là cái kết thúc "không được mong muốn" của cái bị kết thúc. Các bạn phong kiến, các bạn thực dân, các bạn admin độc tài, bạn Phương Thảo... đều không muốn bị kết thúc, cho nên trong các trường hợp đấy, mới dùng "cáo chung" để chỉ sự kết thúc của các bạn. Còn "Lịch sử" theo định nghĩa của anh Francis Fukuyama em thì chỉ đơn giản là hết thôi, chả có gì là uất ức cả.
a-tu-la
23-03-06, 23:21
Bây giờ em mới mang máng hiểu ra chúng mình hình như không cùng tư duy trên một hệ khái niệm chung.

Bác Hegel và đồng bọn (Kojeve, Fukuyama) chia lịch sử thành Tiền sử (Pre-History), Sử (History) và Hậu sử (Post-History). Cho nên có sự cáo chung của lịch sử theo đúng nghĩa của từ này đấy các bác ạ.

Dạo này em các bác thế nào lại xiên sang đọc Hegel, phê quá đi mất. Nhất là cái Phenomenology of Spirit (có bản dịch Spirit là Mind), nhà mình dịch chung là Hiện tượng học Tinh thần. Nghiên cứu chủ nghĩa Marx theo giáo trình Trung học Chuyên Nghiệp 10 năm nay, đọc sang Hegel dưới sự chỉ dẫn của Kojeve chẳng khác gì đang bơi thuyền Hồ Tây tự nhiên lại trôi ra Thái Bình Dương. Marx có thể duy vật cách mạng thật, nhưng đưa con người lên đỉnh cao nhân văn và lãng mạn cùng tất cả những yếu tố thần thánh hoặc bán-thần của nó thì chỉ có bác Hegel nhà em thôi.

Thảo nào Young Marx phải thốt lên: "Chỉ khi Hegel mất, triết học của ông mới thức sự sống!" Tiếc thay, Marx đã lớn lên, và thế giới đã thay đổi! Phương thức Sản xuất thay cho Ý niệm Tuyệt đối, Quyền Lợi Giai Cấp thay cho Hy Sinh vì Nguyệt Quế, Chủ nghĩa Cộng sản thay cho Dân chủ Tự do. Ôi, Hegel!!! Còn đâu những ngày xưa tươi đẹp và hào hùng!!!

Hôm nào rỗi rãi vào kể với các bác sau vậy.
Gaup
23-03-06, 23:55
Chú Đào và anh, hay là chỉ mình anh, cuối cùng thế nào lại bị Atula và Phương Thảo phệt cho trắng bụng. Lý lẽ là nên dịch kết cục chứ không phải là cáo chung vẫn không sai, nhưng rõ ràng chú Đào và anh đã lập luận dựa trên sự thiếu hiểu biết toàn cảnh, không ý thức được rằng có những sự phân loại tuy dở hơi nhưng rất chuyên biệt mà mình chưa nghĩ ra. Sách the end of history anh đọc từ năm 2000 đến giờ tự nhiên có thêm tí sắc màu mới. Bây giờ muốn chiến cho ra chỉ có cách đi chiến nhau với Hegel là tại sao đi chia dở hơi như thế. Mà không chiến ra thì đành phải xin lỗi chú La và bác Thảo là trót vội vàng phê bình sai.
dao_hoa_daochu
24-03-06, 11:26
Bây giờ em mới mang máng hiểu ra chúng mình hình như không cùng tư duy trên một hệ khái niệm chung.

Bác Hegel và đồng bọn (Kojeve, Fukuyama) chia lịch sử thành Tiền sử (Pre-History), Sử (History) và Hậu sử (Post-History). Cho nên có sự cáo chung của lịch sử theo đúng nghĩa của từ này đấy các bác ạ.
Cái này thì đương nhiên là có, nhưng mà không phải là cái cụ thể ở trong bài báo này. Mình cùng tư duy trên khái niệm được đưa ra trong cùng một bài báo mà bác La.

Bác Gấu muốn làm gì thì cũng đừng có lộ liễu quá bác ạ, nó lại thành ra là dỗ trẻ con, thì lại thành ra là cáo chung đấy. hố hố...
late
24-03-06, 12:00
Bác Gấu muốn làm gì thì cũng đừng có lộ liễu quá bác ạ, nó lại thành ra là dỗ trẻ con, thì lại thành ra là cáo chung đấy.
Ừ mình cũng đang hào hứng theo dõi thì tự nhiên lại thấy Gấu già buông súng nhanh thế. Hôm trước bạn Phương Thảo cũng đề cập đến post-history thì thấy vẫn cãi bay bay mà.

Mình lại đang đoán Gấu già sẽ nói nếu dịch là "Cáo chung của Lịch sử" thì vẫn có người hiểu từ "Lịch sử" tương đương với cả 3 giai đoạn Pre-History, History và Post-History cộng lại nên sẽ hiểu nhầm cáo chung của lịch sử là hết tất.

Nhưng mà Đào biết không vì Phương Thảo cũng ở Nhật nhưng mà hôm trước Gấu chưa nghĩ ra là phải mua tranh gỗ. Thế đấy giờ thì chỉ còn mình Đào chiến đấu thôi. Đời đen bạc lắm Đào ạ.

À mà có một member vừa hỏi bạn là sao bác La bác Gấu bác Đào bác Thảo không nói chuyện về bản thân bài báo hay về Francis Fukuyama, bên cạnh công việc tinh dịch vốn là thứ để dành riêng cho Gấu già thủ dâm rồi?

P.S. cái kiểu cười đấy không hay đâu Đào đừng bắt chước.
a-tu-la
24-03-06, 12:36
Thầy giáo Gấu mấy hôm nay bận chăn dắt lớp cao học dịch thuật mới mở nên chưa giúp em hiệu đính bài này mấy nhỉ. Có đoạn bôi đỏ các câu ở trên em biết là thầy giáo Gấu muốn sủa bài lắm rồi, mà sao chưa thấy tiếp.

Em vẫn túc tắc dịch tiếp cho nó xong đấy các bác ạ, dưng cũng mất thời gian. Cái đoạn ở giữa hơi dề dà câu bài hay sao ý nên bố Fukuyama viết dài quá. Để em bốt tiếp bây giờ.

Còn nếu bác Gấu thấy bài dài lại nhiều lỗi quá, sửa khó, để em sẽ tự chọn những chỗ nào em chưa hiểu hoặc dịch chưa thoát ý, sẽ gom lại hỏi bác Gấu cùng các bác khác. Chứ thú thật dạo này bận kinh người....

(Nhưng rỗi rãi sẽ bàn về Duy sử luận của Hegel, trong mối tương quan với duy sử luận Marxist và của Nietzsche. Duy sử luận là sản phẩm đặc trưng của khoa học Xã hội thế kỷ XIX, sang thế kỷ XX các cao thủ như Popper, Hayek, Mises đả phá mãnh liệt. Chưa biết đúng sai thế nào, nhưng phải nói đọc duy sử luận có nhiều cái sướng)
a-tu-la
24-03-06, 12:41
Nếu chúng ta nhìn quanh khắp thế giới đương đại, sự nghèo nàn của tất cả các lý thuyết duy vật chủ nghĩa về phát triển kinh tế đều quá rõ ràng. Trường phái Tạp chí Phố Uôn về duy vật tất định luận thường lấy sự thành công kinh tế rực rỡ của châu Á trong mấy thập kỷ qua làm minh chứng cho tính ưu trội của kinh tế thị trường tự do, với hàm ý rằng mọi xã hội sẽ chứng kiến sự phát triển tương tự nếu họ đơn thuần cho phép dân chúng theo đuổi mối quan tâm riêng về vật chất một cách tự do. Tất nhiên là thị trường tự do và chế độ chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết cần cho tăng trưởng kinh tế tư bản chủ nghĩa. Nhưng cũng rõ ràng di sản văn hoá của các xã hội viễn đông ấy, quan niệm đạo đức về công việc, về sự cần kiệm và về gia đình, một di sản tôn giáo không thiết đặt rào cản lên một số hình thức của hành vi kinh tế, như thấy ở đạo Hồi chẳng hạn, cùng với những phẩm chất đạo đức đã bám rễ rất sâu, đều là những nhân tố có khả năng giải thích không kém phần thuyết phục thành tựu kinh tế của họ.[7] Thế nhưng sức nặng tri thức của chủ nghĩa duy vật lớn đến nỗi, không có một lý thuyết phát triển kinh tế đương đại đáng kể nào xem xét ý thức và văn hóa một cách nghiêm túc như là một ma trận từ đó định hình nên hành vi kinh tế.

Thất bại trong việc hiểu rằng cội rễ của hành vi kinh tế nằm trong lãnh địa tinh thần và văn hoá dẫn đến sai lầm chung là gán các nguyên nhân vật chất cho các hiện tượng mà về bản chất có căn bản là tinh thần. Ví dụ, ở phương Tây đa phần đều lý giải các phong trào cải cách đầu tiên ở Trung Quốc rồi gần đây nhất là ở Liên Xô như là thắng lợi của vật chất đối với tinh thần – nghĩa là, nhận thức rằng các động lực tư tưởng hệ không thể thay thế động lực vật chất trong việc kích thích một nền kinh tế hiện đại có sức sản xuất cao, và rằng nếu anh muốn giàu có thì anh phải viện tới những thể thức hèn kém của tính tư lợi. Thế nhưng những vết rạn rất sâu của các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã hiển hiện, đối với những ai muốn nhìn vào, từ 30 đến 40 năm nay rồi. Vì sao các nước này lại từ bỏ chế độ kế hoạch hoá vào thập kỷ 1980? Câu trả lời nhất định phải được tìm từ ý thức của tầng lớp tinh hoa và các nhà lãnh đạo những nước ấy, những người đã quyết định chọn cuộc sống giàu có và mạo hiểm của người “Tin lành” thay vì đi theo con đường nghèo và yên ổn của người “Công giáo”.[8] Sự thay đổi không phải đến một cách tất yếu từ các điều kiện vật chất khi cả hai nước này ở đêm trước của cải cách, mà trái lại, là kết quả của sự chiến thắng một tư tưởng này đối với một tư tưởng kia.[9]

Đối với Kojève, cũng như với mọi người theo phái Hegel chân chính, thấu hiểu các quá trình nền tảng của lịch sử đòi hỏi sự thấu hiểu những phát triển trong lĩnh vực ý thức hay tư tưởng, bởi vì ý thức xét cho cùng sẽ tái tạo thế giới vật chất theo chính hình ảnh của nó. Nói lịch sử đã cáo chung vào năm 1806 nghĩa là nói sự tiến hoá tư tưởng hệ của loài người đã chấm dứt với những lý tưởng của cuộc Cách mạng Pháp hay Mỹ. Dù một số chế độ trong thế giới thực có thể còn chưa thực thi những lý tưởng này một cách đầy đủ, thì chân lý lý thuyết của chúng là tuyệt đối và không thể tiến thêm được nữa. Do đó, đối với Kojève không có gì đặc biệt khi ý thức của thế hệ người châu Âu sau thế chiến II chưa được phổ quát hoá ra khắp thế giới; nếu sự phát triển tư tưởng hệ trên thực tế đã chấm dứt, thì nhà nước nhất thể đã ca khúc khải hoàn trên toàn thế giới vật chất rồi.

Tôi không có đủ chỗ cũng như, phải nói thẳng ra, không đủ khả năng để bảo vệ cho sự uyên áo thâm sâu trong nhãn quan duy tâm cấp tiến của Hegel. Vấn đề không phải là liệu hệ thống của Hegel có đúng hay không, mà là liệu tầm nhìn của ông có hé mở được hết cái bản chất có vấn đề của rất nhiều cách kiến giải duy vật mà chúng ta vẫn coi là một sự hiển nhiên. Điều ấy không có nghĩa là phủ nhận vai trò của các nhân tố vật chất theo đúng nghĩa của cụm từ này. Đối với một người duy tâm thành tín, xã hội loài người có thể được dựng nên từ bất cứ một tập hợp các nguyên lý mà không cần đếm xỉa gì đến mối quan hệ của chúng với thế giới vật chất. Và trên thực tế con người đã chứng minh là bản thân họ có thể vượt qua những gian khó vật chất cùng cực nhất nhân danh các tư tưởng chỉ tồn tại trong lĩnh vực tinh thần mà thôi, dù đó là sự thần thánh nơi những con bò hay trong bản chất của Thánh Ba Ngôi.[10]

Nhưng trong khi chính cái nhận thức của con người về thế giới vật chất được định hình bởi ý thức lịch sử của anh ta về nó, thế giới vật chất lại có thể đến lượt nó ảnh hưởng một cách rõ ràng đến sự tồn tại của một trạng thái ý thức nào đó. Đặc biệt, sự sung túc diệu kỳ của các nền kinh tế tự do tiến bộ và nhờ đó là nền văn hoá người tiêu dùng đa dạng đến bất tận dường như vừa thúc đẩy vừa duy trì chủ nghĩa tự do trong lĩnh vực chính trị. Tôi muốn né tránh quyết định luận duy vật, là lý thuyết cho rằng kinh tế học tự do tất yếu sản kinh ra chính trị học tự do, bởi vì tôi tin rằng cả kinh tế học lẫn chính trị học đều tiền giả định rằng có một trạng thái ý thức độc lập trước đó khiến cho chúng xuất hiện. Nhưng cái trạng thái ý thức cho phép sự phát triển của chủ nghĩa tự do dường như ổn định theo cách mà chúng ta kỳ vọng vào lúc cáo chung của lịch sử nếu nó được bảo đảm bởi sự sung túc thịnh vượng của một nền kinh tế thị trường tự do hiện đại. Chúng ta có thể tóm tắt nội dung của nhà nước nhất thể phổ quát như là một nền dân chủ trong lĩnh vực chính trị được kết hợp với sự phồn thịnh trong lĩnh vực kinh tế.
a-tu-la
24-03-06, 12:49
Ý của Biển hay đấy. Công nhận dịch là chủ nghĩa thực dụng gây hiểu nhầm và phản cảm. Dịch như cách của Biển có khi là chuẩn của nó. Ngày xưa mình có đọc cuộc tranh luận về cách dùng từ này ngay trong tiếng Anh, hình như ở giai đoạn chuyển tiếp từ triết học của William James sang John Dewey. James hình như dùng một từ khác (mấy hôm nay cố nhớ ra mà không đuợc, có ai nhớ không thì nói đê), sau đó Dewey chuyển sang dùng pragmatism để phân biệt, mặc dù không khác nhau nhiều lắm. Cũng có thể trí nhớ đã hoàn toàn phản bội tôi (@Ngô Tự Lập?).

Bác nào biết và nhớ thì đính chính và bổ sung giúp.


Bác La. Nếu em có dịch pragmatism là chủ nghĩa hành động thì các chú các bác có nhẩy vào hấp diêm em không ạ? Từ điển nhà mình chỗ nào cũng dịch là thực dụng, sách nào cũng nói là thực dụng. Chửi bới nhau cũng mang ra dùng, mặc dù nguyên gốc Hy Lạp pragma nghĩa là hành động. Phim hành động cũng là pragma, phỏng ạ. Hay các bác em bảo em nên dịch là phim thực dụng cho nó giống các cụ?
Nghèo khổ --> khốn cùng
Hành động --> thực dụng
Không hiểu thế hệ cha chú chúng ta cố tình hay vô ý nữa?
@ Anh Gấu anh La và các bạn ở US hôm nào rỗi làm bài về pragmatism cho giảng cho lũ chã như em mở mang thêm về xứ Cờ hoa cái được không ạ?
Gaup
24-03-06, 20:55
Pragmaticism? Verificationism?
a-tu-la
20-04-06, 14:28
Section III và IV dài ngoẵng lúc nào dịch song gửi chị Hoài đăng cả thể. Ở đây phục vụ 4C section V là đoạn chốt, bác Fuku giả vờ ngậm ngùi viết nghe như cải lương buồn cuời phết.



V

Việc từ bỏ chủ nghĩa Mác Lênin đầu tiên ở Trung Quốc rồi đến Liên Xô nói lên rằng cái chết của nó với tư cách một hệ tư tưởng sống có tầm quan trọng lịch sử thế giới. Mặc dù vẫn còn một số người thật sự thành tín rải rác ở một vài nơi như Managua, Pyongyang, hay Cambridge, Massachusetts, nhưng cái thực tế rằng không còn một nhà nước lớn nào coi hệ tư tưởng ấy là mối quan tâm hiện thời nữa, đã làm xói mòn hoàn toàn cái tham vọng đóng vai đội tiên phong trong lịch sử loài người của nó. Và cái chết của hệ tư tưởng này đồng nghĩa với tiến trình “Thị trường Chung hoᔠngày càng tăng của các mối quan hệ quốc tế, cũng như sự thu hẹp khả năng xung đột trên diện rộng giữa các nhà nước.

Điều này tự nó không hề hàm ý sự kết thúc các xung đột quốc tế. Bởi vì thế giới vào thời điểm ấy sẽ bị chia ra làm hai phần, một phần vẫn còn lịch sử và một phần là hậu lịch sử. Cuộc xung đột giữa các nhà nước còn trong lịch sử với nhau, và giữa chúng với các nhà nước đã tới điểm cáo chung của lịch sử, vẫn có thể xảy ra. Sẽ vẫn còn bạo lực dân tộc chủ nghĩa hay bạo lực sắc tộc ở mức độ cao hoặc thậm chí gia tăng, bởi vì đó là những nguyên nhân chưa được loại trừ hoàn toàn, thậm chí ngay cả trong những phần thuộc về thế giới hậu sử. Người Palestine và người Kurd, người Sikh và Tamil, người Công giáo Ai-rơ-len và người Walloon, người Armenian và Azeri, sẽ vẫn tiếp tục còn những mối bất hoà chưa giải quyết được. Điều này hàm ý rằng chủ nghĩa khủng bố và chiến tranh giải phóng dân tộc sẽ vẫn là những vấn đề quan trọng trên bàn nghị sự quốc tế. Nhưng xung đột diện rộng thì đòi hỏi phải có sự tham dự của các nước lớn còn chưa thoát khỏi gọng kìm lịch sử, mà điều này thì khó xảy ra vì chính các nước ấy đang tiến tới điểm cuối của lịch sử như chúng ta thấy.

Sự cáo chung của lịch sử sẽ là một thời đại vô cùng buồn thảm. Cuộc đấu tranh để được thừa nhận, tinh thần dám mạo hiểm cả cuộc đời vì một mục tiêu trừu tượng, cuộc đấu tranh tư tưởng hệ trên diện toàn thế giới đòi hỏi sự táo bạo, lòng can đảm, trí tưởng tượng, và chủ nghĩa duy tâm, sẽ bị thay thế bằng những tính toán kinh tế, mối bận tâm bất tận giải quyết những vấn đề kỹ thuật, mối lo về môi trường, và làm sao thoả mãn nhu cầu phức tạp của người tiêu dùng. Trong giai đoạn hậu sử, sẽ không còn nghệ thuật cũng như triết học, mà chỉ còn việc chăm lo hằng đời cho toà bảo tàng lịch sử nhân loại mà thôi. Tôi tự cảm thấy trong lòng, và cũng thấy thế nơi những người quanh tôi, niềm hoài cổ da diết về thời đại khi lịch sử còn tồn tại. Nỗi niềm ấy, trên thực tế, sẽ còn tiếp tục truyền lực cho cuộc cạnh tranh và xung đột ngay cả trong thế giới hậu sử thêm một thời gian nữa. Cho dù tôi có nhận thức được tính tất yếu của nó, nhưng tôi vẫn có những cảm giác lẫn lộn khó tả vô cùng về nền văn minh được tạo nên ở châu Âu sau năm 1945, rồi những hậu duệ của nó ở Bắc Mỹ và châu Á. Có lẽ chính cái viễn cảnh buồn chán kéo dài hàng thế kỷ như thế khi lịch sử cáo chung, sẽ làm cho lịch sử một lần nữa bắt đầu.
Sất
20-04-06, 17:45
A tu la đọc mấy thứ đó mai sau về làm cách mạng cho viện nghiên cứu Triết học Mác lê nin chứ ?
Gaup
09-05-06, 23:14
La ơi vào xem cái này này.

http://www8.dantri.com.vn/Thegioi/2006/5/116207.vip

Có vẻ như sự cáo chung của sự cáo chung của lịch sử sẽ là tôn giáo - theo quan điểm của kẻ mạnh. Chúng ta khéo lại đi một vòng tròn xoe về lại chỗ ban đầu.
Mặt Má Hồng
18-05-06, 00:26
Các cụ xưa dịch "pragmatism" là chủ nghĩa thực dụng là chính xác rồi, không cần phải đổi nữa, bởi vì:

thực: thực tế, thật sự
dụng: dùng, thi hành, làm

Vậy thì thực dụng có nghĩa là làm thật, ăn thật, "actual practice", chứ không nói suông, không NATO, lý thuyết mãi. Nếu dịch là hành động thì không sát nghĩa hoặc lột tả được nghĩa của pragmatism, dù rằng pragmatic cũng có nghĩa là "busy or active" (bận rộn hoặc hoạt động) nhưng hiếm khi dùng. Lại nữa, theo tui, đôi khi không hành động gì cả mà vẫn coi là "thực dụng".