Phòng Lạ - Nguyễn Danh Bằng

Imagine
12-02-06, 12:35
Phòng Lạ
Nguyễn Danh Bằng

Phòng trọ ở thị trấn Taijiang - Kaili, tỉnh Guizhou, Trung Quốc.

Đã nhiều ngày anh nằm trong phòng trọ trên giường bẩn thỉu. Trời rét đậm. Gió hút qua khe cửa thành tiếng gào thét, hơi lạnh của núi rừng như hơi thở một người khổng lồ xa lạ đang tò mò đe dọa bên ngoài. Anh nằm im môi nứt nẻ sưng tấy. Anh đến Trung Quốc độ cuối thu, và mùa đông ập đến khi anh vẫn lang thang trên vùng núi non hiểm trở. Cảnh vật trở nên đáng sợ khi người anh bắt đầu rét run. Anh mềm nhũn trong cảm giác yếu đuối khi mục đích của anh không đạt được. Khi cố về được đến Taijiang thì anh hoàn toàn kiệt sức.

Căn phòng anh trọ cũ và bẩn, hai cánh cửa gỗ vênh váo không đóng khít vào nhau. Anh vẫn có thể nghe rõ mồn một từng âm thanh dưới đường. Anh có cảm giác sợ hãi vì đơn độc. Việc cố hiểu và tìm tòi về một quá khứ nhọc nhằn hơn anh tưởng, nó chẳng dễ dàng hơn việc khai phá điều gì đó mới lạ.

Mục đích anh lang thang khắp các vùng hẻo lánh xa xôi ở tỉnh Guizhou là cố săn lùng chiếc mũ bạc huyền thoại tương truyền được làm nên từ vùng Kaili. Ở các phiên chợ họ vẫn bán đủ thứ hàng thổ cẩm và bạc giả linh tinh trong các túi xách tay, nhưng anh không tìm được một dấu tích gì của những kỹ thuật dùng trong chiếc mũ ấy. Nhiều người già chỉ lắc đầu khi anh đưa cho họ xem tấm hình chiếc mũ. Nó có vẻ xa lạ với chính người Miao. Tìm đến các tay nghiên cứu hoặc buôn bán thổ cẩm, họ chỉ càng đưa thêm hàng tấn các dữ kiện mơ hồ! Rồi việc tìm kiếm trở thành chuyến đi kéo dài lòng vòng không còn rõ mục đích khi anh đi qua hết ngôi làng này đến ngôi làng nọ, cũng khung cảnh ấy, bắp phơi cao đến mái, đùi heo ướp treo hong khô dần, mấy con đò tấp nập bên chợ. Anh được mời về nhà, ăn uống với họ, cùng nhúng vào cái chảo đen ngòm mấy con cá nhỏ bằng hai ngón tay bắt dưới sông, anh được mời uống rượu gạo, được cho xem các bản thêu họ đang làm, cho anh xem mấy con chim họ chuẩn bị đi đấu hót. Anh cũng chẳng nói những lời khách sáo hoặc kiếm cơ hội đền đáp, họ vui vẻ tốt bụng và chia tay chóng vánh.

Rồi mùa đông tóm lấy anh.

Anh nằm trong căn phòng có lúc nghe như nhiều tiếng cào trên vách, nghe như có cả làng đang bàn bạc xúm xít rằng họ phải làm gì với căn phòng, rằng có lẽ họ phải phóng lửa. Họ cư xử với anh như một người xâm hại, một kẻ xa lạ đến để đánh cắp cái gì đó của họ.

Rồi anh lại thấy họ cố choàng lên anh cái áo dài kỳ quặc, đội lên đầu anh cái khăn xếp, dồn anh đến một cô gái trẻ cũng quấn khăn đầu. Cô tươi cười, thụ động nhưng chẳng ngượng nghịu, đi theo anh về ngôi nhà trống. Và anh bắt đầu đuổi theo cô đang lẩn trốn qua những cái cột gỗ khổng lồ. Anh tóm lấy cô, cố hôn cô, cô tươi cười đưa trán. Trán cô nhô cao mùi nhựa gỗ.

... Rồi anh lại thấy mình đứng trong thùng chiếc xe tải lái ngoằn nghèo trong ngôi nhà khổng lồ không vách, chỉ có mái và cột. Chiếc xe tải băng qua những vật dụng bụi bặm, nhiều rương gỗ đóng kín, lò đất đang hừng cháy người ta đang rỡ những cái bánh bột mì tròn ra khỏi lò, cái giường ọp ẹp trong một góc tối, có hẳn một góc vườn che chắn bằng phên tre. Anh muốn nhảy ra khỏi chiếc xe tải, nhưng xe luồn lách tìm đường ra khỏi ngôi nhà. Anh nhìn lên cái mái khổng lồ bao trùm lên tất cả trên cao, có những lỗ hổng nắng soi vào thành luồng.

Có lúc anh mơ màng thấy bóng dáng chiếc mũ ấy trong cảnh vật trắng toát, người con gái nhanh nhẹn di chuyển ẩn hiện qua lá cây. Anh vội vàng theo đuổi nhưng cô đi nhanh và biến đi đôi khi. Anh muốn gọi to nhưng miệng anh khô khát, cuống họng anh như bị cắt đứt, vết thương chưa lành. Anh cố đuổi theo trong làn nước cũng trắng toát, có lúc tưởng như bọt sóng cuốn anh đi. Rồi khi đến một nơi quang đãng khúc quanh lưng chừng núi, cô ngừng lại nhìn anh nghiêm nghị. Cô bảo “Anh về đi”. Anh chợt nhận ra không thể nói ra ý định tìm mua chiếc mũ mà cô đang đội, ý định ngu xuẩn. Khối bạc khổng lồ đang rung lên từng chi tiết tinh xảo va chạm lanh canh. Cô lại bảo “Anh về đi”. Anh bảo “Sao?”. Cô chẳng trả lời, vẫn nhìn anh cực kỳ nghiêm nghị! “Có hội à?”. “Vâng”. Anh cảm thấy xấu hổ nói lí nhí: “Thế em đi đi”. Cô đi chưa kịp qua khỏi khúc quanh đã mất hút tan loãng vào màu trắng của không gian. Màu trắng lấn dần về phía anh. Anh quay đi...

Có lúc tiếng phì phà bên cửa sổ thức anh dậy. Ngoài kia trắng toát! Một con ngựa chiến gầy đét. Trên cổ nó lòng thòng vài sợi đai da, vài vết xây sát. Cuối sợi dây đai còn lòng thòng vài mảnh gỗ của chiếc xa kỵ. Vào thời cổ đại người Trung Quốc dùng những cỗ xe bốn ngựa kéo để đi đánh nhau. Theo sách Giản Truyện: “Vua Thành Thang chỉ dùng bảy mươi cỗ xe tốt mà thắng được người Hạ”, tiêu diệt nhà Hạ lập nhà Thương. Anh tự hỏi người cưỡi chiếc xa kỵ này hiện ở nơi đâu? Hắn đang nằm yên trên đồng cỏ, đá sỏi ngổn ngang, đêm đêm chỉ có tiếng mạch nước ngầm và bầu trời bên trên rộng sâu? Anh dùng con dao gấp cắt bỏ những đoạn đai da. Nó thở phì phà đi tiếp trên con đường về phía chợ. Trời còn sớm tinh mơ. Một người đàn ông ngồi chồm hổm trước cửa ngôi nhà gỗ hai tầng khổng lồ, hai tay ôm cái tách gốm, uống từng ngụm nước trà. Ngay một góc quanh cái lò rèn chừng ba mét vuông. Người thợ rèn đang ra sức gõ đập trên thanh sắt đỏ rực, cây sắt cong vòng, dẹp ở đằng đầu hiện dần thành cái đinh móc dài đoạn ba tấc. Cứ mỗi nhát đập lửa tóe ra thành những mảnh vụn rơi tỏa. Bên trái độ sáu người đàn bà khỏe mạnh đeo tạp dề, đang xả thịt heo thành những miếng vuông lớn rồi quăng vào cái chảo nước sôi độ hai mét đường kính. Một người đàn ông dùng cái móc sắt lôi ra từng miếng thịt tái, dùng con dao quắm cạo sồn sột lên lớp da dầy, lớp da lúc này đã chuyển sang màu vàng nhạt. Bên đường một người đàn bà trạc ba mươi đang bày ra mấy cái vại đất bên trong đựng phẩm nhuộm, những thứ phẩm làm từ lá cây, đất thó, máu và da bò, tro, vân vân. Khi con ngựa đi qua hiệu bông, người thợ nhanh nhẹn tháo bỏ cái mền cũ đổ bông ra mặt bàn lớn, dùng dây căng trên khung tre lớn, gõ từng miếng mạnh vào dây, dây vỗ vào giữa đám bông cũ làm bông nẩy tơi ra. Tiếng dây nẩy vang cả một khu thành tiếng trầm khó nhận thấy “thừng, thừng,...thừng”. Con ngựa đi qua tất cả khung cảnh ấy thản nhiên như thể nó đã quen thân. Nó đi tiếp qua khu chợ bước qua chiếc cầu đá đầy rêu. Dưới chân cầu nước xanh rì. Xa xa hai người phụ nữ chít đầu trong bộ quần áo bó đen, đang phơi trên bờ đất đoạn vải mới nhuộm. Đoạn vải dài dễ đến hơn ba mươi mét. Qua khỏi cầu độ hai trăm thước, con ngựa rẽ vào một cái cổng gần đổ. Cây dại mọc um tùm trong sân. Căn nhà vẫn im ỉm đóng. Ngay sau nhà là cái ao cũ hôi thối. Đang độ lạnh cây trơ cành...
Imagine
12-02-06, 12:37
Anh mừng vô cùng vì con ngựa đã về được nhà!

Có tiếng gọi anh ở mãi trên cao, nơi có miệng hầm và ánh sáng nhỏ tí. Tiếng gọi như những mũi nhọn đâm thốc vào mũi, vào mắt, vào não bộ làm anh đau nhức. Anh dần tỉnh ra, dơ tay chấp chới. Có người nắm tay anh, bàn tay nhỏ và lạnh nhưng mạnh mẽ. Cô gái nói từng câu ngắn bằng thứ tiếng xa lạ, nhưng anh tự hiểu như những yêu cầu nho nhỏ: “Ngồi dậy”, “Ăn một chút nhé?” “Anh cảm thấy thế nào?”, đại loại thế. Cô đỡ anh ngồi dậy, lau mặt cho anh bằng nước nóng trong cái chậu nhựa đỏ với đủ thứ hình hoa hòe hoa sói. Hơi nóng tỏa lên từ chiếc chậu thành luồng như một thứ bùa phép.

Tiếng ồm ồm từ góc phòng, anh thanh niên ngồi sẵn đấy từ lâu, dáng người cũng nhỏ thó. Anh thanh niên dùng chân đẩy lại cái lò than đang đỏ trong khi cô gái đang bày ra mấy cái chén cáu bẩn. Bây giờ thì anh đã nhận ra cả hai, họ trông nom nhà trọ địa phương. Cả hai cùng là người Miao chính cống. Khi Kaili bắt đầu phát triển thành thị trấn, họ lên đây tìm việc làm, kiếm cơ hội học nghề. Anh thanh niên đến từ làng Shidong nổi tiếng với hội lễ đua thuyền rồng. Mỗi độ tháng bẩy, người Miao khắp vùng ăn mặc sặc sỡ kéo về đây xem hội. Con gái đứng từng tốp, đeo bạc, mặc áo thêu, hát vang khắp hai bờ sông. Cả một vùng ầm ầm như muốn nổ tung khi những chiếc thuyền rồng chạm trổ lướt ra...

Anh về lần này đô thị nhỏ mọc lên như nấm, những đô thị tham vọng kiểu nhà quê sặc sỡ, bùng nổ vội vã. Nhiều lần anh thấy người ta vẫn mặc áo bông, gánh lò than băng ngang qua bùng binh, nước phun trong ánh đèn xanh đỏ, miệng rao: “mạiiiii tòfuuuù” . Một lần anh gặp cô gái mặt sạm sần đeo nơ đỏ mặc quần jean, mang túi hiệu Gucci bên trong đựng con gà trống, chen chúc trên xe đò. Khi còn ở Yangshuo bên tỉnh Guangxi, anh lang thang vào các làng quê hoang vắng. Lần đó anh cho dừng đò ngang giòng sông Li nổi tiếng suốt lịch sử của giới thi văn Trung Quốc, ghé vào ngôi làng cổ trên ngàn năm. Ngôi làng đẹp như một phế tích. Tre bên rìa làng vẫn rậm và dầy, núi vẫn từng hòn dựng đứng lẫn trong mây, sông cao chẩy mượt mà. Ngoài sông, người ngư phủ mặc áo lá bằng xơ dừa, đang lướt trên con thuyền tre bằng ba thân tre tàu dài ghép lại, mấy con chim bói cá đã thuần, đang ngụp lặn lôi từng con cá lớn lên thuyền... Nhà cửa cổ, to lớn nhưng hoang tàn. Anh đi lòng vòng quanh mấy căn hẻm trong làng, cố hình dung khung cảnh phơi phóng cào xấy. Anh có cảm giác như đang quan sát đồng tiền cổ trong hiệu đồ cổ, cố phán đoán thật giả. Vắng tanh, dăm người già che dù ngồi nói chuyện dưới bóng cây. Một người đứng
chờ bên đường, đưa anh quả bưởi. Bọn trẻ đi sạch!

Anh về lần này những tưởng tìm được chiếc mũ cổ truyền nổi tiếng!

Cô gái múc cho anh tô cháo lớn nấu với rau cải cúc, một chén củ cải muối xắt lát từng khoanh tròn, một đĩa đậu phụ “mùi”.

Đĩa đậu phụ có mùi thum thủm người Trung Hoa ăn cả vài ngàn năm. Anh nghĩ đến mấy ông già ngày xưa đội khăn vải ăn đậu “mùi” chiên, uống rượu sủi bọt tăm. Anh nghĩ đến hình ảnh một buổi chiều tối, sau ngày đồng áng, người trong thôn trang gọi bọn trẻ về, đóng cánh cổng gỗ, quây quần vào bàn, cũng ăn thứ đậu “mùi” này!
Cả hai kéo ghế đẩu dài ngồi phía bên kia lò than, đối diện anh, phủ cái chăn bông cũng đủ thứ màu mè hoa lá lên ngang đùi che kín chân. Họ có vẻ như những người thân duy nhất của anh trong thị trấn xa xôi này. Cô gái giơ ngón tay trỏ, nói một câu gì đó. Anh bắt đầu ăn cháo, gắp bỏ vào vài lát củ cải muối màu nâu sậm mùi khẳm. Anh nghĩ đến cái vại đất đầy mun khói đặt ở góc bếp, những cái vại mà mỗi gia đình dùng đến vài chục năm. Anh ăn từng muỗng cháo lớn và bỗng thấy nhớ nhung...
Lần đó anh ở lại căn phòng ấy độ bốn ngày. Khi bình phục, anh sang tỉnh Guangxi, qua biên giới về Việt Nam.

Khách sạn Vagabond, thủ phủ Sacramento.

Tỉnh dậy lúc đã một giờ trưa, nắng đã xế nghiêng đi một ít, bóng đổ hắt ngang, anh ngồi ngật ngừ quan sát đồ vật. Mấy cái tách ánh lóe lên màu ngà. Ghế nâu. Tất cả được trộn lẫn tuyệt diệu. Ánh nắng vàng trong trẻo từng miếng tròn trên vách, không cả một hạt bụi. Như có sự thầm thì từ khối năng lượng ở trên cao, một nơi rất xa. Một cảm giác rất ngọt ngào nhưng yên tịnh, cảm giác rất gần với một thế giới khác biệt không rõ nào đó. Anh sẽ chẳng lấy làm lạ hoặc chống cự nếu có một thế lực huyền bí nào đó quyến rũ và kéo tuột anh đi vào một vùng vốn từng bị sợ hãi.

Anh giơ tay lên và có thể cảm được chính xác trọng lượng của cánh tay mình!

Không một chút phiền toái nào còn lại. Anh chỉ ve vuốt việc ý thức về bản thân qua từng động thái nhỏ nhất, sự nhậy cảm trong suốt. Anh mở nước ra bồn, nước nóng làm người anh râm ran. Khói tỏa lên mờ chiếc gương trên tường, mờ mịt tất cả. Anh có cảm giác mình thực sự xa, hoàn toàn xa khỏi thế giới của những mối liên hệ. Anh không còn dính dáng với bất cứ điều bận rộn nào, không nghĩ tới bất cứ người thân nào. Thật ra anh cũng chẳng nhớ được nhiều những gì đã xảy ra, anh từ đâu đến. Chẳng có một chút khái niệm gì về nguồn gốc, biên giới, quốc gia, tổ tiên... Anh thật hơn, trực tiếp hơn với bầu không khí trong phòng, sự đụng chạm của những phân tử khí và nước trên da anh, việc chà xát nhẹ của chiếc mền len lên người anh đang phóng ra những tia điện cực nhỏ, cạnh bàn có độ sắc vừa phải, và ánh nắng vừa va vào phát ra năng lượng chấm dứt cuộc hành trình vô tận trong không gian.

Anh như nổi bồng bềnh, căn phòng nổi bồng bềnh. Nó như một cái thùng kín mít trôi nổi trong bóng tối mà anh tha hồ hưởng thụ ánh sáng từ một cái đèn nhỏ. Ngoài nguồn sáng duy nhất này, chẳng có điều gì còn lại, nó là tuyệt đối. Anh là một thực thể tuyệt đối trọn vẹn khác. Ngoài ra là bóng tối.

Màn hình từ máy vi tính xách tay phát ra âm thanh của nước, có mấy con cá đủ màu bơi ngược xuôi khi mấy cái bong bóng nước lăn tăn vỡ. Những con cá phát sáng đang ẩn dưới gầm tủ, sau ghế, trên vách. Mắt chúng ngó nghiêng, chúng di chuyển nhẹ nhàng không một tiếng động. Chúng chao lên, lẩn đi khi anh đi qua.

Cũng có lúc anh phải vùng vẫy chẳng đi được xa, căn phòng trở nên chật chội o ép. Anh bị mắc kẹt giữa hai vách! Nhưng cũng lại có lúc chúng mở rộng đến vô cùng. Anh đi mãi và nhận ra mình trơ vơ ở trên vách. Trần, vách và sàn được hoán chuyển qua những đường cong khó nhận ra. Có lúc anh bối rối vì sự giống nhau của các căn phòng. Những khái niệm về trái phải, trên dưới, trọng lượng không còn thực. Thoạt đầu anh quẹo trái, trái nữa, trái nữa rồi phải, rồi trái và thế là chẳng tài nào nhận ra phương hướng.

Anh quấn khăn tắm ra bàn ngồi. Cũng như ngày hôm qua anh đã ngồi như thế này ăn bánh mì lát trét mứt dâu.

Anh buột miệng: “Thế thôi!”.

Có tiếng trả lời: “Ừ”.

“Chẳng kiếm nổi những kích động dù nhỏ nhoi?”, anh lại hỏi.

“Thật ra thì nó vẫn luôn luôn thế, sự thông tuệ và sự thật giản lược nó thế.”

“Và chúng ta một mình với khoảng rỗng không kích thước?”

Anh giơ tay chống cằm nhìn vào khoảng không trước mặt. Khoảng không hiện diện rất cụ thể rõ ràng.

Dường như căn phòng đang được sờ soạng. Có những vọng động ở bên ngoài.
Imagine
12-02-06, 12:39
“Sang tháng ba rồi nhỉ?”, anh lại nói.

“Trở mùa”.

Có lẽ ngày mai anh nên đi ra ngoài một chút. Ở công viên, anh có thể nhìn khoảng rỗng ấy với một chút sơn phết khác hơn, một ít màu, một ít mùi, một ít cảm giác vừa lạnh vừa ấm của những ngày đầu xuân.

“Thế còn chiếc mũ?”, bất thình lình anh chợt nhớ ra và hỏi.

Anh nhớ lại trước cả khi trời trở lạnh, anh đã gặp chiếc mũ bạc trong viện bảo tàng Châu Á. Nó được đặt trong cái lồng kính, chiếu sáng bằng ngọn đèn vàng nhỏ. Không khí trong phòng khô và lạnh. Anh nhìn chiếc mũ bạc rất lâu, lâu lắm, nhưng lại bắt đầu thấy hình ảnh của một con gà con. Ngày còn bé anh hay đứng nhìn vào trong phòng ngủ của một căn nhà bỏ hoang. Trong căn phòng ngủ cỏ dại mọc um tùm từ những đường nứt trên nền. Anh thấy xác một con gà con, trên người nó còn ít lông màu vàng. Nắng gắt. Nhiều ngày nó chuyển sang màu đen bẹp dí.

Anh bỗng thấy người anh mềm ra...

“Cũng có thể chọn một vài cảm xúc nếu muốn,” lại có giọng nói.

Cảm xúc có thể được chương trình hóa, được lựa chọn, nhặt nhạnh hoặc gia giảm. Nhưng chỉ vừa phải. Đam mê thái quá chứng tỏ sự kém cỏi quê mùa! Anh trả lời:
“Ừ, cũng như việc chọn một bản nhạc cho buổi sáng, hay quyết định ăn chuối hay táo sau bữa ăn trưa.”

Anh thích xắt chuối thành lát, bỏ nho khô, đổ sữa tươi trộn lẫn, ăn vào buổi sáng. Sau đó anh uống cà phê bằng chiếc tách sứ tròn. Đó là lúc anh nhìn ra ngoài cửa sổ và cố nhớ một chút những cảm giác cũ, một thời niên thiếu. Anh thường thấy mình đi lang thang...

Anh đi đây đó trong căn phòng, có nơi anh đã biết qua, có nơi anh chưa từng tới. Có lúc anh ngửi được cả mùi phân ngựa lẫn mùi ngai ngái rau cải xanh.

Cứ thế anh trần truồng đi xuyên qua những con vật kỳ lạ đang ẩn nấp sau những dẫy hành lang xám mờ quanh quẹo. Anh vẫn cảm thấy mặt thảm êm dịu dưới chân, nhưng đang đi qua một vùng nhiều màu sắc, dường như có cả lá cây và thoang thoảng mùi ẩm mục. Vỏ cây nứt nẻ màu nâu đen thỉnh thoảng hơi xanh lên vì rêu. Anh ngơ ngẩn dừng lại. Có thể đó chỉ là những liên tưởng tinh tế về mùa mưa. Nhưng rõ ràng cây cỏ dại đang rộ lên xanh um.

Anh cứ thế đi mãi, tự do trong phòng, không mục đích...

Ca-bin trên dẫy Sierra cách thung lũng Yosemity 25 dặm

Tuyết đã phủ trắng, cảnh vật khác hẳn. Trinh nguyên. Bên ngoài cửa sổ là sự trở về của tự nhiên, cả một vùng con người phải trốn khỏi. Con đường duy nhất dẫn vào khu núi cao này đã bị đóng lại và còn đóng mãi đến tháng ba năm sau.

Mới tuần trước một người da vàng vẫn còn trọ trong căn ca-bin. Mãi đến gần ngày cuối người ấy mới vội vàng thoát đi. Người chủ nhà ở xa cũng không kịp đến quét dọn. Hắn quên không kéo kín lại cái rèm cửa, ánh sáng mờ mờ ở bên ngoài rọi vào đủ để nhận ra từng món đồ trong phòng. Cái chai còn chút bia cặn vẫn nằm trên bàn. Vài khúc củi cháy dở vẫn nằm hếch lên trong lò sưởi. Kế bên giường trong hộc tủ đóng kín hắn để quên cuốn sổ tay ghi chép với nhiều hình vẽ. Ở trang mở sẵn có những dòng sau:

“Con sông Merced sẽ được gói lại trong cái hộp. Cũng như nhiều điều xảy ra trong quá khứ được cất gọn trong những bịch gói phong kín, nhãn hiệu gọn ghẽ. Có món ghi rõ niên hiệu, có món còn lại như vật thể thô không ai nhận ra! Có nhiều điều khác trong quá khứ hoàn toàn nằm ở vùng ngoài! Một lọ gốm cổ bay lơ lửng trong khoảng tối không giới hạn.”

“...Khi tất cả chỉ còn là những mảnh vụn, chợt thấy ý thức như một hạt bụi, một phần trong thế giới phi tính. Người ta là sự nối dài của đất, đá, mỏ quặng. Việc tranh giành phát triển và thói hãnh tiến ngu xuẩn là kết quả bất khả kháng, đương nhiên và không kìm giữ được, trong sự trương nở vận động chung. Có vài kẻ cưỡng lại nhưng họ bị quán tính đè nghiến.”

Bên ngoài tuyết rơi nhẹ thật nhẹ. Không một tiếng gió đêm nay. Tiếng róc rách suối chảy dưới khe, chảy mãi ra ngoài đồng trống. Suối không chảy thành dòng, tuyết chen lấn vào thành những mảng trắng lớn, chỉ có những đường phác đậm do cỏ nước xổ cao lên thành đường đứt đoạn chạy quanh co theo suối. Trên đường cong phẳng lặng một bóng đen đứng im, mắt nó sáng quắc thứ năng lực vô biên và vô cảm. Từng bắp thịt trên thân thể nó căng lên kiêu hãnh. Sự ngự trị của nó trong khung cảnh hoang vắng này là tuyệt đối. Nó vươn cổ tru, tiếng nó vang sâu rùng rợn như một lời cảnh báo.

Trên trời tinh tú dầy đặc đang xoay đi. Tiếng rào rạo của hàng tỉ tỉ đá sỏi đang lặng lờ trong không gian. Ầm ầm những khối năng lượng bùng cháy tự tiêu hủy. Tiếng rạn nứt dồn ép. Tiếng âm u. Tiếng của bóng tối. Gào thét nhưng mất hút.

Nguồn: tạp chí Văn Học.
Imagine
12-02-06, 12:40
HOẠ SĨ - NHÀ VĂN NGUYỄN DANH BẰNG

"Mình không bao giờ là một người Mỹ được!"

VĂN BẢY thực hiện.

Nguyễn Danh Bằng sinh tại Sài Gòn. Tốt nghiệp ĐH Mỹ thuật TP.HCM năm 1991. Sang Mỹ năm 1992. Tốt nghiệp Cử nhân Computer & Video Imaging năm 1999, trường Cogswell Polytechnical Art. Hiện sống tại San Francisco và chuyên làm thiết kế Web… Có thể xếp anh vào thế hệ đại diện cho lớp người Việt trẻ năng động, chấp nhận hội nhập và chung sống với nhiều bản sắc văn hoá, nhiều cách tư duy khác nhau. Là tác giả của vài cuộc triển lãm tranh tại các trường ĐH Mỹ, và khoảng 20 truyện ngắn, đã xuất hiện trên nhiều tạp chí và diễn đàn chuyên về văn chương. Trở về Việt Nam nhân dịp tập truyện ngắn "Phòng lạ" của anh vừa do NXB Đà Nẵng ấn hành vào quý 3 năm 2005, anh dành cho Người Viễn Xứ một cuộc trao đổi thẳng thắn, cởi mở.

Đọc thêm ở đây:

http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/butviet/2006/02/540051/
Imagine
12-02-06, 12:42
Khi Cuộc Chiến Trôi Qua
Nguyễn Danh Bằng

Có điều gì đó thật dữ dội vừa xảy ra đến độ vượt quá mức cảm nhận, chỉ kịp ý thức đến sự tạt mạnh và sau đó là sự tê liệt bất động. Sau cú nổ kinh thiên động địa ấy, hắn có cảm giác như bị hoàn toàn tê liệt, người dính chặt xuống giường, như rơi vào một cái hố sâu mềm mại. Hắn trôi lên trên, Một cái gì đó uể oải, khó hiểu, nhờ nhờ như sữa. Rồi như một người bị sặc nước vùng ra khỏi mặt nước chòang tỉnh hồi sinh, hắn bật ngồi dậy mắt mở trắng dã không nhìn vào điểm nào rõ ràng hít thở gấp gáp vội vàng.

Chung quanh im lặng như tờ! Đã qúa trưa.

Một lúc lâu, hắn bật dậy bước ra khỏi phòng. Hắn không ý thức mình đang bước ra khỏi phòng, dường như nó chỉ là một cái hộp, và việc hắn bước ra chỉ là một phản xạ. Nắng đổ xuống thành khối vuông vàng mật chia cắt qua bóng tối của từng ngôi nhà. Hắn dừng lại ngay lằn ranh của bóng râm. Hắn đưa tay ra ngoài, nó được nhuộm vàng và đau xót như đang bị a xít ăn mòn. Ngần ngừ đôi chút, rồi cũng phải bước ra, đi đến cuối con đường nơi có nhiều ngã rẽ. Chỉ có thể men theo vỉa hè, nơi bóng râm hắt xuống thành những đường hẹp, to nhỏ, gấp khúc.

Ở ngã tư sự hung hiểm như công khai rõ ràng. Trắng xác!

Mấy cái bảng hiệu cũ đang co rút lại, nhăn nhúm. Một dẫy nhà nhiều cột chống chạm khắc, các cửa đóng kín, nơi trước đây có những người chủ buôn bán thảm từ Trung Đông, đó là những người béo ị hay đội nón tròn nói tiếng nhanh râu xồm. Nhưng bây giờ thì hoàn toàn vắng lặng.

Hắn men theo bóng râm, thi thoảng có một vài đôi mắt sau cánh cửa nhìn ra. Một bóng cây khá lớn, nhưng lại chật chội bởi đã có sẵn vài mươi người chen chúc. Hắn cũng bước vào, thoạt đầu là cảm giác mát mẻ dễ chịu. Một gã gốc Đức khô khan, chốc chốc lại nhắc khẽ vài người Trung Hoa lố nhố:

“Trật tự tí.”

Mọi người lại lịch sự, cẩn trọng, kéo lại cổ áo và đứng nghiêm cẩn. Thậm chí có người cười đáp trả nhưng trông thật vô duyên. Có người lịch sự hỏi:

“Tôi hút thuốc nhé?”

Khói thuốc làm người ta muốn nôn mửa. Có người kéo cổ áo che mũi, có người ho vờ tiếng khô. Người hút thuốc ngượng ngịu quăng điếu thuốc ra xa. Khói thuốc ngoài nắng thì không thể thấy được, dường như nó cháy phựt lên ngay! Người ho ban nãy vẫn ho thêm lần nữa, tiếng khô. Gã người Đức lại bảo:

“Trật tự tí.”

Mấy người Trung Hoa đang đứng im cũng liếc mắt, kéo lại cổ áo.

Lúc hắn nhìn quanh lại bắt gặp những người khác nhìn hắn. Nói đúng ra thỉnh thoảng mọi người nhìn nhau khá nhanh, khi ánh mắt vô tình chạm nhau, họ lại cười nhẹ, gật đầu, rồi nhìn nhanh qua hướng khác.

Mùi người!

Hắn lại phải bước ra men theo bóng râm bên hè. Bên bức tường lớn, cạnh chiếc máng xối, hắn thấy những giọt nước chảy xuống từng giọt. Đây là một chỗ lý tưởng để đứng nghỉ một mình. Thành máng mát lạnh truyền hơi mát sang vai hắn như thể có nhiều làn nước lan nhanh sang thân thể nứt nẻ.

Chẳng hiểu sao hắn bắt đầu nghĩ đến tuổi thơ. Ngày còn bé hắn đi học về cũng trên con đường nắng như thế, mẹ hắn che cái nón lá phía trên đầu hắn. Như thể có một đám mây tròn vành vạnh đi theo! Đi như thế dường như cũng xa lắm thì phải mới đến được đoạn đường nhiều cây. Cây xanh um, đất phả ra mùi ẩm. Lần nào cũng thế mẹ hắn hay đứng nghỉ một đỗi, dùng cái nón lá quạt lấy quạt để. Mấy ngôi nhà ngói ẩn nấp với lỗ cửa đen ngòm như đang há miệng cười không thành tiếng.

Đồ điên, đồ phí phạm, đồ mơ mộng! Nhưng hắn vẫn nghĩ tiếp.

Cũng một lần hồi còn bé hắn lẩn ra lang thang giữa buổi trưa nắng. Hắn đi lòng vòng trên con đường đất xuyên qua mấy khu vườn cây trái. Đất rắn khô, phủ lớp bụi nhuyễn. Hắn đi lòng vòng dưới bóng râm lỗ chỗ như thể có những lưới sắt vô hình bọc hắn lại. Trong mấy căn nhà người ta đang ngủ say. Cả mấy con gà cũng ngủ say. Và hắn cảm thấy như bị nhiễm độc, khát khô. Hắn ngã xuống, thấy mình trôi ngang đầu hướng về phía trước, tiếp tục trôi ngang qua mấy khu vườn, bụi mì, bụi chuối, những cây vú sữa da nứt nẻ, cây xoài lá dài...

Hắn như lại bừng tỉnh lần nữa. Màn đêm xuống từ lúc nào. Ở ngoài kia giờ đây đông đặc, thông thống, nhờ tối, khó hiểu. Cố nhìn cũng chỉ thấy vài vệt nhờ như những vết phác vào trong vùng tối. Dường như cũng có những làn hơi nhàn nhạt vọng lại...

Rồi chậm rãi đi tiếp dọc trên vỉa hè qua mấy bức tường khổng lồ vuông vắn, thẳng đứng. Ngay góc sân một người lính đứng thập thò. Hắn hỏi: “Làm gì đấy?”

“Chờ”

“Chờ gì?”

“Chúng nó sắp đến, quân khốn nạn.”

“Ai sắp đến.”

“Địch quân sắp tràn đến nơi. Tôi nghe nói chúng đã ở bên sông rồi. Mẹ kiếp!”

Hắn bật cười.

“Thế ông định làm gì?”

“Tôi phải chận chúng lại ở chỗ này không thể để chúng qua cầu được. Nhất định.”

Mặt người lính căng thẳng dữ dội. Hắn bán tín bán nghi nhìn ra ngoài xa, chẳng thấy động tịnh gì! “Thôi chúc may mắn.” Người lính chẳng buồn để ý mãi rõi mắt ra ngoài xa, cứ như thể đang có những chuyển động nào đó ngoài ấy.

Lách vừa qua cửa đã nghe ngay tiếng ầm ì rền rĩ vọng trong gian sảnh lớn của người ta nói chuyện xầm xì. Nhiều hàng ghế dài, người ta ngồi tất cả hướng về cái quầy ngăn phục vụ đã treo sẵn một cái bảng “Close”

Một nhóm đàn bà đứng túm tụm có những cái đầu tròn phủ khăn, những tín đồ Hồi Giáo. Đầu họ hơi cúi xuống. Những cái áo choàng dài phủ kín đến tận chân. Họ nhìn lên, mắt họ to lớn câm lặng. Sẵn đấy vừa nhìn nhau, hắn gật đầu chào hỏi:

“Mọi người đi đâu?”

Họ nhướn mắt nhìn hắn nghiêm túc nhưng không trả lời. Hắn lại hỏi:

“Tất cả đi đâu?”

Họ lắc đầu nói vài câu líu ríu bằng thứ ngôn ngữ khác. Hắn nhận ra họ cũng chẳng hiểu hắn đang muốn hỏi gì! Hắn gật gật đầu ra ý cảm ơn. Không hiểu sao hắn muốn được nhìn mặt họ, những khuôn mặt che kín chỉ còn mắt.

Một thằng già đang ngồi trên dẫy ghế quan sát hắn như ngờ vực rồi hất hàm chỉ xuống hàng ghế cuối:

“Ghế có số cả, phải xếp hàng chờ đấy”

“Thế à, mất công nhỉ?”

“Ai cũng thế cả.”

Hắn tảng lờ nhìn chung quanh vào những bức hình chụp treo trên các hàng cột, hình những bức tường tòa nhà tương tự như tòa nhà này, cũng có nhiều người chờ đợi ở bên trong. Một bức, tòa nhà trông gần như đổ nát, có nhiều chạm trổ vỡ trơ ra phần gạch. Một người đàn ông râu hàm rậm đội chiếc nón cao, đứng dựa cửa nhìn ra ngoài. Bức hình ố vàng loang lổ. Một bức hình khác trình ra khung cảnh hỗn loạn, người ta chen lấn tràn túa ra từ các cửa, nhiều người tụt xuống từ những hàng cột, nhiều người khác thậm chí đang trèo qua khỏi cửa sổ từ trên cao. Còn một bức hình nữa lại không một bóng người. Bên trong có ngọn đèn ở chính giữa rọi xuống thành luồng sáng hình tháp tỏa rộng nhưng mờ mờ. Tất cả bụi bặm. Những khung cửa vẫn còn nguyên, những hàng ghế vẫn còn nguyên nhưng không một bóng người!
Imagine
12-02-06, 12:43
Nhìn những dẫy ghế dài đông chật, hắn thở dài ngao ngán. Rồi hắn bước lên ghế trèo qua những dẫy kế cận. Tiếng la ó phản đối nổi lên.

“Quân chó má.” “Quân khiêu khích.”

“Lại một thằng vượt lối, có ai ngăn nó lại.”

Hắn cố phớt lờ, tru miệng huýt gió điệp khúc một bản tình ca vui nhộn. Bọn già vô lại chết tiệt, hắn chẳng cần. Có tiếng cổ vũ ở cuối dẫy. Họ reo hò, hắn cố trèo tiếp về hướng ấy, trèo qua những cái đầu lố nhố, những khuôn mặt nhăn nhó.

Đó là một cặp trẻ, chúng tươi cười nhảy chồm lên khi hắn trèo tới nơi:

“Chúc mừng tay chơi. Khá lắm.”

“Chịu chơi lắm!”

“Nhập bọn tụi này đi.”

Thằng ấy trông khá điển trai đeo khuyên đồng bên tai trái, bắp thịt rắn rỏi nhưng cao nên trông dáng dấp vẫn lịch lãm. Con bé hơi đậm người trông còn rất trẻ. Chúng lôi hắn vào quán ăn ngay bên hông tòa nhà. Mấy cái bàn được chia cắt rộng rãi bằng những vách nhựa che màu hồng, ngồi xuống ở bên trong không thấy được những cái bàn khác chung quanh. Chỉ thằng bồi thỉnh thoảng bất ngờ hiện ra, chỉnh tru lịch sự. Thằng điển trai gọi một bình bia loại amber, “Vòng đầu tao lo.” Rồi nó hỏi:

“Mày hay đến đây không?”

“Không. Lần đầu.”

“Thấy sao?”

“Cũng như những nơi khác.”

“Ừ.”

“Thôi uống đi.”

Hắn tò mò nhìn mấy ngón tay con bé đặt trên bàn. Mấy cái móng cắt rất cẩn thận, sơn màu tím than. Vai tròn lẳn, sơ suất lộ ra mấy sợi lông nách nhỏ, ướt rịn. Con bé đưa tay vuốt lại tóc, tóc nó ngắn màu nâu sậm. Hắn giả vờ hỏi tiếp:

“Cái nãy tao gặp thằng lính ngoài cửa là thế nào?”

“Mày đừng quan tâm.” Thằng điển trai trả lời.

“Nhưng sao?”

“Tức cười.”

“Sao thế?”

“Cuộc chiến chấm dứt từ lâu. Nhưng đêm đêm nó vẫn mặc bộ quần áo lính, mang đôi giầy nặng chình chịch ấy rậm rịch ở các ngõ hẻm.”

“Không ai bảo hắn?”

“Điều đó thật bất nhân!”

“Tao hiểu rồi.”

Rồi hắn gọi tiếp một bình nữa loại gold. Ba đứa thi nhau uống. Thằng điển trai uống tợn, nó ba hoa kể về những người quen thuộc ở khu này. Chuyện thằng chủ quán bảy năm trước từng trắng tay trong một vụ đầu tư địa ốc, bây giờ thì yên ổn với cái nhà hàng này. Chuyện con nhỏ đầu bếp trước đây từng là người tình cũ của nó. Tụi nó từng làm tình với nhau ngay cả trong phòng đông lạnh.

“Thế sau rồi sao?” Hắn hỏi.

“Chán ngấy!”

Con bé nâng ly bia. Thằng điển trai bật cười: “Chuyện cũ.”

Thằng điển trai gọi thêm một bình amber nữa. Giọng nó bắt đầu lè nhè. Tụi nó uống suốt từ buổi chiều.

Hắn uể oải ngả người ra ghế. Thằng điển trai đang đưa tay nắn bóp giữa hai đùi con bé dưới bàn, chân con bé ríu lại. Hắn thấy hết. Con bé nhìn hắn rồi nhìn vào cốc bia nhưng không hề cản lại. Thằng điển trai rên rỉ: “Uoooống cho hết đêm.”

Hắn nói theo “Uống cho hết đêm.”

Hết thế nào được đêm. Thêm một bình nữa thằng điển trai có vẻ mệt mỏi, xin lỗi rồi ngả ra bàn. Tóc tai rũ rượi, trông như mảnh giấy vụn.

“Liệu có sao không?” Hắn hỏi con bé.

“Không sao đâu, nó vẫn thế. Một lúc lại tỉnh"

Hắn nâng ly. Con bé cũng nâng ly, vài giọt bia chảy dọc trên cánh tay. Hắn nói: “Coi chừng, tay cô ướt rồi.” Con bé chẳng trả lời, vẫn đưa ly uống, mắt nhìn hắn bình thản. Hắn đưa tay chặn giọt nước đang lăn đến gần cùi chỏ, rồi đưa ngón tay vuốt tiếp lên phần vai nơi không có giọt nước nào...

Con bé đứng dậy lôi hắn đi len ngõ sau nhà bếp, qua một cái sân ướt át rồi mở một cánh cửa khác vòng vèo trong dẫy hành lang dài vắng vẻ. Rồi lại một cánh cửa khác, một cánh cửa khác nữa. Ở đây chẳng có ai. Hai đứa trong căn phòng có nhiều cái máy vuông dẹp trên giàn, dây nhợ giăng mắc như cửi. Tiếng ầm ì nhỏ nhưng đều đặn, như thể có một tổ ong. Aùnh sáng từ nhiều đốm nhỏ li ti chớp tắt, không sáng lắm nhưng cũng đủ để hai đứa nhìn thấy nhau. Không khí ở đây khô và lạnh. Hai đứa đứng thở gấp gáp.

Hắn bắt đầu hôn miệt mài, lưỡi con bé lẩy bẩy. Hắn lập cập lột quần áo, người nó trắng toát trông to hơn bình thường với cái đùi bự quá khổ. Hắn tóm lấy mùi mẫn, toàn bộ ướt nhèm, vồ vập như thể đang lăn lộn trong một thể lỏng, như thể hắn vẫn còn là một cái bào thai. Con bé thè lưỡi liếm lên mặt hắn, lên khắp người hắn. Hắn quằn quại co rút từng chập.

Hồi sau con bé mặc quần áo bảo để nó ra trước, còn hắn nên chờ một chập rồi ra sau.

Hắn chờ lại nhìn những cái ghế đơn xoay tròn, những khối máy vuông xếp trên dãy bàn dài đều đặn dường như cũng xoay tròn. Có những cái hộp đựng bằng nhựa trong đang trôi. Cả những sợi dây điện trắng dài ngoằng nữa, cũng bập bềnh nhẹ nhàng. Một cái máy quay phim đặt ở góc phòng cũng như chuyển động qua lại.

Đến khi hắn quay trở lại quán rượu, hai đứa đã bỏ đi. Gã phục dịch cười cười, mặt đểu:

“Đi rồi, say bét nhè! Nếu muốn nữa thì tối mai quay lại.”

Chẳng biết chắc ngày mai tụi nó có nhớ hắn không. Hắn cũng chẳng biết hắn quay lại đây làm gì. Chung quanh người ta vẫn ăn uống. Những cây xúc xích nhân tỏi dài ngoằng, bóng mỡ được dọn ra. Những món thịt hầm, sườn nướng và rau củ bốc khói. Người ta cười nói và mồi chài. Vài người khác đang nói về một lập trình nào đó. Chẳng biết làm gì, hắn ngồi vào quầy gọi một ly bia, uống từng tợp lớn. Hết ly, lại gọi ly nữa, thỉnh thoảng nhại giọng thằng điển trai ban nãy “uoooống cho hết đêm.” Thằng pha rượu bồi theo: “Ừ uooống cho hết đêm.”

Hết thế nào được đêm! Hắn trả tiền. Ra đến cửa, người lính vẫn đứng đấy trông dúm dó. Đó là một hình ảnh tức cười! Hắn bật cười sặc sụa. Người lính có vẻ bối rối. Hắn lại nói tiếp, lầm rầm như thể nói một mình:

“Địch quân đã sang sông chưa hở ông?”

“Vẫn chưa đâu. Nhưng ban nãy tôi đã nghe thấy cả tiếng xích sắt xe tăng bọn chúng vọng lại.”

“Thế à?”

“Ừ, nhưng tôi chờ pháo của bọn chúng tập kích trước.”

Hắn lại nhớ ra có một đêm trong những năm tháng cũ, chiến tranh xảy ra tại thành phố ấu thơ của hắn. Tiếng đạn pháo rít tần số cao bay qua các mái nhà từng tiếng đều đặn. Hắn nằm nghe những tiếng rít nhưng không nghe tiếng nổ. Dường như có hàng trăm đầu đạn bay hoài vẩn vơ trong bóng đêm trên những khu nhà dân sự , trên thành phố. Mãi dường như ở xa lắm, đến độ gần như không thể nghe được nũa, có tiếng ầm ì lụp bụp. Còn những ngôi nhà thì vẫn im lìm ngủ say.

“Thôi cảm ơn ông nhé.” Hắn nói.

Người lính quay ngoắt đi không trả lời. Cũng chẳng biết nữa, dường như người lính trông tỉnh táo đang thương hại cho hắn. Hắn say bét nhè.

Cố lê được đến ngoài đường, hắn bắt đầu loạng choạng rồi đổ khục xuống. Hắn lăn lỏng chỏng cứng ngắc hệt như lon nhôm, xử dụng xong bị bóp dẹp, bên đống thùng các tông. Vô cảm! Ngoài kia vẫn thế chỉ thấy được một vài vệt nhờ nhờ.

Nguồn: http://www.gio-o.com
Imagine
12-02-06, 12:44
Nhà Cũ
Nguyễn Danh Bằng

Ðó là một ngôi nhà ngói lớn. Nó chạy dàn ngang thành ba gian. Nhiều cột vuông chia đều lêu nghêu. Vách gỗ chia giữa các gian, có thể do lúc mới dựng ván còn ướt sau co lại tạo những khoảng hở đều đặn mà bố tôi phải dùng giấy báo dán lên. Ngoằn ngoèo chằng chịt đường mối đùn. Tôi hay cạy vỡ những đường mối đùn ấy cho những con gà nhỏ bắt ăn mấy con mối trắng phềnh. Có lần cả ngôi nhà rúng động, một cột chống phần hông nhà gẫy đổ khục xuống, ngói xô ràn rạt. Bố tôi cậy hết mấy người quen xúm vào bẩy cả phần mái lên rồi lót hòn đá tảng dưới chiếc cột gẫy.

Tôi hay nằm nhìn lên cái mái hình tháp mục nát, ánh nắng rọi thành luồng vàng ong những hạt bụi bay vơ vẩn. Ngôi nhà trống tuềnh trống toàng, ở góc nhà là cái chạn bát tối om, cũ kỹ.

Tôi đã sinh ra trong những năm tháng khó khăn, nghe kể lại thế. Ông bố tôi là một người nghiêm khắc độc đoán. Những bữa cơm chiều thường rất im lặng trong sự cay nghiệt của ông ấy. Cả nhà, anh chị em đông đúc gầy gò chen chúc vừa đập muỗi vừa và những miếng cơm rau, sồn sột soàn soạt. Những bữa cơm như thế rất yên ổn, rất bình dân, rất đức hạnh, nhưng tù túng buồn bã! Tôi là một đứa bé mải chơi, hay nhìn vào những cái bóng của mọi người run rẩy trên vách, hoặc nhìn chằm chằm vào đôi đũa cả trên cái nồi gang khổng lồ đen đặc mun khói đặt gọn gàng trên cái rế tre. Tôi nhìn ông bố tôi cau có, trông ông đầy quyền lực, nhưng mãi lâu lắm sau này tôi mới biết thật ra ông là một người bất an và đa nghi!

Ðó là tất cả những gì tôi nhớ được về nơi tôi đã sinh ra. Trí nhớ tôi như một cái xơ mướp với nhiều khoang rỗng trơ xác, mất dấu, mà tôi cũng đã một đôi lần cố bịt trét làm đầy. Trí nhớ hành hạ tôi, xúi bẩy tôi, khiến tôi trở thành một người bất ổn, dằn vặt, tìm kiếm.

*

Khoảng thời gian khi tôi đã có thể nhớ được rõ ràng thì lúc ấy đã lớn. Tôi sống trong đô thị lớn, có văn hóa. Tôi đã làm sao, lang bạt thế nào để đến thành phố này, trời biết. Có dễ đến mươi cuộc dời chuyển. Ðời sống ở đây bình lặng và êm ả...

Ngoài đường người ta chào ngắn ngủi vài câu trao đổi về thời tiết:

“Ê chào buổi sáng.”

“Chào buổi sáng. Dẫn chó đi bộ hả?”

“Ừ hôm nay khô ráo.”

“Thế nhé.”

“Chào.”

Ðại loại thế. Cũng có những câu bàn tán bẩn thỉu đôi khi nhưng nhẹ thôi:

“Ê đừng đến cái nhà hàng đó nữa, đổi chủ rồi, một thằng đầu bếp thối tha!”

“Thế à?”

“Chắc lâu lắm không ra ngoài hả? Có gì mới không?”

“Ừ, bị trật chân.”

“Thế à, thôi nhé.”

“Chào.”

Quán xá ở đây sáng sủa nhưng người ta đến đây không phải để tán gẫu mà để làm việc. Có nhiều buổi sáng cuối tuần mùa đông tôi chẳng có gì làm, ra quán ngồi đọc sách. Một lần tôi vớ đọc cuốn sách nói về những lý thuyết Vật Lý hiện đại. Ðấy là lần đầu tôi đọc về lý thuyết không gian thời gian của Einstein. Thời gian có thể co giãn! Nếu chúng ta di chuyển nhanh hơn ánh sáng, chúng ta có thể đi ngược về quá khứ. Có thể. Nhiều ngày tôi nhìn ra ngoài quán thấy những điều chung quanh mình không hoàn toàn hiện hữu, chúng là những biểu tượng tạm thời.

Tôi ở trong một khu chung cư xuống cấp, giá rẻ, nơi ngụ cư của những người già, thất nghiệp, học sinh, những tay tìm kiếm thể nghiệm. Tôi không lấy làm lạ khi gặp đủ thứ người lôi thôi, bộ dạng kì lạ ở đây. Ðối diện phòng tôi có một bà già da đen trồng đủ thứ cây cảnh nhiệt đới trong phòng. Bà trò chuyện quát mắng với cây cối như thể chúng là người. Bà ồn ào một mình ở trong phòng nhưng im lặng ngoài đường. Còn ở góc bên trái gã da trắng gốc Anh suốt ngày đi nhặt rác ở hành lang, gã nhặt từng mẩu giấy nhỏ, cành vụn, thu vén. Gặp ai gã cũng chào hỏi lí nhí, nhưng hay nhìn theo. Tầng trên có những người thanh niên đẹp đẽ nhưng khó hiểu, họ hay biến mất nhiều ngày rồi ồn ào náo nhiệt suốt đêm khi trở về. Thỉnh thoảng tôi chạm trán ở cầu thang máy, thấy họ nhem nhuốc bê bết nhưng ánh mắt vui vẻ hân hoan. Tôi lấy làm lạ! Nhiều lần tôi ngạc nhiên để ý khi mình đã bước ra ở tầng một, họ vẫn ở lại trong thang máy đi tiếp xuống tầng hầm! Ðó là một tầng hầm lớn trước đây dùng làm bãi đậu xe, nay hư hỏng, chất đầy rác rưởi, vật dụng hư cũ, không đèn đuốc, toàn chuột bọ.

Một lần không cầm nổi sự tò mò, tôi mon men mò xuống căn hầm xực mùi ẩm mốc. Chẳng có gì. Ðồ đạc ngổn ngang, ghế sô pha, bàn gỗ gẫy chân, máy giặt móp méo, quần áo cũ... Giữa núi đồ đạc phế thải ấy tôi nhận ra một lối đi luồn lách qua các chướng ngại. Tôi đi len qua những hàng cột, đi quanh vào một ngách nhỏ. Ngách này là nơi tiếp giáp giữa hai dẫy chung cư, một lằn hẹp ánh sáng ở trên cao, đất ở dưới. Mặt đất nhẵn thín với nhiều vết chân đi lại. Tôi đi sâu vào và nhận ra một miệng hầm ăn sâu vào lòng đất. Ðúng lúc ấy một con bé bước ra nhem nhuốc, nó nhìn tôi trô trố. Tôi ấp úng:

“Tôi tò mò quá! Chỉ muốn biết qua các bạn làm gì dưới này.”

“Tìm kiếm” Giọng con bé rề rề.

“Tìm gì thế?”

“Chẳng biết.” Một lúc sau nó nhún vai: “ Anh xuống đi.” Nó đi trước tôi đi sau. Và như thế, lần ấy tôi khám phá ra thế giới của họ.

Tôi bị cuốn hút và gia nhập ngay vào cái thế giới ấy. Tôi và những người trẻ sống và đi lại trong những tầng hầm đào khắp dưới lòng thành phố. Cuộc đào xới hứng thú lắm, chúng tôi tìm được nhiều vật lạ, cất lại, lau chùi, đem bán ở phiên chợ trời cuối tuần trên phố. Thường những món có thể dùng hoặc trưng bày được dễ bán hơn, những món quá xa lạ và khác biệt bán được giá cao nhưng rất khó bán. Dẫu vậy chúng tôi chẳng kiếm chác được bao nhiêu, thường bọn mua đi bán lại biết đánh bóng, mời chào ở cửa hiệu riêng kiếm chác hơn nhiều. Chúng tôi không quan tâm lắm, cái việc đào bới trong những tầng ngầm tách biệt tối tăm thì kích thích đến kỳ lạ.
Imagine
12-02-06, 12:45
Khoảng thời gian đầu tôi đào cần mẫn lắm, khoét rộng nhưng thi thoảng chỉ được những món nhỏ thường thấy: bộ ấm vuông mẻ miệng không hoàn chỉnh, cái khay đèn bằng đồng có chạm khắc hoa văn, con dao bạc cong vòng mất phần nạm ở cán, đại loại thế. Hầu hết tôi không bán được những món ấy, nó đã sẵn đầy ở chợ.

Mãi lâu sau nhờ con bé gặp buổi đầu mách, tôi mới nhận ra mình chỉ đào quanh. Những đứa kinh nghiệm đào về một phía, chúng đào xa lắm, có khi mất biệt, rồi thình lình xuất hiện mang về món bở. Thế là tôi và con bé cùng đào mãi xa vào một hướng, tìm được những món lớn hơn. Những viên đá có khắc hình nổi dáng người cổ nhảy múa, những đồng xu hoen rỉ, cây súng nòng dài mất báng, vân vân.

Một lần tôi mang ra chợ món đặc biệt tìm được. Người ta đứng xúm xít lại coi. Ðó là một khối vuông vức màu nâu trong và thẫm. Bên trong có nhiều vệt hình dáng của rơm rạ, một ổ tròn đan như ổ chim, và có vài vết phẩy dáng như chữ viết.

“Thôi phải rồi, đấy là cái lồng đúc để giữ lại được những món trong ấy chứ gì?” Người ta bàn tán.

“Một văn bản cũng nên.”

“Nó làm tôi nghĩ đến một cái gì hết sức đặc trưng, hết sức đơn giản về một điều nghiêm túc nào đó”

“Trò nỡm!” Cũng có người bảo.

Cứ thế họ bàn luận giả thiết.

Một người trả tôi món tiền khá rồi mang nó đi. Ðám đông tản ra ngay, tôi ngồi trơ lại. Thật tức cười, tôi cảm thấy mất mát.

Một lần tôi khám phá ra cái ngách nhỏ. Ðằng sau cái ngách độ chục đứa bé độ bẩy tám tuổi kéo tay tôi chạy thụt vào căn hầm dài hoăm hoắm. Sau một hồi dài đi quanh queo những khoảng đá hẹp chúng dẫn tôi ra bãi phẳng trống đầy tuyết, dòng nước đóng băng, cành cây trĩu xuống những thanh đá dài. Có mấy căn nhà quét vôi trắng, sơ sài nhưng sạch sẽ. Ðứng dưới những lùm cây rải rác đây đó nhiều cặp đang ôm hôn nhau, họ cũng bất động như khối băng. Cái gì đó rất yên bình và thanh khiết. Mãi lâu lắm tôi mới dứt ra mà đi được.

Khi trở về tôi khoét rộng một phần hầm lớn thành hai gian ngăn nắp. Con bé mang dọn vào một ít đồ đạc. Mỗi bận đào được chút gì có được ít tiền, chúng tôi lại mua sắm thêm vật dụng thiết yếu để bày biện. Chúng tôi trữ cả một ít rượu, uống mỗi ngày, nhiều hôm chẳng thiết ra đến ngoài.

Nhưng dù vậy, đêm đêm trong căn hầm hai gian ấy, tôi cứ thấy dường như mình đang rơi xuống một cái hố vuông vắn, mà khi ngước nhìn lên chỉ thấy vách đất cao vút, mãi trên đỉnh thấp thoáng tàn cây của cánh rừng già nguyên thủy. Không hiểu sao tôi cứ nghĩ gia đình tôi ở trên đấy. Có thể họ đang chất những khúc gỗ mới xẻ, có thể bố tôi đang bổ từng nhát búa vào những miếng củi tròn, có thể mẹ tôi đang to tiếng la hoảng anh chị tôi, tất cả vẫn còn là những đứa bé nhem nhuốc bồng bế lẫn nhau, có thể những con heo mọi bụng phệ đang ủi tung một vũng lầy, đất đen đặc và ướt sau những trận mưa rừng nhiệt đới dữ dội, cây đang mọc vượt lên tranh giành sự sống, những sợi dây rừng to lớn cong vòng vắt vẻo đan vào nhau như một bức tường vững chãi hiên ngang. Tôi muốn gọi to lên nhiều lần nhưng điều đó làm cho con bé hoảng sợ! Con bé hỏi:

“Sao thế?”

“Chẳng sao cả.” Tôi đáp. Con bé ngoảnh đi tư lự rồi thở dài. Tôi hỏi:

“Sao thế?”

“Chẳng sao cả.” Nghĩ sao nó lại nói thêm: “Nhớ ngày còn bé!”

Cả hai chúng tôi ngoảnh đi.

Cũng có lúc tôi nói thật ra mọi điều vẫn chưa ổn. Con bé vẫn im lặng nhìn mãi lên những mảng gỗ trên đỉnh trần. Chúng tôi nằm đó rất tạm bợ!

Một hôm cả nhóm đang ngồi tán phét bên chiến lợi phẩm, một gã trung niên thình lình chui ra từ một ngách hầm. Trông gã râu ria bụi bặm, trầm ngâm và vững chãi. Tụi tôi nhao nhao hỏi gã:

“Ðược miếng nào không?”

Gã chẳng trả lời nhìn chiến lợi phẩm của chúng tôi một lúc rồi nói:

“Ðào nông quá! Quí vị còn đào xơi!”

“Thế có tìm được gì không?” Tôi nóng nẩy.

Người gã trống trơn. Dù vậy trông gã thảnh thơi như một người được của.

“Tớ thấy rồi, các cậu cứ đào về hướng ấy, nhưng đào sâu xuống.” Nói rồi gã bỏ đi về hướng ngược lại.

Tôi nghĩ mãi. Ðồ gàn.

Cả bọn đã tan ra, nhưng tôi vẫn ngồi đó nghĩ mãi. Tới tận bây giờ tôi vẫn sống như một miếng ván bị nhổ bật quăng xuống dòng nước. Nó bập bềnh vướng víu. Thật ra vẫn cứ có điều gì đó xúi bẩy!

Tôi quay trở về căn hai gian nhưng chỉ đứng ở bên ngoài, gọi khẽ. Con bé bước ra chạm khuỷu tay tôi trong bóng tối...

Thế là tôi “ly khai” với bọn thanh niên, tiếp tục với rất nhiều ngày dài một mình. Tôi kiên nhẫn đào xới và mất dần nhu cầu gần gụi tiếp xúc. Sau một thời gian dằn vặt cô đơn tôi bắt đầu thấy ý tưởng mình sáng rõ và mạnh mẽ, nhận ra trí óc mình trước đây chưa từng bao giờ sáng rõ như thế do những chung đụng và co kéo tầm phào với những người chung quanh. Tôi cảm nhận thân thể mình trọn vẹn, cảm nhận hơi thở mình trọn vẹn, cảm nhận khả năng tìm kiếm và chiếm lĩnh trọn vẹn.

Thay vì hùng hục đào xới cả ngày, tôi bắt đầu lắng nghe. Trong những giờ khắc yên tĩnh nhất, áp tai vào thành đất tôi nghe cả trăm ngàn âm thanh li ti hỗn độn. Tiếng ấu trùng cựa mình, tiếng rễ cây tách vào lòng đất, tiếng róc rách mạch nước ngầm, tiếng lạ lùng. Tôi cứ vừa nghe vừa đào, không hối hả không dằn vặt. Ngày ngày trôi qua, những âm thanh trở nên rõ dần. Có lúc nghe như tiếng nước chẩy trước mặt, tôi vội vàng bẻ ngoặt hướng đào.

Ngày kia tôi phát hiện một cánh cửa gỗ nặng nề trễ xuống một bên. Có tiếng rì rầm ở bên kia. Tôi hé mắt nhìn vào qua kẽ nứt khe cửa. Dọc dài theo vách hai dẫy giường dài, đủ thứ người chen chúc nằm, tôi chỉ thấy được những bàn chân hếch lên hướng ra phía ngoài. Những bàn chân chìa ra ngay trên hàng số. Tiếng một người đàn ông rên rỉ:

“Chán quá đi mất các bác nhỉ!”

“Có ai kể chuyện gì đi nào.” Một giọng khác.

“Trò ấy nhàm!”

“Này cậu, cậu đừng nằm co như thế, đã chật.” Có tiếng trở mình.

“Thế đã đủ chưa?”

“Ðủ thế nào được.”

“Thế thì tôi chịu.”

“Ừ biết thế.” Im lặng hồi lâu.

“Bao lâu rồi nhỉ?”

“Chẳng nhớ”

Nhiều tiếng sột soạt người ta trở mình. Tiếng gãi lưng. Tiếng ngáy. Có tiếng thở dài. Rồi tất cả im lặng. Chỉ thấy những đôi bàn chân và gấu quần.

Tôi thở dài ngao ngán đào qua hướng khác.
Imagine
12-02-06, 12:46
Có lúc nghe tiếng líu ríu, tôi moi thốc tới, đất sạt ra lộ căn hầm thấp và dài, vài trăm con vịt trắng cạc cạc chạy dồn về một góc. Rơm lầy nhầy vẫn ướt rải rác. Ở một góc hầm vẫn leo lét lửa thấp của ngọn đèn dầu, một cái nón lá, một cái sào trúc và cái áo tơi. Chiếc áo làm từ sơ dừa, đập dập và đan kết, có cả phần choàng qua vai. Nó cũ đen, xơ mướp ra ở phần tà. Phía cuối hầm, tấm phên tre xộc xệch. Bên ngoài tấm phên ấy chắc hẳn hướng ra cánh đồng lúa nước, hẳn có nhiều bờ đất và con sông nhỏ chạy qua một xóm với nhiều lưới vó chắn ngang. Tôi nhìn rất lâu, cảm thấy phấn khích một cách kỳ lạ, không thể lý giải được vì sao lại thích thú như thế khi chỉ khám phá ra một khung cảnh tầm thường như thế. Hình như nó không hẳn chỉ là sự phấn khích, một phần nào cảm động. Sau đó tôi se sẽ trám lại lỗ hổng mà mình vừa moi ra. Căn hầm nằm đó như một dấu diếm.

Nhưng thậm chí còn thích thú hơn khi một lần tôi tìm ra hẳn một phiên chợ đêm. Cảnh mua bán lào xào, bóng những người đàn bà mặc áo bà ba, quấn khăn, đi chân đất, gánh hai rổ hàng với những ngọn đèn hột vịt le lói. Họ ngồi dọc bên một con đường cát, cũng co kéo, cũng rao hàng, cũng gà qué quang quác, cũng cãi vã, khẽ thôi, cũng mặccả cũng gọi giật lưng, bằng lòng nhưng chặc lưỡi.

Tôi ngồi xuống hỏi người đàn bà bán hành củ:

“Bà ơi đây là đâu?” Bà vẫn nhanh nhảu chào hàng với những người đang rảo. Lúc sau bà nói:

“Ngã ba Chợ Hôm.”

“Thế gần xã Giồng Trôm à?” Tôi hồi hộp.

“Cậu đang giỡn à?” Bà trợn mắt. Tôi hỏi tiếp: “Sao?”

Bà tiếp tục rao hàng “Năm chục hai mớ, hai mớ năm chục, mại dô.”

“Thế xã Giồng Nềnh?”

“Nghe nói xã giải tán từ hồi còn đánh nhau!” Lần này bà trả lời.

“Sao thế?”

“...chắc là tàn phá, nghe nói còn rặng tre cháy.”

Bây giờ thì tôi lại nhớ ra thêm, xã Giồng Nềnh có con đường rất trơ, mỗi buổi trưa nắng nó đỏ lên, bốc hơi lên như thể sắp cháy. Thỉnh thoảng có những người đàn bà mặc quần đen đội nón lá gánh đi liêu xiêu bé tí. Tôi nài nỉ hỏi thêm:

“Thế người ta đi đâu?”

“Chắc là vào thành phố, hay đi đâu không rõ.”

“Thế còn những con bò?”

“Chắc là bị bắn chết quá!”

“Sao lại thế?” Tự dưng tôi nhớ lại hình ảnh đàn bò đi trên những ngọn đồi đất đỏ, đằng sau xa xa là dẫy rừng nhiệt đới, chúng chậm rãi, mắt chúng ướt nhèm.

“Làm sao đi tới ấy?”

“Mất đường rồi, cậu đừng giỡn nữa.” Bà quấn lại cái khăn vuông kẻ sọc ca rô lớn trên đầu. Sau thấy tôi thất vọng, bà lại nói thêm:

“Mà có ai biết chắc đâu, chỉ nghe nói thế. Chuyện từ hồi xưa!”

Bà già làm tôi buồn rầu. Tôi không tin thế, tôi vẫn nghĩ hẳn đâu đó giữa rừng vẫn còn vẹt ra một khoảng vuông, mà trong đó những ngôi nhà vẫn còn nguyên vẹn, có lẽ chẳng còn ai, lâu quá rồi còn gì! Hẳn vẫn phải còn những cái cổng tre xộc xệch, mà khi muốn mở phải nhấc hẳn một đầu lên. Hoặc chí ít những con heo mọi với thứ tồn tại bản năng cũng thích nghi được với đời sống rừng rú mà thỉnh thoảng trở về đi lại nghênh ngang giữa những ngôi nhà trống vắng.

Tôi lờ đờ chán nản. Cũng chẳng biết tại sao!

Một ngày kia khi tất cả sự ham muốn tìm kiếm gần như sắp lụi tàn, sự thờ ơ làm tôi lười biếng, thì tôi lại đào trúng ổ. Thoạt đầu tôi moi ra được chiếc cầu thang gỗ có cánh tay vịn, nó bị gẫy ngang, có phần mục nát. Tôi phủi những lớp đất bên ngoài và nhận ra chiếc thang quen lắm. Bên thành của chiếc thang còn đường vẽ rất mờ hình một con ngựa, nét vẽ nguệch ngoạc con nít. Ở mặt bên kia tấm gỗ có vài chữ ghi ngày tháng năm 1957. Rồi tôi moi ra cơ man là ngói, đỏ một mặt rêu một mặt, một đầu hình cong như vẩy cá đầu kia nhô ra núm ngạch nhỏ. Tôi hổn hển moi nữa lấy ra một con dao quắm đầu uốn cong, đầu kia mất cán trơ ra mũi nhọn. Sau con dao tôi lại tìm thấy một khung gỗ đóng nẹp quanh miếng lưới ruồi, bên thành khung vẫn còn dính cái núm kéo tròn bằng nhôm. Tôi ngồi bệt xuống đất nhìn mãi vào chiếc lưới ruồi thủng nát, bây giờ thì tôi đã nhận ra, nó chính là cái cửa nhỏ xíu của cái chạn bát.

Và tôi ngồi như thế rất lâu có cảm giác như mình đang là một người đức hạnh hoặc tử tế gì đấy, một cảm giác rất cũ. Chẳng biết tôi ngồi đến bao lâu, chỉ biết là lâu lắm! Rồi loáng thoáng tôi thấy ánh nắng đang soi thẳng xuống thành luồng rực lên rõ ràng trong một khoảng rộng tối đen. Hàng tỉ tỉ những hạt bụi nhỏ vàng ong cuộn lên, bay lên vơ vẩn trong luồng nắng ấy.

Thật đấy, tôi muốn nói có cả hàng tỉ tỉ hạt bụi nhỏ vàng ong cuộn lên bay lên.

Nguồn: http://www.mydamau.com
Imagine
14-02-06, 19:40
Nguyễn Danh Bằng
Sinh năm 1967 tại Sài Gòn.
Hiện sống và làm việc tại Mỹ.

Nguồn: eVăn.

-------------------------


Thứ Ba 18/10/2005
Phòng lạ
Một tập truyện ngắn đặc sắc, đầy chất thơ của Nguyễn Danh Bằng.
Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2005.

Trong “Tản mạn về truyện ngắn”, nhà văn Phạm Thị Hoài có viết: “Truyện ngắn dường như là đứa con tất yếu của người mẹ Thơ và người cha Văn Xuôi. Nó là thơ viết bằng văn xuôi, bên ngoài mang tính cha mà bên trong mang tính mẹ”, điều này thật đúng với tập truyện ngắn Phòng lạ.

Một tập truyện dày khoảng 200 trang với 15 truyện, đó là sức nén mạnh của cây viết xa xứ Nguyễn Danh Bằng. Truyện đầy chất thơ, không có xung đột thắt mở nút, không lên gân, không câu chữ bóng bẩy. Truyện cứ hiển nhiên, như lời tâm sự thủ thỉ khoan nhặt, khiến người đọc có độ lắng, đi theo mê mải như nhập vào câu chữ nhưng không hề mệt mỏi. Độc giả được chìm đắm trong những “câu thơ dài” gợi ắp không gian mà tác giả đem lại.

Nguyễn Danh Bằng viết không nhiều, và xuất hiện không như một hiện tượng lạ. Anh nhẹ nhàng ru người đọc trong chất truyện ngọt ngào, thật thà như lời tâm sự của mình. Đọc Nguyễn Danh Bằng, độc giả sẽ thích thú vì vốn văn hoá sâu rộng của anh, câu chữ không gượng ép, cứ thản nhiên như “móc từ trong túi ra”. Hãy thử lật những trang sách ra, bạn sẽ thích: Bản phố; Bà Ela; Tôi, Anna và Thu; Tìm vua Mèo; Phòng lạ; Nhà cũ...

Sâu trong Phòng lạ, ta bắt gặp nỗi buồn nhân bản, con người sinh ra đã là sự lưu đày chốn dương gian, đã là cô đơn miền độc thoại. Và nơi đâu trong tâm cảm, con người gặp ít nhiều những căn “phòng lạ” thăm thẳm trong tâm hồn mình.

Nguyễn Danh Bằng sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn. Anh tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật TP HCM 1991. Năm 1992 sang Mỹ, đã tốt nghiệp cử nhân Computer & Video Imaging. Hiện anh đang làm việc tại San Francisco.

Từ Nữ Triệu Vương

nguồn: eVăn

==========

Đọc thêm truyện ngắn Nguyễn Danh Bằng ở đây:

http://www.tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=347
Imagine
14-02-06, 19:41
Bản Phố
Nguyễn Danh Bằng

Ai đã từng sống ở thành phố Fremont, tiểu bang California, hẳn phải biết đến cái chợ nông dân nhóm họp vào mỗi ngày thứ bảy. Những người ăn uống cầu kỳ thích đến đây mua đủ loại rau cỏ tươi được trồng theo phương thức hữu cơ tự nhiên, không phân bón hoặc các thuốc hóa học. Ở đây người Hmong, những người nhỏ bé sượng sùng kín đáo dựng lên các sạp bán đủ loại rau củ. Rau rền, rau bí, rau lang, đậu bắp mỗi bó một đồng bán cho người Mỹ da vàng. Mỹ trắng mua hành bó, bắp cải, đậu cô-ve... Họ thâu nhặt toàn tiền lẻ, những đồng một đồng cuốn chặt thành bó trong tay.

Cậu bé Hmong đứng sau chồng bông cải trắng nhìn những bàn tay. Những bàn tay không dấu diếm và tham lam đôi khi. Một người Ấn nhặt rồi ngắt từng trái đậu bắp để xem non già. Cậu nhìn những gia đình tản bộ trong cái nắng mai, trong cái chen chúc lẩn khuất phố xá, tất cả trông không giống hình ảnh của núi đồi, nó giống một bản thêu chi chít nhiều màu.

Bố cậu nhắc chừng. Cậu lại chìa ra bông cải trắng tinh.

Thật ra bông cải có hình của quả đồi nguyên thủy với thật nhiều cây ken đặc. Nếu cậu được đi vào quả đồi ấy chắc hẳn cậu sẽ không thể thấy được nắng mai, chỉ còn là bóng râm màu xanh. Cậu có thể thấy con hổ ẩn nấp kêu lên vang vọng. Cậu có thể thấy nhiều con mắt tròn nhìn ngó từ trên cây. Nhưng cậu nghĩ nếu đi xuyên qua được quả đồi, hẳn rằng cậu sẽ nhìn thấy khoảng trống một sườn núi, nơi treo lơ lửng nhiều ngôi nhà gỗ với người đàn ông dựa cửa, một vài đứa trẻ con cõng nhau trong sân, những con trâu đen thui lỗ mỗ...

Một người Trung Hoa cầm lấy quả đồi nguyên thủy của cậu và mang đi trong cái túi đựng ny-lông màu đỏ.

Bố cậu gọi tên cậu. Cậu lại nhặt những đồng xu. Đồng một hào có màu đỏ.

Cậu chìa ra củ rền, nếu chịu nhìn theo một cách nào đó, củ rền với những nhánh lá dài cũng đủ để làm nghĩ đến cây phong. Độ tháng chạp cây phong rung lên, trăm ngàn chiếc lá đỏ rực bật lẩy lấp lánh. Gió dứt chúng ra bay đi muôn chiều. Trong cảnh rừng núi cây phong là ngọn lửa của mùa đông, nó cháy không dữ dội nhưng phất phới bền bỉ.

Cây phong có giá một đồng ba mươi xu một cân Anh.

Bên kia đường, người Mỹ trắng cao gầy đứng bán mật ong, độ chục cái bình lớn nhỏ đậm nhạt khác nhau màu hổ phách trên bàn trải khăn vải hoa mới tinh. Thỉnh thoảng một vài người dừng lại mút mát nếm thử, trao đổi một vài câu. Ông ta cũng nhìn cậu bé. Mắt ông màu xanh trong veo. Cả hai không nhìn vào một cơ thể có dáng dấp của nhau. Cả hai nhìn sâu vào nhau và cùng thấy một vùng trong suốt nơi có những khung cảnh đồng quê, có mùi vị thanh thanh, có tiếng lanh canh lộc cộc, có tiếng ngựa rùn chân, có tiếng hú từ miệng giếng mỗi lần gió thổi qua, có con đường quanh co lẩn khuất, có cổng gỗ xiêu vẹo, có tiếng gọi cơm vang mãi đến cuối đồi, có tiếng hát chói lói trong không gian lớn.

Cậu bước qua nhìn vào những cái bình có màu hổ phách sẫm sắc. Trước tiên cậu thấy thật nhiều hoa, cậu thấy mùa hè ngày thật dài, cậu thấy con ong baylảng vảng trên cánh đồng đủ màu vạn sắc. Cậu đi ra cánh đồng trên chân trần. Lăn tăn ánh nước nơi kia ở một dòng sông.

"Cậu đang thấy những ngày hè?" Người Mỹ trắng hỏi.

Tiếp tục nhìn vào cái bình mật ong. Cậu bé thấy mình nghiêng nhoài ra trên mặt nước dưới rặng cây. Chỉ cách một với tay, nắng đặc quánh có màu hổ phách ngoài kia. Cả không gian cũng đặc kẹo đến khó thở. Mỗi di chuyển trở nên chậm chạp khó nhọc.

"Cậu thấy mình bên một dòng sông?" Người Mỹ trắng lại hỏi.

Cậu bé cố gắng giơ tay và cái không gian buổi trưa trong đầu cậu bỗng trở nên căng thẳng như muốn đứt vỡ. Cảm giác mệt mỏi ngọt ngào. Mùi trái cây thoang thoảng. Tiếng kẽo kẹt trong nhà vọng ra. Cậu nhắm mắt dựa đầu vào gốc cây. Gốc cây cũng mềm nhũn êm dịu.

"Cậu sắp ngủ ngày phải không?" Người Mỹ trắng lại hỏi.

"Vâng" cậu bé trả lời rồi trở về sạp của mình. Cậu nghĩ thầm: "Ông ta có trí nhớ tuyệt vời."

Cậu bé Hmong chìa tay mời mọc cả ngày khi chồng bông cải vơi dần. Khi nắng kéo xuống thành những đường chém ngang giữa các căn nhà bố con cậu dọn hàng.

*

Cậu bé hay mơ đủ chuyện mỗi đêm. Bên ô cửa sổ nhỏ bé tầng trên có sẵn chiếc thang dây nhỏ thôi nhưng dài kinh khủng. Nó vắt mãi lơ lửng ở đấy từ bao lâu. Nó vòng qua cái ống khói bằng gạch rồi mất hút ở trên cao. Cậu bám vào thang trèo mãi, trèo mãi xuống phố.

Cậu bé đi vào khu trung tâm. Mọi người đi lại chen chúc. Cửa kính hàng quán sáng choang. Ánh sáng ne-on hắt thành những đường dài bóng nhẫy trơn trượt, chẩy thành hàng trên mặt đường, chăng thành những lồng kính vô hình, bay vơ vẩn thành nhiều đường ngoằn nghèo, hoặc rơi lả tả như mưa. Hơi thở cậu đầy ánh sáng. Bước chân cậu làm vỡ tan ánh sáng thành muôn hạt li ti nhỏ bé.

Cậu đi như bơi lặn trong một biển muôn màu hỗn độn.

Khu trung tâm đồ sộ nhưng dẹp lép và cao ngồng.

Có nhiều lớp tường lớn vĩ đại đang xây dở dang. Trên mỗi vách trổ ra hàng trăm cầu thang. Nhiều cầu thang bẻ ngoặt vào một vòm cổng, người ta đi đến đấy quẹo vào mất hút. Nhiều cầu thang khác bỗng bỏ ngang lưng chừng chẳng dẫn đến nơi đâu. Một vài kẻ trông lơ ngơ lên xuống. Cũng có kẻ rơi ra hét lên vô vọng. Hàng trăm trục cuốn vĩ đại kéo những dây xích sắt khổng lồ trong không gian. Có những cầu thang máy lớn bằng căn nhà bốn phòng ầm ầm hết dừng rồi lại kéo. Nước thải rỉ rả chảy dọc như những cơn mưa lẫn trong hơi khói dầy đặc như sương mù.

Cậu bé đi vào một đại sảnh nơi có nhiều cột vuông bằng cẩm thạch sáng loáng. Nhiều người ở nơi đây bỗng trầm trồ chỉ trỏ bộ quần áo cổ truyền trên người cậu:

"Ôi trông kìa, bộ quần áo ấy mới thật lạ kỳ!"

"Cái cổ áo thêu ấy thật như trong những truyện xưa!"

"Cái gì thế này? Lại một trò màu mè. Tôi đã chán ngấy những trò biểu diễn kiểu cổ điển như thế này từ năm lên lớp hai." Cũng có một vài người thô lỗ tỏ ra hoài nghi.

Bên trái rất đông người đứng chờ các chuyến thang máy lên xuống đều đặn. Tòa bin đinh này cao ngất nhìn không thấy được đỉnh. Có biết bao người đã sống ở đây rất lâu và chẳng mấy khi đi ra nữa. Họ di chuyển giữa các tầng lầu chứng kiến nhiều sự khác biệt. Tất cả diễn ra trong sự bao bọc của những khối vuông.

Cậu bé đi vào một chiếc cầu thang máy. Nó chạy nhanh, tiếng rít nhẹ như một hơi gió lọt qua khe cửa hẹp.

Khi chiếc thang máy lướt qua tầng thứ sáu mươi mốt, cậu nghe như có tiếng sấm lẫn trong mưa rền rĩ...

Tầng thứ tám mươi hai thật vắng lặng một dẫy phố. Trước cửa tiệm bánh ngọt một người đàn ông ngồi suýt soa câu cá bên miệng cống hình tròn nơi tỏa khói nghi ngút. Có cả tiếng rì rầm sóng vỗ dưới lòng đất...

Ở một nhà hàng tầng thứ một trăm lẻ tám cậu bé bước trên thảm đỏ. Trên cánh cửa kính xác một con chuồn chuồn khô ánh lên màu xanh biếc. Cậu đã định đưa tay ra bắt lấy, nhưng xác nó vỡ vụn tan ra thành bụi.

Cậu ngồi vào bàn nhựa giả gỗ đỏ có nhiều vân chi chít. Sau quầy cô gái người Mễ Tây Cơ phục dịch nhanh nhẹn. Cô dọn cho cậu một chiếc hộp thiếc đựng sáu con cá mòi sốt cà và một bộ nĩa bạc sáng choang. Mấy con cá nằm xếp thành hàng dọc gọn gàng. Cậu cố tưởng tượng cảnh những con cá mòi bơi trong biển. Cậu đã sinh ra ở miền núi, cảnh tượng đó thật khó mà hình dung. Trên kệ có dễ đến vài ngàn chiếc hộp thiếc sáng choang.
Imagine
14-02-06, 19:42
Đặt ly rượu đỏ trước mặt, cô gái Mễ Tây Cơ vừa nhâm nhi vừa nhìn cậu. Mắt cô lớn màu nâu trong suốt. Miệng cô chập chập sau mỗi nhấp rượu rồi bất thần hỏi:

"Này cậu em. Cậu có một cái nhìn khá dịu dàng."

Cậu bé Hmong nhìn vào chiếc nĩa mạ bạc, nó có thứ ánh sáng cậu thường gặp trên trời vào những ngày mưa. Xám sáng và sắc lạnh.

"Cậu không dùng món cá?" Cô gái lại hỏi.

Cô đẩy ly rượu về phía cậu. Cậu bé lắc đầu. Cô nốc cạn. Mắt cô lóng lánh. Cô đứng tì vào bàn, hơi thở cô tràn về phía cậu. Tóc cô uốn từng lọn nhỏ phả ra mùi thơm. Cô lơ đãng nhìn vào khoảng trống khi tiếng nhạc nổi lên sôi động bài: "Chàng Pablo mất ngựa đáng thương."

"Cậu còn bé quá! Không biết tớ có nên kể điều này không?"

"Điều gì?"

Cô gái búng búng vào cái ly, mắt nheo nheo:

"Tớ vừa kiếm được một gã trai mới bảnh chọe."

"Làm sao?"

"Tụi tớ gặp nhau trong một bữa ăn chơi quá xá. Gã nhảy rất điệu nghệ rồi lôi tuột tớ vào nơi vắng vẻ."

Trong đầu cậu bé như vẳng lên tiếng khèn năm nào của mấy gã Hmong si tình cứ quẩn quanh bên rào dậu nhà của các cô mới lớn. Nhiều gã táo tợn thường chơi cho đến sáng suốt nhiều tháng trời. Mãi rồi cô gái cũng phải bị thuyết phục mà lẩn ra theo gã trong bóng đêm...

"Cậu em biết không, nó mới tuyệt diệu làm sao!"

"Điều gì?"

"Khi gã ấy hôn tớ. Người tớ cứ lịm đi. Tớ phải theo gã. Tớ phải sẵn sàng cho gã. Phải như thế cậu bé ạ! Như thể gã mặc sức mà chảy vào cuống họng tớ."

Cô lại uống một hớp rượu lớn. Mắt cô nồng nàn như thể gã trai của cô đang có mặt quanh đây. Cô kể say sưa từng chi tiết ngày đầu cô gặp gã trai như thế nào.

"Những hai ngày nữa tớ mới lại gặp gã." Giọng cô rên rỉ. "Lần này tụi tớ sẽ đi thuyền. Tớ sẽ yêu hắn nhiều hơn cả lần trước."

Mắt cô bắt đầu rơm rớm, môi cô chúm lại dịu dàng.

Nhạc lại chơi qua bản "Nàng Casey rượng tình."

"Cũng đã hơn một lần tớ nghĩ đến những đứa con tương lai của tớ đấy."

Nói đến đây cô trông thật quá mơ màng như thể nếu cậu bé không mau tay mà giữ lại, cô sẽ bồng bềnh rồi bay mất...

Cậu bé nghĩ đến mẹ mình, bà hay địu em cậu lên đỉnh đồi ngồi nhìn xuống thửa vườn. Mỗi ngày như thế, bà cứ ngồi im, lưng bà rất thẳng mãi đến khi trời chạng vạng và bố cậu hiện ra ở một khúc quanh trên sườn núi. Mấy con bò đi trước, mõ gỗ kêu lốc cốc...

Cô gái vẫn rên rỉ:

"Tớ đã nghĩ hết cả rồi, nhà bố mẹ tớ còn rộng chán, bọn tớ sẽ dọn về đấy. Tớ sẽ nghỉ việc ở đây. Mỗi cuối tuần, cả nhà lại hội họp nhẩy muá đến tận chiều trong cái sân rộng. Tớ sẽ khớp mỏ gã lại, chẳng để uống được nhiều thế nữa đâu."

Cô lại uống, lại nói, mắt cô xa xăm...

Một người khách mặc quần áo Jean bước vào nhà hàng. Cô gái Mễ Tây Cơ vờ tươi tỉnh quay đi. Trước khi đi cô nói với lại:

"Cậu em ơi, đừng do dự bao giờ nhé."

Tất cả hỏng hẳn chỉ vì hình ảnh bộ quần áo Jean ấy, cậu bé nghĩ.

Cậu đi ra, khi tiếng nhạc chuyển qua bài " Cây sương rồng nở hoa cho người khách đường xa." Tiếng nhạc du dương.

Tầng tám trăm bốn mươi ba có tám người đàn bà Ấn đang quây quần ngồi xuống. Rất nhiều nến được thắp lên, tất cả ánh lên màu gụ đỏ. Họ quay cuồng và hát, tiếng trầm trầm, chỉ thỉnh thoảng người mặc chiếc sơ-ri vàng lại cất cao lên trong suốt một chuỗi nguyên âm. Dường như lời hát cao ấy không biểu hiện một câu cú rõ ràng nào, tạo cảm giác hoang sơ và bay bổng. Cả tám người ngầy ngật khỏa tay trong chân không như thể có một dòng sông trước mặt.

Tầng thứ chín trăm lẻ một, im lặng như tờ. Một mùi hôi hám khó tả.

Tầng thứ một ngàn hai trăm lẻ ba, cậu bé đi vào hành lang ẩm. Bụi dầy đến độ có thể phản chiếu thứ ánh sáng xam xám nhàn nhạt. Sau khúc quanh cậu đi vào căn phòng vừa phải. Ở góc phòng treo vài quang gánh rổ rá. Cái chầy gỗ thật lớn nứt nẻ nằm một mình lênh khênh ở góc khác. Miệng chầy còn dính lại ít bột mịn và mảnh trấu. Cái nồi đất mẻ đen thui mồ hóng. Ngọn đèn lạc tù mù le lói hắt lên tường bóng cụ bà còng lưng, đầu quấn khăn. Cụ quay chậm rãi cái guồng chỉ làm bằng ba thanh tre căng ra mỗi mặt.

Cậu nhìn vào phía cử a đằng sau hướng ra hành lang vô tận hoăm hoắm rỗng tuếch và bí hiểm. Hẳn bất cứ ai nếu đi vào hành lang ấy rồi sẽ phải lãng quên nhau, lãng quên mọi điều. Ở đấy không có sự thăm viếng hỏi han, ở đấy không còn tiếng kẽo kẹt.

Cụ chỉ chiếc ghế đẩu:

"Ngồi đi cháu." Cụ vẫn không ngừng quay, tiếng khung gỗ kẽo kẹt. Cụ quan sát cậu bé, dường như cụ đang cười.

"Cụ ơi, cụ ở đây một mình à?"

"Ư.Ø"

"Thế cụ có hay đi ra ngoài không?"

"Thi thoảng thôi, nhưng già cũng chỉ ra đến chợ làng mua vài thứ rau rác là hết."

"Thế cụ có buồn không?"

Cụ cười khành khạch:

"Ngày giỗ ngày tết, người làng nước đến thăm đông lắm."

"Cụ quay sợi?"

"Đang không bận ngày mùa cháu ạ. Chứ như ngày bận thì phải ra đồng cả ngày." Cụ bà vẫn quay liền tay nhưng không nhanh không vội.

Chẳng hiểu sao cậu bé bỗng cảm thấy nao nao.

"Cháu có đói không? Còn một nồi bống kho dở đấy."

Mãi đến lúc này cậu bé mới ngửi thấy mùi tiêu và nước mắm cạn thơm phức.
Imagine
14-02-06, 19:43
Sợi chỉ bỗng đứt phựt. Chẳng cần nhìn cụ bà chắp lại hai đầu theo hình chữ vê, quấn một vòng lẻ rồi siết chặt. Ngón tay cụ thô và to. Có lẽ nếu cố nhìn cụ cũng chẳng thấy. Mắt cụ có vẻ kèm nhèm.

Rồi cụ lại hỏi:

"Cháu đi hội à?"

"Thưa không."

"Ngày trước già còn khỏe, chèo thuyền đưa khách đi trẩy hội chùa mãi. Mỗi năm cứ đến độ tháng ba, khách thập phương về khói nhang ngun ngút khắp cả một vùng."

"Thích quá"

"Ừ" "Nếu cháu có định đến tận đền Thượng, nhớ thắp thay cho già một nén hương. Cao quá bao năm nay già không đến được, chỉ thắp nhang khấn vọng thôi."

"Cháu có chiếc áo đẹp quá!" Cụ bà lại hỏi.

"Mẹ cháu thêu."

"Ra thế đấy."

"Từ nay cháu sẽ mặc nó luôn luôn."

"Quý hóa quá!"

Nói xong, cụ bà đưa tay vuốt lại váy. Váy cụ dài đến tận mắt cá chân bằng vải gai, trông tơi lắm rồi. Chiếc áo cánh cũng tơi nhưng yếm thì vẫn trắng tinh bằng vải lanh. Những ngườiø biết giữ gìn tấm yếm thường tôn trọng đức hạnh.

"Quê cháu mãi đâu?" Cụ bà lại hỏi.

"Xa lắm!"

"Rõ khổ thân! Chả phải đi xa thế cho nó nhọc cháu ạ." Cụ bà ra chiều nghĩ ngợi rồi lại bảo thêm:

"Quê hương làng bản là cái quí nhất ở đời đấy cháu ạ. Đấy cháu cứ ngẫm mà xem lời già nói, biết bao anh cứ bôn ba tất tả đến cuối đời mới vỡ rằng mình chỉ chạy quanh. Nhọc xác!"

Chiếc guồng quay mãi đều đặn theo nhịp tay cụ bà. Thế mà mãi nó cũng không đầy lên. Sợi chỉ chạy đến tay cụ từ một đường dài căng thẳng vắt mãi ra ngoài cửa sổ, nó xổ tuột vào một khoảng xanh xanh bên ngoài. Cậu bé đi lại cửa sổ nhìn xuống phố xá như một biển của những hạt vàng. Ở đây cao quá không còn nghe được âm thanh của phố. Chỉ có tiếng gió lật phật réo gọi từ phía trước mặt

Cậu dọ dẫm trèo lên thành cửa bám vào sợi chỉ rồi bước ra. Gió vẫn thổi rất nhẹ dù ở bên ngoài. Cậu thấy lòng thanh thản nhẹ nhàng. Từng bước từng bước cậu bé bước ra. Chập chùng bên kia là những quả đồi, rồi núi, rồi thung lũng, nơi có những đứa trẻ cưỡi trên lưng trâu lội bì bõm qua sông, nơi có người mẹ địu con cất tiếng chói lói vang vọng trong rừng.

Mãi từ dưới sâu trong lòng của phố xá nhìn lên không thể thấy rõ hình hài cậu bé, chỉ thấy mỗi ánh xanh rất nhẹ rất mờ lơ lửng ở trên cao.

*

Độ tháng mười khi ngày bắt đầu ngắn, những con ngỗng trời kêu lên từng tiếng khô sải cánh về phương Nam. Trời lạnh dần. Ngày thứ bẩy không nhóm phiên chợ nông dân. Một quãng phố ấy vắng tanh. Chẳng có dấu vết gì của những hàng sạp. Đường phố vắng lặng, xe đậu dọc hai bên lề. Nghe nói những người nông dân sống ở các vùng phụ cận khá xa. Họ chỉ chở rau cỏ bằng xe tải vào thành phố bán vào mùa hè mà thôi. Nhưng thật ra cũng chẳng có mấy người thắc mắc về điều đó.

Nơi những người nông dân ở hẳn phải có những quả đồi nguyên thủy màu trắng. Và cây phong rung lên một mình đỏ rực trên đồi. Mùa đông họ chẳng bán chúng đâu.

Nguồn: Hợp Lưu #74.
Imagine
28-02-06, 02:38
Sáng tác mới nhất của Nguyễn Danh Bằng trên talawas chủ nhật 26-2-2006.

Cuộc vượt thoát qua hành lang hẹp


Lần ấy khi đã mỏi mệt lắm thì người ta lại dẫn tôi lên một chiếc cầu thang lớn. Những thanh chống ngoằn nghệu lêu nghêu trơ ra phần gỗ mộc, thỉnh thoảng được rọi sáng bằng ánh nắng lọt thủng từ đâu đó. Trong khi người thân vẫn bàn tán, thu dọn, tôi lại rùng mình vì cảm giác cô đơn. Rồi họ lần lượt biến đi thản nhiên như đã được sắp xếp, như thể tôi đã bị bỏ quên.

Cấu trúc ngôi nhà thật kỳ quặc. Dãy hành lang hun hút khúc khuỷu, lên lên xuống xuống. Chiếc cầu thang dẫn lên những tầng trên, ngóc ngách vào nhiều căn phòng bỏ trống. Có căn rộng và dẹt. Có căn mặt sàn chỉ đúng một thước vuông, cao nghệu, khi bước vào trong ấy có cảm giác vọt lên cao. Tôi cứ băn khoăn, ngày trước ai đã ngụ trong những căn phòng này, và vì sao nó đã bị rời bỏ từ lâu. Đồ đạc vẫn còn nguyên. Đến cả nhiều cái mùng vẫn giăng lên trong ấy chưa được tháo xuống. Có căn rõ vẻ mục nát ọp ẹp. Chúng hiện ra lắm lúc bất ngờ chỉ ngay sau khúc quanh của dẫy hành lang tưởng như đã cụt. Sục đầu vào từng phòng không hiểu sao cùng một lúc tôi cảm thấy vừa thú vị vừa buồn rầu.

Rồi tôi chọn cho mình căn phòng có nước sơn màu đỏ thẫm, nếu nhìn thật kỹ trên vách đã có nhiều vết rạn. Trần thấp vạt nghiêng về phía cuối phòng. Tôi biết đây đã là phần đỉnh của ngôi nhà. Bàn ghế trong căn phòng bằng gỗ chạm trổ, bọc vải sa tanh. Trên tường treo bức tranh đồng quê, người ta đang đánh cỗ xe bò lớn kéo rơm về nhà, một cái lều tranh đang tất bật nấu nướng, gà qué lợn bò, bên bờ lạch vài người đàn ông đang vác cần câu về nhà. Khung tranh thếp vàng nay đã ngả màu, ánh lên không đều. Thoạt đầu tôi thậm chí đã bật cười vì vẻ màu mè chút đỉnh của căn phòng, nhưng cùng lúc cũng cảm thấy vui vui. Tôi có cảm giác tự lừa gạt mình với tí xíu ảo tưởng, tóm được mình, tự xử sự như một gã ngu nhất hạng lọt tròng, nhưng vẫn hí hửng. Quả thật đấy là căn phòng đáng kể nhất trong các căn phòng!

Tất cả bụi bặm. Bụi khủng khiếp! Tôi phải lau chùi mỗi ngày. Dù vậy cái nhìn tinh tươm cũng chỉ được vài tiếng, cuối ngày mọi thứ trong phòng lại phủ một lớp bụi mờ nhàn nhạt. Đêm đêm tôi nghe tiếng gỗ khô nứt, tiếng vôi vụn tróc ra.

Dọn vào một thời gian tôi đánh bạn với một cô gái tính tình hồn nhiên vui vẻ. Cô đến từ vùng nước ngập. Cô hay kể về những mùa nước nổi, người ta chèo thuyền từ nhà này đến nhà kia như thể thăm viếng nhau từ những hòn đảo cách biệt! Và những rừng tràm rậm rịt mà người ta có thể rời thuyền và đi lại trên các tàn cây thoải mái như thể trên đất bằng. Cô bảo chẳng có gì ổn định khi mùa nước nổi, người ta bỏ đi, dẫn theo những đàn gia súc. Cả rừng tràm với đàn chim cò nhốn nháo cũng trôi nổi vô định trong con nước dữ.

Ngoài ra cả hai còn chơi với một gã lờ khờ thích trò đu trèo. Gã đã từng được huấn luyện ở một đoàn xiếc nhưng bị bỏ rơi sau vài lần kỉ luật. Bây giờ chẳng biết làm gì, gã trút tất cả đam mê ấy vào việc leo trèo vắt vẻo trên các đà cột mỗi đêm. Trong bóng tối gã thành thạo tung mình như con dơi bị mắc kẹt trong căn nhà kho. Những lúc huyên thuyên quá trớn gã hay thề thốt nói có thấy một người nào đấy lén nuôi con ngựa trong căn phòng nào đấy. Điều lạ là con ngựa tuyền màu đỏ! Mỗi lần gã nói đến con ngựa, cô gái lại xì một tiếng dài.

Cả ba hay ngồi bên thành tay vịn, xếp và phóng những chiếc máy bay giấy nhỏ xíu, cười ré lên mỗi khi chúng không bay được, rơi cắm đầu xuống những tầng dưới. Hoặc cãi vã với những chuyện không đâu.

Thời gian yên bình cũng không được lâu, hình như chẳng bao giờ yên bình cả! Luôn có những âm mưu lén lút… Người ta hay dừng lại ở hành lang nhìn trước nhìn sau rồi thầm thì nói nhỏ. Đấy là những người bình thường. Còn có một vài người khác, kín đáo hơn, vội vàng hơn, họ đi như những cái bóng nguy hiểm khổng lồ, lấp loáng trên nền, mà chẳng ai có thể nhìn rõ hoặc chộp bắt. Nghe nói họ là những người lận súng, nên trông thật đáng sợ! Một thời gian dài chẳng thấy những người ấy đâu, rồi gần đây họ xuất hiện thường xuyên.

Ban đêm có nhiều tiếng di chuyển khẽ khàng, thoạt đầu chỉ mơ hồ. Mơ hồ đến nỗi tôi chỉ có thể nghĩ đó là những ấn tượng rơi rớt lại từ những giấc mơ muộn. Nhưng tiếng di chuyển ngày càng rõ ràng hơn. Hình như có nhiều người rầm rì thúc giục nhau, lôi kéo một vật thể khổng lồ, nhưng rất khẽ. Có khi tôi ngồi dậy áp tai qua cánh cửa, nghe rõ ràng tiếng sờ soạng từ bên ngoài. Nhưng ngay lúc ấy tất cả cùng im bặt lắng nghe nhau, chỉ có thể đoán được đang có những hơi thở nén lại hết cỡ, rồi rút dần, xa dần về phía cuối hành lang, nơi bị bỏ xó mặc cho bọn chim câu hoành hành.

Những đêm tiếp theo quả thật thê thảm. Những kẻ lận súng bắt đầu lùng sục, họ bất ngờ phá tung cửa và hành sự dã man. Người chết bị lôi bỏ giữa sảnh với mảnh giấy kể tội bằng nét chữ cẩu thả đầy lỗi chính tả nhét vào miệng. Người ta bước qua xác chết câm nín giả tảng bình thường như thể những xác chết ấy vô hình. Nhưng đêm đêm từng tiếng nấc không kìm giữ được thỉnh thoảng lại vỡ ra trong sự im lặng vô vọng nghe đau khổ nhưng khô gọn.

Ngay từ những ngày đầu của cuộc biến động cô gái đột nhiên biến mất. Chẳng ai biết cô đã đi đâu, điều gì đã xảy ra. Tôi thích tưởng tượng cô đang trốn trong một ngách tủ, nơi có rất nhiều bánh kẹo. Cô đang ăn ngỏn ngẻn, thích thú với ý nghĩ rằng không ai biết điều đấy. Cô liếm những ngón tay đầy đường…

Phải ở trong phòng mãi cũng đâm buồn. Sau một đêm thật yên tĩnh, đến độ có thể tin rằng chưa từng có những bạo động, buổi sáng hôm sau tôi mở cửa đi ra. Bạn tôi, gã đu trèo, đã ngồi sẵn trên tay vịn hành lang thản nhiên như không. Có lẽ còn sớm lắm, chung quanh vắng lặng. Tôi chực mở miệng chào, gã ra dấu im lặng. Gã đu trèo nhìn tôi vẫn như vẻ nghĩ ngợi quan sát. Gã vẫn thường nghĩ tôi là người thụ động, gã không thích những người chỉ thích ngồi một mình trong bóng tối. Gã thích đi trên các cây đà dài, và có lẽ hiển nhiên như xưa nay, mọi người sẽ luôn để yên cho gã làm thứ trò vô tích sự.

Sau điếu thuốc mào đầu, gã bắt đầu nhảy phóc lên chiếc đà dài, rồi tung mình điệu nghệ trên các thanh ngang, không một tiếng động. Tay gã chạm vào phần gỗ cứng nghe như tiếng cao su mềm.

Đúng lúc ấy lại có tiếng rượt đuổi ở tầng dưới. Đáng ra chẳng ai biết đấy vào đâu, nhưng cái bóng loang loáng trong ánh sáng rạng rỡ đầu ngày đã tố cáo sự hiện diện chính gã. Người ta ngừng rượt đuổi và bàn tán. Tiếng họ sầm sì từ dưới sâu vọng lên. Dưới ấy tối quá gã chẳng thấy gì. Cứ như thể có một thứ địa ngục khó hiểu tối tăm! Tiếng người ta quát lên:

“Bước xuống đi.”

Gã không chịu được sự thô tục. Gã hỏi vọng xuống:

“Ai đấy?” Rồi gã thản nhiên tiếp tục chơi trò thăng bằng.

“Bước ngay xuống.” Tiếng từ dưới sâu vẫn vọng lên, nhưng lần này giọng hơi khác.

“Nhưng ai đấy? Cứ bước ra xem nào.” Gã vẫn hỏi vặn.

Im lặng một hồi lâu. Gã vẫn tiếp tục đi, hai tay giang ra tóm lấy khoảng gì ấy không rõ ở hai bên. Chỉ có thể tập trung được về phía trước mặt nơi gã sẽ đi tới và nghỉ ở khoảng ráp nối, nơi có những chạc ngang. Một con chim câu bất thần bay ra đập cánh hoảng loạn. Ở dưới kia nhiều tiếng cáu bẳn lại vọng lên.

“Đ.M. thằng này chắc chết quá!”

“Mày làm tao bất ổn quá.”

“Bước ngay xuống.”

Một tiếng súng nổ đánh đoàng. Lần này không chỉ một, cả đám chim câu bay loạn xạ. Gã chẳng cần đập cánh, gã rơi ra, rơi qua những cây đà thẳng xuyên về phía trước. Gã chỉ có thể kịp nhận thấy sau cùng hết là sự nhẹ nhàng, tan loãng từ từ, không mất hẳn, vừa nhanh chóng vừa chậm rãi.

Tôi đứng đấy, ngay bên phần khuất của chấn song, mục kích tất cả. Sau những đêm kinh hoàng, những điều vừa xảy ra không làm tôi dao động. Tôi chỉ thấy gã bạn vẫn không ngừng rơi, cái cảm giác thắt ruột vì thế trở nên liên tục.

Khi tình hình ổn định trở lại với sự làm chủ hoàn toàn của những người lận súng, họ bắt đầu chuyển đi rất nhiều người. Thoạt đầu là những người biết chữ, nhiều người trong số họ được áp tải bí mật. Rồi sau đó là cả những người yếu đuối sợ hãi vội tin vào những vùng đất hứa hẹn màu mỡ xa xôi, tất cả được đưa lên những chiếc xe tải lớn có thành gỗ chăng kín cờ và biểu ngữ. Họ dắt díu nhau, xách theo của cải ít ỏi trong những bịch gói bao bì lớn nhỏ. Trong tiếng reo hò cổ động ầm ĩ, họ cười méo xệch. Người ta khóc vội vàng. Nhưng tất cả những cảnh tượng ấy được tiếp tục ghi nhận như những chiến thắng không ngừng.

Nhiều căn phòng bị bỏ hoang, cỏ mọc cả trên nền xi măng nứt nẻ. Lương thực trở nên thiếu thốn trầm trọng. Người ta rào chắn lấn cả ra hành lang tranh thủ nuôi gà qué, thậm chí cả heo. Ở ngay bên những cái cửa sổ bé tí, chuối được tranh thủ trồng, trổ ra um tùm. Bọn trẻ con suốt ngày chạy đùa ầm ĩ trong mùi xú uế.

Một ngày kia cô gái lại trở về vẫn với vẻ hồn nhiên xưa kia. Chỉ có lối ăn mặc là khác đi. Cô thắt tóc thành hai bím ngắn để vắt lên trước ngực trên chiếc áo đen sợi vải thô, trông vừa ngây thơ vừa tức cười. Miệng cô lúc nào cũng hát vang những bài ca mới, lạc quan. Mỗi bận cô gái sang thăm, cô hay mang cho tôi những thỏi đường nâu gói trong giấy báo. Chúng tôi uống trà và nói đủ thứ chuyện. Nhưng cả hai chẳng bao giờ nhắc đến gã bạn thích làm trò thăng bằng năm xưa. Một lần tôi hỏi:

“Em đã từng đi đến những nơi đâu?”

Cô chỉ cười. Cô nói đã có lần cô có dịp ghé qua quê cũ của cha tôi. Ở đấy có một cái chùa cổ. Vùng này cách biệt nên vẫn còn vẻ quê mùa. Nhiều người đàn ông vẫn nhuộm răng đen. Tôi lại hỏi:

“Em nói cho anh nghe đi, em đã từng làm gì?”

Rồi cô lại kể chuyện lan man qua những cánh rừng sác, lá khô dầy đến độ người ta có thể vô ý giẫm lên những con trăn khổng lồ bên dưới mà không hề biết. Mùa khô trong những khu rừng này thật chết người, không một giọt nước, nắng đổ lửa. Tôi vẫn hỏi:

“Có ai là nạn nhân của em không?”

Cô im bặt. Rồi cả hai lại nhìn ra phía cửa sổ nơi có những ngọn gió giận dữ quăng quật.

Tôi bất thần đứng dậy bước lại, tóm lấy bím tóc của cô ghì xuống đất. Những lằn gân xanh bên thái dương căng phồng. Sau cùng thì nó cũng chỉ là một hộp sọ với những mớ lùng nhùng. Tôi rút súng nhét vào cái miệng cô đang há hốc, nã đạn. Máu cô chảy ra từ phía bên kia của cái đầu loang ra thành vũng. Mắt cô mở lớn khi chân và tay vẫn co giật từng chập…

Thật ra thì tôi đã không làm thế, tôi làm gì có súng, vẫn ngồi im nhìn cô và tiếp tục hỏi những câu bâng quơ.

“Bây giờ ở sân chùa ấy, còn lại bao cây thông?”

“Độ gần chục cây thôi.”

“Sao thế nhỉ?”

“Chẳng sao cả, trâu bò giẫm chết.”

“Thế làm sao ngày xưa thông lại sống?”

“Ngày xưa làng có lệ và sư thầy chăm nom”

“À.”

“Người ta vẫn lên chùa nhặt lá thông về tết chổi. Nhưng ít dần.”

“À!”

Trong đầu tôi vẫn tiếp tục diễn ra những cảnh bạo loạn. Tôi thấy mình dẫn đầu một nhóm người di chuyển thật nhanh qua từng dẫy hành lang ngôi chung cư. Tôi vẩy súng bắn chết những kẻ đang lẩn chạy. Thân thể chúng đổ sập ngay trên lối đi, vắt vẻo nơi cầu thang…

Khi cô gái ra về, tôi lần đầu cảm thấy khó chịu khi phải ngồi một mình trong phòng trống. Thường khi như thế tôi thấy sự yên tịnh, sự dừng lại. Một cái gì đó cực đại trong suốt. Những đồ vật ít ỏi nhưng cụ thể, rõ ràng đang phô bày bản chất vô cơ và vô tâm của đời sống. Nhưng bây giờ thì tôi không cảm thấy thế. Tôi bước ra quan sát những căn hộ cũ đang được sửa lại, coi cảnh người lớn phân phát mấy viên kẹo cho bọn trẻ con, cảnh mọi người quát nạt nhau khi đang cùng ăn uống…

Tôi tìm đến căn phòng cũ của gã bạn năm nào. Căn phòng khóa trái, bên trong trống không. Cái tivi cũ rào rạo những âm thanh hỗn tạp, hình ảnh mất sóng lấm chấm tỉ tỉ hạt va đập, thoáng nhận ra như có hình người ta, hình xe cộ, và những gì gì nữa không rõ.
Tôi bước xuống từng tầng, chẳng ai buồn để ý. Bọn trẻ con chạy đùa ầm ĩ trên các hành lang. Người lớn cãi vã, xào nấu. Họ hắt nước ra ngoài, cả ngôi nhà ướt sũng, chảy rỉ rả khắp nơi. Cánh cổng lâu nay đóng kín, nay mở ngỏ, tay nắm gẫy đâu mất. Vừa bước qua khỏi cánh cổng tôi bắt đầu chạy thục mạng về phía trước. Trời quang! Mùi muối mằn mặn loảng thoảng.

© 2006 talawas
Imagine
28-02-06, 02:40
Nguyễn Danh Bằng trả lời phỏng vấn Trần Tiễn Cao Đăng:

http://vietnamnet.vn/vanhoa/tintuc/2005/11/512971/