Tiểu thuyết Chinatown của Thuận.

Imagine
08-02-06, 21:36
Thuận và PHỐ TẦU: Dùng nghịch lý để kể những nghịch lý

Tiểu thuyết Chinatown - Phố Tầu trình hiện một đoạn hồi kí của một phụ nữ Việt sống tại Pháp, một chuyện tình dang dở len lỏi trong dòng thế sự. Hà Nội của thời bao cấp và mở cửa, Liên Xô trước thềm Perestroika, Paris với khu phố Tàu, cuộc chiến Irac... Đó là cái ưu thế không thể tranh cãi của dòng hồi tưởng. Và tất cả chảy đi trong một nhịp điệu hết sức độc đáo, vừa xót xa vừa hài hước.
Về một đặc điểm văn phong của tác giả này, có thể nhắc lại lời nhận xét của Natalie Levisalles đăng trên tờ Libération ngày 3/3/2005 nhân một truyện ngắn của Thuận được in chung trong tập Tầng trệt thiên đường (nxb Philippe Picquier): "...'What do you like for your breakfast?' của Thuận là một tuyệt tác bé nhỏ của khôi hài và nuối tiếc..."
Nhân dịp về Việt Nam khi cuốn tiểu thuyết này của chị được Nxb Đà Nẵng ấn hành, tác giả đã dành cho báo Người Hà Nội cuộc phỏng vấn đầu tiên.
Nguyễn Chí Hoan thực hiện.

----------

N.C.H: Người ta thường tìm kiếm trong đời sống riêng tư của các nhà văn những chỉ dẫn hay thậm chí cả một đề cương về tác phẩm của họ. Theo chị, việc đó có đúng không? Công chúng tìm thấy những gì bổ ích và thú vị trong đời tư của các nhà văn và nghệ sĩ? Chị sẽ nói về mình như thế nào trong một buổi giao lưu với bạn đọc của Chinatown?


Thuận: Để hiểu một tác phẩm, cách duy nhất là đọc nó. Đời tư của tác giả có thể bổ ích nhưng không bao giờ thay thế được tác phẩm. Mối quan hệ hiện thực/văn học ít khi có chung một logic với các mối quan hệ mà người ta vẫn gặp trong đời sống. Một nhà văn xuất thân là bác sĩ không nhất thiết phải có giọng văn sặc mùi thuốc khử trùng, cũng như trong số các cây bút hay rao giảng đạo đức chỉ vài phần trăm đã tốt nghiệp sư phạm. Một nhà văn chưa từng đạp xe khỏi năm cửa ô Hà Nội hoàn toàn có thể vừa huýt sáo vừa viết thiên chuyện tình éo le dưới chân tháp ép Phen. Tương tự, cuộc thi bảo vệ các giá trị văn học truyền thống mà được tổ chức, các tác giả đang sống bên ngoài nước Việt vẫn có khả năng đoạt giải nhất, giải nhì. Trong Chinatown, nhân vật chính-người phụ nữ xưng tôi- đang viết I’m yellow, một tiểu thuyết như chị gọi, một tác phẩm độc lập mà độc giả có thể đọc và hiểu không cần sự hướng dẫn đến từ Chinatown-câu chuyện về cuộc đời chị. Ngược lại, I’m yellow là một điểm không thể thiếu được trên chân dung nhân vật này. Hơn cả thế, chính nó đã rọi ánh sáng vào những phần vẫn bị che khuất.

Người đọc thông thường hay đi tìm những chỗ dựa dễ dãi để củng cố cho kiến thức văn học của họ. Chỗ dựa gần nhất, đáng tin nhất, chính là những chuyện đời tư của tác giả, để tin vào tác phẩm. Cách đọc này đưa họ đi xa khỏi văn học.

Nhưng tôi tin rằng có thể đọc được tính cách của tác giả thông qua tác phẩm. Cái cần thiết nhất là nhà văn đã cư xử như thế nào với hiện thực.

Tôi không thể kể trước những gì tôi sẽ nói với độc giả khi có dịp tiếp xúc với họ. Tôi thích những điều bất ngờ.


N.C.H: Trong tiểu thuyết Chinatown, nhân vật Tôi của chị có nói rằng: Mười hai năm sau tôi lờ mờ hiểu người ta không phải bỗng dưng mà có thể viết được. Sau đó, nhân vật ấy đã viết tiểu thuyết đầu tay của cô ta. Cũng nhân vật trên sau đó đã nói: Với tôi, viết không phải để nhớ lại. Cũng không phải để quên đi. Chỉ đến tiểu thuyết cuối cùng tôi mới biết viết để làm gì. Tất nhiên, Chinatown không phải là cuốn sách cuối cùng mà tất nhiên chị cũng không là cái nhân vật ấy theo đúng nghĩa. Nhưng sẽ rất thú vị nếu chị cho hay chị đã đến với tiểu thuyết như thế nào? Vì sao bỗng dưng chị đã viết và chị đã trải nghiệm cái suy nghĩ viết để làm gì như thế nào?


Thuận: Đối với nhiều người, viết là để giãi bày. Hai mươi sáu tuổi, sau mười năm xa nhà, tôi mới bắt đầu viết. Nhưng không vì mục đích tâm sự chuyện đời. ý nghĩ đầu tiên là viết một cái gì đấy, chỉ để phục vụ nhu cầu tưởng tượng, nhu cầu đi xa khỏi bản thân tôi, khỏi chuyện của tôi. Sau đó là tìm những lối viết khác. Đến đây nhu cầu viết chuyển thành nhiệm vụ viết, và hơn nữa, trách nhiệm viết. Nói giản dị hơn, người viết chỉ trở nên chuyên nghiệp khi anh bầy tỏ, bênh vực và chứng minh cho thái độ của anh với hiện thực.

Chinatown là tiểu thuyết thứ hai. Trước đấy tôi đã viết một số truyện ngắn và Made in Vietnam. Viết đối với tôi là một việc khó. Viết dài lại càng khó. Tiểu thuyết, chỉ tính đến số trang, đã là một thử thách. Chưa kể đến cấu trúc, văn phong, nhịp điệu, nhân vật... Truyện ngắn giống như một cuộc dạo chơi. Tôi có thể cho phép mình dừng lại những khi cạn ý, những khi đã mệt. Tiểu thuyết là một cuộc phiêu lưu nguy hiểm. Nguy hiểm nhất là không biết đi về đâu.


N.C.H:Trong cuốn tiểu thuyết này của chị, các Chinatown giống như một thứ quê hương mạnh mẽ và sống động và có mặt khắp nơi trên thế giới. Chị có lạc quan về điều đó không?


Thuận: Trên thực tế, Chinatown ở Paris rất nhỏ, nằm trong một góc của quận Mười Ba. Người ta nói thế kỉ 21 là thế kỉ Trung Hoa. Có thể trong tương lai, người dân Pháp sẽ được chứng kiến những Chinatown phát triển hơn nữa. Tôi không quan tâm đến điều đó lắm. Tôi chưa bao giờ coi mình là người Trung Hoa. Và tôi cũng kể về họ với cách hài hước của tôi.


N.C.H: Tất cả những câu chuyện, những nhân vật trong tiểu thuyết này đều được kể một cách châm biếm. Đó là logic của cái hiện thực, chính cái hiện thực đó? là logic của mối quan hệ giữa hiện thực và văn học, như chị đã nói, trong khuôn khổ cuốn sách này?


Thuận: Mỗi nhà văn có những cách riêng để đưa hiện thực vào văn học. Nguyên tắc của tôi là tránh càng xa càng tốt sự hoài cổ và lãng mạn. Câu chuyện của Chinatown có nhiều lý do để phải được kể một cách hài hước, thậm chí châm biếm, như anh nhận xét. Đã hồi ức lại còn hồi ức chuyện tình, lại còn chuyện tình dang dở, kết thúc bất hạnh. Nếu tôi không vừa cười vừa viết có lẽ độc giả sẽ phải vài phút rút khăn mùi xoa một lần, khóc thương cho đã mà không cần hỏi tại sao lại phải khóc, hoặc có nên khóc hay không. Tôi cho rằng dùng nghịch lý để kể những nghịch lý có thể gây nên nhiều băn khoăn cho người đọc. Họ phải ngừng lại nhiều hơn vì nghịch lý chứ không phải chỉ thuần tuý vì câu chuyện được kể. Những băn khoăn này có thể đã là những tiếp xúc đầu tiên của họ với văn học.
Imagine
08-02-06, 21:38
N.C.H: Nhân vật Tôi kể lại quãng đời của cô ta với những người và việc đương thời, việc viết văn, đồng thời trò chuyện với nhân vật của cô ta và tất cả đều là những bi hài kịch trong một không gian tôpô - có thể cùng một lúc vừa là mặt này vừa ở mặt kia. Phải chăng đó là thái độ của nhà văn, như chị nói, đối với cái hiện thực đó?


Thuận: Thái độ của nhà văn đối với hiện thực trong nghĩa lớn nhất là câu hỏi: sao chép hiện thực hay sử dụng hiện thực, trung thực hay bóp méo, đồng ý hay phê phán? Tôi tôn trọng hiện thực cùng sự thật. Nhưng dứt khoát người làm nghệ thuật không thể là nô lệ của hiện thực. Tôi muốn văn học là cái không thực nhưng lại thật hơn cả sự thực.

Tôi luôn tìm cách cải thiện mối quan hệ tác giả/tác phẩm. Trong khi viết tôi chỉ muốn được sống thật gần các nhân vật của mình. Tôi e ngại các cụm từ xây dựng nhân vật, phát triển nhân vật. Theo tôi, nhân vật không phải là con rối do tác giả giật dây trên sân khấu, hay con chó cảnh để tác giả buộc xích vào cổ rồi dẫn đi dạo vườn hoa. Trong Chinatown, tôi đã để cho chị phụ nữ xưng tôi - một nhà văn - tiếp xúc với nhân vật của mình một cách tự nhiên, như một người bạn đồng hành lý tưởng.


N.C.H: Trong Chinatown có bóng dáng một số diễn biến của lịch sử nước nhà vừa qua. Theo chị thì một ký ức cá nhân có thể mang tính đại diện đến cấp độ nào, như thế nào?


Thuận: Vấn đề không phải là một cá nhân thì kể chuyện lịch sử trung thực hơn hoặc kém chính xác hơn nhiều cá nhân. Có những cá nhân sẽ chẳng bao giờ đại diện nổi một cái gì. Có những cá nhân sẽ chỉ nhìn nhận lịch sử thông qua những lợi ích hoặc thua thiệt của cá nhân họ, của đẳng cấp của họ. Nếu hai nhân vật bố và mẹ trong Chinatown cũng viết hồi ký, họ sẽ cho ra đời một cuốn sử thi khác tươi mát hơn.


N.C.H: Cuốn tiểu thuyết này của chị có một nhịp điệu lạ lùng bởi sự lắp ghép và tự sản sinh không ngừng của các môtíp lặp lại. Chúng chứa đầy những hàm ngụ hài hước.


Thuận: Nhiều nhà văn tha thiết chia sẻ với độc giả lời hay, ý đẹp.Trong Chinatown, tôi cố gắng chọn từ rõ ràng, ý ngắn gọn, không ẩn dụ, không xuống hàng, ít tính từ và mỹ từ. Ở đây tôi sử dụng rất thường xuyên những câu ngắn, được gối lên trên một câu ngắn khác, rồi một câu ngắn tiếp theo, rồi nhường chỗ cho những tập hợp từ vựng trúc trắc hơn, rồi lại tiếp tục lặp lại. Như những con sóng nhỏ cứ chốc chốc lại đến cùng nhau rồi biến mất vào đất cát và sỏi đá. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết được viết như vậy.

Tôi muốn cho cuốn sách này chỉ một loại nhịp điệu, bị cắt thành ba phần bởi hai quãng nghỉ. Tôi gọi chúng là ba phần đồng điệu. Hai quãng nghỉ cùng mang một cái tên I`m yellow, vừa thử thách vừa giúp đỡ tính kiên nhẫn của độc giả.

Nhịp điệu của Chinatown phần lớn được xây dựng bởi những phép lặp lại, trong từng nhân vật, giữa các nhân vật. Đó có thể là một cụm từ, một câu, thậm chí một đoạn văn. Đó cũng có thể là một động tác, một lời nói, một cái tên riêng. Tôi không muốn cuốn sách trở thành hồi ký, mà chủ trương lấy từ những suy tư lộn xộn và day dứt của nhân vật chính, một cách trực tiếp nhất.


N.C.H: Cám ơn chị!

Nguồn: Tiền Vệ
Imagine
08-02-06, 21:39
Mời các bác đọc tiểu thuyết Chinatown của nhà văn Thuận ở đây:

http://www.tienve.org/home/literatu...&artworkId=4214
Imagine
08-02-06, 21:40
Giới thiệu tiểu thuyết Paris 11 tháng 8 :

Tiểu thuyết thứ ba của Thuận, sau Made in Vietnam và Chinatown, được gợi hứng từ trận nóng năm 2003 mà điểm đỉnh là ngày 11 tháng 8, đã giết chết gần mười lăm ngàn người Pháp. Paris 11 tháng 8 vì vậy là niềm hổ thẹn sâu kín của một xã hội hậu-tư-bản viên mãn.
Đó còn là Paris của những số phận tha hương Việt Nam, Cu Ba, Tiệp Khắc, Li Băng,… Paris của hai nhân vật nữ, Mai Lan và Liên, cùng tuổi cùng gốc Hà nội, nhưng một kiều diễm một xấu xí, một cựu hoa hậu một cựu cán bộ công đoàn, một dạn dĩ một nhút nhát, một khéo léo một vụng về, một kiếm sống bằng tình dục một chưa nếm mùi tình yêu, một lãng mạn một không tin vào phép lạ. Nhưng tiểu thuyết của Thuận sẽ chẳng biến Mai Lan thành cô Kiều và cho Liên thành Thị Nở.
Hai mươi hai chương miên man thực giả lẫn lộn, ngồn ngộn Paris và Hà Nội, lôi cuốn chúng ta bằng một vận tốc chóng mặt, một cấu trúc hiện đại, một giọng điệu tinh tế, duyên dáng, chua xót, hài hước.
Vừa thẹn thùng vừa khiêu khích, Paris 11 tháng 8 chạm vào nỗi đau của nhân vật, của nhân loại.
Thuận hiện sống tại Paris, là một trong rất ít nhà văn nước ngoài viết về xã hội Pháp đương đại.
Đoàn Cầm Thi

-------------

Trích đoạn tiểu thuyết PARIS 11 THÁNG 8.

Trong trận nắng nóng cao độ tháng 8 năm 2003, những đòi hỏi về hơi mát đã khiến nhu cầu điện tăng cao, nhu cầu mà tổng công ty Điện Lực có rất nhiều khó khăn để đáp ứng. Có hai nguyên nhân: khoảng 15 trong số 58 lò phản ứng nguyên tử không hoạt động vì lý do bảo trì, và công suất điện của các nhà máy thủy điện giảm mạnh bởi thiếu nước quá lâu. Để đáp ứng yêu cầu trong nước và các công việc xuất khẩu, tổng công ty Điện Lực đã cho tận dụng mức tối đa các nhà máy điện chạy bằng than và gaz. Trung tuần tháng tám, một số lò phản ứng nguyên tử đã ghi nhận sự tăng vọt của nhiệt độ. Trong lúc nước cực kì hiếm, người ta đã phải đổ nước vào những cái tháp làm lạnh của các lò phản ứng này, và sau đó, lại phải xin phép được thải chỗ nước ấy ra sông, nhiệt độ của nước có khi lên tới 30 độ đã gây nên phản ứng mãnh liệt từ các hiệp hội bảo vệ môi trường. Công suất điện của Pháp dựa vào hai nguồn chính là nguyên tử (78%) và thủy điện (12%) cuối cùng cũng tỏ ra rất nhạy cảm với những thay đổi bất ngờ của thời tiết. (báo Le Monde Diplomatique, 02/2004)
Mai Lan mặc váy ngủ. Bên ngoài choàng ki-mô-nô. Tóc xõa. Líu lô. Như diễn viên điện ảnh. Hai đứa ngồi ăn sáng. Liên ăn bánh mì nướng, phết bơ và mứt dâu. Mai Lan ăn hạt ngũ cốc trộn sữa. Mai Lan bảo con My đi học từ sớm. Đang định bỏ bữa thì Liên đến. Mỗi khi sầu đời hay bỏ bữa. Mai Lan bảo bác sĩ cấm bỏ bữa. Một trong những nguyên tắc giảm cân là ăn uống điều độ. Mai Lan lại không bao giờ điều độ được. Cố đến mấy cũng không điều độ được. Ngày xưa làm người mẫu, ăn uống còn lung tung hơn, mà không bị béo. Ngày nào cũng đại tiệc, vẫn ung dung nếm từ đầu đến cuối. Yến. Bào ngư. Hải sâm. Mèo rừng. Cầy hương. Vây cá mập. Cuộc đời như một giấc mơ. Công việc đầu tiên trong ngày là mở sổ tay. Hôm nay đi nhà hàng gì, đại gia nào đãi, mấy giờ xe đến đón. Công việc cuối cùng trong ngày là tháo quà, mở phong bì. Rồi ghi vào một danh sách riêng. Thế nên bây giờ vẫn nhớ rõ ràng mọi thứ. Thỉnh thoảng mở ra đọc lại. Như người già xem album ảnh lưu niệm. Con My kêu ca Mai Lan sống bằng quá khứ. Mai Lan bảo sống bằng hiện thực thôi khó lắm. Tương lai thì mù mịt. Sang Pháp một thời gian, Mai Lan có dịp gặp lại một đại gia. Tên Vinh. Mười năm trước là giám đốc ngân hàng địa phương. Trẻ trung. Tiêu tiền như nước. Bây giờ, chức to hơn, bụng phệ, nhưng vẫn tiêu tiền như nước. Đoàn của Vinh làm một chuyến thăm quan ba nước châu Âu, đến đâu cũng có một hãng du lịch địa phương đứng ra lo liệu. Hãng du lịch Paris có hướng dẫn viên người Pháp lại thuê thêm Mai Lan làm phiên dịch. Nhận ra Mai Lan ở sân bay, câu đầu tiên Vinh bảo: về nước đi em. Rồi không đợi Mai Lan phản ứng, Vinh bảo tiếp: anh đọc báo, biết em ở bên này vất vả lắm, phải làm nhiều nghề để kiếm sống. Xong quay sang nói với cả đoàn: giới thiệu với anh em đây là ca sĩ kiêm người mẫu Mai Lan, báo Người Hà Nội mới có bài trong phụ san đặc biệt. Mọi người lục tục tiến lại bắt tay, khen trưởng đoàn giao thiệp rộng, đi đâu cũng gặp người quen. Vinh chỉ một người thâm thấp đội mũ phớt, một người cao hơn mặc quần bò, áo bu dông bảo: xin với thiệu với Mai Lan đây là anh Khiết phó đoàn, còn đây là anh Thực thư kí đoàn. Xong quay ra chỉ một chị mặc áo khoác dài bảo: chị Vị thủ quĩ đoàn. Anh Khiết không nói gì, chị Vị nhìn Mai Lan từ đầu đến chân, còn anh Thực bảo: cô Mai Lan bao tuổi mà trẻ ghê? Vinh cũng nhìn Mai Lan cười bảo: đặt chân đến Pháp là không hỏi tuổi phải không Mai Lan. Nhân lúc những người khác đi tìm toa lét, Vinh đến gần bảo Mai Lan: anh vẫn nhớ thời gian hai đứa mình đi chơi với nhau. Mai Lan chớp mắt: anh tặng em dây chuyền ngọc trai Nhật Bản, em giữ đến tận bây giờ. Vinh bảo, giọng xúc động: em về nước đi, anh sẽ giúp em một công việc thu nhập cao, đất nước mình thay đổi nhiều lắm. Mai Lan không nói gì. Hướng dẫn viên du lịch hỏi: người quen cũ à. Mai Lan bảo: anh họ con ông bác, mười năm mới gặp lại. Hướng dẫn viên lại bảo: sướng nhỉ, anh họ trưởng đoàn, trong chương trình ghi là tổng giám đốc. Mai Lan bảo: thế à. Mai Lan cũng không ngờ Vinh lên tận tổng giám đốc. Cả đoàn cất hành lý vào cốp, rồi lên xe. Vinh bảo: anh em có tiền nong, giấy tờ phải cầm hết theo người, quan trọng nhất là hộ chiếu. Anh Thực bảo: hay là đưa hết cho cô Vị giữ. Chị Vị dãy nảy: em say xe lắm, khéo tí nữa lại nôn thốc nôn tháo. Anh Thực bảo: ngồi cạnh anh, anh ôm là hết say. Chị Vị bảo: cái ông này lếu láo quá. Hướng dẫn viên ngồi ghế trên cùng, cạnh lái xe. Mai Lan ngồi ngay hàng đằng sau. Bên phải là Vinh. Chín người còn lại ngồi rải rác khắp nơi. Chị Vị ngồi cạnh cửa sổ, xoay lưng lại, cho một chân lên ghế. Anh Khiết thấp, lại đội mũ phớt, ngồi lọt thỏm một góc, chẳng nhìn thấy mặt đâu. Hướng dẫn viên bảo ngồi hết về đằng trước để nghe giới thiệu thành phố cho rõ. Mai Lan dịch lại. Không ai nói gì, cũng không thay đổi chỗ. Hướng dẫn viên hỏi: Việt Nam có thích bóng đá không để chút nữa đi qua sân vận động còn giới thiệu. Mai Lan gật đầu. Hướng dẫn viên bảo tiếp: Trung Quốc khoái lắm, đoàn nào cũng bắt dừng lại để chụp ảnh. Trung Quốc rõ các cầu thủ bóng đá Pháp hơn cả Pháp. Ai lương bao nhiêu, đang đá cho đội nào, Chelsea trả cao gấp mấy lần Paris Saint Germain. Trung Quốc còn biết cả tên vợ chưa cưới của Barthes, biết con gái Zidane thích màu gì. Vinh nắm tay Mai Lan dưới gậm ghế thì thào: em bảo hướng dẫn viên nói ít thôi cho anh em ngủ. Bọn anh đi cả ngày hôm qua, bảy tiếng nghỉ ở Kuala Lumpur, bây giờ chỉ thèm ngủ. Nói xong quay ra bảo những người khác: anh em cứ nghỉ ngơi thoải mái, cô Mai Lan là người trong nhà. Mai Lan nháy mắt với hướng dẫn viên. Hướng dẫn viên mỉm cười. Lái xe cũng mỉm cười. Cả xe im lặng. Mấy phút sau đã có tiếng ngáy. Anh Thực ngáy to nhất, thỉnh thoảng còn nấc lên nghe rất lạ. Anh Khiết thở khò khè như bị tắc một bên mũi. Chị Vị im phăng phắc, chân vẫn gác lên ghế bên cạnh. Vinh dựa đầu vào vai Mai Lan ngủ ngon lành. Tóc sặc mùi máy bay. Xe đỗ cách tháp Ep-phen năm chục mét, hướng dẫn viên đến gần đánh thức từng người rồi quay ra bảo Mai Lan: đoàn này ngoan nhỉ, anh họ lãnh đạo tốt đấy. Mọi người lục tục xuống, đi bộ một đoạn, rồi đứng dưới chân tháp, chụp mỗi người một pô riêng và một pô toàn đoàn, Mai Lan đứng giữa, hướng dẫn viên bấm hộ. Hướng dẫn viên bảo: bây giờ xếp hàng lên tầng hai xem tiếp, nhìn toàn cảnh Paris đẹp lắm. Mai Lan dịch xong bảo: trên đấy gió khủng khiếp, có lẽ phải quay lại xe lấy áo khoác.
Imagine
08-02-06, 21:41
Chị Vị bảo: các anh lên thì lên, em vào xe ngồi đợi. Mọi người chần chừ. Ai đó bảo: chắc cũng giống tháp truyền hình nhà mình chứ có quái gì. Anh Thực bảo: tẹo nữa về khách sạn, lên tầng mười lăm, cũng nhìn được toàn cảnh Paris. Vinh quay sang hỏi anh Khiết: ý thủ trưởng thế nào? Anh Khiết bảo: tôi ngại cái khoản gió máy lắm. Vinh bảo: chụp thêm toàn đoàn một cái ảnh nữa rồi đi, làm sao lấy được cả tháp là xong. Mọi người xếp hàng ngang. Mai Lan và hướng dẫn viên đứng giữa. Nhờ một người đi qua chụp hộ. Người này chưa sử dụng zoom bao giờ. Chụp mấy lần cũng chỉ lấy được hai phần ba tháp. Sau Vinh phải chạy ra chụp, rồi lại đứng vào để anh Thực chụp. Anh Thực bảo: bọn Tây thế mà lạc hậu hơn cả ta. Anh Khiết giơ tay ra hiệu cho hướng dẫn viên. Hướng dẫn viên không hiểu. Anh Khiết tuôn ra một câu tiếng Anh rất dài. Nghe như tiếng Thái. Giáo viên vẫn không hiểu. Hỏi lại bằng tiếng Anh, phát âm kiểu Pháp, what thành vat, want thành vant. Chẳng ai hiểu ai. Hướng dẫn viên quay ra hỏi ai Lan. Mai Lan bảo đoàn muốn đưa xe lại đây. Hướng dẫn viên bảo: có năm chục mét, từ sáng đã đi đâu mà mỏi chân. Nhưng vẫn bấm điện thoại. Đầu kia lái xe không đồng ý. Đường cấm đỗ xe ca du lịch. Anh Khiết lắc đầu: cung cách làm việc không linh hoạt, người ta còn cho xe vào tận chân tháp Chàm thì đã sao. Những người khác ồn ào hưởng ứng: bọn Tây có tiếng là quan liêu. Rồi thay nhau kể ra bao nhiêu ví dụ. Đại loại, bọn Tây không bao giờ dám tự quyết định, cái gì cũng phải điện hỏi Paris. Bọn Tây chỉ thích dịch công chứng, hóa đơn cũng bắt dịch công chứng. Bọn Tây đưa ra rất nhiều đề án nhưng mãi chẳng thấy thực hiện, thỉnh thoảng vẫn nhắc lại, tỏ vẻ chưa quên, câu cửa miệng là: chúng tôi đang tiếp tục nghiên cứu. Vinh vẫy Mai Lan ra một chỗ: anh Khiết chuẩn bị lên thay thứ trưởng thứ nhất. Những người khác cũng quan trọng lắm. Chị Vị chẳng hạn, chồng làm tổng thanh tra, tương đương vụ trưởng bộ lớn, đang bận họp với phó thủ tướng nên cho vợ đi thay. Công ty anh có nhiệm vụ chiêu đãi chuyến này. Càng đàng hoàng càng tốt. Em xem tình hình thế nào cho anh em đi ăn trưa. Lang thang như thế đủ rồi. Mai Lan dịch lại cho hướng dẫn viên hai câu cuối. Hướng dẫn viên bảo: không được, còn hơn tiếng nữa mới đến giờ ăn. Mai Lan bảo: thử gọi điện xem sao. Hướng dẫn viên im lặng. Mai Lan rút điện thoại di động. Hướng dẫn viên đọc số. Đầu kia không ai trả lời. Có lẽ nhà hàng còn chưa mở. Vinh bảo: chương trình cứng nhắc quá. Em tìm một cái quán gần đây cho đoàn ngồi nghỉ tạm. Mai Lan bảo: đoàn phải trả những gì ngoài chương trình. Vinh bảo: em nên biết bọn anh đã đến những nơi còn đắt hơn Paris nhiều. Cả đoàn vào một quán cà phê. Bồi bàn chạy ra chào: nỉ hảo. Mấy người trong đoàn chào lại: nỉ hảo. Hướng dẫn viên bảo: tiếng Việt tiếng Trung giống nhau ghê. Cả đoàn ngồi xuống. Quán cổ. Trần thấp. Nền gạch. Tường trắng điểm vài cột gỗ. Góc phòng có một đàn piano, véc ni đã mờ. Mọi người rủ nhau bỏ máy ảnh ra chụp, chụp xong bảo: quán này mà vác về đặt ở ngã tư Quang Trung-Lý Thường Kiệt thì xôm. Anh Thuấn bảo: bọn Tây sứ quán chắc ra đông lắm. Cứ mời một em nhạc viện Ô Chợ Dừa về chơi Piano là tha hồ câu khách. Vinh vỗ tay bảo: anh em uống mỗi người một nước ngọt nhé. Rồi vẫy bồi bàn lại, nói bằng tiếng Anh: orange juice. Bồi bàn đưa tay đếm. Hướng dẫn viên lắc đầu không uống. Mai Lan gọi một cà phê. Còn lại mười nước cam. Ai đó lên tiếng: sao tháp Ep-phen bên ngoài bé thế nhỉ. Một người khác bảo: vừa bé vừa xấu. Một người khác nữa bảo: còn xấu hơn tháp giả ở Las Vegas. Những người khác nhốn nháo: thế á. Anh Khiết bảo: sao tớ thấy ở đây cứ thâm thấp, cái tay Mỹ mới khiếp, quần thể kiến trúc nào cũng vĩ đại, chơi toàn nhà chọc trời. Hướng dẫn viên du lịch nhìn đồng hồ rồi bảo sắp đến giờ ăn trưa. Vinh rút các Visa trả tiền. Hai trăm mười lăm quan. Mai Lan lè lưỡi. Vinh phẩy tay: nhằm nhò gì. Rồi đưa hoá đơn cho anh Thuấn. Nhà hàng Trung Quốc bày ra một âu xúp tảo, một bát chân giò hầm, một đĩa thịt gà quay, một tô thịt kho tàu. Vinh lắc đầu bảo Mai Lan: em gọi thêm cho đoàn hai món rau xào, một món rau luộc, một món canh rau. Anh em chỉ háo rau. Nhìn thịt buồn nôn lắm. Mai Lan vào bếp. Đኧu bếp bảo: Việt Nam ăn rau khiếp nhỉ. Rồi lôi từ góc nhà một túi rau thái sẵn cho vào nồi. Không hiểu đã rửa chưa. Năm phút sau bê ra hai đĩa rau cải trắng xào, một đĩa rau cải trắng luộc, một bát canh rau cải trắng nấu nước chân giò. Vinh lắc đầu: rau gì mà trắng, thực đơn thế này có chết không, em bảo nhà hàng mang cho anh em một chai Bordeaux. Bồi bàn mang ra ba chai, ra dấu hỏi chai nào. Vinh giơ ngón tay cái, bảo: number one. Mọi người vui vẻ cụng ly, rồi đề nghị Mai Lan bấm cho một kiểu đang uống rượu vang ở Paris. Ngồi xuống ăn cơm. Gói ruốc to còn chưa bóc tem để giữa bàn.
Imagine
08-02-06, 21:42
Mỗi người lấy một ít cho vào bát. Chộn với canh. Vinh gắp cho Mai Lan một gắp. Mai Lan lắc đầu: thôi để dành cho anh em. Hướng dẫn viên du lịch ngồi riêng một bàn nhỏ. Bồi bàn lại gần hỏi: Nem nhé. Hướng dẫn viên bảo: ừ nêm. Có vẻ thạo lắm. Mai Lan không động đến món gì. Suốt bữa chống đũa nhìn ra cửa sổ. Vinh hỏi: em sao thế? Mai Lan bảo: em quen rồi, lúc làm việc không ăn gì cả. Vinh bảo: em khác trước nhiều quá. Cả hai nhìn nhau cười, chân Vinh dẫm lên chân Mai Lan đau điếng. Bát canh hết rất nhanh. Một người đề nghị xin nước rau cải luộc. Mai Lan dịch lại, bồi bàn chẳng hiểu gì. Mai Lan giải thích lần nữa. Bồi bàn gật đầu rồi đi thẳng vào bếp. Ngay lập tức bưng ra một bát nước có hai cọng rau cải trắng nổi lềnh bềnh. Mọi người bảo: đầu bếp Paris phục vụ nhanh thật. Rồi lại chan nước rau vào bát, ăn với ruốc. Hướng dẫn viên ăn xong hai cái nem to, quay lại chỉ vào gói ruốc, ra dấu hỏi Mai Lan. Mai Lan giải thích. Hướng dẫn viên bảo: thịt mà xấy khô thì còn bổ béo gì. Mai Lan bảo: ăn không phải để lấy chất bổ. Hướng dẫn viên nhún vai im lặng. Phong cách rất đầm. Lúc đoàn đi ra, nhà hàng tính hai trăm quan bốn món rau cộng với một trăm năm mươi quan chai rượu Bordeaux, riêng bát nước rau cải trắng là sáu mươi quan. Vinh bảo: sao tính cả tiền nước luộc rau? Nhà hàng bảo: nước luộc rau lần đầu đổ đi rồi, nhà hàng phải luộc rau lần thứ hai để lấy nước. Vinh không nói gì rút các trả tiền. Xong lại cho thêm hai đồng mười quan, rồi bắt tay bồi bàn bảo chia chiển. Hướng dẫn viên bảo bồi bàn: tổng giám đốc công ty lớn nhất Hà Nội đấy. Bồi bàn bắt tay Vinh bằng cả hai tay bảo: chia chiển. Ngồi lên xe, Vinh nói với Mai Lan: anh thấy tình hình làm việc không ổn, anh em đi lại nhiều rất mệt, ăn uống không hợp khẩu vị. Em nói với hướng dẫn viên cho đoàn về khách sạn nghỉ sớm. Ngày mai đi tiếp. Mai Lan bảo: bây giờ à. Vinh bóp tay Mai Lan bảo: ừ, bây giờ. Hướng dẫn viên bảo: về sớm cũng được nhưng không báo cáo lên công ty du lịch. Vinh gật đầu. Mai Lan nói thêm: đừng lo. Hướng dẫn viên bảo Mai Lan: nhớ nhắc trưởng đoàn cho lái xe tiền bo. Mai Lan dịch. Vinh bảo: yên tâm, em nói là đoàn cho cả hướng dẫn viên nữa. Mai Lan dịch. Hướng dẫn viên bảo: trưởng đoàn xôm nhỉ. Chắc phiên dịch viên được nhiều bo lắm. Mai Lan im lặng. Vinh hỏi: hướng dẫn viên nói gì thế? Mai Lan bảo: toàn khen anh thôi. Vinh bảo: anh chẳng thích gái Tây, không hiểu sao không hợp. Mai Lan bảo: đã thử chưa mà nói. Vinh bảo: em chẳng biết gì về đời anh. Anh từng ở Nga mười năm. Chỉ hai bút chì kẻ mắt là được một em sinh viên mƊời tám. Mai Lan không nói gì. Lúc nhận phòng khách sạn, Vinh ghé tai Mai Lan thì thào: nửa tiếng nữa lên phòng anh, tầng năm phòng mười. Mai Lan im lặng, gật đầu. Mấy người trong đoàn nhìn nhau cười cười. Anh Thực cũng ghé vào tai chị Vị. Chị Vị ré lên, đập vào lưng anh Thực bùm bụp. Mai Lan bảo Liên: thật ra tao cũng chẳng thích ngủ với nó, nhưng nó nhiệt tình, lại có vẻ phóng khoáng. Mai Lan lên phòng 510. Gõ vào cửa ba tiếng. Một thằng người từ buồng tắm chui ra mở cửa, khăn bông trắng kín mít, mặt đầy kem cạo râu. Đợi anh tí nhé. Rồi lại chạy vào buồng tắm. Mai Lan cởi áo khoác để lên thành ghế. Lắc đầu cho tóc xõa xuống lưng. Mở cửa sổ nhìn ra đường. Giờ ăn trưa, đông người đi bộ, chủ yếu nhân viên công sở, tranh thủ một tiếng giữa giờ, đi ngó đường phố. Dây áo của Mai Lan tuột xuống vai. Quần trong cũng nhẹ nhàng rơi. Một bàn tay luồn vào ngực vuốt nhè nhẹ. Một bàn tay giơ ra khép cửa sổ. Kéo ri đô. Mai Lan được mang vào giường trong bóng tối lờ mờ. Hai người làm tình mười phút. Sau đó nằm thẳng. Chăn che bụng. Vinh bảo: anh xin lỗi nhé. Hôm nay anh mệt quá. Giá ở nhà thì còn kiếm được chỗ tẩm quất, trước khi gặp em. Mai Lan im lặng. Rồi từ đấy im lặng suốt. Mai Lan bảo Liên: tao chẳng biết nói chuyện gì. Đầu óc để ở nơi khác.
Imagine
08-02-06, 21:43
Đoàn Cầm Thi
Đọc Paris 11 tháng 8 của Thuận
(Nhân một bài báo của Phạm Xuân Nguyên)

1. Không hiểu cố ý hay vô tình, Phạm Xuân Nguyên khi trích lại bài giới thiệu của tôi về tiểu thuyết Paris 11 tháng 8, đã nhấp chuột quá nhanh và cắt một câu mà tôi coi là quan trọng để đánh giá tác phẩm của Thuận: «Paris của hai nhân vật nữ, Mai Lan và Liên, cùng tuổi cùng gốc Hà nội, nhưng một kiều diễm một xấu xí, một cựu hoa hậu một cựu cán bộ công đoàn, một dạn dĩ một nhút nhát, một khéo léo một vụng về, một kiếm sống bằng tình dục một chưa nếm mùi tình yêu, một lãng mạn một không tin vào phép lạ. Nhưng tiểu thuyết của Thuận sẽ chẳng biến Mai Lan thành cô Kiều và cho Liên thành Thị Nở».

Tại sao lại Kiều và Thị Nở ở đây?

Kiều và Thị Nở, từ khi chào đời, đã trở thành những siêu (người) mẫu trên sân khấu văn học Việt Nam. Trong các tác phẩm hạng hai, các nhân vật nữ ít nhiều đều bị hớp hồn bởi hai nàng, đặc biệt tiểu thư họ Vương, bởi Kiều đã đẹp lại tài, đã ngoan lại đa tình, đã bán dâm lại đoan trang lại đạo đức lại trung hậu trung tình… Họ mon men lại gần để bắt chước, không cách ăn thì cách mặc, không cách nói thì cách nghĩ, không cách sống thì cách yêu. Trong văn học Việt nhan nhản những clone của Kiều và Thị Nở.

Các nhà văn hạng hai là những kẻ chăm thờ cúng và dựng bàn thờ.

Và nhà văn đích thực là kẻ cũng ngắm Kiều và Thị Nở, gật gù ngả mũ trước bậc tiền bối, nhưng đồng thời họ âu yếm đeo vào cổ hai nàng tấm biển CẤM, TUYỆT CẤM. Hoặc cũng với từng ấy âu yếm, họ bưng các nàng - cũng khá nặng ký - cho vào căn phòng kín có đề HÀNG TỒN KHO.

Thuận, khi xây dựng hai nhân vật Mai Lan và Liên, đã ứng xử như một nhà văn đích thực. Xin đọc Paris 11 tháng 8 để xem cô đã gây gổ thế nào với Thúy Kiều và Thị Nở?

Mai Lan đẹp lãng mạn đa đoan nên đôi khi cũng săm săm vào vai Vương nương nương, nhưng Thuận đã chẳng để cho cô đạo đức trung hậu trung tình. Không xấu không tốt, không lương thiện không bất nhân. Không đặt nhân vật của mình trong lãnh địa luân lý, đó chính là khoảng cách Thuận chọn để đứng ngoài Nguyễn Du.

Còn Liên? Có lẽ trong văn học Việt Nam đương đại, hiếm có nhân vật nữ nào lại có sắc đẹp thậm tệ như vậy. Nhưng Thuận chẳng vỗ về cô. Nếu Nam Cao sau khi tả Thị Nở ma chê quỷ hờn… lại dở hơi, ông thương tình cho ả biết e lệ, biết thích nhỉ với Chí Phèo, biết làm việc yêu, biết hưởng ánh trăng trong trẻo. Và đó cũng chính là khoảng cách Thuận chọn để đứng ngoài Nam Cao. Khoảng cách đó mang tên NHÂN BẢN. Liên của Thuận không vui không buồn, không thèm không chán, không vô cảm không nhạy cảm, không hy vọng không tuyệt vọng.

Nhưng thành công của Paris 11 tháng 8 có lẽ ở chỗ tác giả cho Liên và Mai Lan đứng cạnh nhau. Như hai chiếc gương họ soi vào nhau, sáng tỏ nhau. Đúng hơn, Mai Lan làm lộ Liên, nhân vật luôn sống trong hai trạng thái đối lập, vô định, bấp bênh: chưa và đã. Hãy nghe Thuận nói về Liên: «… Có lẽ bi kịch của nhân vật này không nằm ở sự lãnh đạm trong tính cách mà ở cái khối mâu thuẫn khác thường: Liên chưa từng hy vọng mà lại bình tĩnh đón nhận thất vọng, Liên chưa từng yêu mà lại chán yêu, Liên chưa từng tiếp xúc mà lại chai sạn, Liên chưa từng sống mà lại muốn chết».

Cô gái xấu xí đó, sau lần đầu được nếm mùi nhục dục, không trằn trọc, không lăn ra lăn vào, không thấy sự khoái lạc của xác thịt đã làm nổi dậy những tính tình (…) chưa bao giờ biết như Thị Nở sau đêm ăn nằm với Chí Phèo:

“Một cái đầu dị dạng ghé sát mặt, chẳng nói năng gì cứ thế lôi đi. Liên không chống cự. Người mềm nhũn. Trí óc cũng mềm nhũn. Tất cả diễn ra như một giấc mơ mềm nhũn. Bây giờ cố nhớ lại, chi tiết thì quên hết, còn mỗi cảm giác bồng bềnh, không trọng lượng, như con tàu vũ trụ vượt ra ngoài sức hút của trái đất. Pát bảo: khéo mày có thai cũng nên. Liên ngượng nghịu không nói gì. Pát bảo tiếp: tao thì chẳng bao giờ có thai. Liên càng ngượng, im thin thít. Pát thản nhiên nói: tao nạo từ hồi mười ba tuổi, hai năm nạo ba lần (...) Giữa tháng mười hai, Liên có vẻ đợi, cuối cùng hành kinh vẫn đều. Pát nói nhảm thật. Liên thở ra, không hiểu vui hay buồn. Câu chuyện trong quán ba chỉ còn là một kỉ niệm mềm nhũn, không trọng lượng, như con tàu vũ trụ đã ra khỏi sức hút của trái đất. Thời gian đều đặn trôi. Một năm mới đang lên dây cót. Căn phòng nhỏ tầng áp mái, mùa đông mùa hè chênh nhau 40 độ. Chủ nhà từ chối không cho dùng lò sưởi, lý do giá điện tăng. Liên im lặng, trước khi đi ngủ, cắm hai bếp điện đặt giữa phòng. Ban đêm tỉnh dậy đi tiểu thấy hai cục lửa, chỉ sợ vô ý giẫm phải là mất chân. Sáng ra, phòng khô cong, hơi nước biến thành giọt trên hai ô vuông kính.”

Vì vậy đọc Liên, người ta luôn ở trong tư thế chơi vơi, chông chênh, khó nắm bắt. Và chính cái chơi vơi đó là một trong những đóng góp của Thuận trong văn học Việt. Nó gợi cho tôi nhớ lại bài thơ «Chưa đầu xuân» của Nguyễn Đăng Thường:


«chưa đưa em về qua chợ
bến đò chưa đầy khách rồi
bữa hôm trời chưa trở gió
tháng giêng hai chưa đến rồi…» [1]


Chỉ với một chữ chưa, Nguyễn Đăng Thường làm chao đảo cái thẩm mỹ cố định, tròn trịa, hài hòa nhưng cũ kỹ mà Huỳnh Liễu Ngạn ôm ấp trong «Đầu xuân».
Imagine
08-02-06, 21:44
2. Nỗi đau là gì? Chính xác hơn: Viết nỗi đau như thế nào? Ngôn từ nào có thể diễn tả nỗi đau, một khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng, vừa giản dị vừa phức tạp, vừa hữu danh vừa vô hình, vừa cá nhân vừa cộng đồng? là câu hỏi không ngừng ám ảnh mọi nền văn học.

Mở đầu bài giới thiệu tiểu thuyết của Thuận, tôi viết: «Tiểu thuyết thứ ba của Thuận (…) được gợi hứng từ trận nóng năm 2003 mà điểm đỉnh là ngày 11 tháng 8, đã giết chết gần mười lăm ngàn người Pháp. Paris 11 tháng 8 vì vậy là niềm hổ thẹn sâu kín của một xã hội hậu-tư-bản viên mãn».

Trước nỗi đau vô tận nhưng sâu kín đó của nước Pháp, Thuận, một nhà văn ngoại kiều, đã chọn chỗ đứng nào? Vừa ở trong vừa ở ngoài. Vừa xa vừa gần. Khẽ khàng cô muốn chạm vào nó nhưng vội rụt tay về. Không rút mùi xoa không nức nở, mà bằng một năng lực cảm nhận đặc biệt, Thuận kể về thảm kịch lịch sử và thân phận cá nhân. Hai mươi hai chương của Paris 11 tháng 8 đều bắt đầu bằng một bài báo Pháp nói về trận nóng 2003, có vẻ không ăn nhập gì với diễn biến câu chuyện sau đó. Nhưng lồng thông tấn vào văn học, hai thể loại văn bản đối lập nhau, Thuận khiến độc giả bất ngờ như thể xem một bộ phim màu có xen những đoạn tư liệu đen trắng. Động tác lục lưu trữ của Thuận, đọc săm soi nỗi đau giấu kín dưới tầng tầng lớp lớp của thời gian và thông tin, nhưng không một lời bình luận, thể hiện một thái độ vừa thẹn thùng vừa khiêu khích. Còn đây là cách cô diễn đạt nỗi niềm của nhân vật chính ở tuổi trăng tròn:

«Liên học đại học Mỏ-Ðịa chất. Sinh viên nữ đếm trên đầu ngón tay, còn lại toàn nam. Giáo viên cũng toàn nam. Ngày mồng tám tháng ba, sân trường vắng ngắt. Cả thầy lẫn trò lo cắt tóc và mang hoa đến tấn trước kí túc xá Sư phạm. Liên và mấy đứa con gái năm đầu ngỡ ngàng, Quốc tế phụ nữ tiếp theo tự động ngồi nhà, hôm sau gặp nhau ở giảng đường không một câu bình luận, như không có chuyện gì xảy ra. Các thầy giáo không hiểu vì ngượng hay thương hại mà suốt buổi chẳng gọi nữ sinh nào lên bảng. Bọn con trai thì im lặng tuyệt đối. Giờ giải lao, một thằng chạy ra hàng nước trước cửa trường. Lúc Liên quay lại thấy trên bàn có một phong kẹo lạc. Lần sau thấy bánh đậu xanh. Lần sau nữa thấy mè xửng. Năm tốt nghiệp thấy hẳn một gói sô-cô-la Thái Lan, giấy bọc màu vàng, in hình con voi ngậm một bông hoa hồng, giá bằng bát phở tái Tràng Tiền. Liên không nói gì. Hết giờ học cho vào túi, cũng chẳng lên tiếng cám ơn. Bọn con trai không phản ứng, có vẻ như không ngạc nhiên. Trên xe buýt về nhà, Liên gặp một đứa con gái học khóa trên. Nó bảo nó cũng được một phong kẹo lạc. Sau đó cả hai cùng im lặng. Bốn mươi lăm phút trên xe buýt dài vô tận. Hai đứa tránh nhìn vào mắt nhau.»

Dùng những từ ngữ giản dị nhất để nói những khái niệm phức tạp nhất, không diễn văn không tu từ không ẩn dụ, đó là nỗi đau của Thuận. Đằng sau những dòng chữ là im lặng, âm vang, khoảng trống. Là những điều không thể nói thành lời. Sức mạnh của Paris 11 tháng 8 chính ở trong trận chiến không phân thắng bại giữa nói và không nói. Nhưng có lẽ đó là một điều xa xỉ đối với những ai đang mải viết báo Tết kiếm tiền chơi Xuân như Phạm Xuân Nguyên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2005

© 2005 talawas


--------------------------------------------------------------------------------
[1]Xem Nguyễn Đăng Thường, «4 bài không thơ», trong tập Khoan cắt bê tông, tuyển tập tự do xuất bản vào tháng 9-2005 tại Sài Gòn. Bản thảo do Bùi Chát, Khúc Duy, Lý Đợi và Phan Bá Thọ phụ trách. Chịu trách nhiệm xuất bản: Bùi Chát.
Top
Imagine
08-02-06, 21:45
Trích đoạn tiểu thuyết Tình Made in Vietnam - Thuận

Hà Nội xa hơn nữa về phía đông có một con đường dài hai mươi ki lô mét chỉ xe đạp mới vào được. Con đường kết thúc ở làng nhỏ Quyết Thắng. Người không biết lối phải theo đường ô tô năm mươi ki lô mét lên tận thị xã Hà Sơn Bình mới có một con đường đất dài ba mươi ki lô mét ngoằn ngoèo hình con rồng chín đầu chỉ có mỗi một đầu dẫn được về cổng làng. Người chưa bao giờ đến Quyết Thắng cứ tưởng đây là Hà Sơn Bình. Thực ra khi nhà nước quyết định mở rộng bán kính thủ đô thêm hai mươi ki lô mét thì Quyết Thắng ngẫu nhiên thuộc vào địa phận của Hà Nội. Người dân ở đây mặc dù đã từng nhiều lần đi bộ ba mươi ki lô mét ra chơi thị xã Hà Sơn Bình nhưng lại chưa khi nào đến Hà Nội nên không biết mình là nhà quê. Cả làng không biết nhà máy nước là ông nào. Tiện nghi thành phố chỉ luồn lách được vào ba nhà bán nước chè, nước giải khát và chữa xe đạp rồi dừng lại ngay ở buồng tắm không có vòi nước nhưng che được phần cơ thể từ ngực xuống và ở hố xí hai ngăn có cửa gỗ cẩn thận. Hai chiếc vô tuyến đen trắng là hai đại diện duy nhất của nền văn minh thế kỉ hai mươi có mặt tại Quyết Thắng tính từ Tết âm lịch Kỉ Mão. Thực ra, những chiếc vô tuyến đen trắng mà Hà Nội không nỡ ném đi như để xóa sổ thời bao cấp đã được nhà nước đem tặng lại cho tất cả các làng ngoại thành sẽ có tên chung là Hà Nội mở rộng. Mỗi làng được hai chiếc. Mặc những khiếm khuyết của kỹ thuật Đông Âu, mặc tính thất thường của dòng điện trong nước, mặc sự tẩy chay của đám bô lão làng coi tất cả những gì đến từ bên ngoài là nguy hiểm, hai vô tuyến đen trắng được đặt trang trọng ở hai góc hội trường cứ mưa thì dột của ủy ban nhân dân Quyết Thắng. Mỗi chiếc một kênh đua nhau đóng vai hướng dẫn viên du lịch cho lớp trẻ Quyết Thắng. Một tháng đầu trẻ em đến lớp để ngủ gật còn thanh niên bỏ cày ruộng nằm nhà mơ lại đêm trước trốn bố mẹ ông bà theo vô tuyến đi vòng quanh thế giới từ Hồ Gươm rẽ vào tháp Éùp-phen qua Chùa Một Cột rồi tạm dừng ở quảng trường Đỏ. Thỏa chí tang bồng rồi mới trở về đuổi ma-phi-a suốt từ thủ đô nước Pháp đến tận trung tâm Ca-li-fooc-ni-a mà vẫn chưa bắt được. Vô tuyến truyền hình vô cùng tâm lí cứ một tối hồi hộp lại một tối thư giãn. Thứ tư thì máy bay đuổi tàu ngầm, thứ bảy thì tâm lí tình cảm ấn Độ, chủ nhật truyền hình nhiều tập Bờ-ra-zin cả diễn viên lẫn khán giả cùng rút mùi xoa xoàn xoạt. Đám bô lão không có cớ gì để phản đối nhưng thực sự lo lắng khi một cụ ghé hội trường ủy ban xã xem vô tuyến để nắm tình hình thanh thiếu niên đã phát hiện ra rằng có lẽ vì sơ xuất kĩ thuật ban kiểm duyệt đài truyền hình đã để xổng khá nhiều pha ô tục. Cụ không biết báo cáo lại thế nào, vừa ngượng vừa bất lực trước ngôn ngữ, có thế nào kể thế nấy cụ sẽ bị kết án là kẻ nói bậy nhất nước. Các cụ khác không hiểu bèn rủ nhau đi kiểm tra tận mắt. Mỗi lần thấy đàn ông đàn bà cùng chung nhau cái màn ảnh là các cụ nhắm mắt bịt tai nhăn mặt lắc đầu. Vô tuyến lúc ấy chiếu phim tình cảm Pháp, hai phút lại có hai diễn viên hôn nhau bằng môi, nếu cắt thì cắt hết phim nên ban kiểm duyệt linh động một đêm cho tình hữu nghị Việt-Pháp. Ngay cả những phim quảng cáo mà các cụ cho là an toàn nhất cũng ngắt phim truyện làm năm lần để nhét vào đấy bột dinh dưỡng trẻ em và bao cao su đàn ông, cả hai đều mang nhãn hiệu Lực Sĩ. Sau đêm ấy da và cơ mặt các vị bô lão chín nhừ như hầm nồi áp suất còn tai và mắt hoạt động kém hẳn, nếu tiếp tục sẽ có cơ tàn phế một trăm phần trăm. Thanh thiếu niên Quyết Thắng sau một tháng coi thức đêm là chuyện vặt. Bọn con gái cứ nhắm mắt lại là mơ lấy được chồng Hà Nội để gút bai đám giai làng cả đời chân đất. Bọn con trai còn nhìn xa hơn, túm lại một góc phì phèo thuốc lá bàn chuyện phiêu du, tiêu chuẩn là hai nghìn ki-lô-mét trở lên, nơi ấy đàn bà vừa đẹp vừa biết chiều đàn ông. Hội nghị Diên Hồng lần thứ hai của các bô lão tuổi trên năm mươi đã diễn ra trong hoàn cảnh không thể trì hoãn được, giặc ngoại xâm ở đây là hai vô tuyến đen trắng chỉ một tháng đã mua chuộc toàn bộ dân Quyết Thắng tuổi dưới bốn mươi. Những ý kiến các cụ bô lão đưa ra thật táo bạo nhờ sự thiếu kinh nghiệm diệt loại giặc hiện đại này. Cụ thứ nhất đề nghị xin ban kiểm duyệt đài truyền hình làm riêng một chương trình cho Quyết Thắng. Cụ thứ nhì đưa ra ý định nhờ công an huyện tịch thu cả hai vô tuyến. Cụ thứ ba rút giấy viết thư cho sở điện lực yêu cầu cắt giúp điện làng vào các buổi tối. Cụ thứ tư có lẽ khôn ngoan hơn cả cho là đằng nào thì cũng không diệt hẳn được vô tuyến chi bằng không cấm nhưng chỉ cho xem thời sự, thoải mái cả trong nước lẫn quốc tế, vì đúng ra mà nói chương trình này có tinh thần bảo vệ làng quê hơn cả những dân quê kì cựu. Các cụ trong làng có một nói một chứ đâu dám đêm nào cũng tăng tổng sản lượng lúa lên vài phần trăm, cũng chưa cụ nào hồn nhiên vơ đũa cả nắm rằng mọi thử thách của nông thôn Quyết Thắng đều vượt qua và người tự cao tự đại nhất trong các cụ cũng không dám kết luận dân quê ta là tinh hoa của loài người rồi chê tư bản toàn trộm cắp, đĩ điếm, khủng bố, si đa, ma-phi-a, tống tiền. ý kiến thứ tư cuối cùng cũng bị loại như các đề nghị khác bởi tính không hiện thực của nó. Ai sẽ canh vô tuyến để lúc nào đến chương trình thời sự thì mở cho bọn trẻ vào lúc nào hết thì lại đuổi chúng ra. Làm được việc này khó ngang kêu gọi đầu tư nước ngoài. Cứ thế hội nghị Diên Hồng họp mãi không tìm ra giải pháp cũng chẳng có Trần Quốc Toản mười lăm tuổi nào nghe trộm để tay không bóp nát quả cam. Bọn trẻ mười lăm tuổi ngày nay còn đang mải mê xem vô tuyến và mơ được trốn đi xa càng xa càng tốt mặc kệ làng này cho đám bô lão. Chiều hôm sau, chiều mồng chín tháng giêng âm lịch, cả làng Quyết Thắng kinh sợ vì nghe thấy ba tiếng nổ vừa giống tiếng pháo đùng vừa giống tiếng trống làng nhưng không biết nổ ở đâu. Các bô lão tuổi trên năm mươi vội vàng kéo về đứng trước ủy ban nhân dân, đã thấy toàn bộ thanh thiếu niên đang đốt pháo đùng phá hội trường cũ xây hội trường mới lớn hơn để ngồi xem vô tuyến cho giống Hà Nội. Ngoài đồng chẳng còn một ai, có lẽ mọi người nghe tiếng nổ đã chạy mất.
Imagine
08-02-06, 21:46
Phía sau ủy ban là chợ làng. Lúc này trong chợ có ba bà bụng chửa tuổi năm mươi ngồi bán miến khô, ba bà già tuổi bảy mươi bán muối và cá khô. Có thêm một cô trẻ nhất tên là Liên ngồi xõa tóc lá bay. Cô bán măng khô và bánh đa khô. Má cô lúc nào cũng hồng. Mắt to và xếch như mắt tượng chùa. Ba quả pháo nổ to quá làm cô mất cả buồn ngủ. Người Quyết Thắng chạy hết đi xem pháo chẳng ai còn nghĩ đến măng khô miến khô lẫn bánh đa khô nên cô nghỉ bán hàng, tối còn xem phim. Hội trường cũ bị phá để cho hội trường mới nên hai cái vô tuyến phải đến ngồi trên hai cửa sổ phòng làm việc của ủy ban, quay mặt ra bên ngoài. Đầu năm hai nghìn đài truyền hình Trung Ương cho chiếu món ái tình lịch sử đầu bếp Trung Quốc nấu khéo ăn mãi không chán. Cả làng Quyết Thắng ngày ngày khiêm tốn cho vào nồi luộc lúc ngô lúc sắn lúc bánh đa khô với muối và đậu phụ, nhưng tối tối lại mang chăn cùng chiếu ra nhòm hai cái cửa sổ ủy ban để thưởng thức cao lâu Trung Quốc, ngồi cùng mâm với Tần Thủy Hoàng, nằm cùng giường với Từ Hi Thái Hậu. Liên là gái có chồng không thể vừa xem vô tuyến vừa liếc mắt về bốn phía như bọn gái làng đành lấy việc chờ chồng làm lẽ sống, tiếp tục chia xẻ cô đơn cùng các nữ nhân vật phim nhiều tập. Cả làng khen cô chăm chỉ bán hàng từ hồi chưa lấy chồng ngoài Hà Nội, chồng đi nước ngoài vắng lại chăm chỉ về làng bán hàng. Thực ra cô chỉ được ở cùng chồng trong cùng một căn hộ của bố mẹ chồng ở Hà Nội vẻn vẹn có ba ngày. Chồng cô tên là Hiển, chuyên nghề buôn quần áo bảo hộ lao động giữa Hà Nội và Quyết Thắng, ba ngày trước khi đi châu Âu thăm chị gái đã đèo cô đằng sau xe đạp hai mươi cây số về nhà bố mẹ anh để bố anh dẫn đi làm đăng ký kết hôn ở ủy ban nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội. Cô ở lại với chồng trong một diện tích ba mét vuông đằng sau chiếc rèm vải hoa vừa đỏ vừa vàng, đủ cho chiếc giường đôi và hai đôi dép. Vượt qua bức rèm là diện tích nấu ăn rộng hai mét vuông rồi mới đến giường của bố mẹ chồng. Ba ngày cô cũng nấu được sáu nồi cơm cho sáu bữa, một lần xuống tắm ở buồng tắm chung cho mười bảy gia đình dưới sân. Cô chỉ kịp làm quen với bố mẹ chồng và một chị bán bún riêu trước cửa nhà. Cô chị cả đã đi xuất khẩu lao động ở Đức từ mười năm rồi, bây giờ làm giấy mời em trai sang chơi ba tuần. Cô chị thứ hai cũng đã lấy chồng ở ngay Hà Nội nhưng hay cãi nhau với bố mẹ thỉnh thoảng mới về chỉ để ngồi lại năm phút nên cô không bao giờ biết mặt. Ngày thứ tư Hiển ra sân bay thì Liên mới về làng thông báo với mọi người cô đã lấy chồng. Ba tuần nữa Hiển sẽ từ châu Âu về làng đón cô. Thế rồi ba tuần thành ba tháng rồi thành ba năm. Ngày mồng một tết nào cô cũng mượn xe đạp đạp một mình hai mươi cây số ra tận nhà bố mẹ chồng. Bố chồng tết nào cũng bảo cô chuyện dài lắm nhưng chẳng nên lo lắng làm gì. Mẹ chồng cũng nói rằng chuyện dài lắm nhưng Hiển muốn ở lại Đức khi nào có đủ giấy tờ có đủ tiền sẽ về đón cô đi. Sang Đức thì tha hồ mà đẻ con. Thế rồi tết nào cô cũng ngoan ngoãn bảo cô sẽ chờ anh bao nhiêu lâu cũng được, chuyện có dài cũng không dài bằng sợi chỉ hồng một đầu buộc cổ chân cô đầu kia sẽ bò sang tận nước Đức buộc nốt cổ chân Hiển. Thực ra cô nghĩ bụng đám con gái Quyết Thắng từ hồi xem vô tuyến cứ mong lấy chồng Hà Nội mà có đứa nào tìm được chồng, trừ một mình cô. Chồng đi vắng còn hơn không có chồng. Ngày mồng một tết năm hai nghìn bố mẹ chồng cũng tặng cô một chiếc ảnh để trong phong bì, nói là của chồng cô gửi. Ngày mồng một tết cô xuống phố trước khi về làng còn đạp xe một vòng hồ Hoàn Kiếm, ăn hai chiếc kem que, gửi xe đạp rồi mua một vé xem phim ở rạp Tháng Tám. Cuốn phim kể chuyện một cô gái nông thôn lấy chồng Hà Nội, anh chồng đi Pháp làm luận án phó tiến sĩ rồi tiến sĩ được năm năm rồi yêu một cô gái người Đại Hàn rồi sống cùng nhau rồi đẻ con. Năm năm sau cô gái Đại Hàn lại ôm con bỏ đi lấy một anh người Pháp. Anh chồng người Hà Nội sau mười năm trên đất người hối hận trở về nước đi tìm vợ cũ thì cô vợ cũ từ chối không cho vào nhà gặp con. Anh buồn bã nói hai câu cuối cùng với rạp chiếu phim lúc ấy chỉ có sáu khán giả có lẽ vì là ngày Tết: tôi hối hận lắm. Tôi sẽ xung phong về làng quê đem kiến thức của tôi giúp bà con xây dựng nhà máy thủy điện. Đèn bật sáng Liên mới nhận thấy mắt cô ướt đầm đìa. Cô ngồi lại một mình trong rạp để khóc nốt. Cuốn phim làm cô hiểu rằng Hiển sẽ chẳng bao giờ về tìm cô trước thời hạn mười năm trước khi anh hối hận nên càng khóc to hơn. Anh bảo vệ cũng không nỡ đuổi cô ra khỏi rạp. Khóc xong cô ra phố lấy xe đạp rồi mở chiếc phong bì xem ảnh chồng cô gửi về thì chỉ thấy một chiếc ô tô rất đỏ lao thẳng vào mặt cô, phía sau là phố đầy tuyết trắng. Tối mồng ba mồng bốn mồng năm tết đều có ba câu truyện truyền hình trên vô tuyến đều kể lại chuyện đời cô. Cả ba cô gái mỗi cô mất một chồng. Cả ba anh chồng đều chia nhau đi xa mỗi người một nẻo theo đúng thứ tự từ trái sang phải: Thái Lan, Nhật, Đức. Ba kết thúc do ba tác giả sáng tác nên có khác nhau. Cô thứ nhất li dị chồng và sống hạnh phúc với một trai làng đã theo đuổi cô ngay từ đầu câu chuyện. Cô thứ hai viết thư sang nhờ đại sứ quán Việt Nam ở Tokio can thiệp, anh chồng bị gửi về nước, lại chung sống hạnh phúc với cô. Cô thứ ba mua vé máy bay đi du lịch nước Đức, sang đến nơi đánh cho cô nhân tình một trận, định mang chồng về thì lại yêu luôn một kĩ sư đồng hương, cả hai cùng quay về nước xây dựng tổ quốc xây dựng gia đình. Liên thấy ba phim kết luận đều không thực tế. Cô nghĩ không đủ can đảm đến hội phụ nữ Quyết Thắng nhờ viết hộ đơn xin li dị cho cả làng vui sướng. Cô cũng không biết nhờ ai ngoài ủy ban làng cô gọi hộ Hiển về. Mua vé đi Đức cô không có tiền, kể cả vé tàu thủy hoặc tàu hỏa. Nói chung xem phim là để cho sướng mắt chứ để áp dụng lại thì còn khó hơn lấy chồng. Cuối cùng cô tự nhủ sẽ tha thứ cho Hiển, cho bọn gái làng tha hồ mà ghen tức. Cô sẽ chờ chồng và giống như các nhân vật nữ giầu lòng vị tha của nền điện ảnh Việt Nam, cô cũng hy vọng về một hay nhiều kết thúc có hậu. Ôi happy end. Ba ngày lấy chồng được xem vô tuyến cùng gia đình nhà chồng toàn người Hà Nội cô cũng học được ba từ ôi happy end chồng cô tuyên bố vào cảnh cuối mỗi phim. Cô cũng nhớ mãi câu cuối cùng anh nói với cô ba năm trước: chỉ ba tuần thôi, rồi tất cả sẽ happy end. Đêm đêm trước khi ngủ bao giờ cô cũng làm một vài giả thiết cho dễ ngủ. Happy end thứ nhất có thể là cảnh sân bay Hiển xách va li về nước, cô để mặc nước mắt rơi như mưa rồi mới ngả đầu vào ngực chồng, xung quanh họ nhất định phải là nắng nhảy nhót hoa nở tưng bừng, những người bên cạnh bỗng dưng biến mất còn nhạc ngân lên khúc cao trào. Happy end thứ hai có thể là cảnh nhà riêng của cô ở làng Quyết Thắng, Hiển trở về không báo trước, cô sẽ quay mặt đi giận dỗi, anh sẽ lại bên cô cầm lấy tay cô rồi hai vợ chồng chạy thật chậm như trong phim quay chậm, trên đầu vài cánh diều hoặc vài quả bóng cũng bay thật chậm, nhạc im dần cho đến khi người xem nhìn thấy chữ hết rất khiêm tốn giữa màn ảnh. Happy end thứ ba được giả thiết muộn hơn khi cô ngồi ngoài chợ, chính giữa ban ngày, cho khỏi buồn ngủ vì chợ vắng người mua.
Imagine
08-02-06, 21:47
Có một thanh niên Hà Nội đến Quyết Thắng tìm cô, nói là anh Hiển gửi vé máy bay về để cô đi sang Đức gặp chồng. Giả thiết chưa được kết luận thì cô đã thấy ngay trước mặt một anh trẻ tuổi chắc chắn người thành phố vì mặc quần bò mài đầu gối, lại đeo kính đen. Anh hỏi: chị ơi, chị có phải là Liên không. Liên lúc đầu hoảng sợ quá vì happy end chưa được cô nghĩ đoạn kết đã vội vàng bắt đầu. Anh trẻ tuổi nói tiếp: tôi biết chị chính là chị Liên nổi tiếng nhất làng. Liên vẫn im lặng vì sợ. Anh bèn ngồi xuống đối diện với cô, ở giữa là rổ măng khô, rồi bảo: tôi tên là Chương, rồi cứ im lặng ngắm cô không chớp mắt. Mãi sau Liên mới hỏi khẽ: anh có phải là bạn thân của anh Hiển không, rồi rưng rưng nước mắt vì nghĩ có lẽ anh mang tin dữ về cho cô. Anh vẫn im lặng, chỉ nhìn cô gái đang cúi đầu xuống đám măng khô, anh cứ tưởng tượng đấy là hoa đu đủ khô. Năm phút sau anh mới nói chậm rãi: chị ơi, sao chị lại khóc. Tôi đã biết chuyện của chị. Tôi biết ba năm thời bình dài bằng ba mươi năm thời chiến. Tôi biết phụ nữ Việt Nam khổ như thế nào. Tôi biết nhiều cô gái chỉ vì chữ danh dự mà mất hết tuổi xuân. Tôi cũng biết nhiều thiếu nữ chỉ vì chữ tuổi xuân mà mất hết danh dự. Tôi biết nhiều bà mẹ mất chồng rồi lại mất con vì chiến tranh. Tôi biết nhiều phụ nữ không lấy được chồng vì trong làng không còn đàn ông. Tôi đi tìm làng Quyết Thắng mãi. Tôi đi tìm chị mãi. Tôi không biết rằng đường tắt bằng xe đạp chỉ dài hai mươi cây số từ Hà Nội. Tôi đã phải đi năm mươi cây số bằng đường xe máy đến tận thị xã Hà Sơn Bình mới có một con đường duy nhất dài ba mươi cây số đi ngược về Quyết Thắng. Tôi đã gặp ba mươi người dân Quyết Thắng người nào cũng bảo phải đến gặp chị. Chị là người phụ nữ duy nhất ở đây lấy chồng Hà Nội. Chị là người phụ nữ đau khổ nhất làng. Liên càng khóc nhiều hơn. Cô nghĩ Hiển chết rồi nhưng chẳng nói được câu nào. Anh trẻ tuổi tên Chương bỏ kính đen ra như muốn nhìn cô cho rõ hơn. Rồi bảo: tôi đang làm một phim truyện. Tôi cần người đóng một vai nữ. Liên ngừng khóc, rồi nhìn vào mắt anh đạo diễn điện ảnh. Chữ diễn viên chưa bao giờ xuất hiện trong đầu cô. Nghề điện ảnh còn xa hơn cả nước Đức xa xôi, còn mỏng manh hơn cả sợi chỉ hồng nối liền cổ chân cô và cổ chân Hiển, và nhất định chẳng thể có chỗ cho những người như cô, như chồng cô, như đám con gái làng Quyết Thắng. Cô hâm mộ truyền hình, đi xem vô tuyến như con chiên ngoan đạo đi lễ nhà thờ nhưng tất cả những gì cô biết về giới văn nghệ sĩ là nữ diễn viên đoàn chèo tỉnh mà cô đã gặp một lần ngoài chợ và anh họa sĩ người Hà Nội vẫn đến vẽ phong cảnh ở rìa làng. Cô thấy họ như người hành tinh khác, thậm chí còn xa lạ hơn cả dân thành phố. Họ đến rồi lại đi. Họ không có những lo âu mà cô phải lo. Cô không thể tưởng tượng anh họa sĩ có thể lấy cô làm vợ hay nữ diễn viên chèo lại đem lòng yêu một người như Hiển. Cô hoang mang từ chối bằng một câu đại khái là cô hoàn toàn không biết đóng phim. Chương nói ngay: tôi không cần một diễn viên chuyên nghiệp. Tôi cần một phụ nữ đau khổ kể lại chính câu chuyện đau khổ đời mình, bằng ngôn ngữ của điện ảnh. Anh nói rất nhanh như đã đoán trước câu trả lời của cô, như dị ứng với từ diễn viên chuyên nghiệp. Sau này, khi đã quen cô hơn, anh mới giải thích rõ đủ cho cô hiểu rằng phim trường bây giờ heo hút tựa sa mạc. Ba cuốn phim một năm như ba vị khách du lịch hiếu kì chỉ vừa đủ để ốc đảo điện ảnh không bị xóa tên trên bản đồ nghệ thuật Việt Nam, thành thử không biết định nghĩa thế nào là diễn viên chuyên nghiệp. Họ có thể xuất hiện chỉ một lần ở liên hoan phim Việt Nam hoặc tấp nập đi ra đi vào hội điện ảnh nhưng không nhất thiết là cứ phải ở trong một phim nào đấy. Chưa kể những người đã tập hàng trăm vai trong năm năm ở trường đại học điện ảnh, nỡ lòng nào gọi họ là diễn viên không chuyên. Rồi ăn nói làm sao đây cho ai đấy có dịp xem đóng phim được thấy những người càng được coi là chuyên nghiệp càng tự thấy không có nhu cầu tập luyện trước. Họ cũng rất hồn nhiên tự biên tự diễn và tùy cơ ứng biến coi chỉ riêng sự có mặt của họ đã là một vinh dự cho phim. Sức khỏe của họ chắc phải quí như vàng nên họ chi tiêu nó một cách rất dè xẻn. Liên bảo Chương là từ ngày làng cô có vô tuyến cô chẳng bỏ một phim nào, cho đến bây giờ thì cô thấy mình có thiện cảm với phim trong nước hơn cả và thấy vững tâm lắm khi nhìn một diễn viên nam Việt nằm trên bụng một diễn viên nữ Việt bởi cô biết là mồ hôi chảy như suối trên màn ảnh chỉ là nước từ vòi hoa sen phun ra mà thôi. Liên cũng tâm sự thêm với Chương rằng từ ngày xem vô tuyến mới thông cảm với chồng hơn và nghĩ rằng Hiển cũng chỉ vì nghiền phim ảnh mà ôm mộng đi xa. Khi nghe Chương nói trước khi gặp cô anh cảm giác như đứng giữa ngã ba đường, cô đã hỏi anh bị lạc ở đâu và Chương im lặng để không phải giải thích cho cô rằng lần tuyển chọn nào cũng kết thúc lửng lơ khi các ứng cử viên nhất là các hoa hậu á hậu và người mẫu thời trang chỉ lo cho lòng tự trọng đừng bị ai xâm phạm chứ không sợ đánh mất cái lịch sự.
Imagine
08-02-06, 21:48
Cách chọn qua ảnh cũng đã được tiến hành để không phải cư xử ân cần hơn với người này tế nhị hơn với người kia không phải mất công thu nhặt lại tất cả những danh dự bị bỏ rơi mà chẳng vị chủ nhân nào quay lại tìm. Trong căn phòng của mình ở Hà Nội, Chương đã cho Liên xem một trăm hai mươi tấm ảnh, tất cả đều là ảnh màu, đều trình bày một nụ cười ba phần tư, đều có ánh sáng ven, đều má hồng môi đỏ, đều bóng như gương. Cô đã thốt lên: ôi những nàng tiên cá, rồi hỏi : anh Chương ơi ngoài biển Trung Quốc chắc cũng có tiên cá chứ. An-đéc-xen là của chung của nhân loại, Chương cũng thốt lên. Liên định hỏi anh thêm sen cũng mọc ở ngoài biển à thì Chương đã bắt đầu tâm sự với cô rằng anh đặt biết bao hy vọng vào một trăm hai mươi nàng tiên cá châu Á này để chọn sang một bên mười hai khuôn mặt tuyệt vời nhất, Việt Nam nhất, để cuối cùng đành kết luận rằng mình đã khá ngây thơ trước những nghiệp vụ quá ư nguyên thủy. Người Việt vốn khéo tay, các nhà nhiếp ảnh còn tinh tế hơn, đến mức khuôn mặt quyến rũ trên ảnh hóa ra mang hình quả đu đủ dưới ánh sáng trời, mang cả đôi môi còn hứa hẹn hơn cả tấm ảnh, vì chúng lớn gấp đôi và không thể tự khép lại được. Liên bảo: sao anh không nhờ các nhân viên Bộ Nội Vụ giúp một tay em thấy anh Hiển nhà em chụp bao nhiêu ảnh còn đẹp trai hơn cả diễn viên điện ảnh chuyên nghiệp thế mà ở chỗ làm hộ chiếu người ta cứ bảo là nhầm ảnh rồi chụp cho một cái khác trông thì chỉ hơn bọn trai làng Quyết Thắng một tị làm em tiếc mất ba tuần liền. Đấy là những gì Liên và Chương nói với nhau trong nhiều buổi tối sau này ở Hà Nội và ở Sài Gòn còn chiều hôm ấy, bên rổ măng khô đầy, cô hầu như im lặng và anh chỉ nói về nông thôn miền Bắc lạc hậu đến thế nào đến bao giờ, về những cánh đồng hứng nước mưa thì ít hứng nước mắt thì nhiều, về những mùa đông buồn không nghe thấy cả tiếng trẻ khóc, về những ô cửa sổ buồn, những phố buồn, ở đâu cũng có những người buồn, những câu chuyện buồn. Thế rồi chiều hôm ấy, cũng buồn như nhiều buổi chiều khác, Liên gánh hàng về nhà, tìm một chiếc túi du lịch, cho vào bên trong tất cả tài sản của cô: ba chiếc áo sơ mi dài tay, ba chiếc quần lụa đen, một chiếc áo mùa đông, hai trăm nghìn đồng để trong phong bì cùng tấm ảnh có chiếc xe ô tô màu đỏ. Hệt như lần quyết định của ba năm trước khi đi Hà Nội lấy chồng, cô không nói với bất kỳ ai, không chào tạm biệt ai. Trước khi ra đến cửa, trước khi ngồi vào sau xe máy của anh trẻ tuổi tên Chương, trước khi rời làng, cô tháo sợi chỉ đỏ vẫn buộc cổ chân cô từ ba năm nay thắt vào chân giường. Cô dẫn anh đi theo con đường ngắn nhất về Hà Nội mà trước kia chỉ dành riêng cho xe đạp. Đi đâu cô không biết, để làm gì cô không biết, chỉ biết là để đi khỏi làng Quyết Thắng, đi khỏi nước Đức xa xôi. Cô đi tìm một happy end. Ngày hôm sau vào tám giờ sáng giờ Hà Nội, tám giờ sáng giờ Sài Gòn, có một thanh niên Việt Nam chợt thức dậy, nhưng đồng hồ lại chỉ hai giờ sáng giờ Béc Linh, bởi một giấc mơ kì lạ. Từ mười lăm đêm nay, đêm nào anh cũng mơ thấy một sợi chỉ đỏ một đầu bò đến quấn chặt lấy cổ chân anh, còn đầu kia không biết nối vào đâu, làm anh không thể nhích nổi một bước. Sợi chỉ nhỏ mà không đứt được. Mười lăm đêm rồi cứ thức dậy là anh lại thấy chiếc gối ướt sũng không biết vì mồ hôi hay vì nước mắt. Rồi không thể nào ngủ tiếp được nữa, anh thức luôn cho tới bảy giờ sáng. Đêm thứ mười lăm anh đánh thức cả cô bạn gái đang nằm cạnh, cũng vào hai giờ sáng giờ Béc Linh, định kể về giấc mơ kì lạ định rủ cô uống nước chè nhưng cuối cùng anh chỉ nói: tại sao người Việt Nam đi đâu cũng khổ. Năm giờ sau cô bạn gái của anh mới tỉnh ngủ hẳn, mới hỏi lại anh: tại sao lại khổ. Anh chỉ bảo tại vì anh nhớ Hà Nội quá, làm cô cứ buồn cười mãi. Vừa uống cà phê sữa buổi sáng vừa ăn nửa chiếc bánh mì quét thịt lợn sống vừa cười ầm ĩ. Cô bảo anh: con trai mà lại lãng mạn. Đến tám giờ sáng cả hai ra đến chợ, cô vẫn còn cười.

Nguồn: Hợp Lưu số 69
Imagine
08-02-06, 21:49
'Nhân vật trong 'Paris 11 tháng 8' là một khối mâu thuẫn'
Phạm Ngọc Lương

Thành công của hai cuốn tiểu thuyết “Made in Vietnam” và “Chinatown” tại VN dường như vẫn chưa làm hài lòng Thuận. Nữ văn sĩ gốc Việt tiếp tục khám phá vùng đất vô cùng của sáng tạo. “Paris 11 tháng 8” thay đổi cả về cấu trúc lẫn ngôn ngữ, thay đổi từ cách viết đến góc nhìn vấn đề, nhưng người đọc vẫn bắt gặp trong đó một phong thái rất “Thuận”. eVăn có cuộc trao đổi với chị.

Tôi muốn người đọc trở nên ngờ vực

Mời đọc tiếp ở đây:
http://www.evan.com.vn/Functions/Wo...603&MaxSub=2603
Imagine
08-02-06, 21:50
Đọc thêm tác phẩm của nhà văn Thuận:

http://www.tienve.org/home/authors/...ow&authorId=164
Sất
09-02-06, 20:01
Bạn imagine cứ như là nội gián mấy bạn Hải ngoại chui vào Tnxm tuyên truyền ý. Đọc thấy người Việt nam mình hèn hạ trong nước sống loay hoay sao mà trốn ra nước ngoài, với ấu trĩ nửa mùa, bi đát ngạt thở lắm.

Mẹ chồng cũng nói rằng chuyện dài lắm nhưng Hiển muốn ở lại Đức khi nào có đủ giấy tờ có đủ tiền sẽ về đón cô đi. Sang Đức thì tha hồ mà đẻ con.
Kiếm&sons
10-02-06, 17:56
Giới thiệu tiểu thuyết Paris 11 tháng 8 :
Công suất điện của Pháp dựa vào hai nguồn chính là nguyên tử (78%) và thủy điện (12%) cuối cùng cũng tỏ ra rất nhạy cảm với những thay đổi bất ngờ của thời tiết. (báo Le Monde Diplomatique, 02/2004)

chú này bỏ phần thủy điện (12%) thì người đọc dễ hiểu hơn. 10% (=100-78-12) còn lại chắc là nhiệt điện ???
Imagine
16-02-06, 19:30
Thuận
Ôi mắt em là ánh nước hồ thu!

Những nhận định của Phạm Xuân Nguyên về tập truyện ngắn Bóng đè khiến tôi nhớ tới thầy giáo dạy văn lớp mười. Thầy giảng rất say sưa, tay bao giờ cũng chém vào không khí: “Tắt đèn là một tác phẩm bất hủ của nền văn học Việt Nam đầu thế kỉ, đi tiên phong trong dòng văn học tố cáo chế độ phong kiến thực dân thối nát đồi trụy. Nghệ thuật của nó là xây dựng nên một hệ thống ẩn dụ sâu sắc. Trong đó, chị Dậu anh Dậu đại diện cho tầng lớp nhân dân lao động bị bóc lột; vợ chồng Nghị Quế là hiện thân của tầng lớp địa chủ thống trị; hành động bán con bán chó của chị Dậu là tượng trưng cho tình cảnh khốn cùng của người nông dân dưới chế độ người bóc lột người; mọi đồ đạc trong gia đình Nghị Quế cũng mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc - chiếc đồng hồ quả lắc bính boong có con chim cúc cu nhảy ra nhảy vào là tượng trưng cho sự phù hoa giả dối phương Tây, câu đối sơn son thếp vàng là tượng trưng cho văn hóa Trung Hoa bành trướng nước lớn, nồi giò lụa kho gừng thái chỉ bà Nghị Quế đưa ra trước mặt con Tí mà không cho nó miếng nào là tượng trưng cho thói ăn trên ngồi trốc, từ đó suy ra người nông dân nuôi ra con gà con lợn mà không có quyền biết miếng thịt, miếng cá là miếng gì...”

Nói tới đây, thầy dừng lại nuốt nước bọt, bốn mươi học sinh chúng tôi bên dưới cũng nuốt nước bọt, một bát cơm rang không mỡ nhập vào bụng trước khi đi học làm sao chống cự nổi các từ giò, thịt, cá, lợn, gà, gừng thái chỉ... Cũng may mà thầy khá nhạy cảm, thầy chuyển sang phần kết luận, tay thôi chém vào không khí, nhưng mắt nhìn mông lung, ba vết hằn rất to ở trán: “Ðoạn kết của Tắt đèn với hình ảnh chị Dậu chạy ra ngoài sân, đầu tóc rũ rượi, váy áo tả tơi, tìm cách thoát khỏi con yêu râu xanh không ai khác là cha đẻ của lão chủ tàn ác, chị không nhìn thấy gì ngoài màn đêm đen tối như cái tiền đồ của chị... đó là cao trào xuất sắc, đưa tác phẩm lên tầm tư tưởng rất cao: màn đêm dày đặc khôn cùng đó, nói rộng ra, chính là ẩn dụ độc đáo cho cái tương lai tăm tối, cái kết quả tất yếu cho tư thế thụ động của tầng lớp bị trị trước khi được giác ngộ giai cấp và được ánh sáng cách mạng chỉ lối đưa đường, họ chấp nhận bị đè đầu cưỡi cổ, chấp nhận cả việc để một thằng già bằng bố bằng ông mình giơ tay bóp vú...”

Nói tới đây, thầy cũng nuốt nước bọt, bốn mươi đứa học sinh chúng tôi không nuốt nước bọt, phim porno hồi đấy xa xỉ lắm nên đầu óc chúng tôi khá trong trắng, chỉ có cái bụng là sôi réo...

Dài dòng kể chuyện thầy giáo dạy văn lớp mười cũng chỉ để nói rằng cách diễn nôm văn học quả là quá dễ dãi. Học sinh và độc giả chẳng biết thêm điều gì về tác phẩm ngoài những lời nhận xét chung chung mà ai cũng có thể phán không mấy khó khăn. Lớp chúng tôi hồi đấy thích tiết văn hơn tiết toán, tiết lý, tiết hóa... chỉ bởi vì kiểm tra mười lăm phút hay bốn mươi lăm phút, chẳng cần chuẩn bị bài, chẳng cần học thuộc định lý, định nghĩa, chẳng cần biết chuyển động Bờ-rao, vòng tròn đồng tâm, phương trình phản ứng hoá học ô xy già... mà vẫn viết la liệt vài trang giấy học sinh những ám chỉ, tượng trưng, ẩn dụ, những xuất sắc, độc đáo, bất hủ, bất diệt, tuyệt tác, những từ đó suy ra, từ đó nâng lên, sâu hơn nữa, rộng ra, rộng ra nữa...

Có lẽ không cần nhờ Phạm Xuân Nguyên thì nhiều độc giả cũng biết suy luận: bàn thờ tượng trưng cho quá khứ, phụ nữ tượng trưng cho nhược tiểu, thương gia Trung Hoa tượng trưng cho nước lớn láng giềng, còn tấm thân hình chữ S thì chẳng là tổ quốc Việt Nam mến yêu nghìn năm thì nước nào vào đây nữa hở trời?

Mỗi tác phẩm có một số phận, tự tìm được cho mình những độc giả đồng cảm, những nhà phê bình tương xứng. Tôi không biết thực sự trong đầu thầy giáo dạy văn lớp mười nghĩ gì. Có lẽ thầy không có cách phê bình nào khác, ngoài cái cách nhắc lại giáo án giảng văn, thầy nói hăng say chỉ để bốn mươi đứa học trò chúng tôi không ngủ gà ngủ gật, để làm yên những cái bụng đang sôi réo của cả thầy lẫn trò. Ngô Tất Tố nếu chẳng may theo thầy hiệu trưởng, cô hiệu phó và chuyên viên Sở Giáo dục đến dự giờ thì có lẽ cũng không bất ngờ trước cái cách phân tích dễ dàng đó: hầu như trong tất cả các bài viết liên quan đến Tắt đèn, người ta cũng chỉ đọc được những câu đại loại như vậy. Ngô Tất Tố không bất ngờ nhưng có bất bình hay không, tôi không biết, nào có ai biết, người ta vẫn nói về ông như một nhà văn hiền lành, kín tiếng; huyền thoại không để lại nhiều trừ tác phẩm Tắt đèn vài thập kỉ liền được chọn làm đề thi văn cuối lớp, cuối cấp, vào đại học, đề thi học sinh giỏi toàn thành phố, toàn miền Bắc, toàn quốc...

Tôi không biết Ngô Tất Tố có bất bình hay không trước cách bình giảng Tắt đèn của các thầy giáo, cô giáo dạy văn lớp mười. Nhưng tôi cho là Ðỗ Hoàng Diệu không bất bình trước cái cách phân tích Bóng đè của Phạm Xuân Nguyên, đọc tập truyện ngắn Bóng đè người ta không thể không nghĩ tới các tượng trưng, ẩn dụ, ám chỉ mà tác giả cố tình phơi bày, và trong các bài phỏng vấn báo chí, chị cũng nhiều lần nhấn mạnh muốn gửi đến độc giả các tư tưởng mà theo chị là cao cấp.

Tôi không bàn về những lời nhận xét của Phạm Xuân Nguyên vì thực ra mà nói, cái cách diễn nôm đó có thể kéo theo vài toa tàu nữa cũng không sợ trật đường rày: đàn ông tượng trưng cho quyền lực, đàn bà để ám chỉ thân phận, mẹ chồng là hiện thân của truyền thống, đôi mắt rất có thể là ẩn dụ của tâm hồn, trái tim là tình yêu, đôi tay giơ lên là ước mơ, hy vọng... nghĩa là không chắc có đúng hoàn toàn không nhưng không sai, hoặc không sai lắm. Cần nói thêm ở đây là chỉ đối với những tác phẩm dạng Bóng đè thì phép diễn nôm mới được áp dụng mạnh mẽ, thử nhìn sang những nhận xét của Phạm Xuân Nguyên về nhóm Mở Miệng thì đủ biết là phép diễn nôm đó có vẻ mất công dụng lắm rồi.

Theo cách đánh giá của tôi, tập truyện ngắn Bóng đè chẳng kém cỏi, cũng chẳng xuất sắc hơn các tác phẩm văn học tầm tầm hiện nay ở Việt Nam, nếu có điều gì đáng nói thì chỉ là sự nhịêt tình và kiên nhẫn của một người kể chuyện. Tôi sẽ không mất công dành cho nó nhiều thời gian suy ngẫm. Chỉ xin nêu ra đây một vài ý nhỏ.

Có cần nhắc lại rằng trong văn chương, ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng, nó quyết định tác giả có phải là một nhà văn hay chỉ là một người kể chuyện thông thường. Ðọc Bóng đè, cố bao nhiêu cũng không thoát khỏi cái cảm giác ngôn ngữ của tác giả chỉ giới hạn trong vô vàn mỹ từ dễ dãi nhằm chuyên chở ý tưởng. Em cô độc, em một mình cô độc với chiếc váy cưới, với tấm hình anh để trên bàn lung lay... Về sau tôi biết mình đã đánh mất điều quý giá nhất buổi trưa hôm ấy. Chúng đã cướp mất cuộc đời con gái khi vừa chớm đến, khi tôi vừa mới biết xỏ tay thành thạo vào chiếc su chiêng... Mẹ vào phòng, hôn nhẹ lên trán tôi, tắt tất cả những bóng đèn tôi đã cố tình bật lên vài phút trước. Ngủ đi con, ngày mai còn có sức... Ngày mai tôi lấy chồng. Ðây là đêm cuối cùng tôi ngủ trên chiếc giường con gái. Tôi muốn nhìn lần cuối căn phòng đã che giấu cho tôi suốt quãng đời thiếu nữ, che giấu những nẩy nở thân xác và che giấu cả những giọt nước mắt hạnh phúc con người... Những đoạn như vậy nhiều vô kể trong Bóng đè, cũng nhiều vô kể trong các bức thư nữ sinh trung (đại) học gửi chị Thanh Tâm của báo Phụ nữ.

Nhân vật của Bóng đè xuất thân từ các thành phần khác nhau nhưng dường như bỏ phiếu thuận cho vài chiếc khuôn đã được đúc sẵn bởi Tự Lực Văn Ðoàn, Lệ Hằng, Quỳnh Dao...:

nữ: xinh đẹp, đáng yêu, tràn trề nữ tính, coi trọng trinh tiết, luôn được cảm tình của mọi người, được ai đấy cứ vừa gặp là thốt lên vài câu cảm thán, không cần có đúng chỗ hay không, không cần có vần, không cần có điệu: Cô em xinh thế này mà nhà cũng có chuột sao?... Em nói em không xinh đẹp ư? Trời ơi, em bằng xương bằng thịt ôm bó hoa hồng đứng cúi mặt khi thoáng thấy anh. Em xinh xắn và quyến rũ quá đỗi... Cô gái, cô có biết mình đáng yêu không?... Chào em, hôm nay em xinh quá! sao lại đi một mình? Anh xuống nói chuyện cùng em nhé?...


nam: không Việt kiều trí thức thì ngoại kiều (được tác giả nhấn mạnh là Mỹ trắng và thương nhân giàu có...), nếu mang quốc tịch Việt thì hoặc dòng dõi đế vương, hoặc giáo sư uy quyền, hoặc tất cả các ưu điểm gộp lại đẹp trai, hào hoa, nổi tiếng, giàu có... Vài người trong bọn họ chẳng ngần ngại tuyên bố rất kinh hoàng: “Tôi cho em sung sướng, tôi cho em tất cả, tôi là Hoàng thượng của em, em hãy tận hưởng đi!”...
Ðọc Bóng đè là đỡ mất công xem truyền hình nhiều tập Hàn Quốc, ngắm nghía các bộ ngưc tròn trịa với bờ vai, đôi cánh tay mịn màng... để vừa rút mùi xoa vừa sụt sịt chuyện tình mùi mẫn. Tôi ngờ rằng nếu ra đời cách đây hai, ba thập kỉ, khi điện ảnh Hàn Quốc chưa đổ bộ vào Việt Nam, Bóng đè hẳn tranh hết khách của cải lương Sài Gòn.

Các xen tình ái trong Bóng đè bội thực mỹ từ, phép so sánh và chao ôi! Chao ôi! Nếu ai đã từng đọc “Man nương” của Phạm Thị Hoài sẽ mỉm cười khi đọc Bóng đè. “Man nương” chọc ghẹo thế này: “Nghe nói phải từ từ gỡ hai khuy áo trên. Phải sững sờ vài giây trước điều kì diệu thấp thoáng rồi có hai cách, hoặc vừa dịu dàng cúi xuống đặt môi vừa khe khẽ ngắm như thể đấy làm bằng pha lê bằng sứ Tàu bằng ngọc lan bằng hai giọt sương khổng lồ, hoặc tay phải bao giờ cũng là tay phải có một nhà văn đã nói về nỗi bất hạnh của những kẻ thuận tay trái cuống cuồng mơn nắn vò xé từ bên này qua bên kia từ bên kia qua bên này như thể chẳng kịp như thể nó sắp đột ngột vượt lên thách thức... Còn em, em phải cong người ra phía sau cong mãi cong mãi con tôm của tôi chiếc lạt của tôi. Tôi mãi muốn làm mái vòm linh động rủ theo em...”. Mười ba năm sau, Bóng đè không hiểu vô tình hay cố ý mà rơi đúng vào sự chọc ghẹo đó: “Hai núm vú cô gái vươn cao và cong lên mãi, anh với miệng theo không kịp. Những dòng sữa mát lạnh tuôn chảy vào miệng anh từ đôi bầu vú căng đầy, miệng anh không kịp hứng. Chảy xuống bụng anh, xuống đùi anh làm anh cúi với theo. Chao ôi! Anh cúi xuống, cúi xuống nữa, phía dưới chiếc bụng phẳng mềm của cô là cả một bức tranh anh chưa từng thấy. Bức tranh ấy ưỡn cong giấy lụa nhích sát về phía anh. Nó toả ra hương vị đặc biệt. Anh chẳng biết gì nữa kể từ lúc ấy...”. Tôi quả thực không hiểu được bức tranh giấy lụa ở đây là gì? Làm tình mà cũng đánh đố trí thông minh của nhau như thế này thì trí thức thật!

Xin mở ngoặc ở đây là tôi không có ý định lấy “Man nương” làm tiêu chuẩn cho Bóng đè. Tôi chỉ để hai trích đoạn cạnh nhau để thấy chúng liên quan đến nhau thế nào, những trường hợp như vậy cũng khá hiếm trong văn học.

Bóng đè có vẻ đang đặt ra nguyên tắc (vật lý học hiện đại?) cho tình dục: âm đạo chỉ chảy nước khi trước mặt là “hoàng tử”, dương vật chỉ cương cứng khi đối diện với “lọ lem”. Tôi sợ là lọ lem và hoàng tử hiếm như lá mùa thu, nguyên tắc tình dục khó khăn thế, tám mươi triệu nhân dân Việt Nam (anh hùng) có lẽ sẽ trở thành thị trường vi-a-gờ-ra béo bở nhất thế giới. Uy-nét-xì-cô chắc phải ra tay tiếp viện. Người Việt Nam thấp bé nhẹ cân có hy vọng được mua thuốc kích thích loại nhẹ, giá cung cấp nội bộ?

Ðó là một vài suy nghĩ của tôi về Bóng đè. Những thành công của tác phẩm này mà người ta cố đưa ra như dân tộc, truyền thống, ám chỉ, tượng trưng, theo tôi, không có gì là mới mẻ, chúng đều ra đời từ lâu, và cũng không được Ðỗ Hoàng Diệu cho thêm sáng kiến nào.

Mỗi độc giả có cách đọc riêng của mình. Tương tự, những người cầm bút theo đuổi những mục đích sáng tác khác nhau, các nhà phê bình áp dụng các phương pháp chuyên môn khác nhau. Tuy vậy, theo thiển ý của tôi, nếu ai đó muốn đề cao Bóng đè thì nên tìm những cách độc đáo hơn một chút. Chẳng lẽ cứ nói đến Bóng đè là phải dân tộc, truyền thống, ám chỉ, tượng trưng... Chẳng lẽ để ca ngợi một đôi mắt, chẳng còn câu nào ngoài cái câu muôn thuở: “Ôi, mắt em là ánh nước hồ thu!”

© 2005 talawas
Imagine
16-02-06, 19:32
Mời đọc thêm phỏng vấn tác giả Thuận tại đây:

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=871