Tình hình kinh tế Việt nam trong năm qua

quasa
18-01-06, 08:17
Dạo qua thị trường Thănglong thời gian qua,nhất là các mục dính đến kinh tế trọng điểm của nhà nước, em thấy các bác có nhiều ý hay,nhưng bị pha trộn với những câu đùa, câu chửi nên bị giảm ý nghĩa quá nhiều. Bên cạnh đó em coi trọng anh em (nick) trong forum này hơn so với nơi khác,. Các bác không công khai tên tuổi nhưng những gì viết ra trên diễn đàn này không thể là những người không có lòng với Thănglong- Hà nội, không có lòng với VN. Bởi thế ,trong mục chuyện nghiêm túc em xin phép các bác được trích, đưa lên thông tin nhiều chiều để anh chị em phân tích, chí ít rút ra được kết luận cho riêng mình.
Dưới đây là bài phỏng vấn bác Lê Đăng Doanh, xin các bác coi đây cũng như tin tức trên báo chí của ta chỉ là các ý kiến nên tham khảo. Nếu không có gì nhạy cảm em cũng xin đưa thêm các tin tức chính thống của ta để anh chị em có một cách nhìn trọn vẹn hơn.

Tình hình kinh tế Việt Nam năm 2005

Gia Minh, phóng viên đài ...
Tất cả những số liệu tổng kết năm 2005 mà Hà Nội đưa ra đều cho thấy một bức tranh khá sáng sủa về phát triển kinh tế của Việt Nam trong năm qua. Đối với giới chuyên gia kinh tế, thì thực tế có hoàn toàn đúng thế không và còn cần phải làm gì nữa để đạt mức tăng trưởng xứng với tiềm năng của Việt Nam?
Gia Minh hỏi chuyện tiến sĩ Lê Đăng Doanh, cố vấn cao cấp của Bộ Kế hoạch & Đầu tư Việt Nam về tình hình đó. Đầu tiên ông đưa ra một số tác động đến nền kinh tế Việt Nam trong năm 2005:
TS Lê Đăng Doanh: Về mặt tác động khách quan thì vừa qua có những tác động nhiều chiều. Một là tình hình giá dầu tăng cao, có tác động làm tăng thêm thu nhập về xuất khẩu dầu của mình nhưng cũng làm cho chi tiêu để nhập các nguyên vật liệu từ dầu hoặc liên quan đến dầu cũng tăng lên cao. Cho nên việc tăng cao của giá dầu cũng là một yếu tố cần có sự xem xét.
Thứ hai là thiên tai. Rõ ràng có hiện tượng là thiên tai đã trở nên gay gắt hơn, số xuất hiện nhiều lên và sự tàn phá đối với cơ sở hạ tầng của Việt Nam mới được xây dựng cũng trở nên gay gắt hơn. Cho nên các yếu tố về thiên tai có lẽ cũng cần phải được nhận xét, rất là quan trọng.
Điều thứ ba là một số các yếu tố về diễn biến về thị trường thế giới cũng có gây tác động đến nền kinh tế Việt Nam. Nhưng nhìn chung lại thì cho đến nay Việt Nam trong năm 2005 đã tăng trưởng tương đối tốt và đã đạt được các kết quả đáng mừng, đáng ghi nhận. Nhưng nói như vậy không có nghĩa rằng không thể làm tốt hơn được nữa.
Gia Minh: Để làm tốt hơn được nữa, theo tiến sĩ thì trong năm đến kế hoạch cần đưa vào những biện pháp nào để có thể đạt được mức độ tốt hơn ?
TS Lê Đăng Doanh: Về tốt hơn thì phải nói là nền kinh tế Việt Nam hiện nay về tiềm năng đang còn rất lớn và nếu như Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh cải cách trên nhiều mặt thì nền kinh tế Việt Nam sẽ còn có thể phát huy được sức trong khu vực tư nhân lớn hơn rất nhiều. Tôi chỉ xin lưu ý, tức là trong rất nhiều lĩnh vực nếu như chúng ta mở rộng cho kinh tế tư nhân hoạt động tốt hơn nữa và mở rộng để cho điều kiện kinh doanh thuận lợi hơn nữa. Những chi phí về hành chính, về kinh doanh giảm đi thì nền kinh tế Việt Nam còn tăng trưởng nhiều hơn nữa.
Điểm nữa là trong năm 2005 thì đầu tư nước ngoài cũng rất là thuận lợi, đã có hồi phục và phát triển rất tốt.
Điều đáng ghi nhận nữa là thành tựu về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam cũng được thế giới rất hoan nghênh.
Tôi nghĩ đấy là các yếu tố mà chúng ta có thể coi như là cơ sở để năm 2006 này Việt Nam có thể đẩy mạnh cải cách và có thể thu hút được thêm nhiều nguồn lực nữa trong nước và trên thế giới để phát triển tốt hơn.
Gia Minh: Bây giờ để mở rộng cho khu vực kinh tế tư nhân họ tham gia thì lâu nay cũng có hoạt động cổ phần hóa. Nhưng sao việc cổ phần hóa vẫn chưa tiến triển nhanh được, thưa tiến sĩ?
TS Lê Đăng Doanh: Cổ phần hóa cho đến nay tính về số lượng thì cổ phần hóa cũng đã khá nhiều. Đến gần 3000 doanh nghiệp nhà nước nhỏ nhưng chỉ chiếm có 9%, chưa đầy 10% tổng số vốn của các doanh nhiệp nhà nước. Trong số đó thì bán ra cho người ngoài doanh nghiệp nhà nước thì khoảng độ 34%. Như vậy tức là cổ phần hóa cho đến nay thì về thực chất vẫn là việc chia cổ phần cho những người trong doanh nghiệp là chính, còn việc bán cổ phần ra ngoài thì hiện nay là mới chiếm một vị trí khiêm tốn. Còn việc thu hút cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài càng khiêm tốn hơn. Cho nên tôi nghĩ cho đến nay việc cổ phần hóa ở Việt Nam tuy đã đạt được kết quả bước đầu nhưng còn rộng hơn nữa.
Ở đây cũng phải nói rằng nghị quyết của BCHTƯ đảng CSVN về vấn đề cải cách doanh nghiệp nhà nước và cổ phần hóa rất là mạnh mẽ, đã có nói rõ là sẽ cổ phần hóa các doanh nghiệp trong các tổng công ty nhà nước. Trừ có tổng công ty dầu khí là nó liên quan đến tài nguyên của đất nước, mà việc bán tài nguyên của đất nước là vấn đề phức tạp cho nên hiện nay chưa biết là sẽ có quyết định là sẽ cổ phần hóa các ngân hàng thương mại quốc doanh, sẽ cổ phần hóa các tổng công ty. Cho đến nay việc thực hiện thì chậm chứ không phải rằng chủ trương là không có chủ trương đó.
Gia Minh: Trở lực nào gây ra sự chậm trể trong lĩnh vực này, thưa tiến sĩ?
TS Lê Đăng Doanh: Có lẽ ở đây cần phải xem xét đến lợi ích nhóm của một số các người nào đấy mà khi cổ phần hóa thì vẫn giữ phần lợi ích quá lớn cho mình. Trong dư luận người ta đang nói nhiều đến việc cổ phần hóa như việc cổ phần hóa khách sạn Phú Gia ở Hà Nội - một khách sạn ngay bên cạnh vị trí hồ Gươm tuyệt đẹp và có giá trị rất lớn nhưng chỉ cổ phần hóa có 3,2 tỷ đồng Việt Nam, số tiền đó thì mua một miếng đất ở đấy cũng không được chứ đừng nói gì đến mua một khách sạn. Có lẽ cần phải rút kinh nghiệm để tiến tới một sự công khai minh bạch và cổ phần hóa một cách rộng rãi hơn nữa thu hút được nhiều nguồn lực trong dân. Hiện nay thì trong dân Việt Nam đang còn khá nhiều tiền nhưng người dân không biết rằng sẽ đầu tư vào đâu cho nó thuận lợi. Cho nên nhiều người đi đầu tư vào đất đai cho nên đẩy giá của đất đai nó lên quá cao và trở thành bất lợi. Giá đất của Hà Nội và thành phố HCM bây giờ lại cao hơn giá đất ở nhiều thành phố khác trên thế giới là điều rất là bất lợi đối với môi trường kinh doanh.
Gia Minh: Còn về vấn đề giá cả, thưa tiến sĩ thì cũng có ý kiến nói rằng sắp đến là phải buông giá chứ không nên giữ giá mãi như thế này thì nó sẽ gây ra những hậu quả khó lường, thưa tiến sĩ.
TS Lê Đăng Doanh: Về giá trong nước thì bây giờ phần lớn giá là do thị trường quyết định, nhà nước chỉ còn giữ ổn định một số giá thôi, thưa anh. Vừa qua có một dấu hiệu cũng đáng mừng, tức là người ta cũng bắt đầu điều chỉnh giá xăng theo giá quốc tế thì cũng là một biểu hiện đầu tiên. Còn các giá khác thì hiện nay nó phụ thuộc vào giá độc quyền. Nhưng vấn đề chủ yếu không phải ở chỗ giá mà vấn đề chủ yếu ở chỗ độc quyền.
Gia Minh: Qua một năn như vậy thì những bài học nào đáng rút ra để sang năm có thể đạt được những chỉ tiêu mà sẽ đề ra, thưa tiến sĩ ạ.
TS Lê Đăng Doanh: Bây giờ để tăng trưởng tiếp thì một là phải tiếp tục cải cách các lĩnh vực mà hiện nay cải cách còn chậm hay cải cách kém hiệu quả. Thí dụ như bộ máy hành chính nhà nước, thí dụ như các lĩnh vực độc quyền, thí dụ như các lĩnh vực cải cách doanh nghiệp nhà nước. Nếu như là tốt các việc đó thì chúng ta có một sân chơi rộng lớn hơn đối với khu vực tư nhân trong nước và đầu tư nước ngoài. Chúng ta xúc tiến việc hội nhập kinh tế quốc tế và trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới trong năm 2006 thì tôi tin là kinh tế Việt Nam sẽ còn có thể phát triển tốt hơn nữa.
Gia Minh: Cám ơn tiến sĩ Lê Đăng Doanh đã dành cho đài chúng tôi cuộc nói chuyện ngày hôm nay.
quasa
18-01-06, 17:36
Vài tuần trước có 1 bài của một cậu người Mỹ tren VNN có đăng nguyên văn nhưng thuộc dạng ( nguyên văn tác giả nhưng bị kiểm duyệt ý chính, chỉ để lại lời khen VN), nếu không cảm thấy quá đáng so với hiểu biết của anh em ở đây thì em nghĩ là cung nên đưa lên, sợ gì các bác nhỉ, ai mà chả biết.
quasa
19-01-06, 14:56
Hê, VNN cư xử dạo này khéo phết nhé

Chính phủ đang nỗ lực hội nhập kinh tế
Thật bất ngờ! Khi chúng tôi vào web VNNet lúc 13:23 ngày 12/01/2006(VN), chúng tôi ghi nhận có sự sửa đổi phần giới thiệu về bài chuyển ngữ như chúng tôi chép sau đây. Chúng tôi xem đây là một thái độ đáng trân trọng.
13:23 chiều 12/01/2006 (Giờ VN)
Xin lược dịch bài viết này của ông Jordan D. Ryan. Bài viết phản ảnh quan điểm riêng của tác giả sau những tháng năm làm việc tại Việt Nam, có một số chi tiết “nhạy cảm” nên chúng tôi mạn phép lược bớt các chi tiết đó.

Chính phủ đang nỗ lực hội nhập kinh tế
Tuy nhiên ! vào lúc 2:00 sáng(VN) ngày 13/01/2006, chúng tôi trở lại VNNet thì nội dung phần giới thiệu thay đổi một lần nữa. VNNet giữ lại phần giới thiệu nguyên thủy .
02:00 sáng 13/01/2006(Giờ VN)
Xin đăng nguyên văn bài viết này của ông Jordan D. Ryan. Bài viết phản ảnh quan điểm riêng của tác giả sau những tháng năm làm việc tại Việt Nam.
giangthu
20-01-06, 11:19
Kinh tế phát triển toàn do kiều hối không à. Tổng sản lượng cả nước không bằng hải đảu Burmuda chỉ rộng bằng dãi mũi.

Năm nào cũng phát triển 9% gì gì đó mà cứ 40 tỷ mãi. Chứng tỏ tiền tăng là do ngoại hối không phải là chỉ số sinh sản lực của kinh tế. Đánh lừa ảo giác chứ đâu có tăng trưởng gì đâu. Mình biết rành bản chất kinh tế kiểu Việt Nam, Cuba sáu câu vọng cổ.
quasa
20-01-06, 12:24
Thì mới chập chững đi mà Thu, mí lại thời điểm vừa rồi việc mời một số Giáo sư kinh tế xịn sang giảng bài về WTO cho lãnh đạo cũng đem lại các kết quả khả quan đó thôi. Cái đó cũng nói lên sự cố gắng của các cụ trong nhà, còn bọn trẻ hơn các cụ nó phá phách thì uốn dần thôi. Đương nhiên anh Doanh cũng phải thừa nhận là còn yếu, phải cố gắng nhiều, đối lập cứ cố gắng phản biện ỉ ôi thì trong nước không bịt tai được lâu nữa đành thay đổi .
quasa
20-01-06, 12:36
Đành rằng phải nghe người ngoài nói về VN cũng khó chịu như khi nghe cầu thủ Thái dạy khôn cầu thủ VN, nhưng mà vẫn phải nghe thôi.
http://yaleglobal.yale.edu/display.article?id=6633

Cu này sinh năm 74 mà được Vietnamnet dịch nguyên văn (nhưng kiểm duyệt đoạn chê bai màu đỏ)
http://vietnamnet.vn/kinhte/chinhsach/2005/12/524013/
Vietnam Goes Global

The government embraces capitalism, but so far only for small businesses



Jordan Ryan
YaleGlobal, 15 December 2005




Will globalization lift all the boats? Mekong Delta boat operators wait for tourists. (Photo: Nayan Chanda, YaleGlobal)

HANOI: Nearly two decades after launching economic reforms, Vietnam is well on its way to achieving Ho Chi Minh’s nationalist dream of independence and prosperity. But the nation’s first president would not have envisioned the process: Instead of opposing the march of international capitalism, the new Vietnam has embraced it. If the country is to make the most of globalization, the government will have to give free rein to local as well as foreign businesses.


Although Hanoi had hoped that negotiations would be completed in time for this month’s WTO ministerial meeting in Hong Kong, Trade Minister Truong Dinh Tuyen conceded recently that the country is unlikely to join WTO before mid-2006. Hanoi has inked 21 bilateral deals including those with the European Union, Japan and China, but must still finalize agreements with five countries including the United States and Australia.





Whenever it occurs, accession to WTO will stand as the crowning achievement of Vietnam's reform program launched in 1986. The reforms, known locally as doi moi or renovation, set in motion Vietnam's transition from a centrally planned to a market economy, and opened the way for liberalization of trade and inward investment policies.


The nation’s reintegration into the world economy has proceeded at a rapid pace. Export values neared US$30 billion last year, a thirty-fold increase from 1988. The United States ended its embargo of Vietnam in 1993 and signed a bilateral trade agreement with Vietnam in 2000. The deal transformed trade relations between the two countries. The US is now Vietnam's largest export market, with textiles, seafood, footwear and wood products ranked among the top earners.


Liberalizing international trade and investment policies required a historic shift in ideology within the ruling Communist Party. Once fearful of international links outside of the Communist bloc, the party has made trade and foreign investment central planks of the country’s economic strategy. And as in China, reformers within the party aim to use international commitments like those encoded in WTO to lock in policy changes.

Embracing globalization was traumatic for the Vietnamese Communist Party, the founding principles of which were based on the Leninist thesis that imperialism and capitalism were one and the same. Watching the imperial powers divvy up China and Southeast Asia, Ho Chi Minh and his fellow revolutionaries decided that the international Communist movement offered the best hopes of realizing their dream of an independent Vietnamese nation-state.





Like most western Marxists at the time, and indeed for many years afterwards, they believed that the development of an indigenous, autonomous capitalism was impossible in the former colonies. Even once formal independence had been achieved, they assumed that indigenous capitalists would remain pawns of the imperial powers intent on draining the wealth and natural resources of developing countries through unequal trade and control over finance capital.


Early Vietnamese nationalists like Phan Boi Chau saw Japan as a model of autonomous Asian capitalism. Japan’s rapid industrialization and victory in the Russo-Japanese war reinforced the idea that Asian countries were doomed to subordinate status in the world order. But Japan’s own imperial ambitions, and its alliance with Vichy France, confirmed for many nationalists that the independence and anti-imperialist struggles were synonymous. France’s ill-advised and ultimately futile attempt to re-establish colonial control of Vietnam after the war and its replacement in the southern half of the country by the Americans during the 1960s reinforced this view.


But history has been unkind to Lenin’s theory of imperialism, not least in Asia. Political independence, it turns out, was not a facade behind which foreign powers maintained economic domination. The nation-state has proven to be an essential building block of economic development. As Liah Greenfeld eloquently shows in her book the Spirit of Capitalism, nationalism has been the origins, not the consequence, of economic development in the modern era.





Japan eventually did emerge as a regional leader, devising new ways to alloy the power of the state to market incentives as a means of accelerating industrialization and growth. Former Japanese colonies Taiwan and South Korea emulated the leader, along with the city-states of Singapore and Hong Kong. A ‘second tier’ of industrializing East Asian countries including Thailand and Malaysia followed in quick succession. China emerged from its Maoist misadventures in the 1980s to develop its own brand of rapid capitalist development under Deng Xiao Ping.


Although the development trajectories of these countries differ in important respects, all have relied heavily on export surpluses to finance investment. They found ways systematically to favor domestic firms to develop local capacity, and they compelled foreign investors to contribute to nationally determined goals such as export growth and technology transfer.


Since 1989, Vietnam's economy has grown faster than any other country in the world except for China and the African oil enclave of Equatorial Guinea. But the speed of globalization’s arrival to Vietnam has created problems as well as opportunities. For the first time in the history of independent Vietnam, severe poverty stands alongside pockets of phenomenal wealth.


Another challenge presented by the incredible speed of Vietnam's integration is the learning curve faced by the nation’s policymakers. Impressed by the huge benefits to be gained through expanded trade and investment ties, they are at times too anxious to make commitments before the long-term implications are well understood. The example of WTO-plus commitments on intellectual property rights that will hamper Vietnam's ability to provide affordable, lifesaving medication to people living with HIV/AIDS is a well-known example.


But the most imposing obstacles to continued success are home grown. In contrast to China, Vietnam's ruling Communist Party is still wary of the accumulation of economic power beyond the control of the state. The party’s new appetite for globalization has not yet brought about full acceptance of domestic capitalism.


Managers of state-owned find influential allies in the military and security apparatus, which see growing economic power in private hands as a threat to the authority of the Communist Party and hence political stability. The party’s preference for a ‘socialist-oriented market economy’ reflects an attempt to resolve the internal tension between the goals of political stability and economic growth.





Foreigners in Ha Noi are encouraged by the leadership’s repeated praise for the private sector’s contribution to the national economy. Some expect the party to embrace the private sector more formally at its next Party Congress in 2006. New business laws widen the de jure scope for private activity. But Prime Minister Phan Van Khai made clear in a recent speech that private business means small businesses. The commanding heights of the economy should remain firmly in the state sector.


Despite subsidies and other state favors, most public enterprises have performed poorly even under doi moi. Although state-owned enterprises are common in East Asia, governments have forced them to compete internationally and against technologically and commercially dynamic domestic conglomerates. It remains to be seen whether Vietnam can move up from raw materials and garments to more sophisticated exports without having home-grown equivalents of Mitsubishi, Samsung or Acer.


Foreign companies can help fill the gap left by the missing large domestic private firms. But one of the great lessons from East Asia, in contrast to Latin America, is that national ownership and capabilities do matter. If the party insists on capitalism without domestic capitalists, Vietnam could, ironically, suffer a dependence on foreign capitalists that so worried Ho Chi Minh.

Jordan Ryan (Yale 1974) is the United Nations Resident Coordinator and United Nations Development Programme Representative living in Hanoi, Vietnam. He served for the United Nations in Vietnam from 1993-96 and again from 2001 to date.
chocchoi
30-01-06, 08:57
Cu này sinh năm 74 mà được Vietnamnet dịch nguyên văn (nhưng kiểm duyệt đoạn chê bai màu đỏ)


Jordan Ryan (Yale 1974)


Chú quasa nhầm nhọt thế nào mà phán vui thế!
quasa
30-01-06, 10:05
Chắc em nhầm đoạn này thật, bác có thông tin về ông này không, sửa em với.
chocchoi
31-01-06, 06:20
Chú cứ gúc gồ là ra ấy mà!

http://www.un.org/News/Press/docs/2005/sga966.doc.htm
quasa
31-01-06, 10:41
hê, cái này em dốt, không bằng bác. Em copy lại nhé
SECRETARY-GENERAL APPOINTS JORDAN RYAN OF UNITED STATES


AS DEPUTY SPECIAL REPRESENTATIVE FOR LIBERIA




United Nations Secretary-General Kofi Annan has appointed Jordan Ryan of the United States as his Deputy Special Representative for Recovery and Good Governance for Liberia, effective 1 January 2006.



Mr. Ryan, who will also serve as the United Nations Resident Coordinator and Humanitarian Coordinator in Liberia, has had a long and distinguished career with the United Nations. He is currently the United Nations Resident Coordinator and United Nations Development Programme (UNDP) Resident Representative in Viet Nam. Prior to that appointment, Mr. Ryan served as the Director of the UNDP Office of the Administrator in New York from 1997 to 2001.



Earlier in his career, Mr. Ryan held the positions of UNDP Deputy Resident Representative and Senior Assistant Resident Representative in Viet Nam. He was also the UNDP Assistant Resident Representative in China. Before joining the United Nations, Mr. Ryan worked as a consultant and as an attorney in New York and California.



Born on 29 August 1950, Mr. Ryan holds a master’s degree in international and public affairs from Columbia University. He is married and has one daughter.