Chế Tạo Thơ Ca - Phan Nhiên Hạo

Imagine
15-02-06, 14:22
Chế Tạo Thơ Ca 99-04
Phan Nhiên Hạo

------------------------------

Tấm Ảnh Những Năm 60

Ngồi tư thế này để có bức hình đẹp
tay chống cằm, khoe mặt đồng hồ về phía trước
miệng cười răng vàng
áo vét mượn trong tiệm.
(Ảnh bán thân,
không thấy quần khác màu và đôi dép nhựa.)

Người bà con xa này tôi thậm chí không nhớ tên
chỉ biết ông chết không lâu sau đó
vì đạn
vào những năm sáu mươi.

Trong tấm hình đồng hồ của ông chỉ 10 giờ 5 phút,
đó phải là một buổi sáng đẹp trời
người thanh niên trịnh trọng ngồi trước máy ảnh

Khi đèn flash lóe lên
từ ống kính đen ngòm, chiến tranh đã kịp nhìn thấy
một con người trẻ tuổi để tiêu hoang.


----------------------------


Tiệc Nửa Đêm Với Các Đại Gia Và Venus

Cổng vào treo bảng “Hãy tự chế, mặc dù nơi đây tất cả đều được phép”. Nữ chủ nhân Venus với cặp vú sứ hình cầu. Nàng mặc áo dài Việt, đeo đồng hồ Thụy Sĩ, chân mang giày lính Made in China, miệng nhai chewing-gum Mỹ.

Chồng nàng là một người mặt dài với hai mắt bù-loong. Nhà truyền giáo của các bắp thịt, triết gia của hàng nhập khẩu, chỉ huy trưởng của sự vâng phục. Như một quả mãng cầu, hắn sắp nứt ra vì trách nhiệm.

Tôi vừa gật đầu chào, người đàn ông đã nói: “Rất hân hạnh, xin được tự giới thiệu tôi tên Nil. Tôi sinh ra giữa mùa hạn hán. Tôi hãnh diện vì trí nhớ tôi chỉ giành cho chiến thắng. Tôi buồn rầu vì không còn thời cực thịnh của những kẻ si mê. Tôi đã đi ra khỏi bóng tối, bên dưới tấm mền dù chiến tranh. Trước đây tôi tình nguyện giết gà và tin tưởng. Còn bây giờ tôi là một doanh gia...”

Trong khi hắn đang nói, chiếc xe trờ tới với người tài xế bằng đồng. Một hiệp sĩ trung cổ mặc áo giáp sắt cầm giáo dài từ ghế sau bước xuống. Tất cả vội rạp mình: những người ở trong nhà và những kẻ ở ngồi sân; bọn du thủ, bọn khất thực, bọn thi sĩ màu mè, những tên bán kim chỉ vá víu lòng tin, những quái thai sinh ra từ nửa quả trứng.

Chúng tôi ngồi vào bàn tiệc, nhạc nổi lên, nhạc văn minh tuy có hơi rỉ sét. Nhạc của John Lennon một kép mùi thời đại. Nhạc của John Cage nhà tiền phong hàng mã. Nói chung là nhạc chỉ dùng một nửa bảng chữ cái. Venus duyên dáng đi thay giầy hội nhập. Khi trở ra nàng nhún nhảy giữa phòng mua vui cho khách, rất khả ái nhưng cánh tay cụt khiến nàng hơi mất thăng bằng.

Khi đã ngà ngà say Nil xin phát biểu, hắn trịnh trọng nâng ly:

“Thưa đại ca, tôi nghĩ đây là thời hữu dụng của những doanh gia. Chúng ta hãy bán bảo hiểm vì ngày càng có nhiều thứ để mất. Chúng ta hãy bán hoa vì ngày càng có nhiều kẻ trưởng giả. Chúng ta hãy bán nhang vì người ta ngày càng mê tín. Chúng ta hãy bán nón vì ngày càng có nhiều kẻ hói đầu. Nói chung sứ mạng của chúng ta là bán thật nhiều thứ cho đến khi con người tự bán mình cho chúng ta.”

***

Đã quá nửa đêm tiệc vẫn chưa tàn. Không ai dám đứng lên vì thịt quá nhiều họ sợ phạm tội phung phí máu.


------------------------


Bay Đêm (*)

Nhiệt độ xuống thấp trong sa mạc Bắc Phi vào lúc nửa đêm

đây là chiếc máy bay cổ lỗ

lẽ ra phải được vứt bỏ từ lâu.

nhưng chúng tôi chỉ lo sơn phết bên ngoài

trong khi cãi nhau không nghỉ,

sự thật thì chúng tôi nghèo và không rành cơ khí,

bây giờ rơi xuống đây, may mà sống sót.

Tìm được dưới ghế chiếc đèn pin yếu ớt

chúng tôi mò mẫm đi tìm viên sĩ quan thuộc địa tiền dồn

kẻ đã cho Saint-Exupery rượu, thuốc lá, và những lời khuyên

khi ông bị nạn.

Lò dò đến nơi mỏi chân khản cổ

cả bọn mới hay

viên sĩ quan thuộc địa tiền đồn đã chết

vì sự lan tràn của bệnh Sida

từ dạo 1945.

(*) Chú thích: Vol de Nuit (Bay Đêm), 1931. Antoine de Saint Exupery

Nguồn: Hợp Lưu 77
Imagine
15-02-06, 14:24
Lương Thư Trung
Ðọc thơ Phan Nhiên Hạo, một tách trà đắng

Phan Nhiên Hạo còn rất trẻ. Tuổi đời hẳn phải trẻ hơn nhiều người, trong đó có tôi. Nhưng thơ Phan Nhiên Hạo không dễ đọc chút nào. Hai thi tập “Thiên đường chuông giấy” (1998) và “Chế tạo thơ ca 99-04” (2004) [1] là tập hợp thơ của một thi sĩ đã vượt ra ngoài mọi lề lối cũ của thi ca trước đó, và có lẽ cả sau này; nó có con đường riêng để đi, theo cách định hướng riêng của tác giả. Ðọc Phan Nhiên Hạo không dễ như đọc những bài thơ lãng mạn trữ tình, những bài thơ lấy trăng thanh gió mát làm chất liệu. Thơ Phan Nhiên Hạo là dấu vết của một mảnh đời, một bức tranh xã hội, một cái nhìn bao quát mà tỉ mỉ từng chi tiết của những chuyển dịch đời sống.

Tôi không quan tâm đến việc tìm xem Phan Nhiên Hạo làm thơ theo trường phái nào. Ðiều này thật ra không mấy quan trọng từ góc nhìn của một độc giả thơ. Và cũng bởi lẽ, chính Phan Nhiên Hạo dường như không chủ ý sáng tác theo một trường phái nào, mặc dù trong những bài tiểu luận gần đây, Phan Nhiên Hạo đã chứng tỏ ông là người am hiểu các phong trào thơ ca đương đại. Tinh thần thi ca độc lập này được Phan Nhiên Hạo nhiều lần đề cập khá trực tiếp trong thơ mình:

“người ta có thể đổi màu như kỳ nhông
từ hồng lãng mạn sang nâu hiện thực
hay sặc sỡ thời trang chủ nghĩa
Trong trường hợp nào cũng không nên ăn bã mía
nhả ra từ những kẻ rụng răng”

(“Ở nhà mùa hè với chiếc Remote Control”, CTTC 99-04, trang 86)

Ngay cả khi nhận ra “cơn đau bụng” chung của xã hội, của thơ ca hiện nay, Phan Nhiên Hạo cũng chọn cho mình một cách thế “vệ sinh” riêng:

“cơn đau bụng bốn ngàn năm lịch sử
Tất cả chúng ta đang đứng trước một nhà cầu
nhưng ngay cả trong chuyện này tôi cũng mang theo giấy vệ sinh riêng”

(“Không chết cái chết khác”, CTTC 99-04, trang 63)

Cũng trong bài “Không chết cái chết khác”, Phan Nhiên Hạo nhiều lần khẳng định ông không muốn “nhân danh” bất cứ điều gì, càng “nhân danh” càng rỗng. Ngôn ngữ thơ, ít nhất ở khởi điểm của nó, là một kinh nghiệm nghệ thuật riêng tư, rất riêng:

“nhưng khởi đầu ngôn ngữ luôn phát ra
duy nhất từ vòm miệng này, chiếc lưỡi đỏ, sự tức giận riêng tư,
không bao giờ nói “Tôi nhân danh...”

(“Không chết cái chết khác”, CTTC 99-04, trang 62)

Phan Nhiên Hạo nhận ra cái rối mù của cuộc đời, cái quanh co của giao tiếp, cái giả của văn chương và cái thật trong đời mà ông đang sống. Từ đó ông chối bỏ mọi ràng buộc, chỉ muốn tự tẩy rửa mình bằng một dòng nước mát:

“Bên trên những mùa màng đổ vỡ
những giao hưởng vụng về
những khán giả lòe loẹt quên đánh răng
những người đàn bà rụng tóc
những đứa con nít tập giết nhau
những người già thở than không ngơi nghỉ
chúng ta nói chuyện thơ ca
chúng ta hôn hít, giận hờn
chúng ta ngồi đứng, ngày mai trở dậy
tôi ước tôi có thể đi ra sông
đi ra sông
và khóc .”
(“Trên những mùa màng đổ vỡ”, TÐCG, trang 72)

“Khóc” ở đây không thuần là khóc vì buồn chán, khổ đau, mà còn là biểu cảm của mừng vui hạnh phúc khi thoát ra khỏi những bùi nhùi vô nghĩa luôn bủa vây đời sống.

Thơ Phan Nhiên Hạo là một chuỗi câu chữ diễn đạt ý tưởng mà người đọc khó có thể tách rời ra từng phần một. Nó như một mạch điện nối tiếp, để sau cùng toả ánh sáng ở bóng đèn điểm cuối. Bài ”Trên những mùa màng đổ vỡ” vừa trích là một ví dụ. Những hình ảnh nối tiếp nhau tạo ra mạch điện chuyển dịch, để sau cùng “khóc” như một thứ ánh sáng bùng lên vào cuối bài, sau những xúc cảm u trầm, vây hãm trong phần trước đó của bài thơ.

Trong thơ Phan Nhiên Hạo không có chỗ cho lãng mạn, trữ tình, mà là một kho từ ngữ súc tích của “không gian bốn chiều”; người đọc phải chịu khó ngồi xuống với những trang thơ may ra mới nhận được chiều không gian thứ tư luôn luôn lẩn khuất trong những con chữ. Thơ Phan Nhiên Hạo không phải để cảm mà để nhận, không phải để ngâm nga mà để nghiền ngẫm, không phải để ca ngợi cuộc đời mà để nhận dạng cuộc đời.

Thơ Phan Nhiên Hạo khó đọc, nó là một tách trà đắng. Người đọc không khỏi bị vị chát của trà làm tê đầu lưỡi, nhưng sau khi những giọt nước trà vừa đắng vừa chát ấy thấm dần vào bên trong, ta nghe lan dần ra cái hậu ngọt của trà...

Boston, ngày 12-10-2004

© 2004 talawas
Imagine
15-02-06, 14:26
Phan Nhiên Hạo
Thơ chỉ thật sự mới khi có một cảm nhận văn hóa mới ...
Nguyễn Hữu Hồng Minh thực hiện

Xu hướng cách tân thơ Việt không chỉ đang diễn ra với những nhà thơ trẻ trong nước mà còn có thể thấy rõ ở một số nhà thơ hải ngoại. Phan Nhiên Hạo là một gương mặt ấn tượng với những thể nghiệm có chiều sâu nội tại, với nguồn năng lượng bí ẩn và quyến rũ. Sau đây là cuộc trao đổi ngắn với Phan Nhiên Hạo xung quanh vài vấn đề của thơ hiện nay.
Nguyễn Hữu Hồng Minh


Nguyễn Hữu Hồng Minh: Anh có nghĩ là anh đã tìm được cho mình một hướng viết mới để giải quyết những vấn đề tồn đọng về thi pháp?

Phan Nhiên Hạo: Có lẽ tôi tìm được cho tôi một giọng điệu. Tôi không nghĩ thi pháp như một cỗ máy để có thể sửa chữa, hay “giải quyết những vấn đề tồn đọng”, rồi mọi việc sẽ êm đẹp. Ðối với tôi, thi pháp chỉ là phương tiện của sự diễn đạt. Ngay cả khi có kỹ thuật diễn đạt tốt, nhưng không có cảm xúc, không có cảm quan văn hóa mới, thi pháp cũng chỉ là một mớ đồ nghề vô dụng. Nhiều người mày mò với đủ loại thi pháp nhưng sản phẩm cuối cùng mà họ tạo ra chỉ là những bài thơ rất chán. Thi pháp chỉ thuyết phục và có ảnh hưởng khi được thể nghiệm thành công qua những bài thơ hay. Tôi tìm kiếm những thi pháp mà tôi có hứng thú trong những khoảng thời gian nhất định. Cách viết của tôi hôm nay có vẻ khác trước đây một chút, và vài năm sau có thể khác bây giờ.

NHHM: Khi viết, anh quan tâm đến điều gì trước tiên? Phương diện nào của thơ quyến rũ và cứu rỗi anh?

PNH: Tôi quan tâm đến tính giao tiếp (communication) của thơ, và văn chương nói chung. Ngôn ngữ, thi pháp, chỉ là phương tiện để đạt đến một sản phẩm nghệ thuật có khả năng giao tiếp hiệu quả với người đọc. Ðiều này không đồng nghĩa với việc chạy theo thị hiếu, là việc luôn tìm cách thỏa hiệp với sự dễ dãi của đám đông. Giao tiếp mang một ý nghĩa trung tính hơn. Tôi có thể không đồng tình với anh, nhưng tôi vẫn muốn thông tin của tôi đến được với anh một cách rõ ràng, thuyết phục. Trong nghệ thuật, tôi cũng muốn thông tin đó tạo được những phản ứng nhân bản và cảm xúc thẩm mỹ nơi người đọc. Thơ quyến rũ tôi ở chỗ nó cho phép tôi giao tiếp với thế giới bên ngoài trong một cung cách rất riêng tư. Tôi nghĩ ở những xã hội phát triển, nghệ thuật ngày càng trở nên trực tiếp và chú trọng đến tính giao tiếp. Vì trong một nền văn hóa phát triển, người ta phải có khả năng giao tiếp được với nhau một cách dân chủ.

NHHM: Suy nghĩ của tôi về thơ Phan Nhiên Hạo là anh đã viết rất độc đáo về những điều mà đối với kẻ khác chưa nhìn thấy và không thể nói ra. Mà những vấn đề ấy nhan nhản quanh cuộc sống ta như những chi tiết không đáng kể, xe điện mạ đồng, ẩm thực ở một làng quê... Anh đã biến cái bình thường tẻ nhạt thành vấn đề của thơ, của văn hóa. Anh đã làm điều này như thế nào?

PNH: Nhiều người cũng viết về những sự vật gần gũi xung quanh. Nếu tôi có thể viết khác họ một chút, có lẽ vì tôi có một cảm nhận văn hóa riêng. Môi trường sống, những ảnh hưởng của một nền văn hóa khác đã đem đến cho tôi những cảm nhận mới về thế giới xung quanh. Tôi có thể viết về “ẩm thực ở một làng quê” chẳng hạn, nhưng cái nhìn của tôi không giống cái nhìn ngợi ca của một người luôn gắn bó với nông thôn, cũng không giống cái nhìn tò mò của một người ngoại quốc. Ðối với tôi, thơ chỉ thật sự mới khi có một cảm nhận văn hóa mới.

NHHM: Nhà phê bình Nguyễn Thị Từ Huy có nhận xét: “Có thể thấy Phan Nhiên Hạo đã thành thực như một người làm thơ hiểu rõ công việc mình đang làm. Sự tiếp thu chủ nghĩa Siêu Thực của PNH là một sự tiếp thu có ý thức. Thoải mái thừa nhận những ảnh hưởng ngoại lai trong tác phẩm mình như vậy phải chăng vì PNH đã tự xóa bỏ ảo tưởng về một tài năng thiên phú”. Trong sáng tạo, để thành công, tôi nghĩ thiên phú là một yếu tố quan trọng. Loại bỏ nó, thơ sẽ còn gì?

PNH: Trong sáng tạo nghệ thuật, tài năng thiên phú rất quan trọng. Tôi hoàn toàn đồng ý với anh. Và tôi nghĩ Nguyễn Thị Từ Huy cũng đồng ý như vậy. Tôi nghĩ chị ấy chỉ có ý nói làm thơ mà hoàn toàn trông cậy vào thiên phú là một ảo tưởng. Cần có sự học hỏi, tiếp nhận. Ðiều quan trọng ở đây là “hiểu rõ việc mình đang làm”. Có những người liên tục chạy theo phong trào, xoay xở giữa các ảnh hưởng, đến nỗi không thật sự biết mình đang làm gì, ở đâu. Và điều này làm cho thơ của họ ngay cả khi có vẻ lớn tiếng (mà thường là như vậy) vẫn thiếu một giọng điệu riêng biệt, tự tin. Tính thời thượng thường là hậu quả của sự thiếu thông tin về một toàn cảnh văn chương rộng lớn. Một người làm thơ nhận rõ mình đang làm gì và ở đâu sẽ tự thay đổi mình dễ dàng hơn để tiến về phía trước. Một người làm thơ không biết rõ mình đang làm gì và ở đâu sẽ là một con gà mắc dây thun.

NHHM: Trần Wũ Khang có nhận xét về tập thơ đầu của anh: “Phan Nhiên Hạo với Thiên đường chuông giấy (1988) có thể ví như Lửa thiêng của Huy Cận thời thơ Mới: có ngay một chỗ đứng biệt lập trên thi đàn khi vừa xuất hiện. Khác điều, PNH không dừng lại, ôm mãi bó hoa cũ tàn héo, anh biết cách vượt lên chính mình để có sáng tạo mới hơn bắng ý thức nghệ thuật không quá khích nhưng lành mạnh và đủ đầy”. Liệu Chế tạo thơ ca 99-04 đã vượt qua Thiên đường chuông giấy?

PNH: Tôi nghĩ tập Chế tạo thơ ca 99-04 có những khác biệt so với tập Thiên đường chuông giấy in cách đây sáu năm. Nó trực tiếp hơn, hướng ngoại nhiều hơn, ít trữ tình hơn. Một số thủ pháp kỹ thuật có tính thể nghiệm cũng đã được sử dụng. Chẳng hạn thủ pháp cắt dán, sự thay đổi cách ngắt nhịp cuối câu của thơ tự do. Tôi vui vì tập thơ mới phần nào khác tập thơ trước. Nhưng tôi không nhìn nó ở khía cạnh vượt trội. Tôi thích nhìn nó như một sự đa dạng của bút pháp cá nhân. Tôi vẫn thích Thiên đường chuông giấy. Tôi nghĩ nó là một tập thơ đã giao tiếp thành công với người đọc. Tôi chỉ muốn nói rằng tôi viết với ý thức về một sự vận động. Và những gì đã qua không phải là trọng tâm chú ý của tôi.
Imagine
15-02-06, 14:27
NHHM: Cảm xúc khá nhất quán của tôi sau khi đọc hai tập thơ của anh là: ngôn ngữ hiện đại, chất liệu mới, và cảm xúc nhuần nhị. Băn khoăn của tôi là những vấn đề triết học hay thuần lý hình như đã bị anh loại bỏ hoàn toàn. Ngay như bài “Phở, sự thiết yếu”, khi nhắc đến Derrida và các đệ tử của ông, cũng không hẳn để giải quyết một vấn đề đến nơi đến chốn. Tại sao vậy?

PNH: Anh nhận xét đúng. Nói thẳng ra là thế này: tôi không thích cái gọi là tính “triết học” trong thơ. Tôi nghĩ thơ nên có những khái quát, để có một chiều sâu nhất định. Nhưng đừng cố gắng làm một loại thơ triết học. Tôi nghĩ văn chương chúng ta, mắc kẹt trong ảnh hưởng của tinh thần Hiện Ðại Châu Âu, vẫn bị ám ảnh ghê gớm bởi triết học, và lại thể hiện điều đó ra một cách rất bình dân. Hình như các nhà văn sợ bị coi là dốt nếu không nhét triết học vào tác phẩm. Triết học là môn học hay, nếu được nghiên cứu đến nơi đến chốn. Ở Việt Nam, trường học không dạy triết. Nhưng ngược lại, triết gia bình dân ngoài đời rất đông. Chính tôi khi mới đến Mỹ cũng đã viết những bài luận văn trong lớp học theo kiểu triết học bình dân này, và tôi rất biết ơn các giáo sư của tôi đã không để lộ sự thương hại của họ đối với một trò lố bịch như vậy. Tôi đã tưởng nếu nêm gia vị triết học vào những bài luận văn (không liên quan gì đến triết học), tôi sẽ tạo được ấn tượng về một con người có tầm văn hóa quốc tế. Thật ra, điều này là một ảo tưởng rất sai lầm. Người ngoại quốc không ấn tượng với những kẻ học lóm kém cỏi như vậy. Thời của loại văn chương-triết lý, theo tôi cũng đã qua. Người đọc hôm nay cần những câu chuyện mạch lạc và hấp dẫn, những bài thơ có chiều sâu nhưng trực tiếp. Họ không chịu được những món nặng bụng nữa.

Tôi đề nghị văn chương chúng ta nên thay tính triết lý bình dân bằng tính khôi hài. Tính khôi hài là điều văn chương Việt Nam đang thiếu rất trầm trọng (dĩ nhiên khôi hài thông minh, văn hóa, không phải loại bông phèng tục tĩu). Suốt mấy mươi năm, hình như chỉ có Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là có tính khôi hài. Và đó là một tuyệt tác.

NHHM: Gần đây trong một số bài viết về thơ của anh, tôi phát hiện chúng có chiều hướng chống đối nhau. Ví dụ anh ca ngợi tự do để sáng tác nhưng lại không chiụ nổi một số hành động quá khích của một hai cây viết chủ trương thơ Dơ và thơ Rác. Anh viết về văn học Hậu Hiện Ðại mà lại không chấp nhận sự phá vỡ các khuôn thức nội tại của nó. Tại sao? Tôi tự lí giải là, dù đã đổi “quốc tịch”, anh vẫn chỉ là một người Việt ở nước ngoài yêu chuộng vẻ đẹp thuần khiết, giản dị và thanh lọc của văn học?

PNH: Khi nói đến “tự do sáng tạo”, tôi muốn đề cập đến môi trường xã hội trong đó nhà văn được tự do diễn tả tư tưởng mà không phải chịu sự kiểm duyệt hoặc trừng phạt của chính quyền. Nhưng trong môi trường “tự do sáng tạo”, người ta có quyền có những quan niệm nghệ thuật chống đối nhau. Chuyện này không có gì là mâu thuẫn. Tôi hiểu nguồn cơn của những hiện tượng cực đoan như “thơ rác”, “thơ tục” ở cả trong và ngoài nước hiện nay. Nhưng tôi nghĩ nó sẽ không đi đến đâu. Trong khía cạnh nghệ thuật, những phá phách cực đoan kiểu Dada này đã quá lỗi thời, và vì vậy, nó có vẻ rất ngây ngô vào thời điểm này. Trong khía cạnh chính trị-xã hội, nó đánh lạc hướng sự chú ý của giới trẻ ra khỏi những vấn đề quan trọng. Rốt cuộc, văn chương chỉ còn là một trò đùa tục tĩu, tầm phào. Thật là ảo tưởng để tin rằng có thể tấn công thành trì bảo thủ văn nghệ bằng một thái độ như vậy. Ðiều này thật ra chỉ khiến những kẻ bảo thủ có lý do để bảo thủ hơn, và khiến nhân dáng của nhà văn trở nên rất thảm hại, nhất là trong con mắt của chính trị. Tôi tin rằng nhà văn hoàn toàn có khả năng “cách tân” cũng như “phản ứng” trong văn chương bằng một thái độ trí thức kiêu hãnh. Và chỉ bằng cách này, họ mới thuyết phục được người đọc.

Hậu Hiện Ðại có nhiều điểm hay, nhưng tôi nghĩ nếu hiểu đúng Hậu Hiện Ðại, người ta sẽ không cực đoan. Hậu Hiện Ðại có tính dung hòa và tổng hợp nhiều hơn là tính lật đổ và loại trừ. Những lý thuyết văn chương khi du nhập vào Việt Nam vẫn thường biến thành mốt với sự hiểu lầm như vậy.

Cách đặt vấn đề của anh rằng mặc dù tôi đ㠓đổi quốc tịch” nhưng tôi vẫn “chuộng vẻ đẹp thuần khiết”, có thể xuất phát từ ngộ nhận của anh về thế giới bên ngoài chăng. Theo cái logic này, một người “đã đổi quốc tịch” lẽ ra phải thích sự thô ráp, dữ dội. Tôi có vài người bạn, lúc mới sang Mỹ, đã vô cùng thất vọng. Sống ở Sài Gòn, họ cứ tưởng sang Mỹ sẽ có những màn ăn chơi dữ dội gấp nhiều lần. Họ đã rất ngỡ ngàng khi thấy ở Mỹ, phần lớn phố xá đều vắng hoe sau chín giờ tối. Ðã quen với những trận nhậu “tới bến”, họ rất chán với những bữa tiệc chỉ uống một hai chai bia rồi phải lo lái xe về, không massage cũng chẳng bia ôm gì ráo. Ðối với họ, dĩ nhiên những kiểu chơi này là “quá chừng mực”, “không đã”.

Phải sống hòa nhập đến mức nào đó vào một xã hội phát triển, người ta mới cảm thấy thoải mái với những sự “đơn giản”, “thanh khiết”. Dĩ nhiên, có những người Việt dù sống ở đây cả ba chục năm cũng chẳng học được điều gì hay ho.

NHHM: Anh vẫn là một gã da vàng lang thang cô độc quanh các đại lộ lớn. Ý nghĩ này xâm chiếm tôi đến mức tôi không tin rằng sẽ có một nền văn học hải ngoại ở bên ngoài Tổ Quốc lớn mạnh mà không cần phải quy chiếu lại ở văn chương Việt Nam, như một bộ phận của văn học Việt?

PNH: Tôi không rõ lắm anh dùng từ “quy chiếu” theo nghĩa nào. Theo tôi, văn học hải ngoại hiện vẫn tồn tại, đơn giản vì còn người viết và đọc tiếng Việt. Khoảng ba bốn mươi năm nữa, nếu không có những đợt di dân lớn, người viết và đọc tiếng Việt ở hải ngoại sẽ hết. Ðến lúc đó, văn học hải ngoại sẽ thôi tồn tại. Hiện nay, văn chương hải ngoại vẫn đang sung sức và có nhiều cái mới để đóng góp vào văn chương Việt Nam. Nó nên được nhìn nhận một cách công bằng.

Hoa Kỳ là một xã hội đa văn hóa, đa chủng tộc, và nhập cư. Làm một người thiểu số trong xã hội Hoa Kỳ là làm một cuộc hành trình không ngừng nghỉ tìm kiếm cái căn cước bản thể (identity) của mình. Tất cả người thiểu số Hoa Kỳ, dù mới nhập cư hay sinh đẻ ở đây, đều đối mặt với vấn đề này. Ở khía cạnh văn chương, đây chính là một đặc thù mà các nhà văn hải ngoại có thể khai thác, đóng góp. Làm một người lang thang trên các đại lộ bên ngoài đất nước mình không phải là chuyện vui vẻ gì, nhưng nó cũng là một cơ hội tuyệt diệu để nhìn thấy thế giới, và quan trọng hơn, để nhìn thấy khuôn mặt của chính mình phản chiếu từ cửa kính các ngôi nhà cao tầng.

NHHM: Cảm ơn Phan Nhiên Hạo.

Sài Gòn, 10.2004

(Bài phỏng vấn này nguyên được thực hiện cho một báo điện tử trong nước)

© 2004 talawas
Imagine
16-02-06, 19:20
Sau bảy ngày trong khách sạn với T.

Tôi ngủ bảy ngày trong khách sạn với T.
khi thức dậy tôi đã là một người khác
tôi muốn kiếm tiền, tôi muốn làm một con chim trống
tôi muốn T. lặn sâu xuống thực quản tôi
nhưng cô ta bơi lượn lờ như cá
trong vòm miệng tôi đầy nước bọt

Khi tôi nằm trên mình T. tôi thấy giống như chèo
một chiếc thuyền trên cát
E LA NAVE VA
mặt trời nóng bỏng và chúng tôi bị chôn chân
giữa các biểu tượng sáo cũ
A, mặt trời chỉ là một mẩu thuốc đỏ
đang tàn

Ở bên cạnh người đàn bà này tôi biết các ngấm ngầm của tàn phá
như thể một người uống triền miên các loại rượu mạnh rẻ tiền
một người đi dây mỏi chân nhưng không thể ngồi xuống
thường thì tôi cắt đứt dây

Có quá nhiều điều tôi không thể giải thích
thế giới quá nhỏ và các xung đột thì vĩ đại
tôi sống một mình ở gần Hollywood
một người vô danh giữa những người không có mặt
tôi chống trả với thời gian và sự buồn chán bằng những cuộc làm tình

Sau bảy ngày tôi đi ra khỏi khách sạn với T.
bỗng một con chim trên trời mỏi cánh
rụng xuống đầu tôi như một trái ung
T. nói: không sao, chỉ là một ngộ nhận
bây giờ mấy giờ rồi H.
chúng ta cần phải đi ăn
The End.

------------------------------

Xe điện mạ đồng

Chiếc xe điện mạ đồng
Chạy bằng nắng phát ra những tiếng chuông của biển
Ở San Francisco thỉnh thoảng có những con chim xám bị cán chết trên đừơng ray
Sáng nay tôi đi ra từ căn phòng rất nhỏ có lần em nói giống như khám tù
Mỗi tối tôi tự tra tấn mình bằng bốn mươi bảy kênh Tivi

Em ngại tôi nghĩ em còn qúa trẻ
Em nói đừng gắng sức qúa, vào những ngày mưa anh có thể ở nhà
Em đem đến cho anh con cá vàng này trong chiếc ly thủy tinh có đế
Hãy nhìn nó và chiêm nghiệm về tự do
Về Nelson Madela và sự chuyển động

Tôi nghĩ một nguời đàng hoàng như ông trong tù phải nghĩ rất nhiều về đàn bà
Thỉnh thoảng cũng phải thủ dâm
Ðó là những điều tự nhiên và không có gì làm giảm lòng kính trọng
Chúng ta ít nhiều cũng đã tù đày những cách khác nhau

Chúng ta buớc vào một thế kỷ mới chỉ cách thời đại cũ vài centimeters
Như tôi cách khuôn mặt những ngừơi bên cạnh chỉ một cái nhìn
Không thể ngăn được tiếng ồn triền miên của những cuộc tranh luận
Về con chim chết màu xám, các ứng dụng sau cùng của điện học và ý nghĩa của cuộc diễn hành mùa hè tổ chức vào tháng sau

Tôi đi xe điện mạ đồng băng qua những tên nguời đã chết
Băng qua những ngã tư đường đã chán chừơng mùi hôi nách của nhau
Ði về phía biển
Nơi một con còng trên bờ đang chạy thi với bóng của chính nó.

-----------------------------------

Bài về các loại dây

Dây cáp dùng neo tàu
vào bến bờ nghỉ ngơi, thỏa hiệp.
Tráng sĩ bện day cương
buộc hàm thiết ngựa
phi lên mặt trăng.
Trước lúc khởi hành
nhớ dùng dây dọi kiểm tra đường thẳng đứng,
buộc lại dây giày,
lên dây đồng hồ,
đánh dây thép cho chú Cuội ra đón.
Trên đường đi nếu ngựa hết hơi hãy lên dây thiều.
Đừng dây dưa, dây cà ra dây muống
với bọn bán hàng rong
chuyên sống bằng nghề buôn dây chuyền vàng giả.

Cần nhất dây thần kinh phải lực lưỡng
cở dây tam cố,
để trong cô đơn không dùng đến dây treo cổ.

5.2005

---------------------------------

Ngấy SàiGòn

Thành phố đổi thay từng ngày
Thành phố không đổi thay chừng ấy thế kỷ
Vẫn khuôn mặt nhừ bia giữa trưa
Trên cái sọ đã thủng món óc khỉ
Còn loi choi mở miệng dười gầm bàn
SàiGòn, ngắng nhiệt đới không thứ tha
Nướng thịt
Nướng thịt
Món béo ngậy lý lẽ và dung tục này làm tôi ngấy.

Hãy nhịn đói một ngày để tâm hồn được vớt ra khỏi cái lẫu.

Sài Gòn, 1/2005

Nguồn: tạp chí Văn

------------------------------

Mời đọc thêm Đinh Linh nói chuyện với Phan Nhiên Hạo:

http://www.tienve.org/home/viet/viewVietJournals.do?action=viewArtwork&artworkId=39
Imagine
25-02-06, 20:30
Ðinh Linh Nói Chuyện Với Phan Nhiên Hạo

Ðinh Linh (ÐL): Tháng tư, năm 75, anh mới năm tuổi. Anh ở Việt Nam cho tới năm 1991, khi anh di tản sang Mỹ. Lớn lên trong một môi trường xã hội chủ nghĩa, anh đã được đọc những gì, và những nhà văn này ảnh hưởng đến tư tưởng, thi pháp của anh như thế nào?

Phan Nhiên Hạo (PNH): Ðúng là tháng 4 năm 1975, tôi còn rất nhỏ. Nhưng tôi là người tin rằng, những gì quan trọng nhất hình thành nên nhân cách một con người là những gì mà người ta học được trong những năm đầu tiên của tuổi thơ. Tháng 4 năm 1975 cũng đã thay đổi đời sống của gia đình tôi một cách bi đát, và tôi nghĩ chuyện này đã quyết định con đường nhận thức của tôi, cho dù tôi, cũng như tất cả những đứa trẻ miền Nam khác sau 1975, đã học trong nhà trường xã hội chủ nghĩa. Ðể vượt qua được những trở ngại về lý lịch gia đình, tôi đã cố gắng học rất giỏi suốt những năm tiểu học và trung học. Tôi là học sinh giỏi văn toàn quốc. Tức là tôi đã thuộc làu rất nhiều thơ văn xã hội chủ nghĩa để dự thi học sinh giỏi. Cũng nhờ vậy mà tôi được tuyển thẳng vào Ðại Học Sư Phạm, khoa văn, và khỏi phải vác súng đi làm “nghĩa vụ quốc tế”. Nhưng cho dù phải thuộc làu những bài thơ văn này để đi thi, ngay từ nhỏ tôi đã thấy chúng rất khuôn sáo và đáng chán. Gia đình bên nội tôi còn may mắn giữ được một tủ sách trong đó gồm rất nhiều sách dịch trước 1975. Phần lớn là các sách xuất bản bởi hai nhà xuất bản An Tiêm và Lá Bối. Tôi còn nhớ lúc lên mười, tôi đã trốn xuống gầm bàn để đọc cuốn “Giờ Thứ 25” mà các chú của tôi cho là không hợp với lứa tuổi của tôi. Và tủ sách này thật sự đã góp phần quan trọng vào việc hình thành nhận thức văn chương của tôi. Khi lên đến đại học, ở Sài Gòn, tôi đã kiếm được nhiều sách in trước 1975 để đọc. Tôi nghĩ việc học văn chương xã hội chủ nghĩa thật sự không gây một tác động đáng kể nào lên tư tưởng tôi, vì trong tôi luôn có một phản ứng ngấm ngầm khi phải học loại văn chương này, vì hoàn cảnh gia đình tôi đã dạy cho tôi biết tôi là ai. Và vì tôi sống ở miền Nam, nơi vẫn còn khá nhiều sách vở in trước 1975. Tuy vậy, tôi nghĩ một ảnh hưởng không thể tránh khỏi lên tôi, cũng như lên nhiều nhà văn khác lớn lên ở miền Nam sau 1975, là ảnh hưởng về văn phong. Ðó là một cách hành văn với rất nhiều từ ngữ hành chính nặng nề, và một phương pháp luận có tính biện chứng hai mặt, mà theo tôi đã bị lạm dụng để tránh đi thẳng vào vấn đề, để được an toàn trong sự ba phải. Chẳng hạn như đ㠓nói chung” thì phải “nói riêng”, “về bản chất” thì như thế này nhưng “về hiện tượng” thì như thế kia. Một ảnh hưởng khác cũng quan trọng là ảnh hưởng của văn chương Soviet, mà theo tôi là một nền văn chương bao gồm nhiều nhà văn tài năng, nhưng cũng rất nặng nề vì phải mang vác nhiệm vụ chính trị và hay triết lý vặt. Những ảnh hưởng này cũng đã từng ghi dấu lên tôi như kết quả của việc lớn lên ở Việt Nam sau 1975.

ÐL: Anh có thể nói về ảnh hưởng siêu thực trong thơ của anh?

PNH: Tôi nghĩ ảnh hưởng của siêu thực đã trở nên quá rộng lớn và sâu sắc trong sáng tạo của thế kỷ 20. Ngày nay anh có thể tìm được dấu vết của siêu thực trong hầu hết sáng tạo hiện đại và hậu hiện đại. Siêu thực đối với tôi chỉ là một phương cách nhìn xuyên qua bề mặt của sự vật, vả quan trọng hơn, được sử dụng như một thủ pháp liên tưởng trong thơ ca. Sự liên tưởng siêu thực cho phép người làm thơ đặt cạnh nhau những hình ảnh dường như không ăn nhập gì với nhau trong đời thường, cho phép mở rộng trí tưởng tượng, và từ đó tạo nên một hiện thực phong phú hơn. Một yếu tố quan trọng khác của siêu thực là lối viết tự động (automatic writing), mà tôi thấy rất thích hợp để vận dụng vào thơ ca. Ðiều này tạo cho thơ những yếu tố bất ngờ, và không phải gò bó trong mạch kể chuyện. Tuy vậy, tôi vẫn cố gắng xây dựng mỗi bài thơ như một tổng thể hoàn chỉnh, được nối kết bằng sự nhất quan của cảm xúc, trong chính sự mông lung và chuyển đổi bất ngờ của hình ảnh. Tôi nghĩ rằng siêu thực đã trở thành một yếu tố của thơ ca đương đại, vì vậy mà những dấu ấn của siêu thực trong thơ tôi là chuyện tự nhiên. Còn bản thân các tuyên ngôn siêu thực thì đã rất xưa cũ.

ÐL: Anh có một bằng cử nhân văn chương Mỹ từ Ðại Học California ở Los Angeles (UCLA). Khi mới tiếp xúc với văn chương Mỹ, anh có những phản ứng gì? Anh thấy văn chương Mỹ khác với văn chương Việt Nam ở những điểm nào? Theo anh, một nhà văn trẻ Việt Nam nên đọc những nhà văn Mỹ nào?

PNH: Ở Việt Nam, ngay cả trước 1975, số lượng các nhà văn Mỹ được dịch và giới thiệu ra tiếng Việt vẫn kém xa các nhà văn Pháp. Sau năm 1975 thì chỉ có một vài “nhà văn tiến bộ Mỹ” được dịch. Cho nên trước khi đến Mỹ, tôi vẫn tưởng văn chương Mỹ cũng như văn chương Âu Châu mà thôi. Cảm giác đầu tiên của tôi khi học văn chương Mỹ là cảm giác thất vọng. Vì văn chương Mỹ dường như quá đơn điệu, không phải là loại văn chương có tính triết lý và nhiều thể nghiệm như văn chương hiện đại Pháp. Nhưng rồi tôi hiểu ra rằng tính chất trực tiếp, không cầu kỳ của văn chương Mỹ là một đặc tính được xây dựng một cách có ý thức và có hệ thống bởi những nhà văn Mỹ. Ðó là một nỗ lực nhằm tạo nên tính cách riêng biệt của văn chương Mỹ, phù hợp với một xã hội tiêu thụ và nền văn hoá thực tế, chú trọng vào tính hiệu quả của người Mỹ. Triết học hiện sinh chẳng hạn, chưa bao giờ là một trào lưu tư tưởng ở Hoa Kỳ. Những thể nghiệm của tiểu thuyết mới Pháp cũng hầu như không gây một ảnh hưởng nào đối với các nhà văn Mỹ. Người Việt Nam dĩ nhiên chuộng kiểu văn chương Âu Châu hơn văn chương Mỹ. Nếu họ có hay bàn tán về một số nhà văn Mỹ thì cũng là một thiểu số những người viết mang nhiều chất Âu Châu hơn Mỹ, chẳng hạn như Henry Miller hay T.S. Eliot. Sự cảm nhận văn chương Hoa Kỳ của tôi gắn liền với quá trình hiểu biết văn hoá và hoà nhập vào đời sống Mỹ, chứ không phải chỉ là những gì được học trong nhà trường. Vì vậy tôi nghĩ sẽ khó cho những người sống ở Việt Nam, là một nơi mà ảnh hưởng của văn hoá Pháp rất lớn, để thấy nét đẹp của văn chương Mỹ. Nhưng tôi tin rằng sự tìm hiểu văn chương Mỹ sẽ có ích rất nhiều cho các nhà văn Việt Nam. Nó sẽ giúp họ bớt triết lý nặng nề, và đặc biệt là có óc hài hước hơn. Tôi nghĩ các nhà văn trẻ nào ở Việt Nam có ý định viết về chiến tranh thì nên đọc Kurt Vonnegut và Joseph Heller để học óc khôi hài của hai nhà văn này. Leroy Jones và Ralph Ellison sẽ giúp họ hiểu tốt hơn về vấn đề chủng tộc ở Mỹ. Norman Mailer và những nhà thơ “Beat Generation” như Allen Ginsberg, Jack Kerouac sẽ cung cấp một cái nhìn đa dạng hơn về văn hoá Hoa Kỳ. Sherman Alexie là một nhà văn trẻ người da đỏ với cách viết vừa thơ mộng vừa khôi hài mà tôi thích. Charles Simic là một nhà thơ nhập cư đã hoà trộn được sự mẫn cảm của Âu Châu với sự trong sáng của văn chương Hoa Kỳ. Và dĩ nhiên là các tên tuổi quen thuộc khác như William Faulkner, Arthur Miller, Henry Miller, Wallace Stevens, E.E. Cummings, Sylvia Path, Frank O’Hara... Anh là người có lẽ sẽ đưa ra một danh sách tốt hơn tôi về các nhà văn Mỹ nên được đọc. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng, hơn một quốc gia nào khác, Hoa Kỳ là một đất nước của đa văn hoá. Và điều đó cũng đúng với văn chương Mỹ. Những khái quát về tính chất văn chương Hoa Kỳ mà tôi vừa nói ở trên chỉ là những gì nổi bật nhất, chứ không phải là tất cả đặc tính của văn chương Hoa Kỳ. Ở một xứ tự do như Hoa Kỳ, dĩ nhiên không phải tất cả các nhà văn đều phải viết cùng một kiểu.
Imagine
25-02-06, 20:31
ÐL: Cuộc sống lưu vong đã ảnh hưởng đến thơ anh như thế nào?

PNH: Tôi nghĩ là tôi may mắn đã đến Mỹ khi chưa quá lớn tuổi nên vẫn còn đủ sức để đi học, nhưng cũng không quá nhỏ để chỉ biết về Việt Nam một cách sơ sài. Vì vậy mà tôi có thể so sánh, và nhận ra những điều khác biệt của hai nền văn hoá và văn chương. Cuộc sống ở đây rất cô đơn, nhưng người ta có cơ hội để làm tất cả những gì mình muốn, nói bất cứ điều gì mình nghĩ, và không có ai làm phiền mình. Nhất là không chết đói. Và tôi nghĩ một nhà thơ không nên đòi hỏi gì hơn nữa. Những điều còn lại thuộc về vấn đề cá nhân. Ðời sống cô đơn của một người nhập cư ở đây đã cho phép tôi quay vào bản thân mình nhiều hơn, trưởng thành hơn trong suy nghĩ. Tập thơ đầu tay của tôi tập hợp phần lớn những bài thơ viết trong khoảng bảy năm đầu ở Mỹ. Sau tập thơ đó tôi đang cố gắng viết khác đi một chút, theo cái nghĩa là bớt đa cảm (sentimental), và bớt triết lý vặt, như tôi đã nói ở trên. Sự hiểu biết về văn chương Mỹ và văn hoá Mỹ khiến tôi muốn viết một cách trực tiếp và khỏe mạnh hơn. Cuộc sống ở đâu cũng có những vấn đề của nó, nhưng đây là một cuộc sống lưu vong mà tôi đã chọn lựa, và sẽ không bao giờ hối tiếc vì sự chọn lựa đó.

ÐL: Anh đã từng sống ở Orange County và San Jose, hai nơi có rất nhiều văn nghệ sĩ Việt Nam. Anh thấy sinh hoạt văn nghệ ở trong nước, ngoài nước khác nhau như thế nào? Và khác với sinh hoạt văn nghệ của người Mỹ như thế nào?

PNH: Trong mười năm sống ở Mỹ tôi chỉ gặp có hai người làm văn nghệ Việt Nam hai ba lần gì đó, tuy tôi sống phần lớn thời gian ở California, và vẫn gởi bài đăng thường xuyên trên các tạp chí văn chương. Tôi nghĩ ở trong nước, phần lớn các nhà văn đều tập trung ở Sài Gòn và Hà Nội. Vì vậy họ có cơ hội gặp nhau nhiều hơn. Các nhà văn Việt Nam ở Mỹ sống ở nhiều nơi khác nhau, hay ngay khi họ sống tập trung ở Orange County và San Jose thì vì bận bịu với đời sống, họ cũng ít sinh hoạt với nhau hơn các nhà văn trong nước. Các nhà văn Mỹ thì càng sống tản mác hơn nữa. Và nếu muốn gặp họ cũng không phải dễ như ở Sài Gòn, nơi mà mỗi sáng ra quán café đều có thể được diện kiến một người nổi tiếng. Tôi nghĩ sinh hoạt văn chương không phải là một cái gì quan trọng đối với xã hội Mỹ. Tôi còn nhớ tôi đã rất bực bội khi thấy tin Tony Morrison được giải Nobel xuất hiện chỉ một góc nhỏ ở trang trong một tờ báo lớn. Sách báo ở Hoa Kỳ rất nhiều, sách báo văn chương cũng nhiều, nhưng tin tức văn chương không bao giờ là những tin quan trọng. Tuy vậy tôi thấy người Mỹ có cái hay là họ thích làm thì họ cứ làm, và họ rất tự tin. Tôi đã đi dự những buổi đọc thơ tổ chức rất công phu nhưng chỉ leo teo dăm ba thính giả. Nhưng cả người đọc lẫn người nghe đều rất nhiệt tình, vui vẻ, chứ không hề than vãn buồn bã gì. Tôi cũng đã coi một buồi diễn kịch tuyệt vời dài hai tiếng trong một sân khấu nhỏ đằng sau một quan café ở Los Angeles. Tất cả chỉ có khoảng năm khán giả. Nhưng những nhà văn thành công ở Mỹ thì được trả giá rất xứng đáng. Một nhà văn nổi tiếng có thể sống phong lưu cả đời chỉ nhờ vào tiền bản quyền một hai cuôn sách. Tôi có cảm giác rằng các nhà văn Việt Nam hơi quan trọng hoá vị trí xã hội của họ. Ngược lại các nhà cầm quyền ở Việt Nam cũng thích điệu võ đường oai quyền lực của họ đối với các nhà văn. Ở Mỹ, nhà văn ít quan trọng hơn, và hoàn toàn độc lập.

ÐL: Vì anh là Việt Kiều, nên thơ anh không được đăng ở Việt Nam. Ðộc giả ở ngoài nước thì lại quá ít, và ngày càng ít đi. Anh nghĩ gì về tình trạng múa gậy vườn hoang này?

PNH: Tôi không quan tâm nhiều lắm đến điều này, ít nhất là trong lúc này. Tôi quan tâm nhiều đến chuyện tôi phải thu xếp đời sống của tôi thế nào để viết được nhiều hơn. Ðộc giả ở ngoài nước rất ít, và tương lai sẽ ngày càng ít đi, tỉ lệ với số những người già chết đi, trong khi những đứa trẻ lớn lên ở đây thì không rành tiếng Việt. Những đợt sóng người Việt nhập cư cũng đã chấm dứt. Ðó là một hiển nhiên. Nhưng tôi tin rằng chẳng bao lâu nữa các nhà văn hải ngoại sẽ được biết đến nhiều hơn ở trong nước, do xu hướng mở cửa tất yếu của Việt Nam. Nhà nước Việt Nam không thể chỉ kêu gọi Việt Kiều đem tiền, đem sức học về để xây dựng đất nước, nhưng lại luôn cấm đoán các sản phẩm văn hoá của Việt Kiều. Mới đây có người bạn muốn đưa một hai bài thơ của tôi vào một tập thơ in chung ở Sài Gòn nhưng bài của tôi đã bị kiểm duyệt gạt ra chỉ đơn giản vì tôi là Việt Kiều. Nếu tôi không lầm thì chính anh, một người đã dịch ra tiếng Anh cả một tuyển tập các nhà văn Việt Nam, một Việt Kiều đã sống ở Sài Gòn hơn hai năm, một người đã có thơ được chọn vào tuyển tập những bài thơ hay nhất Hoa Kỳ năm 2000, cũng không hề được đăng một bài thơ nào ở trong nước. Tôi cho rằng đó là một sự kỳ thị rất bất công. Và cũng như bất cứ một sự kỳ thị nào khác, nó có nguồn gốc từ sự thiếu hiểu biết. Như đã nói, chuyện “múa gậy vườn hoang” không phải là mối bận tâm lớn nhất của tôi vào lúc này. Tôi cũng có thể có một lối thoát khác, là chịu khó viết bằng tiếng Anh. Tuy vậy, tôi hoàn toàn hiểu được tâm trạng buồn phiền của các nhà văn hải ngoại lớn tuổi hơn trong vấn đề này. Dĩ nhiên ai cũng muốn tác phẩm của mình có người đọc. Tôi nghĩ một sự giao lưu giữa văn chương trong và ngoài nước sẽ đem đến nhiều điều tốt đẹp cho văn chương Việt Nam hơn là sự cô lập. Các nhà văn, những người dịch thuật, và đặc biệt là những người nghiên cứu văn học sống ở nước ngoài, có thể đem đến nhiều điều bổ ích cho văn chương trong nước.

ÐL: Anh đã về Việt Nam ba, bốn lần. Anh nghĩ gì về thế hệ trẻ Việt Nam, và đặc biệt về những nhà văn trẻ ở Việt Nam?

PNH: Trong hai năm liên tiếp gần đây, tôi đã về Việt Nam tổng cộng ba lần. Lần lâu nhất hơn ba tháng. Tôi nghĩ ở Việt Nam bây giờ, ít nhất là ở các thành phố lớn, những người trẻ tuổi có cơ hội học hành tốt hơn, và cũng học chăm hơn cách đây mười năm. Rất nhiều người trẻ tuổi ở Việt Nam giỏi ngoại ngữ, có kiến thức hữu dụng, chứ không phải chỉ toàn học những điều viển vông như trước đây. Tôi tin rằng trong một thể chế dân chủ hơn, nhiều người trẻ tuổi ở Việt Nam sẽ thành công, và có thể góp sức giúp Việt Nam vươn lên mau chóng. Mặc khác một xã hội lạc hậu trong thời mở cửa cũng tạo ra nhiều điều lố bịch. Chẳng hạn như việc rất nhiều người trẻ tuổi ở Việt Nam sùng mộ văn hoá phổ thông Hàn Quốc, mà không thấy rằng cái văn hoá phổ thông Hàn Quốc đó cũng chỉ là một sản phẩm của sự học đòi vội vã từ những cái kệch cỡm của văn hoá phổ thông Mỹ. Và có cả một tâm lý thực dụng bất chấp tất cả ở nhiều người trẻ tuổi, đặc biệt là phụ nữ.

Về các nhà văn trẻ ở Việt Nam, tôi nghĩ họ đã thoát ra được phần nào lối viết khuôn mẫu cứng nhắc trước đây. Nhưng cái trở ngại lớn nhất là họ thiếu thông tin về thế giới bên ngoài. Ðiều này làm cho văn chương của họ tựu trung vẫn còn rất nặng nề, mang nặng tính triết lý của các thầy giáo làng. Họ hay thích khái quát hoá và cố làm ra vẻ hiện đại. Tôi nghĩ họ nên có óc khôi hài thì tốt hơn, và nên tập trung vào việc phản ảnh cái hiện thực sôi động của Việt Nam hơn là tìm cách triết lý về nhân loại, hoặc đề cập đến những điều mà mình không thật sự am tường lắm. Tôi thích Phan Thị Vàng Anh vì lối viết tinh tế của nhà văn này. Ở Phan Thị Vàng Anh không có sự làm dáng như nhiều nhà văn Việt Nam khác, và truyện thường rất sâu sắc. Nguyễn Quốc Chánh là một nhà thơ rất giỏi về hình ảnh và có lối suy nghĩ sắc sảo. Thơ của anh phản ảnh những suy tư trí thức về một Sài Gòn đang “hoà nhập” nhưng không di chuyển nổi trên những đường phố chật hẹp kẹt xe gắn máy vào buổi trưa nóng bức. Thơ Văn Cầm Hải có nhiều liên tưởng rất lạ, mặc dù đôi khi hơi có vẻ cầu kỳ.

ÐL: Nếu đã không sang Mỹ, thì bây giờ anh đã trở thành thi sĩ nào của Việt Nam?

PNH: Nếu không sang Mỹ thì giờ đây có thể tôi đã chết vì suy dinh dưỡng. Nhưng có nhiều khả năng hơn là tôi đã trở thành một thi sĩ vừa bất mãn vừa bất lực sống lang thang ở Sài Gòn và mơ đoạt giải Nobel.

Nguồn: tạp chí Việt.