Tiểu thuyết Lê Thị Thấm Vân

Imagine
03-02-06, 08:21
Tiểu thuyết Xứ Nắng của nhà văn Lê Thị Thấm Vân.

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=2858

Hồ Trường An
Ðọc Xứ nắng của Lê Thị Thấm Vân

Tiểu thuyết Xứ nắng đánh dấu lối rẽ mới, hoặc nói theo một cách khác, là một cuộc lột xác trong bút trình của nhà văn Lê Thị Thấm Vân. Ðề tài mới. Cách dựng truyện mới. Cấu trúc mới. Khí hậu (climat) mới. Bút pháp cũng mới luôn. Có thể nhiều độc giả sẽ nhăn nhó khi đọc một vài chương trong tác phẩm. Họ như bị ánh đèn pha lóa mắt và hỗn láo tạt lên mặt, khiến họ choáng váng và xây xẩm.

Trước khi đi vào tác phẩm, xin quý vị đọc những lời giới thiệu giản lược ở bìa sau, dưới tấm ảnh của tác giả:

“Xứ Nắng nói lên những thao thức, tìm kiếm về cội nguồn, thân phận mà chúng ta thường chạm mặt nơi những phụ nữ gốc Á Châu lớn lên tại Hoa Kỳ. Giữa những di tích của thế giới cũ, của truyền thống, Xứ Nắng biểu hiện một vươn mình xác quyết cá tính, sức mạnh cũng như khát vọng của người phụ nữ trong một thế giới mà đa số những giá trị cố hữu đang được nhìn lại.”

Cốt chuyện trong Xứ nắng quá gầy gò ít ỏi. Chỉ là chuyến về thăm Dục Mỹ của một nữ nhân vật xưng tôi, nơi đó gia đình bên chồng của cô ta hiện đang cư ngụ.

Như thế, cội nguồn trước hết phải hiểu theo nghĩa đen: đó là quê hương đất nước Việt Nam. Còn thân phận ở đây là thân phận kẻ vì vận nước mà phải vong gia khứ quốc. Tác giả đã viết như sau:

“... Yêu thương có cần phải học không?

Hiểu biết, trí tuệ có giúp con người đỡ ra hay tệ đi? Có phải bớt nghèo khổ thì con người đối xử với nhau tử tế hơn không?

Tôi chập chờn thấy mình trôi tuột theo dòng văn hóa Việt. Trở về nguồn cội, tấm lòng mềm nõn như lá tre lá ổi lá dừa. Sự thủy chung như đất cát ngàn năm phơi mình trong biên giới quê cha đất mẹ. Tôi không có sợi giây nối từng khúc ruột liền nhau, hay cuộn tròn, hoặc thắt gút, buộc chặt lòng. Tôi tìm về Việt Nam qua sách vở, kinh nghiệm dòng họ, gia đình và chồng.” (trang 132)

Người cha chồng đã khuất núi từ khi độc giả bước vào tác phẩm. Còn người mẹ thì mất trí mà nữ nhân vật xưng tôi gọi là người đàn bà không đầu (không còn đầu óc nhận biết và phán đoán). Tác giả nhắc lại mẹ chồng hồi còn xử nữ bị ông chú họ cưỡng bức, ôm hoang thai. Ðẻ xong đứa con gái thì bà đem cho kẻ khác. Bà căm tức xé nát tấm ảnh Ðức Mẹ Ðồng Trinh và vứt xuống cầu tiêu. Rồi bà lấy một người đàn ông có gia cảnh và địa thấp kém hơn gia cảnh và địa vị của bà. Chồng bà nghiện rượu, hễ khi nào say sưa là chửi bới vợ và nhắc lại cái lỡ lầm không cố ý của vợ. Trong việc bà thất thân với ông chú họ, ông chồng bà chưa hề biết bà chỉ là nạn nhân chứ không phải là tội nhân.

Trong 5 người con trai thì người con trai đầu lòng tên Tịnh, một tân binh quân dịch chết vì viên đạn bất cẩn của tên bạn đồng khóa lúc thử súng. Người con trai thứ hai tên Quyến bỏ nhà đi hoang rồi biệt vô âm tín. Người con thứ ba tên Ðức, chồng của nữ nhân vật xưng tôi, được may mắn nhất trong 5 anh em, được di tản sang Hoa Kỳ và được ăn học chu đáo. Người con trai thứ tư tên Trinh đẹp nhất trong anh em, rủi thay khi làm nghĩa vụ quân sự bên Căm-pu-chia bị miểng đạn pháo làm toạc một mảnh da mặt và trở nên xấu xí vì bị khâu vá cẩu thả. Còn người con trai út tên Hoán có tật bẩm sinh: một chân đương sự chỉ có thịt mà không có xương, đương sự lại câm nín, lầm lì, ngô nghê... và thuộc loại gay nên có lần đánh cắp son đỏ và quần lót của chị dâu mình để làm đỏm. Trong truyện, cha chồng cùng hai người anh chồng vắng mặt ngay từ đầu, và chỉ được tác giả nhắc sơ qua vài dòng.
Imagine
03-02-06, 08:22
Người chồng tên Ðức được kể lại ở mấy chương đầu trước khi nữ nhân vật xưng tôi chưa về thăm Dục Mỹ. Nhưng về sau anh không xuất hiện theo chiều xuôi của diễn biến câu chuyện. Anh chỉ được nhắc nhở loáng thoáng trong những mảnh vụn của ký ức nữ nhân vật chánh kia khi cô ta còn ở Dục Mỹ. Ðây là kẻ tuy thành công nhất trong 5 anh em, nhưng cũng không tránh khỏi một vài bất hạnh khá quan trọng trên đường đời. Anh ta lấy cô vợ Mỹ tên Melissa. Một hôm anh từ sở về nhà sớm, bắt gặp nàng và cô bạn chung của hai vợ chồng anh đang hành dâm với nhau. Sau cuộc ly dị, anh được giữ đứa con gái tên Alyssa và rồi tái hôn với nữ nhân vật xưng tôi. Anh ta nuôi mộng viết văn. Nhưng tác phẩm anh không được nhà xuất bản nào đón nhận; rốt cuộc nó vẫn chỉ hoàn bản thảo. Anh ta về Dục Mỹ thăm mẹ 3 lần. Tiền anh gửi về phần lớn chui vào cuộc rượu chè say sưa của ông bố. Sau khi ông ta nằm xuống, mẹ anh dần dà điên loạn. Người con hiếu thảo trong gia đình đó vì gánh nặng, thêm chuyện đau lòng về cô vợ Mỹ, nên mang tật nói mớ những câu bí hiểm liên tu bất tận trong giấc ngủ. Xin cùng đọc 3 lần về thăm nhà của Ðức dưới ngòi bút buồn thảm và thương tâm của Lê Thị Thấm Vân:

“Lần về thứ nhất.

Ðàn bà ba miền bận áo thâm quần đen như nhau, nhưng anh nhận ngay ra mẹ. Mẹ níu áo anh, hít hà da thịt anh. Con về đây hả Ðức? Mẹ không tin là còn sự sống. Phải là phép nhiệm mầu. Ngày đầu tiên về, những con đường cụt Dục Mỹ không một làn gió. Ngày cuối anh rời, trời mưa làm đất Dục Mỹ dẻo quẹo, trồi lên giữa những kẽ chân.

Lần về thứ nhì.

Còn một chút nhận ra. Những gói vải lụa, xoa, sa-tanh, mỹ-á mẹ gói gọn, xếp ngay ngắn, cuộn chặt cất dấu trong rương. Sao mẹ không may mà mặc? Anh nói, vừa thương xót, vừa bực bội. Ðể dành. Mẹ nói nhỏ. Mẹ để dành cho ai? Mẹ nhìn anh bối rối lẫn lấm lét. Anh nhói dạ. Mẹ xem áo mẹ đang mặc sờn vai, bẩn thỉu, hôi... Anh nghẹn. Thì mặc lâu ngày sờn vai, bẩn thỉu... Mẹ định nói gì thêm, nhưng thôi, rồi cười. Những chiếc răng còn lại dơ bẩn hơn cả màu áo mẹ đang bận. Cái hang sâu hoắm luồn sâu vào cống rãnh. Bốc mùi. Bao lâu rồi mẹ chưa tắm?

Anh cầm tay mẹ dẫn vào nhà tắm. Hứng nước đổ đầy thau, cởi áo cho mẹ rồi ra ngồi đợi trước cửa nhà tắm. Chưa bao giờ cổ anh đắng ngắt như thế. Nước mắt anh cứ thế trào ra.

Anh nghe tiếng nước xối, nhè nhẹ, đứt quãng. Mẹ ơi... mẹ ơi, anh gọi. Mẹ trở ra, đầu không ướt nước, lại cười, hở lợi, anh cười theo. Bộ đồ mới, nếp gấp sắc nhọn. Mẹ đừng để dành, rách con may thêm cho mẹ, mẹ nhé!

Anh nghĩ tới ngày xưa. Giờ đã xa như tuổi ấu thơ. Anh muốn nói một câu sâu tận đáy lòng nhưng không thể, không được, và sẽ chẳng bao giờ có dịp, có cơ hội... Hoàn toàn bất lực. Những tấm áo cũ đắp vá, móng tay cáu bẩn, ghẻ mụn tanh hôi, dép đứt quai, nước dãi mũi, quẹt cánh tay trần. Tuổi thơ của con, của anh em con, của gia đình mình, mẹ ơi!

Lần về thứ ba.

Cả quần cả áo cả tóc cả móng tay móng chân lông cáu ghét cân nặng chưa tới 70 pounds. Người đàn bà đó là mẹ anh ư? Ðầu bà còn đó, nhưng bà không còn đó. Bà còn, bà còn, phải bà còn đó. Tự trấn an dỗ lòng. Phải còn có cái gì chìm sâu khuất nẻo trong đầu bà chứ? Giòng máu, tế bào luân lưu di chuyển trong thân xác bà chứ!

Nhiều đêm anh nằm cạnh mẹ, mẹ như con mèo lả bệnh, gói gọn mất hút trong anh. Sáng sớm choàng thức, lông bám đầy hai cánh tay anh. Mùi khắm chua tanh.

Nhiều đêm. Anh nghe tiếng mẹ gọi. Từ tinh cầu gió. Lồng lộng gió. Chứa toàn gió. Con ơi! Ðức ơi!

.....

Một sáng, anh xổ tung khăn đầu mẹ, trời ơi! một ổ chấy, cả rừng chấy lúc nhúc, đen, nâu, nhạt... anh ghì... chấy rơi rụng rớt níu lấy nhau, níu lấy mẹ, níu lấy anh. Buông mẹ ra. Người anh toàn chấy.

Thế giới chấy hút hết sức lực, máu thịt mẹ. Những sợi tóc loe hoe không sắc màu. Cả đời anh chưa một phút hình dung. Những mái tóc con gái, đàn bà anh từng đặt tay vuốt vò ghì hôn rậm rạp, dầy mỏng, thưa thớt, quăn tít, mỏng manh, thời trang, nhuộm màu, uốn ép, dài ngắn, bù xù, cũn cỡn, thẳng đuột....

Còn tóc mẹ anh!

Anh kiếm cái kéo. Hớt sát chân tóc. Mẹ ngồi yên, ngô nghê. Anh gội đầu cho mẹ, mẹ ngồi yên. Những đầu ngón tay anh nham nhám. Cả thế giới chấy rơi tuột xuống cống rãnh, sau hiên nhà.

Anh quên mất nụ cười của mẹ.

Anh quên mất giọng nói của mẹ.” (trang 48-50)
Imagine
03-02-06, 08:24
Tuy không là điểm then chốt trong Xứ nắng, nhưng dục tình vẫn là điểm quan trọng làm chúng ta phải nghĩ ngợi về sự thèm khát hành dâm giữa cậu Trinh và nữ nhân vật xưng tôi. Chúng ta không hiểu nữ nhân vật thèm muốn Trinh do động lực nào, yếu tố nào, nguyên nhân nào thúc đẩy. Trinh là đứa con trai đẹp nhất nhà trong đám ngũ hổ. Nhưng đó chỉ là lời bà mẹ nói ra. Ðến khi nữ nhân vật xưng tôi gặp gỡ thì Trinh mang vết tàn phá bên nửa khuôn mặt. Cậu ta nói ít, suy nghĩ ít, hiểu ít, hơi ngu ngơ. Có thể có độc giả cho rằng nữ nhân vật xưng tôi mang bệnh cuồng dâm (nymphomanie), vắng đàn ông thì chịu không nổi cơn ngứa ngáy nhục dục hành hạ. Nhưng có một điều mà chúng ta khó lòng phủ nhận: cô ta thương xót cuộc đời lận đận, nhục nhằn của Trinh. Ở đây, tác giả chừa một khoảng trống trong câu chuyện để độc giả lấp đầy sự suy nghĩ và những điều tưởng tượng của riêng mình. Về phần Trinh cũng vậy. Tác giả cũng không nói thôi thúc nào đưa cậu ta thèm khát chị dâu mình. Ðộc giả tha hồ đoán mò một cách giận dữ (về tội loạn luân của cậu ta). Hoặc họ xót xa tội nghiệp cậu ta vì xấu xí nên chưa toại nguyện việc thỏa mãn dục tình với một cô nào, trong khi người chị dâu xinh đẹp cậu ta là kẻ từ đất nước Hoa Kỳ về thăm nhà chồng, mang theo cái phong thái văn minh và sức cám dỗ mãnh liệt.

“Lại thêm một trận mưa rào. Mưa chảy ào ào dọc theo máng xối. Âm thanh vỡ òa. Tiếng chó tru một hơi dài. Tôi thiếp đi...

Không biết bao lâu... Thời gian.

Có cái bóng ai đó đứng đầu giường. Cái bóng vuốt ve mái tóc chảy dài của tôi. Ðêm im lắng. Sâu thẳm. Người đàn bà cụt đầu? Không phải. Không thể nhẹ nhàng và run rẩy như thế. Bàn tay của ai? là ma hay quỷ? Tôi đang mê hay tỉnh? Mặt tôi giáp vách. Tay trái duỗi theo thân hình. Bấu mạnh vào da, có cảm giác. Cảm giác truyền nhận đến trí óc. Mùi đàn ông. Mùi đất-đá-khói-súng-máu-lửa. Bàn tay đói tình. Bàn tay của Trinh.

Tôi nằm yên như thế. Chắc nịch và chính xác.

Bàn tay vuốt ve. Ôi! rất đỗi mềm mại.

.....

Cái mùng khẽ lay động.

Ai đã bỏ cục đá lạnh vào lò nướng? mà đá vẫn còn nguyên.

Bàn tay vuốt ve mái tóc, chạm khẽ vai trần. Im lặng, nín thở, tích-tắc-tích-tắc-tích-tắc.

Tôi chờ đợi một tiếng rú, tiếng thét, tiếng nổ, tiếng gào.

Bàn tay khẽ vuốt mạnh. Cái vuốt mạnh bất thường làm chân phải tôi co giật. Bàn tay rút nhanh. Cái lò xo bật tung. Cái bóng phóng nhanh.

Tôi mở mắt. Bóng phóng là Trinh.” (trang 92-93)

Một tác phẩm có nhiều đoạn nóng bỏng tình dục là cái cấm kỵ bén nhọn nhất đối với những kẻ hay hổ thẹn, quen thói đạo đức giả lỗi thời. Lại nữa, còn vụ chị dâu và em chồng nghĩ đến thú cụp lạc nhau, cái mà người Việt Nam chúng ta từ nghìn xưa tới ngày nay cho là loạn luân, là phi đạo đức. Và lại nữa, cái chiêu cảm lạ lẫm của nữ nhân vật xưng tôi rất oái oăm đối với những kẻ có tâm địa hẹp hòi, thiếu thông cảm, khi họ gặp đoạn cô ta áp mặt vào hạ bộ mẹ chồng. Cái chiêu cảm đó không giống cái chiêu cảm phổ quát của đa số độc giả. Nó làm cho những ai mang sẵn thói quen bất biến bị đóng khung trong cuộc sống đầy dẫy nguyên tắc nầy phải nhăn mặt, nếu không bảo là lợm giọng. Dù đoạn này được tác giả tô phết một lớp mạ vàng bạc bóng bảy đi nữa, được trang điểm với vài câu thời thượng đẹp như nạm ngọc đi nữa, nhưng lối miêu tả lạ hoắc kia vẫn đứng lạc lõng ngoài vòng ấn tượng và ngoài cõi cảm nhận của họ.

Về tình dục, lúc đầu tác giả còn viết một cách dè sẻn, còn phân vân về những cấm kỵ do nguyên tắc đạo đức đặt ra, nhưng càng về sau, chị càng tuôn ra hơn, rỉ rả nhưng cũng đủ thấm ướt ấn tượng người đọc. Tình dục hiện diện trong tác phẩm, lạ thay không khích động cái thèm khát ái ân của những tâm hồn độc giả nhạy cảm. Nó chỉ nêu lên những điều rất nhân bản, và nhất là làm độc giả cảm thấy bi thiết về những cái yếu đuối, những nhu cầu thúc bách một cách tội nghiệp của thân xác con người. Ðây mới là cái kỳ đặc nâng cao giá trị của tác phẩm chứ không hạ thấp tác phẩm xuống hàng dâm thư như bọn đạo đức giả đánh giá qua một thành kiến nghiêm khắc và qua sự ương ngạnh thô bạo. Công việc này chẳng mới mẻ gì. D.H. Lawrence (David Herbert Lawrence) qua cuốn Lady Chatterley’s Lover, điện ảnh gia kiêm nhà văn Elia Kazan qua cuốn The Arrangement (Nguyễn Hữu Ðông dịch thành Trở lại thiên đường), Roger Peyrefitte qua cuốn Roy, nữ sĩ Pháp Régine Desforges qua cuốn Blanche et Louise cũng đã viết về cái sex, những thảm kịch hay thiên lương xoay chung quanh sex. Kẻ thì dùng sex để ca ngợi khía cạnh tích cực của sự sống, còn người trình bày cái tiêu cực của nó. Nhưng dù trình bày cái tích cực hay tiêu cực của sex, các nhà văn này đều muốn tìm lại nhiều điều nhân bản của con người hiện hữu trong tác phẩm mình. Xin cùng đọc đoạn nữ nhân vật xưng tôi cùng Trinh trên đường từ nghĩa trang trở về nhà:

“Tôi ôm chặt người Trinh, hai bầu vú áp sát lưng Trinh. Cho Trinh đỡ sợ và tôi không bị ngã. Một thoáng giây vụt hiện đến, tôi biết, biết mình không nên làm như thế.

Ở Việt Nam, nhiều điều không nên làm như thế.

Ở Việt Nam, tại sao làm như thế.

Ở Việt Nam, không dự định, không sắp đặt, không biết trước. Bước chân kế có thể rơi lọt xuống hố sâu.

Giờ thì tôi biết tôi đang ôm sát người Trinh. Trên đường từ nghĩa địa về nhà. Nghĩa địa nơi có bố chồng anh chồng đã rục xương rã thịt. Con dâu, em dâu sao chẳng thắp cho một nén hương. Khấn vái trò chuyện thủ thỉ đôi câu.

Mặt trời hung dữ. Ðầu tôi nhức buốt. Tôi nhắm nghiền mắt, áp mặt vào vai Trinh. Tôi cần chỗ tựa. Nhưng sao...

Hai tai tôi vẫn vểnh như tai chó.

Hai mũi tôi vẫn thính như mũi chó.” (trang 86)
Imagine
03-02-06, 08:26
Nữ nhân vật xưng tôi về thăm quê chồng nhưng không có chồng theo. Cậu em chồng tên Trinh cứ quét cặp mắt thèm thuồng khắp người nàng. Và ý nghĩ thông dâm và hành lạc với cậu ta cứ ám ảnh cô chị dâu không ngớt. Ở đây tác giả diễn tả bóng bảy, nhưng chị không để cho ai muốn hiểu sao thì hiểu. Có thể là nữ nhân vật xưng tôi muốn để cho Trinh cụp lạc với cô ta trong cái đêm Trinh ngủ gần chỗ ngủ của cô ta. Nhưng không bao giờ tác giả để cảnh thông dâm thực sự xảy ra. Cảnh ấy cũng chỉ thuần túy được phác họa, hoặc chỉ được vẽ vời chập chờn trong cõi mường tượng và trong cõi tưởng tượng khao khát của cô ta, như lúc cô ta đi chơi với Trinh trong chốn hoang sơ tịch mịch. Cái loạn luân chỉ trong ý nghĩ, trong cái thèm muốn của Trinh và của cô ta mà thôi.

“Gã con tai nằm dưới kia, cách tôi một cái xoạc chân, qua lớp mùng mỏng, tựa sương khói. Màu da đất nung.

Vẻ ngu ngơ khờ khạo của hắn càng làm tăng cơn cám dỗ tột đỉnh. Ðành chịu. Chắp hai tay ép giữa đùi, quặn cong người. Co thắt. Nhắm kín mắt, nuốt ực ngụm nước miếng.

Họng núi lửa phun trào.

......

Tiếng heo ré, xé toạc màn đêm, xé toạc tôi.

Một góc nhỏ trên mặt đất này. Sự thể bùng vỡ bất ngờ. Khuôn mặt gã con trai với một nửa bên vết sẹo khâu vá vội vàng. Một mạng sống. Nghĩ ngợi, muôn vàn nẻo lối bào chữa cho mình, như giống đực cả hàng ngàn năm. Mê gái chân quê, nông thôn, nhà mùa, mùi mạ non, gót chân lấm phèn chua, tẩm mùi biển mặn. Ai ban cho họ đặc quyền, sao không là mình? Trinh, gã thanh niên ngô nghê, khờ khạo, xỏ mũi, nói ít, hiểu cũng ít. Mãnh lực hấp dẫn hay tội tình tội nghiệp? hay chỉ lưu giữ tôi qua cơn hoảng loạn nơi chốn này?

Và góc tối, là kẻ đồng lõa.

Thôi chịu, cứ để tuôn chảy như đê vỡ. Ðời sống nơi đây từng khắc, từng giây kéo dài. Sống tự nhiên, hết mình. Lên rừng đào đất tìm đá. Thời đất trời sơ khai. Không thành kiến. Không lý giải. Không phân biệt. Không luận cứ.

Thằng Út thích tô son đỏ, bận quần lót lụa màu hoa cà, đã sao?” (trang 106-107)

Ðoạn nhân vật nữ tự mình làm cho mình khoái lạc (la masturbation) dù chỉ được diễn tả bóng gió, nhưng cũng đủ gây sửng sốt bàng hoàng cho những độc giả chưa bao giờ tiếp xúc với văn chương táo bạo. Tác giả không diễn tả rõ chủ đích của mình. Chị như con ruồi bò lòng vòng quanh miệng hũ, miệng chén rồi mới rón rén buông mình vào lòng hũ, lòng chén. Nhưng tới điểm đích, chị giáng xuống những chữ thật nổ vang dội, những cụm từ rất tượng hình. Công việc gây cái thẩm mỹ va chạm (esthétique de choc) sau cách diễn tả ý tình một cách quanh co khéo léo ấy phát xuất từ óc tế nhị bén nhạy của tác giả. Bởi thế nó gợi lên nét phóng bút sỗ sàng và hùng tráng trên nền giấy vẽ mờ vóc gấm bóng hoa:

“Tôi đi vào phòng tắm, lần mò như kẻ bị móc mắt, nhưng cũng quyết chí đi. Như kẻ vượt tù, tin chắc rằng chân trời chỉ cách mình một cái nhảy cao. Vượt biên, thõng chân xuống nước là chạm phải mặt đất. Cậu Thịnh kể chuyện vượt biên tám lần mới lọt, lần nào cũng như xem phim trinh thám. Còn tôi đây, đang dọ dẫm bước từng bước trên thềm xi-măng, lòng bàn chân mát lạnh, tay bám vào những gì có thể bám. Thần trí lùng bùng. Ði theo tiếng gọi của thể xác, trong tôi. Thằng Út nằm phơi mình ngoài sương đêm. Cu nó có ngổng không? Nhưng biết chắc một điều, khi nằm, nó bình đẳng như mọi người. Bước qua Trinh, tôi dừng, tích-tắc, tích-tắc từng lỗ chân lông bung nở, tỉ tỉ sự sống cựa quậy. Bước thêm bốn bước, rẽ trái. Bóng đêm đồng lõa, gió đêm rủ rê, khoảng sân mờ ảo mời mọc. Ðầu gối đụng phải bàn ăn, tôi cắn chặt môi dưới. Băng qua bếp, mùi thức ăn trong bóng tối xông ra, đầu đụng chùm nem chua treo lủng lẳng như bùa chú. Tôi dừng, định thần, tiếng mèo hoang phóng nhanh trên mái nhà. Trăng sao biền biệt.

Cánh cửa phòng tắm bật tung...

Tôi chịu hết nổi, tuột gấp quần, chỉ kịp qua khỏi đầu gối. Tôi ngồi bệt xuống sàn xi măng ẩm nước, góc tường lạnh thấm qua lưng, hất cái ghế đẩu nhựa sang một bên, ngón tay tôi run run đút sâu... luồn lách qua từng thớ thịt khe rãnh nhầy nhụa ấm nóng. Sóng cuồn cuộn trên vũng bụng. Ngón tay hút chặt. Ðầu môi con bạch tuộc. Tôi biết tôi muốn gì, làm gì, ngay trong giây phút này. Tôi hoàn toàn thuộc về tôi. Cái quẫy mình của con kình ngư.

......

Thân thể tôi giãn nở

mười ngón chân hết cứng đơ

vũng bụng thôi cuộn sóng

tất cả rũ mềm như giải lụa

chậu nước tỏa hơi mát

tôi mỉm cười trong đêm. Tin chắc rằng, bên kia bức tường, rào cản, trời đêm mọi sự đều đơn giản, thanh thoát như hương hoa sứ đang độ giữa mùa.” (trang 126-127)
Imagine
03-02-06, 08:28
Nữ nhân vật chính của Lê Thị Thấm Vân có một hành động quái dị (dĩ nhiên dưới mắt độc giả có thành kiến phổ thông và ương ngạnh) và một chiêu cảm đặc biệt khi cô ta săn sóc mẹ chồng. Cô ta không ngần ngại ngửi cửa mình của bà. Ðối với một con người có chút khái niệm về nhân bản thì nó là một hành động bình thường, giúp chúng ta tìm về cội nguồn sự hiện hữu của tha nhân, luôn cả của chính mình. Còn đối với người mang tấm lòng Từ bi của đức Quán Thế Âm Bồ-tát thì nó mở rộng một chân trời khoáng đạt và mênh mông trong tâm thức: cái dơ và cái sạch, mùi hôi hám hay hương thơm không còn là mặt trái cùng mặt phải của một đồng tiền nữa. Biên giới hai cái đối nghịch xóa nhòa để tình thương vô biên và sự xót xa tội nghiệp thâm thúy cùng hiển lộ rực rỡ như nhau. Và đây có phải như lời tóm lược ngắn nếu hiểu qua khía cạnh văn chương nhân bản in ở bìa sau hay chăng?

“Xứ nắng nói lên những thao thức, tìm kiếm về cội nguồn, thân phận mà chúng ta thường chạm mặt nơi những phụ nữ gốc Á Châu lớn lên tại Hoa Kỳ.”

Xin cùng đọc đoạn văn sau đây để thấy rằng nhân vật nữ xưng tôi đáng quý mến dường nào. Và để thấy luôn cái thần trí sáng tạo rất mạnh mẽ và tinh nhuệ của tác giả:

“Người đàn bà không đầu ngồi thõng chân trên cái mả hoang ngoài mé sân trái, qua ô cửa sổ tôi nhìn ra. Nắng chiếu như hào quang vây tụ quanh cổ người đàn bà. Màu nắng ban mai rỡ ràng, vàng óng, tuôn chảy như mật.

Hai thằng con trai độc thân của bà hiện hữu đâu đó trong căn nhà này.

Miếng đất mua lại. Chủ chính đã mất xác trên đường vượt biên. Miếng đất chia làm hai phần. Nửa kia không có mả, nửa này dính hai cái mả có sẵn từ đời nào. Của ai? chịu, không ai biết. Không tên tuổi, cũng chẳng ai cất công tra hỏi. Ðất Dục Mỹ vốn là đất hoang, đất tứ xứ. Có ma không? Tim tôi thót mạnh. Ma sống đang ngồi thõng chân ngoài kia kìa.

Mả còn ướt bởi hàng loạt cơn mưa rào đêm qua. Người đàn bà. Mẹ đẻ ra chồng tôi, nửa quả cam của tôi, nửa cuộc đời tôi, nửa hình hài tôi, nửa số phận tôi, nửa giọng cười tôi, nửa nghiệp chướng tôi. Bà ngồi đó, lưng xoay. Tôi rón rén bước ra, nắm tay bà, bóp những ngón tay thời gian đã lóc hết thịt. Tôi dắt bà trở vào nhà. Những lóng xương vụn, mềm nhừ. Bà chẳng nói chẳng nhìn. Hồn người nằm dưới mộ, có theo chân tôi vào nhà?

Tôi nói thằng Út lấy bộ đồ khác cho mẹ. Tôi lau khô thân thể bà. Hai núm vú khô đen chúc đầu như hai hạt nho phơi quá nắng. Những cái xương sườn như niềng xe đạp, lăn biết bao vạn ngàn vòng. Vài sợi lông khô khốc như cỏ nám, che chắn nơi đã đưa chồng tôi ra với đời sống này. Tôi áp mặt vào đấy, ngửi mùi đất-đá-súng-đạn-máu, mùi hơi thở chồng, mùi Alyssa mỗi khi bị sốt, mùi hơi mưa giữa đêm đông miền nhiệt đới.

Tôi ôm sát bà. Mũi cay nồng. Mẹ ơi, mẹ ơi, con đây, con về với mẹ đây... Có vật gì đó chận ngang cuống họng. Tôi thương bà và tôi thương tôi.” (trang 96, 97)

Chúng ta tự hỏi tác giả có gộp bà mẹ chồng của nữ nhân vật xưng tôi, mẹ ruột của cô ta và bà Mẹ Tổ Quốc thành một biểu tượng bi thương không? Cái khéo của chị ở chỗ kéo dài sự liên tưởng cho người đọc, phóng đại và phóng chiếu một hình ảnh tội nghiệp trong tâm tưởng họ. Trên vận nước nổi trôi, bà Mẹ Tổ Quốc chúng ta trải qua biết bao chặng lịch sử điêu linh, bà mẹ chồng trong Xứ nắng điển hình cho người mẹ gánh vác nhiều hệ lụy trên đường đời đến độ bị mất trí, xác bà tuy còn đó mà hồn bà đã đi đâu. Trong cái tâm Từ Bi của nữ nhân vật xưng tôi ấy, bà ta biến thành mẹ ruột của chính cô ta, soi rọi cho cô ta cái thân phận cực nhục của kiếp đàn bà.
Imagine
03-02-06, 08:29
Trong tác phẩm này, nữ nhân vật xưng tôi không phải là người trong cuộc. Cô ta cũng không phải là nạn nhân của nguyên tắc đạo đức, của những quy ước, của những khuôn khổ đã từng tước đoạt tự do tinh thần con người, của những bế tắc. Tất cả những cái gọi là nguyên tắc đạo đức, quy ước, khuôn khổ, bế tắc đó bây giờ đã mất hiệu lực, hao khuyết, lụi mòn, và phai úa hào quang tự bao giờ. Chúng do lớp người đi trước tự bao nghìn xưa đặt ra mà không chịu ngó về hướng tới của nhân loại, của xã hội.... Cô ta trước sau vẫn là nhân chứng, là kẻ dự khán thảm cảnh và không bị vướng mắc vào những cái nghiệt ngã đó. Và nếu có thể, cô ta cũng chỉ là kẻ nhập cuộc để chia sớt đau thương với người trong cuộc, chứ không thể cảm nhận thật sự và nguyên vẹn được nỗi đau sống thực của người trong cuộc. Xin đọc:

“Tôi ra đời đúng vào mùa xuân Mậu Thân, 1968, năm chấn động lịch sử. Huế, người sống bơi lội trong đất cát. Nấm mồ chôn người tập thể. Mỹ Lai đâu đó thuộc về Quảng Ngãi. Vết nhơ chiến tranh. Ðộc ác, bạo tàn, dù toan tính hay nhiệm vụ, ước mơ giải phóng, dân chủ độc lập, thế giới đại đồng. Ðàn ông trẻ con chó mèo heo chuột gào thét trong biển lửa ngút trời. Những con vật trốn chui trốn nhủi cả ngàn năm trong hốc đá giờ cũng phải tuôn ra đua với con người tìm sự sống.

Cái giá phải trả cho sự ước mơ ảo tưởng. Chân lý sụp đổ. Bi hài kịch hạ màn. Một thí nghiệm trả giá dân tộc thụt lùi thế kỷ. Hàng triệu thây người chết mắt không nhắm.

Mỹ quốc, 1968 là năm đánh dấu hàng loạt làn sóng cách mạng. Trong nhà ngoài ngõ. Phong trào phụ nữ đòi bình đẳng nổi lên mạnh mẽ, không tương nhượng nam giới trong mọi lãnh vực. Martin Luther King, Jr, lãnh tụ da đen với câu nói để đời I have a dream, bị ám sát. Robert Kennedy trẻ, đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi, có cơ hội làm tổng thống Mỹ tương lai cũng bị ám sát. Hàng hàng lớp lớp sinh viên xuống đường biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, thách đố Lyndon B. Johnson bằng khẩu hiệu: Hey,hey, LBJ, how many kids did you kill today?” (trang 10-11)

Nữ nhân vật xưng tôi là mẫu người ưa suy tư. Nếp suy tư ấy dựa trên cái bất hạnh của gia đình bên chồng. Từ đó hiển lộ những biến cố thương tâm trên dòng sinh mệnh của lịch sử; và cũng từ đó thiên lương và tấm lòng nhân đạo của cô sinh sôi và nảy nở sung mãn như nấm mùa mưa, như loài man thảo gặp thời tiết ôn nhuận.


“Cánh cửa địa ngục mở toang hoác, gió lạnh lùa kín miệng. Gió xoáy mạnh, thăm thẳm sâu, sâu hun hút, sâu như họng chó. Ðịa ngục, nơi chẳng một ai quan tâm, để ý, cũng chẳng ai cần. Màu tối đen, quánh đặc, hấp dẫn lạ kỳ.
......

The Killing Fieds - Cánh đồng Thảm sát của xứ Chùa Tháp, nơi Trinh đã để lại mảnh da thịt, máu thấm vào đất, thương tích đời người. Chế độ diệt chủng Pol Pot. Gần hai triệu, tức một phần năm dân số Cam Bốt bị xóa sổ đời. Cuộc diệt chủng thế kỷ, ngang ngửa lò thiêu Do Thái thời Hitler, so sánh được chăng?

Giờ đây lễ tưởng niệm người quá vãng hàng năm. Cuộc lễ chết oan. Hình dung hàng ngàn đầu lâu xếp cao bằng Kim Tự Tháp. Khói nhang tỏa mờ phủ che hàng ngàn hốc mắt. Lời kinh cầu giọng nữ ngân nga... Chúng giết tôi bằng xẻng. Chúng trói người tôi vất xuống giếng... Ôi! thương thay. Con tôi ba ngày bị giựt khỏi tay. Cháu tôi bảy tuổi bị đâm bằng gậy. Bà tôi chín mươi bốn tuổi bị đánh bằng cây... Ôi! thương thay. Con gái bị hiếp bất kẻ đêm ngày... Ôi! Cam-bô-di-a. Con còn nhớ không? Thời qua cay đắng thế nào...

Cánh đồng Thảm sát là cánh đồng cỏ xanh chạy dài mút mắt. Hàng dừa trầm mình trong nắng gió trưa. Lác đác những con bò gầy guộc mắt lờ đờ nằm ngồi uể oải. Các nhà sư áo vàng, áo nâu ngồi nghỉ dưới bóng cây ổi, cây chanh. Tiếng ve sầu văng vẳng. Trẻ con chân trần không áo nhe răng gặm mía. Mùa mưa xuống, vài cái sọ người trôi lều bều trong lớp cát đá cỏ lấp xấp nước mưa.

Ðau thương quá khứ và khó khăn hiện tại.

Cam Bốt giờ đây đã được giải phóng, kết thúc một giai đoạn đầy máu và nước mắt. Nhờ Việt Nam?

Và dân tộc Việt, biết cậy vào ai đây?” (trang 98-99)
Imagine
03-02-06, 08:31
Cái cảnh đứa con trai (tức là Trinh) đút cơm cho người mẹ mất trí là một cảnh đau xót và cảm động nhất. Cơn điên biến bà thành một đứa trẻ thơ, phải sống nương tựa vào kẻ khác, ngay cả ở những nhu cầu cần thiết thường nhật:


“Qua khung cửa sổ, Trinh đút cơm cho mẹ trong nắng lóa, trời xanh lơ.

Trinh ngồi chồm hổm, kiểu nước lụt, kiểu đi cầu ở Việt Nam.

Người đàn bà không đầu dựa lưng vào cột nhà. Cái thìa bé tí, dính vài hạt cơm đầu thìa. Ăn xong một thìa, đầu bà quay bên phải, ăn xong một thìa, đầu bà quay bên trái. Bên phải, bên trái, bên trái, bên phải... Cái đầu bà quay qua quay lại, ngọ nguậy, như đầu sán lãi. Người đàn bà đang có đầu, hiện hữu, nhất định không nhai, không nuốt. Mắt Trinh trợn trừng, dọa nạt. Ngôn ngữ tuyết rơi ngoài trời, mạch máu di chuyển trong cơ thể, giữa đêm đông. Ngôn ngữ câm. Bên phải, bên trái, bên trái, bên phải. Mặt Trinh với những vết khâu chằng chéo, giật co liên hồi. Lời nói không va chạm. Âm thanh không là cú đấm.

Kiên nhẫn là đức tính tốt.

Lưng Trinh cong vòng. Mắt cố chọc thủng xuyên qua người đàn bà, vào khoảng không. Sự tàn tạ của ánh sáng lóa, trời xanh lơ. Chén cơm. Sự nhẫn nại. Một thói quen. Làm cách nào những hạt cơm rơi lăn xuống cổ, chui vào nằm yên dưới đáy bao tử.

Một thìa khác. Bên trái. Dỗ dành, dịu ngọt.

Một thìa khác. Bên phải. Dọa nạt, trợn trừng.

Ai chịu đựng ai?

Một thìa khác. Phun thẳng vào mặt Trinh.

Lại một thìa khác. Ðã bao năm? bao lần? bao bữa? Từng ngày, thêm vào, chồng chất, thành kiên nhẫn, đợi chờ, thói quen. Bao nhiêu thìa cơm nữa phải đút?” (trang 70-71)

Ðọc nhưng đoạn như thế này, trước hết chúng ta thích thú cái lối hành văn tân kỳ thật xôn xao linh động của tác giả. Những câu ngắn gọn, những câu điệp ngữ ngược xuôi làm cho cái hoạt cảnh dưới ngòi bút tác giả trở nên sống động lạ thường. Và đọc những đoạn như thế này làm sao chúng ta khỏi cảm thấy lớp băng dày đóng cứng trên tâm hồn chúng ta tan rã mau chóng, để chúng ta đón nhận niềm thương xót và cái đau đớn trước cảnh ngộ bi đát của những nhân vật trong tiểu thuyết Xứ nắng? Cho nên trên cái nhớp nháp của dục tình, những bông hoa của tình người luôn luôn thịnh phóng rực rỡ, có đủ muôn hồng nghìn tía xôn xao.Và dục tình dưới ngòi bút tác giả biến thành hoa màu để mảnh đất văn chương của chị thêm màu mỡ phì nhiêu.
Cái tấm lòng bác ái đối với cảnh ngộ bên chồng, hình ảnh đáng tội nghiệp của bà mẹ chồng đã hướng dẫn nhân vật nữ xưng tôi đi vào tâm Từ Bi. Vậy thế nào là lòng Bác ái và tâm Từ bi? Lòng Bác ái chỉ giúp chúng ta yêu thương đồng loại. Còn tâm Từ bi giúp chúng ta chẳng những yêu nhân loại mà yêu luôn những chúng sinh khác, từ muôn loài động vật đến muôn loại côn trùng.

Tại quê chồng, cứ vào hừng sáng, nữ nhân vật chánh nghe tiếng heo kêu eng éc. Rồi cô trình bày cho chúng ta nghe tiếng heo kêu, tư duy và suy niệm về nó như sau:

“Tôi choàng thức, trạng thái mơ màng, nửa tỉnh nửa mê.

Tiếng thét gào. Rú từng cơn. Của ai?

Con vật, con người?

... tiếng heo, eng éc, không phải bị lùa vào chuồng, chúc mỏ tranh miếng ăn. Nó là tiếng rú gào, van xin sự sống


.....

Sáng sớm tinh mơ ngày đầu, nơi giam giữ ấu thời chồng tôi. Tiếng heo... không rên rỉ, mà là thét gào, âm thanh xé toang óc, đập dập tim tôi.

Người tôi quằn theo tiếng kêu trời, của heo.

.....

Tiếng gào thét nhỏ dần... thưa dần... nhỏ dần... thưa dần... nhỏ dần... thưa dần...

Rồi im bặt.

.....

Người ta giết heo, mổ thịt con heo, thì có gì lạ?

Giết heo, xẻ thịt, thức ăn nuôi sống con người, bao ngàn năm như thế, tại sao tôi phải quằn người?

Lại thêm một tràng thét gào của con heo khác. Từng cơn, từng con thay phiên lên bàn mổ.

Rồi lại nhỏ dần, thưa dần. Im bặt.

.....

Tiếng bánh xe nghiến nát mặt lộ chính át tiếng van xin. Tưởng chừng xe đang tuột dốc, đứt dây thắng, nhào đổ, vực sâu không đáy, tan xương nát thịt, mũi-mắt-mồm cùng căng. Trong đám hành khách có khuôn mặt tôi mười tuổi. Tóc cắt ngang tai, chới với ôm vồ lấy khoảng không mông mênh. Mắt không nhìn thấy được chiều sâu. Tôi rơi, rớt trong khoảng không vô tận.

.....

Một góc nhỏ trên đất nước một năm chỉ hai mùa ráo ướt. Vùng nhiệt đới, tên gọi rất đỗi lãng mạn, thơ mộng, gợi cảm, đầy khiêu khích và rất lạ kỳ. Nằm trên ghế bố made in USA sót lại thời kỳ Mỹ hiện hữu nơi đây. Ðắp vá chằng chịt. Nước trong tôi tuôn trào xối xả như thác.

.....

Cái ghế bố Mỹ đắp vá chằng chịt nương nhẹ thân tôi.

.....

Huyết heo ộc ra từ cổ theo vết dao thọc. Máu từ cửa mình tôi ộc ra. Thắt chặt co giật. Từng cơn. Xếp lớp, như hoa trên bức tranh Georgia O’Keeffe. Những dãy đồi đỏ rực màu lựu mùa hè. Xương sọ, đầu lâu bạc màu nắng gió. Kinh hoàng. Mạnh mẽ. Khủng khiếp. Dứt khoát như mái tóc người đàn bà tóm gọn đằng sau ót. Hoa lan, hoa quỳnh khép nở hương đêm. Huyết heo đỏ au. Tô bún bò huế bốc khói, hai miếng huyết heo vuông vức thẫm màu mướt mịn, lềnh bềnh trôi trên mặt tô bốc khói cay nồng. Nhai không kỹ, huyết heo bám cứng kẽ răng, phải dùng tăm quẹt, móc, xỉa điệu nghệ như Trinh sau mỗi bữa ăn. Chồng tôi ở Mỹ, tân kỳ tiến bộ hơn, dùng dây floss tẩm mùi bạc hà, rành rọt đến độ chẳng cần soi gương.

Một chậu huyết heo tươi rói. Máu chết.

Một bịch băng vệ sinh. Máu sống.

Người tôi lại cứng đơ. Mặt ghế bố vải Mỹ cứng đơ. Ðã có thằng lính Mỹ, Quốc Gia, Việt Cộng nào chết, hấp hối, mộng mơ, xuất tinh trên cái ghế bố vá đắp chằng chịt tôi đang nằm này không?” (trang 31-33)
Imagine
03-02-06, 08:35
Sự diễn tả của tác giả bề ngoài có vẻ lung tung, sa đà, loạn xạ nhưng thỉnh thoảng xen lác đác những ngữ pháp ngôn từ hoa mỹ. Từ tiếng heo kêu eng éc, dòng liên tưởng của chị đưa tới chậu huyết heo, con heo bị xẻ thịt, chiếc xe tuột dốc, hành khách tan xương nát thịt, chiếc ghế bố vá chằng chịt đã có ai chết hay mơ mộng quàng xiên trên đó, tô bún bò có hai miếng huyết heo được lấy từ sinh mệnh của con vật không có vũ khí tự vệ, máu kinh nguyệt của nữ nhân vật xưng tôi. Những hình ảnh rời rạc, những vận sự bề ngoài dường như quá ít nối kết. Nhưng trừ máu kinh nguyệt tượng trưng cho sự sống ra, tất cả cái còn lại đều có những cái mẫu số chung: hình ảnh thảm thiết, cái ác nghiệp dữ dằn của loài heo và sự hoại diệt oan khiên...

Mãi tới bây giờ, tôi cũng vẫn chưa nắm vững cái đổi mới trong văn chương Tây phương nói chung, trong văn chương Pháp nói riêng từ thập niên 50, 60, có nghĩa là gần hoặc hơn hiện giờ nửa thế kỷ. Tuy nhiên, ở tác phẩm Xứ nắng, tôi nhận thấy rõ rệt một điều: Ðôi lúc (tôi xin nhấn mạnh đôi lúc thôi), tác giả không dùng cấu trúc cổ điển, có lớp có lang theo quy ước. Chị làm kẻ vừa đọc qua tác phẩm Xứ Nắng cảm thấy cảnh này xen cảnh kia loạn xị cả lên, từ chuyện hiện tại bước qua những chuyện dĩ vãng không đoạn chuyển tiếp. Trường hợp đó cũng giống như các cuốn phim của Jean Luc Godard, Claude Lelouche, Andrzej Wadja hay cuốn phim Hè muộn của Ðặng Trần Thức, từ cảnh hiện tại trở ngược về cảnh hồi ức (flash-back) không có đoạn chuyển cảnh, tức là không có cảnh bản lề. Nhưng được một cái là chị thay câu chuyển đoạn bằng một hàng bỏ trống. Chẳng hạn ở chương 23 (tác giả chỉ ghi vỏn vẹn số 23, chứ không viết chương 23 hoặc chương hai mươi ba), chị nêu lên cái đặc thù ấy trong cuộc bút trình của mình như sau:

“Múc từng gáo, dội từ đỉnh đầu. Nước ào ào tuôn dọc theo thân thể, da loáng nước. Màu da nước.

Ở góc trái, vòi nước rỉ rả. Tôi bực mình khi tắm mà nước chảy rỉ rả. Phải ào ào. Tiếng nước chảy và cảm giác mạnh. Cái thau xanh nhựa đặt ở góc phải tràn nước. Khua tay ấm áp như da thịt mình, ở phần dưới. Chút riêng tư trong căn phòng bằng hai cái giang rộng tay từ lúc đặt chân vào căn nhà này. Tôi ngắm mình trong thau nước đầy. Những sợi lông bồng bềnh, khẽ vuốt ve, mân mê, màu ngô non, mướt nước. Thuở nhỏ anh Thiện thường bẻ đôi trái bắp, lấy râu quấn quanh cằm, giả làm râu ông già.

Nước tràn ngập thân tôi. Ông ngoại râu bạc trắng, dài phủ cằm. Thỉnh thoảng ông vuốt râu, trầm ngâm, tư lự. Vài chục năm nữa anh Thiện có giống ông ngoại bây giờ không nhỉ? Chắc là không, ông ngoại ở Việt Nam, con cháu quây quần. Anh Thiện sẽ như nhiều ông Mỹ già khác, ngồi ngủ quên trên chiếc ghế bành rộng, trước màn ảnh TV đang mở. Tiếng nước khua rộn ràng, màu da loáng nước. Anh Thiện tay run chống gậy, hay ngồi trong xe lăn, dõi mắt nhìn qua sân viện dưỡng lão vắng vẻ, đìu hiu, cùng màu nắng tàn. Nước chao nghiêng sóng sánh thân thể. Anh Thiện dáng vẻ sợ sệt lẫn ngóng chờ bà y tá lạnh lùng, cho thuốc uống vỗ về trên vai máy móc. Chùm lông mịn ướt trôi tuột trên từng kẽ tay. Dãy bắp sau nhà thuở nhỏ. Những buổi chiều làm xong bài, tôi lẻn ra vườn sau, bãi đất trồng toàn bắp của ông hàng xóm mặt quanh năm đỏ kè. Tôi đi giữa hàng bắp. Gió cuối thu thổi lá bắp nâu khô xào xạc. Ðã xong mùa bắp. Trái thì những người lao công Mễ đã bẻ sạch. Tiếng lá sột soạt như áo quần khô cứng, kỳ lạ, thích thú. Nắng đổ xuống trên đỉnh đầu. Nắng lóa trên những lá bắp nâu khô. Tôi năm dài giữa luống bắp. Úp mặt. Mùi nồng đất ải. Tiếng rung khẽ, ngân dài từ trong tôi, từ lòng đất. Cả hai chao nghiêng. Nhắm mắt. Tôi thấy tôi cùng đất lật.

Nắng vẫn lóa trên đỉnh đầu và trên tàn lá bắp nâu khô.

Âm thanh tiếng còi tàu. Bánh xe rền rung mặt đất. Thành phố San Leandro không thuộc về đâu. Gần San Francisco thơ mộng nhất nhì thế giới. Gần Berkeley bụi đời, cấp tiến, nhiều sắc dân. Gần San Jose tỉ số dân Việt đứng thứ nhì hải ngoại. San Leandro thế nào, ở đâu, có gì đặc biệt, sẽ ra sao, mấy ai quan tâm?

Cảnh tượng trong phim Fried Green Tomatoes. Xe lửa xình xịch, xình xịch ào ào, tiến tới, tiến tới... Chiếc mũ bay, người con trai chạy đuổi theo, mũ lượn lờ dọc theo đường rầy. Vẫn đuổi theo gió. Những bước chân bay theo chiếc mũ. Nhẹ tênh. La đà. Ðuổi theo mũ là đuổi theo tình. Làm sao cản được gió? Tiếng máy xe lửa xình xịch, xình xịch, ào ào, tiến tới, tiến tới... thi đua cùng nhịp tim đập của đôi tình nhân. Ðịnh mệnh. Bàn chân người tình kẹt giữa đường rầy. Xe lửa xình xịch, xình xịch, ào ào, tiến tới, tiến tới.... Tiếng người, tiếng xe, máu xương, nhịp tim... đập điệu tình yêu. Là sự nghiền nát.” (trang 62-64)
Imagine
03-02-06, 08:36
Ở chương này lại còn có phân đoạn đầy những chuyện liên tưởng nọ xọ qua chuyện hồi tưởng kia. Từ chùm lông của nhân vật nữ xưng tôi nhảy qua râu bắp mà anh Thiện đeo, giả làm râu ông già, sang qua sự mường tượng cái tương lai anh Thiện ở trong nhà dưỡng lão, giật lùi về cái hồi tưởng đám bắp ở quê nhà rồi chuồi qua vườn bắp ông hàng xóm Mỹ... Những dòng liên tưởng, những dòng mường tượng sao mà nườm nượp, sa đà, ào ạt nối chằng chịt vào những dòng nói về cảnh hiện tiền thực tại được khai thác thật ít oi. Ðiều đó làm cho độc giả hoang mang ngơ ngác. Nhưng nếu ai đó đã quen thưởng thức các tác phẩm của các điện ảnh gia ấy, sẽ thấy thú vị hơn vì phim pháp (style) và phim phạm (grammaire) trong các tác phẩm ấy được xóa bỏ quy ước, nguyên tắc, lề thói cổ điển để biểu dương tinh thần phóng túng và khoáng đạt của người nghệ sĩ. Cũng thế, lúc đang đọc hay sau khi đọc xong Xứ nắng của Lê Thị Thấm Vân, chúng ta sẽ nhận thấy một điều là chị cũng cố ý xóa bỏ khá nhiều bút pháp (style) phổ thông và văn phạm (grammaire) theo quy ước cũ kỹ, cốt kéo văn viết đi sát vào văn nói, hoặc hơn thế nữa, nếu có thể được văn viết được biến thành văn nói như bút pháp của nhà văn Céline xứ Pháp. Chẳng hạn tác giả tả đoạn nhân vật nữ cùng chú em chồng đi chơi giữa vùng hoang vắng, cô ta tưởng tượng đến cảnh ái ân cụp lạc như sau:

“Càng vào sâu, tôi càng tự hỏi. Sao mình đi cùng Trinh vào nơi đây?

Cây cối thổi ra gió, khói bốc từ những hốc nước. Lá khô, gió khô, cả nắng khô khốc đổ túa lên cả người tôi. Dừng, thở dốc, tôi chẳng cần phải đi tìm cái sức nóng. Nắng đang quấn chặt người tôi. Tôi bỗng mệt nhoài, cảm giác như thân cây vừa bị đốn ngã. Ngồi bệt xuống đất. Trời chao lượn trên cao, mặt trời rực máu.

Tia mắt Trinh quét trọn người tôi, từ sợi tóc đứt ngắn chĩa trên đỉnh đầu đến gót chân dính toàn bụi cát. Quét một lượt, rồi dừng lại nơi chốn phải dừng suối khe, gò bồng đảo. Cục táo Adam trôi trục trơn trợt như viên chè trôi nước. Tôi chợt phì cười, thấy mình vô duyên tệ.

Nhạy cảm, mày là đứa quá nhạy cảm. Phải, đã nhiều lần giúp tôi bay cao, như chim, mở toang cánh cửa thiên đường, ngụp lặn trong bể hạnh phúc tuyệt đỉnh. Ðồng thời, cũng đạp xô tôi xuống tận đáy đen địa ngục, đớn đau, tủi nhục, ê chề biết bao.

Hai mắt Trinh vẫn liếm dọc, ngang trên người tôi. Mỗi cái quét mắt là một vết cứa. Bốn bề vắng vẻ, chỉ gió, đất đá, cây cối, sức nóng và tiếng nước róc rách. Tôi nghĩ đến mảnh da vá chằng chịt nhàu nát khâu vội. Trả thù cho sự bất công. Ừ cứ đè đại xuống. Hất tung. Bất chấp. Phá hủy. Ðòi hỏi giữa người và người.

Tưởng tượng, mày là đứa giàu tưởng tượng. Một cái gì đó đâm phập vào cửa mình tôi, hốt hoảng, hả dạ, cười, bặm chặt môi, mắt long lên, trợn ngược, chỉ toàn màu đờm. Mẹ kiếp. **** you! thì đã sao. So what? Ðã chứ, đụ má nó, cuộc đời. Bình đẳng nằm ở đâu? chỉ toàn nghiệp chướng. Tại sao phải là thằng Trinh này, kẻ bị trừng phạt. Tại sao? Ðụ má, kệ, tới đâu tới, ha ha, ha ha... Thân xác và đầu óc. Một chấm đen li ti, u mê và tỉnh táo. Hạt bụi nổi bật trên tấm giấy trắng phau học trò. Màu trắng vô nghĩa. Quỷ ma rình rập, khổ đau là thật. Chắc chắn như sự chết. Hấp dẫn như phá hủy. Chiến tranh, ừ phải, trong chiến tranh: từ bi, tình yêu, tha thứ là xa xỉ phẩm.

Vấn đề là hoàn cảnh, cơ hội, thuận tiện, có dịp.

.... sự có dịp của một đời người đang xảy ra ngay trong khoảnh khắc này, tại nơi đây.

Sự trả thù đời.

Sợ hãi làm bụng tôi trương cứng như đàn bà chửa. Mùi mồ hôi từ nách bốc ra, gần-gũi-ấm-êm-dỗ-dành-trìu-mến.

Nếu hắn đè mình ra ngay lúc này, tại nơi đây...? Dám lắm, tại sao không? Mắt hắn vẫn như mặt chổi quét lia lịa trên người tôi. Ðôi mắt đắc chí của gã thợ săn dốt nát, mới đi rừng ngày đầu, nhưng vận may, gặp con mồi béo bở. Tay hắn cầm cọng cỏ khô, vuốt qua vuốt lại trong lòng bàn tay, như liếc dao sẵn sàng cắt cổ vịt.

Yên lặng và bóng tối, đầu con rắn hổ mang không nhúc nhích di động, nhưng hai con mắt chòng chọc vào bị thịt. Bị thịt là tôi, chỉ cần tiếng động khẽ, nhích nhẹ, mỏ rắn mổ ngay tròng mắt, tôi.

.....

Tôi bật ngồi dậy, nóc hòm bật tung. Ði, đi về...

Trinh vất nhanh cọng cỏ khô.

Chị nằm nghỉ một lát cho đỡ mệt, mình chưa đi vào trong coi...

Tôi mệt quá! Ði về.

Tôi nói nhanh, mê man trong từng bước chân vội vã, vươn dài.

Bước chân Trinh cũng vội vã, vươn dài.

Trời lóa nắng, chói chan, khô khốc. Xứ sở chẳng bao giờ thiếu nắng. Tôi thấy bóng người đàn bà đứng sẵn ngoài cổng ngóng chờ tôi.

Tôi ngã vào lòng bà, chạm phải trái tim ấm nóng, mềm mại. Mẹ, tôi gọi.

Cái đầu của bà đã mọc. Nhưng mọc ngược.” (trang 142-144)
Imagine
03-02-06, 08:37
Chúng ta thấy gì ở đoạn văn này? Ẩn ức nhục cảm trồi lên trên bình diện ý thức, nhưng chưa phát tác thành hành động, chưa tạo nên một cảnh tượng, một vận sự. Nhưng tác giả cố ý chối từ cái thứ văn chương tuân theo lề thói cổ điển để bỏ rơi bút pháp và văn phạm mẫu mực, tù túng và khô khan. Như thế chị giúp cho độc giả nắm bất ngay cái điều then chốt: cái phút tưởng tượng của nữ nhân vật kia sôi nổi hơn, cái dâng trào của khoái cảm tình dục (l’orgasme) của đương sự gia tăng cường điệu hơn. Ðộc giả có cảm tưởng nhân vật trong cuộc ấy bị say nhừ bởi cảm giác hổn hển và nóng bỏng. Cô ta như đánh mất chính mình, như lạc lõng với chính mình. Nhưng trong cơn xáo trộn của ý thức, trong sự hoảng loạn của đê mê, cô ta nắm bắt nhiều cái lớn lao hơn, chẳng hạn như hai bề mặt trái của nhục cảm, sự bình đẳng, chiến tranh (Một chấm đen li ti, u mê và tỉnh táo. Hạt bụi nổi bật trên tấm giấy trắng phau học trò). Cái ý thức về cuộc sống có nhiều ẩn số mà người trong cuộc hành dâm hay người ước mơ tình dục chưa chắc đã tìm được một vài. Ðâu phải ai cũng như nữ nhân vật xưng tôi ấy. Ðối với văn chương của Tony Duvert trong cuốn Journal d’un Innocent do Minuit xuất bản, ngôn ngữ diễn tả nhục cảm của Lê Thị Thấm Vân trong Xứ nắng nào có thấm tháp gì về sắc thái táo bạo. Tony Duvert còn dùng nhiều chữ sống sượng thô lỗ hơn. Nhưng những chữ ấy sắp đặt bên những ngôn từ thấm nhuần tinh thần sáng tạo, hay được nạm khảm trên những câu văn đẹp làm cho bút pháp ông ta thêm màu sắc đặc thù, làm cho văn phong ông ta đảo lộn cái nề nếp buồn nản cũ. Bút pháp và văn phong như thế còn giúp cho nhiều tác giả gây được tinh thần khám phá cái mới lạ và dựng lên một phong trào sôi nổi cho văn chương Pháp vào các thập niên 50, 60. Cho nên họ được nhà xuất bản Minuit chiếu cố tận tình. Ðây là nhà xuất bản chỉ giới thiệu những cây viết có lối hành văn lạ lẫm, có tinh thần khai phá, có lối cấu trúc đặc thù trong cuộc bút trình, chứ không cần cốt truyện; đó là Claude Simon, Alain Robbe Grillet, Michel Butor, Nathalie Sarraute... Cũng vậy, bên cạnh vài chữ táo tợn, Lê Thị Thấm Vân vẫn dùng những chữ thanh tao lịch sự, những câu văn hoa lệ. Ðây là trò chơi ánh sáng trong bút pháp; một vài cù lao bóng tối điểm tô cho cái biển ánh sáng mênh mông thêm nét hàm súc và ý nhị.

Ðọc xong Xứ nắng, tôi cảm nhận ngay một điều: nếu ai đó muốn tìm khoái cảm xác thân và muốn cái sex được chọc lét một cách thú vị thì họ sẽ thất vọng não nề. Tác giả là một nhà văn nhân bản, đời nào dùng chuyện tình dục tầm thường để câu khách. Ðúng hơn, chị dùng sex để nói lên trăm ngàn điều ngang trái đau thương của kiếp người. Ðây là một nhà văn có ý thức sáng rỡ, có trách nhiệm thiêng liêng lúc cầm bút. Ðây là một nhà văn can đảm, dám vượt qua mọi cấm kỵ gai góc, để cho tình người được nở hoa. Lên án chị thì có khác nào lên án một kẻ làm đẹp ý tình thăng hoa của cuộc sống, có khác nào chặt đứt đôi tay đang xây dựng cái nền tảng thiết tha của con người yêu thương cuộc sống.

Xứ nắng không phải là một quyển dâm thư mà là một tác phẩm vượt lên lằn mức văn chương thuần túy. Một tác phẩm tư tưởng có nhiều ngôn ngữ táo bạo, có sự diễn tả đôi lúc sống sượng nhưng cực kỳ chân thành. Ðiều này biểu dương thái độ quả cảm, lập trường cứng rắn, và ý thức trong sáng tuyệt vời của Lê Thị Thấm Vân.

Lại nữa, Xứ nắng là một tác phẩm phản ánh không gian thời hậu chiến. Những nhân vật với chấn thương do lịch sử gây ra. Trong gia đình của Ðức, trừ ông bố nghiện rượu ra, ai cũng có niềm bất hạnh, mỗi người oằn vai gánh vác một hệ lụy riêng. Thậm chí cô Lài, đứa con tư sinh của ông nội nữ nhân vật xưng tôi cũng có cái khổ lụy oan khiên riêng. Cô bị chồng và gia đình bên chồng hành hạ nên trở về gia đình người anh trưởng tộc, nhưng lại bị ông ta đánh chửi và đuổi đi. Cô không trở về bên chồng mà đi phiêu bạt tha phương nên không ai biết cô còn sống hay đã chết trong góc trời khuất tịch nào rồi?! Tác phẩm mở rộng tấm lòng thông cảm bao la diệu vợi cùng tình nhân loại sâu sắc thiết tha cho độc giả. Và vượt qua thành kiến kiên cố của độc giả bảo thủ, nữ nhân vật xưng tôi, dưới ngòi bút của Lê Thị Thấm Vân, là một người có quả tim bén nhạy trước cái đau khổ và bất hạnh của tha nhân.

Tư tưởng trong tác phẩm Xứ nắng là cái bóng văn chương nhân bản thấp thoáng ở những đoạn mô tả cái bén nhạy dục tình của hai nhân vật (Trinh và nữ nhân vật xưng tôi). Nó thắp sáng hiện hữu và cái gốc rễ của con người, nó đi sâu vào nội tâm con người bằng ý thức bừng tỏ, bằng cái phanh phui thô lỗ sống sượng nhưng tuyệt vời tài hoa. Nó xé toang lớp mặt nạ đạo đức, cái bề trái phường tuồng. Nó gột rửa và tước bỏ những lớp ngụy trang cái giả dối của lề thói cứng ngắc.

Tình dục như con dao hai lưỡi: nó có thể làm cho tác phẩm rơi xuống hàng sách vở chiều theo thị hiếu thấp kém và sa đọa. Nhưng nó cũng có thể làm cho tác phẩm thăng hoa. Trong những vở kịch hâm hấp hay nóng bỏng tình dục của Tennessee Williams được chuyển thể thành phim ảnh như A Streetcar Named Desire, Baby Doll, The Rose Tatoo, Cat on a Hot Tin Roof, chuyện tình dục gây nên những thảm kịch, nhưng lại xiển dương những điều rất nhân bản và cận nhân tình. Những nhân vật của Tennessee Williams, đa số là người nữ, thường trở thành hung hăng hay khật khùng vì bị đè nén về phương diện dục tình, bị dục tình ám ảnh trong trạng thái tiềm ẩn, hay vì không thỏa mãn dục tình. Bên cạnh họ là những người đàn ông thô lỗ trong một xã hội hỗn tạp phiền toái của miền Nam Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ.
Imagine
03-02-06, 08:38
Với Xứ nắng, Lê Thị Thấm Vân chẳng những đi theo dấu vết của Tennessee Williams, nhưng bước chân của chị khua động hơn, cái phóng tới hăm hở và táo bạo hơn. Chị không dìm nữ nhân vật xưng tôi vào mặc cảm phạm tội lâu. Chị khai phóng họ cái quyền bình đằng giữa hai phái tính song song với ước vọng xóa bỏ việc kỳ thị màu da và chủng tộc.

“Năm 2000 đang đứng chờ sẵn ở ngưỡng cửa. Giấc mơ Mỹ, màu trắng, liệu còn đứng vững được bao lâu? Như màu da của Michael Jackson càng ngày càng nhạt. Jodie Foster, Madonna mang thai bằng cách mướn chồng, mua tinh trùng. Con chỉ cần biết mẹ là đủ. Qua rồi cái thời mắc võng ru con, chỉ bóng trên tường: cha con đó, để rồi chọn cái chết oan thay cho lời bày tỏ lòng trung trinh tiết nghĩa, nay là chuyện cổ tích.” (trang 11)

Gần đây hai tác phẩm Xứ nắng và Âm vọng của Lê Thị Thấm Vân gây xôn xao trong văn giới. Dĩ nhiên là có kẻ khen người chê, khen đậm nồng bao nhiêu thì chê gay gắt bấy nhiêu. Song ai ai cũng phải nhìn nhận chị muốn lột xác như chim hoàng yến thay lông cánh, như rắn mai hoa lột lớp vảy cũ, để lớp vảy mới hiển lộ sắc tươi màu chói. Chị phá phách cái cũ bằng ý thức sáng tỏ hiếm có, chị tìm cái mới bằng một tấm lòng thành khẩn tuyệt vời.

Lịch sử của nước Tàu và của nước Nga đặt lại cái nhìn hợp lý hợp tình về sự nghiệp chính trị huy hoàng của Nữ hoàng Võ Tắc Thiên và Nữ hoàng Catherine II ngoài công việc săn đuổi khoái lạc xác thịt của họ. Người phụ nữ Việt Nam trưởng thành ở ngoại quốc cũng đã đặt lại cái nhìn mới mẻ về quyền sống đúng nghĩa của người đàn bà hiện đại. Thì đây, những độc giả chuộng sự sáng tạo và tinh thần cầu tiến trong văn chương có thể tìm thấy rất nhiều tia sáng và nhiều điều kỳ diệu trên cuộc bút trình của Lê Thị Thấm Vân, bắt đầu qua Xứ nắng và sau hết qua tác phẩm Âm vọng kế tiếp. Họ có thể cùng chị đặt lại vấn đề, thế nào là những tiến trình của văn chương? Thế nào là những cuộc lột xác không ngừng nghỉ của các trào lưu văn chương?

Một điều cũng cần phải nêu ra: Tác phẩm Xứ nắng dù có đổi mới về hình thức và ý tình của văn chương, dù có xóa nhòa tăm dạng trường phái văn chương tân cổ điển, nhưng so với tác phẩm đầu tay Ðôi bờ của Lê Thị Thấm Vân thì cả hai vẫn có một mẫu số chung: tấm lòng nhân đạo. Càng nói về nhục cảm, càng phá thể quy ước, càng quẫy lộn với cái nề nếp trật tự của văn phong và cấu trúc trong tác phẩm, tấm lòng nhân đạo của tác giả càng sâu đậm và càng chói sáng hơn, chiếu rực rỡ toàn thể tác phẩm.

Nguồn: Hợp Lưu số 80.
Imagine
03-02-06, 08:42
Bí Xanh và Bí Vàng là chị em sinh đôi, con của một cô gái Việt Nam bị lính Mỹ da đen hiếp. Bí Vàng được bà ngoại nuôi. Bí Xanh lớn lên trong cô nhi viện, bị hốt đi Mỹ trong cuộc Babylift năm 1975. Bí Xanh và Bí Vàng nên người trong hai thái cực của thế giới đương đại. Tuy hai mà một, Tuy một mà hai, Bí Xanh gặp lại Bí Vàng.

Văn phong chắc nịch, quyết liệt, đầy nhục cảm, đậm nhân tình, tự do và trìu mến. Dám đương đầu trực diện với nhiều vấn đề gai góc trong cơn khủng hoảng của các nền văn minh đương đại.

Phan Huy Đường.

Trích đoạn tiểu thuyết Bóng Gẫy Của Thần Tích của nhà văn Lê Thị Thấm Vân ở địa chỉ này:

http://amvc.free.fr/Damvc/GioiThieu/ThamVan/ThamVanGapLai.htm
Imagine
03-02-06, 08:45
--------------------------------------------------------------------------------

Lê Thị Thấm Vân là một cây bút can đảm về nhiều phương diện. Can đảm trong ý tưởng. Can đảm trong việc chọn lựa đề tài. Can đảm trong lối viết. Và can đảm trước những phản ứng của người đọc. Một nền văn chương chỉ có thể thay đổi khi có sự xuất hiện của những cây bút can đảm.
Hoàng Ngọc-Tuấn

http://www.tienve.org/home/activities/viewActivities.do?action=viewnews&newsId=71
Imagine
03-02-06, 08:47
Link để đọc tiểu thuyết Âm Vọng (trong tủ sách Talawas) của nhà văn Lê Thị Thấm Vân

http://www.talawas.de

------------

Đỗ Kh. đọc Âm Vọng của Lê Thị Thấm Vân

Âm vọng được dễ dàng coi là tiểu thuyết táo bạo nhất trong thời gian này (ngay cả nếu có kể đến hứa hẹn gây sôi nổi của Nguyễn Huy Thiệp với tiểu thuyết về tuổi trẻ sắp ra mắt của ông.) Điều này dễ hiểu khi tác giả Âm vọng trong các lãnh vực mà bà tham dự, vẫn được coi là một người “tới” nhất (“tới” ở đây là kết hợp của các từ “t-áo bạo” và “m-ới”,) đầu tiên là khi đụng chạm đến vấn đề tình dục.

Ở Lê Thị Thấm Vân, đây là điểm thường được người đọc nhận xét đến ngay, nhiều khi một cách hơi vội vã. Tính dục, tuy cũng chẳng có gì là xấu cả, nhưng ở tác giả chỉ là một nấc thang để trèo lên khái niệm bên cạnh tự do cá nhân là nữ quyền trong tác phẩm của bà. Muốn đến với nữ quyền, phải trèo qua cái xác của tính dục trong căn phòng tự do cá nhân. (Tôi xin mở một dấu ngoặc, về một giai thoại xảy ra vào dịp trình một luận án về Le Deuxième Sexe (Giới tính thứ nhì) của nhà văn Simone de Beauvoir, giám đốc luận án, khi trình bày, đã líu lưỡi đọc chữ viết tên bà, S de B, thành ra “Salle de Bains,” tức là phòng tắm, khiến cử tọa, trong đó có cả bà Beauvoir hiện diện, phải ồ lên cười. Đến với nữ quyền, nhiều khi phải đi qua phòng tắm.)

Nhận xét khác về táo bạo, ở tầng của hình thức, là 3 phần khác biệt của Âm vọng, thí dụ cách dùng chữ “bà” cho ngôi của người kể chuyện, thay vì “nàng”, “cô” hay là “tôi”... thường thấy hơn. Tuy chi tiết thôi, nhưng từ “bà” này đặt ngay một khoảng cách, cái Verfremdungseffekt (cách ly phê bình) của ông Brecht khi ông cho kéo màn nhung kẽo kẹt trong những vở kịch sân khấu? Phần thứ ba của Âm vọng, không phẩy không chấm, như thử nghiệm thành công của Marie Ndiaye ở Pháp cách đây vài năm.

Nhưng ở người đọc này, táo bạo nhất của Lê Thị Thấm Vân là cái nỗ lực trực diện với quá khứ “Việt” của mình, chính là một phần còn ấm áp của bản thân (đến nỗi nhiều tác giả không muốn bò ra khỏi, dù chỉ để nhìn lại cho rõ.) Đây là một việc bà từ lâu liên tục theo đuổi, có lẽ lộ nét nhất là ở tiểu thuyết cuối. Lê Thị Thấm Vân trưởng thành ở nước ngoài nhưng bà khiêng theo mình cây cầu mà nhiều kẻ cùng thế hệ, cùng hoàn cảnh đã đi qua dễ dàng và không tiếc nuối, cây cầu giữa 2 quê hương, 2 đời sống, 2 văn hóa, hay tượng hình hơn, có lẽ là một vết xước, một vết cắt phân ly vẫn không lành mỗi lần ta có đủ can đảm để mà nhìn đến. Những người đàn bà trên bìa của cuốn tiểu thuyết, vậy thì, là một tiếng gọi (như cái tựa cho ta đoán,) hay là một phản ánh?

Tạp Chí Thơ 25 – Mùa Thu


Toàn văn tiểu thuyết Âm vọng, bản PDF (1,96 MB)

Nếu không có Adobe Reader™ để đọc bản PDF, xin bấm vào
Imagine
03-02-06, 08:49
HÀN THỦY

đọc "Âm Vọng" tiểu thuyết của Lê Thị Thấm Vân*

Có lẽ đây là một cuốn truyện khó đọc, theo nhiều nghĩa. Về hình thức đó là một thử nghiệm văn học mới lạ trong văn chương tiếng Việt, ở cả mức độ cấu trúc chung của tiểu thuyết lẫn ở mức độ bút pháp. Về nội dung có những đoạn văn trần trụi, sống sượng, cả về phương diện tính dục lẫn về những mô tả đời sống vật chất tinh thần của người Việt di tản tại Mỹ. Tôi đồ rằng, hơn là sự trần trụi về tính dục, chính cái trần trụi thứ hai này có thể làm cho "Âm Vọng" trở thành một cuốn truyện khó được nói đến một cách sòng phẳng, đối với nhiều dư luận ở nhiều phía khác nhau, trong nước cũng như trong người Việt tại nước ngoài.

Sẽ rất đáng tiếc nếu những thử nghiệm hình thức và những trần trụi nói trên gây ra những phản ứng ngoài da che lấp những thành công của tiểu thuyết này. Bản thân tôi cũng đã thấy hơi gờn gợn sau khi đọc nhảy cóc một lần theo thói quen, chính vì thế tự bảo mình nên đọc kỹ từ đầu đến cuối, rồi rất nhanh đã bị "Âm Vọng" lôi cuốn. Sau đó chính những thử nghiệm khó đọc nhất lại gây hứng thú khiến tôi đã đọc lại hơn một lần. Sẽ trở về với vấn đề này, nhưng xin nói ngay nếu bạn chưa có trong tay "Âm Vọng" xin hãy đọc trước "Mưa Lửa", trích đoạn của "Âm Vọng" trong Hợp Lưu số 70. Một truyện ngắn tân kỳ, hoàn chỉnh, và nếu bạn chịu khó tập trung đi theo mạch chữ trong năm phút đầu, tôi bảo đảm sau đó không còn gì khó khăn cả, mà sẽ thấy rất cảm động, rất hay. Xong, lại có phần nào thú vị và phục cho tài viết văn của tác giả. Dẫu sao thì xin độc giả yên tâm, trong "Âm Vọng" chỉ có ba đoạn ngắn — mà dài — như thế thôi, cỡ 40 trang trong số 364 trang.

Vậy có nên giới thiệu tóm tắt tiểu thuyết "Âm Vọng" không? trong chừng mực mà có thể chính sự giới thiệu lại làm cho độc giả mất đi phần nào cái thú vị chấp nhận sự thách đố về ngôn ngữ của tác giả. Cũng như người ta không thể giới thiệu tình tiết của một cuốn phim trinh thám.


*

Tôi hình dung "Âm Vọng" như một tác phẩm điêu khắc hoành tráng, một quần thể bốn bức tượng đàn bà, đặt trên nền đá. Nền đá trắng màu tang, tạc nên mặt biển, sóng dữ dội, một con thuyền của người di tản. Còn bốn bức tượng kia từ sóng biển nhô lên thì bằng đồng đen, phải bằng đồng mới diễn tả được sức căng, sức chịu đựng, sự dẻo dai nhẫn nại mà rất rắn chắc bên trong của người đàn bà Việt Nam trong hoạn nạn. Quần thể điêu khắc này không thể đặt đâu khác ngoài một khoảng sân rộng, bên bãi đậu xe tại một siêu thị Việt Nam ở San José hay ở Quận Cam, cạnh những hàng phở, hiệu ăn, nơi có những người đàn ông ngồi ăn uống và tán dóc.

Tượng thứ nhất tên Tiên Dung, âu phục cho người làm ăn, đứng tuổi, đang ngồi viết, nửa cúi nhìn mặt biển, nửa nhìn lên ra bên ngoài. Tượng thứ hai tên Mỵ Châu, khoả thân nửa ngồi nửa nằm như nàng Maya của Goya, nhưng không tựa trên nhung lụa, ánh mắt vừa chấp nhận vừa thách đố số phận. Tượng thứ ba, Âu Cơ, là một bà má miền Nam mặc áo bà ba, ngồi trên ghế cao loại dùng cho giây chuyền lắp ráp điện tử, tay cầm một bo mạch điện tử nhưng mắt nhìn vào nội tâm, vẻ mặt bình an. Tượng thứ tư Man Nương mặc T-shirt và Blue Jeans, trẻ nhất, trên 30. Cô đứng đằng sau Tiên Dung và mặt rất giống Tiên Dung, nhìn về cả ba người đàn bà, nhưng lại có vẻ gì hơi xa cách.

Mỗi bức tượng trong quần thể điêu khắc vừa hoà đồng vừa tương phản với những bức tượng khác.

Tiên Dung

Đã sống như nhiều nữ sinh viên Mỹ khác, đã thành đạt, từ chối người yêu thời sinh viên là một thanh niên Mỹ thượng lưu: "cái gì bạn cũng có và còn, tôi hoàn toàn ngược dòng chảy với bạn" (tr.54). Hiện có chồng Việt Nam, một con trai 13 tuổi. Chủ nhân nhiều tiệm ăn, giao người khác quản lý, để rảnh rỗi, viết văn. Sang Mỹ năm 75, sắp sinh nhật 40 tuổi. Tiên Dung được mô tả ở ngôi thứ ba, cùng với đời sống chung quanh bà, với những flash back về quá trình trưởng thành của bà trong đại học Mỹ, nhưng rồi lại quay về sống với cộng đồng bằng cách kinh doanh tiệm ăn. Thỉnh thoảng có chen những đoạn văn bà viết, về một người con gái vượt biển lúc 14 tuổi, tuổi của bà:

"Những con cá ngọ nguậy. Nó nghe rõ làm sao. Yên đi, yên đi nào. Yên đi, bé nhé. Anh đây, bé ơi bé à... Có tiếng rong rêu gọi. Âm Vọng vượt trườn qua nó. Trùng khơi. Bé và anh hãy cùng vượt... "

Vì đã vượt qua nhiều khó khăn, chịu thiệt thòi, trong quan hệ nam-nữ, bà ý thức rất rõ về bất bình đẳng nam nữ trong xã hội, văn hoá Việt Nam:

"Bà nhọc nhằn gắng tỉa dòng suy tưởng hắc ám mọc rễ. Nó có khả năng làm bà điên tiết: Tấm hình chụp bầy con gái mười một mười ba mười lăm mười bẩy tan trường trong tấm áo dài phin nõn, lụa là trắng phau phau. Trong đám ấy, bao đứa bé đang có kinh, phải xoay sở băng bó thế nào, để đừng lan chảy thấm ướt ra quần, cũng đồng màu trắng phau phau (...) Bao đứa bé đang lấy cặp che gò vú đang nẩy nở, chỉ cần làn gió nhẹ đong đưa, phô bày khoảng lưng trần mượt mà con gái trinh nguyên (...) Ai là người sáng chế, nghĩ ra nữ sinh Việt Nam phải bận áo dài trắng quần trắng, bó sát thân thể đang vươn sức sống ? Điệu đà thục nữ đoan trang dịu dàng mềm mại e ấp. Trinh trắng. Hồn nhiên. Ngây thơ. Nữ tính. Tự do phải bị băng bó. **** ! bà chửi thề. Trò rửa mắt hả hê của bọn đàn ông... " ( tr. 92)

Không ngần ngại ghi lại trung thực những phản ứng thô tục của những người chung quanh bà:

" Hằng, chồng là Việt kiều về nước lấy, đưa qua Mỹ được sáu tháng, đang làm technician cho hãng Apple. Con Hằng đang để ý Josh, kỹ sư Mỹ, chưa tới 30, độc thân (...) "Nếu bỏ chồng, nó ***** thèm hai đứa mày. Nó mê Mỹ, con trai Mỹ. Cặc Mỹ vừa dài vừa to, sức một thằng nó gấp mấy hai đứa mày". Chú Khèng nói tỉnh bơ, hai tay thoăn thoắt bào cà rốt. " (tr. 47)

Tại sao một người có khả năng thành đạt trong xã hội Mỹ lại quay về sống với cộng đồng, và viết văn bằng tiếng Việt. Một văn hoá, một quá khứ không thể dứt bỏ, là giải thích cho những lựa chọn của Tiên Dung?

"Một thứ, em mang theo, là Ngôn Ngữ. Gìn giữ nó, tức gìn giữ em. Nước máu nước mắt nước biển nước bào thai dòng sữa mẹ đồng mặn chát.

Nhìn thẳng vào đại dương, vào em. Em thề
Imagine
03-02-06, 08:51
Mỵ châu

Nuôi người cha của bố con gái và hai con. Làm tình thường xuyên với một thanh niên Mễ. Nghề neo-ke.Vừa làm đĩ vừa quét dọn nhà cửa với một trí thức Ấn Độ để có thêm tiền. Kể chuyện đời mình, chuyện cộng đồng chung quanh, quá khứ và hiện tại, dưới dạng nhật ký:

"Đen hơn mõm chó. Hai đứa con hai đời chồng cộng thêm lố đàn ông chẳng ra giống gì. Lắm mối tối nằm không. Con Tiên có cha cũng như không, thằng Lô cha không nhìn nhận. Bao nhiêu lần mình tự hứa là phải khôn ngoan, tỉnh táo với bọn đàn ông con trai nhưng sao khó khăn không hãêm được. Cứ thấy đàn ông là chừng chực lao vào. Y chang con thiêu thân lao vào lửa, cháy trụi rụi lông. Mình biết những gì mình đang... chơi là chơi với dao, mà chơi dao là có ngày đứt tay chảy máu. Tay cũng đã từng bị đứt nhiều lần nhưng sao thấy dao lại ưa mó máy tay chân là sao hả trời?

(...) Hai đầu vú mình bị thâm đen, nở toè loe như bông kèn dù không cho đứa nào bú. Đứa đầu mổ, không có sữa. Đứa thứ hai cũng mổ, không cho con bú vì sợ vú hư. Vú mình con không bú mà chỉ toàn đàn ông con trai bú, mút, ngậm, nút, mò, đè, ngấu, nhai... Ngồi đếm lại, tổng cộng cũng hơn mười đầu ngón tay. Thằng nào cũng thích, từ già tới trẻ, từ Mễ tới Ấn, mà mình cũng thấy đã điá mới chết cha chứ." ( tr. 107-108)

Trích thế chắc đủ về văn phong của trường đoạn này. Có những chỗ còn sống sượng thô tục hơn nhiều. Nhưng đoạn trên đây đủø tiêu biểu cho cái thẳng thừng đáng nể của nhà văn. Nó ghê gớm không phải vì sống sượng thô tục, mà vì dám nói ra cùng một lúc cái bản năng ấy cùng với bản năng mẫu tử, cùng với những tình người khác. Tại sao không? Trong mỗi người chắc chắn hiện diện đồng thời nhiều thứ tình và nhiều thứ tính. Nói ra đồng thời như thế là một thái độ văn hoá chính trị, là phủ nhận thang giá trị sẵn có để đặt ngang hàng tính dục và những tình người, những hệ luỵ khác. Mặc dù tác giả cũng không nhắm mắt trước số phận thực tế một con người nổi loạn, vì tính dục quá mạnh, như vậy. Dù có ở Việt Nam hay ở trong xã hội di tản tại Mỹ thì Mỵ Châu cũng phải chịu những thiệt thòi khốn khổ, do không được giáo dục đến nơi đến chốn, do những chọn lựa bạn tình chỉ có thể sai lạc... Tôi đã đọc một tự truyện của một người "tính dục quá mạnh" như Mỵ Châu, nhưng sống ở Pháp và thành đạt. Tự truyện của bà (la vie sexuelle de Catherine M., tác giả Catherine Millet, nxb. Seuil, coll. Points, 2002) một thời ai cũng nói đến, nổi đình đám, best seller... cũng trần trụi sống sượng. Nhưng đọc thì chán như cơm nếp nát, mô tả lâm sàng về một người nữ đa dâm, chấm hết, mà ai lại không biết trên đời có những người như thế! Không một liên hệ đến đời sống xã hội của bà ta, chuyện thịt da mà không "có da có thịt" của đời thường thì cũng chẳng ra sao. Cả về giá trị văn chương lẫn giá trị văn hoá xã hội cuốn ấy là một con số không lớn tướng, không thể so sánh với "Âm Vọng". Thế mà... Giải thích hiện tượng sách bán chạy này cũng lý thú, nhưng thôi, lạc đề.

Ngoài cái khổ do "nghiệp chướng" bà ta phải chịu, Mỵ Châu vẫn là người đàn bà bao dung, đi làm nuôi con, nuôi cả bố của thằng chồng hờ đã bỏ đi, và vẫn có cái nhìn tỉnh táo về xã hội quanh mình.

"niềm vui của ông giờ đây là gặp lại vài ba người bạn lính trước thời 75, rôm rả chuyện trên trời dưới đất, vạch trần tội ác Cộng Sản, chửi lính Cộng Hoà hèn yếu, chính phủ Mỹ phản bội... Mỗi lần mấy ông bạn già tới chơi là mình lỉnh vào phòng để mấy ổng tự do thoải mái uống trà, rung đùi bàn chuyện phục quốc, khen chê xã hội Mỹ, buồn vui theo cộng đồng tỵ nạn..." (tr. 136) Và vẫn có một mối tình thắm thiết với một anh đàn ông bất lực về tính dục.
Imagine
03-02-06, 08:53
Âu Cơ

Chồng học tập cải tạo rồi chết bệnh trong trại, bà đem con vượt biển và chịu mọi thống khổ trong chuyến đi ấy. Làm assembler trong một hãêng điện tử để nuôi hai con, không có đời sống tình dục. Con gái vừa xong luận án tiến sĩ, nhưng con trai rất vắng mặt. Cả đoạn truyện về Âu Cơ là những bức thư bà viết cho người con trai. Kể lại tất cả: quá khứ, thời gian hội nhập vào xã hội Mỹ, những điều mắt thấy tai nghe trong cộng đồng, các dự tính với con gái... Bà là người lớn tuổi nhất, "gần sáu bó" (tr. 271).

Trường đoạn này dài nhất trong truyện, miên man đủ thứ. Mỗi bức thư là một câu chuyện ngắn gọn như một bức ảnh. Ngôn ngữ dịu dàng tế nhị của người mẹ tương đối có học thức nói với người con rất thương yêu, mặc dù bà có thể nói đến những vết hằn sâu nhất. Tôi nghĩ nếu xuất bản riêng trường đoạn này thì nó sẽ được đón nhận và ngợi khen rộng rãi. Vì nó cổ điển, và thật thành công trong cái cổ điển đó. Rất cảm động. Bạn đọc sẽ đọc trường đoạn Âu Cơ từ đầu đến cuối không bị sốc, mà sẽ ngấm dần một nỗi đau.

Ở đây chỉ giới thiệu trích đoạn hai bức thư, trong số gần 70 bức thư khác nhau:

"Minh thương của má,

Hôm nay là ngày giỗ ông ngoại, má thắp hương, bày hoa quả, nấu nồi chè đậu đen. Má bắt chước bà ngoại ngày trước. Bà ngoại nói ông ngoại thích ăn chè đậu đen lắm. Bà chọn ngày ông ra Bắc tập kết là ngày giỗ (...)

Thời chiến, ông ngoại từ bỏ bà ngoại cùng bầy con ra Bắc tập kết. Khoác trên người lý tưởng cứu dân cứu nước, tưởng như mình là đức Phật lìa bỏ gia đình đi tìm sự giác ngộ cho mình, cho chúng sinh.

Thời bình, ba con cũng ra Bắc, với danh xưng gán ghép mới là đi "học tập cải tạo".

Cả hai người đàn ông ra đi không ngày về. Cũng như bà ngoại, má chọn ngày ba con rời nhà làm ngày giỗ..."

(tr.215).

"Tự Do đồng nghĩa bằng mọi giá, thậm chí vô giá.

Cái ghe mong manh mười lăm thước dài, bốn thước ngang mặc sức xuôi sóng gió. Nước tiểu nước mưa nước mắt cũng là nước. Máu cũng là nước. Nước ối cũng là nước. Đại dương mặn chát như nước mắt, máu, nước ối.

Những con tàu làm ngơ, lướt qua... lướt qua... cứ lướt qua...

Rồi thì lục soát tư trang, tiền bạc, cướp bóc. Tụi đánh cá Thái Lan, da thịt ướp mùi biển mặn. Sương gió ngập ngụa chát đắng.

Khóc lóc. La hét. Thét gào."

Nhưng lựa chọn thật táo bạo của tác giả là đã để chung cả bốn bức tượng trong một quần thể. Vì thế cũng có thể bảo rằng "Âm Vọng" là câu chuyện về một nhân vật thôi. Nhân vật trừu tượng đó mang tính cách tổng hợp của nhiều con người cụ thể, nhưng vẫn có cái gì chung nhất của người đàn bà Việt Nam di tản. Thế thì lại đặt ra một câu hỏi cắc cớ khác: Phải chăng trong mỗi người đàn bà đều có một phần nào, dù nổi hay chìm, những điều được mô tả trong ba người kia? Không dám đâu, xin mỗi người tự trả lời và tự chịu trách nhiệm. Một cách khác là thắp hương khấn hỏi nàng...
Imagine
03-02-06, 08:55
Man Nương

Man Nương là quá khứ gần của Tiên Dung thì phải, hay Man Nương chính là Tiên Dung, trẻ đẹp hơn, tự do hơn, và thể hiện được ước mơ vừa sống được với người Việt, vừa hội nhập được thực sự với xã hội Mỹ. Có phải chăng chính vì thế phải viết văn:

"Hôm nay là ngày sinh nhật của tôi. Suỵt anh đừng nói gì cả. Tôi kể cho anh nghe câu chuyện của những người đàn bà trong mọi trạng huống (...) (bà thứ nhất) hằng đêm ngồi viết thư gửi cho linh hồn cậu con trai (...) . Người đàn bà thứ nhì, không hơn tuổi tôi nhiều. Bà thường đùa rằng bà đang làm công việc bịa chữ, kiếm chữ, giữ chữ, ráp chữ, chơi chữ với thái độ say mê nhưng nghiêm chỉnh (...) As a person, bà ta là người cực kỳ đơn giản. As a writer, bà ta lại là người vô cùng phức tạp. Bà thường tự an ủi, phức tạp là bản chất của đời sống (...). Người đàn bà thứ ba thì là chị họ xa của tôi. Ôi! ngày tháng năm như thân xác chị ấy phủ đầy những tình tích! tôi thấy bóng đêm đang chiếm lĩnh dần thế giới trần gian chị ấy..." (tr. 361 - 362)

Man Nương là người duy nhất có tên, Mây. Mây có mặt trong cả ba tự truyện của ba người đàn bà kia, như một an ủi, một ước vọng, một tương lai. Những vấn đề của Mây vừa còn là của cộng đồng người Việt, vừa đã chuyển phạm vi, mở rộng hơn đến những vấn đề chung của xã hội Mỹ : vấn đề đồng tình luyến ái, vấn đề toàn cầu hoá...

Viết đến đây lại có vài điều hơi tiếc muốn khấn hỏi người "tứ phương cầu đảo không điều gì không ứng" (tr. 305) là Man Nương: giá chi trong "Âm Vọng" có thêm một bức tượng về những phụ nữ cùng chồng con di tản lúc đã từ 30 đến 40, vợ các trí thức, sĩ quan, bản thân họ cũng có thể là trí thức, mặc dù ít người phải kinh qua những thảm cảnh của thuyền nhân vì di tản một cách tương đối ưu đãi, không phải sống lâu trong các trại tỵ nạn... họ cũng đã phải phấn đấu vật lộn ghê gớm một cách khác trên đất Mỹ để nuôi dạy con cái, để giúp đỡ chồng, không kể những người đã nuôi chồng ở VN và tìm cách đem chồng sang Mỹ. Âu Cơ thiếu cái quan hệ vợ chồng đó, và "Âm Vọng" thiếu người phụ nữ trí thức được đào tạo tại miền Nam trước 75. Cũng xin thêm, sao trong truyện này thiếu hẳn những nhân vật nữ "phản diện"? Theo tôi biết thì trong đám người quay cuồng mù quáng thực sự vì hận thù vẫn đè nặng, của cả bên này hay bên kia, không phải chỉ có đàn ông, và sự hy sinh không bờ bến cho những người thân không nhất thiết đưa đến một thái độ bao dung và sáng suốt. Lại có một điều tôi không hề muốn nói đến mà nhân tiện phải nói đến: một tờ báo tiếng Việt cũng vào loại đứng đắn đã không hết lời ca ngợi một phụ nữ gốc Việt nghiên cứu về vũ khí cho nước Mỹ! chuyện gì đã xảy ra vậy? Không thiếu gì những nhà khoa học nghiên cứu về vũ khí, đàn ông hay đàn bà, ở bất cứ đâu, bất cứ thời nào. Gốc gác của họ là chuyện rất phụ không đáng để ý.
Imagine
03-02-06, 08:58
"Âm Vọng" là một áng văn chương đề cao nữ tính Việt Nam qua việc mô tả những mẩu đời của những con người thường trong một hoàn cảnh khắc nghiệt. Họ đã bươn chải, đã khắc phục được một quá khứ dữ dội để vươn lên, để sống còn, với ít hay nhiều thành công. Mà vẫn giữ tình người, mà vẫn sáng suốt nhìn đời. Và xin để ý là mọi nhân vật đều nói ra ở ngôi thứ nhất (Tiên Dung và Man Nương về mặt hình thức thì được mô tả ở ngôi thứ ba, nhưng người đọc nhận ra ngay đó là ngôi thứ nhất, nhất hơn cả những người kia). Theo tôi đây là đặc thù của tác phẩm. Mô tả những người đàn bà Việt Nam chịu khó, giỏûi giang, nhẫn nhục vân vân, đều đã có người làm. Nhưng để cho những người đàn bà khác tuổi tác, khác trình độ, khác tính tình mà đều tự mô tả và tự ý thức những điều ấy, tự đánh giá mình và đánh giá đám đàn ông chung quanh... thì đó là mới, và là một mốc quan trọng trong việc đấu tranh cho nữ quyền. Có hai yếu tố theo tôi nghĩ đã đưa đến bước đột phá ấy, một là phong trào nữ quyền chung trong cả thế giới, và hai là sự hy sinh không bờ bến của những người phụ nữ Việt Nam, trong chiến tranh ở cả hai phía, và sau chiến tranh ở những người di tản. Những hy sinh đó đã và đang không được xã hội nhìn nhận đúng mức, thậm chí vô ơn, gây phẫn nộ, rong rêu cũng phải kêu gào.

Để phục vụ cho cấu trúc của tác phẩm, có những đòi hỏi cần thiết về văn phong mà tác giả đã đạt đến rất thoả đáng: thay đổi theo từng loại người, các giọng Bắc, Trung, Nam, đều nhất quán, sít sao, từ ngữ giàu rộng; riêng về mặt này đã thật đáng phục cho một người sinh sống ở Mỹ từ giữa trung học. Đồng thời tác giả đã tích tụ rất nhiều kinh nghiệm sống của người Việt tại Mỹ qua một loạt những nhận xét về cuộc sống tại San José: tinh tế, ngắn gọn, đôi lúc dí dỏm, và đôi lúc thật trần truồng, trong cái nghĩa ông vua ở truồng.

Nhưng đây không phải là một truyện dài nếu hiểu theo kiểu cổ điển là có những nhân vật biến chuyển theo thời gian, với những biến cố ngoại nhập hay nội sinh, với diễn biến của những mâu thuẫn... " Âm Vọng" tĩnh như những bức tượng. Nhưng qua những nét hằn trên khuôn mặt và thân hình nhân vật người ta thấy vọng lại cái quá khứ hình thành nên cộng đồng người Việt di tản sau 75. "Âm Vọng", tiếng vọng lại của sóng biển, của hãi hùng, hải tặc, thuyền nhân...tiếng vọng lại của một lối sống, một sự thua trận, tủi nhục, mất mát... để thấy và để trân trọng cái còn lại, sâu thẳm, là tiếng vọng của ngôn ngữ.

Ngôn ngữ có tầm quan trọng đặc biệt trong văn hoá người di tản, lại càng đặc biệt đối với Tiên Dung / Mây / Lê Thị Thấm Vân. Vì vậy không thể không trởû lại thử nghiệm của của chị trong việc viết không có chấm phảy mấy trang liền. Dĩ nhiên điều này không mới trong văn học Âu Tây hiện đại, song tôi đã nghĩ có những lý do về ngôn ngữ học khiến cho người ta khó mà đem cái bút pháp này vào tiếng việt. Vì độ dư thừa (redundancy) của các ngôn ngữ Ấn-Âu (động từ phải thay đổi để gắn với chủ từ chẳng hạn) cho phép người ta tìm lại được dễ dàng hơn cấu trúc hoàn chỉnh của câu. Trong khi ấy tiếng Việt là một ngôn ngữ bất biến vì thế có vẻ như ít độ dư thừa hơn, và nếu không có chấm câu thì khó tìm lại một cấu trúc câu độc nhất, nghĩa là dễ sinh đa nghĩa. Nhưng "Âm Vọng" cho thấy trong một chừng mực nào đó ý ấy sai. Tại sao? xin hỏi các nhà ngôn ngữ học, hình như có một cái gì đó như nhịp điệu của câu, như tác dụng của những chữ đưa đẩy, như ảnh hưởng của ngữ nghĩa lên trên cấu trúc... có lẽ đến một độ dài nào đó thì độ dư thừa của mọi ngôn ngữ đều gần nhau chăng... Một khi giả dụ rằng người đọc có thể hiểu văn phong ấy thì nhà văn hoàn toàn có quyền dùng hình thức không chấm phảy để mô tả dòng suy nghĩ miên man nhất là dòng suy nghĩ của người mắc bệnh tâm thần như trong trường hợp "Âm Vọng" nói cho cùng ngày xưa các cụ có biết chấm phảy gì đâu nhưng dù sao tôi nghĩ cũng không cần thiết đi quá đà phải cho người đọc thở với chớ ít ra là nếu bắt tôi tự chia câu hay bắt tôi đọc liền tù tì đi nữa thì cũng không thể làm như vậy năm sáu trang liền được có cái gì hơi giả tạo vì dù sao mạch ý nghĩ và mạch văn cũng có những chỗ ngắt quãng rõ ràng khi ấy nếu không muốn chấm phảy thì có lẽ nên xuống dòng.

Ở đây tôi thiệt tình ngứa cổ muốn kêu một tiếng để vọng lại tác giả trong cái thử nghiệm chữ nghĩa này. Ý nghĩ của người ta khi viết ra thì nó tuyến tính và đơn tuyến. Mô tả tư tưởng người tâm thần như trong "Âm Vọng" viết ra là đơn tuyến, mặc dù nó chạy vòng quanh, đó cũng là một giả thuyết, vào loại khó kiểm chứng (bạn đọc có để ý nó chạy vòng không? xin đọc từ trang 336 trở về trang 324). Có chắc gì tư tưởng người ta khi không nói ra thành lời (nói to hoặc nói thầm trong đầu) là đơn tuyến đâu? có thể các mạch của bộ óc hoạt động song song (một giả thuyết vào loại khó kiểm chứng khác). Vì vậy xin phép tham dự cuộc chơi bằng cách thử viết lại làm thí dụ một đoạn trong trang 324, thêm một chỗ xuống hàng thôi, mà có lẽ vừa dễ đọc hơn lại vừa phức tạp hơn (hãy tưởng tượng đến chỗ xuống hàng thì cái đầu vừa quay về vừa đi tới).

" tư đi đường đời đừng sợ sự sáng hay sự sống sáng hay sống cũng y chang như nhau tui nói với lá thông chết mà nó hổng ke giờ gục mặt vuốt nước mưa ráng mà chịu con cặc đụ má nó hổng nghe ông thì ráng chịu à nha cãi lời ông là sư bà không cho ăn là đói rã họng ai nói tui ngu tui khùng tui dị đang tui điên tui dại tui tàng tàng tui mát dây tui thuộc người cõi trên cõi ngoài cõi lạ cõi hành tinh khác tui cám hấp tui nửa khối óc tui chậm trí tui biết tui không té giếng là được rồi lấy tâm lý học cộng phân tâm học lý giải cắt nghĩa đặng kết luận tui là thằng khùng bẩm sinh lâu lâu âu yếm gọi tui là thằng dở hơi hay tế nhị một chút nói đầu óc có vấn đề tui hổng ưng tui đục tui ngửi mùi long não đâu đây trời mưa dữ dội tui hít hà hổng lẽ má tư dzià núp sau bụi trầu đặng chơi khó dễ tui hay sao má tư đang còn ở miệt Vĩnh Long khi nào tui dzià má tư hái dừa xiêm cho tui uống mệt nghỉ... "

*

"Âm Vọng", tiếng vọng của nữ tính. Hè này tôi có nhậu lai rai (và cà khịa) trong một khung cảnh hữu tình, với một người bạn mê triết và (cơ bản là) theo trường phái Hegel. Thú thực cái tư tưởng "Lịch sử là Ý Thức tự thể hiện mình qua những thời quán (moment) của biện chứng " không thuyết phục tôi cho lắm. Nhưng về cái quan hệ đàn ông đàn bà, Âm Dương, thì hình như trường phái này có lý. Những người duy vật chẳng ai bảo đó là động lực của lịch sử cả. Người ta hay quên những gì người ta không giải thích được thỏa đáng. Âm dương là một phần (dù nhỏ) của động lực lịch sử chứ: Đàn ông đàn bà có trước hay giai cấp có trước?

"Âm Vọng", nữ tính tự ý thức và tự thể hiện, một thời quán của lịch sử loài người nói chung, hy vọng thế. Tình yêu, tình mẫu tử , tình người thay cho chiến tranh, áp bức, đè nén, điên loạn.

"Âm Vọng", âm thịnh. Nhưng mong rằng không vì thế mà dương suy. Nếu không thì buồn chết, phải không?

Nguồn: Hợp Lưu số 70
Imagine
03-02-06, 09:01
Mùi của riêng Ngân
Lê Thị Thấm Vân

Con người đuổi theo cái/điều mình muốn hay thích. Đến đất lạ, thủy thủ tìm ngay nhà thổ, còn nhà địa chất nhặt đất đá để khảo sát. Ngân là dải đất khô lạnh không dấy trong anh chút nóng hổi ban đầu gặp. Lâu lắm rồi, dương vật anh mốc meo tạnh nguội, lắm lúc như vành tai anh sờ mà như không sờ. Ngân đã làm nó sống lại, chính anh phải kinh ngạc. Những sáng sớm căng cứng thường xuyên với cảm giác đê mê phấn khích chứ không phải do hiện tượng NPT. Lúc đấy hình ảnh Ngân thắm thiết. Anh vòng tay qua gối, qua khoảng trống của giường tìm mùi da thịt Ngân.

Trưa nay ánh sáng phản chiếu từ ô cửa sổ anh thấy mắt Ngân chiếu ra tia u sầu thường trực. Chán ngán mọi tiếng động chung quanh. Sao Ngân cứ sống trong tình trạng sầu khổ? Từ ngày có Ngân, miếng thịt đeo giữa háng anh bớt bèo nhèo vô duyên. Thay vì cạn sức anh sung sức. Kiệt lực anh được hồi sinh. Anh mê mùi của riêng Ngân. Mùi mồ hôi giữa khe vú. Mùi nách hở hang mùa hè. Mùi khói ám ở háng khi anh chuồi mặt dần xuống phía dưới thân thể nàng. Ngân gầy gò, mỏng manh như bé gái 15 tuổi muộn dậy thì lồng trong óc não người đàn bà ngoài ba mươi ý thức quyền dâm đãng. Anh phải làm tất cả những đòi hỏi để Ngân được sướng, như thể anh đang sướng, cực sướng. Anh sẽ sống thế nào nếu một sáng Ngân biến mất? Anh còn trẻ con quá chăng? Anh mê nàng mất rồi.

Con đường chuyển hóa là con đường cam go nhất vì không có kết thúc. Thống khổ luôn phục kích trong đời sống quá ngắn của ai đấy nhưng quá dài đối với nàng. Mũi Ngân luôn ám mùi tang tóc của chính nàng. Màu tàn rụi của chiếc lá chết. Làn da căng mịn hay tái mét của bọn sinh viên lắm khi như những cái ghế cứng ngắc trống rỗng trước mặt nàng trong giờ dạy. Tiếng động của chân ghế xô đẩy. Tiếng ầm ừ trong cuống họng của con bé Tanya muốn hỏi nàng gì đấy nhưng rồi thôi. Ngân hất tóc rũ bỏ tất cả khi vừa bước chân ra khỏi cửa lớp, bước dọc theo hành lang, vào văn phòng ngồi yên một lát, uốn éo lưng vài cái rồi úp mặt trên bàn không nghĩ gì cả. Ngân sợ trong bóng tối tạm bợ của mặt bàn tiếng điện thoại rung lên. Giọng của mẹ. Người đàn bà với chứng điên loạn như thể vờ vịt với mọi người. Ngân, chứng tích của loạn luân, ra đời bởi một cơn nứng. Thống khổ lẫn thù hận không còn chỗ chứa cho lời nguyền rủa. Nắng ấm không có trong thế giới nàng nhưng bao phủ quanh Hoàn mỗi khi anh gọi là em là bạn hay em và bạn. Tiếng chân đồng nghiệp đang đi qua ngoài cửa với cái bóng chần chừ. Ngân muốn ngưng ngay mọi thỏa hiệp. Ngân là cái mụn nhọt bưng mủ phát sinh do Ngân cạy hay tự trói mình vào những nỗi khổ đau? Ngồi một mình trong những buổi chiều không ngày tháng tìm sờ mụn nhọt như thể mân mê nỗi sầu thảm đời mình. Ngân thử đừng bám níu vào cái Ngân không rõ mình muốn bám níu xem sao? Hơi thở chẳng hạn, nếu ngưng sẽ thế nào? Mặt dao sắc nhọn cắt đôi miếng tofu trắng mướt mịn tối qua ở nhà hàng Nhật trong tia mắt anh là kẻ đang bám níu lấy vạt áo Ngân một cách thiết tha khốn khổ. Thác loạn xô đẩy trong từng sớ gân Ngân. Thành khẩn van lơn và lì lợm như đôi boot bó chặt hai ống chân nàng dưới gầm bàn. Ô hô, vậy là anh yêu nàng quá sức rồi.
Imagine
03-02-06, 09:03
Nhiều năm anh lửng lơ sống. Giờ đây giọng nói Ngân chan pha giọng nói con bé Vi khi nó nhõng nhẽo đòi anh đổ sữa vào tô cereal. Giòng sữa chảy như lưng trần anh quặn chặt lưng trần Ngân. Hình ảnh nhấp nhô ấy cứ làm anh muốn dốc mãi bình sữa. Những buổi chiều nhạt thếch vô cảm trôi qua, trôi qua trước khi Ngân còm cõi xuất hiện. Ngân, mung lung lạnh lẽo trong ngày, nóng sốt tan loãng trong đêm. Mùi da thịt Ngân gõ gõ óc não anh thầm thì giễu cợt dậy đi dậy đi cha nội. Chùm lông nham nhám của Ngân, giọng nói ngưng ngang bất chợt của Ngân, tiếng cười hiếm hoi của Ngân dưới trụ đường đèn đêm cùng ý tưởng chỉ muốn biến mất và cái cách pha trò bất chợt thông minh kì lạ của Ngân như quần lót dính máu Ngân nhét trong túi quần anh không biết để làm gì. Anh chỉ biết không thể để mất. Máu khô đỏ biến thành màu đen khô quặt. Hình ảnh Ngân ngồi chấm bài rồi ngẩng đầu bảo anh biết không em có biệt tài nhớ tên từng đứa sinh viên đến độ chúng ngạc nhiên, còn em không hiểu sao em có trí nhớ quái đản thế. Ngân vân vê lọn tóc. Em đã từng có một thời mê những con chữ, nàng tiếp. Anh nghĩ em vẫn còn đấy chứ, anh nói. Thế hả anh? Nàng cười. Sao đêm qua con mèo hoang nhìn em rồi bật khóc anh ạ. Em hoảng quá hỏi tại sao nhưng nó ********* thèm trả lời em. Mắt Ngân lóng lánh làm anh hoảng sợ. Ngân quét ngang quét dọc những lằn roi quái ác trên lưng, mông trần anh, anh để mặc không chút kháng cự. Cứ để mặc với nỗi thích thú vô biên và những lần sướng ngất.

Màu mưa của ba thế kỷ trước là màu gì? Đời ngổn ngang phức tạp nhưng sao ta ra sức mong nó cạn cợt. Giá như ta thả cái ta đang khăng khăng nắm giữ thì sẽ nhẹ nhàng biết bao! Dính mắc hay tham đắm phát sinh cháy bỏng lòng dạ. Ham muốn thân thể trần truồng và màu mắt tháng tám của Ngân quấn chặt trong tấm drap lụa mỏng. Sự mềm mại của làn da hay làn lụa cứ nóng dần lên như sự chờ đợi đòi hỏi phải được thỏa mãn. Ngân là bi thảm lôi cuốn, quyến rũ chết người. Thông minh, nhạy cảm, tinh tế, đong đưa... đong đưa... mạnh nữa... mạnh nữa... hai đùi dài khẳng khiu đong đưa... mạnh đi... mạnh nữa đi mà... Ngân nói, cứng cỏi trong từng chữ. Chữ là mệnh lệnh của nàng. Từng ngấn xương trong anh nở phồng rền vang, bầu ngực Ngân nhấp nhô dậy sóng. Anh rán sức thúc mạnh hơn. Màu da xanh xỉn dấp dáp mồ hôi. Tai anh bốc khói, hơi thở anh bốc khói. Anh thúc mạnh như là cái thúc cuối. Phải thế không? Giọng ai đang lùng bùng trong tai anh? Không! Không thể là vợ anh. Cái dáng lủi thủi gà con nhai cơm tránh gây tiếng động. Cứ thế, anh thúc. Trước rồi sau. Vợ của anh và Ngân của anh. Trong miệng Ngân, cửa mình ngân, hậu môn ngân. Em đã từng bảo em thích thế phải không Ngân? Để cho em biết những cái lỗ trên người em nông hay sâu và dương vật anh dài hay ngắn. Kẻ tra tấn và người bị tra tấn. Anh có chuyển tải hết sức sống trong anh đang bùng vỡ hay không đây? Anh cứ thúc và thúc. Anh đang dấn cả thân anh trôi tuột vào trong nàng. Ồ, quan hệ tay ba. Choáng thật anh nhở! Nàng thường nói thế khi ngạc nhiên, mà nàng thì ngạc nhiên trước những thứ rất vớ vẩn. Anh yêu em anh yêu em anh yêu em. Anh nói với tấm lòng hào phóng. Anh mất mạng như bỡn. Chẳng sao. Anh bay bổng trong vòm trời sâu rộng không đáy, không bảng chỉ lối ra. Con đường độc đạo dẫn vào trong nàng, cửa mình rền vang.

Tiếng động trong người Ngân đánh thức anh dậy. Chắc chắn, vững vàng anh không thể từ khước. Ngân, kẻ phiêu lưu tình dục của mẹ và tàn khốc của bố tạo thành cơn Tsunami kinh hoàng phá hủy mọi quy củ, nề nếp, gia phong. Máu biến thành nước lã. Nếu ông ta không là bố em thì em phải gọi ông ta là cậu. Cậu ruột em là bố của em, anh biết không. Ngân nói. Mẹ em là người đàn bà vừa ngu si lại vừa xốc nổi. Em ra đời bởi một cơn nứng. Nàng ưa lặp lại câu này. Bố em và cậu em xài chung một con cu. Giọng nàng tưng tửng. Anh nghe không với niềm tin của thằng bé 6 tuổi sẫm trời đứng trước ống khói chờ ông già Noel tuột xuống với túi quà nặng lệch một bên vai. Lần đầu lau sạch người Ngân vì cơn xỉn bí tỉ, cùng những viên thuốc an thần nàng nói em không muốn nhìn thấy nhưng phải vốc chúng vào miệng mỗi ngày ba bận mới sống được anh ạ, mà em có muốn sống đâu nào. Ngân say vì rượu, anh say vì Ngân. Thế mới buồn cười. Anh rờ rẫm men theo đường cong vòng mông khiêm tốn của nàng. Trong bóng tối vũ trụ riêng Ngân anh ngửa mặt lao thẳng vào, mặc kệ. Giá trị nhân sinh, anh nhủ thầm. Hình bóng Lan, vợ anh lủi thủi vô ra, nhiều năm nay chỉ ăn rau, ngũ cốc, uống sữa đậu nành lạnh vào mùa hè và nóng vào mùa đông. Lan chỉ còn cạo đầu, mang áo tràng nâu sồng là trở thành ni cô dưới mắt mọi người. Lan đã không còn là Lan của những ngày xưa cũ dưới mái nhà, dưới ánh đèn vàng thư viện, trong lòng xe nồng mùi xăng cặn. Anh chẳng còn nhớ lần cuối bàn tay Lan vuốt tóc anh là bao giờ. Tóc anh giờ thay cho chuỗi hạt bóng nhẫy thân thiết. Tâm linh là tiến trình chuyển hóa cá nhân. Cá nhân anh, Lan, Ngân hay bé Vi? Mùi háng Ngân là tâm linh. Anh nhắm mắt, xoa xoa tóc, cúi đầu lặng thinh. Kẻ ăn năn thống hối là anh là Ngân hay là Lan? Ngôi chùa nằm trên dãy núi quanh năm phủ sương trắng đục có người bằng da bằng thịt là Lan, vợ anh mỗi tháng 15 ngày di động hít thở trên đấy.

(trích đoạn tiểu thuyết đang viết)

http://www.tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=46
Hoàng Cúc
04-02-06, 06:05
cái này mà cũng cho vào Văn chu*o*ng Thi phú sao ? Em đọc truyện của bà này o*? ngoài, viết do*?, gọi là văn thì không đu*o*.c vì nó chẳng có chút ho*i hu*o*'m văn chu*o*ng gì, gọi là truyện tục cũng chẳng phải vì nó chu*a đủ tục, chu*a đủ gọ*.i cảm, viết còn thua cõi thiên thai
Sất
05-02-06, 09:25
Đọc những truyện, văn thơ tục hoặc nộn xộn lung tung lăng nhăng ko có kiểu nhìn rõ ràng tươi đẹp kiểu vẽ tranh tả thực như bạn Thấm Vân, Hoàng Diệu, Sất, vvvv thì người đọc phải có một nỗi đau khổ bức bách suy tư tối thiểu liên quan đến hiểu biết, kiến thức bối cảnh xã hội. Nếu ko thì với họ nó sẽ ko có giá trị, thậm chí còn phản giá trị.

Truỵên này của bạn Thấm vân viết trong bối cảnh mấy người thị dân SG miền nam đau khổ phẫn nộ cùng cực sau khi thống nhất 75 phải tìm các trốn vượt biên, chuyện này vẫn là một cấm kỵ, khoảng trống ko có hiểu biết của mấy người trẻ ngoài bắc. Do vậy, bạn Hoàng Cúc vào đọc chỉ thấy tục với sex, chả hiểu tại sao người ta phải tục sex ra thế là lozic, như vậy nó sẽ ko có giá trị với Cúc, với đa số nick đọc ở đây là một lẽ dễ hiểu.
jhu
05-02-06, 09:48
Gì chứ những thứ rác rưởi như Diệu dung, Vân vung thì mời T.Q cứ mái thoải mà enjoy một mình, nhá, không sợ ai giành mất đâu.
Imagine
12-02-06, 06:07
"Tập truyện 'Đôi Bờ' tác giả viết có phong cách và nghệ thuật. Cần đọc để tiếp cận với nghệ thuật và ngôn ngữ ở hải ngoại."

Đặng Tiến.
Tạp chí Diễn Đàn, Pháp.

-------------------

Khổ nạn
Lê Thị Thấm Vân

iiii

Mùi thông tươi, hăng hắc. Vỏ thông sần sùi, nhám. Lấy móng cạy, coi chừng xước móng chứ chẳng chơi. Ớn sợ rát buốt luồn từ gáy chạy tuột dọc sống lưng con bé.

~~~~

Con bé nhắm tịt mắt. Bóng tối làm nó bớt hoảng, nhưng da thịt vẫn như bị cát bám. Trong thế giới tối, nó từ từ thấy lại con đường thẳng tắp bề rộng bằng lòng bàn chân, hun hút phía trước. Chút nguy hiểm chút tò mò chút phiêu lưu chút thách thức trộn lẫn như nồi lẩu sắp sửa sôi. Con bé dang thẳng hai tay bước tới, dẫu biết ngã bất cứ phương nào. Đã một lần ngã, Chúa hay Satan đã đưa tay phù hộ, nó vớ được sợi giây điện bám cứng, nhắm tịt mắt, ngưng thở... phịch. Mông trái bị bầm tím mấy tuần. Sợ, ớn nhưng con bé vẫn ưa đu với hiểm nguy đi đường thẳng bề rộng bằng lòng bàn chân.

Con bé leo lên nóc chuông nhà thờ, ẩn mình ngó xuống làng mạc qua màu khói. Nóc nhà tranh, tôn, ngói, lùm cây, kinh rãnh, ao, giếng... cùng bóng người lầm lũi trên con lộ ngoằn ngoèo đưa về nơi chốn nhất định. Con bé ghì chặt thanh sắt, buông là nát thây, dưới kia muôn vàn đá tảng to nhỏ tựa hàm răng cá sấu toang hoác. Nhìn xuống, nước mắt con bé nhỏ giọt, chẳng hiểu vì sao. Nó buồn buồn, mệt mệt như thể chẳng thiết tha gì. Nó nhìn nước mắt ấm của mình thấm dần vào thanh sắt lạnh.

Con bé ngước nhìn lên. Có phải trên kia là thiên đường? Thiên đường đồng nghĩa bay bổng, lòng nhẹ tênh. Sự bước tới ngước nhìn trời cao bám cứng óc con bé từ hôm đấy.

~~~~

Gầm giường phủ bụi thời gian. Bầy mèo nửa hoang nửa nuôi chẳng rõ con số suốt ngày đồng thanh rên rỉ. Mùi *****, nước đái thậm chí xác mèo rã tan dần trong xó kẹt. Bóng mèo con phóng nhanh. Bóng mèo mẹ nhếch nhác trong căn phòng tù mù cánh cửa chưa lần mở toang. Bên ngoài vườn bầy chó nửa khôn nửa dại chiếm trọn. Thân chúng ốm o ghẻ lở có cùng tia mắt gầm gừ đục lờ. Lông như bông gòn tẩm bụi bay tá lả. Răng mọc tràn cả ngoài hàm nhọn hoắt, trắng hếu. Dàn su cuối vườn trái trĩu mướt xanh. Chỉ dàn su là xum xuê sức sống.

Bà bác mặt rỗ đều như chén chè cau đậu nở bung. Mí mắt phải dán kín. Mắt trái nước rỉ quanh năm. Giọng nói kềm ép trong cuống họng. Con bé vận dụng trí khôn tối đa mỗi khi đối diện. Tảng sáng bước xuống giường xỏ chân vào dép đến khuya mù mịt rút chân khỏi dép bà chỉ lo miếng cơm, tay lần tràng hạt và tẩm thân bằng dầu Nhị Thiên Đường.

Mỗi chiều thứ tư, ngày giữa tuần, đợi bóng nắng vừa qua khỏi mé hiên, lướt dần đến ụ đất có tảng đá to sần. Con bé lần mò lên nhà trên, men theo bờ tường ẩm thấp, băng qua khoảng đất trống cỏ cằn cỗi nhưng lá to dị thường, nghe tim rền vang gấp gáp như hồi chuông báo tử.

Người đàn ông ngồi quay lưng, áo choàng đen phủ kín. Đôi dép cao su quai xanh lơ, chút lộ liễu ở chốn riêng tư. Ông ngồi giữa những chồng sách. Con bé tiến dần tới, đứng yên, đầu cúi, tay cố kéo nhúm tóc nhét vào mồm, nghiến chặt giữa hàm răng, tóc vẫn không đứt.

“Lại đây, lại gần đây.” Người đàn ông ra dấu. Con bé nhích nhẹ người, hàm răng nghiến mạnh hơn, tóc vẫn không đứt. Ông gấp cuốn sách, buông cây bút, con bé liếc nhìn, cây bút bốn màu xanh đỏ lục đen. Con bé bỗng ước được cầm cây bút bấm từng màu một, hoặc hai màu, hoặc bốn màu một lượt. Tích tắc tích tắc vui tai và sướng tê đầu ngón. Ông choàng tay qua người con bé, kéo áp sát người ông. Ông bóp nhẹ vai, rồi thong thả xoa xoa. Ông lần tay xuống eo rốn bụng hông. Bàn tay càng lúc càng gấp gáp và tăng sức nóng. Con bé vẫn đứng im, áp sát vào người ông, mắt không rời cây bút bốn màu. Ông bế con bé đặt lên đùi, đong đưa. Toàn thân ông nóng hổi, thở khó nhọc. Ông đưa hai tay bưng mặt con bé hít sâu, cuống họng ông co giật. Môi ông rà kiếm mùi da mặt con bé. Tiếng ầm ừ mắc nghẹn. Cục hầu trồi trụt liên hồi. Con bé nhắm tịt mắt, cố xua tiếng mèo rên rỉ đồng loạt dưới gầm giường. Hàng loạt tròng mắt trắng dã đàn chó chờ chực vồ khúc xương bà bác thẩy ra. Con bé chỉ thở được khi hiện hình dàn su trái xanh mươn mướt. Nhưng sao con bé lại ngửi được mùi nhựa thông? Mùi thông ngầy ngậy, hăng hắc dấy lên kích thích lạ kì. Con bé không hiểu, hoàn toàn không hiểu. Nó đưa tay vuốt nhẹ mu tay người đàn ông. Mềm ấm. Nó vuốt dọc theo từng lóng tay lật dở trang sách, nghĩ chỉ mình nó sờ được. Con bé nuốt ực nước bọt trong họng bất chợt trào. Nước từ đâu mà trào lắm thế này? Trào! Trào mãi. Càng nuốt, nước càng trào. Cứ nuốt, cứ trào. Bụng dưới nó oằn cong, sưng nẩy như bí đái. Mùi nhựa thông hăng hắc rờn rợn. Vỏ thông thô nhám sần sùi. Giờ thì nó thấy phần dưới của nó đang khép mở, mở khép liên lỉ và bắt đầu nhầy nhụa.

Bóng tối dưới gầm giường ám mùi thời gian.

Người đàn ông khẽ khàng buông con bé. Ông bước nhanh qua phòng bên đứng lặng một hồi, mặt ngửa nhìn trời. Ánh nắng chiều chiếu rọi phủ toả thân ông. Thứ hào quang phù phiếm sắp lịm tắt. Con bé bên này phòng tròn mắt theo dõi bóng ông qua tấm màn mỏng. Toàn thân ông khẽ rung. Tấm màn lay động. Bóng chiều nhập bóng ông làm một. Bần bật. Cong người. Kìm tiếng nấc. Ông luồn tay vào vạt áo chùng đen nắm trọn nó thật chặt. Lên xuống - xuống lên - lên xuống - Mạnh bạo gấp gáp liên tục. Chuông nhà thờ đổ dồn. Những trang thánh kinh lật vội. Mặt ông vẫn ngửa hướng mặt trời rọi chiếu. Rỡ ràng.

“Này là mình ta, các con hãy nhận lấy mà ăn. Này là máu ta các con hãy nhận lấy mà uống.”

Con bé bỗng gập người. Dòng nhựa thông phóng vọt. Nó vội nhắm tịt mắt.

“Cha ơi! Sao cha lại bỏ con?”

Mặt đất phủ bụi tro.

Tắt thở.

Những trái su xanh trĩu cả dàn.

Con bé nghĩ tới cái bóng di chuyển tanh lạnh của bà bác. Ừ, sau cơn mưa mùi thông sẽ không còn. Tròng mắt chó dại hoang cũng biến. Tiếng mèo rên cũng bặt. Cục tròn trồi trụt ở cổ cũng lặn. Còn lại là mảnh da đỉnh đầu trắng toát của người đàn ông đang nhoè dần to dần trong bóng đêm, láng trơn tựa trái vú nó đang hồi nhú.

Sách phủ kín tường. Bìa gáy bọc giữ thời gian. Mùi sách cũ, mùi mực mới. Ngôn ngữ khó đọc con bé thắc mắc phải là ngôn ngữ Đức Chúa Trời. Bổn phận nó là đi quanh phòng nhặt những cuốn sách dưới sàn xếp đều trên kệ.

Người đàn ông trở ra với bóng chiều tắt lịm trên khuôn mặt. Ông lại gần đưa tay vuốt tóc con bé. Con bé thấy rõ màu xanh da mặt ông nhoà cùng màu màu tối căn phòng tẩm mùi thánh Chúa. Con bé buông thõng tay, chạm phải vị nước nhầy nhụa trên áo chùng đen. Mùi nhựa thông, trắng đục như sữa, hăng nồng. Con bé rùng mình, lòng mềm rủ.

“Bé Na.” Ông gọi, “Lớn lên muốn làm gì nào?” Ông hỏi.

Giữa đống sách ngổn ngang, con bé buột miệng. “Viết sách!”

Ông cười. Con bé cười theo.

Tiếng gõ cửa của bà bác nhắc nhở giờ cơm chiều. Giờ xếp sách đã xong. Con bé trở lại căn nhà dưới góc vườn, nơi bốn bức tường ám mùi xác mèo và dầu Nhị Thiên Đường. Một tuần nữa nó mới đặt chân lên lại căn phòng này, biết chắc thế. Nhưng khi nào má đến đón thì nó hoàn toàn mù tịt. “Sắp xếp xong công việc má sẽ trở lại đây đón con về.” Câu nói cuối cùng nói nghe từ miệng má nó. Vừa đi nó vừa tính nhẩm cũng đã hơn sáu tháng rồi. Con đường thẳng tắp bề ngang bằng lòng bàn chân dài sâu hun hút. Chỗ trú ẩn trên nóc chuông. Thanh sắt lạnh thấm dần giọt nước mắt nóng.

Chúa đọc được hết mọi ý nghĩ.

Con bé bật cong người sợ hãi.

Chúa luôn theo dõi mọi hành động ta làm.

Con bé nghe hồi chuông báo tử réo gọi tên mình.
Imagine
12-02-06, 06:10
iii

Đang dội nước tắm con bé chợt khám phá giữa háng loang màu hồng đỏ. Đưa tay sờ vào nơi ấy. Máu. Ngón tay nó run run. Thau nước bỗng như thau nước đá vụn. Hàm răng va lộp cộp. Con bé cố bậm môi ngồi thu mình vào góc tường. Nhất định không khóc, không khóc, không khóc. Rồi ôm cứng người thật chặt, thật lâu.

Ánh sáng bên ngoài khe cửa đã lụi tắt. Tại sao? Bệnh hoạn. Phạm tội. Chúa phạt. Nó cúi cong người, banh rộng háng cố soi ngó thật kỹ. Háng như hang sâu, tăm tối cùng màu căn phòng. Có gì linh thiêng bí ẩn xảy ra cho nó? Mùi thông hăng hắc, nó nhắm tịt mắt, hít mạnh. Gáy bắt đầu nóng, bụng căng phồng bí đái. Chuông chiều lễ nhì lại gióng thúc bách mạnh mẽ. Cơn sợ giật ngược dần, tỉnh táo dần. “Chắc chẳng sao. Máu chảy một lát là ngưng ấy mà.” Con bé vỗ vỗ cửa mình thầm thì, chợt nghĩ đến cái miệng cười của người đàn ông.

Buổi chiều thứ bẩy, ở tuổi mười ba, thân thể con bé thoắt biến thành thân thể đàn bà.

Con bé lén lấy cái khăn trắng lau mặt của người đàn ông, dùng kéo cắt làm bốn mảnh, lót kín dưới háng để thấm máu rồi vo sạch phơi sau kẹt cửa nhà kho chứa than.

ii

Một buổi sáng má nó xuất hiện với ánh mắt hớt hải cố hữu nay hằn thêm phần sợ hãi. Hai má bà hóp, da xám, tóc thưa đi nhiều. Má càng hớt hải con bé càng tỏ ra bình thản. Nó ưa làm ngược bà. Má vừa nói chuyện với bà bác mà hai tay khua như sàng gạo. “Việt Cộng cầm cờ đỏ sao vàng lùa dân chạy loạn tứ tán...” Nói chưa dứt câu má đã lôi tuột con bé đi như chạy loạn thật. Ngang qua nhà kho chứa than, con bé biết bốn mảnh khăn trắng chưa khô còn treo sau kẹt cửa. Bà bác trong kia vẫn tiếp tục di chuyển như cái bóng với một mắt rỉ nước và một mắt dán kín. Nồi cơm đã chín, nồi canh trên bếp bắt đầu sôi, khúc cá thu rán ngập mỡ hành.

Đi ngang nhà trên, bước chân má dùng dằng một tị, nhưng rồi bỗng nhiên gấp rút hơn, nhanh hơn, mệng chép, thở mạnh, “Người dưng kẻ lạ thì tốt với mày, chỉ có thằng cha mày là đồ chó đẻ.” Mùi nhựa thông luẩn quẩn đâu đây. Con bé khẽ rùng mình, nhắm tịt mắt, ngửa mặt, cố hít sâu.

Dàn su trái mướt xanh trĩu nặng xa dần, xa dần, xa dần.

i

Hàng chục năm sau.

Cây thông giờ to cao rậm rịt. Tròng mắt trắng dã, hàm răng trào tràn của bầy chó cùng lũ mèo hoang ốm o bệnh hoạn luôn đồng thanh rên rỉ cũng đã tan xương rã thịt trong lòng đất. Còn bà bác và người đàn ông phiêu bạt nơi đâu? Gió cao nguyên luồn vào gáy, không lạnh nhưng thắt lòng. Nóc chuông nhà thờ có thanh sắt lạnh chắn ngang giờ đây thấp hơn, nhỏ hơn trong mắt người đàn bà. Nơi giáp thiên đường và địa ngục. Nơi hàng chục năm qua, thỉnh thoảng trong giấc mơ mặt trời, mặt trăng chiếu những tia sáng gẫy vụn, nhầu nát.

Mảnh đất đã thấm những giọt máu đàn bà đầu tiên. Những giọt nước bí ẩn rỉ từ mắt bà bác. Chất nhựa sống mãnh liệt khôn lường của người đàn ông.

Mảnh đất sanh đẻ giấc mộng nhà văn của người đàn bà.

Ngày tận thế Chúa phán xử thiện-ác.

Dựa vào đâu Chúa kết tội loài người?

Hàng chữ dọc bờ tường: "Ai Theo Ta Hãy Bỏ Mình Vác Thánh Giá" thời gian đã xoá sạch. Người đàn bà đọc lại theo trí nhớ.

Bóng người quỳ-đứng-ngồi đồng cúi đầu lâm râm đọc kinh cầu nguyện chật cứng trong nhà thờ. Từ bao giờ con người luôn cầu xin Chúa sự phù hộ?

“Cha Thục.” Người đàn bà khẽ gọi. “Bé Na đã về đây.”

Trời cao nguyên phủ màu tro.

Nguồn: tạp chí Văn Học.
Imagine
12-02-06, 06:11
Nhà văn Lê Thị Thấm Vân sinh 1968. Hiện làm việc và sống cùng chồng & 2 con ở San Francisco, CA. Hoa Kỳ.

Tác phẩm đã xuất bản:
- Đôi bờ (tập truyện ngắn, 1993)
- Mùa trăng (tiểu thuyết, 1995)
- Việt Nam ngày tôi trở về (tiểu luận, 1996)
- Yellow light (thơ, 1998)
- Xứ nắng (tiểu thuyết, 2000)
- Âm vọng (tiểu thuyết, 2003)
- Bóng Gẫy Của Thần Tích (tiểu thuyết, 2005)

Nguồn: 30 năm văn học hải ngoại.
Sất
23-02-06, 20:36
Bạn imagine chưa trả lời câu hỏi của tớ nhé. Nếu bạn đúng thật là ở HẢI ngoại văn chương các thứ thì nhắn giúp hộ tớ là bà Cầm Thi cuồng vừa thôi. bạn có đọc mấy thứ cãi nhau mấy hôm nay về thơ thiếc sài gòn sài giếc gì đó ko, mình thấy mấy người bên đó có vấn đề rất trầm trọng.
Imagine
23-02-06, 22:24
Nguyên văn bời Thúy Quỳnh
Bạn imagine chưa trả lời câu hỏi của tớ nhé. Nếu bạn đúng thật là ở HẢI ngoại văn chương các thứ thì nhắn giúp hộ tớ là bà Cầm Thi cuồng vừa thôi. bạn có đọc mấy thứ cãi nhau mấy hôm nay về thơ thiếc sài gòn sài giếc gì đó ko, mình thấy mấy người bên đó có vấn đề rất trầm trọng.
Tiền Vệ đang có loạt phỏng vấn văn nghệ sĩ trong và ngoài nước về chủ đề chung quanh các tác phẩm văn chương xuất bản dưới hình thức photocopy ở Sài gòn. (Thứ hàng lậu đến với độc giả qua các diễn đàn xuyên quốc gia bằng mạng). Thúy Quỳnh vào đấy đọc nha.
Imagine
23-02-06, 22:33
"bí xanh & bí vàng"

(Trích đoạn mở đầu tiểu thuyết Bóng gẫy của thần tích)


tập tầm vông

tay không tay có

tập tầm vó

tay có tay không

tay nào không?

tay nào có?

huyền thoại a

Hừng đông. Mặt trời đang lên, rọi soi ánh sáng đầu ngày trên da thịt biển. Biển mênh mông, bát ngát. Không chân trời, lãnh địa. Không biên cương, bờ cõi. Sóng vỗ nhẹ. Võ Thị Gái thong thả trên từng bước chân, từng bước, từng bước một. Chậm rãi, khoan thai, ung dung nhưng chắc nịch. Đi như không nơi đến, không chốn về. Đi là đi, là cuộc hành trình. Hơi thở nhẹ đều, khởi nguồn từ tâm thế vững chãi, tâm thân vững vàng. Đầu Võ Thị Gái ngẩng cao phía trước. Nắng miền biển ban mai chan hòa, sóng sánh, vỗ về trên khuôn mặt, lần qua vai, rồi gáy. Võ Thị Gái bận quần lãnh đen, áo màu hoa bí nụ, bước dần vào lòng đại dương, nơi nước đang tuôn vào vĩnh cửu. Mùi đất để lại sau lưng, tay thõng với những móng hồng non. Nước bắt đầu ngập ngón chân, rồi trọn bàn chân, rồi qua cổ chân... Nước biển len dần vào cửa mình, bụng, lỗ rốn, ngực, rồi cổ rồi cằm rồi miệng rồi mũi và rồi là mái tóc đen lòa xòa, vết tích cuối cùng. Mặt biển ban mai vẫn bình lặng. Biển mênh mông, bát ngát. Không chân trời, lãnh địa. Không biên cương, bờ cõi.

huyền thoại b

Tối trời. Mưa tầm tã. Mưa lũ. Mưa dữ dội. Mưa không ngớt suốt 96 đêm 69 ngày. Nước dâng cao đến những cột nhà ven biển. Chiếc thúng tròn, to hơn cái rổ phơi khoai lang lát ở nhà, Võ Thị Gái cố hết sức đẩy, trên mình không mảnh vải, cố tìm mọi cách tháo gỡ những cụm rong biển quấn chặt cổ chân, và, rán giữ vững cái thúng, không để lật úp. Vượt qua những con sóng dữ tợn, cùng cơn lạnh trời đêm. Chỉ một mình Võ Thị Gái giữa bể nước đen ngòm, chiến đấu với tất cả sức bình sinh. Hai túi ni lông nén chặt đá cục. Võ Thị Gái cột vào mỗi chân một túi bằng sợi dây thừng, khoanh đủ bẩy vòng, trọn sợi giây, rồi xiết chặt thắt nút giữa những con sóng dữ và mưa xối. Chiếc thúng chao đảo. Nước mưa và nước biển ngập dần miệng thúng. Trước khi phóng mình xuống biển, Võ Thị Gái ghìm người đứng thẳng, lấy con dao găm, đâm phập vào cổ, lút cán. Cán dao khắc đậm hàng chữ MADE IN USA. 172 máy bay trực thăng, phản lực mang đủ loại hình thể con chuồn chuồn, châu chấu, bọ hung, bò cạp... cánh cụp, cánh xòe... đồng vần vũ. Âm thanh khích động, điên loạn, hung hãn, xé toạc bầu trời đêm, như hành động quyết liệt chấm dứt, kết thúc đời mình. Võ Thị Gái.

người thứ nhất: "b hay a?"

người thứ hai: "b"

người thứ ba: "chắc là a"

đám đông đồng thanh: "chết là hết!"

người thứ tư: "đã chắc gì chết là hết!"

Ngày hôm đó, bí xanh & bí vàng vừa đúng một tháng tuổi.
Imagine
23-02-06, 22:44
NGUỒN CƠN

Ban đầu má tức ngực, rồi chóng mặt, đau buốt dọc bắp chân. Rồi thì khát nước, lưỡi khô, cổ đắng. Rồi thì mắc đái, mà không đi được, bụng cứ quặn lên từng cơn. Bà ngoại đang ngồi bán rau ngoài chợ. Chợ không xa nhà, chỉ luồn lách vài ba con hẻm, và con đường duy nhất trong xóm được lát gạch với bóng nắng, bóng đêm, bóng người tan rất vội vã. Chợ Chồm Hổm, ai đã đặt tên cho nó cái tên như thế. Chợ nhóm từ khi trời chưa rạng, và vãn khi mặt trời vừa chấm lưng ngọn núi-đồi. Người gọi núi, người gọi đồi. Núi-đồi tùy tầm mắt người nhìn. Má gắng lết ra ngõ đợi ngoại, miệng ngậm, chỉ hả khi thở. Ngậm/hả thế mà lết ra được tới giàn bông bí, rồi gục ở đó. Ngoại vẫn chưa về. Con cún ghẻ dụi mũi vào người má, phụ má thở. Má bỗng sợ cái mùi thường ngày trong nhà. Tôn trên trần lửa bốc hừng hực. Phên tết bằng lá dừa khô bọc bốn bề, lạnh lẽo. Sàn nhà, đất bám lòng bàn chân, phủi hoài không sạch, ngứa ngáy như tóc cạo mới mọc. Mồ hôi má rịn ra cổ, nách và trán. Bầu trời phết màu đồng trên người má. Lá bí xanh rì, và hoa bí vàng khè. Con cún ghẻ, lông rụng trơ ra từng mảng da, dòi lúc nhúc và bọ chét lách tách. Lưỡi con cún nhám và da bụng má nhám, khi lưỡi nó cạ vào mặt má, rát như rạ khô cào dọc sóng lưng. Nửa phần dưới má chổng ngược ngó trời, đầu rúc vào bụng con cún, sữa con cún tươm rỉ, má nút nút nút, để vơi cơn đau gập người. Con cún ghẻ, mù, điếc, và câm. Chỉ có cái lưỡi là nhám, là ra-đa, là hàn thử biểu, là ăng-ten cho má ngay lúc này đây. Toàn bộ 39 cái chân rách móng của nó hổng khỏi mặt đất. Con cún khò khè vào háng má. Bụng má trương phình, che cả địa cầu. Tất cả đồng đảo ngược, rồi bắt đầu quay tít, như trăm ngàn con vụ vù vù vù... hỗ trợ bởi bầy ve râm ran, bầy ong vo ve. Con cún chẳng sủa, má chẳng gào la. Bốn bề im lắng. Âm thanh ve, ong, đầu con vụ cùng mê sảng rền rung trong đầu má. Má nghe tiếng bụp, một dòng nước sôi bốc khói từ háng má tuôn trào, ướt loang mặt đất, ngấm vào lòng đất, trở thành vũng xoáy. Tưởng chừng như tất cả nước nôi trên trần gian này tuôn ra giữa hai chân má banh rộng. Tiếng sôi réo điên cuồng. Nước ối/đái má chảy tới đâu, cây cối tan biến tức thời. Ban đầu là vũng nước, từ từ thành cái hố, rồi hồ, cuối cùng là cái ao. Ao nước của má, Ha!Ha!Ha! Cái ao trong vắt, như nước mắt trộn nước mưa. Nếu chẳng phải vì đang đẻ, má sẽ múc nước ao lên giặt quần áo, tắm táp, vo gạo, rửa chén, tưới rau. Ôi cái ao nước ối/đái của má, sẽ không bao giờ cạn! Giàn bí với lá và bông bắt đầu rung chuyển, xoay tít. Tay má níu bầu trời, từ từ bay, cùng con cún, lông nó thoắt chốc mịn mướt như tơ trời. Nhìn xuống, má thấy hai tay bà ngoại đang trộn đều rổ rau sống. Và rẩy vào những bó rau cải, rau muống, rau dền, rau mồng tơi bằng nước ao của má.

Một đứa rồi hai đứa rồi ba đứa rồi bốn đứa rồi năm đứa... má nhắm rịt mắt, con cún ghẻ giơ móng chân rách đếm hộ, âm thanh gió. Khi má mở mắt, chỉ còn hai đứa đen ngòm, đen như con ngươi trong tròng mắt bà ngoại không bị chột. Những ngón tay, ngón chân nhiều quá, nhiều hơn con số má biết trên đầu ngón tay, trong trí tưởng. Hai đứa loe ngoe như hai con ghẹ con. Da ghẹ bị trụng nước sôi, xát muối, bỏng dầu. Sắc không vàng, không trắng, chỉ đỏ, đen, lẫn lộn đồng chì thau. Hai bầu sữa căng đầy, hai đứa mút chặt hai đầu vú. Mỗi khi hai đứa mút, con cún ghẻ lại nấc cục, và cửa mình má giật co, xoáy thốn tận đỉnh óc, tưởng chừng sắp sửa tống ra thêm một loạt ghẹ con nữa. Cơn đau xé toạc cửa mình. Tóc hai con ghẹ xoắn lò xo, như cuống bí leo. Hai con ghẹ rúc vào háng má, kêu tiếng chin chít, nén chặt trong họng. Những bàn tay & bàn chân, không rõ vì nhút nhát hay hiếu chiến, lúc co rút lúc quơ cào. Bí Vàng & Bí Xanh được sanh ra, chiếm một vị trí vô cùng khiêm tốn ở cõi trần gian này.
Imagine
23-02-06, 22:59
Cả Bí Xanh & Bí Vàng, má luôn đeo bên mình, và khi cần phụ, ới một tiếng, con cún ghẻ xuất hiện tức khắc. Má tập ngủ với hai quả lựu đạn mở chốt. Những gói Salem lận lưng, chữ OK dính chặt đầu miệng, và những sợi dây điện với ngọn xanh ngọn đỏ ngọn vàng nhấp nháy liên tục ở những quán bar, ngoài mặt lộ.

Có bầu Bí Xanh & Bí Vàng, Võ Thị Gái đã tiêu thụ trên trăm lít giấm và chục gánh rau răm. Rau răm giã nát ngâm với giấm chôn dưới đất một đêm. Sáng sớm nín thở, uống cạn một hơi, không được ợ, mục đích trục bào thai. Bào thai không trục đã đành, lại sanh đôi. Giờ đây, mỗi khi ẵm con, Võ Thị Gái ngửi mùi hăng rau răm, mùi chua của giấm. Hai mùi cứ xông thống vào hai lỗ mũi, chẳng biết đứa nào chua và đứa nào hăng. Võ Thị Gái chịu không nổi, chỉ chực liệng hai đứa xuống đất. Con cún ghẻ biết ý, lè lưỡi liếm toàn thân Bí Vàng & Bí Xanh suốt bảy ngày. Mỗi ngày bảy bận, mùi hăng và mùi chua tan loãng vào không gian ắp đầy bụi bặm.

Bí Vàng & Bí Xanh giống nhau như hai giọt nước lăn chảy trên mặt, hay tuôn chảy dưới háng. Thứ duy nhất, Võ Thị Gái phân biệt được, là một đứa có máu ấm và một đứa có máu mát. Nhưng cũng làm Võ Thị Gái điên đầu, là dòng máu mát và ấm ấy lại thường xuyên thay đổi.

Võ Thị Gái ngửi mùi xác chết của hai đứa con và của chính mình. Con đường một chiều xông mùi tử khí. Cuối dãy mộ địa, là nấm mồ chôn hai đứa bé nằm Trong nhau. Sát cạnh, là lòng huyệt đào sẵn, toàn bộ xương mủn của Võ Thị Gái xếp đều, đầy đủ, đẹp như giấc mơ trinh nữ. Mùi tử khí, nấm mồ, bộ xương mủn, lòng huyệt lôi kéo Võ Thị Gái, với không chút khả năng chống cự.

Cả cái may-ô trắng, hắn nhét tọng vào mồm má. Cái may-ô hắn thường khoác trên vai trần khi trời đổ nắng. Màu da của hắn đen như dầu hắc rải đường, như kinh lạch tỉa nhánh sau nhà. Thường ngày, hắn hiền lành nhất bọn, ít nói, ít cười, nhưng cho tiền, quà khẳm nhất. Tóm lại, ở hắn toát ra cái mùi Có Thể Tin Tưởng được, nhưng ngay lúc này đây, má ngập ngợp mùi bia rượu. Má cố giẫy giụa dưới cánh tay hắn. Bóng tối đặc lềnh dù trời sáng trưng. Cánh tay hắn nặng hơn toàn thân má. Nó là khối Uy Quyền. Hắn nhấc bổng người má, tấn mạnh vào tường, nghe một tiếng to đùng. Má ngất nửa thân dưới. Hắn khóa tréo hai tay má ra đằng sau. Tấm thân hắn là lò lửa. Con trâu điên biết chính xác hành động Muốn gì. Cái may-ô hắn tọng trong mồm làm má nghẹt thở. Má thấy mình đang bị ai quẳng xuống vực thẳm từ đỉnh trời. Hàng trăm triệu vòng tròn xoay tít trong tròng mắt. Sức Mạnh quả là khủng khiếp, thịt dần thịt. Hắn như con cọp say máu, xé toạc má bởi cơn điên loạn, tọng cái vật gì cứng như khúc củi khô vào háng má, sâu thấu tận đỉnh óc. Đớn đau má hét, Không Được. Nước mắt chảy. Cơn đau bùng lên theo từng cái thốc người của hắn, mạnh bạo và liên tục. Mớ tóc dài của má hắn xoắn ghì trọn mấy vòng tay. Hắn nhai nát hai đầu vú má. Hơi thở hắn to như sấm rầm. Má cố cắn cào cấu, nhưng Không Được. Hai chân má dẫy đành đạch, cũng Không Được. Má không thể bám chặt một Vật Thể hay một Ý Niệm nào cả. Ôi, cái quyền năng của kẻ có sức mạnh. Má Vỡ Tan Tành.

Giờ đây, mỗi khi đi tiểu hay đi cầu, là Võ Thị Gái nghĩ ngay đến khúc củi dài, khô, cứng, đầu nhọn hoắc thọc sâu vào lỗ-đít-lỗ-đi-tiểu-Ôi-đớn-đau-đến-dường-nào. Quá khiếp sợ, Võ Thị Gái nín nhịn, bởi vậy, cái bụng mỗi ngày mỗi trương phình.

Bí Vàng & Bí Xanh vừa lọt lòng. Con cún ghẻ, răng nanh rụng sạsh, phải dùng răng hàm xé buồng nhau, cắn đứt cuống rốn, rồi liếm sạch chất nhờn xanh xám trắng đục bọc quanh thân thể Bí Xanh & Bí Vàng. Những động tác của con cún rất nhanh, rất gọn bởi nó bay, phóng, không phải chạy vòng quanh trên mặt đất.

Sau biến cố cái chầy giã hung bạo vào cái cối, Võ Thị Gái chỉ hoàn lại được 1/10 hồn. Gã Mỹ to con nhất, câm lặng nhất, cho nhiều tiền nhất, lại là tàn bạo nhất. Võ Thị Gái nhớ lúc hắn tọng cái may-ô vào họng, hơi thở hắn sặc mùi rượu bia. Mùi của những quán bar mọc lan như nấm dại ven mặt lộ. Nhiều lần phải đi ngang, Võ Thị Gái rán hết sức băng thiệt lẹ, sợ có ai nhào ra nắm cổ lôi vào. Quán bar như thỏi nam châm có khả năng hút hầu hết những đứa con gái đồng lứa Võ Thị Gái. Vào trong đó, trở ra là thành người khác. Nó có quyền phép làm đứa con gái không còn nhớ tên nhớ tuổi, thậm chí quên mất người đã đẻ ra mình. Những gã đàn ông với khuôn mặt lầm lì, ra vẻ ta đây sẵn sàng chở che các cô gái, luôn đứng hoặc đi tới đi lui trước cửa, thỉnh thoảng búng ngón tay cái tróc, miệng nhai kẹo sing-gum, huýt gió, rồi lườm mắt. Âm thanh bùm bùm bùm quắn đặc với khói thuốc lá, khói xăng xe đò, xe jeep, xe vận tải, xe chở lính, và mùi bia rượu, mùi mồ hôi càng ngày càng tỏa kín mít bầu trời. Cả xóm, chẳng trừ một ai, đều bị đám lính Mỹ va mạnh vào người, không đầu thì chân, không trong bụng thì ngoài da, chỉ vì chúng giúp mọi người đỡ lo cái Đói. Cả xóm thay đổi, khó hình dung khuôn mặt Bình Thường như trước. Những cái giếng, thường ngày lũ con nít, đám đàn bà, thiếu nữ ra tắm giặt, đã bị lấp dần. Giờ chỉ còn hai cái, một ở cuối ngõ, và một ở sau sân miếu. Võ Thị Gái đi gánh nước ở cái cuối ngõ.

Cái bụng càng to thì khoảng cách vô hình càng xa lạ trong lòng Võ Thị Gái. Cái khoảng cách vô hình xa lạ làm Võ Thị Gái ngột thở. Nước mắt không chẩy ra từ cửa mắt mà từ cửa mình, mang theo mùi rau húng lủi rang khô, và vị chát của mướp đắng. Phải chi nước ép từ tim, tuôn ra từ mắt, thì Võ thị Gái có thể cười được dễ dàng với mọi người chung quanh như trước, hay chỉ cười với riêng mình mỗi đêm trước khi chìm vào giấc ngủ, mang theo chùm tia sáng mặt trời lúng búng giữa trưa, hay mùi dú dẻ lịm chín, mọng căng phủ ấm da thịt giữa đêm rằm. Giờ thì, mùi lá bí xanh, màu hoa vàng rất đỗi buồn bã. Vũ trụ tối om.
Imagine
23-02-06, 23:08
Không hiểu đau đớn là do Võ Thị Gái bị nghe tiếng cười đùa/trò chuyện/khóc lóc/hát ru kia không? Như sự trừng phạt, trò tra tấn. Cuộc vui-nỗi buồn Võ Thị Gái hoàn toàn không được tham dự, mà phải một thân đối phó. Chúng có chung một thế giới, không theo nguyên tắc, thời khóa biểu nhất định. Chúng tuyệt đối Tự Do, thoải mái như đi chân trần trên cát. Võ Thị Gái thông hiểu đầu mối của sự bi đát là tiếng cười đùa/khóc lóc/trò chuyện/hát ru kia.Và biết là Của/Do mình mà chúng được hưởng, Võ Thị Gái không thể Chấp Nhận huống chi bắt phải Tôn Trọng.

Hai đứa ngọ nguậy 24/24. Hai con ghẹ lột, càng & que đỏ hoi hói. "Người không ra người. Ngợm không ra ngợm." Chòm xóm rỉ tai xầm xì. Những con mắt, tín hiệu câm truyền nhiễm như một thứ dịch ma quái mới phát hiện. Nhu cầu ôm ấp, vỗ về, chở che của người mẹ bị chết cứng, không đủ thời gian để tức tưởi, xót lòng. Mỗi ngón tay chỉ trỏ, là mỗi mũi tên độc, gắm phặp vào tim Võ Thị Gái. "Hai quỷ con đội mồ sống dậy chọc phá cái xóm này." "Mắt hai đứa trắng dã, da đen thủi đen thui, hai cái hĩm khổng lồ, không lỗ, bịt kín lông dày trui như rễ tre, không khóc mà tru. Phải giết phải triệt tiêu phải bóp mũi phải... bà con làng nước ơi!" Những lúc tai má nghe như vậy thì hồn xác má bay tận đẩu đâu, ngó trời như kẻ mê sảng. Luồng ánh sáng lóe trong đầu, sáng màu kỳ lạ, chóe ngời như gươm, má chỉ thấy và nhớ như thế. Một buổi chiều, dài hơn tất cả những buổi chiều của đời má gộp lại. Má ra sau bếp, lấy cái thau hay dùng rửa chén, vo gạo, giặt quần áo. Cái thau duy nhất trong nhà. Má tráng sơ, bỏ hai con ghẹ con vào. Càng & que vẫn níu lấy nhau, rồi cùng bấu vào khoảng không. Má ủ hai đứa trong cái mền rách tươm viền, lủng nhiều lỗ, cặp cái thau ngang hông, như ẵm con đi chơi, đi chợ. Má đi dần ra ngõ, chẳng biết đi đâu, làm gì với hai con ghẹ con. Thanh gươm sáng lửng lơ trên đầu, chỉ chực chờ cắt ngọt cổ má. Má cứ đi... trời vẫn cứ chiều, miệng gọi Vừng ơi! Vừng ơi! Vừng ơi! không ngớt. Trời tóe ngàn tia sáng dọc ngang thấp sát dần tóc má, âm vang tí tách như muối hầm rang, như củi khô lùng bùng cháy. Má đi về cuối làng. Mưa bắt đầu đổ hột to như hột bắp. Cái thau ngập nước, hai con ghẹ con vẫn ngọ nguậy, níu nhau, vừa hát vừa run, rồi nhìn nhau cười rất đỗi vô tư. Má nghiêng thau, chắt nước, hai con ghẹ tuôn ra theo nước, cái mền cũng tuột, má túm cả mền cả hai con ghẹ bỏ lại trong thau, rồi tiếp tục đi. Sấm chớp xẹt lửa cháy từ đuôi tóc má cháy dần lên, tới đỉnh đầu thì mưa xối tắt ngúm. Sữa từ hai bầu vú má phun ra hai vòi. Hai vòi phun đúng ngay họng hai con ghẹ con. Má cởi áo cởi quần ủ thêm cho hai con ghẹ, rồi khẽ khàng đặt cái thau dưới gốc cây ổi đang hừng hực lửa. Ba chân bốn cẳng má ù chạy, nghe theo tiếng rượt đuổi vọng từ không trung "phải giết phải triệt tiêu phải bóp mũi phải..." Càng chạy lửa càng bám sát lưng. rồi tiếng tru của hai con ghẹ đuổi theo. Tru được là sống được. Má yên chí một cách mãnh liệt. Bước chân chạy của má lướt trên mọi Vật Thể đang hiện hữu, tồn tại trên đời. Má chạy mãi, chạy hoài, chạy đến khi đụng phải trời đêm.

Cái thau nhựa cũ, không sắc không mùi không vị, bao nhiêu năm lây lắt trong nhà, việc gì cũng cần tới nó. Từ tắm tới rửa rau, giặt quần áo, vo gạo đến hứng nước mưa rửa háng, giờ thì đang đựng hai đứa, nằm tênh hênh, gió thổi tốc cái mền rách, cùng bộ quần áo của má cởi phủ trùm hai đứa như khi ra với đời, giờ bay đi cùng với đời. Cái thau đựng hai đứa, đặt dưới gốc cây ổi tỏa mùi chín nức bao trùm không khí cả làng vào những đêm không trăng. Làng gọi cây ổi ma hoang. Nó mọc trước cửa cô nhi viện, và di chuyển qua lại trong bóng đêm, khuya khoắt.

Võ Thị Gái lấy dao nhíp bửa cau của bà ngoại xởn trọc tóc trên đầu. Tóc này tóc này tóc này. Xởn chỗ này thì mọc ra chỗ nọ. Tóc mới, cọng đen cọng vàng, cọng thẳng cọng cong. Cây khế bỗng chuồi cả lá cả hoa cả thân cả rễ vào trong nhà khi trưa. Gốc khế có cái mả chôn hai người đàn bà trần truồng ôm ghì nhau tự tử. Cây không bao giờ bị gẫy nhánh, dù mưa trút gió thổi sét đánh. Bà ngoại bắt chước xóm gọi nó là cây khế âm. Lá sáng héo, trưa tươi, chiều có hôm rũ, có hôm chĩa thẳng ngó trời. Hoa lúc đi thì tím non, lúc về thì đỏ bầm. Cả xóm sợ noù vãi đái nhưng Võ Thị Gái thì không hề, bởi được ăn nhiều bữa no nê, nửa đêm trở mình, ợ to một cái đùng, men chua xông tận óc. Nhờ cây khế âm không tuổi này, với cái mả chôn hai người đàn bà tự tử vì tình, trong tư thế thịt dính thịt, làm cho cả làng biết tay, biết mặt. Nó khắc dấu ấn tam giác quỷ, hình trái tim, cửa mình người đàn bà trên từng cái trán của bất kỳ người đàn ông nào trong xóm, đã đánh mất bản chất từ tâm.
Imagine
23-02-06, 23:13
Vòng rào kẽm gai cuộn tròn từng lọn, rỗng ruột, chồng chất. Đầu kẽm gai nhọn hoắt, đâm là phọt máu. Má và vài con bạn nhỏ thó luồn bên trong, tìm cách chui vô trại lính Mỹ. Những cái kẹo sô cô la ngọt ngọt, đắng đắng. Lon B2, B3, B1 chứa đựng từng khoanh bánh khô vỡ vụn, thịt bò nghiền nát. Kẹo cao su nhai hoài nhai hủy nhai luôn cả răng mà không hay. Trái táo mang mùi lạ từ dãy ngân hà xa xăm. Những bịch quần áo đã mặc, liệng ra từ trong trại binh lính Mỹ. Giặt Quần Áo Mỹ, từ ngữ mới, việc mới cho người dân trong xóm. Đàn bà thanh niên, con gái ông lão túa ra chụp giựt quần áo dơ bẩn của lính Mỹ đem về nhà giặt. Làm gì còn khó, chứ giặt quần áo thì trẻ con, mũi thò lò còn làm được. Mùi mồ hôi Mỹ, hơi thở Mỹ xâm lăng vào từng căn nhà. Hàng loạt vị đứng cứu thế đồng xuất hiện. Những bịch vải to, cả cha lẫn mẹ lẫn con khệ nê kéo lệch xệch về. Những cái áo cả nhà chui rúc vô, chạy chơi ú tìm, vẫn còn thênh thang. Đôi khi lục túi, sót vài đồng tiền cắc leng keng, cầm chắc chúng trong tay mà chẳng biết chi vào việc gì. Hoặc mẩu giấy ghi hàng chữ, dẫu trí óc của cả xóm gộp lại, cũng chẳng thể đọc hiểu. Cái xóm, từ thời lập quốc đến nay, chưa từng có người biết một bữa ăn no và ngon, nhưng giờ sực nhận ra những đồng tiền cắc lạ kia là quý, là vật thuộc viện bào tàng. Của lạ của rơi của vất của quên của lượm của hồi môn của chùa của trời cho. Chẳng khác chi vàng ròng 24. Hoặc tấm vé số, mơ mòng trúng độc đắc. Biết đâu đấy! Mỗi người thêu dệt một kiểu, sẽ sử dụng một cách, nhưng chung quy đều tin rằng có khả năng xoay chuyển mạng sống người đang sở hữu. Những túi quần áo, giặt vo chà xát vắt phơi khô trên giây kẽm gai, rồi ủi giữa những ngày trời không quên thổi lửa. Trao đổi thường ngày của mọi người trong xóm giờ được bồi thêm những từ ngữ mới toanh, me-you-OK-salem-numbaone là tốt numbaten là không tốt. Những đứa trẻ líu đíu, đi như móc cả vào nhau, rớt dép, thò rốn, cùng đua chen chụp giựt, chẳng khác chi người lớn tranh giành giữa sự sống vàsự chết. Những bịch quần áo bẩn từ trong trái lính Mỹ phóng ra, bay bổng trên không trung, rồi rơi xuống đất biến thành thứ bổng lộc cứu nhân độ thế, của trời ban cho đám dân đen đầu đất, tóc người nào cũng hừng hực bốc khói, chỉ mồ hôi của chính họ mới đủ khả năng dập tắt.

Võ Thị Gái không lanh lẹ nhưng luồn lách giỏi, biết cách chui vô bên trong trại lính Mỹ cùng vài con bạn. Lần đầu, cả bọn chưa biết sợ là gì, chỉ sợ kẽm gai nhọn đâm phun máu, toạc da. Nhưng rồi những thỏi kẹo, những lon nước ngọt, những nụ cười bác ái hào phóng ban phát, xóa tan dần nỗi sợ. Mùi phương trời xa ngái và hàm răng trắng thẳng tắp, cùng đôi mắt có hai con ngươi tròn vo như hai viên bi, ước chi được móc ra chơi. Baby OK salem you me no yes Võ Thị Gái nhanh mồm nói tuốt luốt, ai sao mình vậy. Cảm giác sợ hãi chắp cánh bay xa, biến khỏi Võ Thị Gái sau vài lần chuồi người vào bên trong vòng hàng rào kẽm gai để ngả tay xin kẹo sô cô la, uống cô la, và vài đồng tiền cắc. Một điều Võ Thị Gái không hề biết (để sợ) là cơn khát đàn bà con gái của đám binh lính Mỹ xa nhà. Bất cứ thứ gì trên đời, cũng đều có giá. Có cái giá, trả bằng phận người.

Tuổi mười lăm băm vằm sừng trâu. Má không thể băm vằm được sừng trâu Mỹ. Sừng trâu Mỹ đã băm vằm toàn thân má, tan nát.

Những chiếc xe chở đám binh lính Mỹ chạy trên đường lộ. Bụi dấy lên, xoắn chặt từng vòng, tỏa ngút vào bầu trời xanh lơ. Chúng vẫy tay, cười toe toét mà mắt trố màu sợ sệt. Xe xanh, áo lính xanh, màu mắt xanh, đường chỉ lòng bàn tay xanh, đồng đô-la xanh. Tất cả xanh xanh băng băng, nghiền nát mọi thứ, từ cỏ cháy đến óc người. Cây cối hai bên đường ca bản đồng dao buồn bã giữa tiếng bom nổ, đạn rơi, súng bắn. WELCOME TO VIET NAM!

Nguồn: Hợp Lưu
Imagine
23-02-06, 23:20
(n)ướC, và đẤt

(trích đoạn cuối tiểu thuyết Bóng gẫy của thần tích)

Vào lúc 5 giờ 18 giây 40 phút, hạt bụi bay sà vào mắt Bí Xanh. Giàn bí đã bị cháy rụi, thiêu luôn xác con cún ghẻ. Hàng trứng cá chỉ còn thân cây xám xược. Không gian ngập ngụa bồ hóng. Mặt đất bốc mùi tàn bạo do cơn mưa đá trút vội đêm qua. Hết rồi mùi ổi (âm) chín! Ước gì ánh tà dương không bị ám bởi diện mạo Lịch Sử. m & N & và 23 đầu đứa bé còn đang mê ngủ. Bí Xanh cần thời gian để thích ứng với những gì đang trưng bày quá đột ngột. Bí Vàng với cảm giác được bay lên, bay cao trên tất cả vật thể. Cảm giác Ấy bao giờ cũng nhẹ nhõm, thanh thoát. Bí Xanh chứng kiến một mắt (mình) bị móc, và nửa thân thể (ai) vỡ vụn. Mắt bị móc không gắn lại được. Nửa thân thể vỡ vụn không đắp lại được. Hai linh hồn trong muôn vàn thể xác đổi thay theo dòng biến hóa thời gian được/đã kết cấu bởi bao biến cố lịch sử. Sợi dây khói xoắn cuộn, chắc chắn như dây oan nghiệt từ từ bay ra rồi bay lên, lững lờ giữa bầu trời hừng hực lửa. Khuôn mặt kẻ lạ lại hiện trên bờ biển cát đang bị sóng xóa dần. Bí Xanh nhìn với con mắt còn lại, chủ quan. Khách quan đã bị bôi xóa. Lòng không tiếc nuối, không đớn đau, không bùi ngùi, và tuyệt nhiên không cả sợ hãi. Có chăng, là khối yêu thương chín mùi ẩn rất sâu ở bên trong. Bí Vàng & Bí Xanh hoàn toàn không can dự vào cuộc chiến, nhưng cuộc chiến can dự vào đời cả hai một cách thê/thảm thiết. Bởi thế mà, giờ đây cả hai chọn lựa thái độ sống: thách đố mọi tiêu chuẩn, phá bỏ mọi ràng buộc, nghi ngờ mọi quy định. Bí Vàng quyết (...) để có mặt. Bí Xanh gạt ra khỏi toàn bộ trí nhớ (...) Tát một cái ở má, là tai ù, và đầu quay như quạt gió. Những đứa bé ra đời bởi cưỡng bức/hãm hiếp, không có nghĩa là chúng phải mang ơn hai kẻ - một ác và một ngu - đã tạo tác nên chúng. Làn da màu quả olive & đôi mắt màu bể khơi và làn da kẹo licorice & tóc màu rơm rạ thừa hưởng từ bố hay mẹ, hoàn toàn không có trong những câu chuyện nâng niu cất giữ kỷ niệm, hay nặng lòng ơn nghĩa. Không có cả tấm hình của Quá Khứ, của sự Có Mặt. Gia tài mẹ 5000 năm, mù mờ nhân ảnh, tâm trí nông cạn, dễ bị khích động, lại chóng quên, nên dễ dàng bỏ qua lỗi lầm do mình hay do người. Giang sơn cha hơn 200 năm tạp chủng. Bản tính tham tàn, khinh mạn, cực kì phản cảm. Mẹ Theresa, một đời bươn bả khắp hành tinh để làm việc thiện, đã mất cùng năm với Princess Diana, luôn nghĩ mình là người vợ cô đơn nhất hành tinh. Bí Vàng & Bí Xanh tự thấy thôi cần canh giữ mùi vị âm thanh hình ảnh. Tiếng thở phào đầu tiên của con cún ghẻ quyện cùng hơi thở hắt cuối của người đàn bà đã một lần đẻ đôi. Cả hai nhìn nghe ngửi trong cùng sát-na, rồi nhập vào nhau, nếm mùi vị cánh cửa đã mở cho cả hai chui ra với đời. Bí Xanh trở về, ra đi đều vào ngày mưa, không có ánh mặt trời ngằn ngặt để làm Bí Xanh buồn nôn. Màn mưa khỏa lấp màu mắt biếc, không một ai đưa đường dẫn lối. Im lặng phủ che vòm trời. Mặt biển lặng câm. (Bóng) ai đang đi sau linh cữu không người khiêng? Dòng sông Heraclitus nay biến thành dòng thác chuyên chở toàn bộ mọi biến động. Không thể ngâm chân vào ao nước ngày xưa. Câu chuyện N kể về chị em họ Trưng, đoạn cuối giờ đây (cần) đổi lại, chẳng ai (phải) chết vì/thay/theo ai cả. Con cún ghẻ, giàn bông bí đồng trinh, cây ổi ma âm, hàng trứng cá trái chi chít tựa sao trời đồng loạt tan biến bởi chuyến trở về bất ngờ của Bí Xanh. Chỉ nóc nhà cô nhi đã, đang, và sẽ luôn đóng vai che chở, chống chỏi bởi bao cơn mưa khác biệt liên tục đổ xuống từ trời. Không gian đánh hơi, ngửi mùi Lịch Sử thống khổ xuyên qua những cơn gió nồm phả mùi tinh khí của hàng triệu oan hồn đã thiệt mạng vì/trên mảnh đất này. Bí Vàng đang đứng đó, lặng lẽ, bình yên. Vẻ nhân từ toát vòng hào quang bao bọc thân thể người tình, m.

~~~~~~

Cây sống, tồn tại trên mặt nước, mà dòng nước thì mãi mãi luân lưu, chuyển động khắp năm châu lục địa. Cây trôi giạt, bấp bênh xuyên qua bất kì luồng sóng nào. Không nhu cầu sở hữu. Chối từ mọi gắn bó. Yêu chuộng tự do.

Cây mọc lên từ lòng đất, nếu bứng đi, rễ sẽ khô, lá sẽ rụng, kết thúc trong sự chết chóc, buồn bã. Cây bám đất. Ðất chôn rễ, bảo tồn, trung thành, vững chắc. Chốn trú ngụ bình yên.

Thời-sắp-tới. Thời-đã-qua.

Và thời-hiện-tại. Là sự lựa chọn của từng cá nhân. Là công thức nhận diện. Là ý niệm bản sắc.

Là bên rìa, lững lơ chới với...

Là xé toạc da trời, xới vạch mặt đất

tìm khoảng trống

hít thở (ở) giữa mép bờ tử/sinh.


nguồn: AMVC
Imagine
28-02-06, 01:57
post mấy bài thơ tình của Lê Thị Thấm Vân ở đây cho Gấu.
bời "Gấu biết và .... biết"

-----------------------

Bài học vỡ lòng

Năm mười ba tuổi
lần đầu tiên nhìn xuống thân thể mình
loang nhạt chút màu đỏ thắm tươi
cảm giác chới với
lẫn hoan hỉ
chợt ào ào tới...
để rồi gần gũi với mình hơn

Năm mười lăm tuổi
đứng ngắm mình trần truồng trong gương
đưa nhẹ hai tay
vuốt ve cổ vai bụng
ngực dậy thì con gái
đầu vú bỗng nở bung
trong khoảnh khắc
cảm giác chan hòa như ngửa mặt hứng nước mưa tuôn trào từ máng xối
để rồi thương yêu mình hơn

Trong đêm đen
năm mười bẩy tuổi
lần đầu tiên
khám phá ra thân thể kì lạ của người đàn ông
sau nụ cười-giọt nước mắt (tự) dâng hiến
là khoảng cách
hun hút dài
thăm thẳm dài
chập chùng dài
.....

Ơi! em lạc mất em.

----------------------

Căn phòng 2.2 - âm thanh sóng

Khi anh cởi quần lót bên trong phòng tắm
bên ngoài này, em nằm gối đầu lên hai cánh tay mình, mắt ngó đỉnh trần

Khi anh bước vào bồn tắm
mắt em vẫn còn ngó đỉnh trần

Khi toàn thân anh ướt đẫm nước vòi sen
em đổi thế nằm, mắt dõi theo ánh nắng ngoài trời, qua mảnh màn hé mở

Khi tay anh xoa xoa xà phòng lên tóc
nắng ngoài trời rực sáng

Khi tay anh xoa xoa xà phòng lên cổ vai ngực
nắng ngoài trời rực sáng thêm một chút

Khi tay anh xoa xoa xà phòng nơi ấy
nắng ngoài trời rực sáng thêm một chút nữa

Nơi ấy giờ thì mềm xìu, bé tí, bình thường như vành tai, chóp mũi, khuỷu tay, đầu gối, gót chân... như bất cứ phần nào trên thân thể anh

Trước đấy một giờ. Nó cương cứng, nóng hổi, hùng hổ trong miệng em, giữa rãnh ngực em, trên mông em... Nó cố đâm thấu-xuyên-sâu-qua bao lớp da thịt để vào được trong em. (Là nó, chẳng thuộc về ai)
Độ nóng làm tim em chảy
Độ cứng làm trí em mềm
Độ sâu, rã tan thân xác em

Khi anh bước ra khỏi bồn tắm, lau vội làn da đẫm nước, bên ngoài này, em trở người quay mặt vào vách, ngó bức tranh treo trên tường: màu lam trời chiều, vòm lá sồi vươn lên từ phía sau nóc nhà ngói đỏ, ô cửa sổ rất rộng. “Để người đàn bà dễ leo.” Anh nói. “Không phải, để cả hai cùng dễ leo.” Em nói

54 bức tranh treo trên tường trong 54 căn phòng cùng một chu vi cùng nhốt kín âm thanh sóng
Imagine
28-02-06, 02:07
Trước giờ chia tay

dỗ lòng đừng khóc
đừng khóc nữa
mà sao nước mắt cứ trào
chiều phi trường
em như liễu bờ hồ
quấn vào đâu
hả anh?

quán nước lạnh
nắm chặt bàn tay
ngón miết ngón rà ngón gõ ngón vuốt dọc thân thể ngón đút sâu
trong em
suốt những ngày qua

cơn mưa
lóng nước hơi ấm toát mùi da thịt
bờ vai hít hà
bánh xe lăn vòng lăn vòng lăn...
đường ngắn dần

cái chìa tay định mệnh
buộc lòng
nối nghìn dặm
giờ nghiêng ngả về đâu?
đêm thì đồng lõa

bầu ngực thanh tân
vục mặt đất rền
rung hồ tây dội ngược sóng sáng sáng và sáng
dâng
phủ tràn
úp lật hai ta

hà nội
sáng nay nắng nhất định không buông
quai guốc rắc mè đen bị trật ở góc phố
mảnh lụa hà đông
bám sát làn da ngái ngủ
em trong anh trong em trong anh trong em trong...
cố thắt chặt phút giây còn lại

cúi hôn bàn tay
ái ngữ
đêm hà nội ngó ngược ngó lui
trăng xối
dội
bóng hình nhập nhả nhập nhả nhập nhả nhập...
hơi thở nối liền hơi thở
gió hà nội thốc cứng tim em

vách trời
sừng sững
rễ mọc ngược
một đời (chọn) sự thách thức

nách anh, em rúc núp
Ôi! nỗi nhớ đã như vách trời
sừng
-------------------------

Mùa măng cụt & Cơn mưa đá tháng tám

Đời thì ngắn
người mà ta muốn yêu thì nhiều
em biết và anh biết

em là điều thiết yếu trong phút giây bất chợt anh nhìn thấy mình đang từ từ gẫy đổ

em là cái phao anh nương nỗi hoang mang em là cái cột chống thần trí anh chao đảo em là cái đích điểm trong những lúc anh không còn nhớ/biết mình-là-ai cứ cắm cổ lao vào
vũng trắng là
em xóa
nhòa khi hư khi thực dù chất chứa mầm bội phản
quyến rũ
không sở hữu không bất biến không vĩnh hằng
em là mùi măng cụt tươi cháy hết sức dễ chịu, em biết và anh biết

điều đáng yêu là khi em nhoẻn miệng cười đầu ngày cùng
cái thở hắt mạnh sâu nhanh làm tan ánh mắt nâu sậm âu sầu cuối ngày
làn da mướt mịn không hề chối bỏ bất cứ cơn mê nào (muốn) bám đọng
đời vô thường, em biết và anh biết

mái tóc dài đen chảy thẳng là cái cầu tuột anh đứng ngó chòng chọc những múi ước vọng của mình rơi dần rơi dần

anh nhập vào, được nhập vào tận cùng sự hủy hoại
để mặc
cứ để mặc, em nói, lúng búng hai ngón trỏ
trên lưng anh trần
trụi không bờ rào hay bức tường nào che chắn nổi
anh loãng
tan vào không khí ngay lúc đó, rồi
trú ngụ một chốc sau lúc đó

sợi gân bật tung nở căng phồng
quấn quanh đầu lưỡi cong nhọn
nóng thiết tha thèm
trộn nhuộm sợ hãi

... khi nãy anh hình dung ra khuôn mặt em mệt mỏi len theo tia mặt trời dọi in bóng trên keyboard
ôi! anh cần em quá đỗi
anh nhớ cái dụi mắt cái thọc khuỷu tay vào hông cái véo nhẹ ở gáy chỉ để nhắc nhở là đời không thể thiếu dù
những con chữ mang theo số phận (của chúng) bay qua muôn-mọi lục địa rồi sà đậu vào vũng óc xoắn rối của bất kỳ ai

sợi lông của anh em bứt đêm qua trong lúc anh-là-không-còn-là em gắn trên mặt kiếng trong phòng tắm
giờ thì đuôi nó đang ngúng nguẩy vô ra/ lên xuống theo vòi sen (cùng em) khi nghĩ về anh của những ngày tháng tám nóng bức mộng tưởng năm nào mà vách tường nơi này sáng thì nơi kia tối
trong hai căn phòng hai lục địa in dấu hai bóng nhấp nhô nhập
cái sọt rác dưới chân bàn chẳng chờ chứa những tờ napkin lau chùi
nước
tuôn ra từ khe thịt
bốc mùi măng cụt tươi cháy rất đỗi dễ chịu, em biết và anh biết

tạt hướng gió ngược họng ngậm
ngụm hột é trương
phình chực
phun lên cầu vồng bắc ngang thành phố chết vì
ảo

Những cục mưa đá tan vội
vã anh ra khỏi nơi đây
nhé! bởi em biết,
và anh cũng biết.

---------------------

Mùa thu — 8 mẩu nhật ký
(tặng anh)

1.
Bờ tường khói nơi lưng đã một lần tựa. Mặt bàn rêu khô đọng đáy. Cái vói người âu yếm.
Nụ hôn vội nắng tắt vội nhúm lông trên người úa vội. Bên ngoài là khung cửa gió.
Cái quẫy mông bất ngờ của con cá diếc
nước lượn sóng trên khuôn mặt nín thinh phẳng
lặng.

2.
Sức nặng đá tảng
trong đêm quánh
sệt. Sáng
chiều ngợp màu nắng quái

nhẹ tay tháo gỡ
dấu chân của kiến
không cả nụ cười
thức ăn cặn thừa sẽ như hạt cát nằm đúng vị trí cho cơn giông ngày-sắp-tới thốc từng cú cực kỳ ương bướng
bạo liệt.

3.
Mũi tên phóng lên từ bẹn. Sharp. Cơn đau. Nằm úp mặt trên đống hoa dại dọc lề đường Oak. Cái hếch mũi (ngửi) của con Khoang ân cần lo lắng. Kiếp trước mày là ai? Sao lại ân cần lo lắng cho ta? Còn ai nữa không? Trên tinh cầu bao la lạnh lẽo này.
Gió tha ma thổi từng luồng, từng luồng tử khí âm âm u u

4.
Giọt nước mắt buồn thảm rơi vào ngày thứ nhì trong năm thấm ướt luồn theo kẽ nứt hạt dẻ vừa nướng ủ ấm dạ con. Đầu ngả nghiêng phải rồi trái, trái rồi phải xuôi theo quả lắc thời gian. Mím môi thật chặt. Những con chữ rắn rít ma đuổi. Mớ ý tưởng hỗn độn xô đẩy. Tiếng hạt cà phê bị xay nghiền trong smooth jazz KKSF 103.
Hai ngón trỏ lạc lõng móc vào nhau dưới gầm bàn rêu khô đọng đáy
da diết mùi mồ hôi đầu vú săn bung nở cuộn thắt trong lưỡi kẻ vắng mặt.

5.
sau một năm hai năm rồi năm năm...
vết son vẫn đỏ thắm
sợi tóc vẫn cứng căng như sợi dây đàn siết chặt óc não
vũng sâu cồn cát nước biển mặn tẩm liệm tấm drap màu nhang khói
nắng đầu thu soi dọi ăn lốm đốm làn da bụng nõn

thời gian bốc hơi
không thể thổi tắt
cơn mê
muội
âm ỉ sướng

đưa lưỡi liếm
vẫn không sạch những buổi chiều tròng mắt
ướt nước
dần buông sau này.

6.
Chờ đợi
đôi môi đôi mắt đôi tay
hơi thở nhiệt đới giọng lạc dấu
từ cõi xa xăm
ủ mùi phố cổ
những cây gạo quá già
cứ ngã hẳn vào nhau.

vũng trăng màu nghệ chín
rục nghiền nát ÁM
nặng
nề Tội Lỗi. Trời cuối tháng chín
tàn hè chớm thu
lá ven đường Hope vội vã đổi màu. Đất vun từng ụ cố tình chắn che cổ quan tài rỗng ruột. Em đang nơi đâu?

7.
Hãy về lại đây. Độ ấm men đá đựng cà phê vẫn thiết tha ngày cũ. Tiếng động khua vang trong quán thân thuộc như từng khuôn mặt tính nết dính chặt nhau rồi sẽ biến dần xóa dần như từng ngày trừ dần xóa dần hiện hữu kiếp nhân sinh.

8.
Đêm đen thăm thẳm
hãi hùng chực nuốt
chửng
tôi
thinh lặng dội
ngược
sấm âm âm u u

Ánh đèn đường ơi
sao dịu dàng
ấm êm đến thế.

đừng vội tắt nhé!


Nguồn: Tiền Vệ.
Imagine
28-02-06, 07:27
sáu bài thơ tình yêu
lê thị thấm vân


đợi chờ

tôi giấu thời gian vào trong tóc
tôi ủ mùi hương dưới làn da
tôi vỗ nhẹ tim tôi, hãy khoan đập mạnh
đợi chàng đến
chàng sẽ đến
vào mùa đông năm nay


cỏ và em

cỏ
tắm đẫm
cơn mưa
đổ xuống
từ trời
cỏ
xanh tươi

em đã uống
những giọt nước
từ mắt anh
từ môi anh
từ sự sống anh
thân thể em
thắm tươi


là em

này anh,
em (sẽ) không nói rằng
em nhớ anh
em cần anh
em yêu anh
mà, em sẽ
làm cho anh yêu em
từng ngày từng ngày
còn lại
của anh
ở trần gian này


thành khẩn

em cúi đầu
dần sát xuống
vũng ngực trũng
những sợi lông
những nốt ruồi
đậm nhạt
những đốm tàn nhang
dấu vết thời gian

em
nhắm nghiền đôi mắt
hít sâu
thân thể anh
thơm thơm mùi của sách cũ


sáng mùa đông

có những buổi sáng
trời lạnh
anh không muốn ra khỏi giường
chỉ muốn tìm về
nơi chốn
đám cỏ non man dại
ướt mềm
thơm thơm
mùi da thịt của riêng em
để thấy cuộc đời còn đáng sống
và anh hiện hữu


còn lại

rồi một ngày nào đó
em và anh sẽ phải rũ lòng giã từ tất cả
ra đi

cây sồi trăm năm ngoài khung cửa sổ sẽ tàn rụi, gẫy đổ
căn phòng tràn ngập âm thanh sóng vỗ sẽ bị phá, người ta sẽ
cất lên một căn phòng mới khác
quán cà phê nắng đuổi sẽ lần lượt đổi qua bao đời chủ
tiệm sách quen thuộc sẽ chứa thêm tác giả mới, loại bớt tác giả cũ
chiếc xe đen cao chở em với tiếng đàn mê hoặc Mark Knopfler rồi cũng bị hỏng, quăng vào một xó trong thành phố

dấu tích
còn lại
là những bài thơ tình em viết
cho anh

nguồn: tiền vệ
Imagine
28-02-06, 07:46
Chiều 17/2 ở thư viện Mountain View

xám u sầu
những sách là sách
sách kề sách - dãy mộ địa.
người sống
mãi tìm nhau.
Chiều đông.

Người đàn ông thứ nhất ôm vòng tròn
bình an, lửa phủ bờ môi ấm.
Người đàn ông thứ hai ôm vòng tròn,
sợ lửa tràn cửa, mãi hà hơi thổi.

(đường bay còn ba tiếng)

Người đàn ông thứ ba
đạp bay vòng tròn, vả vào mặt. Bốp.
đom đóm lửa tứ tán.

Mỗi cuốn sách (sẽ) là một ngôi mộ?

Người đàn bà. Ôm mặt. Chùi nước mắt
chần chừ trước
cửa
mộ Sylvia Plath & Hannah Arendt.
“Fire is a great refiner.”
Mặt bàn lạnh.

lê thị thấm vân


nguồn: tiền vệ
Happiness
28-02-06, 20:39
Đùa chứ đọc những thứ chị Thấm Vân này viết, em cứ như nhìn thấy trước mắt, hình ảnh những chị nạ dòng năm sập dãi thẻ ra. Thiêu đốt trong lòng các chị cơn hừng hực lần cuối trước khi tắt ... Bơ sửa ở bển rót vào theo năm tháng làm căng phồng, nứt toác cái hình hài Á Đông bé nhỏ của các chị. Vú các chị nhão nhoẹt, bụng các chị là cả một núi mỡ, cổ các chị xếp nếp lên, mái tóc thưa thớt các chị uốn xù lên để che những phần rụng mất, mông đùi các chị chảy sệ ra. Các chị đánh môi son đỏ chót hút thuốc lá, các chị đi làm nail những móng tay hồng hồng, mắt các chị bôi đen sì che cái túi da mòng mọng treo bên dưới, các chị bả ma tít lên má. Các chị mặc váy đỏ và đồ lót đen.

Đến tuổi hết việc rồi, rỗi rãi thừa thời gian rồi, từ sáng đến tối, các chị nhìn lên trần nhà, nhìn qua cửa sổ, các chị lim dim mắt. Các chị lúc nào cũng mơ tưởng đến một thằng trẻ trai, to cao cơ bắp, nó nhìn ngấu nghiến thèm khát các chị, nó chực xông vào đè ra hiếp các chị, nó ăn tươi nuốt sống các chị. Ối làng nước ơi. Có thể là một thằng đen cơ đấy ... Quằn quại. Mở mắt ra, vẫn thấy thỗn thện một đống, vú nhão, bụng mỡ, cổ đèn xếp... Và thơ văn các chị từ đó ra đời.

Thú thật cái cảnh ấy bẽ bàng không tả xiết. Thơ văn các chị làm dấy lên trong lòng em một niềm thương hại vô cùng.
light
28-02-06, 22:52
Bác Háp: tớ chẳng biết Thấm Vân một ngày nào đấy bỗng xí xọn đi dự thi nhan sắc toàn quốc có tranh được giải với Thị Nở không và dự thi nhan sắc toàn cầu có tranh được giải với Chung Vô Diệm không, nhưng tác phẩm của Thấm Vân thì được ông Quỳnh Thi (thi sĩ Vịt kìu) phê bình như ri trên tạp chí Thơ do Thấm Vân, Đỗ Kh., Khế Iêm, Nguyễn Tiến Văn chủ trương:


Tục ngữ ta có câu: Dạy con từ thuả lên ba. Thế thì ở tuổi lên ba dạy con điều gì? Dạy nó tập nói trước tiên. Gọi ba, gọi mẹ, gọi ông gọi bà. Không ai dạy con chửi tục. Vậy đến khi nó lớn, bắt đầu biết đọc biết viết, nó vớ được sách dâm ô, tục tĩu thì sao. Chắc chắn là bố mẹ phải cấm nó đọc, rồi thì lấy sách đó vất bỏ vào thùng rác, rồi răn đe. Từ nay con không được đọc những sách bậy bạ như vậy, nếu không mẹ đánh đòn nghe con.

Những người chủ trương đổi mới văn chương bằng cách viết tục tĩu. Tôi tin rằng họ cũng không dậy con họ chửi tục hay đọc sánh dâm ô của chính họ viết ra.

Thực tình tôi không muốn nêu lên vấn đề tục tĩu trong văn học làm gì, sẽ va chạm với một số người. Có khi bị họ gán cho là thứ đạo đức giả, nhưng dù gì chăng nữa vạn bất đắc dĩ cũng phải nói lên, vì sự bức xúc và lòng tự trọng của người cầm bút. Không thể im lặng mãi được. Khi mình tin tưởng là việc lên tiếng của mình là cần thiết, là đúng. Trong một đầu bài (cái xú uế gọi là thơ!) của Bùi Chát: Cái Lồn Què thật là ghê tởm. Bất khả tư nghị. Tôi xin nhường lời nhận xét cho quí vị. Kể cả người viết ra lời quá tục tĩu dơ bẩn ấy.

Quyển tiểu thuyết Âm Vọng của Lê Thị Thấm Vân có một số trang viết hết sức là bẩn thỉu, nhơ nhớp. Nó phát ra một mùi hôi thối của một con điếm rẻ tiền, dân giang hồ đi qua cũng phải tránh né. Quyển sách còn kém cả lọai dâm thư vì nó không hấp dẫn người đọc, nó chỉ tạo nên cơn buồn nôn cho người đi đường. Nếu bỏ đi những trang tục tĩu, thì đó là một quyển tiểu thuyết hay.

Tiếng Mỹ có câu wash your mouth. Mỗi khi họ nghe thấy bọn vô lại nào đó chửi bẩn. Ở một xứ sở tự do tự do ngất trời. Nhưng không phải ở đâu cũng có thể tổ chức vũ sexy. Không phải chỗ nào cũng được bán rượu, thuốc lá. Rượu và thuốc lá bán cho thiếu niên dưới 18 tuổi là phạt, ra toà đi tù, có thể đóng cửa tiệm. Bãi tắm ở truồng cũng có nơi có chỗ. Sách báo cũng vậy, muốn xem bộ phận sinh dục, làm tình thì chỉ Playboy hay Penthouse mới được đăng... Đừng bì với những sách dâm ô rẻ tiền, của những tên lái buôn đầu nậu. Bọn viết sách ít khi nào dám đề tên thật.
light
03-03-06, 09:51
Trăn trối
lê thị thấm vân

Con gái mẹ,
Yêu ai, con cứ fukc họ
Ghét ai, con cũng có thể fukc họ.
Khinh ai, mẹ để tuỳ ý con.

Ai quý mến cưng chiều
con luôn tử tế biết ơn
nhưng không nhất thiết phải để họ fukc.

.....

Bố con biết tự sướng thân, vác kặc đi đụ tứ phương thiên hạ.
Còn lo^ `n mẹ, cứ ủ kín để dành hiến dâng bố con đêm động phòng.
Đó là điều ngu nhất đời mẹ.


Trong hầu hết các nền văn hóa lịch sử nhân loại, phụ nữ đã bị đối sử như là thứ dụng cụ phục vụ dục tính nam giới. Bài thơ Trăn Trối của Lê Thị Thấm Vân với ý thức nữ quyền và thái độ người phụ nữ trong xã hội, nơi dành đặc/toàn quyền (tình dục) nam giới tự do hoan lạc. Đàn bà chỉ phục vụ, thứ nô lệ hay đồ vật dục tính cho đàn ông. Đàn ông đây (có thể) là chồng mình.

Người nữ phải đứng lên làm chủ thân xác, định mệnh của mình với sự sáng suốt và lòng can đảm. Simone de Beauvoir cho rằng nữ tính đã ngăn trở phụ nữ trở thành một bản thể độc lập. Nữ tính đây chính là sự yếu đuối.

Lời Mẹ Dạy (người con trai) ngày trước của Phùng Quán: Con hãy sống làm người chân thật. Lời Trăn Trối (cho con gái) ngày nay của Thấm Vân: Con hãy tử tế với bản thân con.

Lối viết thẳng thừng, sử dụng những con chữ raw có khả năng gây shock nhưng nó lay động những gì tưởng bình thường nhưng bị khuất lấp sau tấm màn văn hóa lịch sử.
Imagine
14-03-06, 07:49
Hà Thục Chi, Nguyễn Bích, Trần Thanh Thúy, Alec Holcombe
Trò chuyện qua mạng với nhà văn Lê Thị Thấm Vân

Hỏi: Trước hết, xin nhà văn kể đôi chút về tiểu sử của mình. Nhà văn sinh ra và lớn lên ở đâu? Hồi nhỏ có thích đọc văn chương không?

Ðáp: Tôi sinh ở Quy Nhơn, nhỏ ở Ðà Lạt, tốt nghiệp trung học và đại học tại Hoa Kỳ. Bố mẹ tôi từ Bắc di cư vào Nam năm 1954. Thuở bé tôi ưa tưởng tượng ra nhiều câu chuyện thú vị rồi kể cho mọi người nghe. Tôi (tin tôi) có khả năng bịa chuyện giỏi và có khiếu kể chuyện. Bố tôi cho tôi biết điều này lúc tôi 7 tuổi. Nhà tôi có một tủ sách rất lớn. Tôi nhớ hồi nhỏ tôi ưa luẩn quẩn gần đấy. Có cuốn tôi đọc say mê thích thú, có cuốn tôi đọc xong không hiểu gì cả, cứ như đọc sách ngoại ngữ mình chưa học qua. Nhưng tôi vẫn đọc, vì bản tính tò mò muốn biết.

Hỏi: Ngày 30 tháng 4 nhà văn đang ở đâu, làm gì? Biến cố 30/4 thay đổi cuộc sống của nhà văn như thế nào?

Ðáp: Ngày 30/4/75 tôi cùng gia đình tất tả chạy loạn ngược xuôi. Ngày 10/5/75 tôi rời gia đình (bố & chị, em) vượt biển sang Thái Lan. Ở trại tị nạn Thái Lan 2 tháng, sau đó tôi sang Hoa Kỳ. Tôi rời Việt Nam vì tò mò, phiêu lưu, mạo hiểm chứ lúc đó tôi không có chút ý thức chính trị hay kinh tế nào. Một năm sau, tháng 6/1976 bố tôi mất ở Việt Nam.

Hỏi: Nhà văn bắt đầu viết văn từ bao giờ? Tác phẩm đầu tay là tác phẩm nào? In ở đâu?

Ðáp: 10 tuổi tôi đã làm hơn hai chục bài thơ về mẹ sau khi mẹ tôi mất. Truyện ngắn đầu tiên của tôi đăng trên tạp chí Văn, tháng 10 năm 1992, ấn hành ở nam California. Tập truyện Ðôi bờ là tác phẩm đầu tiên, do Anh Thư Xuất bản năm 1993.

Hỏi: Quá trình viết văn sau khi in tác phẩm đầu tiên có những thay đổi gì?

Ðáp: Càng viết tôi càng thấy khó. Kinh nghiệm viết lách chẳng giúp gì cho tôi trước tác phẩm mới. Tôi luôn tự đặt tiêu chuẩn rất cao. Tuyệt đối tránh lặp lại nội dung lẫn hình thức. Mỗi tác phẩm là một nỗ lực, thách thức. Giờ đây tôi không còn cái hồn nhiên và dễ dãi như thuở ban đầu, nhưng càng viết càng yêu thích. Viết với tôi như một nỗi đam mê lớn lao. Và tôi rất vui là có và thực hiện được nỗi đam mê của mình. Trong thời gian viết tiểu thuyết, tôi tự khép mình vào kỷ luật rất nghiêm.

Hỏi: Tại sao nhà văn lại thấy mình cần phải viết văn bằng tiếng Việt trong hoàn cảnh sống lưu vong?

Ðáp: Tôi đến với văn chương là vì yêu thích ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ Việt. Viết tiếng Việt ban đầu với tôi như là tự thách thức cho sự tìm kiếm hay tìm về. Giờ đây, viết tiếng Việt đối với tôi dễ dàng hơn viết tiếng Anh. Viết tiếng Việt giữa lòng một ngôn ngữ khác, tiếng Anh chẳng hạn, là một lý thú, hấp dẫn, tự do, giữ được độc lập, bởi không dễ bị rơi vào công thức nhận diện hay đặt để của thế giới phương Tây. Trong khi đó, là một người viết ở hải ngoại, tôi có tự do hơn những người viết hiện đang ở trong nước, nơi mà họ vẫn còn bị chỉ đạo, kiểm soát bởi những nhà cầm quyền. Tuy nhiên viết văn, nhất là viết tiếng Việt ở hải ngoại thường rất cô đơn, cô độc vì độc giả không nhiều, không có lợi nhuận, không có danh tiếng, không có chỗ đứng trong xã hội. Tôi mở nhà xuất bản Anh Thư để in sách, tự bỏ tiền túi in, tự gửi mẫu quảng cáo sách mình mới xuất bản cho các tạp chí đăng, tự mang sách đến gửi ở những nhà sách để bán, rồi tự gửi sách đến cho độc giả ở xa. Những công việc tôi chán ghét vô cùng, nhưng vẫn phải làm.

Hỏi: Sau khi các tác phẩm của nhà văn in ra, nhà văn có nhận được nhiều phản hồi của độc giả không? Nhà văn nghĩ thế nào về môi trường phê bình văn học hiện nay?

Ðáp: Theo tôi, môi trường phê bình hiện nay vẫn còn yếu kém. Ða phần phê bình tác phẩm hoặc dựa trên cảm tính, hoặc viết về tác giả, hoặc bàn chuyện ngoài lề hơn là đi sâu vào văn bản. Riêng với tác phẩm của tôi, độc giả chê hoặc khen đều cực đoan. Nghĩa là ai thích rất thích hoặc ai ghét rất ghét, không ở lưng chừng. Những tác phẩm của tôi đa phần được giới phê bình quan tâm. Một số độc giả cho biết tác phẩm của tôi khó hiểu, muốn hiểu được thì phải đọc kỹ 2-3 lần, mỗi lần đọc lại khám phá ra điều thú vị và mới mẻ. Một số khác nhận xét tôi viết táo bạo quá! Thật ra, khi viết bao giờ tôi cũng cố gắng với cao, vượt lên trên khả năng, sức lực của tôi rất nhiều. Vì thế người đọc cũng phải với lên để thưởng ngoạn tác phẩm của tôi. Tôi viết không phải để làm vừa lòng độc giả.

Hỏi: Theo nhà văn thì độc giả phải đặc biệt chú ý đến những chi tiết nào khi nghiên cứu những tác phẩm của nhà văn để họ có thể hiểu rõ hơn về tác phẩm của nhà văn?

Ðáp: Tôi viết về thời đại di dân. Căn cước đôi. Ðịnh mệnh, thân phận của những kẻ luôn đứng dạng hai chân ở hai nền văn hóa khác biệt. Sự bị bôi xóa. Những kẻ vất vưởng bên lề, mép rìa. Ðồng thời tôi đặc biệt chú trọng đến vấn đề nữ quyền.

Hỏi: Trong các tác phẩm của mình, nhà văn có đề cập đến nhiều tác phẩm văn chương nổi tiếng của miền Nam, chẳng hạn Tình ca trong lửa đỏ của Nhã Ca. Tôi cũng thấy truyện ấy rất hay. Nếu một người không biết nhiều về kinh nghiệm của người Việt ở miền Nam thời 54-75, nhà văn khuyên người ấy đọc tiểu thuyết nào trong tất cả tiểu thuyết về/ở miền Nam Việt Nam?

Ðáp: Hỏi tôi đề nghị đọc tác phẩm nào thì thú thật rất khó trả lời. Có lẽ bạn thử tìm đọc Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca, Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền, Xóm cầu mới của Nhất Linh...

Hỏi: Nhà văn nghĩ mình có chịu ảnh hưởng của tác giả nào khác không (kể cả nhà văn Việt Nam và nước khác)? Là những tác giả nào?

Ðáp: Tôi chịu ảnh hưởng bút pháp, mỹ quan, ý tưởng của một số tác giả ngoại như Kazuo Ishiguro, Monique Wittig, Arundhati Roy, Susan Sontag, Hélène Cixous, James Joyce, Willam Faulkner, Alice Walker... Tôi cũng đọc nhiều tác giả Việt, nhưng họ không gây ảnh hưởng tới kỹ thuật dựng truyện của tôi.
Imagine
14-03-06, 07:52
Hỏi: Trong tác phẩm Xứ nắng, người kể chuyện đề cập đến nền văn hóa Mỹ lẫn Việt, chẳng hạn như Jack Nicholson, Nhất Linh, v.v... Ở trang 11 người kể chuyện nói: “Giấc mơ Mỹ, màu trắng, liệu còn đứng vững được bao lâu?” Theo tôi, cảnh này rất thú vị và quan trọng, vì hiện nay, các nhà phê bình văn học Mỹ đang xem xét lại cách mô tả chủ nghĩa dân tộc và “citizenship” [tạm dịch là: tư cách công dân] trong văn chương Mỹ. Nhà văn có ý kiến gì về vai trò văn chương Việt hải ngoại tại Mỹ (viết bằng tiếng Việt) trong cuộc thảo luận này?

Ðáp: Anh ngữ vẫn là một trong vài ngôn ngữ bá quyền hiện nay. Nó có khả năng lấn át những tiếng nói khác, thậm chí biến những tiếng nói khác trở thành tiếng động. Tôi chọn lựa viết tiếng Việt trong thế giới tiếng Anh là (cố gắng) tạo nên tiếng nói thực tế, như nó là, tạo sự có mặt bình đẳng qua văn bản. Ðồng thời tôi muốn đẩy tiểu thuyết Việt Nam vượt khỏi rào cản, sức ép, ám ảnh bởi chủ nghĩa quốc gia, dân tộc hoặc tự/bị xếp vào vị trí thế-giới-thứ-ba mà bao nhiêu năm nay vẫn cố bảo bọc, ôm giữ.

Hỏi: Nhà văn có ý kiến gì về quan hệ giữa văn chương Việt tại Mỹ và văn chương Mỹ?

Ðáp: Văn chương Việt tại hải ngoại và văn chương Mỹ (hiện nay) như nước sông và nước hồ. Cả hai hoàn toàn độc lập, riêng biệt. Tôi nghĩ không cần thiết phải quan hệ, bởi nghệ thuật hay là ở tự thân tác phẩm. Quả cam hoặc quả táo đều là trái cây nhưng có vị ngon khác biệt. Ai thưởng thức được cả hai loại trái cây, tôi cho là người may mắn. Trong tương lai những tác phẩm hay viết bằng tiếng Việt ở hải ngoại sẽ được chuyển ngữ sang tiếng Anh. Ðấy là một điều cần thiết.

Hỏi: Âm vọng kể về cuộc đời của bốn người đàn bà, mỗi người tượng trưng cho một mùa trong năm. Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa (Tây Thi, Chiêu Quân, Ðiêu Thuyền và Dương Quý Phi) có gợi cảm hứng cho nhà văn khi viết cuốn tiểu thuyết này không?

Ðáp: Khi viết Âm vọng, tôi hoàn toàn không nghĩ đến “Tứ đại mỹ nhân” của Trung Hoa. Tôi chọn 4 nhân vật huyền thoại trong Lĩnh nam chích quái, bản dịch của Ðinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San rồi dựa vào thời tiết 4 mùa trong năm xếp không thứ tự: Tiên Dung - Nhất Dạ Trạch, (mùa hạ); Mỵ Châu - Truyện Rùa Vàng, (mùa thu); Âu Cơ – Họ Hồng Bàng, (mùa xuân); và Man Nương – Man Nương (mùa đông). Bốn bà biểu tưởng cho thân phận, định mệnh, tiếng nói, trí tuệ, cá tính, bản năng, quyền lực, yếu kém, thiếu hụt, bất hạnh, oan khiên... của người phụ nữ.

Hỏi: Đọc Âm vọng, tôi rất ngạc nhiên thấy những tranh vẽ của một đứa trẻ, những mẩu đơn, giấy chuyển tiền, giấy chép tay ghi lại công thức nấu món ăn… Tất cả những cái đó làm truyện giống một tác phẩm hội họa “collage” (tạm dịch: “nghệ thuật cắt dán”). Vì vậy, câu chuyện mang đậm chất thực. Cuộc sống thực được phơi bày qua từng trang sách. Theo nhà văn, những tác phẩm văn học hiện đại có nên kết hợp nhiều hơn với hội họa để tạo nên những tác phẩm mang tính chất tổng hợp?

Ðáp: Những bức tranh, bài thơ, notes... là của con tôi, tôi đưa vào để lưu giữ kỷ niệm tuổi thơ của chúng. Truyền đơn, thư nặc danh, chụp mũ, hóa đơn gửi tiền về Việt Nam, công thức nấu ăn... là dấu ấn, chứng tích giai đoạn đầu của người Việt tị nạn, lưu vong. Ðồng thời tôi cũng muốn đóng góp một hình thức mới mẻ vào tiểu thuyết Việt Nam.

Hỏi: Theo Việt Nam ngày tôi trở về [VNNTTV], nhà văn đã về Việt Nam năm 1995. Vậy xin hỏi, sau chuyến đó, nhà văn đã về Việt Nam lần nào nữa chưa? Nếu có, xin nhà văn cho biết lần về sau này có thay đổi cái nhìn của nhà văn với Việt Nam so với cái nhìn của năm 1995 không?

Ðáp: Lần đầu tiên về lại Việt Nam sau 20 năm xa cách, tôi bị khủng hoảng, bức xúc khiến tôi viết cuốn Việt Nam ngày tôi trở về. Lần thứ nhì tôi đưa bố chồng về thăm làng Hưng Yên ở miền Bắc sau 50 năm ông rời xa. Chuyến đi này tạo cho tôi cảm hứng viết cuốn Xứ nắng, và sáng tác một số bài thơ (tình).

... Kiểm duyệt...

Hỏi: Nhà văn nghĩ vai trò của văn chương trong lịch sử là gì?

Ðáp: Văn chương biểu lộ ý thức lịch sử. Con người không từ cõi không mà là một phần sản phẩm của lịch sử. Nhà văn sống với lịch sử và không nhất thiết phải hiểu lịch sử như người nghiên cứu lịch sử.

Hỏi: Trong VNNTTV, nhà văn có nhắc tới các bổn phận và trách nhiệm của người phụ nữ Việt Nam. Vậy theo nhà văn, các trách nhiệm và bổn phận đó có còn ràng buộc phụ nữ Việt tại hải ngoại không?

Ðáp: Trong thời chiến, phụ nữ Việt Nam phải gánh vác vai trò làm cha, làm mẹ lo cho gia đình, con cái. Chồng trong quân/bộ đội, tử trận, tù cải tạo. Nay sống ở hải ngoại, trách nhiệm & bổn phận người phụ nữ Việt Nam vẫn thế: lo cho gia đình, con cái, nhưng họ được tự do hơn, có cơ hội hơn, nhiều lựa chọn hơn. Nhiều người vì được học hành và độc lập kinh tế nên tự chủ hơn. Ðồng thời họ ít con nên có thời gian chăm sóc bản thân và theo đuổi ý thích riêng của mình.

Hỏi: Có nhiều nhà phê bình cho rằng khi một nhà văn ngồi xuống viết thì họ đang tạo ra trên trang giấy một không gian mới, một không gian lý tưởng, có thể nói là ngoài luật lệ, ngoài chính trị [theo tôi, cách nghĩ này không hoàn toàn đúng]. Khi viết, nhà văn có nghĩ là mình đang tạo lên một không gian ngoài luật lệ không? Hay là nhà văn cảm thấy là việc viết bị những điều trong thực tế ảnh hưởng nhiều, và viết là một cách để trả lời, để chống cự những điều đang xảy ra trên thế giới?

Ðáp: Tác phẩm (có thể) dựa trên dữ kiện thực tế để sáng tạo một cách riêng của chính nó, nghĩa là tự tạo luật lệ riêng. Nhà văn nhào nặn biến cố, sự việc theo ngôn ngữ của nhà văn. Tuy nhiên, tưởng tượng, hư cấu hay sáng tạo bất cứ gì cũng không thể dựa vào khoảng không hay cõi hư vô mà phải bắt rễ, vay mượn, học hỏi, ăn cắp ý tưởng, hình ảnh của rất nhiều người. Viết là hành động nói lên sự có mặt của mình trong cõi nhân gian này, và đúng/sai không phải là điểm thiết yếu trong văn chương. Văn chương là chủ quan, là tiếng nói của cá nhân.

Hỏi: Câu hỏi cuối cùng: nhà văn nghĩ thế nào về tình hình văn chương trong nước và hải ngoại hiện nay? Nhà văn lạc quan hay bi quan?

Ðáp: Văn chương trong nước đang hé mở khía cạnh tự do tính dục, bất đồng quan điểm chính trị, xã hội, có lẽ nhờ vào internet một phần. Hải ngoại cũng nhờ internet nên tác phẩm được độc giả trong nước đón nhận nhanh chóng và dễ dàng hơn. Nhưng phải thực tế rằng ngày càng bớt dần độc giả. Internet, phim ảnh, nhạc, TV, games.... chiếm quá nhiều thì giờ trong ngày của con người hiện đại, và nhu cầu đọc không còn là điều thiết yếu. Không đọc tiểu thuyết cũng chẳng thiệt thòi hay mất mát gì (nhiều). Ý thức được điều này, nhưng người viết vẫn cứ viết, vì viết là đam mê, cũng là sự lựa chọn.

Viết lách, với tôi là một may mắn, hạnh phúc trong đời tôi có được, dù sự lựa chọn này mang lại cho tôi mệt mỏi, mâu thuẫn, phức tạp, khó khăn, đơn độc và cả những thiệt thòi.

© 2006 talawas
Imagine
14-03-06, 07:56
Nguyễn Quang Vũ
Ðọc Bóng gẫy của thần tích
(của Lê Thị Thấm Vân, do Anh Thư xuất bản, 2005; 230 trang)

Bóng gẫy của thần tích là một tập hợp của những hình ảnh vừa táo bạo, vừa thơ mộng, chứa đựng nhiều ẩn dụ về cuộc sống, con người, chính trị, và xã hội. Qua việc miêu tả cuộc sống khó khăn của thân phận người Việt, cũng như những sự kỳ thị, định kiến trong thời cả thời chiến và thời bình, nhà văn đã bộc lộ những suy nghĩ, chỉ trích, và phẫn nộ về chính trị, tôn giáo, thời cuộc, cũng như về con người trong xã hội.

Truyện kể về hai chị em song sinh Bí Vàng và Bí Xanh. Mẹ của hai cô, Võ Thị Gái, bị một lính Mỹ da đen đang đóng quân tại làng cưỡng hiếp. Không chịu nổi sự nhục nhã và khó khăn, cô Gái đã bỏ con ở trước cửa cô nhi viện và sau đó tự tử (hoặc trở thành điên loạn?). Mẹ (nuôi) của cô đã đến cô nhi viện và nhận lại một trong hai cháu ngoại, Bí Vàng. Kể từ giây phút ấy, Bí Xanh và Bí Vàng bị chia cách. Mặc dù ở cùng trong một làng, cả hai không thể gặp được nhau.

Có sự khác biệt rõ rệt trong tính cách của hai chị em. Bí Vàng và Bí Xanh được nuôi dưỡng ở hai môi trường khác nhau: Bí Xanh thường bị đay nghiến, xiên xỏ bởi những tu nữ xa lạ, không tình thân; Bí Vàng ít nhất còn được có tình thương của bà ngoại. Từ những môi trường này, Bí Xanh trở nên bất chấp, nóng nảy, và thiếu tôn trọng; còn Bí Vàng thì chịu đựng và kiên nhẫn, yên lặng.

Tác giả cũng đã dùng hình ảnh và sự kiện của chiến tranh để miêu tả cuộc sống, con người, và xã hội thời chiến: lính Mỹ đóng trại, người trong làng vồ vập, sùng bái Mỹ và những gì của Mỹ, phụ nữ trẻ bị cưỡng hiếp, những đứa con lai vô tội bị bỏ bê, kì thị… Qua những mảnh đời khó khăn, tủi nhục, chúng ta thấy thêm một góc cạnh của chiến tranh và ảnh hưởng của nó đối với con người.

Bằng những từ ngữ và hình ảnh táo bạo, tác giả đã miêu tả sự phẫn nộ của Bí Xanh về những giả dối, gò bó chung quanh cô. Cô đã sớm nhận ra được sự mâu thuẫn giữa những gì cô được dạy và những gì cô chứng kiến. Cô nhận thấy rằng từ khi sinh ra, cô chưa hề nhận được tình thương và sự che chở của Chúa, nên cô đã từ chối Chúa và những người tin vào Chúa.

Tóm lại, trong phần đầu của truyện, tác giả trình bày với chúng ta một xã hội trong chiến tranh, cuộc sống của người dân toàn chia ly, đau đớn và tủi nhục. Cô cũng cho chúng ta thấy được sự kì thị của xã hội đối với những con lai và những người nạn nhân trẻ của những lính Mỹ đóng quân. Quan trọng hơn, chúng ta thấy được sự thiếu thốn và đánh mất của tuổi trẻ hồn nhiên trong thời chiến.

Phần hai của truyện bắt đầu bằng một sự kiện lịch sử: Operation Babylift. Trước khi Sài Gòn sụp đổ, quân đội Mỹ đã cố gắng vơ vét những trẻ em lai, phần lớn từ những cô nhi viện do Mỹ bảo trợ, và đưa sang Mỹ bằng máy bay. Một trong số những trẻ em này là Bí Xanh. Hai chị em đã cách xa từ nhỏ, giờ đây lại càng xa thêm: Bí Xanh được đem qua Mỹ quốc, còn Bí Vàng (bị) ở lại.

Rời xa quê hương, Bí Xanh được một cặp vợ chồng người Mỹ da trắng nhận nuôi. Cô được ban cho một cuộc sống sung sướng về vật chất có mơ cũng không được tại quê nhà: những món ăn ê hề, quần áo, giày dép, búp bê… Khi đi học cô có người đưa đón; ở nhà cô được săn sóc tận tình. Tuy nhiên, những đầy đủ, xa hoa trong cuộc sống xa nhà đã không cho cô cảm giác thoải mái và hạnh phúc. Như từ trước đến nay, cô luôn bị đeo đuổi bởi một cảm giác thiếu thốn, cô độc, như là một nửa của cô vẫn chưa được khám phá, ai đó thân thiết nhưng chưa hề nhận mặt. Hình ảnh những đôi giày không vừa chân, những quần áo không làm cho cô thích thú, cùng với những người Mỹ da trắng tẻ nhạt, khách sáo cho chúng ta thấy được nước Mỹ, nơi bao người ao ước được đặt chân đến, đã không mang lại hạnh phúc cho Bí Xanh. Cuối cùng, Bí Xanh bị ông John quấy nhiễu tình dục và được chuyển đến một gia đình mới.

Một trong những điều nổi bật trong phần này là việc đặt tên của tác giả cho những nhân vật phụ. Những người chung quanh Bí Xanh đều mang tên bắt đầu bằng chữ *. Phải chăng chữ * tượng trưng cho một điều gì đó mang tính chất lịch sử, chính trị, hay được dùng để ám chỉ những người chung quanh Bí Xanh đều tẻ nhạt như nhau—khách sáo và xa lạ? Ông John, bà Jan, ông Jack, bà Joanne đều là những hippies thời 70’s, chống đối chính trị bằng cách ngày đêm đả đảo và sống buông thả. Để được gì? Ðể bây giờ họ lại trở về với đời sống bảo thủ, chán chường, làm những công việc họ không hề yêu thích. Chi tiết này như muốn chê trách và mỉa mai một cách chua xót những người muốn chiến đấu để thay đổi cuộc sống và chính trị để rồi cuối cùng vẫn bị cuộc sống và chính trị đè nát. Vùng dậy để làm gì? Cuối cùng vẫn chỉ làm nô lệ. Đây là một sự thật chính trị, và cũng là một trong những điều đáng nhớ trong câu truyện này.

Operation Babylift đã bỏ rất nhiều trẻ em lai ở lại trên một miền Nam hực lửa căm thù, đầy uất hận, và lo âu. Một trong những em nhỏ này là Bí Vàng. Cô vẫn ở lại cái làng nghèo khổ với Bà ngoại. Cuộc sống của cô không thay đổi gì nhiều ngoài sự thiếu ăn lan tràn và sự xâm nhập cực nhanh của hình ảnh và lý tưởng “Bác Hồ”. Những người lớn trong làng khinh bỉ và chê trách Bí Vàng vì cô lai Mỹ.

Trong phần này xuất hiện một nhân vật mới, đáng ghi nhớ, là “cậu,” một người bộ đội miền Bắc bị kẹt lại miền Nam sau chiến tranh vì vết thương nặng ở chân. Anh bị cưa mất một chân để bảo toàn mạng sống. Hình ảnh một thương binh dù tàn tật bởi chiến tranh nhưng vẫn hết lòng tin vào lý tưởng dùng để tẩy não người dân ngoan ngoãn là một hình ảnh lịch sử đầy chua xót. Những con người trẻ tuổi, đầy tương lai, nay trở thành những nạn nhân đau khổ và đáng thương nhất của chiến tranh (cả về thể xác lẫn tinh thần). “Cậu” cũng có tình cảm và những suy nghĩ bình thường như mọi người. Có lẽ nhận ra được điều này, Bà ngoại đã dành cho “cậu” một tình thương yêu, thương xót đặc biệt. Phải chăng nhân vật “cậu” được đưa vào truyện để nhắn nhủ chúng ta rằng những người ngây thơ đi theo chế độ là đáng thương ....(....).. Nhưng anh không thể quay lại, vì con đường dù sai nhưng vẫn là đường về lại nhà, về lại quê hương của anh. Sự ra đi của anh đem lại sự cô đơn bất tận cho Bí Vàng và Bà Ngoại. Có lẽ vì tuổi già, hay vì thương người trai trẻ lầm đường lỡ bước, hoặc vì quá mệt mỏi với xã hội đang suy sụp và những mơ ước bị đập nát, hoặc có lẽ vì tất cả, bà đã ra đi. Bí Vàng bây giờ hoàn toàn cô đơn.

Nếu phần một của truyện mang nặng phần trách cứ một cách táo bạo về những sự bất công và kỳ thị trong xã hội, thì phần hai là một sự dịu lại, một sự trưởng thành đúng thời điểm của hai nhân vật chính. Họ trưởng thành đủ để cân nhắc những sai lầm và những điều ngang trái của cuộc đời. Phần này cũng cho thấy những ảnh hưởng của chính trị đối với người dân.

Trong phần III, hai chị em Bí Vàng và Bí Xanh nhận lại nhau tại quê hương. Cũng trong phần này, chúng ta nhận thấy được sự trưởng thành và những suy nghĩ sâu sắc hơn của các nhân vật chính.

Bí Xanh đến Bangkok để chia tay người yêu. Ở Bangkok cô thấy một tấm biển quảng cáo đi Việt Nam trong ngày và đã quyết định trở về quê hương. Tại nơi đây, cô đã gặp lại người chị/em song sinh thất lạc từ lâu của mình (tác giả đã không đề cập rõ làm thế nào họ gặp lại nhau). Bí Vàng sống cùng với người bạn đồng tính là m, một người Việt gốc Hoa, và mở một cô nhi viện. Cô nhi viện được N bảo trợ. N là một người con lai Pháp, làm việc nửa năm ở Pháp và sống nửa năm sau ở Việt Nam. Cô nhi viện cũng là nơi chứa chấp những người bệnh tật, thiếu thốn, và những thành phần bị xã hội hắt hủi. Bí Xanh và N trở thành người tình. Qua những nhân vật đa dạng này, tác giả đã cho chúng ta thấy được những quan điểm sống khác nhau cũng như những suy nghĩ độc lập của họ.

Có lẽ không phải vì trùng hợp mà tác giả đã cho các nhân vật trên những xuất thân rất đặc biệt: họ đều là con lai của Việt Nam và các quốc gia đã đô hộ và có liên hệ chính trị với Việt Nam: Trung Quốc, Pháp, và Mỹ. Qua tính cách của họ, chúng ta có thể nhận ra được những đặc thù dân tộc của các quốc gia nói trên: M thẳng thắn, tai to miệng lớn, và “đầy tham vọng;” N thì dịu dàng, đa tình, và thích hưởng thụ; Bí Xanh thì có phần phóng khoáng và tự lập về suy nghĩ cũng như tình dục. Trong bốn nhân vật này, có lẽ chỉ có Bí Vàng là còn lại đức tính truyền thống của Việt Nam ngày xưa: mộc mạc, chịu đựng, và giàu tình thương.

Phần cuối của câu truyện cũng đề cập đến những vấn đề xã hội hiện đang nóng bỏng: sự trọng nam khinh nữ trong xã hội Việt Nam, quyền bình đẳng nữ giới và quan hệ đồng tính. Truyện cất tiếng kêu gọi cho quyền bình đẳng và tự lập của nữ giới trong xã hội đương thời. Ngoài ra, một đề tài mới mẻ và táo bạo hơn là vấn đề đồng tính luyến ái cũng được đặt ra. Trong truyện, Bí Vàng và m là tình nhân đồng tính. Bí Vàng là người “Việt Nam” nhất trong các nhân vật, nhưng cô lại có một mối tình mà xã hội (Việt Nam) dòm ngó và phê phán. Phải chăng tác giả muốn nhấn mạnh về một sự đổi mới, hiện đại hóa, Tây phương hóa của xã hội Việt Nam đương thời?

Ðồng thời với việc đề cập đến sự đổi mới của xã hội trong nước, Bóng gẫy của thần tích cũng miêu tả một cách xúc tích tâm trạng lưu vong của người Việt: cô đơn, trống vắng và thiếu thốn tình cảm. Qua những hình ảnh và chi tiết lịch sử, tác giả ngụ ý phê phán nhược điểm của người Việt là sự chấp nhận không suy nghĩ và cân nhắc những ảnh hưởng đến với chúng ta, để rồi từ “người Việt” không có được một định nghĩa chính xác ngoài định nghĩa về địa lý. Ngoài ra, tác giả còn phê phán những quan điểm và hành động chính trị của Mỹ.

Cuộc sống lưu vong đối với tác giả là lầm đường lỡ bước, là hẩm hiu một mình, là vô bờ bến. Đúng là nó đã từng như vậy những năm sau cuộc chiến, nhưng nó vẫn còn như vậy hay không, hay là tác giả đã quá bi quan? Mỗi hoàn cảnh đều khác nhau. Tuy nhiên, có lẽ nhìn cuộc sống một cách lạc quan và với nhiều hi vọng thì tốt hơn. Người Việt ở hải ngoại hiện nay vẫn sống lưu vong, nhưng trên những mảnh đất lưu vong của chúng ta, nhiều thành tích đã đạt được, nhiều tên tuổi đã gầy dựng, và những quê hương thứ hai đã trở thành những nơi chúng ta không thể xa được. Quá khứ có lẽ chỉ nên để rút kinh nghiệm lịch sử cho đất mẹ. Người Việt tị nạn đã từng chua xót, nhưng khi đã qua thì chúng ta nên hướng đến tương lai.

© 2006 talawas
Sất
14-03-06, 08:26
Thái độ của mấy người hải ngoại tung hê nhau kiểu trả thù trên mấy web hải ngoại làm mình rất khinh.
Fox
14-03-06, 08:57
Sất nói câu này anh thấy không thần kinh tí nào như bọn nó hay chụp bao tải.

Đọc xong mấy cái post trên, anh toàn thấy sự bế tắc, những quanh quẩn và mệt cbn mỏi.
Sất
14-03-06, 13:16
Thời đại hiện giờ vẫn dành tiếng nói cho mấy người thời đại chiến tranh thi nhau diễn giải. Họ đè con cháu ra hiếp nỗi đau cần phải hóa giải. Cả trong nước lẫn ngoài nước. Ẩn dụ trong Bóng đè của Đỗ Hoàng DIệu là một ví dụ, ẩn dụ về vẻ thỏa mãn của cô gái 18 tuổi với vị Giáo sư, sau khi ông ta hiếp dâm mình. Đó là ẩn dụ tượng trưng về sự loạn luân, thoái hóa, không thể khác. Chi tiết trong truyện ngắn " Những sợi tóc màu tang lễ " http://www.hopluu.net/HL75/DOHOANGDIEU.htm
Nguyenzz
16-03-06, 21:19
Thời đại hiện giờ vẫn dành tiếng nói cho mấy người thời đại chiến tranh thi nhau diễn giải. Họ đè con cháu ra hiếp nỗi đau cần phải hóa giải.

Cô đừng nghĩ những trò xiếc chữ của cô là hay ho, nhiều khi cô phỉ báng cả một thế hệ mặc dù tôi nghĩ trước đám đông cô không bao giờ dám Mở Miệng ra một lời tương tự như trên.
Chính cô mới là là nạn nhân của một vụ hiếp dâm tinh thần và kẻ hãm hiếp cô chính là câu chữ của chủng loại văn học xa rời hiện thực, phục vụ lợi ích giải phóng bức xúc cá nhân, với trí óc non nớt và hám cách tân, với sự trì trệ không tìm ra hướng đi cho dòng văn học, dòng cảm xúc cô theo đuổi, cô buông thả mình theo cái lối mà cô cho là hậu hiện đại. Tôi xin cô một điều, nếu cô còn giữ những cái gì cô viết hổi lớp 7, lớp 8, cô hãy đọc lại , hãy ngắm cô bé với cây bút mực viết ra những câu thơ ngày ấy, câu trả lời sẽ ở nơi cô. Tôi không nói nhiều. Tôi chưa bao giờ gọi người cầm bút là ĐIÊN, nhưng tôi e sợ một ngày gọi cô là KẺ ĐIÊN BIẾT CẦM BÚT !
Chào cô !
Imagine
20-03-06, 22:42
Tôn Thất Đán
Khi chữ bị lạm phát. Mấy lời cùng Lê Thị Thấm Vân

Đọc «Trò chuyện qua mạng với nhà văn Lê Thị Thấm Vân», độc giả sẽ gặp các tuyên bố: «Tôi đến với văn chương là vì yêu thích ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ Việt», «Tôi luôn tự đặt tiêu chuẩn rất cao. Tuyệt đối tránh lặp lại nội dung lẫn hình thức», «Trong thời gian viết tiểu thuyết, tôi tự khép mình vào kỷ luật rất nghiêm»… Rồi lời tự nhận xét của tác giả: «Những tác phẩm của tôi đa phần được giới phê bình quan tâm. Một số độc giả cho biết tác phẩm của tôi khó hiểu, muốn hiểu được thì phải đọc kỹ 2-3 lần, mỗi lần đọc lại khám phá ra điều thú vị và mới mẻ».

Nghe hơi lố, thôi thì…



*


Nhà văn có quyền tuyên bố, độc giả có quyền kiểm chứng. Dưới đây là một số ví dụ được tìm thấy (không mấy khó khăn) trong chính cuộc «trò chuyện qua mạng» và phần đầu của tiểu thuyết Xứ nắng.

Độc giả sẽ được dịp chứng kiến Lê Thị Thấm Vân sử dụng câu chữ luộm thuộm và thừa thãi ra sao.


A. Diễn đạt lúng túng như thợ vụng mất kim

«Viết tiếng Việt giữa lòng một ngôn ngữ khác, tiếng Anh chẳng hạn, là một lý thú, hấp dẫn, tự do, giữ được độc lập, bởi không dễ bị rơi vào công thức nhận diện hay đặt để của thế giới phương Tây.»

«Ðịnh mệnh, thân phận của những kẻ luôn đứng dạng hai chân ở hai nền văn hóa khác biệt. Sự bị bôi xóa.»

«Anh ngữ vẫn là một trong vài ngôn ngữ bá quyền hiện nay. Nó có khả năng lấn át những tiếng nói khác, thậm chí biến những tiếng nói khác trở thành tiếng động.»

«Tôi chọn lựa viết tiếng Việt trong thế giới tiếng Anh là (cố gắng) tạo nên tiếng nói thực tế, như nó là, tạo sự có mặt bình đẳng qua văn bản.»

«Bốn bà biểu tưởng cho thân phận, định mệnh, tiếng nói, trí tuệ, cá tính, bản năng, quyền lực, yếu kém, thiếu hụt, bất hạnh, oan khiên... của người phụ nữ.»

«Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã không tồn tại thì không còn giả… như nếu…»

«Tuy nhiên, tưởng tượng, hư cấu hay sáng tạo bất cứ gì cũng không thể dựa vào khoảng không hay cõi hư vô mà phải bắt rễ, vay mượn, học hỏi, ăn cắp ý tưởng, hình ảnh của rất nhiều người.»

«Viết lách, với tôi là một may mắn, hạnh phúc»

Hình như Lê Thị Thấm Vân kém tiếng Việt đến nỗi không biết rằng «viết lách» và «ăn cắp ý tưởng» đều mang nghĩa tiêu cực, không thể được sử dụng cho những quan niệm như «sáng tạo».

Và trong ví dụ ngay trên đó – «Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã không tồn tại» - phải sửa lại là «chính phủ Việt Nam Cộng hoà không còn tồn tại» bởi vì nó đã tồn tại chứ không phải «đã không tồn tại». Hy vọng rằng đây chỉ là một lỗi ngôn ngữ nhỏ chứ không phải là sự kém hiểu biết cơ bản về lịch sử. Nhân tiện cũng nhắc Lê Thị Thấm Vân rằng nước Việt Nam không có làng nào gọi là «làng Hưng Yên». Các ví dụ khác, xin độc giả tự phân tích để thấy chúng cũng ngây ngô chẳng kém. Ví dụ: «biểu tượng cho cá tính» hay «biểu tượng cho tiếng nói» có nghĩa gì, quí vị độc giả nào có thể trả lời giúp tôi?


B. Dùng từ thừa, tạm gọi là thói bôi chữ hay thừa giấy vẽ voi

«có khả năng bịa chuyện giỏi và có khiếu kể chuyện»

«có cuốn tôi đọc say mê thích thú»

«nhưng tôi vẫn đọc, vì bản tính tò mò muốn biết»

«tôi rời Việt Nam vì tò mò, phiêu lưu, mạo hiểm»

«viết tiếng Việt giữa lòng một ngôn ngữ khác, (…), là một lý thú, hấp dẫn»

«tuy nhiên viết văn, nhất là viết tiếng Việt ở hải ngoại thường rất cô đơn, cô độc…»

«định mệnh, thân phận của những kẻ…»

«những kẻ vất vưởng bên lề, mép, rìa»

«ám ảnh bởi chủ nghĩa quốc gia, dân tộc»

«mà bao nhiêu năm nay vẫn cố bảo bọc, ôm giữ»

«cả hai hoàn toàn độc lập, riêng biệt»

«bốn bà biểu tưởng cho thân phận, định mệnh, tiếng nói, trí tuệ, cá tính, bản năng, quyền lực, yếu kém, thiếu hụt, bất hạnh, oan khiên... của người phụ nữ»

«của người Việt tị nạn, lưu vong»

«điều tôi chứng kiến và suy tư, trăn trở»

«phụ nữ Việt Nam phải gánh vác vai trò làm cha, làm mẹ lo cho gia đình, con cái»

«chồng trong quân/bộ đội, tử trận, tù cải tạo»

«cũng không thể dựa vào khoảng không hay cõi hư vô»

«văn chương là chủ quan, là tiếng nói của cá nhân»

Tất cả những từ in đậm đều nên lược bỏ vì thừa. Nếu độc giả nào biết đôi chút ngoại ngữ, hãy thử dịch các câu trên, hẳn sẽ được những câu ngắn đi một nửa, mà ý tưởng thì vẫn không suy chuyển một ly. Ai mà không biết đã dùng từ «say mê» thì phải thôi từ «thích thú», có «suy tư» rồi thì thôi «trăn trở», «khoảng không» và «cõi hư vô» là một, «tị nạn» khác gì «lưu vong»… Đọc Lê Thị Thấm Vân, người ta có cảm giác như ăn một bữa cỗ, mới trông thì màu mè, nhưng chỉ cần nếm một miếng là biết đầu bếp đã vụng lại tham gia vị. Nói thật, cứ nghĩ đến những câu trên tôi đã cảm thấy đau quặn bụng!

Thói quen dài dòng thừa thãi này của Lê Thị Thấm Vân còn thể hiện rất rõ trong khi viết văn. Hãy thử đọc phần đầu của tiểu thuyết Xứ nắng, độc giả sẽ thấy hàng loạt những câu thế này:

«tức bực, oán hận, oan ức... dẫn lộ ra hai tròng con ngươi. Lâu ngày, biến thành lầm lì, câm nín, chịu đựng»

«tôi với chân trời rộng mở, tự do, phiêu lưu, thách đố, xăn tay áo một hai với đời»
«còn anh, tâm trạng chán nản, thất vọng, mệt mỏi, mất mát»

«có anh là tôi đủ, no nê, tràn đầy»

«lòng cứ lo âu hồi hộp sợ nhánh cây gẫy»

«ở anh, có sự điềm đạm, vững chãi, từ tốn»

«vẫn đạt hai lần cực sướng khoái»

«hai đứa cũng trải qua biết bao ê chề, đớn đau, nhục nhã, thất vọng»

«anh học cách viết, sáng tác truyện ngắn, thơ...»

«kiên trì, nhẫn nại, hy vọng là đức tính tốt, cần thiết cho nhà văn chưa thành. Tự dỗ và tự dối lòng mình»

«anh vẫn không rõ, không hiểu, không biết cho đến tận bây giờ»

«những khuôn mặt ngốc nghếch bất cần đời, bất chấp tất cả, tư thế nổi loạn, coi trời bằng vung, ý niệm thời thời gian chưa hề có, sống chết là chuyện của thiên hạ»

«Dục Mỹ, tôi không rõ, không hiểu, không thấy, không tìm kiếm, không bận tâm, không thắc mắc, không hỏi han nhiều»

«Tôi nhìn, ngó, ngắm, thọc sâu vào tình cảm của mình»

«Tôi cố rán sức đi xa»

«Tôi choàng thức, trạng thái mơ màng, nửa tỉnh, nửa mê»

«Tưởng chừng xe đang tuột dốc, đứt dây thắng, nhào đổ, vực sâu không đáy, tan xương nát thịt, mũi-mắt-mồm cùng căng»

«Vùng nhiệt đới, tên gọi rất đỗi lãng mạn, thơ mộng, gợi cảm, đầy khiêu khích và rất lạ kỳ.
Nước trong tôi tuôn trào xối xả như thác»

Cũng vậy, tất cả những từ in đậm đều nên bỏ đi vì thừa. Đó là thói quen của một người viết không nghiêm túc.



*


Kết luận: Một nhà văn tự cho là «yêu ngôn ngữ Việt» và luôn «tự đặt tiêu chuẩn cao» mà lại viết ra những câu luộm thuộm, ngô nghê như trên? Tất cả những phần in đậm, theo ý tôi, đều không cần thiết. Chúng chỉ chứng minh khả năng ngôn ngữ kém cỏi của Lê Thị Thấm Vân. Những đoạn Lê Thị Thấm Vân viết về tình ái chẳng hạn, sự lạm phát chữ đã khiến tình cảm và hành động của nhân vật trở nên giả tạo, hệt như đang diễn kịch. Chính vì vậy cái dâm trong tác phẩm của Lê Thị Thấm Vân không quyến rũ, không gợi cảm. Nó nhạt và nhàm.

Kinh nghiệm đọc tiểu thuyết cho tôi thấy: bí quyết đầu tiên của tác giả là phải gợi được trí tưởng tượng của độc giả. Viết về sex, vấn đề không phải là «bạo» hay «không bạo», mà cách tả sex đó có sáng tạo, có mới hay không. Vì nếu chỉ cần «bạo», người đọc sẽ mua sách khiêu dâm rẻ tiền ở siêu thị. Ngay trong văn học Việt, nếu kể về «bạo», các nữ sĩ trẻ Vi Thuỳ Linh và Đỗ Hoàng Diệu có lẽ còn «bạo» hơn Lê Thị Thấm Vân.

Vậy đó, sau khi so sánh thực lực và tuyên bố của Lê Thị Thấm Vân, tôi đành phải tin rằng Lê Thị Thấm Vân là người mắc chứng hoang tưởng. Bà tuyên bố tự đặt «tiêu chuẩn cao», tôi xin thưa với bà: Bà đứng giữa tầng trệt nhưng cứ ngỡ đang cưỡi tàu vũ trụ!

Nếu độc giả có quyền góp ý với tác giả thì tôi xin chân thành khuyên Lê Thị Thấm Vân trước khi nghĩ đến văn chương nên học viết những câu bình thường cho thật chuẩn. Không thì khổ thân ngôn ngữ quá! Tiếng Việt bị rẻ rúng trong đời thường đã đủ, đừng để tình trạng này tiếp diễn trong văn học. Tôi cũng nghi ngờ tiếng Anh của Lê Thị Thấm Vân. Nhưng chuyện đó thì sẽ không bàn vì bà chưa tuyên bố tình yêu với Anh ngữ. May mắn thay!

Thú thật, tôi thấy văn của Lê Thị Thấm Vân thiếu hấp dẫn, nên không đủ kiên nhẫn đọc thêm. Xin mời độc giả khác tiếp sức dọn vườn!

Versailles, ngày 15 tháng 3 năm 2006

© 2006 talawas
Imagine
25-03-06, 06:59
Ý kiến ngắn

Nhỏ Thanh

Khi đặt bút viết: ‘‘Đ㒒 trong ‘‘ngày mai’’ có phải xem là một chi tiết phản động với quá khứ? Một phát súng lục bắn vào tương lai? Nhường câu trả lời cho hội đồng lý luận phê bình.“, Đỗ Hoàng Diệu đã chứng tỏ mình là cô gái rất biết lo xa. Và Diệu ơi, nếu không rào trước đón sau như thế, xin cá một mất năm mươi là chẳng cần phải hội đồng lý luận phê bình làm gì cho to chuyện, chỉ riêng một bác Tôn Thất Đán ở Versailles mà đọc được câu này thôi, thì Diệu cũng đã đủ chết rồi.

Đọc bài „Khi chữ bị lạm phát. Mấy lời cùng Lê Thị Thấm Vân“ của bác ấy (Tôn Thất Đán), thấy bác „xẻo“ Thấm Vân hết chữ này đến chữ khác, thú thực là tôi vừa rùng mình lại vừa thấy buồn cười, cứ nghĩ như là đang đọc một chuyện tiếu lâm chắc ai cũng biết. Ấy là câu chuyện có người nọ mới mở cửa hàng bán cá, vừa treo cái biển: „Ở đây có bán cá tươi“ lên hôm trước, hôm sau đã nhận được bao nhiêu ý kiến phê bình, chê trách. Người này thì bảo: Không cần phải viết chữ „có“ làm gì, chỉ „Ở đây bán cá tươi“ người ta cũng hiểu. Người khác lại bảo: Chả lẽ ở đây bán cá ươn à? Vậy gì cần gì phải viết „tươi“ nữa?... Rút cục là xóa hết, là thôi khỏi phải treo biển, vì đến đầu phố đã ngửi mùi tanh ngòm rồi, ai chẳng biết là ở đây có bán cá tươi. Theo cái đà „xẻo“ ấy thì Thấm Vân cứ làm một bản tóm tắt cốt truyện, chẳng cần phải viết cả một cuốn tiểu thuyết làm gì cho mệt.

Bác Tôn Thất Đán cũng lạ chẳng kém gì bác Hồng Cường trong bài viết „Có một nhánh kênh đen trong dòng văn học Việt Nam“ đăng trên trang điện tử của báo „Công an thành phố Hồ Chí Minh“ mà talawas có (nhã?) ý giới thiệu. Ai cũng có những hệ quy chiếu riêng của mình, nhưng đừng vì thế mà vội lên án người khác, nếu họ không viết, không nói giống những điều, những cách mà các bác cho là chuẩn mực.

Bác Hồng Cường có thể nghĩ: „Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự định hướng nền văn học nước nhà, văn thơ phải hỗ trợ cho việc xây dựng một nền văn hoá “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Xin các “quái thi” đừng lao mình vào các trào lưu thơ mới trên thế giới mà quên đi tính dân tộc của đất nước mình“. Nhưng xin bác đừng vội vàng cho người này người kia là „có vấn đề về thần kinh“. Hẳn bác thừa biết ở nước ta, một người nào đó bị bắt nhầm đưa vào trại tâm thần thì dẫu không điên rồi cũng sẽ bị điên. Vẫn biết bác viết khơi khơi thế thôi, nhưng mà nguy hiểm đến chết người đấy ạ. Mà không chết thì cũng thần kinh.

Cũng vậy, xin bác Tôn Thất Đán đừng vội vàng phán một cách rất kẻ cả về người khác rằng: „Diễn đạt lúng túng như thợ vụng mất kim“ Hoặc: „Dùng từ thừa thãi, tạm gọi là thói bôi chữ hay thừa giấy vẽ voi“... Mà hình như trong một câu ngăn ngắn này của bác cũng có chút gì lúng túng trong cách diễn đạt.

------------


Trần Trọng Hoàng Bách

Đã là nhà văn, nghệ sĩ, thì cái Tôi đều lớn hơn người thường, không như vậy mới nguy chứ như vậy thì rất ổn. Mỗi nhà văn có cách bày tỏ cái Tôi một kiểu, không giống nhau. Thế cũng là ổn, chứ giống nhau cả thì nguy. Ông nhà văn Nguyễn Mộng Giác chắc cũng phải có cái Tôi to lắm, nhưng trong bài trả lời phỏng vấn của sinh viên vừa rồi, cái Tôi của ông được biểu hiện một cách hiền triết: giản dị, thông sáng và hài hước. Được như thế là phải đi gần hết một đời văn, một đời người sóng gió. Bà Lê Thị Thấm Vân còn khá trẻ, những câu bà trả lời phỏng vấn cũng của sinh viên không được… hiền triết tỉnh khô như thế, đó cũng là chuyện bình thường. Tôi nghĩ ta không nên bám vào những câu tuyên bố của các nhà văn rồi lấy đó ra làm thước đo tác phẩm của họ. Thế thì còn ai dám tuyên bố nữa. Mà giả sử các nhà văn không ai chịu tuyên bố câu nào oách nữa (vì sợ độc giả chê tác phẩm của mình không oách bằng) thì buồn quá.

Tôi cũng đồng ý với ông Tôn Thất Đán rằng trong văn chương, ngôn ngữ là chuyện quan trọng. Nhưng cũng nên công bằng để thấy rằng so với nhiều nhà văn Việt Nam hải ngoại khác thì tiếng Việt của bà Lê Thị Thấm Vân còn là khá. Nếu cần phải chê về mặt này thì có những tác giả hải ngoại khác làm ví dụ ngon hơn hẳn. Hai nữa, trong văn chương Việt Nam và thế giới cũng không thiếu các bậc đại tài với những thành tích văn học nổi bật, nhưng lại không phải là bậc thầy về ngôn ngữ. Cống hiến của họ nằm ở những mặt khác. Mà ai dám nói rằng mình sử dụng tiếng Việt thật chuẩn đây?

------------------

BCC

Ông Tôn Thất Đán thật là bạo gan khi dám phê bình văn hào hải ngoại Lê Thị Thấm Vân. Nền văn học hải ngoại này tự phát, ai cũng có thể tự in sách, tự phong cho mình là văn hào cả. Thú thật đọc bài phỏng vấn vừa rồi của bà Lê Thị Thấm Vân trên talawas, tôi không hiểu một văn hào đã từng đề cập tới bao nhiêu đề tài vĩ đại trong tác phẩm của mình, nào là chiến tranh Việt Nam, nào là chiến tranh tôn giáo, v.v... mà khi trả lời phỏng vấn thì chẳng được lấy một câu nào cho xứng đáng với tác phẩm vĩ đại của mình. Tuy ông Tôn Thất Đán là một độc giả nhưng tôi thấy ông sáng suốt đáng cho những độc giả khác như chúng tôi đọc hơn là những phê bình gia của hải ngoại.

---------------------

Tôn Thất Đán

Xin trả lời Trần Trọng Hoàng Bách :Cám ơn sự góp ý của quí vị, nhưng có lẽ quí vị nên xem lại bài của tôi. Tôi không phản đối nội dung lời tuyên bố của Lê Thị Thấm Vân mà chỉ chứng minh rằng cách sử dụng ngôn ngữ của Lê Thị Thấm Vân kém một cách hệ thống (cả trong lẫn ngoài tác phẩm). Theo tôi, nguyên nhân chính của sự kém cỏi này nằm ở chỗ chữ đã vào tay Lê Thị Thấm Vân là bị lạm phát. “Lạm phát’’ ở đây được hiểu là phát triển vô tội vạ, không phục vụ cho một ý đồ nghệ thuật nào. Nói cách khác, những chữ thừa của Lê Thị Thấm Vân chỉ là thói quen của một người viết không chuyên, không tôn trọng ngôn ngữ. Điều ấy dẫn đến một văn phong nhợt nhạt.

Không phải nhà văn nào cũng là bậc thầy ngôn ngữ, nhưng tôi tin rằng đã là nhà văn thì phải có khả năng sử dụng câu chữ một cách điêu luyện. Muốn hay không thì trong văn chương, ngôn ngữ cũng là một chất liệu chủ chốt, như âm thanh trong âm nhạc, màu sắc trong hội họa...

Với Nhỏ Thanh : Tôi không coi báo chí là cái chợ, coi nhà văn là bà bán cá, còn tiểu thuyết là biển cửa hàng.
Imagine
25-03-06, 07:09
Đỗ Kh.

Trung Hoa có truyện một ông thiên hạ đệ nhất cung. Bắt đầu ông còn bách bộ xuyên dương, bước sau là ông không dùng đến tên nữa mà chỉ giương cung đánh tách một cái là thú cũng chết. Nhưng khi tới mức vô thượng sư xạ thủ, ông bỏ cả cung lẫn tên và chỉ nằm trên giường mà nhìn trần, thế là thạch sùng cứ rơi chung quanh ông lốp đốp.

Đây có lẽ là cách viết văn mà tác giả Tôn Thất Đán muốn dạy cho Lê Thị Thấm Vân, nghĩa là nhà văn thì phải kiệm lời, và tác phẩm xứng đáng nhất như vậy chắc phải là tác phẩm vô ngôn. Vậy mới đã. Quá đã (ở đây tôi xin lỗi dư mất một chữ “quá”, “đ㔠không thôi là đã quá đủ rồi).

Chuyện không biết viết tiếng Việt hay không đúng ngữ pháp này ngữ pháp kia chắc thôi khỏi bàn tới, cũng như chuyện nghi ngờ khả năng tiếng Anh. Nguyễn Vỹ cũng là kẻ kiệm lời khi ông bảo nhà văn An Nam khổ như chó. Ở đây tôi lại thấy chưa đủ, phải thêm là nhà văn An Nam khổ như chó cái.

------------------

Lê Huy

Ý kiến của hai nhà văn Trần Trọng Hoàng Bách và Đỗ Kh. về bài phê phán văn chương Lê Thị Thấm Vân của độc giả Tôn Thất Đán đã phạm một số lỗi lầm cơ bản, chẳng hạn:

1. Đây là ý kiến của một độc giả ("Nếu độc giả có quyền góp ý với tác giả thì tôi xin chân thành khuyên Lê Thị Thấm Vân [...]", "Xin mời độc giả khác tiếp sức dọn vườn!" v.v.). Một độc giả bao giờ cũng có toàn quyền, đúng ra là còn có cả bổn phận, phê phán tác phẩm, mà không cần phải biện luận cho quan điểm của mình.

2. Độc giả cũng không cần phải là người có khả năng "viết lách" cao hơn tác giả mới được phép "chê" văn chương của tác phẩm.

3. Chê không có nghĩa là "dạy" (nhưng không ai cấm tác giả học ở những lời bình phẩm của độc giả). Xin nhắc lại: Ông Tôn Thất Đán không "dạy" Lê Thị Thấm Vân "viết văn" mà sửa tiếng Việt!

4. Không biết tác giả Trần Trọng Hoàng Bách dựa vào đâu để khẳng định khơi khơi" "Đã là nhà văn, nghệ sĩ, thì cái Tôi đều lớn hơn người thường", nếu không ở chính mình? (bác Đỗ Kh. có đồng ý với Trần Trọng Hoàng Bách không?).

5. Tôi không hiểu cái mô-típ thật sự khiến hai ông hăng hái bào chữa cho "đồng nghiệp" Lê Thị Thấm Vân. Trần Trọng Hoàng Bách có đưa ra một lý do là Lê Thị Thấm Vân "còn khá trẻ" (lý do khá yếu ớt!). Còn mô-típ của Đỗ Kh. là gì?

6. Sau cùng, về "nội dung" của bài viết của hai ông thì ... khỏi nói. Ông Trần Trọng Hoàng Bách viết: "Tôi cũng đồng ý với ông Tôn Thất Đán rằng trong văn chương, ngôn ngữ là chuyện quan trọng". Có thể viết một câu vô nghĩa hơn thế nữa không? (Một người "bình dân" cũng chẳng bao giờ nói: "Tôi cũng đồng ý với ông bạn rằng trong nghệ thuật ẩm thực, đồ ăn thức uống là chuyện quan trọng"). Và nhất là: "Trong văn chương Việt Nam và thế giới cũng không thiếu các bậc đại tài với những thành tích văn học nổi bật, nhưng lại không phải là bậc thầy về ngôn ngữ". Xin tác giả Trần Trọng Hoàng Bách phát biểu cách nào cho kẻ hèn này hiểu được cao kiến! (Riêng ở Việt Nam gần đây tôi có biết hai người thường được xưng tụng là "thiên tài" văn học - cũng như nhiều phương diện khác - nhưng hai vị này đã qua đời rồi nên chẳng tiện nhắc đến tên).
Ngược lại tôi rất thích thú (dù chẳng thể đứng cùng "phe") với "độc giả" Nhỏ Thanh. Đọc ý kiến của chị tôi vừa... nhột vừa buồn cười. "Nhột" vì chính tôi cũng nảy ý định "khuyên" Lê Thị Thấm Vân lần sau thay vì đăng bài (phỏng vấn), chỉ cần gửi tấm hình thật "lịch sự", dưới ký tên Lê Thị Thấm Vân là quá đủ. Còn "buồn cười" vì trong đầu thoáng qua ý nghĩ: "Gớm, đã nhỏ mà lại còn... thâm"!

------------------

Bich Ngoc Tran

Gởi ông Đỗ Kh.,

Hành động «cứu bồ cứu bạn» của ông khi binh bà Lê Thị Thấm Vân quả là hào hiệp. Bà Lê Thị Thấm Vân chắc cảm động! Tôi cũng cảm động. Nhưng chỉ một giây, vì lời lẽ của ông xem ra không thuyết phục.

Thứ nhứt ông nói «nhà văn An Nam khổ như chó cái». Không biết ai khổ, chớ bà Lê Thị Thấm Vân nhứt định không khổ. Bà có tiền, tự mở nhà xuất bản, tự in sách (theo chính lời bà nói), tự tiếp thị: bà lên talawas trả lời phỏng vấn nói về bản thân toàn lời hay ý đẹp, lại trưng hình đang ngồi viết tiểu thuyết để chứng tỏ mình nghiêm túc, cần cù và tôn trọng văn chương chữ nghĩa ra sao.

*** Kiểm duyệt *** Bà cũng không khổ so với các nhà văn hải ngoại khác (những người không tự bỏ tiền in sách) và các nhà văn ở nước sở tại. Ở phương Tây, dù là xứ tự do ngôn luận, các tác giả vẫn phải qua vòng «kiểm duyệt» (không về tư tưởng nhưng về nghệ thuật). Sống tại xứ người nhiều năm, tôi hiểu rằng để in một cuốn sách ở đây, một nhà văn phải qua nhiều vòng khổ ải mỗi khi đem bản thảo đến các nhà xuất bản. Nhiều người phải cay đắng ngậm ngùi khi bị ban biên tập chê bai, đòi sửa chỗ này, bỏ chỗ kia ra sao. Vậy là còn may phước đó: nhiều nhà xuất bản còn quẳng vô thùng rác mà không cần dài dòng từ chối. Rồi nữa, sau khi sách in xong, bà Lê Thị Thấm Vân, vì bỏ tiền in sách, cũng không cần phải lo bán sách, theo dõi coi độc giả của mình phản ứng ra sao. Ở phương Tây, không có kiểm duyệt, nhưng có cạnh tranh. Bà Lê Thị Thấm Vân thoát được cả kiểm duyệt, cả cạnh tranh. Vậy bà khổ cái chi?

Thứ nhì, ông binh bà Lê Thị Thấm Vân cũng xuất phát ở mặt tình cảm, đạo đức. Tức là thấy ai bị phê bình, thì ông binh vực, vậy thôi. Chớ về mặt nghệ thuật văn chương, ông chẳng binh bà Lê Thị Thấm Vân được câu nào.

Tôi có lời như vầy: Ông Tôn Thất Đán khi phê bình bà Lê Thị Thấm Vân đều dựa vào câu chữ, và những nhận xét của ông tuy nghiêm khắc nhưng thoả đáng. Ông Đỗ Kh., không đồng ý với ông Tôn Thất Đán cũng được thôi, nhưng xin ông chứng minh là những câu chữ của bà Lê Thị Thấm Vân (mà ông Đán đã trích đó) hay chỗ nào, đẹp ra sao.

Nếu được như vầy, độc giả chúng tôi có lòng cảm tạ.

--------------------

Tám
Thừa chữ?

Ông Tôn Thất Đán phê bình "Lê Thị Thấm Vân sử dụng câu chữ luộm thuộm và thừa thãi ". Đó là quyền của ông. Nhưng xin ông đọc hai câu này:

Nửa đêm giờ tý canh ba
Vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi

Xin hỏi ông có thể bỏ hết các chữ thừa, để còn lại: "nửa đêm/ vợ tôi" được không?

Vâng, đây chính là hai câu để phê bình những người viết thừa chữ, chính vì nó thừa chữ. Nhưng bản thân nó cũng chứng minh trong văn chương có khi thừa chữ lại hay, khi nó tạo ra được một văn phong nhất định, đưa đến cho độc giả một ấn tượng nhất định mà nếu cô đọng quá lại không có.

Ở đây tôi không bàn về sắc thái tu từ của Lê Thị Thấm Vân trong trường hợp thực sự "thừa" chữ. Nhà văn có quyền viết như thế, có người thích và có người không thích là chuyện thường tình. Tôi chỉ xin nêu ra làm thí dụ vài trường hợp để cho thấy, theo thiển ý, những phê bình "lạm phát" của ông là quá đáng:

1) Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã không tồn tại thì không còn giả… như nếu…

Đây là ngoại lệ trong chủ đề thừa chữ, vì ông cho là "một lỗi ngôn ngữ ". Có lẽ ông đọc hơi nhanh, trong tiếng Việt có cặp "đã... thì..." thí dụ như: "mày đã hư thế thì tao đánh cho chết". Câu này nối liền hai mệnh đề và mệnh đề đầu không nhất thiết thuộc về quá khứ.

2) «có khả năng bịa chuyện giỏi và có khiếu kể chuyện»

Người bịa chuyện giỏi chưa chắc đã có khiếu kể chuyện, và ngược lại. Một thằng bé ranh mãnh có thể bịa chuyện giỏi để tránh bị đòn, nhưng chưa chắc nó đã kể chuyện hay khi làm bài tập viết văn. Một người có khiếu kể chuyện chưa chắc đã bịa ra những chuyện mình kể, thí dụ như những người viết truyện cổ tích nổi tiếng trên thế giới thường chỉ kể lại những chuyện dân gian đã có sẵn.

3) «điều tôi chứng kiến và suy tư, trăn trở»

"Suy tư" có sắc thái lý trí, "trăn trở" có sắc thái tâm lý. Có thể suy tư mà không trăn trở, và ngược lại. Cũng như có thể vừa suy tư vừa trăn trở.

4) «văn chương là chủ quan, là tiếng nói của cá nhân»

"Chủ quan" là nói về nội dung, "tiếng nói của cá nhân" là nói về văn phong, không hoàn toàn độc lập nhưng cũng không trùng nghĩa.

Trên đây chỉ là ba thí dụ. Xin không phản biện thêm về những câu tôi thấy là không thể giản lược (nếu theo tinh thần một văn bản khoa học) vì khi giản lược sẽ mất một phần ý nghĩa. Cũng xin không trích dẫn đôi chỗ tôi đồng ý là có thể giản lược (với chữ nếu nói trên) thí dụ như "cô đơn, cô độc"; "định mệnh, thân phận" ...

Tiếng Việt rất khó, chúng ta ai cũng "kém tiếng Việt " cả.
Happiness
25-03-06, 13:27
Diễn đàn rất hoan nghênh bạn Imagine bốt bài, dù là sưu tầm, để chia sẻ kiến thức thông tin về hoạt động văn nghệ hải ngoại với mọi người. Tuy nhiên cần lưu ý bạn khi làm việc này chú ý đến các quy định chung của diễn đàn. Đây là lần thứ hai anh phải kiểm duyệt bài viết của bạn và như các cụ nói, cái gì đến lần thứ ba sẽ là quá mức, khi đó việc cut paste không cân nhắc kỹ lượng có thể bị đình chỉ.

Về vấn đề talawas, các bạn có thể tham khảo thêm ở đây (http://www.thanhnienxame.net/showthread.php?t=2277) . Chúng ta tin tưởng rằng một trang web đã bị firewalled ở VN tất là chẳng ra gì, xứng đáng bị xử lí như thế. Và nhớ cho là TL ko phải talawas, cũng ko có í định đi theo talawas.
Imagine
25-03-06, 14:32
thế thì "thôi thì thôi nhé chỉ ngần ấy thôi"
Phạm Thiên Thư

tổng chào!
light
05-05-06, 09:51
Chẳng phải cơn mơ ngày

Con còng cõng lửa tới lui trong đêm ai đấy quả quyết rằng nó là con đom đóm.

Chỉ có tiếng nói chính thống, trung tâm là chuẩn. Còn lại là tạp âm.
Cái hĩm này ngu đ'eo biết! Cần trị dạy.
“Tôi có muốn đấu tranh gì đâu.”

Bao quanh con còng cõng lửa là sự trống không. Mọi thứ đều vô nghĩa.
“Không có vui chỉ có không buồn thôi.”

Kẻ chữa lửa đối mặt thòng lọng đong đưa
Những kẻ ưa khiêu khích ta. Cứ để mặc.
Bởi trăm năm sau ai đọc những hàng chữ này thì họ và tôi (đã) không còn nữa.
Chẳng phải cơn mơ ngày.

Bữa ăn chiều nay,
khuôn mặt con trai 6 tháng tuổi và khuôn mặt ông nội 92 tuổi của tôi là một. Tôi ngồi giữa họ. Quay phải đút muỗng cháo. Quay trái đút một muỗng bột. Miệng tôi liên tu: “Hả miệng nào-ngoan nào-nuốt đi nào-giỏi nào-thương quá nào... nào...”

Bằng cách nào tôi (đã) xuyên qua những cánh cửa gương không mở với đôi mắt cạn nước từ năm lên 7 hay 10? Chỉ có anh, một lần hỏi: “Vì sao em khóc?”

Tôi nhớ khuôn mặt anh một sáng râu chưa cạo vùi chà bầu vú tôi. Khi anh tuột khỏi thân thể tôi. Tôi cong người dùng răng nhổ từng cái gai cắm chặt.
một cái
hai cái
ba cái
năm cái
tám cái... mười ba cái... hăm bẩy cái...
Ôi! những cái gai không dễ dàng tiếp cận.

Con cá hồi vừa đi vừa ngoái đầu về lỗ/hang mẹ (nay đã) bị lấp kín/hoang phế.
Chẳng phải cơn mơ ngày.

Con chuồn chuồn sải cánh lúc 6 giờ sáng... Tự hỏi vì sao cứ (phải) bay bay bay mỗi bình minh với một cánh tự hủy và một cánh vay mượn cùng một phần trên thân thể nó ứa nước.

Lê Thị Thấm Vân

Tiền Vệ © 2006
Giả Bảo Ngọc
05-05-06, 09:58
Chào tình yêu light. :11: Tình yêu khỏe đấy chứ? Không ốm đau gì đúng không? :11: :11: :11: (sorry, em hơi phá đám topic một tẹo nhớ :D)
Sất
05-05-06, 10:27
Cô đừng nghĩ những trò xiếc chữ của cô là hay ho, nhiều khi cô phỉ báng cả một thế hệ mặc dù tôi nghĩ trước đám đông cô không bao giờ dám Mở Miệng ra một lời tương tự như trên.
Chính cô mới là là nạn nhân của một vụ hiếp dâm tinh thần và kẻ hãm hiếp cô chính là câu chữ của chủng loại văn học xa rời hiện thực, phục vụ lợi ích giải phóng bức xúc cá nhân, với trí óc non nớt và hám cách tân, với sự trì trệ không tìm ra hướng đi cho dòng văn học, dòng cảm xúc cô theo đuổi, cô buông thả mình theo cái lối mà cô cho là hậu hiện đại. Tôi xin cô một điều, nếu cô còn giữ những cái gì cô viết hổi lớp 7, lớp 8, cô hãy đọc lại , hãy ngắm cô bé với cây bút mực viết ra những câu thơ ngày ấy, câu trả lời sẽ ở nơi cô. Tôi không nói nhiều. Tôi chưa bao giờ gọi người cầm bút là ĐIÊN, nhưng tôi e sợ một ngày gọi cô là KẺ ĐIÊN BIẾT CẦM BÚT !
Chào cô !

Ở trong đám đông bạn Sất phải tìm kiếm cơ hội để được mở miệng. Tuy nhiên ghi nhận ý kiến đó của Zét. Đám đông dành cho những đứa trẻ lớp 8 này chăng ? vì vậy Mác xít hay Freud với nó tất thảy đều là những kẻ điên cầm bút hoa cứt lợn hết. Cái này bạn Lớp gửi cho tớ đấy, nóng hổi. :hitrun: :nutkick: .http://www.thanhnienvn.com/van.htm
http://upload.thanhnienxame.net/members/3f5bb03407.jpg
Sất
05-05-06, 10:32
tiếp theo phẫn nộ của bạn Vân và các bạn nhé
http://upload.thanhnienxame.net/members/0e7089921d.jpg
light
05-05-06, 10:35
Tình yêu khỏe đấy chứ?
cảm ơn cưng, rất khỏe.

mấy hôm nay trời vào xuân, hoa lá nở tưng bừng, bụi phấn bay đầy trời nên hơi bị hắt xì... xằng tẹo.
lamaquen
05-05-06, 10:42
Lớp 8 mà vẫn có đề bài tả cây tả con hả Sất? Lần sau bảo cái đứa nào viết bài nó chia cho 2 thành lớp 4 rồi hãy đăng lên cho nó thuyết phục nhé.
Sất
05-05-06, 15:16
Lớp 8 mà vẫn có đề bài tả cây tả con hả Sất? Lần sau bảo cái đứa nào viết bài nó chia cho 2 thành lớp 4 rồi hãy đăng lên cho nó thuyết phục nhé.

Mình nhìn kỹ lại, hình như thằng bé này sửa số 6 thành số 8. Hoặc giả sử là trường hợp tình huống một bạn đang học đến lớp 8 trường làng bỏ học nhớn lên nghiện ngập năm nay hai mấy 3 mấy thì chuyện bạn scan hình, bốt lên internet với nội dung điên đó đủ để suy ngẫm ý nghĩa của nó. Giống như chuyện tuyệt thực ăn vạ của cô Thái vậy, nhất thiết nó có ý nghĩa, tuy nhiên ý nghĩa góc độ khác, hoặc góc độ văn chương, chứ không phải chuyện dở hơi hay thông minh, đúng hay sai, hay hay dở.Tất nhiên nếu là tiêu chí của một cô giáo hay thầy giáo cấp 2 ở VN năm 2006 thì chấm bài bạn này điểm 0 rồi. Nhưng nếu gửi cho Đỗ Kh tapchitho.org chấm thì có thể bạn cho 9,5 điểm thơ tân hình thức đấy.

Trở lại văn vẻ hải ngoại với bạn Vân, cũng tréo ngoe như vậy. Nói chung là đem dùi đục chấm mắm cáy, hay hớm ko phải chỗ thành ra là ngu xuẩn.