Những truyện ngắn cực xuất sắc.

Lộng Ngọc
25-06-05, 21:33
Em làm topic chuyên về những truyện rất ngắn nhưng xuất sắc của các nhà văn lớn. Bắt đầu bằng HEMINGWAY sau đó là những người khác. Mọi người dọc và bàn cho vui.



Ernest Hemingway


Một Nơi Chốn Khang Trang Vừa Sạch Vừa Đẹp


DOÃN QUỐC SỸ dịch
Thời gian đã trễ, mọi người đã đứng dậy rời tiệm cà phê trừ một ông già còn ngồi dưới bóng một vòm lá cây che ánh điện. Vào ban ngày đường phố bụi bậm nhưng ban đêm sương xuống đã phủ dày, và ông già sở dĩ còn ngồi lại trễ kia vì ông bị điếc, hơn nữa vào giờ tĩnh lặng này của đêm khuya ông cảm thấy có điều gì khác la.. Hai người hầu bàn ngồi phía bên trong nhìn biết ông già đã hơi xỉn rồị Họ biết dù ông là một khách hàng tốt nhưng khi quá say ông sẽ rời tiệm mà quên trả tiền, họ đành ngồi nán canh chừng ông vậy.

Một anh hầu bàn nói:

"Ấy tuần trước ông ta định tự vẫn đấy."

"Vì sao vậy?"

"Vì tuyệt vọng!"

"Tuyệt vọng cái gì?"

"Chẳng vì cái gì cả!"

"Sao cậu biết là chẳng vì cái gì cả?"

"Ông ta dư dật tiền bạc mà!"

Cả hai chàng cùng ngồi bên chiếc bàn kê sát vách tường ngay gần cửa ra vào nhìn ra khoảng thềm trống bên ngoài với những bàn trống vắng, trừ bàn có ông già ngồi dưới bóng lá đu đưa theo gió. Một cô gái và một chàng quân nhân đương đi ngang trên đường phố sát đó. Ánh đèn đường phản chiếu lấp lánh trên cổ áo có chữ số bằng đồng của chàng quân nhân. Người con gái rảo bước bên anh, trên đầu không có gì che.

"Nhân viên tuần hành có ý muốn bứng ông ta đi" - một chàng hầu bàn nóị

"Việc gì sẽ xảy ra nếu ông ta được thỏa mãn điều yêu cầụ"

"Tốt hơn hết ông ta hãy rời khỏi phố lúc nàỵ Nhân viên tuần hành muốn bắt giữ ông ta đó. Họ đã đi quanh năm phút trước đây rồi!"

Ông già ngồi dưới bóng cây gõ nhanh đáy ly lên mặt chiếc đĩa phía dướị Chàng hầu bàn trẻ tuổi hơn tiến tới:

"Thưa ông muốn gì ạ?"

Ông già ngẩng nhìn và nói:

"Cho tôi một ly rượu mạnh nữa!"

Chàng hầu bàn nói:

"Ông sẽ bị say đó!"

Ông già ngẩng nhìn, hắn vội đi ngay và nói với anh bạn đồng nghiệp:

"Ông ta sẽ ngồi đó suốt đêm cho mà coị Tao buồn ngủ rồị Chẳng bao giờ được ngủ trước ba giờ sáng. Giá như tuần trước ông già thành tựu trong việc tự vẫn."

Chàng hầu bàn cầm chai rượu và một chiếc dĩa nhỏ để đặt ly tự phía trong quầy hàng rồi bước ra ngoài tiến về phía bàn của ông già. Chàng đặt chiếc tách xuống rót rượu đầy ly và nói với ông già điếc:

"Lẽ ra ông nên ra đi vĩnh viễn dịp ông tự vẫn tuần trước!"

Ông già ra hiệu với một ngón tay và nói:

"Rót thêm chút nữa đi!"

Chàng hầu bàn tiếp tục rót rượu vào ly, rượu đầy tràn chảy ào xuống lòng tách bên dưới.

Ông già nói:

"Cám ơn!"

Chàng hầu bàn mang chai rượu để lại chỗ cũ bên trong quầy cà phê, rồi tới ngồi cạnh anh bạn đồng nghiệp và nói:

"Trông kìa, ông ta say rồi!"

"Thì đêm nào ông ta chẳng say như vậy."

"Điều gì làm ông ta muốn tự sát?"

"Làm sao tôi biết được!"

"Ông ta đã tự sát như thế nào?"

"Tự treo cổ bằng một dây thừng."

"Ai đã cắt giây cứu ông ta?"

"Cháu gái ông."

"Vì sao họ làm vậy?"

"Vì họ e ngại cho linh hồn ông."

"Ông ta tiền nhiều chừng nào?"

"Nhiều lắm!"

"Ông ta cỡ tám chục tuổi chứ gì?"

"Mong cho ông ấy đi về. Tôi chẳng bao giờ được lên giường trước ba giờ sáng. Giờ nào mới được lên giường đây?"

"Ông ta cứ ngồi nán vậy vì thích vậy."

"Ông ta sống một mình chứ tôi có sống một mình đâụ Bà xã tôi hiện đương nằm chờ tôi trên giường đó!"

"Ông ta cũng đã một thời có bà xã đấy chứ."

"Một bà vợ với ông giờ đây cũng chẳng ích gì."

"Không thể nói thế được. Giá như có một bà vợ ngay bên ông cũng hơn chứ."

"Đứa cháu gái săn sóc ông tạ Cậu nói là cô ta đã cắt giảm nhiều thứ chứ gì."

"Tôi biết."

"Tôi chẳng muốn sống già như vậy! Đời sống người già thật chán ngấy!"

"Không hẳn thế đâụ Ông già này sạch sẽ đấy chứ. Ông ta uống rượu có để rơi vãi giọt nào đâụ Kể cả vào lúc ông đương say như lúc này. Hãy trông ông ta kìa."

"Tôi không thích ngắm ông tạ Tôi muốn ông ta cuốn xéo cho rồi. Ông ta phải biết là người khác còn việc phải làm chứ."

Ông già nhìn qua khung vuông chiếc ly cạn của mình và nói với người hầu bàn:

"Một ly vang nữa đi" - ông vừa nói vừa chỉ vào ly.

Chàng hầu bàn đương nóng lòng muốn về gấp, chạy đến nói chẳng cần cú pháp, cứ như thể cách nói của một người ngoại quốc:

"Thưa hết rượu rồi! Không còn rượu cho đêm nay nữạ Tiệm đã đến giờ đóng cửa."

"Rót cho một ly nữa đi" - ông già nói.

"Không! Hết rượu rồi."

Anh chàng vừa nói vừa lau mép bàn bằng một chiếc khăn lau.

Ông già đứng lên, đếm những dĩa nhỏ, rút chiếc ví da trong túi, trả tiền và có để lại tiền típ.

Anh chàng hầu bàn bèn nhìn ông theo đường xuống phố, dáng một ông già bước đi không vững nhưng vẫn giữ được vẻ đàng hoàng.

Anh chàng hầu bàn không muốn về gấp nêu câu hỏi:

"Sao cậu không để ông ta ngồi nhẩn nha chút nữa uống tiếp? Chưa quá hai giờ rưỡi mà!"

"Tôi muốn về lên giường ngủ!"

"Chậm một giờ có đáng là bao."

"Nhưng với tôi thời gian vào lúc này đáng quý hơn với ông ấy."

"Thì một giờ cũng là một giờ thôi."

"Cậu nói như thể cậu là ông già đó vậỵ Ông ta có thể mua một chai vang mang về uống ở nhà."

"Đâu có giống nhau!"

"Đúng, không giống nhau thật!"

Chàng hầu bàn có vợ chờ ở nhà biểu đồng tình với bạn vì chàng không muốn tỏ ra bất công, chàng chỉ muốn lẹ một chút thôi.

"Còn cậu, cậu không sợ về nhà trước giờ như thường lệ chứ?"

"Cậu định thóa mạ tôi sao?"

"Không đâu bạn ơi, rỡn mà!"

Chàng hầu bàn vội vã vươn tay kéo cánh cửa chớp bằng kim khí xuống và nói:

"Không. Tôi có niềm tin mà. Tôi hoàn toàn giữ vững niềm tin."

"Cậu có tuổi trẻ, có niềm tin, và có một việc làm. Cậu có đủ tất cả."

"Vậy bạn, bạn thiếu điều gì nào?"

"Thiếu đủ mọi thứ, trừ việc làm."

"Bạn có tất cả những thứ tôi có."

"Không đâụ Tôi chẳng bao giờ có được niềm tin và cũng không còn trẻ nữa."

"Thôi đi cậu ơi, đừng nói tào lao, khóa cửa lại đi!"

"Tôi giống những kẻ thích ngồi lại muộn nhất trong tiệm cà phê" - chàng hầu bàn nhiều tuổi hơn nói - "ngồi lại muộn nhất với những người không muốn về ngủ, với những người cần được thấy ánh sáng trong đêm."

"Tôi thì muốn về nhà, lên giường nằm đây."

"Chúng ta thuộc hai loại người khác nhau" - chàng nhiều tuổi hơn đáp. Chàng đã khoác xong áo chuẩn bị ra về. "Đây không phải là vấn đề còn trẻ hay không, có niềm tin hay không, mặc dầu đó là những thứ ai cũng quý. Mỗi đêm tôi vẫn chần chừ vào lúc đóng cửa vì nghĩ rất có thể vẫn còn người nào đó đương cần một ly cà phê."

"Bồ ơi, còn những kho rượu vang lâu năm mở cửa bán suốt đêm đó."

"Cậu không hiểu gì cả! Cậu nên nhớ đây là một tiệm cà phê sạch sẽ, khang trang, sáng sủa và còn thêm bóng lá cây đu đưa nữa."

"Thôi chúc bạn ngủ ngon" - chàng hầu bàn trẻ hơn nói.

"Vâng, chúc bạn ngủ ngon" - chàng kia đáp lại.

Chàng vừa đáp vừa tắt điện vừa tự đàm thoại thầm với mình. Đã đành ánh sáng cần thiết nhưng nơi chốn đó cũng còn phải sạch sẽ, dễ thương nữa chứ. Bạn không muốn có nhạc. Hẳn là bạn không muốn có nhạc. Bạn cũng chẳng thể đứng trước một quầy rượu với dáng uy nghi, mặc dầu mọi thứ đều được cung cấp vào giờ đó. Người sợ gì? Không phải là sợ hãi, kinh khiếp. Chẳng có gì cả, đó là điều người biết rõ quá đi. Tất cả là cái chẳng có gì và một người cũng chẳng là cái gì cả. Chỉ có vậy và ánh sáng là tất cả những gì cần thiết -- với một chút sạch sẽ, trật tự.. Có người sống trong đó mà chẳng hề cảm thấy nhưng cũng hiểu rằng tất cả chẳng qua chỉ là chẳng có gì cả và rồi chẳng có gì cả - và - chẳng có gì cả và rồi chẳng có gì cả. Cái không có gì cả của chúng ta nằm trong cái không có gì cả, không có gì cả là tên bạn, là vương quốc không có gì của bạn, là vương quốc không có gì tương lai của bạn, trong vương quốc không có gì vì nó là vương quốc không có gì. Hãy cho chúng tôi cái vương quốc không có gì này vương quốc không có gì hàng ngày của chúng tôi và hãy không có gì những cái không có gì của chúng tôi trong khi chúng tôi không có gì những cái không có gì của chúng tôi và hãy không có gì chúng tôi không phải trong cái không có gì, nhưng hãy phân phát chúng tôi từ những cái không có gì. Hoan hô cái không có gì tràn đầy những không có gì, không có gì hãy ở lại với bạn. Anh chàng mỉm cười và đứng trước quầy rượu với một máy ép cà phê rực rỡ nghi ngút bốc hơi.

"Ông dùng gì?" chàng tiếp viên hỏi khách.

"Một không có gì!"

"Lại một tên khùng nữa" - chàng tiếp viên nói vậy rồi quay đị

"Xin một ly rượu nhỏ" - chàng hầu bàn nói.

Chàng tiếp viên rót cho hắn.

"Ánh sáng tốt lắm và dễ chịu nữa nhưng quầy rượu không được lịch sự!" chàng hầu bàn nói.

Chàng tiếp viên nhìn chàng hầu bàn nhưng không nói gì. Đã quá khuya rồi, còn đối thoại làm gì.

"Bạn muốn thêm một ly nhỏ nữa chăng?" chàng tiếp viên hỏi.

"Thôi! Cám ơn bạn" - chàng hầu bàn nói rồi đi ra.

Chàng không ưa những quầy rượu và những hầm chứa rượu. Một quán cà phê sạch sẽ, sáng sủa là một cái gì khác hẳn. Giờ thì không muốn nghĩ gì xa xôi hơn, chàng chỉ còn muốn trở về với căn phòng của mình. Chàng sẽ nằm sõng soài trên giường và sau cùng với ánh sáng ban mai chàng lại ngủ. Sau cùng chàng tự nhủ với mình rằng hẳn đó chỉ là chứng mất ngủ. Hẳn là nhiều người mắc chứng mất ngủ!
Lộng Ngọc
25-06-05, 21:54
Bi giờ đến Kafka.



Làng bên

Kafka
Ngọc Cầm Dương dịch


Ông tôi vẫn thường nói rằng: "Cuộc đời ngắn ngủi đến kinh ngạc. Giờ đây trong kí ức ta mọi sự việc chèn gắn với nhau đến độ, ta chẳng hạn gần như không còn nắm bắt/thấu suốt được, làm thế nào một người trẻ tuổi có thể quyết định cưỡi ngựa sang làng bên mà không lo sợ rằng, ngay cả khi không hề tính đến những bất hạnh ngẫu nhiên, thời gian cả cuộc đời thông thường, trôi qua may mắn cũng còn lâu mới đủ cho chuyến đi này."
PX150
26-06-05, 02:01
Ngọc có truyện Tuyết Trên Đỉnh cái gì ấy của ông nhà văn nào ấy, pót lên được không. Hôm qua có người bảo là thích nhắm, thích nhất trong các loại truyện ngắn, xong hỏi mình có thích không, mình tất nhiên là cũng thích rồi nhưng nói thật là chưa đọc. Bạn có cho mình xin nhớ.
Lộng Ngọc
26-06-05, 03:59
Cũng của Hemingway nhưng em chưa xin được bác ạ, nếu có cũng không thể có bản tiếng Việt, bác ở nhà thì mua về mà đọc. Tên nó là "Tuyết trên đỉnh Kilimandjaro" của Hemingway thường bán thành Tuyết trên đỉnh Kilimandjaro và các truyện ngắn khác thì phải tên nguyên bản là The snow on Kilimandjaro. Em hay hóng hớt nên biết tên chứ cũng chưa đọc bao giờ, mặc dù nó nổi (tất nhiên, nó nổi em mới biết)
Thu Muộn
26-06-05, 14:46
Bao giờ rỗi em dịch mấy truyện cực ngắn như trên của Kafka hầu các bác nếu các bác thích, chứ bạn Hoàng Ngọc Tuấn dịch rất chi là phò cbn phạch. Chán! Đã bác nào đọc được của bà Đặng Anh Đào từ bản tiếng Pháp chưa? Cho em nhận xét. Em nghe nói cũng ko được lạc quan cho lắm, em các bác cảnh báo mãi về chuyện dịch từ phó bản rồi mà các bác mình cứ tham. Đau lòng vật, đọc lại trỵện của Kafka em xót xa cho các bác không đuợc đọc nguyên bản mà em các bác thì chưa có thời gian vì bận việc nước.
Delliah
26-06-05, 16:00
Những đóa hồng xanh


--- Trần Thị Trường ---


Thủy thao thức không ngủ được. Đêm sao mà dài thế, hình ảnh người chồng yêu quí luôn chập chờn trước mắt, lẫn vào trong giấc ngủ của chị. Đôi khi trong giấc mơ, anh ấy cũng hiện ra, lúc thì âu yếm ve vuốt, lúc thì hờn giận vùng vằng, lại có lúc anh chì chiết làm chị phát hoảng, choàng tỉnh. Nước mắt chứa chan, chìm trong bóng đêm khiến chị luôn nhớ về cuộc chia tay ngày ấy.

Vợ chồng yêu thương nhau, có đứa con đẹp như trăng tháng tám, song cuộc sống nghèo nàn không làm cho anh vui, lúc nào anh cũng thở dài thườn thượt. Mỗi lần từ nhà ai về, nếu đó là những ngôi nhà khang trang đẹp đẽ, là anh như người quẫn trí, cáu bẳn lung tung:

- Chúng ta bao giờ mới được là con người? Sống trong một cái ổ thế này, tôi sẽ chết, tôi sẽ điên, tôi sẽ chỉ còn là thằng đàn ông vứt đi, không để lại điều gì hết... Mà tôi thì muốn nhiều lắm...

Chị thẽ thọt, rón rén đi lại trong nhà, không dám nhìn anh, chị cảm thấy chị có lỗi khi chung sống với anh mà không làm gì giúp anh được. Cả con chị cũng có lỗi nữa cũng nên. Trong con mắt chị, anh là một người rất có tài, cần được săn sóc và được sống trong môi trường đầy đủ hơn thế mà mẹ con chị đã chiếm nhiều thời giờ, sức lực của anh, để đời sống của anh, dù có hết sức cố gắng đi nữa vẫn chỉ đủ ăn, đến cái cửa sổ hỏng cũng không tiền sửa nói chi đến nghiệp lớn.

Anh là kiến trúc sư, tốt nghiệp trong nước, học cao học ở nước ngoài, rồi về, nhưng một tấc đất để xây cái nhà cho mình không có. Thiết kế các công trình cho nhà nước, anh cũng đã làm vài đề án, nhưng đề án nào cũng bị phê "không có tính khả thi". Cô đơn, thui thủi, không có người trò chuyện, chia sẻ. Việc làm thì không có thành tựu. Những tư duy sáng tạo trở nên lang thang vô mục đích. Anh trở thành người khó chịu cho tập thể và cho cả vợ con. Song bản thân tính chịu đựng và bao dung, chị không thấy buồn, chỉ thương chồng da diết.

* * *

Giờ thì anh đã đi xa rồi, anh đến với đất nước đào tạo ra anh, ở đó anh đang nổi tiếng với các công trình do chính anh thiết kế. Người ta đánh giá cao các công trình của anh: "Khu vui chơi thiếu nhi" "Nhà ở với tâm hồn con người". Anh chú trọng đến không gian, đến tinh thần, đến thói quen văn hóa, trong từng bản thiết kế, chính vì vậy mà anh khác các kiến trúc sư địa phương. Anh đem đến cho họ sự thú vị về những cái lạ mà vẫn hợp lý... Ở giữa những người ngưỡng mộ và yêu quý mình, anh đã làm được nhiều điều đáng kể, song anh vẫn thấy mình cô đơn ghê gớm. Anh nhớ vợ con, nhận ra mình xấu xí và điên khùng khi làm những người thân bực bội và đau khổ. Nhiều lần anh muốn trở về, nhiều đêm anh gọi tên vợ anh, tên con gái anh để trái tim đỡ thổn thức, đỡ cô quạnh nặng nề. Nhưng rồi anh không dám. Anh sợ cái không khí ẩm mốc vào bốn bức tường sủi rêu lên trong mùa gió nồm. Anh sợ phải nhìn thấy vợ anh suốt ngày gập lưng xuống lau nhà, mà cái nền gạch vợ anh lau rồi anh vẫn không muốn thò chân đặt xuống...

* * *

Chị trở mình trong đêm vắng. Cái gối ướt đẫm nước mắt, nhìn sang phía giường bên con gái đang thở đều đều; chị bật đèn, thấy con xinh đẹp và giống bố như đúc mà không khỏi thở dài, đau khổ. Đã nhiều lần nó giục chị đánh điện cho bố, gửi ảnh về cảnh quan ngôi nhà mà mẹ vừa xây cho bố xem. Nó bảo "nhìn thấy, bố sẽ mừng lắm, bây giờ đã có cả một tầng riêng để bố dùng làm phòng thiết kế, mẹ nhỉ". Chị cũng hy vọng thế. Song, chị lại đầy mặc cảm, nhỡ đâu, ở phương xa, đời sống của anh lại cũng đang hết sức thuận lợi trong các tiện nghi sang trọng gấp nhiều lần, mà chị có cố mãi cũng không theo kịp thì sao? "Ôi đàn ông, những con người làm chủ mặt đất này, họ chỉ sống cho sự nghiệp, cho những cái còn ở phía trước, chứ họ không để tâm vào cái mà họ đang có ở cạnh bên. "Chị thở dài. "Ta không có quyền làm phiền bước đi của họ"... Nghĩ vậy, tự chị cho rằng mình cao thượng, nhưng nước mắt cứ chảy dài trên má, chị nhìn sang con.

Không biết có phải vì nó mà chị cứ yêu anh mãi hay không. Trong suốt mười năm xa chồng, trải qua bao cuộc tiếp xúc và cộng tác với những người đàn ông khác, chị không hề xao xuyến một gương mặt nào. Là người đàn bà có duyên, ở độ tuổi như trái cây đang chín, rất dịu dàng và khá thông minh, chị được nhiều người đàn ông đem lòng yêu mến. Song một lòng, chị chỉ nghĩ đến anh. Chi mong một ngày nào đó anh sẽ trở về. Mà cái ngày ấy sao mãi không nhìn thấỵ Con đường thời gian hình như cứ vươn dài ra không có điểm dừng. Tóc vẫn xanh mướt và chảy dài sau lưng, nhưng trái tim người đàn bà đương thì, lại cứ héo dần.

... Chị nhìn căn phòng ấm áp, đẹp đẽ mà hai mẹ con đang ở, chị hình dung về cơ ngơi của mình, một biệt thự sang trọng. Kết quả của một quá trình lao động cật lực. Song ngôi nhà không có đàn ông thì dù đẹp đến mấy cũng không hạnh phúc.... Chị buồn bã nghĩ vậy. Thở dài, tiếng thở sâu thẳm, như cuộc đời bất hạnh mà chị đang mang trải.

Bỗng chuông điện thoại reo. Hồi hộp quá phải chăng là anh ấy gọi. Cầu mong là như thế, "Anh có biết không, cả em và con đều mong anh về. Bây giờ không còn như ngày trước, nhà ta đã có chỗ cho anh sống cho ra con người rồi anh ạ".

- Em đấy à? Anh cũng đoán là em không ngủ - có nhận ra anh không? - Nếu không... thì anh xin lỗi.

Giọng nói đứt quãng đầy vẻ hồi hộp.

Một thoáng thất vọng vì không phải giọng nói thân quen của chồng. Nhưng liền sau đó chị thấy hiện ra một gương mặt rất đỗi thân quen khác.

- Nếu anh làm phiền em! - Giọng nói gần như thất vọng.

Chị lặng đi, nước mắt trào ra như suối. Đúng rồi, người bạn cùng lớp thuở nào. Người đã từng vui với chị với những người cùng trang lứa những trò vui thơ ngâỵ Những trang thơ học trò và những ngày hái nấm trong rừng, những ngày đi học sơ tán khỏi vùng chiến tranh bắn phá. Người làm thơ hay nhất lớp, người đã mua hoa hồng xanh cho chị cả một thời thiếu nữ. Và ngày ngày lúc nào cũng ở bên nhau. Nhút nhát và ít nói, nhưng thơ thì mạnh mẽ... Đã quá xa, quá xa những kỷ niệm, nhưng mới gặp lại nhau trong thời gian vừa qua, nồng nàn say đắm qua cái nhìn, vẫn không dám nói một câu. Thế mà hôm nay ...

- Anh vẫn yêu em như thuở nào, mà không cất nổi lên lời. Chỉ vì không nói mà anh luôn bước hụt. Còn bây giờ, khi biết rõ hoàn cảnh của em, anh thấy cần cố gắng thêm một lần nữa - Em có yêu anh không? Nếu việc cũ của em không còn ý nghĩa trong em nữa, và anh không phải là kẻ làm phiền... Em ơi, thời gian không chờ đợi, chúng ta đều đã... không còn trẻ nữa.. Lại sắp thêm một mùa xuân.

Chị khóc nức nở nên không rành mạnh được điều gì với anh.

- Em cảm ơn anh rất nhiều. Em sẽ...

* * *

Chiều nay ba mươi tết, cái buổi chiều mà bất cứ một ai cô đơn đều thấm thía đến tận đáy tâm hồn. Gia đình là nguồn cội - chị như người thất thần. Bánh chưng không gói, nhà không quét. Con gái chị thiểu não nhìn mẹ, nó thấy mẹ nó buồn, mà nhà thì không có hoa. "Mẹ ơi không thể cứ như thế này mãi, thôi con đi mua hoa đây, bánh chưng không có còn được chứ hoa thì không thể thiếu". Chị gượng cười: " ừ! thì con đi!". Nó đi rồi, chị thẫn thờ buồn bã. Bỗng nhiên, từ đâu hình ảnh người bạn thơ từ trong ký ức hiện ra: "Tại sao ta phải chối từ, tại sao ta lại làm ngơ, hạnh phúc chẳng đang trong tầm tay đó saỏ"

Chị quay vào để gọi điện thoại, bàn tay run rẩy ấn phím số, đầu giây bên kia chưa đổ chuông, thì chồng chị đẩy cửa bước vào. Đặt chiếc va ly xuống sàn, anh chạy lại ôm chị, tự nhiên như ngày chưa xa cách.

- Hãy tha thứ cho anh! Em là người đàn bà mà có đi khắp thế gian anh cũng không gặp được... Thời gian và không gian đã giúp cho anh nhận ra điều đó... Hãy tha thứ cho anh...

Thế là ống nghe điện thoại lỏng ra trong tay chị... Đầu dây bên kia ngơ ngác...

- Anh vào đi! Con và em lúc nào cũng rất nhớ anh

* * *

Từ đấy trong ngôi nhà đẹp đẽ, có tiếng đàn ông và tiếng trẻ thơ. Một ngôi nhà hạnh phúc như mọi ngôi nhà mà con người thường mơ ước. Nhưng có một điều mà chồng chị và tất cả mọi người đều không biết được đó là hàng tuần, trên chiếc bàn quý bao giờ cũng có một bình hoa hồng xanh.

Hết.
Thu Muộn
26-06-05, 18:49
Hì, bác Delilah không để ý em đề là truyện ngắn, cực xuất sắc của những nhà văn cực nổi tiếng. :D Em đang suy nghĩ liệu mình có nên tổ chức một quả văn học Nga không, vì em thấy nó thành riêng một dòng cho hoành tráng. Rồi lại một loạt các bác khác mà anh em bảo là viết truyện cực máu và để rồi cuối cùng cũng tự tử. :( Bác nào ủng hộ thì mình làm nhưng các bác có vẻ giống em bên âm nhạc, âm thầm hưởng rồi âm thầm đi. Em bốt hai truyện ngắn nhẹ nhàng nữa.


Một câu đùa
(Nguyễn Tuân dịch)
Tchekhov, Anton

Vẫn tặng H[1]

Buổi trưa một ngày đông khô sáng...

Trời giá cóng đến xé đá ra; Na đưa tay cho tôi khoác, và Na có những món tóc quăn xòa xuống mang tai và hơi sương làm ánh lên những tơ lông măng nơi môi trên nàng. Hai đưa tôi ở trên một ngọn đồi tuyết cao. Từ chân chúng tôi xuống tới mặt đất, trên một cái mặt bằng thoai thoải xuống, ánh dương hắt lại như từ trong một tấm gương. Kề chỗ chúng tôi, là những xe trượt bằng xinh xắn phủ dạ đỏ ngòm. Tôi liền nằn nì:

- Chúng ta lao dốc đi, Na ơi. Một lần thôi! Anh quả quyết rằng chúng ta không việc gì đâu!

Nhưng Na sợ. Từ chỗ đôi giày xinh đẹp của nàng tới chân ngọn đồi tuyết, đối với nàng, cả cái khoảng rộng đã trở thành một cái vực ghê gớm, thăm thẳm khôn lường. Nàng thất thần, hơi thở ngừng lại mà nhìn xuống phía dưới, khi tôi mới gạn thử nàng là ngồi vào xe trượt băng, và có chỉ là đáng phải ngại ngùng nếu nàng dám mạnh dạn mà lao xuống vực. Nàng sẽ chết mất, nàng phát cuồng mất! Tôi nói:

- Anh van em đi! Không nên sợ sệt! Em phải biết rằng như thế là bạc nhược, là nhút nhát.

Sau cùng nàng cũng chiều theo và trông diện sắc nàng, tôi biết nàng đã làm theo với nỗi e ngại cho tính mệnh. Tôi đặt nàng ngồi vào xe trượt băng, nàng tái mét, run lẩy bẩy, tôi ôm nàng ngang lưng và cùng nhau đổ xuống vực thẳm.

Chiếc xe trượt băng vèo bay như một phát đạn. Khoảng không khí mà chúng tôi xẻ đôi ra đã quất mạnh vào mặt, tru tréo lên, kêu vo vo bên tai, làm nóng da mặt lên, véo mạnh, như muốn ngứt đầu văng ra khỏi đôi vai. áp lực của gió chặn thở. Người ta tưởng như ma quỷ hiện hình tóm lấy hai đứa tôi và gào thé lôi chúng tôi xuống địa ngục. Mọi vật chung quanh tan nhòa thành một vệt dài tẩu thoát cực kỳ nhanh... Thêm một chút nữa thôi, tôi cho rằng hai đứa tôi sẽ hết sống. Tôi cất tiếng khẽ khàng:

- Na ơi, anh yêu em!

Xe trượt băng bắt đầu chậm lại, tiếng rú của gió và tiếng nghiến của đế xe trượt đã đỡ rợn, hơi thở đã đỡ nghẹt, và rốt cục, chúng tôi đã xuống tới nơi. Na sợ khiếp vía tưởng chết được. Nàng tái đi, hơi thở thoi thóp... Tôi đỡ nàng dậy.

- Không đời nào, tôi làm lại nữa, nàng vừa nói vừa nhìn tôi với đôi mắt to đầy kinh hãi. Không khi nào! Tôi hút chết!

Chừng một lúc, nàng hồi lại và trở lại nhìn thẳng vào mắt tôi với cái vẻ dò xét: có phải đích là tôi đã nói lên năm cái tiếng kia hay chỉ là nàng ngờ ngợ bắt nghe được trong cơn cuồng lốc nó rú lên? Tôi, tôi thẳng mình, đứng cạnh nàng, tôi hút thuốc lá và ngắm nghía chiếc bít tất tay một cách chăm chú.

Nàng khoác tay tôi và chúng tôi nhẩn nha hồi lâu quanh đồi tuyết. Thật là hiển nhiên, điều bí ẩn đã làm nàng mất sự yên ổn. Những tiếng phát thanh ra đó là có hay là không có? Có, hay là không? Có, hay không? Đây là một vấn đề của tự ái, của danh dự, của đời sống, của hạnh phúc, một vấn đề rất nghiêm trọng, nghiêm trọng nhất đời. Nàng tia sang tôi những cái liếc mắt bồn chồn, rỉ rầu, những cái nhìn xoi mói, nàng tránh câu hỏi, trông chờ tôi nói lên. Chà! Thật là đầy ý vị, cái khuôn mặt xinh xắn duyên dáng ấy thật là ý nhị! Tôi biết mà, nàng đấu tranh với nàng, nàng thấy cần phải nói, nàng có một câu hỏi muốn đặt ra nhưng mà nàng không tìm được ra chữ, nàng lúng túng, nàng sợ, nỗi vui làm nàng mất tự nhiên...

Nàng nói, không nhìn tôi:

- Anh biết đấy chứ?

- Gì vậy? - tôi hỏi.

- Này... ta lại lao dốc nữa đi.

Chúng tôi leo cấp thang lên tới đỉnh đồi. Lần nữa, tôi đặt Na tái mét lẩy bẩy lên xe trượt băng, lần nữa, chúng tôi lao xuống cái vực hãi hùng, lần nữa gió lại rống lên và đế xe trượt lại nghiến lên và, giữa lúc chúng tôi đổ xuống loang loáng trong tiếng sấm sét, lần nữa, tôi lại bỏ nhỏ:

- Na ơi, anh yêu em!

Lúc xe trượt băng ngừng lại, tầm mắt nàng ôm lấy cả khu đồi tuyết chúng tôi vừa băng qua, rồi nàng dò la nét mặt tôi rất lâu, nghe ngóng cái giọng dửng dưng và lạnh lùng của tôi, và tất cả người nàng, tất cả, kể cả cái mũ lông trùm đầu và cái ống bao tay, tất cả người nàng lộ ra một vẻ ngần ngừ đến cao độ. Và người ta như đọc thấy trên mặt nàng:

- Cái gì đã xảy ra thế hở? Ai đã nói lên những tiếng gọi đó? Chàng, hoặc chỉ là ta chiêm bao thôi?

Nỗi bán tín bán nghi ấy hành hạ nàng, làm nàng mất kiên tâm. Hỏi gì cô gái tội nghiệp đều không trả lời, trở nên nhăn nhó, chỉ còn thiếu khóc. Tôi bảo:

- Hay là ta đi về?

- Ô! Tôi... tôi, tôi thích xe trượt băng, nàng đỏ mặt mà nói. Hay là ta lại lao dốc một lần nữa?

Cái xe trượt băng “hợp ý” nàng, nhưng cũng như những lượt trước, mỗi khi nàng ngồi vào xe, nàng vẫn nhợt tái đi, thoi thóp vì sợ hãi, run cầm cập.

Hai đứa tôi lao dốc lần thứ ba, và tôi thấy Na nhìn đau đáu vào mặt tôi và theo dõi đôi môi tôi. Nhưng tôi lấy mùi-xoa để lên môi tôi, đằng hắng, và lúc chúng tôi tới lưng chừng dốc, tôi cố nói lên được:

- Na ơi, anh yêu em!

Và sự bí ẩn vẫn là bí ẩn! Na lặng lẽ, nghĩ miên man... Tôi đưa nàng từ con đường dốc về nhà nàng, nàng cố ghìm bước đi, kéo lê bước chân và luôn luôn tự hỏi xem tôi có buột miệng mà nói ra không.

Tôi hiểu nàng đau khổ trong tâm khảm, nàng phải cố dằn lòng để khỏi phải thốt ra:

- Cái này không thể do trận gió nói lên được như vậy; và tôi không bằng lòng cho dù chỉ là trận gió!

Hôm sau, tôi nhận được mảnh thư: “Nếu anh chơi xe trượt băng hôm nay, anh đến rủ tôi. N.” Và từ đó, tôi hằng ngày cùng nàng chơi xe trượt băng, và giữa lúc lao dốc, mỗi lần tôi đều nhắc lại vẫn bấy nhiêu tiếng:

- Na ơi, anh yêu em!

Chẳng bao lâu nữa, nàng nhiễm phải câu nói ấy, cũng như người ta nại tính đối với tinh thuốc phiện. Nàng không thể sống mà thiếu được cái thói quen ấy. Thực ra, lao dốc bằng xe trượt băng, nàng vẫn run sợ như trước đây, nhưng bây giờ sợ hãi và lộng hiểm làm tăng thêm hứng thú cho những lời yêu thương, những lời mà trước đây, đã cấu thành một điều bí ẩn, và đã làm rầu héo tâm tư nàng. Nhưng mối ngờ vẫn hướng mãi vào hai nhân và vật ấy: trận gió và tôi... Ai đây trong hai thứ nọ sẽ thú thực tình yêu với nàng, nào nàng có hay, nhưng, cứ bề ngoài mà xét, thì với nàng, điều ấy cũng chẳng có gì đáng bận tâm: có thể chỉ cái bình đựng, cốt sao say được mà thôi!

Một hôm, vào quãng trưa, tôi đi trượt băng một mình; lẫn vào đám đông, tôi nom thấy Na đi gần lại đồi tuyết và đưa mắt ra ngóng tìm tôi... Rồi nàng rụt rè bước lên cấp thang. Sợ thật, lao dốc một mình, chà, dễ sợ thật! Nàng trắng toát như tuyết, nàng run, người ta tưởng đâu như nàng bước ra pháp trường, nhưng với biết bao kiên quyết, nàng đi lên không chút quay nhìn lại. Rõ quá, nàng, rốt cục, đã nhất định thể nghiệm để xem xem: cái lúc mà tôi không có ở đấy, rồi nàng có còn nghe thấy nữa không những chữ êm đềm kỳ diệu? Tôi thấy nàng ngồi lên xe trượt băng, người tái đi, miệng phá ra nỗi sợ hãi, mắt nhắm lại, và lao xuống, sau khi vĩnh biệt trái đất... Rít rít rít... để xe trượt nghiến kêu lên. Nàng có nghe thấy những tiếng gọi không? Tôi không rõ... Tôi chỉ thấy nàng đứng vươn lên khỏi xe trượt, mệt lử, kiệt sức. Nhìn mặt nàng, người ta cũng đoán ngay rằng chính nàng cũng không rõ là có nghe thấy hay không nghe thấy một điều gì. Nỗi khiếp sợ trong cơn lao dốc làm cho nàng mất mất cái năng khiếu nghe ngóng, phân biệt âm thanh, và hiểu biết...

Nhưng đây rồi tháng ba, cái tháng của mùa xuân... Mặt trời trở nên vồn vã hơn. Núi tuyết của hai đứa tôi xẫm lại, mất màu chói sáng, và sau cùng, tan chảy. Hết rồi những cuộc chơi xe trượt băng. Không còn đâu nữa những nơi để cô Na tội nghiệp nghe những tiếng gọi, không còn ai nữa để nói lên những lời gọi ấy, bởi cái lẽ rằng làn gió vốn kín tiếng và tôi thì rồi sẽ đi Xanh Pê-téc-bua thật lâu, có thể là bứt hẳn nơi đây.

Một lần, trước lúc tôi lên đường, ấy là trước hai ngày chi đó, tôi ngồi trong chiều tà giữa khu vườn nhà tôi cách nhà Na một hàng giậu cao lởm chởm ngọn rào... Trời còn lành lạnh, dưới chân đống phân ủ vẫn còn tuyết, cây cối chết còi, nhưng mà tất cả đã chớm bốc lên cái mùi mùa xuân, và những con quạ tìm ngủ đã kêu lên quang quác. Tôi men gần lại phía hàng rào và nhìn một hồi lâu qua khe rào. Tôi thấy Na ra đứng ở bực thềm và ngẩng đưa lên trời cặp mắt ủ rầu khổ não... Như roi da, gió xuân quất mạnh vào khuôn mặt nàng xám bệch võ vàng. Gió gợi nhắc lại với nàng cái thứ gió gào bên tai trên núi mỗi lần nghe thấy năm tiếng gọi, và mặt nàng đượm một vẻ buồn, buồn thật, một giọt nước mắt sa theo gò má... Cô gái tội nghiệp rướn đôi cánh tay lên như là khẩn cầu trận gió hãy đem những lời gọi tới cho mình một lần nữa. Thế rồi tôi, rình chờ một cơn gió thoảng, tôi nói nhè nhẹ:

- Na ơi, anh yêu em!

Trời ơi, cái gì đã vụt xảy đến cho Na? Nàng rú lên một tiếng, một nụ cười hẩng sáng khuôn mặt hân hoan, hả hê, đắm lòng!

Tôi, tôi vào sửa soạn hành trang...

Chuyện này kể ra cũng đã lâu ngày! Na, bây giờ đã là người lập gia đình: người ta gả chồng cho nàng, hay là nàng đã tự nguyện làm vợ một thầy ký văn thư ở phòng hộ khẩu đám quý tộc, cái đó cũng không hề chi, và nàng đã có được ba con. Nàng không quên được cái thời mà hai đứa tôi cùng nhau chơi xe trượt băng, cái thời mà làn gió đã đưa tới cho nàng năm tiếng gọi: “Na ơi, anh yêu em!”; với Na, giờ đây, đó là cái kỷ niệm vui sướng nhất, thống thiết nhất, đẹp sáng nhất trong đời nàng...

Còn tôi, bây giờ đã đứng tuổi, tôi không hiểu tại sao tôi đã thốt ra những tiếng gọi ấy, tại sao tôi đã cười cợt được với việc hú tim ấy.
Thu Muộn
26-06-05, 18:54
Bạn này có nhiều truyện xuất sắc hơn, nhưng truyện này chắc là duyên dáng nhất, hợp với gái nhất mà lại nhẹ nhàng. Không buồn.



Buổi sáng đẹp trời tháng tư gặp một em gái hoàn hảo 100%
Murakami, Haruki

Một buổi sáng đẹp trời tháng tư, trên một con đường hẹp ở khu phố Harujuku sang trọng gần Tokyo, tôi đã đi ngang qua một em gái hoàn hảo 100%.

Phải nói thực là nàng chẳng ưa nhìn chút nào. Nàng chẳng nổi bật về bất cứ phương diện gì. Quần áo nàng chẳng có gì đặc biệt. Sau lưng nàng, tóc vẫn chưa quấn lại gọn gàng, như thể mới ngủ dậy. Nàng cũng không còn trẻ, chắc cũng gần ba mươi, nói chính xác là nàng không còn thích hợp với từ “cô gái” nữa. Nhưng từ xa năm mươi thước, tôi biết nàng là cô gái hoàn hảo 100% đối với mình. Khoảnh khắc nhìn nàng, con tim tôi quay cuồng và miệng tôi khô cằn như sa mạc.

Có lẽ bạn có những mẫu người con gái đặc biệt cho riêng mình - người có mắt cá chân mỏng manh, mắt bồ câu hay những ngón tay thanh tú, và bạn bị quyến rũ theo những người con gái luôn dành thời gian để chuẩn bị từng bữa ăn. Dĩ nhiên tôi cũng có ý thích riêng của mình. Đôi khi trong nhà hàng, tôi nhận thấy mình đang nhìn một cô gái bàn kế bên vì tôi thích dáng mũi cô ta.

Nhưng không ai có thể đảm bảo rằng cô gái hoàn hảo 100% của mình có thể đáp ứng với mẫu người đã được hình dung nào đó. Càng thích cái mũi của các nàng bao nhiêu, tôi càng không thể nhớ hình dáng các nàng như thế nào. Dù chỉ một nàng thôi thì cũng thế. Mọi điều tôi nhớ được là nàng không có một vẻ đẹp gì tuyệt vời. Thật là kỳ lạ.

Tôi sẽ bảo với một ai đó: “Hôm qua mình đã lướt qua một nàng hoàn hảo 100% trên đường đi đấy”.

“Thế hả?”, anh ta nói. “Có dễ thương không?”

“Thực sự là không.”

“Thế đó là mẫu người anh thích à?”

“Tôi chẳng biết. Dường như tôi không thể nhớ bất cứ điều gì về nàng ta - kiểu mắt của nàng hay kích cỡ bộ ngực cũng thế”.

“Lạ thật đấy”.

“Vâng, đúng là lạ thật”.

“Dù sao đi nữa, anh đã làm gì, có bắt chuyện với nàng không? Có đi theo nàng ta không?”, anh ta sẽ nói với vẻ chán chường.

“Không. Chỉ lướt qua nàng ta trên đường đi thôi”

Nàng đi từ đông sang tây, và tôi đi từ tây sang đông. Đó là một buổi sáng tháng tư tuyệt đẹp.

Giá như tôi có thể bắt chuyện với nàng. Nửa tiếng cũng đã là nhiều. Chỉ hỏi về bản thân nàng, và nói với nàng về bản thân tôi. Và nếu như tôi thực sự thích thú, tôi sẽ giải thích với nàng về sự run rủi của định mệnh đã đưa đẩy chúng tôi lướt qua nhau trên một con đường ở khu phố Harajuku vào buổi sáng tháng tư tuyệt đẹp năm 1981. Chắc chắn đó là một cái gì đầy những bí mật ấm cúng, như một cái đồng hồ cổ xưa được tạo thành khi hòa bình bao trùm thế giới.

Sau khi nói chuyện, chúng tôi có thể dùng bữa ở đâu đó, có thể đi xem một bộ phim của Woody Allen, dừng chân uống cocktails trong một quán bar khách sạn. Và nếu có chút may mắn, chúng tôi sẽ dìu nhau lên giường.

Những khả năng tiềm ẩn gõ vào cánh cửa tim tôi.

Bây giờ khoảng cách giữa chúng tôi thu hẹp lại còn 15 thước.

Làm thế nào tôi có thể tiếp cận nàng? Tôi sẽ nói gì với nàng đây?

“Chào cô. Cô có rảnh rang dành khoảng nửa tiếng cho một cuộc đối thoại nhỏ không?”

Quá lố lăng. Nghe như thể ngôn từ của người bán hợp đồng bảo hiểm.

“Xin lỗi cô. Cô biết có cửa hàng giặt ủi làm việc thâu đêm ở gần đây không?”

Không, như thế cũng lố lăng quá. Tôi chẳng mang theo bộ quần áo để giặt ủi nào. Ai lại đi dựng chuyện như thế?

Có lẽ tôi sẽ nói với nàng một sự thật giản đơn: “Chào em. Em là người con gái hoàn hảo 100% đối với tôi”.

Không, nàng sẽ chẳng tin đâu. Và giả sử nàng có tin, nàng cũng chẳng muốn nói chuyện với tôi. Nàng có thể nói. “Xin lỗi, tôi có thể là một cô gái hoàn hảo 100% đối với anh nhưng anh không phải là chàng trai hoàn hảo 100% đối với tôi”. Điều này có thể xảy ra chứ. Và nếu rơi vào tình huống đó, chắc chắn tôi sẽ tan nát. Tôi chẳng bao giờ phục hồi được sau cú sốc đó. Tôi đã ba mươi hai tuổi rồi, và trên tuổi đó tất cả đều ở đằng sau.

Chúng tôi đi qua nhau trước một tiệm hoa. Một vùng không khí nhỏ bé ấm áp chạm vào thịt da tôi. Nhựa đường ẩm ướt. Tôi bắt gặp một làn hương hoa hồng. Tôi không thể cất lời với nàng. Nàng mặc áo len dài tay màu trắng, tay phải cầm một phong thư sặc sỡ chỉ thiếu mỗi con tem. Đây là bức thư nàng viết cho ai đó. Có lẽ nàng đã mất trọn một đêm để trao gửi tâm tư vào trang giấy trắng nên trông mắt nàng hiện lên những tia nhìn ngái ngủ. Chiếc phong thư còn có thể ẩn giấu những bí mật mà nàng từng trải qua.

Tôi sải chân vài bước và rẽ sang hướng khác. Nàng mất hút trong đám đông.

Dĩ nhiên là giờ đây tôi biết chính xác điều mình sẽ nói với nàng ta. Đó sẽ là một bài diễn văn dài. Đủ dài cho tôi có thể giãi bày tâm tư mình một cách thích đáng. Những ý tưởng đến với tôi chẳng bao giờ thực tế cả.

Ôi trời ơi, đáng lẽ câu chuyện nên bắt đầu là “ngày xửa ngày xưa” và kết thúc là “một câu chuyện buồn đấy chứ. Bạn có nghĩ thế không?”

Ngày xửa ngày xưa, có một chàng trai và một cô gái. Chàng trai mười tám tuổi còn nàng đôi tám trăng tròn. Chàng chẳng đẹp trai gì đặc biệt, nàng cũng chẳng phải kiêu sa. Hai người đơn giản chỉ là một chàng trai bình thường cô đơn và một em gái bình thường đơn côi, giống như tất cả những người khác. Nhưng từ sâu thẳm tim mình, họ vẫn tin là ở một nơi nào trên thế giới có một chàng trai hoàn hảo 100% và một cô gái hoàn hảo 100% dành cho họ. Vâng, họ tin vào điều kỳ diệu. Và điều kỳ diệu đó thực sự đã xảy ra.

Một ngày hai người vô tình bắt gặp nhau ở một góc đường.

“Thật là kinh ngạc,” chàng trai nói. “Anh đã tìm kiếm em cả đời. Em có thể không tin, nhưng em là người con gái hoàn hảo 100% đối với anh đấy”.

“Và anh, anh là chàng trai hoàn hảo 100% với em đấy,” nàng tiếp lời, “chính xác như em đã hình dung ra đến từng chi tiết. Thật là như một giấc mơ”.

Họ ngồi trên một chiếc ghế đá công viên, nắm tay nhau, kể cho nhau những câu chuyện của mình giờ này qua giờ khác. Hai người không còn cô đơn nữa. Họ đã khởi sự kiếm tìm và đã tìm được một nửa kia của mình hoàn hảo 100%. Đó là một sự diệu kỳ. Một sự diệu kỳ của vũ trụ.

Tuy nhiên, khi họ ngồi bên nhau và nói chuyện, từng mảnh vỡ nghi ngờ bắt rễ trong tim họ. Phải chăng thật sự giấc mơ của mình lại trở thành hiện thực một cách dễ dàng như thế?

Và trong khoảnh khắc ngắn ngủi lăng im giữa cuộc trò chuyện, chàng trai nói với cô gái: “Chúng ta hãy thử một lần nữa. Nếu quả thật chúng ta là người tình hoàn hảo của nhau, thì nhất định chúng ta sẽ gặp lại nhau vào một lúc nào đó, ở một nơi nào đó. Và khi điều đó xảy ra, chúng ta biết chắc mình là một nửa kia của nhau và sẽ cưới nhau ngay lúc ấy. Em nghĩ thế nào?”

“Vâng,” nàng nói. “Chúng ta sẽ làm đúng như thế”.

Và họ chia tay nhau. Nàng đi về hướng đông, còn chàng về hướng tây.

Tuy nhiên, cuộc thử nghiệm mà hai người thỏa thuận là hoàn toàn không cần thiết. Họ sẽ chẳng bao giờ có thể thực hiện được. Bởi vì họ thật sự đúng là một nửa kia hoàn hảo 100% của nhau và quả là một điều kỳ diệu nếu như họ đã gặp được nhau. Nhưng họ không thể biết điều đó, bởi họ còn quá trẻ. Những con sóng lạnh giá vô tâm của định mệnh vẫn theo đuổi để quăng ném họ không thương tiếc.

Vào một mùa đông, cả chàng trai và cô gái gặp một cơn bệnh cúm dữ dội, và sau mấy tuần trôi vật vờ giữa sự sống và cái chết, hai người đã mất sạch những ký ức đẹp đẽ thuở đầu. Khi thức dậy, họ thấy đầu mình trống rỗng như con heo đất của chàng D.H. Laurence trẻ tuổi.

Tuy nhiên, họ là những người trẻ tuổi sáng láng và kiên định, và với những nỗ lực không ngừng nghỉ, họ đã giành giật lại được cái kiến thức và cảm giác khiến họ lại có thể trở thành những thành viên đầy đủ tư cách của xã hội. Nhờ trờ phù hộ, hai người đã thật sự trở thành những công dân trung thực biết cách di chuyển từ tuyến xe điện ngầm này sang tuyến khác và đủ khả năng để gửi một bức thư chuyển phát nhanh ở bưu điện. Trên thực tế, hai người còn thử yêu đương trở lại và nhiều khi đạt đến tình yêu ở mức 75% hay thậm chí 85%.

Thời gian trôi nhanh không ngờ. Chẳng bao lâu sau, chàng trai đã 32 tuổi còn nàng cũng ba mươi cái xuân xanh.

Một buổi sáng đẹp trời tháng tư, sau khi dùng một tách cà phê khởi đầu ngày mới, chàng trai rảo bước từ tây sang đông. Trong lúc ấy, nàng định gửi một lá thư chuyển phát nhanh, rảo bước từ đông sang tây. Nhưng trên cùng một con đường nhỏ ở khu Harajuku gần Tokyo, họ lướt qua nhau ở giữa con đường. Những tia sáng yếu ớt nhất của ký ức đã mất chập chờn vài giây ngắn ngủi ánh chiếu vào tim họ. Mỗi người đều cảm thấy con tim quay cuồng. Và họ biết:

Nàng là cô gái hoàn hảo 100% cho tôi.

Chàng là người trai hoàn hảo 100% cho tôi.

Nhưng ánh sáng của vùng trí nhớ quá xa xôi và yếu ớt, và tư tưởng họ chẳng bao lâu sau lại trong sáng như hồi mười bốn tuổi. Không nói một lời, họ lướt qua nhau, biến mất vào đám đông. Vĩnh viễn.

Một câu chuyện buồn. Bạn có nghĩ thế không?

Vâng đúng vậy. Và đó chính là điều lẽ ra tôi nên nói với cô ta.
Delliah
26-06-05, 23:19
Hì, bác Delilah không để ý em đề là truyện ngắn, cực xuất sắc của những nhà văn cực nổi tiếng :D

Em biết í bác. Cơ mà tại em thấy chuyện đấy post cho anh em TL đọc cực hợp. Bọn nó toàn lũ đi lắm, đọc nhiều, kiếm tiền lắm rồi về phũ với Oshin đã đành, lại dám phũ cả với gái như em mí bác ra gì, giống thế này này: :hitrun:

Thôi em bù cho bác chuyện này:

Tác phẩm thi vị có thể hiểu và hiểu lầm trong nhiều cách . Trong hầu hết các trường hợp thì tác giả không có cái quyền uy thích đáng để quyết định nơi nào độc giả thôi hiểu biết và hiểu lầm khởi đầu . Nhiều tác giả đã nhận ra những độc giả mà đối với họ thì hình như tác phẩm của ông ta phân minh hơn chính ông ta nhận thấy . Tuy nhiên , sự hiểu lầm có thể là do kết quả ở dưới những hoàn cảnh nhất định nào đó .
Song trong tất cả các tác phẩm của tôi thì hình như Sói Đồng Hoang là một tác phẩm thường bị hiểu lầm dữ dội hơn bất cứ tác phẩm nào khác mà mới đây sự hiểu lầm ấy là sự xác định có thực và thuộc về số độc giả nhiệt thành , hơn là thuộc về những kẻ phủ nhận cuốn sách , kẻ đã phản ứng lại nó một cách kỳ dị . Một phần , nhưng chỉ một phần thôi , điều này có thể xuất hiện thật thường xuyên bởi cái lý do của sự thật của quyển sách này , được viết khi tôi đã năm mươi tuổi đời và liên quan tới , như nó là thế , với những vấn đề của tuổi tác đó , thường thường lại rơi vào tay những độc giả rất trẻ .
Nhưng giữa những độc giả của cỡ tuổi tôi , tôi cũng lại rằng tôi đã nhận thấy một số - mặc dù họ đã cảm kích bởi tác phẩm - đủ lạ lùng sao là họ chỉ nhận thức được có phân nữa những gì mà tôi muốn nói ra thôi . Những độc giả này đối với tôi , hỉnh như đã tự nhận ra họ trong Sói Đồng Hoang , đã tự đồng hóa họ với hắn , và đã mộng những giấc mộng của hắn . Song họ đã bỏ qua các sự kiện mà tác phẩm này biết đến và nói đến những điều khác nữa bên cạnh Harry Haller và những khó khăn của hắn , về một thế giới thứ hai , cao cả hơn , không thể hủy diệt được , vượt quá Sói Đồng Hoang và cái cuộc sống mơ hồ của hắn . Phần " Luận về Sói Đồng Hoang " và hết thảy những dấu vết nọ trong tác phẩm liên quan với những vấn đề của tinh thần , của nghệ thuật và những con người " bất tử " chống lại cái thế giới khốn khổ với một niềm tin khẳng quyết , điềm tỉnh , cá nhân phi phàm và cái thế giới phi thời gian của Sói Đồng Hoang . Tác phẩm này , không ngờ gì nữa , kể lại những nỗi thống khổ và những điều tất yếu ; vẫn không phải là một tác phẩm của con người thất vọng , nhưng của con người tin tưởng .
Dĩ nhiên , tôi cũng chẳng thể có ý định nói với các độc giả của tôi họ phải làm thế nào để hiểu biết câu chuyện kể của tôi . Có thể là mỗi người tìm thấy trong đó những gì đánh lên một hòa âm trong con người họ và có thể có một vài hữu ích cho họ ! Nhưng tôi sẽ sung sướng nếu có nhiều người trong bọn họ nhận ra rằng câu chuyện Sói Đồng Hoang phác họa ra một bệnh trạng và khủng hoảng - nhưng không phải dẫn đến cái chết và hủy hoại , mà trái lại : dẫn đến chữa trị .
HERMANN HESS

--------------

Sách này gồm những di bút của người được chúng tôi đặt cho biệt danh mà chính ông cũng thường dùng để tự gọi mình : con Sói Đồng Hoang . Có cần đôi lời giới thiệu tập thủ bút này chăng ? Về phần tôi , tôi nhận thấy cần thêm vào câu chuyện Sói Đồng Hoang này một vài trang trong đó tôi sẽ cố ghi lại những hoài niệm tôi còn lưu giữ được về ông . Tôi biết rõ là mớ hoài niệm này thật quá ít ỏi , càng ít ỏi hơn nữa khi tôi hoàn toàn mù tịt về lai lịch cùng toàn thể dĩ vãng của ông . Nhưng nhân cách ông đã để lại trong tôi một ấn tích sâu đậm mà dù sao chăng nữa , phải bảo là dễ mến .
Con Sói Đồng Hoang là một người vào trạc ngũ tuần khi ông đến nhà bà cô tôi để hỏi thuê một căn phòng cùng với đồ đạc cách đây vài năm . Ông thuê một căn gác xép và cái phòng ngủ nhỏ bên cạnh . Vài hôm sau ông trở lại với hai chiếc vali và một thùng lớn chứa đầy sách . Ông sống yên lặng rất ẩn dật cô tịch và giá không có những cuộc gặp gỡ trong thang gác hay hành lang vì phòng hai người nằm liền bên thì có lẽ chúng tôi không bao giờ quen biết nhau . Ông không phải là người dễ làm quen . Trái lại , ông ít giao thiệp đến độ tôi chưa thấy ai như thế bao giờ ; ông đúng là một con Sói Đồng Hoang như có đôi lần ông bảo : vẻ xa lánh , tàn bạo , yếm thế , sợ sệt , kinh hãi nữa là khác ; ông thuộc về một thế giới không phải thế giới của tôi . Do số mệnh và bản chất , ông đã lao mình vào một vực thẳm cô đơn lạnh người và ông đã ý thức cùng chấp nhận tình trạng đó một cách tuyệt diệu ngần nào ! Sự đơn độc dường như là điều kiện thiết yếu của đời ông . Điều đó tôi chỉ biết rõ về sau này nhờ những lưu bút để lại đây khi ông bỏ đi . Nhưng thưở ấy nhờ nhiều cuộc gặp gỡ và chuyện trò tôi cũng đã biết đôi phần về ông và hình ảnh của ông do những lưu bút gợi lại cũng phù hợp với hình ảnh gợi nên trong trí tôi do những mối liên lạc giữa hai người ; dĩ nhiên là hình ảnh trước kém linh động , kém hoàn hảo hơn loại hình ảnh sau này nhiều .
Delliah
26-06-05, 23:21
Tình cờ , tôi có mặt tại chỗ lúc nào con Sói Đồng Hoang đến nhà chúng tôi đầu tiên rồi trở thành khách trọ của bà cô tôi . Ông ta đến vào giờ ăn trưa , bàn ăn chưa kịp dẹp , và tôi còn rảnh nữa giờ trước khi đến sở . Tôi không quên được ấn tượng đặc biệt , có tính cách lập lờ nước đôi về buổi đầu gặp gỡ . Ông đi vào bằng lối cửa gương sau khi đã dừng lại kéo chuông trên ngưỡng cửa và có tôi , lúc đó đang ở trong hành lang mờ tối , lên tiếng hỏi xem ông cần gì . Ông ta - con Sói Đồng Hoang ngẩng cao chiếc đầu nhọn tóc ngắn lởm chởm lên , đánh hơi thăm do một cách bồn chồn nóng nảy trong không khí rồi buộc miệng trước cả khi trả lời và xưng danh tánh :
" Ồ ! Ở đây thơm tho tinh khiết quá "
Nói xong , ông cười , và bà cô tôi cười theo . Riêng tôi , tôi thấy lời giáo đầu có phần lạ lẫm , và cảm thấy hơi khó chịu đối với ông .
" Thưa - ông trả lời , tôi đến hỏi thăm cái phòng cụ định cho thuê "

Tôi chỉ có thể quan sát ông gần hơn khi cả ba chúng tôi lên thang dẫn đến căn gác xép . Ông không cao lắm , nhưng lại có bộ đi và dáng đầu của một người cao lớn . Ông vận một chiếc áo khoác mùa đông , vừa vặn , hợp thời trang ; ông phục sức đúng điệu nhưng không cầu kỳ . Mặt cạo nhẵn và tóc hớt ngắn , lốm đốm hoa râm . Dáng đi của ông mới đầu làm tôi khó chịu , nó có vẻ gì là lúng ta lúng túng và bất quyết , không phù hợp chút nào với nét sắc sảo của khuôn mặt và âm điệu , khí chất của giọng nói . Chỉ về sau , tôi mới biết rằng ông bị bệnh và đi đứng đối với ông là một cố gắng mệt nhọc . Với một nụ cười đặc biệt , mà vào lúc đó lại cũng làm tôi khó chịu , ông chăm chú nhìn ngắm cầu thang , các bức tường , cửa sổ , chiếc tủ xưa ; mọi thứ dường như đều thích hợp đối với ông , nhưng đồng thời cũng làm cho ông muốn cười rộ lên . Con người đó như đến với chúng tôi từ một hành tinh khác , từ một miền hải ngoại xa xôi nào đó . Ông thấy tất cả mọi sự đều rất dễ mến , nhưng lại có vẻ hơi kỳ quặc . Ông cư xử lễ phép , thật thế , và còn khả ái nữa . Không kỳ kèo bàn cãi , ngay tức khắc ông ngỏ lời bằng lòng về căn nhà , về căn phòng , giá cả , tiền ăn sáng ; tuy nhiên , từ con người ông toát ra một bầu không khí lạ lẫm mà tôi thấy dường như đang bao phủ chung quanh ông một cách tàn ác . Ông thuê căn gác xép cùng cái phòng ngủ nho , hỏi thăm chi tiết về chuyện sưởi , nước , người hầu , nhà cửa , lắng nghe một cách chăm chú và tử tế , đưa tiền trước ngay , nhưng dầu vậy cùng lúc đó ông cũng lại có vẻ như đang tự cười nhạo , chế diễu chính mình , tựa hồ việc đi mướn nhà , tiếp chuyện và bàn bạc về nó là một điều mới lạ đối với ông , trong khi thực ra , từ phần thâm sâu nhất , tự trong nội tâm ông , ông đang bận bịu với một điều gì khác hẳn . Đó dường như là cảm tưởng đầu tiên của tôi , và cảm tưởng đó quả không tốt đẹp gì nếu như không có muôn ngàn nét nhỏ nhặt phản đối và sửa chữa lại . Ngay từ lúc đầu , khuôn mặt của ông đã chiếm ngự được lòng tôi , mặc dù cái vẻ xa vắng phảng phất : khuôn mặt tựa hồ mang nét kinh ngạc và u buồn , nhưng sáng suốt , trầm tư , linh hoạt và trí thức . Tôi cũng mến cái giọng nói khiêm nhu của ông . Gịong ông trau chuốt nhưng không có lẫn mảy may kênh kiệu . Trái lại , người ta cảm nhận ra nơi giọng nói ấy một ý hướng gần như để làm động lòng người , như thể một vẻ gì van lơn mà chỉ về sau tôi hiểu , nhưng ngay lúc đó , đã cuốn hút lấy tôi .

Trước khi cuộc viếng thăm nơi ăn chốn ở kết thúc và phần thương lượng xong xuôi , giờ ăn trưa đã qua và tôi phải trở lại văn phòng . Tôi cáo từ ông khách và để ông lại với bà cô . Chiều đến , khi về nhà , cô tôi bảo rằng ông ta đã thỏa thuận thuê phòng và sắp dọn đến , duy ông chỉ xin bà cô tôi một điều là đừng thông báo cho cảnh sát , viện lẽ , ốm yếu như ông làm sao chịu nỗi những thủ tục và những buổi chờ chực lâu lắc ở cửa quan ? Tôi nhớ rất rõ ràng sự cẩn thận ấy làm cho tôi lo lắng và tôi báo động cho bà cô không nên nhận lời ông khách lạ . Tôi thấy sự e ngại cảnh sát kia quá phù hợp với những vẻ quái dị lạ lùng , với vẻ xa vắng trong cách cư xử của ông , khiến tôi không khỏi sanh nghi . Tôi đã giải thích cho cô tôi rõ rằng , dầu viện bất cứ nguyên cớ nào , cô cũng không nên chấp nhận điều kiện đặc biệt đó đối với một người lạ mặt , vì trong vài trường hợp nó có thể gây ra những hậu quả không hay . Nhưng cô tôi đã hứa nhận ông ta rồi . Tóm lại , bà đã bị lôi cuốn và mê hoặc bởi người khách lạ . Vả lại , không bao giờ cô tôi thu nhận khách trọ mà lại không duy trì với họ những liên hệ đầy tình người , thân mật , bằng hữu hay nói cho cùng , những liên hệ như tình mẹ đối với con , điều mà hơn một người khách trọ trước đây đã không quên lợi dụng . Thế nên trong suốt mấy tuần đầu , tôi đã nhiều phen chỉ trích người khách trọ mới , trong khi mỗi lần như vậy , cô tôi lại nồng nhiệt bênh vực ông ta .
Delliah
26-06-05, 23:28
Chuyện dính líu tới cảnh sát đó khó làm cho tôi hài lòng , nhưng ít ra tôi cũng biết những điều mà cô tôi biết được về ông khách , liên quan đến lai lịch cùng những dự tính của ông . Mặc dù trưa đó , sau khi tôi cáo biệt , ông chỉ ở lại có một lúc ngắn , cô tôi cũng đã biết được đôi điều về ông . Ông nói với cô tôi ông định lưu lại vài tháng trong thành phố , lui tới các thư viện để khảo cứu những vấn đề thời cổ . Tình thực , cô tôi không muốn cho thuê phòng trong một thời gian quá ngắn như thế . Nhưng ông khách đã làm cô tôi xiêu lòng mất rồi , mặc dù cái vẻ bề ngoài của ông làm ta ngạc nhiên khó chịu . Nói tóm lại , căn phòng đã cho thuê , và những lời phản đối của tôi đến quá muộn .

" Tại sao ông ấy lại bảo rằng ở đây thơm tho tinh khiết chứ ? " , tôi hỏi
Cô tôi , vốn đôi khi cũng linh mẫn tinh ý , liền trả lời :
" Chuyện ấy thì cô hiểu lắm . Trong nhà ta có tỏa ra một vẻ gì ngăn nắp , sạch sẽ , một cuộc sống lành mạnh và thích nghi . Đó là điều làm cho ổng hài lòng . Dường như ổng không còn quen thuộc với những thứ đó nữa , và ổng thấy thiếu thốn "
Phải rồi , đúng thế , tôi nghĩ . Nhưng rồi , tôi nói - nếu ổng không còn quen thuộc với một đời sống thích nghi và có tổ chức , trật tự hẳn hoi , thì chuyện gì sẽ xảy ra đây ? Cô sẽ làm sao nếu ông bê bối và bôi bẩn hết mọi thứ , nếu ông say sưa bí tỉ rồi trở về nhà vào những giờ khuya khoắc .
" Để rồi xem " . Bà cô tôi vừa cười vừa nói , và tôi để yên cho bà về mặt đó .
Qủa vậy , những lo ngại của tôi trở thành vô căn cứ . Người khách trọ ấy , mặc dù không bao giờ sống cuộc đời hợp lí , thứ tự , ngăn nắp cả , nhưng lại chẳng làm phiền hại cũng không quấy rầy gì đến chúng tôi . Ngay cả hôm nay , chúng tôi còn nghĩ đến ông trong sự vui lòng . Tuy nhiên , người đàn ông nọ đã phiền rầy , quấy nhiễu tận cùng ý thức và thâm tâm của hai người chúng tôi - bà cô tôi và tôi . Và thật ra , mãi cho đến giờ , tôi vẫn còn chưa dứt nợ hẳn với ông . Ban đêm , đôi lần tôi nằm mơ thấy ông ta hiện ra ; trong tận cùng sâu thẳm tâm hồn , tôi cảm nghiệm một nỗi âu lo và xao xuyến chỉ vì sự kiện rằng từng có một con người như vậy , dù người đó đã hầu như trở thành thân thiết quá đối với tôi .

Hai ngày sau , người tài xế đưa lên những chiếc vali của người khách lạ , tên là Harry Haller . Một chiếc vali bằng da rất đẹp gây cho tôi cảm tưởng tốt , ngoài ra còn một vali lớn , phẳng mặt tựa hồ là chứng tích của những cuộc viễn du ; ít ra tôi cũng đoán được điều đó nhờ nó được dán đầy nhãn hiệu khách sạn và những hiệp hội du lịch của các nước khác nhau , cả đến những nước bên kia đại dương .
Rồi ông khách xuất hiện - và tôi khởi sự bước vào sự quen biết con người kỳ lạ đó . Thoạt tiên , tôi chẳng biết gì khả dĩ giúp tôi đi đến chỗ quen biết . Mặc dầu ông đã làm tôi chú tâm lưu ý ngay từ khi sơ kiến , tôi vẫn không hề cố gắng chút nào để gặp gỡ hay bắt chuyện với ông suốt trong những tuần lễ đầu tiên . Bù lại , tôi xin thú nhận là đã theo dõi ông ngay từ đầu . Đôi khi , nhằm lúc ông vắng mặt , tôi đã lẻn vào phòng ông ; nói tóm lại là vì tò mò , tôi đã rình dò lục soát chút đỉnh .
Tôi đã đưa ra vài chỉ dẫn về diện mạo của con Sói Đồng Hoang . Thoạt nhìn , ông đã gây ngay cho người khác mối thâm tín rằng ông là một người đáng chú ý , hiếm hoi và giàu thiên bẩm ; khuôn mặt ông đầy vẻ trí thức , vẻ linh động không cùng của những nét mặt biểu lộ rõ một cuộc sống nội tâm phong phú , sinh động , cực kỳ tế nhị và nhạy cảm . Trong cuộc đàm luận , một khi ông rời bỏ thứ ngôn ngữ bình thường , ước định - điều hiếm khi xảy ra - , một khi ông từ bỏ thái độ xa vắng , để mặc cho những ý kiến riêng tư tuôn trào , những ý kiến đặc biệt của riêng ông , thời lập tức ông khuất phục được chúng tôi ngay . Dáng điệu trầm mặc hơn bất cứ người nào tôi được biết , mỗi khi bàn luận đến những đề tài trí thức , ông có cái vẻ tự chủ gần như lạnh lùng của những người chỉ còn cần đến những sự kiện , những người đã suy tư và hiểu biết , thái độ chỉ duy những người trí thức thực sự mới có thể được như vậy ; những người không hề nghĩ đến cả chuyện thuyết phục kẻ khác theo ý kiến mình , dành lẽ phải và phần thốt lời tối hậu cho mình .

Tôi còn nhớ một trong những lời phê phán của ông - thật ra , đấy phải chăng là một lời phê phán ? Vì nó chỉ gồm trong một nét nhìn . Lúc đó vào khoảng cuối thời gian ông lưu trú nơi đây . Một nhà phê bình danh tiếng , vừa là một triết gia và sử gia , nổi danh khắp Âu Châu , đến diễn thuyết tại tỉnh nhà , và tôi đã thành công trong việc rủ được con Sói Đồng Hoang đi cùng , vì thoạt đầu , ông chẳng hề mảy may muốn dự . Chúng tôi ngồi cạnh nhau . Khi thuyết trình viên đăng đàn , bắt đầu bài diễn thuyết , ông ta đã làm thất vọng hơn một thính giả vốn tin tưởng là sẽ tìm thấy nơi ông một thứ tiên tri của thời đại . Bộ dáng bề ngoài của ông hơi chải chuốt và sặc mùi tình cảm . Ông bắt đầu bằng những lời tán dương thính giả và cảm ơn số người tham dự đông đảo . Con Sói Đồng Hoang liếc vội tôi , và bằng thoáng nhìn đó , phê phán những lời lẽ cùng toàn thể nhân cách của diễn giả ; một cái nhìn khủng khiếp tôi không tài nào quên nổi , cái nhìn mang một ý nghĩa đủ làm đề tài viết đầy cả một cuốn sách . Cái nhìn chế diễu nhẹ nhàng nhưng đầy vẻ thống ngự nọ còn khốc liệt hơn cả sự chỉ trích nhà hùng biện , còn hơn cả sự hủy diệt bậc vĩ nhân nọ thành hư vô sương khói . Cái nhìn đó toát ra vẻ âu sầu buồn bã hơn là chế diễu , một nỗi buồn sâu hun hút như hố thẳm không đáy biểu lộ một nỗi tuyệt vọng hầu như đã thành cố định , đã trở thành hình thức và thói quen . Bằng sự sáng suốt vô vọng , cái nhìn không những soi tỏ , châm biếm và hư vô hóa con người của diễn giả , gói ghém trong thái độ hiện tại , và cùng với nó , cả sự chờ đợi lẫn thái độ đầy kính ngưỡng của đám đông thính giả , lẫn cái nhan đề hợm hĩnh của bài thuyết trình , mà cái bài đó còn xuyên thủng cả thời đại của chúng ta , tính dễ cảm cần cù , thái độ hãnh tiến , tự túc tự mãn , cái trò đùa nông cạn hạ cấp của nền trí thức vênh váo nhạt phèo của thời đại chúng ta . Hỡi ôi ! chỉ chừng đó thôi sao ? Cái nhìn phóng sâu hơn nữa , vượt qua những đói khát và những tuyệt vọng của một thời đại , một trí thông minh , một nền văn hóa . Cái nhìn động đến giữa lòng thực thể , diễn tả thật hùng hồn , chỉ trong một khoảnh khắc phù du , tất cả những mối hoài nghi căn bản của một nhà tư tưởng , một con người quán triệt về phẩm cách của mình , về chính ý nghĩa cuộc nhân sinh . Cái nhìn ấy thốt lời trong câm lặng : " Hãy nhìn những con khỉ múa rối là chúng ta đây ! Hãy nhìn đi , con người là thế đấy ! " Và thanh danh , và ánh sáng , và những thắng lợi của tinh thần , những đà thúc đẩy tâm hồn hướng về sự hùng vĩ cao đại và sự vĩnh cữu hóa những gì mang chất con người , tất cả đều bị sụp đổ , tất cả chỉ thuần là những trò khỉ , những trò múa rối .

Tôi chợt nhận ra rằng tôi đã tiết lộ trước những điều quan trọng trái với dự tính cùng ước vọng ban đầu , tôi đã nói ra phần cốt yếu về Haller , mặc dầu ban sơ tôi đã chủ định là chỉ phơi bày vén mở dần dà theo những mức độ liên hệ giữa hai chúng tôi .
Giờ đây , quả là thừa khi cứ mãi nói đến thái độ xa lạ một cách kỳ dị nơi Haller , và cứ đem ra kể lể từng chi tiết chuyện tôi đã đoán được cùng nhận biết những lý do và ý nghĩ của vẻ xa lạ đó , sự đơn độc ghê gớm và phi thường đó ra sao . Càng hay , vì tôi thích đặt bản thân mình vào sau hậu trường hơn . Tôi không muốn trình bày lời tự thú của mình , cũng chẳng muốn viết nên một truyện ngắn , hay phân tích tâm lý gì cả . Với tư cách là một chứng nhân mắt thấy tai nghe , tôi chỉ muốn đóng góp phần nào việc gợi lại hình ảnh con người độc đáo đã lưu lại tập thủ bút mà quý vị sắp đọc sau đây.

Trong buổi đầu gặp gỡ , khi ông ta đi vào nhà bà cô tôi qua lối cửa kính , và ngẩng đầu lên như những con chim , khen tụng cái mùi vị thơm tho tinh khiết ngự trị trong căn nhà , tôi đã cảm nhận một vẻ gì khác thường nơi ông , do đó phản ứng đầu tiên và ngây ngô của tôi là phòng bị . Tôi đánh hơi thấy ( và cả bà cô tôi , dù khác hẳn tôi , nhưng cũng chỉ là một người trí thức , cũng đánh hơi thấy ) ông khách này đang mang một cơn bệnh tâm thần , một căn bệnh thuộc tâm hồn , tính khí . Tôi phản kháng ông bằng tất cả sức mạnh bản năng muốn làm người lành mạnh nơi mình . Theo dòng thời gian , sự phản kháng đó đã biến thành thiện cảm . Một mối thương cảm bao la đã nảy sinh trong tôi đối với con người đau khổ triền miên u uẩn , người mà tôi đã quan sát thấy cơn dày vò nội tâm dữ dội . Trong khoảng thời gian đó , dần dần tôi hiểu rằng căn do của chứng bệnh ông không phát sinh do một tình trạng thua kém trong bản chất con người ông , mà trái lại , chỉ vì ông quá sung mãn về thiên tư và sức mạnh sáng tạo . Nhưng đã không biết hòa hợp chúng với nhau , và tình trạng sung mãn của ông không đạt được đến hòa điệu quân bình . Tôi trực nhận ra rằng Haller là một thiên tài của đau khổ , ông mang trong người một khả năng khổ đau triền miên vô hạn , khủng khiếp , và thiên tài theo nghĩa của Nietzche . Cũng chính vì thế mà thái độ bi quan của ông không căn cứ trên sự khinh bỉ thế giới và loài người nhưng dựa trên sự khinh bỉ phỉ nhổ chính bản thân mình ; dù sự chế diễu một người hay một định chế có mang tính chất gay gắt , tàn diệt đến đâu chăng nữa , chẳng bao giờ ông tự đặt mình làm trường hợp ngoại lệ cho sự chế diễu đó . Luôn luôn ông là người đầu tiên quỵ ngã dưới chính những cú phê phán của mình , người đầu tiên tự thù hận và tự đầy đọa mình trong địa ngục .
Delliah
26-06-05, 23:29
Tôi phải ghi lại đây một nhận xét có tính cách tâm lý . Mặc dù ít biết gì về đời sống của con Sói Đồng Hoang , tôi có lý do chính để tin rằng ông đã được nuôi dưỡng bởi những bậc phụ huynh và sư phụ đầy từ ái , nhưng nghiêm khắc và tín mộ nhiệt thành , những vị đó đã giáo dục căn cứ trên sự cần thiết phải " đập vỡ ý chí " . Đối với cậu học trò kia , sự phá hủy nhân cách , đập vỡ ý chí đã bị thất bại thảm thương . Cậu quá mạnh mẽ và kiên cường , quá kiêu hãnh và quá thông minh . Thay vì phá hủy nhân cách , họ đã làm cho cậu thù hận nhân cách . Cậu đã dùng tài năng , sự kỳ quái của mình , sức mạnh của trí óc mình để thường xuyên tấn công , phủ phàng không chút xót thương vào chính bản thân mình , đối tượng cao nhã thật sự . Về điểm này Haller tỏ ra tự trong bản tính là một người Kytô giáo và một kẻ tuẩn đạo , bởi vì tất cả những phê bình chỉ trích , những bạo động dữ tợn , những bài xích bác bỏ mà ông sử dụng đến đều trước hết là để chống lại chính ông . Đối với tha nhân và thế giới vây quanh , ông đã cố gắng một cách liên tục và anh dũng để yêu thương họ , công bằng với họ , không làm hại họ vì câu châm ngôn " Hãy yêu kẻ đồng loại " được ghi tạc trong tâm khảm ông cũng đậm nét như là sự thù hận chính bản thân mình : như thế , trọn cuộc đời ông há chẳng phải là chứng cứ hùng hồn minh chứng rằng không thể yêu thương đồng loại nếu như không tự yêu thương chính mình , và lòng thù hận đối với chính mình cũng đồng nghĩa với lòng vị kỷ và cũng gây nên một tình trạng cô độc kinh khiếp , cùng một nỗi tuyệt vọng , hay sao ?

Nhưng đã đến lúc nên quay về với thực tại . Điều tôi biết trước tiên về Haller , một phần nhờ sự rình mò lục soát , một phần do những nhận định của bà cô - liên hệ đến lối sống của ông . Dễ mà nhận ra rằng ông hiến trọn thời giờ cho sự trầm tư và đọc sách , và ông không hành một nghề thực tế nào . Luôn luôn ông nán lại lâu trên giường , chỉ thức dậy vào khoảng giữa trưa và , vẫn mặc áo ngủ , ông đi sang phòng khách riêng , cách phòng ngủ vài bước . Căn phòng khách trên gác xếp là một căn phòng rộng rãi và sáng sủa , có hai cửa sổ ; từ khi ông đến , căn phòng đã mang một vẻ gì khác với lúc những người khách trọ trước đây . Theo với thời gian , dần dần những bức tranh , bức họa được treo lên tường . Ông ghim vào tường những hình ảnh cắt trong báo và thay đổi luôn . Một phong cảnh miền Nam , một làng nhỏ nước Đức , có lẽ là quê hương của ông , những bức thủy thái họa với màu sắc rực rỡ , mà chỉ về sau chúng tôi mới biết là do Harry Haller tự tay vẽ lấy ; bức ảnh của một thiếu phụ hay thiếu nữ gì đó , thật đẹp ; có lúc là một tượng Phật Thái Lan , rồi được thay bằng họa phẩm " Đêm " của Michelangelo rồi đến chân dung của thánh Gandhi . Sách vở không những chứa đầy trong kệ mà còn vung vải khắp các bàn , trên chiếc bàn viết mỹ lệ , cổ kính , trên đi-văng , ghế , sàn nhà . Những cuốn sách đầy giấy ngăn , được đổi mới thường xuyên . Số lượng của chúng cứ tăng dần lên mãi , vì không những ông mang từng gói lớn từ các thư viện về , mà còn luôn luôn nhận được từ nhà bưu điện . Người đang sống trong căn phòng đó hẳn là một học giả . Khói thuốc quyện đầy phòng đã góp phần tạo nên cảm tưởng đó . Những mẫu thuốc , những cái gạt tàn rải rác khắp nơi . Tuy nhiên , phần lớn những sách đó không phải là sách khoa học ; đa số là những thi phẩm của mọi dân tộc và mọi thời đại . Có hồi rải rác trên đi-văng , nơi ông nằm dài cả mấy ngày tròn , tôi thấy sáu tập của một tác phẩm nhan đề là " Cuộc du lịch của Sophie de Memel ở Save " , vào cuối thế kỷ mười tám . Những tác phẩm trọn bộ của Geothe và Jean Paul hình như rất năng được ông dùng đến , cũng như tác phẩm của Novalis . Nhưng cũng có cả những sách của Lessing , Jacobi , Lichtenberg . Vài cuốn của Dostoivsky đen nghẹt những ghi chú . Trên chiếc bàn lớn , giữa những cuốn sách thường có một cọng hoa , bên cạnh là một hộp màu luôn luôn đầy bụi bám ; kế cận là những cái gạt tàn thuốc và , để khỏi ỉm đi sự kiện này , những chai đầy rượu . Một chai trong chiếc rổ đan bằng rơm chứa thứ rượu Ý mà ông mua ở quán bên cạnh , hay là rượu Bourgogne , rượu Malaga gì đó . Tôi cũng thấy một chai cherry lớn mà ông nốc gần cạn trong một thời gian ngắn . Sau đó , chiếc chai bị vứt vào góc phòng , bụi bặm phủ đầy , và ông không bao giờ uống nốt phần còn lại .

Hết./.
Thu Muộn
27-06-05, 01:19
Hihi, cảm ơn bác Delilah, nhưng bác bốt "truyện ngắn" này vào đây các cụ chửi chết. :D Em xem nguyên bản có nhỡn 191 trang A 4 thôi bác em. Bác hết đường đột quá. :))
HTN
25-07-05, 13:00
Hôm nay mới đọc lại topic này. Có truyện cho bạn nào trên kia thích này. Khi sa cơ, lỡ vận người ta hay tủi thân, thích làm điều thiện, hay nhìn lại chuyện cũ kinh cơ. :(


The Snows of Kilimanjaro



THE MARVELLOUS THING IS THAT IT’S painless," he said. "That's how you know when it starts."

"Is it really?"

"Absolutely. I'm awfully sorry about the odor though. That must bother you."

"Don't! Please don't."

"Look at them," he said. "Now is it sight or is it scent that brings them like that?"

The cot the man lay on was in the wide shade of a mimosa tree and as he looked out past the shade onto the glare of the plain there were three of the big birds squatted obscenely, while in the sky a dozen more sailed, making quick-moving shadows as they passed.

"They've been there since the day the truck broke down," he said. "Today's the first time any have lit on the ground. I watched the way they sailed very carefully at first in case I ever wanted to use them in a story. That's funny now.""I wish you wouldn't," she said.

"I'm only talking," he said. "It's much easier if I talk. But I don't want to bother you."

"You know it doesn't bother me," she said. "It's that I've gotten so very nervous not being able to do anything. I think we might make it as easy as we can until the plane comes."

"Or until the plane doesn't come."

"Please tell me what I can do. There must be something I can do.

"You can take the leg off and that might stop it, though I doubt it. Or you can shoot me. You're a good shot now. I taught you to shoot, didn't I?"

"Please don't talk that way. Couldn't I read to you?"

"Read what?"

"Anything in the book that we haven't read."

"I can't listen to it," he said." Talking is the easiest. We quarrel and that makes the time pass."

"I don't quarrel. I never want to quarrel. Let's not quarrel any more. No matter how nervous we get. Maybe they will be back with another truck today. Maybe the plane will come."

"I don't want to move," the man said. "There is no sense in moving now except to make it easier for you."

"That's cowardly."

"Can't you let a man die as comfortably as he can without calling him names? What's the use of clanging me?"

"You're not going to die."

"Don't be silly. I'm dying now. Ask those bastards." He looked over to where the huge, filthy birds sat, their naked heads sunk in the hunched feathers. A fourth planed down, to run quick-legged and then waddle slowly toward the others.

"They are around every camp. You never notice them. You can't die if you don't give up."

"Where did you read that? You're such a bloody fool."

"You might think about some one else."

"For Christ's sake," he said, "that's been my trade."

He lay then and was quiet for a while and looked across the heat shimmer of the plain to the edge of the bush. There were a few Tommies that showed minute and white against the yellow and, far off, he saw a herd of zebra, white against the green of the bush. This was a pleasant camp under big trees against a hill, with good water, and close by, a nearly dry water hole where sand grouse flighted in the mornings.

"Wouldn't you like me to read?" she asked. She was sitting on a canvas chair beside his cot. "There's a breeze coming up.

"No thanks."

"Maybe the truck will come."

"I don't give a damn about the truck."

"I do."

"You give a damn about so many things that I don't."

"Not so many, Harry."

"What about a drink?"

"It's supposed to be bad for you. It said in Black's to avoid all alcohol.

You shouldn't drink."

"Molo!" he shouted.

"Yes Bwana."

"Bring whiskey-soda."

"Yes Bwana."

"You shouldn't," she said. "That's what I mean by giving up. It says it's

bad for you. I know it's bad for you."

"No," he said. "It's good for me."

So now it was all over, he thought. So now he would never have a chance

to finish it. So this was the way it ended, in a bickering over a drink. Since

the gangrene started in his right leg he had no pain and with the pain the

horror had gone and all he felt now was a great tiredness and anger that this was the end of it. For this, that now was coming, he had very little curiosity.

For years it had obsessed him; but now it meant nothing in itself. It was

strange how easy being tired enough made it.

Now he would never write the things that he had saved to write until he knew enough to write them well. Well, he would not have to fail at trying to write them either. Maybe you could never write them, and that was why you put them off and delayed the starting. Well he would never know, now.

"I wish we'd never come," the woman said. She was looking at him holding the glass and biting her lip. "You never would have gotten anything like this in Paris. You always said you loved Paris. We could have stayed in Paris or gone anywhere. I'd have gone anywhere. I said I'd go anywhere you wanted. If you wanted to shoot we could have gone shooting in Hungary and been comfortable."

"Your bloody money," he said.

"That's not fair," she said. "It was always yours as much as mine. I left everything and I went wherever you wanted to go and I've done what you wanted to do But I wish we'd never come here."

"You said you loved it."

"I did when you were all right. But now I hate it. I don't see why that had to happen to your leg. What have we done to have that happen to us?"

"I suppose what I did was to forget to put iodine on it when I first scratched it. Then I didn't pay any attention to it because I never infect. Then, later, when it got bad, it was probably using that weak carbolic solution when the other antiseptics ran out that paralyzed the minute blood vessels and started the gangrene." He looked at her, "What else'"

"I don't mean that."

"If we would have hired a good mechanic instead of a half-baked Kikuyu driver, he would have checked the oil and never burned out that bearing in the truck."

"I don't mean that."

"If you hadn't left your own people, your goddamned Old Westbury Saratoga, Palm Beach people to take me on " *'Why, I loved you. That's not fair. I love you now. I'll always love you Don't you love me?"

"No," said the man. "I don't think so. I never have."

"Harry, what are you saying? You're out of your head."

"No. I haven't any head to go out of."

"Don't drink that," she said. "Darling, please don't drink that. We have to do everything we can."

"You do it," he said. "I'm tired."

Now in his mind he saw a railway station at Karagatch and he was standing with his pack and that was the headlight of the Simplon-Offent cutting the dark now and he was leaving Thrace then after the retreat. That was one of the things he had saved to write, with, in the morning at breakfast, looking out the window and seeing snow on the mountains in Bulgaffa and Nansen's Secretary asking the old man if it were snow and the old man looking at it and saying, No, that's not snow. It's too early for snow. And the Secretary repeating to the other girls, No, you see. It's not snow and them all saying, It's not snow we were mistaken. But it was the snow all right and he sent them on into it when he evolved exchange of populations. And it was snow they tramped along in until they died that winter.
.
HTN
25-07-05, 13:01
(tiếp nữa)



It was snow too that fell all Christmas week that year up in the Gauertal, that year they lived in the woodcutter's house with the big square porcelain stove that filled half the room, and they slept on mattresses filled with beech leaves, the time the deserter came with his feet bloody in the snow. He said the police were right behind him and they gave him woolen socks and held the gendarmes talking until the tracks had drifted over.

In Schrunz, on Christmas day, the snow was so bright it hurt your eyes when you looked out from the Weinstube and saw every one coming home from church. That was where they walked up the sleigh-smoothed urine-yellowed road along the river with the steep pine hills, skis heavy on the shoulder, and where they ran down the glacier above the Madlenerhaus, the snow as smooth to see as cake frosting and as light as powder and he remembered the noiseless rush the speed made as you dropped down like a bird.

They were snow-bound a week in the Madlenerhaus that time in the blizzard playing cards in the smoke by the lantern light and the stakes were higher all the time as Herr Lent lost more. Finally he lost it all. Everything, the Skischule money and all the season's profit and then his capital. He could see him with his long nose, picking up the cards and then opening, "Sans Voir." There was always gambling then. When there was no snow you gambled and when there was too much you gambled. He thought of all the time in his life he had spent gambling.

But he had never written a line of that, nor of that cold, bright Christmas day with the mountains showing across the plain that Barker had flown across the lines to bomb the Austrian officers' leave train, machine-gunning them as they scattered and ran. He remembered Barker afterwards coming into the mess and starting to tell about it. And how quiet it got and then somebody saying, ''You bloody murderous bastard.''

Those were the same Austrians they killed then that he skied with later. No not the same. Hans, that he skied with all that year, had been in the Kaiser Jagers and when they went hunting hares together up the little valley above the saw-mill they had talked of the fighting on Pasubio and of the attack on Perticara and Asalone and he had never written a word of that. Nor of Monte Corona, nor the Sette Communi, nor of Arsiero.

How many winters had he lived in the Vorarlberg and the Arlberg? It was four and then he remembered the man who had the fox to sell when they had walked into Bludenz, that time to buy presents, and the cherry-pit taste of good kirsch, the fast-slipping rush of running powder-snow on crust, singing ''Hi! Ho! said Rolly!' ' as you ran down the last stretch to the steep drop, taking it straight, then running the orchard in three turns and out across the ditch and onto the icy road behind the inn. Knocking your bindings loose, kicking the skis free and leaning them up against the wooden wall of the inn, the lamplight coming from the window, where inside, in the smoky, new-wine smelling warmth, they were playing the accordion.

"Where did we stay in Paris?" he asked the woman who was sitting by him in a canvas chair, now, in Africa.

"At the Crillon. You know that."

"Why do I know that?"

"That's where we always stayed."

"No. Not always."

"There and at the Pavillion Henri-Quatre in St. Germain. You said you loved it there."

"Love is a dunghill," said Harry. "And I'm the cock that gets on it to crow."

"If you have to go away," she said, "is it absolutely necessary to kill off everything you leave behind? I mean do you have to take away everything? Do you have to kill your horse, and your wife and burn your saddle and your armour?"

"Yes," he said. "Your damned money was my armour. My Sword and my Armour."

"Don't."

"All right. I'll stop that. I don't want to hurt you.'

"It's a little bit late now."

"All right then. I'll go on hurting you. It's more amusing. The only thing I ever really liked to do with you I can't do now."

"No, that's not true. You liked to do many things and everything you wanted to do I did."

"Oh, for Christ sake stop bragging, will you?"

He looked at her and saw her crying.

"Listen," he said. "Do you think that it is fun to do this? I don't know why I'm doing it. It's trying to kill to keep yourself alive, I imagine. I was all right when we started talking. I didn't mean to start this, and now I'm crazy as a coot and being as cruel to you as I can be. Don't pay any attention, darling, to what I say. I love you, really. You know I love you. I've never loved any one else the way I love you."

He slipped into the familiar lie he made his bread and butter by.

"You're sweet to me."

"You bitch," he said. "You rich bitch. That's poetry. I'm full of poetry now. Rot and poetry. Rotten poetry."

"Stop it. Harry, why do you have to turn into a devil now?"

"I don't like to leave anything," the man said. "I don’t like to leave things behind."

* * *

It was evening now and he had been asleep. The sun was gone behind the hill and there was a shadow all across the plain and the small animals were feeding close to camp; quick dropping heads and switching tails, he watched them keeping well out away from the bush now. The birds no longer waited on the ground. They were all perched heavily in a tree. There were many more of them. His personal boy was sitting by the bed.

"Memsahib's gone to shoot," the boy said. "Does Bwana want?"

"Nothing."

She had gone to kill a piece of meat and, knowing how he liked to watch the game, she had gone well away so she would not disturb this little pocket of the plain that he could see. She was always thoughtful, he thought. On anything she knew about, or had read, or that she had ever heard.

It was not her fault that when he went to her he was already over. How could a woman know that you meant nothing that you said; that you spoke only from habit and to be comfortable? After he no longer meant what he said, his lies were more successful with women than when he had told them the truth.

It was not so much that he lied as that there was no truth to tell. He had had his life and it was over and then he went on living it again with different people and more money, with the best of the same places, and some new ones.

You kept from thinking and it was all marvellous. You were equipped with good insides so that you did not go to pieces that way, the way most of them had, and you made an attitude that you cared nothing for the work you used to do, now that you could no longer do it. But, in yourself, you said that you would write about these people; about the very rich; that you were really not of them but a spy in their country; that you would leave it and write of it and for once it would be written by some one who knew what he was writing of. But he would never do it, because each day of not writing, of comfort, of being that which he despised, dulled his ability and softened his will to work so that, finally, he did no work at all. The people he knew now were all much more comfortable when he did not work. Africa was where he had been happiest in the good time of his life, so he had come out here to start again. They had made this safari with the minimum of comfort. There was no hardship; but there was no luxury and he had thought that he could get back into training that way. That in some way he could work the fat off his soul the way a fighter went into the mountains to work and train in order to burn it out of his body.

She had liked it. She said she loved it. She loved anything that was exciting, that involved a change of scene, where there were new people and where things were pleasant. And he had felt the illusion of returning strength of will to work. Now if this was how it ended, and he knew it was, he must not turn like some snake biting itself because its back was broken. It wasn't this woman's fault. If it had not been she it would have been another. If he lived by a lie he should try to die by it. He heard a shot beyond the hill.

She shot very well this good, this rich bitch, this kindly caretaker and destroyer of his talent. Nonsense. He had destroyed his talent himself. Why should he blame this woman because she kept him well? He had destroyed his talent by not using it, by betrayals of himself and what he believed in, by drinking so much that he blunted the edge of his perceptions, by laziness, by sloth, and by snobbery, by pride and by prejudice, by hook and by crook. What was this? A catalogue of old books? What was his talent anyway? It was a talent all right but instead of using it, he had traded on it. It was never what he had done, but always what he could do. And he had chosen to make his living with something else instead of a pen or a pencil. It was strange, too, wasn't it, that when he fell in love with another woman, that woman should always have more money than the last one? But when he no longer was in love, when he was only lying, as to this woman, now, who had the most money of all, who had all the money there was, who had had a husband and children, who had taken lovers and been dissatisfied with them, and who loved him dearly as a writer, as a man, as a companion and as a proud possession; it was strange that when he did not love her at all and was lying, that he should be able to give her more for her money than when he had really loved.

We must all be cut out for what we do, he thought. However you make your living is where your talent lies. He had sold vitality, in one form or another, all his life and when your affections are not too involved you give much better value for the money. He had found that out but he would never write that, now, either. No, he would not write that, although it was well worth writing.
HTN
25-07-05, 13:02
(tiếp nữa)


Now she came in sight, walking across the open toward the camp. She was wearing jodphurs and carrying her rifle. The two boys had a Tommie slung and they were coming along behind her. She was still a good-looking woman, he thought, and she had a pleasant body. She had a great talent and appreciation for the bed, she was not pretty, but he liked her face, she read enormously, liked to ride and shoot and, certainly, she drank too much. Her husband had died when she was still a comparatively young woman and for a while she had devoted herself to her two just-grown children, who did not need her and were embarrassed at having her about, to her stable of horses, to books, and to bottles. She liked to read in the evening before dinner and she drank Scotch and soda while she read. By dinner she was fairly drunk and after a bottle of wine at dinner she was usually drunk enough to sleep.

That was before the lovers. After she had the lovers she did not drink so much because she did not have to be drunk to sleep. But the lovers bored her. She had been married to a man who had never bored her and these people bored her very much.

Then one of her two children was killed in a plane crash and after that was over she did not want the lovers, and drink being no anaesthetic she had to make another life. Suddenly, she had been acutely frightened of being alone. But she wanted some one that she respected with her.

It had begun very simply. She liked what he wrote and she had always envied the life he led. She thought he did exactly what he wanted to. The steps by which she had acquired him and the way in which she had finally fallen in love with him were all part of a regular progression in which she had built herself a new life and he had traded away what remained of his old life.

He had traded it for security, for comfort too, there was no denying that, and for what else? He did not know. She would have bought him anything he wanted. He knew that. She was a damned nice woman too. He would as soon be in bed with her as any one; rather with her, because she was richer, because she was very pleasant and appreciative and because she never made scenes. And now this life that she had built again was coming to a term because he had not used iodine two weeks ago when a thorn had scratched his knee as they moved forward trying to photograph a herd of waterbuck standing, their heads up, peering while their nostrils searched the air, their ears spread wide to hear the first noise that would send them rushing into the bush. They had bolted, too, before he got the picture.

Here she came now. He turned his head on the cot to look toward her. "Hello," he said.

"I shot a Tommy ram," she told him. "He'll make you good broth and I'll have them mash some potatoes with the Klim. How do you feel?"

"Much better."

"Isn't that lovely? You know I thought perhaps you would. You were sleeping when I left."

"I had a good sleep. Did you walk far?"

"No. Just around behind the hill. I made quite a good shot on the Tommy."

"You shoot marvellously, you know."

"I love it. I've loved Africa. Really. If you're all right it's the most fun that I've ever had. You don't know the fun it's been to shoot with you. I've loved the country."

"I love it too."

"Darling, you don't know how marvellous it is to see you feeling better. I couldn't stand it when you felt that way. You won't talk to me like that again, will you? Promise me?"

"No," he said. "I don't remember what I said."

"You don't have to destroy me. Do you? I'm only a middle-aged woman who loves you and wants to do what you want to do. I've been destroyed two or three times already. You wouldn't want to destroy me again, would you?"

"I'd like to destroy you a few times in bed," he said.

"Yes. That's the good destruction. That's the way we're made to be destroyed. The plane will be here tomorrow."

"How do you know?"

"I'm sure. It's bound to come. The boys have the wood all ready and the grass to make the smudge. I went down and looked at it again today. There's plenty of room to land and we have the smudges ready at both ends."

"What makes you think it will come tomorrow?"

"I'm sure it will. It's overdue now. Then, in town, they will fix up your leg and then we will have some good destruction. Not that dreadful talking kind."

"Should we have a drink? The sun is down."

"Do you think you should?"

"I'm having one."

"We'll have one together. Molo, letti dui whiskey-soda!" she called.

"You'd better put on your mosquito boots," he told her.

"I'll wait till I bathe . . ."

While it grew dark they drank and just before it was dark and there was no longer enough light to shoot, a hyena crossed the open on his way around the hill.

"That bastard crosses there every night," the man said. "Every night for two weeks."

"He's the one makes the noise at night. I don't mind it. They're a filthy animal though."

Drinking together, with no pain now except the discomfort of lying in the one position, the boys lighting a fire, its shadow jumping on the tents, he could feel the return of acquiescence in this life of pleasant surrender. She was very good to him. He had been cruel and unjust in the afternoon. She was a fine woman, marvellous really. And just then it occurred to him that he was going to die.

It came with a rush; not as a rush of water nor of wind; but of a sudden, evil-smelling emptiness and the odd thing was that the hyena slipped lightly along the edge of it.

"What is it, Harry?" she asked him.

"Nothing," he said. "You had better move over to the other side. To windward."

"Did Molo change the dressing?"

"Yes. I'm just using the boric now."

"How do you feel?"

"A little wobbly."

"I'm going in to bathe," she said. "I'll be right out. I'll eat with you and then we'll put the cot in."

So, he said to himself, we did well to stop the quarrelling. He had never quarrelled much with this woman, while with the women that he loved he had quarrelled so much they had finally, always, with the corrosion of the quarrelling, killed what they had together. He had loved too much, demanded too much, and he wore it all out.

He thought about alone in Constantinople that time, having quarrelled in Paris before he had gone out. He had whored the whole time and then, when that was over, and he had failed to kill his loneliness, but only made it worse, he had written her, the first one, the one who left him, a letter telling her how he had never been able to kill it ... How when he thought he saw her outside the Regence one time it made him go all faint and sick inside, and that he would follow a woman who looked like her in some way, along the Boulevard, afraid to see it was not she, afraid to lose the feeling it gave him. How every one he had slept with had only made him miss her more. How what she had done could never matter since he knew he could not cure himself of loving her. He wrote this letter at the Club, cold sober, and mailed it to New York asking her to write him at the of fice in Paris. That seemed safe. And that night missing her so much it made him feel hollow sick inside, he wandered up past Maxim's, picked a girl up and took her out to supper. He had gone to a place to dance with her afterward, she danced badly, and left her for a hot Armenian slut, that swung her belly against him so it almost scalded. He took her away from a British gunner subaltern after a row. The gunner asked him outside and they fought in the street on the cobbles in the dark. He'd hit him twice, hard, on the side of the jaw and when he didn't go down he knew he was in for a fight. The gunner hit him in the body, then beside his eye. He swung with his left again and landed and the gunner fell on him and grabbed his coat and tore the sleeve off and he clubbed him twice behind the ear and then smashed him with his right as he pushed him away. When the gunner went down his head hit first and he ran with the girl because they heard the M.P. 's coming. They got into a taxi and drove out to Rimmily Hissa along the Bosphorus, and around, and back in the cool night and went to bed and she felt as over-ripe as she looked but smooth, rose-petal, syrupy, smooth-bellied, big-breasted and needed no pillow under her buttocks, and he left her before she was awake looking blousy enough in the first daylight and turned up at the Pera Palace with a black eye, carrying his coat because one sleeve was missing.

That same night he left for Anatolia and he remembered, later on that trip, riding all day through fields of the poppies that they raised for opium and how strange it made you feel, finally, and all the distances seemed wrong, to where they had made the attack with the newly arrived Constantine officers, that did not know a god-damned thing, and the artillery had fired into the troops and the British observer had cried like a child.
HTN
25-07-05, 13:03
(tiếp nữa)



That was the day he'd first seen dead men wearing white ballet skirts and upturned shoes with pompons on them. The Turks had come steadily and lumpily and he had seen the skirted men running and the of ficers shooting into them and running then themselves and he and the British observer had run too until his lungs ached and his mouth was full of the taste of pennies and they stopped behind some rocks and there were the Turks coming as lumpily as ever. Later he had seen the things that he could never think of and later still he had seen much worse. So when he got back to Paris that time he could not talk about it or stand to have it mentioned. And there in the cafe as he passed was that American poet with a pile of saucers in front of him and a stupid look on his potato face talking about the Dada movement with a Roumanian who said his name was Tristan Tzara, who always wore a monocle and had a headache, and, back at the apartment with his wife that now he loved again, the quarrel all over, the madness all over, glad to be home, the office sent his mail up to the flat. So then the letter in answer to the one he'd written came in on a platter one morning and when he saw the hand writing he went cold all over and tried to slip the letter underneath another. But his wife said, ''Who is that letter from, dear?'' and that was the end of the beginning of that.

He remembered the good times with them all, and the quarrels. They always picked the finest places to have the quarrels. And why had they always quarrelled when he was feeling best? He had never written any of that because, at first, he never wanted to hurt any one and then it seemed as though there was enough to write without it. But he had always thought that he would write it finally. There was so much to write. He had seen the world change; not just the events; although he had seen many of them and had watched the people, but he had seen the subtler change and he could remember how the people were at different times. He had been in it and he had watched it and it was his duty to write of it; but now he never would.

"How do you feel?" she said. She had come out from the tent now after her bath.

"All right."

"Could you eat now?" He saw Molo behind her with the folding table and the other boy with the dishes.

"I want to write," he said.

"You ought to take some broth to keep your strength up."

"I'm going to die tonight," he said. "I don't need my strength up."

"Don't be melodramatic, Harry, please," she said.

"Why don't you use your nose? I'm rotted half way up my thigh now. What the hell should I fool with broth for? Molo bring whiskey-soda."

"Please take the broth," she said gently.

"All right."

The broth was too hot. He had to hold it in the cup until it cooled enough to take it and then he just got it down without gagging.

"You're a fine woman," he said. "Don't pay any attention to me."

She looked at him with her well-known, well-loved face from Spur and Town & Country, only a little the worse for drink, only a little the worse for bed, but Town & Country never showed those good breasts and those useful thighs and those lightly small-of-back-caressing hands, and as he looked and saw her well-known pleasant smile, he felt death come again.

in.

This time there was no rush. It was a puff, as of a wind that makes a candle flicker and the flame go tall.

"They can bring my net out later and hang it from the tree and build the fire up. I'm not going in the tent tonight. It's not worth moving. It's a clear night. There won't be any rain."

So this was how you died, in whispers that you did not hear. Well, there would be no more quarrelling. He could promise that. The one experience that he had never had he was not going to spoil now. He probably would. You spoiled everything. But perhaps he wouldn't.

"You can't take dictation, can you?"

"I never learned," she told him.

"That's all right."

There wasn't time, of course, although it seemed as though it telescoped so that you might put it all into one paragraph if you could get it right.

There was a log house, chinked white with mortar, on a hill above the lake. There was a bell on a pole by the door to call the people in to meals. Behind the house were fields and behind the fields was the timber. A line of lombardy poplars ran from the house to the dock. Other poplars ran along the point. A road went up to the hills along the edge of the timber and along that road he picked blackberries. Then that log house was burned down and all the guns that had been on deer foot racks above the open fire place were burned and afterwards their barrels, with the lead melted in the magazines, and the stocks burned away, lay out on the heap of ashes that were used to make lye for the big iron soap kettles, and you asked Grandfather if you could have them to play with, and he said, no. You see they were his guns still and he never bought any others. Nor did he hunt any more. The house was rebuilt in the same place out of lumber now and painted white and from its porch you saw the poplars and the lake beyond; but there were never any more guns. The barrels of the guns that had hung on the deer feet on the wall of the log house lay out there on the heap of ashes and no one ever touched them.

In the Black Forest, after the war, we rented a trout stream and there were two ways to walk to it. One was down the valley from Triberg and around the valley road in the shade of the trees that bordered the white road, and then up a side road that went up through the hills past many small farms, with the big Schwarzwald houses, until that road crossed the stream. That was where our fishing began.

The other way was to climb steeply up to the edge of the woods and then go across the top of the hills through the pine woods, and then out to the edge of a meadow and down across this meadow to the bridge. There were birches along the stream and it was not big, but narrow, clear and fast, with pools where it had cut under the roots of the birches. At the Hotel in Triberg the proprietor had a fine season. It was very pleasant and we were all great friends. The next year came the inflation and the money he had made the year before was not enough to buy supplies to open the hotel and he hanged himself. You could dictate that, but you could not dictate the Place Contrescarpe where the flower sellers dyed their flowers in the street and the dye ran over the paving where the autobus started and the old men and the women, always drunk on wine and bad mare; and the children with their noses running in the cold; the smell of dirty sweat and poverty and drunkenness at the Cafe' des Amateurs and the whores at the Bal Musette they lived above. The concierge who entertained the trooper of the Garde Republicaine in her loge, his horse-hair-plumed helmet on a chair. The locataire across the hall whose husband was a bicycle racer and her joy that morning at the cremerie when she had opened L'Auto and seen where he placed third in Paris-Tours, his first big race. She had blushed and laughed and then gone upstairs crying with the yellow sporting paper in her hand. The husband of the woman who ran the Bal Musette drove a taxi and when he, Harry, had to take an early plane the husband knocked upon the door to wake him and they each drank a glass of white wine at the zinc of the bar before they started. He knew his neighbors in that quarter then because they all were poor.

Around that Place there were two kinds; the drunkards and the sportifs. The drunkards killed their poverty that way; the sportifs took it out in exercise. They were the descendants of the Communards and it was no struggle for them to know their politics. They knew who had shot their fathers, their relatives, their brothers, and their friends when the Versailles troops came in and took the town after the Commune and executed any one they could catch with calloused hands, or who wore a cap, or carried any other sign he was a working man. And in that poverty, and in that quarter across the street from a Boucherie Chevaline and a wine cooperative he had written the start of all he was to do. There never was another part of Paris that he loved like that, the sprawling trees, the old white plastered houses painted brown below, the long green of the autobus in that round square, the purple flower dye upon the paving, the sudden drop down the hill of the rue Cardinal Lemoine to the River, and the other way the narrow crowded world of the rue Mouffetard. The street that ran up toward the Pantheon and the other that he always took with the bicycle, the only asphalted street in all that quarter, smooth under the tires, with the high narrow houses and the cheap tall hotel where Paul Verlaine had died. There were only two rooms in the apartments where they lived and he had a room on the top floor of that hotel that cost him sixty francs a month where he did his writing, and from it he could see the roofs and chimney pots and all the hills of Paris.
HTN
25-07-05, 13:08
(tiếp nữa)


From the apartment you could only see the wood and coal man's place. He sold wine too, bad wine. The golden horse's head outside the Boucherie Chevaline where the carcasses hung yellow gold and red in the open window, and the green painted co-operative where they bought their wine; good wine and cheap. The rest was plaster walls and the windows of the neighbors. The neighbors who, at night, when some one lay drunk in the street, moaning and groaning in that typical French ivresse that you were propaganded to believe did not exist, would open their windows and then the murmur of talk.

''Where is the policeman? When you don't want him the bugger is always there. He's sleeping with some concierge. Get the Agent. " Till some one threw a bucket of water from a window and the moaning stopped. ''What's that? Water. Ah, that's intelligent." And the windows shutting. Marie, his femme de menage, protesting against the eight-hour day saying, ''If a husband works until six he gets only a riffle drunk on the way home and does not waste too much. If he works only until five he is drunk every night and one has no money. It is the wife of the working man who suffers from this shortening of hours. '

"Wouldn't you like some more broth?" the woman asked him now.

"No, thank you very much. It is awfully good."

"Try just a little."

"I would like a whiskey-soda."

"It's not good for you."

"No. It's bad for me. Cole Porter wrote the words and the music. This knowledge that you're going mad for me."

"You know I like you to drink."

"Oh yes. Only it's bad for me."

When she goes, he thought, I'll have all I want. Not all I want but all there is. Ayee he was tired. Too tired. He was going to sleep a little while. He lay still and death was not there. It must have gone around another street. It went in pairs, on bicycles, and moved absolutely silently on the pavements.

No, he had never written about Paris. Not the Paris that he cared about. But what about the rest that he had never written?

What about the ranch and the silvered gray of the sage brush, the quick, clear water in the irrigation ditches, and the heavy green of the alfalfa. The trail went up into the hills and the cattle in the summer were shy as deer. The bawling and the steady noise and slow moving mass raising a dust as you brought them down in the fall. And behind the mountains, the clear sharpness of the peak in the evening light and, riding down along the trail in the moonlight, bright across the valley. Now he remembered coming down through the timber in the dark holding the horse's tail when you could not see and all the stories that he meant to write.

About the half-wit chore boy who was left at the ranch that time and told not to let any one get any hay, and that old bastard from the Forks who had beaten the boy when he had worked for him stopping to get some feed. The boy refusing and the old man saying he would beat him again. The boy got the rifle from the kitchen and shot him when he tried to come into the barn and when they came back to the ranch he'd been dead a week, frozen in the corral, and the dogs had eaten part of him. But what was left you packed on a sled wrapped in a blanket and roped on and you got the boy to help you haul it, and the two of you took it out over the road on skis, and sixty miles down to town to turn the boy over. He having no idea that he would be arrested. Thinking he had done his duty and that you were his friend and he would be rewarded. He'd helped to haul the old man in so everybody could know how bad the old man had been and how he'd tried to steal some feed that didn't belong to him, and when the sheriff put the handcuffs on the boy he couldn't believe it. Then he'd started to cry. That was one story he had saved to write. He knew at least twenty good stories from out there and he had never written one. Why?

"You tell them why," he said.

"Why what, dear?"

"Why nothing."

She didn't drink so much, now, since she had him. But if he lived he would never write about her, he knew that now. Nor about any of them. The rich were dull and they drank too much, or they played too much backgammon. They were dull and they were repetitious. He remembered poor Julian and his romantic awe of them and how he had started a story once that began, "The very rich are different from you and me." And how some one had said to Julian, Yes, they have more money. But that was not humorous to Julian. He thought they were a special glamourous race and when he found they weren't it wrecked him just as much as any other thing that wrecked him.

He had been contemptuous of those who wrecked. You did not have to like it because you understood it. He could beat anything, he thought, because no thing could hurt him if he did not care.

All right. Now he would not care for death. One thing he had always dreaded was the pain. He could stand pain as well as any man, until it went on too long, and wore him out, but here he had something that had hurt frightfully and just when he had felt it breaking him, the pain had stopped.

He remembered long ago when Williamson, the bombing officer, had been hit by a stick bomb some one in a German patrol had thrown as he was coming in through the wire that night and, screaming, had begged every one to kill him. He was a fat man, very brave, and a good officer, although addicted to fantastic shows. But that night he was caught in the wire, with a flare lighting him up and his bowels spilled out into the wire, so when they brought him in, alive, they had to cut him loose. Shoot me, Harry. For Christ sake shoot me. They had had an argument one time about our Lord never sending you anything you could not bear and some one's theory had been that meant that at a certain time the pain passed you out automatically. But he had always remembered Williamson, that night. Nothing passed out Williamson until he gave him all his morphine tablets that he had always saved to use himself and then they did not work right away.
HTN
25-07-05, 13:09
Still this now, that he had, was very easy; and if it was no worse as it went on there was nothing to worry about. Except that he would rather be in better company.

He thought a little about the company that he would like to have.

No, he thought, when everything you do, you do too long, and do too late, you can't expect to find the people still there. The people all are gone. The party's over and you are with your hostess now.

I'm getting as bored with dying as with everything else, he thought.

"It's a bore," he said out loud.

"What is, my dear?"

"Anything you do too bloody long."

He looked at her face between him and the fire. She was leaning back in the chair and the firelight shone on her pleasantly lined face and he could see that she was sleepy. He heard the hyena make a noise just outside the range of the fire.

"I've been writing," he said. "But I got tired."

"Do you think you will be able to sleep?"

"Pretty sure. Why don't you turn in?"

"I like to sit here with you."

"Do you feel anything strange?" he asked her.

"No. Just a little sleepy."

"I do," he said.

He had just felt death come by again.

"You know the only thing I've never lost is curiosity," he said to her.

"You've never lost anything. You're the most complete man I've ever known."

"Christ," he said. "How little a woman knows. What is that? Your intuition?"

Because, just then, death had come and rested its head on the foot of the cot and he could smell its breath.

"Never believe any of that about a scythe and a skull," he told her. "It can be two bicycle policemen as easily, or be a bird. Or it can have a wide snout like a hyena."

It had moved up on him now, but it had no shape any more. It simply occupied space.

"Tell it to go away."

It did not go away but moved a little closer.

"You've got a hell of a breath," he told it. "You stinking bastard."

It moved up closer to him still and now he could not speak to it, and when it saw he could not speak it came a little closer, and now he tried to send it away without speaking, but it moved in on him so its weight was all upon his chest, and while it crouched there and he could not move or speak, he heard the woman say, "Bwana is asleep now. Take the cot up very gently and carry it into the tent."

He could not speak to tell her to make it go away and it crouched now, heavier, so he could not breathe. And then, while they lifted the cot, suddenly it was all right and the weight went from his chest.

It was morning and had been morning for some time and he heard the plane. It showed very tiny and then made a wide circle and the boys ran out and lit the fires, using kerosene, and piled on grass so there were two big smudges at each end of the level place and the morning breeze blew them toward the camp and the plane circled twice more, low this time, and then glided down and levelled off and landed smoothly and, coming walking toward him, was old Compton in slacks, a tweed jacket and a brown felt hat.

"What's the matter, old cock?" Compton said.

"Bad leg," he told him. "Will you have some breakfast?"

"Thanks. I'll just have some tea. It's the Puss Moth you know. I won't be able to take the Memsahib. There's only room for one. Your lorry is on the way."

Helen had taken Compton aside and was speaking to him. Compton came back more cheery than ever.

"We'll get you right in," he said. "I'll be back for the Mem. Now I'm afraid I'll have to stop at Arusha to refuel. We'd better get going."

"What about the tea?"

"I don't really care about it, you know."

The boys had picked up the cot and carried it around the green tents and down along the rock and out onto the plain and along past the smudges that were burning brightly now, the grass all consumed, and the wind fanning the fire, to the little plane. It was difficult getting him in, but once in he lay back in the leather seat, and the leg was stuck straight out to one side of the seat where Compton sat. Compton started the motor and got in. He waved to Helen and to the boys and, as the clatter moved into the old familiar roar, they swung around with Compie watching for warthog holes and roared, bumping, along the stretch between the fires and with the last bump rose and he saw them all standing below, waving, and the camp beside the hill, flattening now, and the plain spreading, clumps of trees, and the bush flattening, while the game trails ran now smoothly to the dry waterholes, and there was a new water that he had never known of. The zebra, small rounded backs now, and the wildebeeste, big-headed dots seeming to climb as they moved in long fingers across the plain, now scattering as the shadow came toward them, they were tiny now, and the movement had no gallop, and the plain as far as you could see, gray-yellow now and ahead old Compie's tweed back and the brown felt hat. Then they were over the first hills and the wildebeeste were trailing up them, and then they were over mountains with sudden depths of green-rising forest and the solid bamboo slopes, and then the heavy forest again, sculptured into peaks and hollows until they crossed, and hills sloped down and then another plain, hot now, and purple brown, bumpy with heat and Compie looking back to see how he was riding. Then there were other mountains dark ahead.

And then instead of going on to Arusha they turned left, he evidently figured that they had the gas, and looking down he saw a pink sifting cloud, moving over the ground, and in the air, like the first snow in at ii blizzard, that comes from nowhere, and he knew the locusts were coming, up from the South. Then they began to climb and they were going to the East it seemed, and then it darkened and they were in a storm, the rain so thick it seemed like flying through a waterfall, and then they were out and Compie turned his head and grinned and pointed and there, ahead, all he could see, as wide as all the world, great, high, and unbelievably white in the sun, was the square top of Kilimanjaro. And then he knew that there was where he was going.

Just then the hyena stopped whimpering in the night and started to make a strange, human, almost crying sound. The woman heard it and, stirred uneasily. She did not wake. In her dream she was at the house on Long Island and it was the night before her daughter's debut. Somehow her father was there and he had been very rude. Then the noise the hyena made was so loud she woke and for a moment she did not know where she was and she was very afraid. Then she took the flashlight and shone it on the other cot that they had carried in after Harry had gone to sleep. She could see his bulk under the mosquito bar but somehow he had gotten his leg out and it hung down alongside the cot. The dressings had all come down and she could not look at it.

"Molo," she called, "Molo! Molo!"

Then she said, "Harry, Harry!" Then her voice rising, "Harry! Please. Oh Harry!"

There was no answer and she could not hear him breathing.

Outside the tent the hyena made the same strange noise that had awakened her. But she did not hear him for the beating of her heart.

Và thế là hết. Với ai đó là giấc mơ, hạnh phúc tạm dừng lại để sống tiếp cuộc đời chó chết. Với ai đó là mất ít thời gian vô bổ. Với những ai đó là lẩm bẩm chửi, sao có những đứa dám mang đồ cũng ra chỗ đầy ruồi như thế này? "Cũng chẳng ai muốn đâu, nhưng cũng phải sống chứ, mà sống thì cũng phải hi vọng và nhân ái chứ?"
Narciss
02-08-05, 03:17
One of the most beautiful love stories.



Sấm mùa thu


Kawabata
Hôn lễ chúng tôi cử hành trong một lữ quán có tiếng sáo trúc kiểu xưa ngân nga. Mùa thu mới bắt đầu, cũng là lúc các cô gái xuân thì từ biển trở về và lượn quanh thành phố như những con ngựa tơ xinh đẹp, lông màu hạt dẻ.

Bất thình lình chớp lóe sáng khung cửa sổ và sấm nổ rền như muốn phá tan hôn lễ. Cô dâu mười bảy tuổi của tôi trắng xanh sắc mặt. Nàng nhắm nghiền mắt lại và thân thể rũ xuống như một lá cờ ướt sũng.

- Đóng cửa sổ, đóng màn lại mau!

Sau khi hôn lễ kết thúc, cha vợ tôi mới bảo: “Con gái tôi sợ sấm có thể là do một lời nguyền xưa. Rồi ông kể cho tôi nghe câu chuyện này, về một đứa con trai hiếu thảo của xứ Tamba thuở nào:

“Yoshida Shichizaemon ở thôn Haji, hạt Amada trong xứ Tamba hết lòng phụng dưỡng cha mẹ đến nỗi lãnh chúa cũng phải biểu dương lòng hiếu thảo ấy và miễn cho anh khỏi đóng thuế đất.

Đã thế mẹ của Shichizaemon lại rất sợ sấm, chỉ cần nghe một tiếng trống gõ là bà có thể ngất xỉu. Vì thế cho nên bất kỳ khi nào nghe thấy tiếng sấm rền là Shichizaemon đâm bổ về nhà, cho dù anh đang ở đâu hay đang làm gì. Vào mùa hạ anh không dám đi đâu xa, chỉ đến thôn làng lân cận là cùng.

Thế cũng chưa đủ. Ngay cả sau khi mẹ qua đời, cứ nghe thấy tiếng sấm là anh chạy ngay đến nghĩa trang, vòng tay ôm chặt mộ của bà.

Một đêm kia, trong khi Shichizaemon ôm ghì mộ bia suốt cơn dông, anh bị sét đánh chết. Sáng hôm sau trời trong xanh và tươi đẹp.

Khi một người dân trong làng cố gỡ cánh tay Shichizaemon ra khỏi bia mộ thì nó vỡ ra từng mảnh. Thân thể cháy đen của anh đã trở thành một hình tượng bằng tro, chạm vào là vỡ vụn.

Rõ ràng là kéo chàng Shichizameon hiếu thảo ra khỏi mộ chí kia là một điều lầm lẫn.

Một bà lão nhặt lên một ngón tay của anh vừa rơi xuống đất và cất vào trong tay áo. Bà nghiêng mình mà nói: “Để cho thằng con trai vô tâm, bất trị của già này uống”.

Các thôn dân khác cũng bắt chước nhặt nhạnh từng mảnh hài cốt. Thứ tro linh ấy đã truyền từ đời này sang đời khác như thể gia bảo. Khi ta còn nhỏ mẹ ta đã cho ta uống. Không biết có phải vì thế mà ta-và cả con bé này nữa-sợ sấm hay không”.

- Vậy là cô bé này (tôi ám chỉ người vợ mới) cũng được cha cho uống tro ấy à?

- Không, ta quên. Nhưng nếu bên nhà con thích thì ta sẽ gửi một gói cho nó.

Trong căn nhà mới của chúng tôi ở ngoại ô thành phố, bốn con dế nhảy ra từ phía sau chiếc bàn làm việc mới tinh của vợ tôi. Chiếc khăn phủ trắng muốt cũng chưa thay. Người vợ mới của tôi ánh lên vẻ rạng rỡ của một bó hoa tử đinh hương vào đầu mùa hạ. Thế rồi một lần nữa, tiếng sấm cuồng bạo lại nổ rền như thể mùa hạ đang tự hủy. Khi tôi ôm giữ cô dâu bé nhỏ đang run rẩy của mình, cái mà tôi cảm thấy trước hết qua làn da nàng là một người mẹ trong nàng.

Ai dám bảo tôi sẽ không trở thành một hình hài cháy rụi khi tôi ôm ấp cái bia mộ mềm mại ấm nồng này? Chớp lóe sáng. Sấm như thử biến chiếc giường cưới của chúng tôi thành một chiếc giường chết chóc, vang động rầm rĩ trên mái nhà.

- Màn, đóng màn lại mau!
Sất
18-08-05, 20:03
Trong đời thật, chúng ta chỉ có một số ít ỏi các cơ hội để tái tạo lại mình, phần nhiều không phải do mình tự quyết. Một khi sinh ra và lớn lên trong hình xác và tâm trí này, đa phần là mình bị trói buộc lại cho đến cuối cuộc chơi, một cuộc chơi mà ít người cảm thấy hoàn toàn thỏa mãn. Chính vì thế nhu cầu tìm kiếm lối thoát, dù là tạm thời hay vĩnh viễn, trong ai cũng có ít nhiều. Có người tìm lối thoát trong cơn say, có người trong việc du lịch, có người trong tình yêu và gia đình, có người trong giấc mơ giấc mộng. Trẻ con thanh niên tìm lối thoát trong việc học hành, trong rượu,

Mình ko ưa Gấu, vì mấy chuyện mình hỏi Gấu ko có trả lời rõ ràng và dứt khoát, tức là ko biết nói không. Tuy nhiên lúc rồi có định viết bài phân tích đoạn này ở to pic thật giả của chị Vill thì thấy đã bị đóng và đã đưa vào Hin tơn . Vì thấy Gấu có nhắc một số chi tiết nhỏ chạm đến khái niệm tâm lý học. Thì cũng chả thế nào cả, tuy nhiên thế nào mà mình gở rói ra cái topic này, mới thấy ngộ nên bốt cái truyện này tặng Gấu. Hi vọng là sau này, mình sẽ làm đươc một cái trò trống gì đấy hay hớm xuất sắc như thế nào đấy với những trò chơi trong sự trói buộc nào đấy của mỗi con người sẽ ko sao thỏa mãn tuyệt đối.
như thế nào đấy




Cuốn từ điển tâm lý ở giữa thế giới các cô bạn
hay
Sự trói buộc& sự giải thoát - cái tôi


Những cơn ngấy ngúa ở giữa những thế giới các cô bạn, chứng ám ảnh xa x­a của một cuốn từ điển tâm lý, dạo này, tôi cảm thấy cần phải làm một cái gì đó, cho rằng nó phải mang cái tên rằng khuấy động, một cái gì đó bất th­ường và khủng khiếp cho tan bớt cái cảm giác nhạt nhẽo này. Cái từ đ­ược gọi là nhạt nhẽo ấy mang một màu cũ bạc, lại loang loáng nh­ một đống ruột lợn ­ớt làm gợi cảm giác muốn buồn nôn mà không nổi. Tôi không biết tìm đâu cái đống bèo nhèo và lôi chúng ra bằng cách nào cho nhẹ nhõm, cảm giác tởm lợm vì khó chịu ứ đầy mặc kệ nỗi sợ trở nên béo tốt phì lên, tôi vẫn ăn cứ nh­ là sắp đến ngày tận thế. Cứ cái cảm giác ngấy lên ấy không sao thoát đ­ợc, tôi có một cái thói nh­ một kiểu trạng thái bệnh lý là ăn nh­ ch­a bao giờ đ­ợc ăn, nh­ thể lên một cơn bệnh hoạn nào đó, nhồi nhét tống táng lấy đ­ợc vào cái thùng tôi đang trống rỗng và không cảm giác khi ăn, nh­ thể là cả thế gian những mớ ý nghĩa rơi hết vào đống thức ăn tôi chỉ còn một niềm say mê sung s­ướng.



Hôm nọ tôi vào thư­ viện vớ phải cuốn sách Từ điển tâm lí, thấy các nhà tâm lý cho rằng có một giai đoạn ngư­ời ta hình thành cái gọi là cái tôi, tôi ngờ ngợ mà nghĩ rằng từ khi cái tôi của tôi ra đời quãng thời gian xa x­a nào đó. Từ một thế giới mù mịt và hỗn mang những ý nghĩ không thành hình, chúng đan chéo, ngắn ngủi, non tơ run rẩy, ngơ ngác trong thế giới hỗn mang ấy, cái tôi của tôi hiện ra rõ dần hình vẻ, đó là một cái gì đó mang khuôn vẻ sáng rõ, thế giới hỗn mang biến dần, sáng dần s­ơng mờ đã bay đi hết chỉ còn lại những gờ tường đan héo những ý nghĩ rất dài của tôi óng ánh óng ánh màu xanh đỏ nâu đen xám, toàn là những màu t­ươi mới và rõ ràng, dù những ý nghĩ chúng rất nhỏ và mỏng manh nh­ những sợi chỉ . Tôi vẫn luôn nhớ thế giới h­ ảo tr­ước ấy, nuối tiếc vì cho rằng lúc đó nó đẹp đẽ hơn rất nhiều. Có một khoảng thời gian tôi đã viết dòng chữ rằng tôi đã hé mở một cửa sổ nào đó của tâm hồn mà nhìn ra thế giới hiện thực, thế giới mà mọi ngư­ời đang sống, thế giới mà chung cho tất cả mọi ng­ời. Tôi cảm thấy tôi đang ngơ ngác bằng đôi mắt mở to sợ hãi, ngạc nhiên và lo ngại, đằng sau cánh cửa kia là tất cả của riêng tôi và mình tôi, những câu chuyện cổ tích, những nàng công chú và chú thiên tinh bé nhỏ trong veo, leng keng lảnh lót những điệu nhac rất êm dịu. Tôi ấm áp, yên ổn và tôi đã quen thuộc lắm chúng.



Tôi thật sự bị ám ảnh bởi cuốn từ điển tâm lý, khi nhìn lại quá khứ. Bây giờ, bất chợt tôi đang cho rằng cái thời kỳ mà tôi đã đau khổ ghê lắm, là một thứ cần phải xảy ra nh­ thứ gọi là điều tất yếu. Dạo ấy tôi đau khổ, tạo hoá buộc tôi phải bứ­ơc ra khỏi thế giới của riêng mình với những giấc mơ mà hoà vào cái chung của mọi ng­ời. Nh­ững ng­ười lớn đã từng làm một cách thông th­ường và khôn ngoan, tự nhiên như­ một cái khuôn thói quen của loài ng­ười là cho cái thể giới lung linh đẹp đẽ ngày x­a bé lại chỉ còn những giọt tinh tuý nhất đựng cất ở nơi góc trái lồng ngực gần trái tim và thi thoảng mới mở ra. Có thể lâu ngư­ời ta mới nhấc ra hoặc chui vào để có thêm sức lực hoặc để cho cân bằng.Trong cái thế giới ấy rất hiếm hoi hoặc những ng­ời cất thêm vào đó, tình yêu và những tình bạn trong sáng, sự tin t­ưởng.

Còn có một thế giới chung của mọi ng­ười, mỗi ngư­ời có một bản nháp giống nhau hơn là cái thế giới riêng kia, hình nh­ nó chẳng hay ho đẹp đẽ gì cho lắm. Tôi thì cho rằng nếu tôi muốn nó đẹp và cẩn thận nhìn nó ở góc cạnh nào đó mà tôi cần phải chọn lựa thì nó cũng đẹp đẽ và dễ chịu thôi. Nh­ng tất cả đám bạn tôi, tất cả những ng­ười xung quanh tôi đều nhăn hết mặt lại, hoặc có kẻ quá kích thì hét vào tai tôi rằng, xấu xa, nhạt nhẽo hoặc kinh khủng ghê tởm lắm.



Tôi không hiểu tại sao lại như­ vậy, lại rất nhiều ngư­ời quá nh­ư thế bảo tôi với những trạng thái chẳng lúc nào dễ chịu, tôi đâm hoang mang, ngơ ngác và sợ hãi triền miên ở trong thế giới riêng mình mà đáng ra tôi phải b­ước qua cái giai đoạn này từ rất lâu rồi. Chỉ trừ có bố tôi, thế giới của bố tôi đẹp đẽ trong sáng và dễ chịu, tôi hiểu như­ một sự logich hiển nhiên là tôi và bố giống nhau và tôi là một bản sao của bố. Như­ng để tồn tại thì thế giới của tôi cũng phải giống mọi ng­ười một điểm nào đó, không thể khác biệt quá như­ thế, cô bạn thân nhất của tôi đã bảo vậy. Tôi cần phải chui ra một nửa với cuộc đời, các cô bạn nh­ư những tấm g­ương đã hét lên với tôi tỉnh dậy. Có một tấm màng bọc lấy tôi, cách biệt tôi với mọi ng­ời, nh­ thế thì tức là không ổn đâu. Cái từ không ổn ấy không đơn giản, như­ trong nó ôm một bọc những từ ngữ khủng khiếp và êm dịu, chúng cộc nhau toé lửa và đánh nhau. Một cái gì ghê gớm, tôi vừa sợ hãi vừa thích thú - có lẽ là vẫn sợ hãi nhiều hơn- theo dõi chúng đánh nhau.

...
Sất
18-08-05, 20:07
...tiếp theo ...



Tôi ngỡ ngàng nhìn những cô bạn của tôi viết những dòng chữ chán ch­ường lên bản nháp ấy. Một cô bạn với khuôn mặt nhợt nhạt kêu thét lên vào những buổi sáng hoặc rên rỉ vào những buổi chiểu rằng sáng mai trên gi­ờng của cô có lẽ là một xác chết. Cô cải tạo thế giới bằng những miếng cắn đau điếng và bất thình lình vào tay bạn bè, tôi đã hai lần bị cô cắn, đau kinh khủng. Tôi bảo cô rằng nếu cho cô sang xã hội Mỹ ( tất nhiên cái cái xã hôi ở trên báo tôi đọc). Nó rất hợp với cô vì cô có một cái gì đó giống họ. Một cô bạn của tôi thì luôn ngạc nhiên vì nhận thấy tôi vui vẻ quá và đau buồn quá. Tôi bảo cô cân bằng kinh khủng và cô gật đầu. Khi cô vui, tôi vét cạn mọi ý nghĩ bên ngoài trong lòng thì ngạc nhiên thấy cô đ­ưa một ánh mắt xám bạc chẳng có vị gì cả, cô bảo tôi. Cô chán chường bình thản và cái sự vui vẻ ấy chẳng qua chỉ là thuộc cái vỏ ngoài cùng cô nơi tiếp xúc với hiện thực. Tất nhiên không phải cô giả dối, tôi tin tư­ởng chắc chắn rằng cô vui thật sự và thật lòng, còn nỗi buồn thì cô ít gặp, cô bảo vui lòng thoả mãn và chấp nhận tất cả cuộc sống hiện thực, cô không suy nghĩ và phán xét.

Cô bạn thứ ba của tôi là ng­ời đã hét vào tai tôi từ nhạt nhẽo, vì cô thân nhất với tôi lên tôi đã bất giác cũng cảm thấy như­ cô, cô luôn uể oải với những chán ch­ờng vô bờ hoặc vui s­ớng đến cuồng lên. Hai sự này cứ đối lập luân phiên trong con người cô với độ vênh rất lớn. Khi bất chợt chán ch­ường, chính cô cũng không hiểu cô chán ch­ường vì điều gì, cô ngồi trong chăn, l­ưng ngả vào gối suốt mấy ngày, nhất quyết không ăn gì và cáu gắt với tất cả mọi ng­ời, rất mệt mỏi làm những việc điên rồ nhất và có thể đạp tung cả thế giới. Và cô khắc phục chúng bằng cách tự tạo cho mình những biện pháp hết sức tích cực và thú vị là đi tìm những ý nghĩa của cuộc sống - tức là thế giới hiện thực- vì cô cho rằng những sợi ý nghĩa chúng lang thang vô định trong không gian mà cứ ngồi im thì chúng chẳng đến hoặc ít khi gặp đ­ược. Cô đi làm công việc là chạy với trong không gian tìm những sợi ý nghĩa bó chúng lại, những lúc ấy cô vui vẻ sung s­ớng, cô biết đ­ợc cái giá trị của nó trong cái thế giới hiện thực cô cho rằng nhạt nhẽo nhờ nhợt vô vị này. Rồi mệt mỏi sau khi những mớ ý nghĩa ấy đi hết cô lại không tìm thấy chúng hoặc hụt hẫng vì chúng đi mất để cô một mình, cô rơi tuột xuống một cái hố đau khổ. Cô cứ tiếp tục những cuộc r­ợt đuổi đi lên và đi xuống ấy, cô đã nghiện những sợi ý nghĩa, cô bằng lòng vô cùng vì sự gồ nghề mà cô tạo nên với một lời phát biểu rằng cô căm ghét sự bằng phẳng.

Tôi hoang mang với những ng­ười bạn, những ng­ời mà tôi có thể nhìn đư­ợc tâm hồn họ và so sánh. Tôi hoang mang với câu văn trong cuốn từ điển tâm lý mà tôi biết đã nhiều ng­ời nhắc rằng nên ghi nhớ vì nó quan trọng lắm. Câu văn đó viết rằng: “ thế giới hiện thực thì khách quan những conng­ời thì chủ quan và hiện thực thì chúng ta nhìn thấy thông qua bộ óc, chính là lăng kính …”. Tôi đâm ra hoang mang đến cực độ vì không biết phải làm như­ thế nào. Những câu hỏi giống nhau và khác nhau về một hiện thực cần phải cân bằng khách quan trong môn triết học đại c­ương chạy trong đầu tôi một cách điên. Tôi nghĩ đến một cô bạn khác, cô bạn hay buôn với tôi những câu chuyện dằng dặc ở lớp. Cô thì tìm mọi cách nhấn chìm và dấu biệt thế giới trong trẻo của tôi, cô bảo với tôi rằng cậu có muốn làm nhà văn đ­ược đâu mà cậu cứ muốn phơi bày và mở rộng cái thế giới hay hớm của cậu ra. Cậu muốn sống bình th­ường và điều đó bất bình th­ường. Chỉ những ông nhà văn, nhà thơ mới thế thì phải, mà đời th­ường thì chính các ông ấy rất khổ sở vì nhiều ng­ười th­ường bảo họ hâm. Cậu phải biết chạm mặt vào trần trụi hiện thực để những thứ vô ích là đẹp đẽ với hay hớm của cậu kia để chúng đánh nhau, hiện thực thì nhạt nhẽo xấu xa nên phản ứng sẽ xảy ra xèo xèo, từ đó cậu sẽ tìm đ­ược cuộc sống cậu tìm, mẩu còn lại cậu cho vào một cái lọ cất đi ở phía bên trái lồng ngực như­ mọi ng­ời, thi thoảng cậu bỏ nó ra ngắm nghía.



Tôi thấy những lời cô nói thật ý nghĩa, ý nghĩa hơn tất cả những bó ý nghĩa mà tôi mơ ­ớc của cô bạn căm nghét sự cân bằng. Tôi nhận thấy tôi đã luôn sợ hãi giáp mặt với hiện thực, bất cứ cuộc nói chuyện hơi lâu một chút với một ng­ười không quen biết nào cũng làm tôi run rẩy, sợ hãi và cảm thấy nh­ từ hai cửa sổ xa lạ, hai con ng­ời đang nhìn nhau qua những tấm gỗ thô kệch. Tôi chối từ với cuộc tiếp xúc và điều này là đáng sợ. Tức là tôi đã không biết rằng từ một thời rất xa x­a tôi đã ngập ngừng không muốn rút chân khỏi thế giới h­ư ảo của mình, đến tận bây giờ tôi vẫn đứng yên khi mà mọi thứ xung quanh tôi đang vận động và đổi khác. Tôi thì vẫn ngập ngừng sợ hãi ôm một câu hỏi to t­ướng tại sao. Câu hỏi ấy đã mất rồi mà tôi vẫn còn ôm cái bóng của nó rồi cứ t­ưởng mình đã đi qua b­ớc vào một thế giới khác, ngây thơ tư­ởng rằng nó chỉ có một bộ mặt giống như­ thế giới tr­ớc kia của tôi. Thực ra cái thế giới mà tôi đang b­ước vào nó có nhiều góc cạnh, những góc cạnh mà tôi nhìn thấy chỉ là vô số những góc nhìn của con ngư­ời. Là một ng­ời biết nhìn rõ những góc cạnh ấy , lúc ấy cái tôi mới rõ ràng và cuộc sống tôi sẽ tìm thấy của riêng tôi.




Trích từ tiểu thuyết 21 khúc biến tấu ( nxb Hội nhà văn, 12/2004 )

Nguyễn thị Thuý Quỳnh
Sất
18-08-05, 21:29
Mình phân tích thêm.

Khi vừa mới sinh ra con người có phải có một tâm trí trong trắng tốt đẹp tài năng song rồi sau đó bị trói buộc trong những trò chơi- khoác những tấm mặt nạ trong trò chơi - và ko sao tìm thấy cái tôi đích thực duy nhất - nguyên ủy- cái tâm trí sơ sinh làm mình thỏa mãn ???

Câu trả lời của mình là ...ko phải ko cũng ko phải có .Giống như ở topic này, câu khẳng định về những chuyện ngắn được cho là xuất sắc,lại thành ra một câu hỏi dành cho chính nó. Không bao giờ, bạn, người lập ra chiếc topic này có thể tìm thấy một câu trả lời xác thực đầy đủ nhất về cái gọi là những truyện ngắn xuất sắc, truyện ngắn xuất sắc là do mỗi cá nhân chiếc nick chọn lọc, là do những chiếc nick thuộc nhóm cộng đồng thường hay tiếp xúc loại văn chương nào . Vì nó , câu hỏi nằm trong chiếc topic này nằm ở TL, nên mình nghĩ, nếu như mình được bầu chọn trong đó thì hợp lý hơn cả.Điều này thì thú vị hơn .



Không biết mình viết có dễ hiểu ko?
Mây
18-08-05, 22:21
Việc đưa ra các tác phẩm văn học xuất sắc thể hiện trình độ cảm nhận văn học của người post. Vì thế Sất đừng hạ nhục người khác như vậy chứ?