Bài phỏng vấn NBChâu trên SGGP

ultraportable
16-12-05, 12:32
Từ tháng 11, nhưng hình như mất hút trong các bài
bình loạn xung quanh "hiện tượng" NBC và việc phong GS.

http://www.sggp.org.vn/phongsudieutra/nam2005/thang11/78035/#

SGGP>Phóng sự - Điều tra
Trò chuyện cùng GS Ngô Bảo Châu
21:13', 25/11/ 2005 (GMT+7)

Paris năm nay chuyển lạnh sớm, chỉ mới 20-11, trời đã xuống dưới 0oC. Ngoài kia, người ta vẫn đi lại náo nhiệt. Và chúng tôi đến với GS Ngô Bảo Châu để chia sẻ với anh niềm vui vừa trở thành GS trẻ nhất Việt Nam cùng những băn khoăn về nền giáo dục nước nhà.

- PV: Những ngày này, sự kiện anh vừa được Nhà nước đặc cách phong GS đang trở thành “hiện tượng Ngô Bảo Châu” trên các mặt báo. Có phải bên cạnh việc thừa nhận thành quả lao động khoa học của anh, xã hội còn muốn bày tỏ sự vui mừng trước sự đột phá ra khỏi khuôn phép? Chúng tôi hỏi.

GS Ngô Bảo Châu

- GS Ngô Bảo Châu: Việc phong GS ở Việt Nam khác rất nhiều với các nước phương Tây. GS ở Việt Nam là một chức danh, ở phương Tây là một chức vụ. Tôi thấy cách phong GS Việt Nam hơi giống với cách phong viện sĩ ở Pháp ở tính chất danh dự và ở mục đích chính là công nhận thành quả công việc của cả một sự nghiệp khoa học.

Tôi cảm thấy rất vui và tự hào được hội đồng chức danh nhà nước đề nghị đặc cách phong GS. Tôi thú thật là không cảm thấy thoải mái lắm với những từ như “hiện tượng”. Nhưng nghĩ cho cùng thì đây không phải chuyện quan trọng lắm nên không cần bàn nhiều.

- Pháp và các nước phương Tây nói chung không có Hội đồng chức danh GS cấp nhà nước như Việt Nam mình; mà tất cả giao lại cho đại học (ĐH) quyết định. Một câu hỏi tế nhị: theo anh, mô hình nào tốt?

- Các trường ĐH ở phương Tây rất độc lập trong việc phong GS của mình. Tuy không là một hội đồng nhà nước, nhưng việc chọn GS thường diễn ra một cách rất gắt gao, vì trong một khoa số lượng GS không nhiều. Tương lai của khoa, của trường phụ thuộc vào trình độ khoa học của đội ngũ GS. Mặt khác, các trường ĐH ở phương Tây hoạt động tốt hơn các trường ĐH ở nước ta, vì vậy có nhiều khả năng là họ có các nguyên tắc hoạt động tốt hơn của chúng ta.

*

Cần nâng cao tính không khoan nhượng về chất lượng khoa học

Câu chuyện của chúng tôi đã rẽ bước sang vấn đề đào tạo ĐH tại nước nhà. Chúng tôi loay hoay mãi với câu hỏi: Tại sao giáo dục ĐH ở VN chưa phát triển? Có phải do chúng ta thiếu tiền?

GS Châu: Ta cần tập trung đầu tư hơn vào những mục cải thiện điều kiện giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong các trường ĐH. Các trường “đẳng cấp quốc tế” cần có một thư viện tương đối đầy đủ sách vở. Các tài liệu tải từ trên mạng tự do, có cái hay, có cái dở, thiếu tính chuẩn mực để làm chỗ dựa cho việc học tập. Cần có chỗ làm việc cho GS, phòng họp seminar đàng hoàng. Một GS Pháp kể chuyện với tôi, ông thuyết trình ở ĐH Huế trên một nửa cái bảng kích thước một mét vuông, nửa còn lại hình như có ghi trực nhật.

Chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với GS Châu chuyện này. Lớp cũ chúng tôi theo học ở TPHCM được trang bị máy tính chính hãng đời mới nhất, trong khi Trường ĐH Lyon 1 cùng thời điểm chỉ sử dụng máy tính lắp ráp của Trung Quốc. Bù lại, họ có thư viện sách vở, giáo trình đầy đủ mở rộng cửa cho tất cả mọi người. Và đúng như GS Châu nói, Google chưa thể thay thế được sách vở.

Và anh nói tiếp:

- Một điều kiện sống còn nữa là trong hoạt động khoa học, ta cần nâng cao tính không khoan nhượng về chất lượng khoa học. Nhiều khi, bây giờ những cái gì thuộc về thể lệ hành chính thì ta đòi hỏi gắt gao, còn cái gì thuộc về chất lượng thực chất của công trình khoa học thì ta lại ậm ừ cho qua. Ngay trong việc công nhận chức danh GS, tôi nghe một số ý kiến cho là: nên tính điểm những bài báo khoa học đăng trong nước, không nhất thiết phải là tạp chí nước ngoài, không nhất thiết phải được phản biện. Giáo trình thì là giáo trình tự do, khoa mình in cũng đủ. Với những ý kiến như vậy, tôi không rõ là ngành ĐH Việt Nam sẽ đi về đâu?

- Anh từng nói không nên đặt ra vấn đề nghiên cứu khoa học sinh viên trong hoàn cảnh nước ta hiện nay. Tại sao vậy? Đơn cử trường hợp thạc sĩ toán Trần Ngọc Nam được GS Lê Tuấn Hoa, Viện phó Viện toán học và GS. Frédéric Phạm, Giám đốc chương trình Formath biết tới cũng là nhờ đề tài nghiên cứu của anh khi còn là sinh viên năm thứ ba.

- Anh Nam là một trường hợp đặc biệt, là một ví dụ cho những gì tôi nói. Khi còn là sinh viên năm thứ ba, anh được GS Nguyễn Hữu Việt Hưng hướng dẫn và giải quyết được một bài toán khó, công trình được đăng ở một tạp chí quốc tế, có phản biện. Nếu tất cả các đề tài nghiên cứu sinh viên đều như vậy thì tôi không phản đối.

Đáng tiếc là có nhiều đề tài mà ngay cả sinh viên và thầy giáo đều công nhận trong thâm tâm là nó không có ý nghĩa khoa học gì nhiều. Làm như vậy có cái hại nhất là dạy cho sinh viên tính nhượng bộ trong chất lượng nghiên cứu khoa học. Cái hại thứ hai là lãng phí kinh phí nhà nước. Ở Pháp, trong ngành toán, cho đến mức thạc sĩ, người ta thường chỉ đòi hỏi sinh viên đọc, hiểu và trình bày lại một công trình đã được xuất bản.

*

Khoảng cách chạy đuổi không xa lắm, nếu...

Cách đây hai ba năm, GS Châu có về nước tham gia giảng dạy một nhóm sinh viên Trường Sư phạm Hà Nội. Anh tâm sự: “Điều khuyến khích tôi rất nhiều là các em rất ham học, bất chấp mọi điều kiện vật chất không dễ dàng lắm! Theo chủ quan của tôi, SV Việt Nam không được trang bị đầy đủ kiến thức như SV các trường lớn ở Pháp hay Mỹ.

Một giờ học môn Kinh tế tại ĐH Lyon 1 ở Pháp.

Tuy vậy, khoảng cách phải chạy đuổi không xa lắm và nếu có điều kiện đi học tiếp ở nước ngoài, với sự say mê học tập nghiên cứu, với sự chịu thương chịu khó của người mình, SV của ta có thể hoàn thành tốt luận án tiến sĩ và rồi trở thành những nhà khoa học chân chính”.

Vâng, chúng tôi biết hai sinh viên trong nhóm này hiện đang tiếp tục làm luận án tiến sĩ ở ĐH Paris 11 do anh hướng dẫn. “Làm được việc gì cho quê nhà, mình sẵn sàng!”, với suy nghĩ ấy, anh đã tích cực tham gia vào chương trình Formath. Anh kể :

- Chương trình Formath được sáng lập cách đây 10 năm bởi các GS Frédéric Phạm, Nguyễn Thanh Vân, Hà Huy Khoái và một số người khác. Chương trình có mục đích là hỗ trợ việc đào tạo các nhà toán học trẻ của Việt Nam và tăng cường việc hợp tác nghiên cứu toán giữa hai nước. Chúng tôi nhận được sự hỗ trợ của Viện Khoa học quốc gia Pháp, Bộ Ngoại giao Pháp và một số trường ĐH Pháp. Formath được thành lập trong bối cảnh ngành toán học Việt Nam đang nằm trong hoàn cảnh báo động vì không có lớp người thay thế.

Từ 10 năm nay, tình hình có thay đổi nhiều theo chiều hướng tốt. Có nhiều luận án tiến sĩ toán của sinh viên Việt Nam được bảo vệ ở Mỹ, ở Pháp và ở Việt Nam. Khi tôi xem danh sách những người đã bảo vệ luận án ở Pháp, thực tập trước hoặc sau luận án với sự hỗ trợ ít nhiều của Formath, tôi nghĩ Formath đã có đóng góp không nhỏ cho sự hồi sức của toán học Việt Nam.

Từ năm 2003, GS Nguyễn Thanh Vân (Toulouse) có đề nghị GS Lionel Schwartz (Paris 13) và tôi thay thế ông phụ trách mạng lưới Formath về phía Pháp. Phía Việt Nam, những người phụ trách là GS Hà Huy Khoái (Viện Toán học) và GS Đinh Dũng (Viện Công nghệ thông tin, thuộc ĐH Quốc gia). Mạng lưới Formath có sự tham gia của nhiều nhà toán học Pháp có uy tín.

Cuối buổi trò chuyện, GS Ngô Bảo Châu đã nói với tôi rằng, anh có một mong muốn lớn là xây dựng được một cơ sở đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ trong ngành toán lý thuyết và ứng dụng ở Hà Nội. Cơ sở này tổ chức theo hình thức các graduate school trong các trường ĐH lớn phương Tây, sinh viên có thể được trang bị các kiến thức từ cơ bản đến chuyên sâu và có thể theo học các bài giảng của các nhà toán học có uy tín. Nhiều nhà toán học Mỹ, Pháp sẽ sẵn sàng tham gia giảng dạy trong một cơ sở như vậy.

Vâng, tôi cũng chúc cho mơ ước của anh sẽ sớm biến thành hiện thực!

NGUYỄN TRƯỜNG HOAN