Thổ Phỉ

Phương Thảo
15-12-05, 12:39
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐANG Ở ĐÂU?

Nguyễn Thanh Sơn


“…Kinh nghiệm của tôi là con người không học được gì từ kinh nghiệm cả”


Để mở đầu cho bài giảng “Thế nào là Cổ điển” của mình, nhà văn *.M Coetzee nhắc đến một bài giảng cùng tên khác của T.S Eliot tại Hội Virgil ở London vào tháng 10 năm 1944, khi quân đội đồng minh đang chiến đấu ở châu Aâu và bom W2 của quân đội quốc xã vẫn còn dội xuống London. Chỉ nhắc tới chiến tranh như “ tai nạn của thời hiện tại” khiến ông khó tiếp cận những cuốn sách ông muốn tìm, T.S Eliot tập trung vào đề tài ông đã, đang và sẽ còn trở đi trở lại, rằng châu Aâu là nền văn minh duy nhất, khởi nguồn từ Rome và đế chế La Mã, cho nên, khởi thuỷ của văn chương cổ điển phải được coi bắt đầu từ trường ca về Rome, Aeneid của Virgil. Thái độ của ông đối với chiến tranh, như *.M Coetzee sau này đã chỉ ra trong bài giảng của mình, là cái cách ông nhắc cử toạ, cuộc đại chiến này, cho dù nó khủng khiếp đến đâu, cũng chỉ là một tai nạn nhất thời trong cuộc sống của châu Aâu. Và nền văn minh châu Aâu sẽ không vì nó mà bị huỷ diệt. Tất nhiên, sau thế chiến II, văn chương sẽ có những tiếng nói khác về “tai nạn nhất thời” lớn nhất của con người trong thế kỷ XX, và thái độ của T.S Eliot có thể bị những nhà văn như Theodor Adonor chê trách: làm sao con người còn có thể viết được, làm sao châu Aâu còn có thể tự hào là văn minh khi có Lò Thiêu? Nhưng đó lại là một câu chuyện khác! Thời điểm và cách đặt vấn đề của T.S Eliot cho ta thấy, không bao giờ có thể đặt ra những câu hỏi “ta là ai”, “ta đang ở đâu”, “ta sẽ đi về đâu” một cách cẩu thả.

Bởi vì, chúng ta không thể trả lời câu hỏi “tiểu thuyết Việt nam đang ở đâu?”, nếu không trả lời được câu hỏi “tiểu thuyết Việt nam đã ở đâu?”. Với khoảng một trăm năm văn học quốc ngữ, tiểu thuyết Việt nam đã đi được bao xa trên đoạn đường mà tiểu thuyết châu Aâu đã đi hơn 400 năm? Phải chăng chúng ta đã đốt cháy được thời gian, đi được một chặng đường dài trong giai đoạn đầu, còn sau này, ngủ quên dưới chiếc bóng của chủ nghĩa hiện thực phê phán và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, tạo ra hằng hà sa số những cuốn tiểu thuyết mà Kundera gọi là “tiểu thuyết sau lịch sử của tiểu thuyết”:”không khám phá được gì cả, không tham gia vào quá trình thừa kế những khám phá của lịch sử tiểu thuyết” ?
Nhưng câu hỏi đó lại dẫn đến một câu hỏi khác, vậy thì có cái gọi là “sự tiến hoᔠtrong lịch sử của tiểu thuyết châu Âu hay không? Về mặt văn chương, tiểu thuyết hiện đại, và nay là hậu hiện đại, đã tiến hoá ra sao so với tiểu thuyết tạm gọi là cổ điển? Salman Rushdie hiển nhiên là một trong những nhà tiểu thuyết vĩ đại nhất của thời đại chúng ta, nhưng tác phẩm lớn nhất của ông Những vần thơ Quỉ liệu đã vượt xa bao nhiêu so với Nghệ nhân và Margarita của Bulgacov ba phần tư thế kỷ trước? Và nếu cứ kéo ngược thời gian, thì hai tác phẩm đó, về nghệ thuật tiểu thuyết, đã tiến hơn Gullliver du ký của Jonathan Swift từ thế kỷ XVIII hay Pantagruel và Gargantua của Rabelais được viết từ thế kỷ XVI ở chỗ nào? Đã có nhà văn nào của thời hiện đại và hậu hiện đại tự tin tác phẩm của mình “tiến hoá”ù hơn Don Quixote của Miguel De Cervantes-được viết từ bốn thế kỷ trước? Marcel Proust và Borges liệu đã khác bao nhiêu so với Franz Kafka? 1984 của George Orwell, Một thế giới mới dũng cảm của Aldus Huxley chịu bao nhiêu ảnh hưởng của Chúng ta được Yvgenhi Zamyatin viết từ những năm 1920. Milan Kundera cũng thừa nhận, khi ông “thử quay lại để bao quát (con đường của tiểu thuyết) trong một cái nhìn, tôi thấy nó ngắn ngủi và bế tắc một cách kỳ lạ”.

Theo tôi, khi nhìn nhận “sự phát triển” của tiểu thuyết như một con đường tuyến tính chạy dọc theo thời hiện đại, với những cột mốc cố định, chắc chắn chúng ta sẽ thấy nó thật “ngắn ngủi và bế tắc”. Sự phát triển của lịch sử tiểu thuyết có lẽ nên được nhìn nhận giống như cách con người đã khám phá ra các châu lục: đầu tiên những nhà hàng hải tiên phong lên đường đi tìm ra những châu lục mới (mà đôi khi chính họ cũng không biết đó là những châu lục mới), tiếp đó là quá trình con người tiếp tục khám phá, khai thác những mảnh đất đó. Và người ta luôn luôn khao khát còn những vùng đất chưa được khám phá, những “lục địa Sanhicov” chưa biết đến dấu chân con người hiện đại, nên người ta sẽ vẫn còn đi tìm, một cuộc kiếm tìm càng ngày càng tuyệt vọng trong thời hiện đại. Lịch sử của tiểu thuyết là lịch sử các cuộc thám hiểm vĩ đại của Rabelais, Flaubert, Cervantes, Dostoyevsky, Kafka, James Joyce…những cuộc thám hiểm đã khám phá ra thế giới hôm nay của nghệ thuật tiểu thuyết.

Cho nên, trông chờ khả năng “đi tắt đón đầu” những “phát triển” của nghệ thuật tiểu thuyết để tạo ra những bước đột phá cho sự trì trệ của tiểu thuyết hiện đại Việt nam là điều không tưởng. Bởi vì, các tiểu thuyết gia Việt nam còn hầu như chưa khai thác được tý nào trên mảnh đất mà những bậc tiền bối đã khám phá từ mấy trăm năm nay.

Một ví dụ, trước các nhà lập thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại cả bốn thế kỷ, Rabelais đã khám phá ra sức mạnh của cái hài hước, cái thô kệch (grotesque) và cái diễu nhại (parody) trong nghệ thuật tiểu thuyết. Pantagruel và Gargantua đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hầu hết các nhà tiểu thuyết cổ điển, hiện đại hay hậu hiện đại (dù là Cái trống thiếc của Gunter Grass hay Những vần thơ Quỉ của Salman Rushdie)-nhưng lại có quá ít ảnh hưởng tới tiểu thuyết Việt nam. Trong tiểu thuyết Việt nam hiện đại, hoàn toàn thiếu bóng cái cười, cái diễu nhại. Và trên hướng đi này, cho đến nay, Vũ Trọng Phụng với Số đỏ vẫn là một đỉnh cao sừng sững. Xuân tóc đỏ, dù không có cái tầm vóc của Oskar Matzerath hay Saladin Chamcha, vẫn là nhân vật duy nhất của tiểu thuyết Việt nam hiện đại dám cười nhạo, diễu nhại cả hệ thống các tín điều tôn giáo, đạo đức, xã hội. Hãy thử so sánh nó với Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, một nhà văn đương đại, ta sẽ thấy rõ một khoảng cách, hay chính xác hơn, một bước thụt lùi: chất hài hước của Cơ hội của Chúa mới chỉ dừng lại ở câu chữ, lời thoại, chứ về căn bản, nhân vật trong Cơ hội của Chúa vẫn là nhân vật bị đè bẹp bới cuộc đời. Trong khi đó, bản thân sự tồn tại của Xuân tóc đỏ trong Số đỏ đã là một sự diễu nhại, một sự hài hước, một thách thức với xã hội. Vậy là sau bẩy mươi năm, chúng ta còn chưa đi quá được vị trí ban đầu, nếu không nói là lùi lại.

Hoặc, chúng ta nói đến tính dự báo của tiểu thuyết. Ngay từ năm 1920, trong tiểu thuyết Chúng tôi, Zamyatin đã mô tả cặn kẽ những định chế của một xã hội toàn trị, máy móc, dựng lên những nét vẽ mà 10-15 năm sau trở thành hình ảnh thực của nước Nga thời Stalin. A Brave New World của Aldous Huxley được viết từ năm 1931, mô tả một xã hội bị máy móc hoá và dựa trên cái mà giờ đây chúng ta gọi là “sinh sản vô tính”. 1984 đã được Orwell viết năm 1946. Từ năm 1951, Ray Bradbury trong Fahrenheit 451 đã vẽ nên một xã hội mà thế giới văn hoá của con người lệ thuộc hoàn toàn vào TV…danh sách này còn có thể kéo dài hơn nữa. Chưa có tiểu thuyết gia hiện đại nào của Việt nam dám phóng cái nhìn của mình, dù là lạc quan hay u ám, vào tương lai, suy tư , phỏng đoán về tương lai của xã hội và con người chúng ta ngày nay.

Cũng rất hiếm, hoặc gần như không có, những tác giả hư cấu được một không-thời gian đặc biệt cho tác phẩm của mình. Nguyễn Bình Phương đã tạo ra nét riêng cho tiểu thuyết của mình với những vùng không gian và thời gian đồng hiện, nhưng ngoài anh ra, liệu còn có tác giả nào dám đoạn tuyệt với hiện thực xung quanh, thả cho trí tưởng tượng của mình bay bổng để tạo ra những vùng không-thời gian của tiểu thuyết chỉ tuân theo logic nội tại của nó, khi người đọc gạt ra khỏi đầu óc mình tư duy “có thực hay không có thực?”.

Kundera nói đến tính hoài nghi và đa âm của tiểu thuyết, trong khi phần lớn tiểu thuyết gia Việt nam viết là để khẳng định: khẳng định một thực tại, một lịch sử, một ý thức. Viết để khẳng định, nên tất nhiên không có chỗ cho hoài nghi, và tình trạng đơn âm của tác phẩm là điều thường xuyên xảy ra. Gunter Grass nói đến chỗ đứng của người viết tiểu thuyết: đứng về phía những người thất bại, và vì lịch sử được những người chiến thắng viết ra, người viết tiểu thuyết phải dựng lại một “lịch sử khác” của những người thua cuộc. Liệu các nhà tiểu thuyết Việt nam có dám “đứng về phe nước mắt” như vậy hay không?

Còn có thể kể tên hàng loạt các thành tựu khác của lịch sử tiểu thuyết mà Việt nam còn chưa đi được những bước đầu tiên. Tiểu thuyết tâm lý đã bắt đầu từ Flaubert, những suy tư triết học không phải chờ đến Dostoyevsky mà đã có từ thời * * Ruseau, “văn học “dòng ý thức” đã được James Joyce khai thác triệt để từ thế kỷ trước…nhưng đó vẫn là địa hạt mà hiếm có nhà văn Việt nam đủ dũng cảm thử sức.

Vậy tiểu thuyết Việt nam đang ở đâu? Trên mảnh đất của tiểu thuyết hiện thực, chúng ta đã cày xới gần một trăm năm, và không thể nói những Bỉ Vỏ, Sống Mòn, Sống mãi với Thủ đô, Vỡ bờ và sau này Mùa lá rụng trong vườn, Nỗi buồn chiến tranh, Lạc rừng, Những mảnh đời đen trắng, Cơ hội của Chúa là không có giá trị. Tiểu thuyết hiện đại không hề loại trừ tiểu thuyết hiện thực, nhưng tiểu thuyết hiện thực chỉ là một mảnh đất nhỏ. Ngoài kia, vẫn còn những chân trời đã được khám phá rộng lớn hơn rất nhiều, mà các tiểu thuyết gia Việt nam còn chưa cất những bước đầu tiên…
Phương Thảo
15-12-05, 13:31
THỔ PHỈ ĐANG Ở ĐÂU?

Bài viết của anh, như thường lệ, gồm có những ưu điểm sau:

(i) Đúng chính tả, đúng ngữ pháp, có mở bài, thân bài, kết luận (điều này quả là đáng khích lệ nếu như chúng ta biết rằng theo một điều tra mới nhất của Hội Nhà văn Việt Nam thì có khoảng 80% nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình Việt Nam không có khả năng viết một cái gì quá 2000 từ đúng chính tả, đúng ngữ pháp, có nội dung)

(ii) Kể được một số tên các ông Tây rậm râu và hói trán (điều này cũng rất đáng biểu dương nếu chúng ta biết rằng ở quê hương anh người ta có thể nghĩ Kafka là phần mềm download phim miễn phí, Joyce là tên của một thương hiệu nước hoa, Satre là tên một loại dịch bệnh... Công lao của anh có thể nói là vô cùng lớn khi anh đã cố gắng đưa tên những ông Tây đến với bà con gốc gác cần lao.)

Và đương nhiên, bài viết của anh, như thường lệ, không có gì mới. Anh nói toàn những điều mà thiên hạ biết rõ mười mươi, rõ đến mức người ta chả buồn nói. Tất nhiên, chúng ta cũng phải thông cảm cho nỗi khổ của anh bởi lẽ những câu hỏi kiểu như "Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu" cũng ngây ngô, ngớ ngẩn không kém gì những câu "Bóng đá Việt Nam đang ở đâu?", "Bao giờ kinh tế Việt Nam bằng Singapore?", "Liệu chúng ta đã có công nghiệp phần mềm chưa?".... Nếu bạn đặt một câu hỏi như vậy đối với một người bình thường, người ta sẽ ngoảnh mặt cười thầm và tự nhủ "Hỏi gì mà ngu thế!"

Nhưng Thổ Phỉ không thế. Bởi anh là nhà phê bình văn học. Giống như nhà kinh tế đáng kính Salut ở Thăng Long, Thổ Phỉ quyết định ươm cau vua cho nền văn học Việt Nam. Anh xây xa lộ Kafka tám làn đường, vỉa hè anh dùng gạch thương hiệu Coetzee, loại cau vua anh nhập từ Ái Nhĩ Lan có tên khoa học là James Joyce, đèn tín hiệu anh dùng thương hiệu Kundera của Tiệp Khắc, chỉ giới quy hoạch anh dùng của Salman Rushdie, bùng binh Tây Ban Nha anh xài Miguel De Cervantes... Để cho thu hút các tài năng văn học trẻ Việt Nam, trên xa lộ Kafka tám làn đường, anh cho trưng một loạt băng rôn "Nhiệt liệt chào mừng chủ nghĩa hiện thực huyền ảo", "Tinh thần đồng hiện muôn năm", "Kỹ thuật dòng ý thức muôn năm", "grotesque, parody hay là chết?" ... Anh tin rằng với mức đầu tư cơ sở hạ tầng tốt như vậy, văn học Việt Nam chẳng mấy chốc mà hóa rồng.

Thế vẫn chưa đủ. Nếu chỉ viết thế làm sao người ta biết được anh là một người đọc nhiều hiểu rộng, thuộc nhiều tên ông Tây rậm râu? Và thế là để cho phong phú thêm cho bài viết, anh kể chuyện Nghệ nhân và Margarita, chuyện Những vần thơ của quỷ Satan, chuyện Cái trống thiếc, chuyện Oskar Matzerath, chuyện Saladin Chamcha... Anh hỏi tại sao người ta không hiện thực huyền ảo, không hiện sinh, không hậu hiện đại, không đa thanh, không nhiều bè, không đứng về phe nước mắt... Ôi! Thổ Phỉ thân mến của tôi! Tôi biết, xưa nay anh vẫn thế. Anh vẫn luôn đứng về phe nước mắt. Những tản văn hồng hồng tim tím, xanh cỏ đỏ râu của anh đã lấy đi không biết bao nước mắt của các thiếu nữ dậy thì, anh không nhớ sao?

Ôi! Thổ Phỉ của tôi! Tuyết hồng của tôi! Tinh bò của tôi! Giá như anh đừng cố gắng đi trả lời những câu hỏi kiểu như "Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu?" mà tự đặt câu hỏi "Trình độ phê bình văn học của Thổ Phỉ đang ở đâu?" thì có phải tốt biết bao nhiêu cho độc giả.

Ôi! Thổ Phỉ của tôi! Phê bình văn học của tôi! Đến chết mất thôi! Ôi... ôi...ôi...
lão ma
15-12-05, 14:13
Ôi, tìm đâu ra được một Vũ Trọng Phụng thứ hai của Việt nam nữa nhỉ? Phải chăng Thăng Long và tháng Gióng vẫn còn đang trong cơn mê muội của buổi giao thời?
Văn Quyến
15-12-05, 14:50
Thổ Phỉ từ ngày mò sang đây bị hiếp dâm tới giờ trong lòng vẫn kinh sợ, đố bảo dám mò sang đây mà tiếp chiêu với gái Phương Thảo nhà mình nữa đấy.

Nếu còn hỏi bao giờ mới có VTP thứ hai, thì sẽ chẳng bao giờ có gì biến chuyển cả. Các nước Á Châu hay mắc cái chứng bệnh thờ xác chết, tôn sùng thái quá cá nhân, nên suốt đời cứ đi giật lùi như tôm vậy.
IronWill
15-12-05, 19:23
Nguyễn Thanh Sơn


“…Kinh nghiệm của tôi là con người không học được gì từ kinh nghiệm cả”

...............


Bản thân câu này đã tự phủ nhận chính nó. Đề tựa bằng một câu như vậy, nên có khi đọc kỹ lại đoạn dưới hơn, nhỉ
ADSL
15-12-05, 19:31
Ai am hiểu về thân thế và sự nghiệp của bác Phỉ cho hỏi, bắt đầu từ bài phê bình nào mà bác Thổ Phỉ được gọi là phê bình văn học gia?
Gaup
15-12-05, 21:20
Ai am hiểu về thân thế và sự nghiệp của bác Phỉ cho hỏi, bắt đầu từ bài phê bình nào mà bác Thổ Phỉ được gọi là phê bình văn học gia?

À, bắt đầu từ mấy bài phê bình thơ chị Vìu trên netnam thời 1996-1997.
coithienthai
15-12-05, 21:34
Em các bác lại nghe nói là bị chuyển sang học chuyên Văn Chu Văn An. Sau hình như viết tản văn không được thành công lắm, rồi buôn bán lờ lãi cũng chả được nhiêu nên chuyển sang đi phê bình...
Elgnoy
17-12-05, 04:35
Câu đề tựa “…Kinh nghiệm của tôi là con người không học được gì từ kinh nghiệm cả” hay và rất hợp về cả nội dung lẫn phong cách với cả bài. Không có cái gì "tự phủ nhận chính nó", chỉ có "tự mâu thuẫn", và đấy cũng là một khái niệm được bác Phỉ tự mổ xẻ.

Em x biết đọc tiểu thuyết, cũng x biết đọc phê bình văn học. Đọc bài bác Phỉ, bèn thấy hay. Đọc bài bác Phương Thảo, thấy như ấy.
Chaien
17-12-05, 05:58
Ôi! Thổ Phỉ thân mến của tôi! Tôi biết, xưa nay anh vẫn thế. Anh vẫn luôn đứng về phe nước mắt. Những tản văn hồng hồng tim tím, xanh cỏ đỏ râu của anh đã lấy đi không biết bao nước mắt của các thiếu nữ dậy thì, anh không nhớ sao?

Ôi! Thổ Phỉ của tôi! Tuyết hồng của tôi! Tinh bò của tôi! ... Ôi... ôi...ôi...

Chị Thảo đang hiện thực hóa bài viết qua tư liệu bản thân cuộc sống ????
Chứng minh tư liệu phải cụ thể hóa thời gian, ở đâu, thế nào, ra sao, bao nhiêu phút....
Theo tôi hiện thực hóa tư liệu cuộc sống là sự dũng cảm của người viết.
Đáng trân trọng những nữ gia phê bình hiện thực như chị.

Chúng ta tiếp tục ném đá Thổ Phỉ.
Hồng Hà
17-12-05, 06:40
Nguyên văn bởi Elgnoy
Em x biết đọc tiểu thuyết, cũng x biết đọc phê bình văn học. Đọc bài bác Phỉ, bèn thấy hay. Đọc bài bác Phương Thảo, thấy như ấy.
Bác Elgnoy đọc bài bác phỉ x kỹ hoặc đọc mà x hiểu. Bài bác Phương Thảo viết dựa trên bài viết của bác Phỉ: Hài hước và diễu nhại.

Nguyên văn bởi Nguyễn Thanh Sơn
các nhà lập thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại cả bốn thế kỷ, Rabelais đã khám phá ra sức mạnh của cái hài hước, cái thô kệch (grotesque) và cái diễu nhại (parody) trong nghệ thuật tiểu thuyết.
Bắc Thần
17-12-05, 07:02
Anh thích đọc bài của PT hơn vì nó dễ hiểu, gây hưng phấn, và làm nhẹ đầu óc vốn đã căng thẳng của anh. Bài của TP, ngược lại, đối với anh là một bài toán không có nghiệm số chính đáng, một tâche de lecture mơ hồ, và là một lời thách đố khiếm nhã đến sự hiểu biết của anh.

Thế.
Tràng Thi
17-12-05, 12:18
Phải nói Nguyễn thanh Sơn là người đáng đọc. Dẫu phê phán anh này nọ (Topic này) nhưng người đọc như mỗ nhận ra rằng: anh, cây viết từ khi xuất hiện có một giọng riêng. Đặc biệt đáng quý là anh không theo bè phái "dàn đồng ca" nào (chữ - Thuận). Trong nhiều cuộc chơi, dầu có khi khen, phê ai, Sơn thường theo văn bản mà nã chứ không a dua, hay đứng về một nhóm băng nào. Đấy là thái độ được nhất, đáng trọng của một nhà phê bình có nhân cách. Dẫu là có khi anh bị "chọi", nhưng là chọi nhau về học thuật (đã biết ai đúng sai). Quá trình viết về các nhà văn nữ trẻ, Sơn chỉ ra rất đúng chỗ yếu của họ và có thể, nó ít ra là với cú hích cho các cô gái "đồng trinh" ham hố văn chương, muốn đi theo các đàn chị, lập thân ở con đường tử nghiệp này.

Nói về giọng. Văn phê bình thường không phải là thứ giải trí, dễ bị khô cứng kém hấp dẫn. Thanh Sơn không phải dạng viết ấy, đọc anh, thấy sảng khoái và lí thú...dẫu đôi khi, sự sang trọng có được oít nhiều, nếu không cố công rèn luyện, lao động tự đổi mới, anh không thoát ra được sự lẻng sẻng của thứ văn kêu leng keng như chuông mà ta bất chợt bắt gặp ở một hẻo đường phát ra từ tay bán kẹo dạo...

Bản thân các văn bản của Thanh Sơn là sự kết hợp giữa lối viết phê kinh viện và cảm tính. Cách kết cấu này làm hưng phấn cho người đọc mà vẫn lập được lí khi nhìn vào các hiện tượng văn chương.

Theo đọc Sơn hơn mười năm nay, anh bẵng tiếng khá lâu, nay lại thấy xuất hiện trở lại (mà tôi đọc hai bài, 1 về Diệu và bài này ) thấy Sơn chưa thay đổi mấy sau giai đoạn ngưng nghỉ tích lũy.

Văn bản bàn về tiểu thuyết trên có vài ý được, nhưng cũng bộc lộ vài quan niệm không mới về tiểu thuyết. Hoặc nói ra là mắc bệnh bò nhai lại.

Sơn khen Bỉ Vỏ ở sự riễu nhại...Bỉ Vỏ là tác phẩm thành công ở giai đoạn xưa và là tác phẩm xuất sắc của VN ở nhưng gia đoạn trứơc 45, nhưng tuyệt nhiên không phải đầy đặn đa tuyến đa âm. Nó vẫn tuần tự như tiến trong cấu trúc tuyến nhân vật, cả thời gian và sự chuyện. Văn chương Bỉ Vỏ nói riêng và văn Thời Bỉ Vỏ nói chung chậm trãi, không thích hợp với đời sống hiện tại mà người đọc đòi hỏi ở tốc độ chuyện...Sự khen ngợi đó lại đặt cạnh bên các tác giả lớn thế giới, mà các bậc thầy ấy vẫn không lạc hậu với nhịp sống trong việc xây dựng không khí truyện, là sự rất khập khiễng.

Sơn so sánh sự riễu nhại trong Xuân tóc đỏ với cơ hội của chúa có ý hay, nhưng lại kết luận Vn ta thụt lùi bẩy mươi năm là thiếu chính xác, phải nói rằng so với Vũ Trọng Phụng, Việt Hà bằng tác phẩm của anh thụt lùi 70 năm về khả năng riễu nhại, thì đúng hơn.

Một vài tác giả như NB Phương, N V Hà là các tác giả thực sự có cố gắng trong việc thay mới về hình thức viết, nhưng về giá trị nội dung cũng không vượt qua "Hiện thực và ý thức xã hội" mà tác giả Sơn muốn nói. Nên phân biệt, nói ngược lại điều hôm qua hay phủ định quá khứ, sự thay vì Đèm đẹp bằng dữ dằn, bóng gió bằng trần trụi cũng chỉ là thay cái áo khoác mà thôi chứ không phải là một cuộc thay da đổi thịt của toàn bộ nội hàm văn chương.

"Đoạn tuyệt với hiện thực xung quanh" là con đường đòi hỏi thiên tài và không nhất thiết con đường tiểu thuyết nói riêng, văn học nói chung phải như vậy. Các tác giả Sơn dẫn trên thế giới đều vì đại và đáng khâm phục, nhưng tuyệt nhiên ko nên lấy họ làm cái đích của sự vận động. Trở thành cái đuôi của ai cũng là điều sỉ nhục cho người đọc!

Những ông tây mà Sơn hay viện dẫn và nhắc tới, một là họ đã thiên cổ từ lâu rồi, họ không phải là con đường duy nhất của văn học và không phải "đức chúa" của văn chương. Mỗi dân tộc phải tự tìm ra con đường tiếng nói của riêng mình (ko phải theo thằng đ... nào cả) Châu Mỹ Latin ( với Mắc Két) và Trung Hoa (với Giả Bình Ao, Mặc Ngôn v.v...) nó theo đuôi tác giả nào đâu và chính điều ấy không thể trộn họ, những tác phẩm của họ lẫn trong dòng chảy văn học thế giới.

Sự trích dẫn ông này ông nọ, nếu không làm mới hơn thông tin và làm sáng tỏ hơn điều mình phát hiện thì chả cần thiết và sẽ trở thành lố bịch bởi chính điều ấy là con dao hai lưỡi; biết dùng thì hay, dùng vụng (và lặp lại nhiều lần) thì lại sa vào lối tầm chương trích cú đã cũ mòn đầy dãy trong lối ông đồ mà Sơn từng lên án.

Câu hỏi Tiêu thuyết VN đang ở đâu do VNN khởi xướng làm tôi nghĩ tới những con bò. Đồng nào cỏ ấy và Bò ai đồng ấy hà cớ gì hỏi cái câu mà mới nửa nagy làm gì đã tối mà lo lùa bò?
Sất
23-12-05, 20:54
Việt nam nét, đồng chí bạn tên Cao Đăng khởi xướng cái tít nghe nổ và oách y như mở bài của bạn Phỉ. Vì mình đọc chả hiểu gì cả, mấy câu trích dẫn bạn trích dẫn dành cho huyễn tưởng ở giữa thế giới nào đó mà hết sức xa lạ với nhiều người kiểu dân tộc mông như bạn Sất . Chắc là theo hơi bạn Hoài đặt câu hỏi ta là ai triết học cho nó oách, có ai hiểu gì đâu, càng lơ lửng bay lên chín tầng mây, chả giải quyết được vấn đề gì cả, càng mù.
light
27-12-05, 07:32
Bác Thổ Phỉ, nhà phê bình văn học của bọn em ở làng Thăng long múa võ mồm sao cũng được, bọn em dễ tánh lại ngu ngơ không chấp nhất không đôi co. Bác sẩy chân ra khỏi làng Thăng long lãnh ngay búa tạ thế này thì khổ thân bác quá sức mà bọn em cũng chẳng giúp được gì bác cả.

Thợ Cạo
Thực hành phê bình phê bình 1

Dẫn luận cho một phương pháp. Phê bình phê bình tự nó không muốn là một trường phái, mà chỉ là một phương pháp làm việc. Nhà phê bình, xét về bản chất, được quyền phê bình tác phẩm và nhà văn, thậm chí còn có lúc tự cho mình được phép làm quan tòa phán xét. Thực tế là phê bình Việt Nam đang bị giằng xé giữa hai cực: một bên là sự tầm thường đến chua chát, một diễn dịch thô thiển, còn bên kia là một thứ phê bình khoác chiếc áo sang trọng với vô số trích dẫn, dẫn chiếu. Bản thân việc mặc áo đẹp không có gì xấu, thậm chí có màu sắc xanh đỏ một chút cuộc đời càng vui, nhưng chiếc áo chỉ dùng để phô trương, chiếc áo không đúng cỡ, lại xấu. Phê bình đáng bị phê bình khi nó chủ ý tung hỏa mù bằng những kiến thức sai. Phê bình phê bình (của Thợ Cạo) đặt cho mình nhiệm vụ nhỏ bé là giữa đám đông đang ngất ngây hô lên “Hoàng đế cởi truồng”. Để làm được điều đó, một phương pháp làm việc nghiêm ngặt được đặt ra: viết lại những đoạn văn khôi hài của các nhà phê bình, loại bỏ những chỗ “sai vì cố tình phô trương” và thay vào đó những thông tin đã được kiểm chứng; người đọc chỉ còn một việc: so sánh hai văn bản. Không bình luận, mà chỉ viết lại, vì dù muốn hay không thời của chúng ta là thời của Hậu hiện đại, của giễu nhại, của viết lại. Thợ Cạo chỉ viết lại, nhưng vì sức người có hạn, chỉ có thể viết lại một số đoạn khôi hài hơn cả, những mẩu vải kỳ cục hơn cả trên bộ quần áo mà các “nhà phô bình” cố tình khoác lên người để… biết nói thế nào… tỏ ra là mình “có gu”. Nhưng vì (lại nhưng vì) người thợ cạo thời xưa còn đồng thời là một bác sĩ cấp khu phố, cũng có đôi khi phải kiêm nhiệm luôn công việc nắn xương cho khách hàng, có lúc Thợ Cạo cũng sẽ thử nắn xương lại các bài viết có cái xương sống hơi… vẹo.


Bài mẫu: đoạn văn đầu tiên trong bài “Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu?” của Nguyễn Thanh Sơn đăng ở địa chỉ http://www.sgtt.com.vn/web/tintuc/default.aspx?cat_id=619&news_id=7955


Bài nói chuyện “Thế nào là một tác gia cổ điển” [1] của nhà văn *. M. Coetzee gồm ba phần: ngoài hai phần sau nói về kinh nghiệm âm nhạc và kỷ niệm nghe nhạc Bach, một nhạc sĩ cổ điển, phần đầu tiên phân tích bài nói chuyện cùng tên của T. S. Eliot tại Hội quán Virgil vào ngày 16 tháng Mười năm 1944 [2] , khi quân đội Đồng minh đang chiến đấu ở châu Âu lục địa và rocket (W2) của Đức Quốc xã vẫn còn dội xuống London. Eliot chỉ nhắc tới chiến tranh như "tai nạn của thời hiện tại" khiến ông khó tiếp cận những cuốn sách ông muốn tìm để chuẩn bị cho bài nói chuyện của mình, trong đó đặc biệt là tác phẩm của Sainte-Beuve, một chuyên gia rất lớn về Virgil (Sainte-Beuve cho Virgil là nhà thơ “đa quốc gia” (le poète de la latinité tout entière), với Sainte-Beuve tầm ảnh hưởng của Virgil chỉ mạnh ở các nước Pháp, Tây Ban Nha và Ý). Đến đây Coetzee bắt đầu bước vào lập luận chính của bài viết: theo ông, Eliot, với tư cách một người Mỹ bị chiến tranh giam chân ở Anh, sẽ có cách ứng xử để đi tìm “lý lịch” dân tộc của mình. Eliot tập trung vào đề tài ông đã, đang và sẽ còn trở đi trở lại, rằng châu Âu là nền văn minh duy nhất, khởi nguồn từ Rome thông qua Giáo hội La Mã và đế chế La Mã. Coetzee sẽ tiếp tục chỉ ra mối liên hệ mang khá nhiều yếu tố phân tâm học giữa Eliot và châu Âu, giữa Eliot và Anh, giữa Eliot và văn minh La Mã (Eliot sẽ nhập quốc tịch Anh), nhưng nhà văn Nam Phi cũng trình bày rất rõ quan điểm của Eliot: theo nhà thơ, “chỉ có thể có một Virgil bởi chỉ có một Christ, một Giáo hội, một Rome, một nền văn minh Công giáo phương Tây, và một nhà cổ điển nằm ở ngọn nguồn của nền văn minh La M㠖 Công giáo đó [3] ”. Coetzee cho rằng chủ đích của Eliot là khẳng định Aeneid là một tác phẩm cổ/kinh điển (có hai đối tượng mang tính cổ điển ở đây: Virgil và Aeneid của Virgil – không phải tác phẩm về Rome mà là tác phẩm về Aeneas; thời Aeneas chưa có Rome, mãi sau này hậu duệ của Aeneas là Romulus – và người em Remus – mới lập ra Rome) không phải chỉ theo cách hiểu của Horace (một tác phẩm cổ điển là một tác phẩm sống lâu được khoảng một trăm năm) mà theo nghĩa phúng dụ. Tuy nhiên, Coetzee không thật sự đi sâu vào nghĩa “cổ điển” theo cách hiểu của Eliot. Trong bài nói chuyện của mình, Eliot bắt đầu xây dựng khái niệm bằng cách đưa ra các tiêu chí, trong đó quan trọng bậc nhất là maturity, vì một nhà văn chỉ có thể là cổ điển khi ngôn ngữ của dân tộc nhà văn đó được kết tinh hoàn toàn ở anh ta. Trong lịch sử, Rome hơn Hy Lạp ở chỗ có ý thức rõ ràng về lịch sử, và thoát được cảm giác “tỉnh lẻ” theo nghĩa Rome bao trùm được cả thế giới. Eliot phân biệt giữa “greatness” (vĩ đại) và “classicness” (cổ điển): “Nhưng cái mà nhà thơ vĩ đại sử dụng được đến kiệt cùng là một hình thức, chứ không phải toàn bộ một ngôn ngữ. Ngược lại, nhà thơ cổ điển sử dụng được đến kiệt cùng không chỉ một hình thức, mà toàn bộ ngôn ngữ thời anh ta; và khi anh ta trở thành một nhà thơ cổ điển thực thụ, ngôn ngữ của thời anh ta sẽ trở thành ngôn ngữ hoàn hảo. Vì vậy chúng ta không chỉ nói đến nhà thơ, mà phải nói về cả ngôn ngữ của anh ta: không chỉ có chuyện nhà thơ sử dụng đến kiệt cùng ngôn ngữ, mà cái ngôn ngữ đạt đến đỉnh cao này lại có thể sản sinh một nhà thơ cổ điển [4] ”. Trong lịch sử châu Âu chỉ có một thời kỳ như lịch sử La Mã, cộng thêm yếu tố tiếng Latin trở thành tử ngữ, nên mới có Virgil, và Virgil là nhà cổ điển duy nhất; sau ông không có ai hết, lấy đâu ra “văn chương cổ điển”. Quay lại với bài nói chuyện của Coetzee: theo ông thái độ của Eliot đối với chiến tranh là cái cách ông nhắc cử tọa, cuộc đại chiến này, cho dù nó khủng khiếp đến đâu, cũng chỉ là một tai nạn nhất thời trong cuộc sống của châu Âu. Và nền văn minh châu Âu sẽ không vì nó mà bị hủy diệt. Tất nhiên, sau thế chiến II, văn chương sẽ có những tiếng nói khác về "tai nạn nhất thời" lớn nhất của con người trong thế kỷ XX. Triết gia Theodor Adorno (thật tiếc là ông không trở thành nhà văn, biết đâu người ta sẽ biết ông nhiều hơn?) sẽ viết trong Prisms (Prismen) rằng “làm thơ sau Auschwitz là mọi rợ (barbaric)”. Nhưng đó lại là một câu chuyện khác, lại càng không có gì chung với tiểu thuyết Việt Nam. Sau một trình bày rối rắm, lẫn lộn và đi xa tận đẩu đâu thế này mà quay lại với Việt Nam thì quả thật là… barbaric.


Hai bài học rút ra:


Trích dẫn nhiều không bằng trích dẫn ít mà… đúng. Một chiếc Lexus đậu trước ngôi nhà tranh tường đất lở lói không chỉ là một hình ảnh khôi hài. Người ta sẽ nghĩ người chủ nhà có gu thẩm mĩ không được tốt lắm. Và thấy… thương chiếc xe đẹp. Đấy là loại trừ trường hợp chiếc Lexus không thuộc quyền sở hữu của chủ nhà tranh.


Muốn đứng trên vai những người khổng lồ, trước hết phải học cách giữ thăng bằng. Còn muốn đứng trên đầu những người khổng lồ? Chắc chỉ còn một cách: học làm xiếc.


© 2005 talawas


--------------------------------------------------------------------------------
[1]“What Is a Classic? A Lecture”, bài nói chuyện tại Graz, Áo, năm 1991, in trong Current Writing (1993) và in lại trong Stranger Shores. Literary Essays 1986-1999, Viking 2001, 295 tr. Coetzee chủ yếu đề cập Eliot dưới khía cạnh cảm giác của một người Mỹ bị kẹt lại ở Anh trong chiến tranh và con đường tìm kiếm lý lịch (identity) của nhà thơ nổi tiếng. Đó chỉ là cách hiểu của riêng Coetzee nhưng đó là một cách hiểu sâu sắc, giải thích được vì sao trong bài nói chuyện Eliot nâng cao Virgil đến vậy.
[2]Bài nói chuyện được in với tiêu đề What Is a Classic? An Address Delivered Before the Virgil Society on the 16th of October 1944 by T. S. Eliot, Faber & Faber Limited, London 1945, 32 tr.
[3]Stranger Shores, tr. 4.
[4]What Is a Classic? tr. 24.
Elgnoy
28-12-05, 02:17
Mình đúng là đọc mà x hiểu gì. Em x thấy bài bác Thợ Cạo này viết lại có gì mâu thuẫn với bác Phỉ. Mỗi người có một cách hiểu một khía cạnh chứ. Người lắm chữ viết bài dài nhỉ.
Sất
28-12-05, 11:39
Có lẽ bài viết này mình viết chê bạn Hoài sính chơi chữ kiểu triết học,lây sang cả bạn Việt nam nét, chẳng dùng để làm gì cả, không giải quyết được gì cả càng kiến bạn cuồng.

Bài này mình bốt ở TL rồi, bốt lại cho điên thêm.

Tiểu thuyết Việt, cái gì và thế nào,
cần phải can đảm trước sự thật ?


21 khúc biến tấu và Nguyễn Thị Thuý Quỳnh là một trường hợp hết sức đặc biệt trong văn chương Việt gần đây. Tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy chiếc bìa cẩu thả và vội vã của cuốn truyện này được trưng nên cùng những chiếc bìa sách tên tuổi đã được giới thiệu tới công chúng và biết đến bởi nhiều người trong số quí vị. Tuy nhiên nói vậy cũng không có phần đúng vì Thuý Quỳnh, sau khi in được và phát hành cuốn truyện thì đã tự lăng xê mình trên một vài trang web một cách mặc cảm và khiêm tốn. Trang evan với một truyện ngắn cô cắt ra từ cuốn tiểu thuyết, và một tờ văn hải ngoại với một bài luận về nghệ thuật với lời chú giải cuốn cùng nói một vài câu về cuốn sách của mình. Xin đặt câu hỏi cho Thuý Quỳnh, với nhân vật Thuỳ Quyên trong tác phẩm 21 khúc biến tấu. Có phải cô như là một kẻ rơi vào thực tại trống rỗng những ý nghĩ cuồng loạn đau khổ, ko sao tìm điểm tới, đến một nền văn chương bị vắng mặt, bị đánh cắp và bị không sao nhìn thấy, và để tìm thấy nó cô tưởng tượng ra một câu chuyện về chính mình, đang nói một mình, nghĩ một mình, độc thoại, kẻ đang bị điên thật sự, sẽ trở nên giống như là một nhà văn ??Theo cô, câu hỏi tiểu thuyết Việt nam đang ở đâu có chỉ ra một sự mất phương hướng của nó không ??


Nguyễn Thị Thuý Quỳnh: Cảm ơn với câu hỏi của bạn, Câu trả lời của tôi là có, có một sự mất phương hướng cho cái gọi là Tiểu thuyết Việt, Văn chương Việt. Trước khi mà có ý định trở thành nhà văn bằng những dòng nhật ký tôi viết hàng ngày, ngay sau khi đã hoàn tất cho chiếc tên nhà văn của mình bằng tiếng Việt, tôi hầu như không biết gì ngoài sách giáo khoa về văn chương Việt đương đại, thời sự hiện thời như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm thị Hoài, Dương thu Hương hoặc (đoạn này tôi xin copy từ bài của bác Hoà, nhà phê bình văn học )Thủy hỏa đạo tặc (Hoàng Minh Tường), Mối tình hoang dã (Trần Huy Quang), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương Hướng), Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Sóng ở đáy sông (Lê Lựu), Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Lão Khổ (Tạ Duy Anh), Cháy đến giọt cuối cùng (Nguyễn Thị Anh Thư), Những đứa trẻ chết già (Nguyễn Bình Phương), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Những đứa con bất trị (Triệu Huấn), Người cha ở trên trời (Nguyễn Tham Thiện Kế), Đất nóng (Nguyễn Hồng Thái), Giữa cõi âm dương (Thu Loan), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh), Tâm đêm (Quỳnh Linh), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Khúc bi tráng cuối cùng (Chu Lai)... Thậm chí mới cách đây vài tháng tôi mới tìm đọc Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.Tất nhiên trước đó hồi nhỏ tôi có đọc một số cuốn truyện Việt Nam nhưng tôi không có nhớ và thích các tác phẩm nước ngoài hơn. Vì so với các tác phẩm văn học nước ngoài, văn chương nước mình ấu trĩ và kém rất xa. Như vậy, tôi độc thoại với một chính mình vô hình và trở nên điên cho một biên giới Việt mà tôi không thể vượt qua. Như vậy, chúng ta chỉ có thể trả lời câu hỏi chúng ta đang ở đâu khi chúng ta biết chúng ta đang là ai, chúng ta đã có gì, đang làm gì mà muốn đi đến đâu (so với chặng đường tiểu thuyết của thế giới ). Tất nhiên xuất phát điểm của chúng ta so với kẻ khác nữa, điều này rất quan trọng.

Xuất phát điểm của chúng ta so với kẻ khác ??? Đó là một câu nói rất triết và rất mốt đấy. Vậy thì theo chị, chúng ta đã và đang là ai ??

Nguyễn Thị Thuý Quỳnh : Chúng ta là ai ?.Sau thời điểm hoàn tất cuốn truyện, tôi có loay hoay tìm sách lịch sử Việt nam để đọc và thấy những sự tình hết hồn. Theo tôi, luồng tri thức về lịch sử Việt nam từ thời thượng cổ tới giờ được lưu truyền trong xã hội hết sức sơ sài ít ỏi, và là một sự vắng mặt đáng thương. Điều này góp phần làm chúng ta ko thể biết chúng ta từ đâu sinh ra. Những kiến thức sinh lý này ko được bày bán, phổ biến nhấn mạnh một cách rộng rãi sinh ra là chúng ta tuỳ hứng vay mượn lịch sử dân tộc bạn phóng chiếu ra làm của mình. Có một chi tiết về một cuốn truyện lịch sử về Nguyễn Trãi được viết bởi một người Pháp và cuốn lịch sử nước việt An nam chí lược viết từ thế kỷ 14 thì được giữ bởi người Nhật và tận những năm 1960 thì nước mình mới mang từ Nhật về chẳng hạn. Lịch sử về dân tộc chúng ta phải được ghi lại một cách hệ thống và có lôzic, và phải được giảng dạy truyền bá trên nhiều lĩnh vực trong xã hội một cách phong phú đầy đủ với một thái độ tự hào nữa. Nếu như nó sai lệch hoặc không có được viết chân thực đúng đắn, tự bản thân nó sẽ không sao được thẩm thấu để trở thành chính một phần con người mình. Với một lịch sử Việt bị lẫn lộn mờ nhạt trong ý thức xã hội như vậy, chúng ta đối mặt với lịch sử người Pháp, Mỹ, Anh, Đức, Hi lạp, La mã, chúng ta sẽ bị họ nuốt chửng trong những phóng chiếu và ngộ nhận. Cần phải nhớ là lịch sử của đảng, chíên tranh của chúng ta mới cách đây 100 năm . Mà dân tộc thì lịch sử cả 4000 năm. Tuy nhiên 3100 năm trước chúng ta trống trơn lẻ tẻ vài sự kiện, khi mà còn lại là những chi tiết ám ảnh dành cho một trăm năm còn lại, nhìn bề ngoài, đó là một sự bất bình thường, một sự mất cân đối trầm trọng.

Cách chị lý giải vấn đề mang tính chất hết sức triết học. Ok vấn đề không phải là dễ dàng hay khó khăn, vấn đề xa hơn là cả một lịch sử dân tộc cần phải thẩm thấu, để biết mình là ai, mà không rơi và cái thực tại hư vô trống không. Trở lại với những dữ kiện xã hội hiện tại, theo chị, tiểu thuyết Việt là gì và cần phải như thế nào để có một sự chuẩn bị cho một tác phẩm để đời ?

Nguyễn Thị Thuý Quỳnh : Nền văn chương Việt sau thời điểm cuối thập kỷ 80 đầu 90 thế kỷ trước ( thế kỷ 20 ) nhà nước ta mở cửa. Việc quản lý ngành văn chương nghệ thuật không còn đi vào guồng máy xã hội một cách ăn khớp như trước. Nó bị phá sản đầu tiên khi bóng tối của tri thức tư bản thối nát chiếu vào. Cho đến thời điểm bây giờ, sự ăn khớp giữa các ngành báo chí, xuất bản, hội nhà văn hoàn toàn bị đứt gãy. Mỗi một bộ phận mạnh ai nấy làm, mạnh ai lấy tranh giành dành giật ảnh hưởng mà ko hề có sự phối hợp liên quan đến nhau. Điều này khiến văn chương văn nghệ càng xa rời cuộc sống thực đang diễn ra, trở nên dành mảnh đất cho những kẻ cơ hội, dùng văn chương để trang sức cho danh vọng của mình, hoặc dành cho những kẻ với nỗi đau khổ không còn con đường nào ngoài Bệnh viện tâm thần, họ viết để những người bình thường, cộng đồng hiểu họ. Điều này dẫn đến việc in ấn, lăng xê , tổ chức thi giải càng ngày càng hỗn loạn và không có liên quan gì đến thực tế, không có tính tiêu biểu hoặc mang tính thời sự. Những người viết thì tìm đủ mọi cách để được in, rồi tự phát hành, biếu tặng các nơi tứ tung như danh thiếp. Nhà phê bình là do ăn nhậu nặng nợ người ta cứ nhìn thấy mình là tống sách tống thơ văn vào người mà phải viết. Hội nhà văn thì trống trơn không có bất kỳ hoạt động nào, còn hội thơ các cụ ở phường thì tuần nào cũng họp. Do vậy, muốn có một tác phẩm để đời thì phải có một cái gì đó để đời có thể để được. Đó chính là cái guồng máy này cần phải chấn chỉnh và phối hợp lại một cách bài bản, nghiêm túc và khoa học hơn. Không thể để tình trạng phát triển một cách tự phát, hồn nhiên vô tổ chức, vô kế hoặch như bây giờ được. Tuy nhiên để làm được điều này thì cần phải rất can đảm, ít ra là can đảm trước sự thật. Có thể chỉ là sự thật dành cho câu hỏi rất chung chung này, đi về đâu thì ai cái gì thế nào tại sao.
--

Tuy nhiên sự thật mà Sất đòi hỏi ở cuối bài viết lại là một câu hỏi đánh đố các bạn. Vẫn bằng thái độ của mình dành cho mấy người hải ngoại cần phải giải nghĩa thêm. Vị trí mà mình chọn có lẽ đã rất rõ ràng. Vị trí về phía kẻ điên. Chỉ khi nào các bạn đủ nghiêm túc được mà dám can đảm đối thoại với mình. Nếu ko, mình chịu, ko biết phải làm gì và đi đến đâu.Điên vui chứ.