100 nhà kinh tế vĩ đại sau Keynes

KhổngMinhĐức
24-06-05, 23:59
100 nhà kinh tế vĩ đại sau Keynes
Lời tựa
Cuốn sách giành cho những ai đang lần đầu nghiên cứu kinh tế học, nghe giáo sư trên giảng đường nhắc tới những cái tên như Friedman, Galbraith, Samuelson, muốn tìm hiểu thêm về những nhà kinh tế học cận đại này, tại sao họ được đánh giá quan trọng. Cuốn sách này miêu tả sự nghiệp và những đóng góp của 100 nhà kinh tế nổi tiếng, mà tên tuổi của mỗi vị đều để lại một dấu ấn cho kinh tế học thế kỉ 20.

1. Adelman Irma (1930-)
(còn tiếp)
a-tu-la
26-06-05, 00:52
Bạn gì có cái link nào về cuốn sách cho xem với đuợc không? Hoặc nếu có thể cho họ cái mục lục (danh sách 100 bác kể trên). Cảm ơn bạn nhiều.



100 nhà kinh tế vĩ đại sau Keynes
Lời tựa
Cuốn sách giành cho những ai đang lần đầu nghiên cứu kinh tế học, nghe giáo sư trên giảng đường nhắc tới những cái tên như Friedman, Galbraith, Samuelson, muốn tìm hiểu thêm về những nhà kinh tế học cận đại này, tại sao họ được đánh giá quan trọng. Cuốn sách này miêu tả sự nghiệp và những đóng góp của 100 nhà kinh tế nổi tiếng, mà tên tuổi của mỗi vị đều để lại một dấu ấn cho kinh tế học thế kỉ 20.

1. Adelman Irma (1930-)
(còn tiếp)
KhổngMinhĐức
04-07-05, 20:08
95. Tobin James (1918-2002)

http://photobucket.com/albums/a80/khongminhduc05/tobin.gif
James Tobin là nhà kinh tế học lỗi lạc nhất thuộc trường phái Keynes, không chỉ bởi ông đã từ chối đi lên theo trào lưu của Monetarism, mà còn do ông kiên định với quan điểm rằng căn nguyên thuyết Keynes về xác định thu nhập có khả năng mở rộng và trau chuốt để giải quyết những vấn đề kinh tế vĩ mô của thập kỉ 80. Nghiên cứu đột phá của ông về độ co giãn lãi suất cầu tiền tệ, những nghiên cứu thực nghiệm về tiêu dùng và tiết kiệm, những phân tích về ảnh hưởng của các biến tài chính đến quyết định chi tiêu, những cố gắng để kết hợp chu kì tiền tệ và thương mại vào mô hình kinh tế tăng trưởng, những phê bình sắc sảo về lý thuyết khung của Milton Friedman cho trường phái Monetarism và sự biện hộ cho quản lý cầu chống lại những kết luận tiêu cực của trường phái kinh tế vĩ mô tân cổ điển đã đem lại cho ông giải Nobel Kinh tế năm 1981. Nhiều giải thưởng và học vị danh dự khác cũng đến với ông: Huy chương John Bates Clark của Hiệp hội kinh tế Hoa Kì năm 1955, Chủ tịch Hội Kinh tế Lượng năm 1958, Chủ tịch Hiệp hội kinh tế Hoa Kì năm 1971, và nhiều bằng danh dự từ năm trường đại học Âu và Mỹ.

Tobin sinh năm 1919 tại Champaign, Illinois và nhận bằng cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ từ trường Harvard vào năm 1939, 1940 và 1947. Ông bắt đầu giảng dạy tại Đại học Harvard từ năm 1945 nhưng sau đó chuyển sang Đại học Yale năm 1947 nơi ông đã ở lại với học hàm Giáo sư Kinh tế, trừ 1 năm tại Washington dưới cương vị Chủ tịch Hội những nhà cố vấn kinh tế Kennedy năm 1961-1962, và 1 năm khác tại Nairobi, Kenya dưới chức danh Giáo sư mời tại Viện Nghiên cứu phát triển Nairobi năm 1972-1973.

Những năm ở Washington mang lại một bộ bài giảng: Chính sách kinh tế Quốc gia (Tạp chí ĐH Yale, 1966). Ngoài bộ bài giảng gần đây, Tích lũy tài sản và hoạt động kinh tế (Basil Blackwell, 1980), toàn bộ những công trình của ông được biết đến qua những bài luận đăng trên tạp chí chuyên ngành. Chúng được thu thập và gộp lại trong: Essays in Economics: Macroeconomics (Markham, 1971; North-Holland, 1974), The New Econmics One Decade Older (Princeton University Press, 1974), Essays in Economics: Consumption and Econometrics (North-Holland, 1975), và Essays in Economics: Theory and Policy (MIT Press, 1982).

Công việc nghiên cứu trọng tâm của Tobin là khái niệm về sở hữu tài sản. Mọi thành viên trong xã hội đều có thể nắm giữ tiền, trái phiếu, hay vốn dưới dạng cổ phiếu và cổ phần. Ở hầu hết các mô hình kinh tế vĩ mô, ba dạng tài sản nêu trên thường được lược giảm thành hai loại tiền và trái phiếu như trong Lý thuyết chung của Keynes, dựa vào giả thiết rằng trái phiếu và cổ phiếu là vật thay thế hoàn hảo trong danh mục đầu tư của nhà đầu tư, do vậy có thể coi là tương đương. Không đồng ý với giả thiết này, Tobin dẫn tới một kết luận là ảnh hưởng của chính sách tiền tệ lên sản phẩm và thu nhập thực tế không thể được xét dựa vào mức lãi suất: tiêu chuẩn đánh giá sau cùng của co hay giãn tiền tệ không phải là mức lãi suất, mà là mức thu hồi vốn mà người sở hữu của cải yêu cầu để hấp thu những trái phiếu, cổ phiếu hay cổ phần vào danh mục đầu tư của họ. Nói một cách tổng quát hơn, nhân tố đánh giá sau cùng của tăng cầu hay giảm phát là mối quan hệ giữa vốn và nợ (tổng tài sản) của các doanh nghiệp như được định giá trên thị trường chứng khoán, và giá thay thế hiện tại của các tài sản của các doanh nghiệp đó; tỷ lệ của 2 nhân tố tổng quát này được gọi là "Tobin's q" . Sự thay đổi q có thể xảy ra vì một sự thay đổi nào đó trong khu vực tài chính làm thay đổi lãi suất nhà đầu tư yêu cầu để giữ vốn, nhưng nó cũng có thể xảy ra bởi thay đổi do bất kì lí do nào đó thuộc kỳ vọng của nhà đầu tư. Trong bài viết "A General Equilibrium Approach To Monetary Theory" , Journal of Money, Credit and Banking, 1969, một bài viết tổng hợp toàn bộ những nghiên cứu trước đó của ông về lưu lượng tài chính, ông đã kết luận rằng cách cơ bản để những sự kiện trong khu vực tài chính ảnh hưởng tổng cầu là bằng cách thay đổi tỷ lệ q. Chính sách tiền tệ có thể dẫn tới sự thay đổi này nhưng đồng thời dẫn tới sự thay đổi về sở thích cho tiền, trái phiếu và vốn. Bản chất của vấn đề là chính sách tiền tệ chỉ là một trong những nhân tố làm thay đổi tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp, và nó không nhất thiết phải là nhân tố quan trọng nhất. Đây là câu trả lời của ông giành cho trường phái "monetarism".

Trong một bài viết kinh điển, "Liquidity Preference as a Behavior Toward Risk (http://cowles.econ.yale.edu/P/cp/p01a/p0118.pdf)", Review of Economic Studies, 1958, Tobin gợi ý rằng nhà đầu tư nên cân bằng giữa giá trị trung bình và sự giao động của lợi nhuận đầu tư. Lợi nhuận đem lại từ tài sản tài chính phụ thuộc vào lãi suất và lợi nhuận hay sự thiệt hại đem lại từ sự thay đổi của giá tài sản. Những lợi nhuận này, vì thế, được miêu tả hoàn toàn bằng lợi nhuận trung bình, dựa vào lãi suất, và sự giao động của lợi nhuận này, dựa vào xác suất của lợi nhuận hay sự thiệt hại đem lại từ sự thay đổi của giá tài sản. Sự lựa chọn của danh mục đầu tư, bao gồm sự trộn lẫn giữa tiền, chứng khoán và trái phiếu, do đó được xác định theo sở thích của nhà đầu tư cho giá trị trung bình lợi nhuận cao/giao động thấp thay vì giá trị trung bình lợi nhuânk trung bình thấp/giao động cao (tiền, dĩ nhiên mang lại giá trị lợi nhuận trung bình và dao động bằng 0). Ứng dụng về khái niệm cân bằng danh mục đầu tư của Tobin cho cầu tiền tệ và tài sản nói chung trong một loạt bài viết từ năm 1958 đã minh họa sâu rộng cho sự phát triển của một nhánh quan trọng khác của kinh tế học gọi là "Lý thuyết tài chính".

Nợ nhà nước và quản lý nợ, Kinh tế học ngân hàng thương mại, những chính sách chủ động để kích thích kinh tế tăng trưởng là những lĩnh vực quan tâm khác của Tobin. Mặc dù là một đối thủ láu lỉnh của Friedman trong những phân tích về vấn đề tiền tệ, nghiên cứu của Tobin về vấn đề đói nghèo lại dẫn ông tới ủng hộ đề xuất của Friedman cho một mức thu nhập tối thiểu đảm bảo dưới dạng thuế thu nhập âm. Ông cũng đã đóng góp một số nghiên cứu cho ứng dụng kinh tế lượng, phát minh ra một phương pháp biết đến dưới tên ông là phuơng pháp phân tích TOBIT cho ước lượng thống kê những mối quan hệ liên quan đến giải thích các biến phụ thuộc biểu diễn bằng số xác suất, ví dụ như xác suất của sự bị thất nghiệp, xác suất của di cư, v.v.
KhổngMinhĐức
04-07-05, 22:27
Atula tiên sinh: Quyển này không có bản ebook, còn sách da dê có thể tìm mua tại đây:Great Economists since Keynes (http://www.amazon.com/exec/obidos/tg/detail/-/1858986923/qid=1120488543/sr=8-2/ref=sr_8_xs_ap_i2_xgl14/104-1603635-2173563?v=glance&s=books&n=507846)

http://photobucket.com/albums/a80/khongminhduc05/1858986923.jpg

MỤC LỤC:
1. Adelman, I.
2. Alchian, A.A.
3. Arrow, K.*.
4. Bain, *.S.
5. Baumol, W.*.
6. Becker, G.S.
7. Bergson, A.
8. Boulding, K.E
9. Bowles, S.
10. Buchanan, *.M.
11. Burns, A.F.
12. Chenery, H.B.
13. Clower, R.W.
14. Coase, R.H.
15. Debreu, G.
16. Demsetz, H.
17. Denison, E.F.
18. Dobb, M.H.
19. Domar, E.D.
20. Dorman, R.
21. Douglas, P.H.
22. Downs, A.
23. Feldstein, M.
24. Fogel, R.W.
25. Friedman, M.
26. Frish, R.A.K.
27. Galbraith, *.K.
28. Georgescu-Roegen, N.
29. Gerchenkron, A.
30. Haberler, G.
31. Hahn, F.
32. Hansen, A.H.
33. Harrod, R.F.
34. Hawtrey, R.G.
35. Hayek, F.A. von
36. Hicks, *.R.
37. Hirschman, A.O.
38. Hotelling, H.
39. Isard, W.
40. Johnson, H.G.
41. Jorgenson, D.W.
42. Kaldor, N.
43. Kalecki, M.
44. Kindleberger, C.P.
45. Klein, L.R.
46. Knight, F.H.
47. Koopmans, T.C.
48. Kornai, *.
49. Kurnets, S.
50. Lancaster, K.*.
51. Leibenstein, H.
52. Leijonhufvud, A.
53. Leontief, W.W.
54. Lerner, A.P.
55. Lewis, W.A.
56. Lipsey, R.G.
57. Little, I.M.D.
58. Lucas, Jr, R.E.
59. Machlup, F.
60. Malinvaud, E.
61. Marschak, *.
62. McCloskey, D.N.
63. Meade, *.E.
64. Mincer, *.
65. Mises, L.E.von
66. Modigliani, F.
67. Morgenstern, O.
68. Morishima, M.
69. Mursgrave, R.A.
70. Myrdal, G.
71. North, D.C.
72. Ohlin, B.G.
73. Okun, A.M.
74. Pasinetti, L.L.
75. Patinkin, D.
76. Phelps, E.S.
77. Phillips, A.W.
78. Posner, R.A.
79. Robbins, L.
80. Robinson, *.
81. Rostow, W.W.
82. Samuelson, P.A.
83. Sargent, T.*.
84. Schultz, T.W.
85. Scitovsky, T.
86. Sen, A.K.
87. Shackle, G.L.S.
88. Simon, H.A.
89. Solow, R.M.
90. Spence, M.A.
91. Sragga, R.
92. Stigler, G.*.
93. Stiglitz, *.E.
94. Tinbergen, *.
95. Tobin, *.
96. Triffin, R.
97. Tullock, G.
98. Vanek, *.
99. Viner, *.
100. Weintraub, S.
a-tu-la
05-07-05, 01:46
Cuốn này hay quá Thợ Đời nhỉ. (Khổng Minh Đức là Thợ Đời???) Chú đang dịch à??? Vỗ tay nhiệt liệt, nhiệt liêt. Tuyệt vời!!!

Tưởng ai viết hóa ra Mark Blaug. Chính bác này cũng nên liệt vào 100 cái tên trên.

Nhưng không hiểu sao Blaug sơ suất thế nhỉ, không thấy tên các đại gia như Akelof, Nash, von Neumann, v.v...

Với cả đồng chí số 91 là Piero Sraffa chứ Thỏ nhỉ?
cartman
05-07-05, 07:00
Tập này hình như là tập 2 trong bộ có hai tập Before, và After Keynes. Quyển này chỉ mang tính giới thiệu, mỗi người đâu chỉ có 1-2 trang nên cũng chỉ coi như lướt qua thôi. Mặc dù Mark Blaug là một trong những người giỏi nhất về sử kinh tế (economic thought) nhưng em thấy bộ này giống kiểu 100 danh nhân, hay 100 vị tuớng gì đấy cho các cháu thiếu nhi đọc. Em thấy về sử kinh tế nếu ở nhà dịch được cuốn của Schumpeter là đỉnh nhất, chứ dịch cuốn này chỉ giới thiệu đơn thuần được về nhân vật,
a-tu-la
05-07-05, 07:13
Cartman nhận xét rất chính xác. Mình đang nghĩ Blaug viết cuốn này như kiểu thắp huơng cho anh em trong ngành, gọi là có huơng có hoa. Phần nhiều các bác đã già lắm rồi hoặc đã đi cả. Nhặt một lúc 100 ngưòi thì hơi nhiều quá. Thế kỷ XX lấy ra 10 người là đủ.

Cuốn Analysis của Schumpeter mà dịch ra được thì hoành tráng quá, nhưng không biết có bán đựoc không vì giá bán sẽ rất cao (2-300 ngàn), mà lại ít ngưòi đọc đến. Chưa kể là muốn dịch phải có đội ngũ đàng hoàng. Theo đánh giá của mình thì bây giờ ta chưa làm đươc.
KhổngMinhĐức
05-07-05, 22:04
Atula tiên sinh, em không phải là thợ đời. Chuyện về thợ đời thì như thế này. Có lần x nào đó, thợ đời than thân trách phận hẩm hiu xấu trai x có việc gì làm phải đi ngồi dịch Hegen. Một ngày đẹp trời, cu nào bốt ảnh thỏ lên, không hiểu có phải do thỏ ăn ảnh không dưng mà công nhận nhìn rất thỏ, thế là em quí tình yêu thỏ hì hì, lấy luôn cái title của thỏ làm chữ kí cốt để VLC. Công nhận trên mạng này nhiều chuyện chỉ nghe nói không x thể tin được. Hay như ty Saint, hồi ở vn2k suốt ngày kêu mình già hói xấu bẩn, đến khi gặp thì công nhận Saint phò hào hoa số 1 (tuy có hơi hói thật :) ).

Quay trở về chuyện sách, em ngồi dịch chơi, thấy ông nào mình quan tâm đến thì dịch trước, coi như là lấy một cái view tổng quan cho mình luôn vậy. Em nghĩ dịch sách cho các bạn, các cháu nhi đồng ở nhà thì đâu nhất thiết phải dịch cuốn thật khó, vì nếu các cháu có đủ tầm để đọc những cuốn đó, chưa chắc đã cần đến bản dịch, mà xem luôn bản gốc rồi.

Cuốn này là một trong những cuốn tham khảo tại thư viện KT trường em. Nếu khả thi, em tính rủ bác dịch cùng, rồi tặng vài cuốn cho các trường KT ở nhà, bác thấy thế nào.

Nếu bác đồng ý, thì bác cho em cái địa chỉ, em sẽ photo một cuốn gửi cho bác nhé. Chúng ta dịch trên tư tưởng là VLC, nhưng tất nhiên là nghiêm túc, vì thế bác thấy thích ông nào thì em để bác dịch ông đó. Bác cartman ạ, đúng là mỗi ông viết khoảng 1, 2 trang nên dịch cũng nhàn, nhất là nếu đã biết qua về họ, nếu bác có hứng ông nào thì tham gia dịch cùng cho vui nhỉ. Em thì đang quan tâm đến những ông này:

3. Arrow, K.*.
6. Becker, G.S.
15. Debreu, G.
25. Friedman, M.
31. Hahn, F.
36. Hicks, *.R.
42. Kaldor, N.
58. Lucas, Jr, R.E.
66. Modigliani, F.
73. Okun, A.M.
77. Phillips, A.W.
82. Samuelson, P.A.
83. Sargent, T.*.
89. Solow, R.M.
93. Stiglitz, *.E.
95. Tobin, *.
KhổngMinhĐức
06-07-05, 22:37
89. Robert Solow (1924-)


http://photobucket.com/albums/a80/khongminhduc05/solow.gif

Robert Solow được biết đến hầu hết bởi những cống hiến của ông cho thuyết về vốn và tăng trưởng trong thập niên 50 và 60, nhưng ngoài ra ông còn có những đóng góp khác trong những năm gần đây, có lẽ kém rõ ràng hơn, cho phân tích kinh tế vĩ mô và kinh tế tài nguyên không thể phục hồi. Hai trong số nhiều bài viết của ông, “A Contribution to the Theory of Growth”, Quarterly Journal of Economics, Feb 1956, và “Technical Change and the Aggregate Production Function”, Review of Economics and Statistics, Aug 1957, đã trở thành tác phẩm kinh điển cho thuyết kinh tế tăng trưởng, và mối quan tâm liên tục của ông về thuyết tăng trưởng được chứng tỏ qua cuốn SGK trình độ trung cấp “Growth Theory: An Exposition” (Oxford University Press, 1969). Trước đó, ông đã cùng với Dorfman và Samuelson viết cuốn “Linear Programming and Economic Analysis” (McGraw-Hill, 1958), cuốn sách này đã góp phần tạo nên sự phát triển của thuyết tăng trưởng sau thế chiến vào những năm cuối thập kỉ 50 và làm cho thuyết này được tiếp cận đến những nhà kinh tế trẻ.

“A contribution to the Theory of Growth” là phiên bản tân cổ điển đầu tiên của mô hình tăng trưởng Harrod-Domar, bởi trong mô hình của Slow, vốn và lao động là sự thay thế cho nhau, kết quả là sự tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế hướng tới mức không có tình trạng thất nghiệp. Tương tự, “Technical Change and the Aggregate Production Function” đánh dấu sự khởi đầu của cái gọi là “phép tính nguồn tăng trưởng”, khái niệm mà trong chốc lát đã tạo ra hàng loạt sự tính toán cho hàm tổng sản lượng, cố gắng tách rời những đóng góp cho kinh tế tăng trưởng từ sự tăng lượng lao động và vốn và sự tăng bởi những thay đổi của khoa học kỹ thuật. Solow tiếp tục với một số bài viết khác để tạo nên những mô hình đặc trưng cho sự tăng trưởng, nghĩa là, những mô hình mà trong đó vốn được đánh giá, không chỉ đơn giản dưới dạng kích cỡ, mà còn dưới dạng cơ cấu tuổi, những tài sản vốn mới được tính như nhiều vốn hơn những tài sản vốn cũ.

Capital Theory and the Rate of Return (North-Holland, 1963) là một tác phẩm sáng chói khác của Solow, trong đó nhiều vấn đề lâu năm trong thuyết về vốn đã được chứng tỏ là những ví dụ của sự nhấn mạnh không đúng chỗ: câu hỏi quan trọng cho thuyết về vốn không phải là sự đo lường vốn, như thường được tranh cãi, mà đúng hơn là làm thế nào để đánh giá mức thu hồi vốn, đơn vị chỉ phụ thuộc vào giá trị danh nghĩa chứ không phải giá trị thực của vốn. Thêm vào đó, Solow là một nhà bình luận thường xuyên và sắc sảo cho những nghiên cứu của các nhà kinh tế khác, đặc biệt là những ai không tán thành những thành tựu của kinh tế học chính thống, và ông là đồng minh chính yếu của Samuelson trong việc chống lại những quan điểm của Robinson và Kaldor trong những cuộc tranh luận Cambridge “Cambridge Controversies”.

Solow sinh tại NewYork năm 1924. Ông lấy bằng cử nhân năm 1947, thạc sỹ năm 1949 và tiến sỹ năm 1951, đều từ trường Harvard. Ông bắt đầu giảng dạy tại MIT năm 1950 và ở lại đó duới cương vị giáo sư kinh tế, trừ một năm tại ĐH Oxford (1968-9). Trong năm nămg, ông là thành viên và chủ tịch ban giám đốc ngân hang dự trữ liên bang tại Boston (1975-80). Năm 1961, khi 37 tuổi, ông giành được huy chương John Bates Clark Medal của Hiệp hội kinh tế Hoa kỳ. Ông giữ chức danh chủ tịch hội kinh tế lượng năm 1964 và Chủ tịch Hiệp hội kinh tế Hoa kỳ năm 1979. Ông nhận được nhiều bằng danh dự từ các trường ĐH Âu và M ỹ.
a-tu-la
08-07-05, 18:22
Cuốn này là một trong những cuốn tham khảo tại thư viện KT trường em. Nếu khả thi, em tính rủ bác dịch cùng, rồi tặng vài cuốn cho các trường KT ở nhà, bác thấy thế nào.



Vầng, em đã nguyện cầu dâng hiến đời trai cho Kinh tế học nước nhà, bác lại có lời như thế thì em không sao từ chối được.

Thực ra mục lục sách dịch lúc nào cũng ngập đến cổ em. Trong tháng này trước khi sang bên Mỹ ngủ chung thùng các-tông với bác Gấu, em cũng phải kết thúc một cuốn về triết lý lịch sử. Ngoài ra còn 1-2 cuốn nữa đang triển khai. Em khoe hàng thế cốt là để báo cáo bác tình hình rất tủi nhục hiện nay, trong khi vẫn phải viết worrking paper hòng tìm ra lý thuyết mới dẫn dân tộc lên tột đỉnh vinh quang.

Vậy em có ý kiến thế này:
1. Mình thống nhất làm cuốn này và xuất bản nó.
2. Em sẽ cố gắng đóng góp vào quá trình hoàn thành cuốn sách. Nói là "quá trình" bởi vì có nhiều cái phải làm ngoài dịch bác ạ. Ngày xưa anh Tuấn Bát và các bạn cũng có làm cuốn 50 Nhà kinh tế, em cũng được tham dự vào "quá trình." Vì khi em tham dự, sách đã dịch xong thô, nên em chỉ bỏ ra thêm quãng 2 tháng đọc bản bông nữa là xong và bọn em đem đi xuất bản. Sách bán rất chạy và đầu nậu đuợc quả đậm. Nhưng do lợi nhuận chủ yếu thu đuợc từ sách in nối (chui) nên chúng em là những nhà khoa học chân chính mỗi ngừoi có lẽ cũng đựoc hơn 1 triệu.
3. Rút kinh nghiệm lần này, em bác đã thay đổi quan điểm in sách và phân phối.
4. Việc dịch sách có lẽ bác để em huy động thêm 1-2 anh em có trình độ, lại có nhiệt huyết.

Vậy có gì ta trao đổi nhau qua email, bác nhẩy?

(PS: cũng qua Thăng Long (cũ ), mà em với nhà bác AK - bác AK vẫn vào mạng, nhưng chắc ko phải bác AK47 - làm đuợc một cuốn sách, là cuốn sách sắp xuất bản em nhắc trên kia). Nhân đây xin cảm ơn Thăng Long, cảm ơn Internet.
KhổngMinhĐức
08-07-05, 18:47
Em vừa bấm 1 quẻ, phải chăng bác và bạn AK vừa dịch xong 1 cuốn triết lý lịch sử sinh thái học? Bác ạ, em nghĩ dịch, trước tiên đơn thuần là để ta thỏa mãn một thú vui, sau, không ai cấm nhà kt học chân chính làm kinh tế, cũng như đảng ta trong ĐH tới sẽ bỏ chữ không trong dòng: đảng viên không được bóc lột, thì ta sẽ tính tới chuyện lợi nhuận. Cám ơn bác và các bạn của bác. Quyển này em sẽ sớm gửi đến địa chỉ cho bác.
lonton
13-08-05, 19:50
đọc topic này thích nhỉ. Mỗi tội mình theo dòng business nên việc dịch sách như thế này thì cũng không đóng góp cho kiến thức của mình được nhiều lắm. Có bác nào ở bên business khởi sướng dịch sách kô nhỉ?
ông kẹ
13-08-05, 22:37
Có anh đây nè ! Chú lonton thích dịch sách gì ? Rị mọ số má kiểu Finance & Accounting, dạy đời kiểu Negotiation Skills, bốc phét kiểu Advertising & Branding, hay lý thuyết suông kiểu Management ? Mà nói chung chú thích dịch lý thuyết hay ứng dụng ?

Chú cho ý kiến phát, có khi anh với chú hợp tác làm một cuốn, nhể ?
lonton
13-08-05, 23:06
Ồ vui quá, em học Banking and Finance, em thích ứng dụng bác ạ, làm business mà. Em mấy hôm nay nghĩ đến Thị trường CK, có thể mình sẽ vớ bở thì sao. Banking , finance thì em nghĩ là em dịch ok.
Bác đã có đầu ra chưa, cái đấy quan trọng lắm. Em và bác hợp tác nhé, có khi bác xem quyển sách dầy mỏng thế nào, gọi thêm vài mạng nữa nhỉ. Em chủ ý rằng dịch sách thì phải có lời, cho nó đáng cái công mình, bác nhẩy.
Anh em ai có hứng thú cứ cho phát ý kiến, rồi chúng ta sẽ hợp tác. Nếu đồng ý rồi, thì cứ mật thư thôi nhỉ, phải kô ông kẹ. À ông kẹ, em cũng có 1 số bạn bè bên KTQD và HVNH bác ạ.
ông kẹ
13-08-05, 23:22
Đầu ra kể như xong. Có điều anh nói trước, anh em ta chỉ nên coi dịch sách là thú giải trí lành mạnh thôi nhá ! Bẩu là dịch sách kiếm tiền thì nhéo dịch được đâu, bởi vì bọn đầu nậu ấy, chúng nó trả tiền dịch theo trang khổ 13x19, đâu vài chục nghìn một trang, cuốn sách hơn trăm trang chỉ được vài triệu, đủ cho anh với chú nhậu một bữa là hết béng !
lonton
14-08-05, 04:15
Em cũng rất có hứng thú dịch sách bác ạ, được cái dịch sách này thời gian rất flexible. Em với bác chiến vụ này nhé, dầy mỏng táng tất, còn nếu khoảng 1-200 trang thì em và bác làm là ổn, kô cần phải gọi thêm chiến hữu nữa, bác nhẩy.
Interest của em là : Banking, finance, tập trung vào những vấn đề sau: Corporate Governance, Relationship banking, NPLs, Securitization, TTCK (cái này em chưa biết nhiều nhưng em thích, sẽ tiếp tục đầu tư), ALM, financial crisis..., và còn 1 số cái lẹ tẹ nữa. Nếu có gì, bác cứ mật thư cho em, em sẽ gửi bác CV sau nhé. Kính bác.
Ps. kô phải interest em vẫn táng hết, dĩ nhiên là loanh quanh trong banking, finance thôi ạ.