Thời Hậu Chiến - truyện ngắn

nkali
16-11-05, 12:53
Truyện ngắn Thời Hậu Chiến của Nguyễn Hương viết với văn phong rặt Nam bộ nhưng không "guộng" như Sơn Nam ngày trước và Nguyễn Ngọc Tư ngày nay, mà rất ư là hậu hiện đại, mình nghĩ là có thể đú với văn chương thế giới được!

Nhà văn Nam Dao giới thiệu Thời Hậu Chiến thế này: "Đây là một truyện ngắn kỳ lạ qua cấu trúc thời gian và không gian, đi từ lịch sử này đến một lịch sử khác, một văn hóa này đến một văn hóa khác, nhưng rồi tụ lại ở thân phận người, một con người bất cứ ở đâu cũng cứ treo lửng lơ nối giữa trời và đất bằng một sợi dây đong đưa định mệnh".

Thời Hậu Chiến

1867

Điền cười khúc khích: "Tối như mực mà anh sáng mắt như thể người mắt sáng." Tôi vuốt dài theo sống lưng Điền. Áo Điền vải thô, nham nhám, cứng khựng dưới tay tôi. Nhưng dưới là da thịt Điền chỗ mềm chỗ chắc. Tôi lần tay vào áo. Bắp tay bắp chân Điền từ hồi còn ở Bình Vi đã chắc vì Điền phải gánh nước, giặc giũ, trồng rau, con bảy đứa tay bồng tay ẵm. Núm vú Điền tròn to, bình thường hơi trễ xuống theo con đứa ngậm đứa nhai đứa mút, đứa nào cũng ra năm mới dứt. Nhưng lúc này thì núm vú Điền săn lên đụng vào đầu ngón tay tôi di di nhè nhẹ vòng từ sau lưng ra trước ngực. Khoảng bụng Điền mềm, lớp da tràn trễ khi tôi ấn nhẹ; hơi ấm Điền lan tỏa vào lòng tay tôi. Điền không còn trẻ. Thân thể Điền tôi thấy rõ như thể ban ngày, như thể tôi là người sáng mắt. Điền nói đúng. Như thể.

Điền thở dài. Hơi thở Điền nóng.

Tôi lần theo ống tre ra giếng nước. Ở nhà tôi không cần những vật đánh dấu vị trí và phương hướng. Nhưng đây không phải Bình Vi, Gia Định. Đây là đất tị địa. Thành giếng trơn rong, sần sùi. Tôi bỏ gàu xuống giếng. Tiếng đáy gàu đập vào mặt nước nghe như cái tát. Ngày xưa, Điền thở hắt, hơi thở Điền nóng. Tôi xối nước xuống đầu. Nước chảy thành sợi xuống mặt, xuống ngực, xuống chân. Nước không mát, tanh tanh mùi bùn Ba-Tri.

Cá rô nhảy dưới mương nghe lách tách. Đêm lan rộng vào ngày.

Điền nói đúng. Tôi viết như thể tôi là người sáng mắt: Đồng-nai tranh ngói nhuốm màu mây. Tôi nằng nặc rằng tôi thấy mây bằng chữ. Như thể.

Tôi nghe súng nổ. Tôi ngửi mùi khét hỏa mai nghĩa quân đánh bằng rơm đốt nhà xóm đạo. Lửa tôi thấy là lửa nghĩa nhân. Như thể.

Một chắc sa trường rằng chữ hạnh

nào hay da ngựa bọc thây

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy

nào đợi gươm hùm treo mộ

Đoái sông Cần-Giuộc

cỏ cây muôn dặm sầu giăng

Nhìn chợ Trường-Bình

già trẻ hai hàng lụy nhỏ

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, căm bởi một câu vương thổ

Nhưng tôi không thấy thời sau - thời mà Tây mang đến, đánh dấu bằng cờ tam sắc, đang mở về phía tương lai. Tôi đứng lại đây, cạnh giếng nước tị địa, trăm tuổi cho tròn phận tóc da.

Ngày chảy vào đêm. Nước nhỏ giọt. Điền trở mình, kêu:

"Anh Chiểu."

Tôi giật mình: Tôi năm nay bốn mươi sáu tuổi. Dân xóm đạo, những kẻ chết cháy, họ bao nhiêu tuổi?

1917

Ở Istanbul nho chùm nhiều màu từ xanh nhạt cho đến tím thẫm. Sau này tôi sẽ nhớ mình đã bước theo những ngọn đèn lồng lập lòe trong đêm Ramazan thời thế chiến. Tôi chưa nhớ vì Istanbul chỉ mới ngỡ ngàng trước biến cố vừa xảy ra ở phía tương lai, ở Mos-cơ-va.

Hai năm nữa tôi sẽ dắt được Marika ra vườn thủy tiên. Ở chân tường nhà nàng, tôi sẽ hỏi:

"Thủy tiên nở mùa nào?"

"Thì mùa này, ngốc. Ngoài Kadikoy."

"Hoa thủy tiên màu gì?"

"Màu trắng."

"Không, màu vàng."

"Nazim!"

"Marika!"

"Không, tôi nói màu hoa kia. Đừng cãi bậy."

"Đi Kadikoy, xem ai đúng."

Ở Kadikoy hoa thủy tiên màu vàng, nhạt, cánh nhọn, cành cao. Trời đứng gió mà hoa nghiêng ngả. Tôi hôn Marika môi thơm mùi hạnh nhân. Ở cánh rừng ngoài xa, lá đậm nhạt lật sấp lật ngửa. Nắng bạc.

1867

Điền kêu. Nàng đánh dấu sinh thì của tôi bằng giọng khi chua khi ngọt. Tôi quay lưng lại với đêm, men theo thanh tre tròn láng, mắt thưa mắt nhặt. Lúc vào lều, Điền biểu:

"Mai kiếm người lợp lại mái cho kịp mưa đám tới."

"Tiền kiếm đâu ra?"

"Thì tranh, thì nứa. Thì rơm thì rạ."

Ai đời đòi lợp nhà lúc cuối mùa mưa. Tôi với tìm cổ tay Điền. Điền giằng nhẹ, đưa tay sờ lên mắt tôi. Mắt tôi không biết có đục sữa như những thằng mù ngày xưa tôi thấy ăn xin ngoài chợ Gia Định? Tôi không thấy nhưng tôi biết Điền đang bỉu môi: Anh đồ.

Buổi trưa Điền ra chợ chưa về. Gió từ phía trước thổi qua đồn Tây ở trên đồi. Nhưng chỗ tôi đứng không có gió. Tôi đứng giữa đồng sau vụ gặt, ngửa mặt nghe tiếng cờ Tây bay phần phật ở xa.

Tiếng ếch nhái trổi lên. Ra rả như bọn trung thần theo lệnh triều đình Huế đầu Tây, bỏ cho hết Nam Kỳ Lục Tỉnh. Thằng Tôn Thọ Tường sẽ ồm ộp mà trêu trò ẩn sĩ: Ở đời há dễ quên đời được. Nó không quên được vì nó đã đứng về phía tương lai, ở phía Chớp nhoáng thẳng bon giây thép kéo/ Mây tuôn đen kịt khói tàu bay. Nó không quên vì cả tổ tông, nó đã đem gói ghém thành hành trang mà mang theo lăn vào chỗ công danh, cơm áo. Nó bò, nó lết, nó lăn vào thời sau.

Nó nhớ vì thế giới của tôi, đối với nó đã là quá khứ, như một món đồ.

Tôi không nhớ được vì tôi không có gì để quên.

Tôi mong trời mưa. Mùa mưa đang qua hay mùa mưa sắp tới tôi không cần biết. Sao Điền không gọi tôi về? Sao Điền bỏ tôi đứng ở chốn này?

"Ông làm gì mà bò mà lết vậy?"

Thôi thôi em hỡi Kim Liên

"Mày biểu tao làm gì?"

Đẩy xe cho chị qua miền Hà-Khê

"Cháu tưởng ông bắt ếch. Đây nè, ông phải nằm yên."

Tôi nằm ngửa.Tôi nằm sấp. Tôi trườn trên đất đã lầy. Gốc rạ cào vào mặt. Chỗ thơm mùi rơm ướt, chỗ khét mùi rạ cháy dở. Trời thấp xuống, rì rầm, nhỏ giọt. Những vết sướt ran rát trên da.

Trải qua dấu thỏ đàng dê

"Đợi nó kêu. Ông chụp như vầy, nè nè ông."

Chim kêu vượn hú tư bề nước non

Tôi bấu, tôi xiết. Đứa con gái kêu:

"Buông ra ông, nó chết rồi kìa."

Phan Thanh Giản cũng chết, tự sát, sau khi ký nhường ba tỉnh miền Tây, cho trọn cái Nam Kỳ. Giản chắc chết tím chết bầm. Và những người dân xóm đạo chết cháy thì đen hay đỏ? Tôi không biết ếch chết màu gì. Nhưng tôi sẽ mang về cho Điền xào bữa ăn chiều. Xác nhái sẽ tuột da, trơn nhẩy, đùi dạng như người.

Thời tôi đã là lịch sử, thì tôi sống bằng sờ, bằng nghe, bằng ngửi. Tôi sống cho tròn phận tóc da.
nkali
16-11-05, 13:07
1917

Không ai nên nhớ ngược về tương lai. Nhất là những người duy vật. Tôi không cần biết. Tôi nhớ ngược, vì tương lai đã đến, ở Mos-cơ-va. Năm năm nữa tôi sẽ tới Mos-cơ-va. Nhưng từ bây giờ đến đó và sau đó nữa, tôi còn bao nhiêu thế giới nữa để mở ra:

Ở Istanbul, lao phổi tràn lan cùng cẩm chướng. Môi Marika đỏ. Marika trên lưng lạc đà, tàu hỏa, xe Ford, hay những con lừa bệnh hoạn đi khắp những con đường. Công nhân vẫy gọi tôi ở xưởng thợ, người hái bông vải ở miền Nam có đôi bàn tay rỉ máu đứng mấp máy môi dưới nắng. Và nắng bóng bẩy lướt trên những cánh đồng mượt mà vàng chín.

Ở Istanbul, người ta sẽ bỏ tôi vào tù, một lần, hai lần, ba lần, bao nhiêu lần nhỉ tổng cộng 18 năm của đời tôi. Tôi ở xa Istanbul 13 năm và chết cũng ở xa. Có lần nhà tù tôi nằm trên dốc đá, bên dưới là biển, bên dưới là những con cá lượn sấp lượn ngửa như những chiếc lá bạc trong tranh của họa sĩ Pháp. Tranh Pháp thì tôi sẽ thấy, lúc sông Seine chảy bọc hai bên nhà thờ Đức Bà sau này lâu lắm, sau trận thế chiến tới. Buổi tối năm 1961, bạn tôi sẽ cho xem Matisse làm gã bán hàng rong bày trái cây hái từ những ngân hà. Còn cá thì tôi thấy lúc nhìn lên trời ngoài song sắt nhà tù vì tôi không thể kiễng cổ ra ngoài nhìn xuống biển.

Tôi lấy vợ năm lần, đến 60 tuổi còn yêu Vera tóc vàng rơm như năm 17 tuổi yêu mùi hạnh nhân trên hơi thở Marika. Tôi không viết về những tiếng gào và những cái tát vào mặt tôi là kẻ bao giờ cũng phản bội bao giờ cũng thủy chung. Cũng như tôi không viết về những căn nhà vôi vữa lả tả rơi theo nước rịn trên tường lúc gió như băng thổi dọc theo những con lộ soviet không có thức ăn cho bọn trẻ mồ côi đùa nghịch trên đường rày xe lửa chở cha mẹ chúng về những quần đảo ngục tù thời hậu chiến thập kỷ năm mươi. Tôi không viết những điều như thế vì thế giới tương lai tôi nhìn thấy ở năm 1917 có rất nhiều lối rẽ - lối nào cũng mang câu hỏi: bao giờ thì không còn ai đói trên mặt đất hay hãi sợ kẻ khác đuổi xô và cướp đi hy vọng?

Tôi đáp lại và người ta gọi tôi là người cộng sản. Tôi đáp lại và tôi thành người của thời hiện đại. Tôi đáp lại và tôi đứng về phía tương lai. Tôi đáp lại cho đến chết. Tôi đáp lại ở Leningrad sau cuộc vây thành thế chiến thứ hai người ta lột lá mà ăn và sau những đợt đấu tranh giai cấp. Tôi đáp lại ở Leningrad năm 1958 lúc những điều sẽ tới tưởng như đã ở lại sau lưng. . .





1945

Ở cuối cuộc chiến, Gabriel Herrera trở về Quận Cam với huy chương anh dũng bội tinh do Quốc Hội liên bang trao tặng. Cha Gabriel kêu:

"Ê, mejicano."

Mẹ kéo ống quần Gabriel:

"Đâu, cho tao coi."

Cha Gabriel trêu:

"Làm sao nó cho bà coi được. Bà để mà hỏi con Pilar."

Lạy Chúa tôi là người có tội.

Hôm cưới, Pilar mặc áo trắng, đội khăn trắng, đeo găng tay trắng, đi giày trắng. Cô cháu nhỏ xách giỏ hoa màu trắng đi trước. Sau lễ nhà thờ, Gabriel ngồi cạnh Pilar ở băng sau chiếc xe Ford màu trắng.

Đường phố Santa Ana nhạt màu như thể xe hoa đang chạy giữa phim đen trắng. Gabriel nhìn thẳng đằng trước. Hector, anh họ Gabriel vừa lái xe vừa cười:

"Ê mejicano, salsa làm sao? Cà ớt ngò thái nhỏ vắt chanh bỏ muối."

"Im đi Hector."

Pilar quay lại nhìn Gabriel lúc Hector huýt sáo. Gabriel choàng tay ôm Pilar đang lồng phồng trong ba lần vải mỏng như một đám mây màu trắng.

Lạy Chúa tôi là người có tội. Nhắm mắt, tôi thấy ba ngôi: Chúa, tôi, và tội.

Pilar loay hoay trong chiếc áo cưới kêu: "Gabriel." Gabriel nhấp nhổm chồm sang phụ Pilar mở cúc. Pilar cười khúc khích. Gabriel nằm đè lên người nàng. Da thịt Pilar mềm mềm đục sữa. Pilar kêu: "Nặng." Gabriel nhắm mắt. Chiếc thánh giá gỗ treo đầu giường nhịp nhẹ vào tường vôi nhạt.

Lạy Chúa tôi là người có tội. Nhắm mắt, tôi thấy ba ngôi: Chúa, tôi, và tội.

Ở ngoài Rosenkrantz, Pháp, đơn vị tôi án binh chờ quân Quốc Xã. Xác đồng đội chúng tôi để dựa lưng vào vách chiến hào. Bọn còn sống thì úp người trong tư thế chiến đấu. Mùi khói súng gần gụi, mùi mồ hôi, mùi xác chết, mùi bùn, bùn, bùn. Bùn trên mặt đất cuối tháng Ba ở cái xứ này giòn như vỏ trứng. Nhưng bùn trong chiến hào thì sệt lại. Angel được lệnh tiến lên vị trí 500 yards về phía trước. Nhìn thấy chiến xa địch cách đó 75 yards, Angel chồm lên mở súng liên thanh. Địch quân rút lui. Chúng tôi không nghe gì nữa. Cách rừng thưa im lặng. Tôi nghe tiếng thở của chính mình. Angel.

Có tiếng súng liên thanh. Địch quân gửi lính bộ ra để đẩy lùi tuyến phòng thủ. Angel. Tôi chồm lên về phía vị trí Angel. Angel đang bắn trả vào ba địch quân ở khoảng cách 30 yards.

Angel 19 tuổi.

Pilar trở mình. Thân thể Pilar mềm, lông cứng sậm màu mọc lan ra ngoài viền quần lót mỏng. Lạy chúa. Chỗ lông xoắn xít mềm từ dưới bụng men lên đến giữa ngực Angel. Thân thể Angel rắn chắc, có mùi bùn.

Lạy Chúa, giữa tôi với Người là khoảng cách 30 yards chiến tuyến.



1975

Từ góc Lampson / Nutwood đến Garden Grove / Nutwood là nửa dặm đường. 1.082 bước từ căn nhà tôi ở với Mẹ và Phan đến trại dưỡng lao. Phan nói:

"Tôi phải đếm bước để lần sau không phải quờ quạng."

Cô y tá đi ngang bảo:

"Ông che mũi nhé. Và 20 phút thôi."

Liễu rũ thưa thớt, không xanh. Hai tuần rồi tôi mới được phép có người thăm.

"Đêm hôm gió quá em sợ hôm nay không ai tới."

"335 bước từ nhà tới đường xe lửa, và 747 bước từ đó đến đây. Cô biết không, xe lửa không chạy ban ngày."

"Xe lửa không chạy nữa. Đường rày bỏ hoang."

Phan quay đi:

"Đêm qua tôi còn nghe xe rầm rập trên đường."

Đêm qua Mẹ nằm đâu trong căn nhà đó? Mẹ có nghe những toa xe rầm rập trên đường? Tôi rũ ra ho, nước mắt ràn rụa. Cơn sốt mỗi buổi chiều đã nhẹ, nhưng tôi đang bắt đầu thấy hơi lạnh rùng rùng chạy dọc theo xương cổ dài xuống theo lưng.

Hôm cô người Việt từ sở y tế xuống thu dọn đồ chở tôi vào trại dưỡng, Phan chồm tới bảo:

"Con mụ hàng xóm báo chứ ai. Hai vợ chồng cú vọ. Niên nó mới ho vài tiếng, tại khói thôi."

Cô sở y tế nhìn Phan ái ngại:

"Ông khéo té."

Phan gượng lại vịn vào cột hàng ba nói vọng vào nhà.

"Hay cứ để nó lại nhà tôi nhắc uống thuốc."

"Ông và bà ở nhà nhớ uống thuốc đều, không khỏi cũng ngã bệnh như Niên. Bốn tuần đến clinic chụp hình phổi một lần. Ông nhé?"

Cô vịn tôi ra tới cửa thì quay lại:

"Ông đừng lo. Niên chỉ mới nhuốm bệnh. Vài tuần, hai tháng là cùng Niên sẽ về nhà uống nốt 6 tháng thuốc. Hơn nữa, trại ngay Nutwood / Garden Grove, ông hay bà cứ đi bộ mà thăm Niên hằng ngày."

Lúc cô loay hoay giúp tôi lên xe tải thương, tôi nói:

"Phan không phải là cậu em đâu."

Cô y tế quay đi lên ngồi cạnh tài xế.

Tôi cố mà không tài nào nhớ được hôm đó Mẹ đâu.

Ở nhà, Phan hay gọi:

"Chị Liên ơi, chiều nay ăn gì để em nấu."

"Cậu khéo. Thì còn ăn gì nữa."

Cứ vậy mà ngày nào Phan cũng réo. Đi chợ là việc của tôi. Phan không theo vì tôi đi dọc theo đường rày xe lửa ra chợ Vons ở ngoài Brookhurst. Như thế gần hơn. Một tuần hai lần, bận về bụi dậy hơn bận đi. Phan nói tại bận về tôi phải ôm đồ nặng. Lúc về ngang nhà hai vợ chồng bên cạnh trên đường Lampson, người vợ tóc vàng rơm hay đứng tưới cỏ nhìn theo. Tôi ít khi chào.

Trong bao đồ chợ của tôi ngoài những thứ lỉnh kỉnh là 5 bó cải xanh và 4 vỉ cổ gà. Cổ gà 7 xu một pound trong khi ức gà tới 98 xu. Cổ gà còn da. Phan lấy ra rửa, chặt mỗi khúc cổ ra làm hai. Phan đập gừng, thắng đường, cho tỏi, đổ nước mắm vào kho. Nước mắm và gạo thì chúng tôi lâu lâu cuối tuần nhờ xe Ford Thunderbird đời 1955 màu hồng đã rỉ của Henry ở kế bên nhà chở ra chợ Thái mua về. Tuần nào cũng cổ gà kho đến 4 – 5 ngày. Có hôm Phan bảo tôi mua thịt bacon về ngâm nước kho như ba rọi, nhưng ăn mặn chát, lại có mùi xông khói. Buổi trưa xong, Mẹ xúc cơm để chiều mang theo vào sở tối ăn. Mẹ làm ca chiều ở sở đóng thùng cam và hạt hạnh nhân. Cam chạy trên bàn kéo, ngang chỗ ngồi mẹ chỉ việc lựa theo cỡ, và vất đi những quả ung. Cam Valencia quả đỏ như máu. Mùi the xông lên nhức đầu. Tôi biết vì đã có hôm tôi theo Mẹ vào làm thế chỗ cô Khê bệnh nghỉ. Những khuya Mẹ đi làm về ghé sang giường tôi, Mẹ không có mùi the. Mẹ mùi hạnh nhân.

Trưa tôi đi học về và chiều tôi với Phan ăn cơm ở nhà. Hôm ra trại người bảo lãnh chở Mẹ và tôi đi ghi danh học lớp 10, trường đã tựu được mấy ngày, trời còn nóng. Hai tháng sau trời đã tụ sương buổi sáng. Trưa tôi về là Mẹ đã đón xe buýt đi làm. Sau mấy đợt gió Santa Ana, vườn sau đầy lá. Có khi trời sương đặc như mưa bụi. Mùi lá ướt ngọt ngấy. Phan kêu tôi ra gom lá. Henry râu ria xồm xoàm đứng dựa rào chỉ trỏ. Nhà Henry cũng ngay bên cạnh nhưng xoay về phía đường Nutwood. Nhà tôi ở ngay góc, mái lệch, ngói vỡ nhiều mảng. Ống khói bằng gạch đỏ sụp bể một bên. Henry nói không kêu chủ lợp lại mái đến mùa mưa tháng tới dột tha hồ. Tôi hiểu loáng thoáng thôi. Phan hỏi tôi Henry nói gì. Mẹ sẽ không đòi chủ lợp nhà dù Mẹ có đủ tiếng để diễn tả viễn ảnh mái dột. Chủ cho mướn 375 đô một tháng với điều kiện không đòi hỏi quấy rầy. Lương Mẹ 2 đô 10 xu một giờ, một tháng 336 đô nên Phan ở để phụ thêm 125 đô một tháng với số tiền tàn tật Phan lãnh nhà nước.

Phan mù. Không, thật ra Phan chỉ đang mù dần. Tôi không biết Phan chỉ thấy đường viền như biên giới giữa khoảng không và vật thể, hay Phan chỉ thấy ánh sáng. Có lần tôi đưa tay sờ mắt Phan tìm vết thẹo. Phan gạt nhẹ, nắm tôi lại ở cổ tay. Phan nói "Không phải đạn," và đứng dậy bỏ vào phòng.

Buổi chiều tháng 11, chúng tôi ngồi ở bàn ăn. Cổ gà béo da nhầy nhầy, trong là xương. Chúng tôi nhằn xương. Tôi thích bẻ đôi khúc cổ, kéo sợi tủy trắng beo béo tuột ra khỏi ống xương đầy khớp. Phan không thích tôi ăn như thế nên Phan chặt đôi cổ gà trước khi kho. Tôi cầm từng vụn cổ, bẻ từng khớp xương lấy ra cho được sợi tủy. Tôi nói:

"Anh có thấy gì đâu mà khó chịu. Em thích vậy."

"Cậu. Gọi cậu Phan." Phan chồm qua bàn dằng lấy khúc xương ra khỏi tay tôi.

Tôi ghị lại, móng bấu lún vào tay Phan. Phan xô tôi. Ghế ngã, tôi té ngửa xuống sàn. Phan chạy vòng sang mò tìm tôi trên đất.
nkali
16-11-05, 13:11
1945

Ảnh chụp từ cao: khoảng đất được ủi bằng, và phân lô. Giữa khu là căn nhà mẫu Verano: 3 phòng ngủ, 1,75 phòng tắm, garage 2 xe. Lệch sang bên là căn mẫu Walden: 4 phòng ngủ, 2 phòng tắm, phòng ăn riêng, phòng khách có lò sưởi, cửa sổ Tây, garage 2 xe. Trong chu vi một dặm vuông, hơn nghìn căn sẽ theo mẫu Verano, và 400 căn theo mẫu Walden. Năm 1954 thời hậu chiến, mỗi ngày có đến 700 căn nhà ‘tract home’ như thế được hoàn tất ở một thành phố trong quận.

Trong ảnh, vài gốc cây trơ trụi đây đó không đủ sức nhắc nhớ gì đến những ruộng dâu hay những vườn cam đã san bằng. Cha mẹ Gabriel thời trước chiến tranh đã từng đi làm công ở những chỗ như thế theo mùa: củ cải đường, đậu ván, rau cần, cà chua, và dâu đỏ. Chưa kể là những vườn cam và vườn hạnh nhân. Trước năm 1932, có được việc còng lưng suốt 10 tiếng một ngày đã là may. Nhưng vào thời chiến, công việc làm không hết, nhà nước còn đưa cả tù binh Đức đến làm cho các vườn trong quận.

Năm trước, Gabriel tìm được chân thợ tiện ở hãng đóng máy bay hợp đồng nhà nước. Sau 3 tháng tập sự, cha vỗ vai Gabriel:

"Mày đến rồi đấy con ạ."

Ông quay đi sau câu nói. Những luống dâu đậu đầy muỗi mòng chạy dài ở sau lưng.

Ảnh Gabriel chụp năm 1954: Pilar bụng tròn nhô trong chiếc đầm bầu, tay vẫy, cười nhênh nhếch góc môi trái, mắt nheo. Sau lưng Pilar, người ta sắp hàng dài ngoằn để ghi tên mua những căn hộ mẫu Verano hay mẫu Walden sẽ cất, những căn hộ rẻ tiền cho giới lao động áo xanh sống theo lối trung lưu hạng thấp. Nắng tháng Bảy gay gắt sáng.

Đêm thng Chín, Gabriel đứng ở cửa sổ phòng ngủ nhìn ra khu nhà mới thẳng hàng sân chưa mọc cỏ. Dưới ánh đèn mù mù dọc theo những con đường mới tráng, Gabriel thấy những hàng cam chạy tít vào đêm, những hàng cam biết đi đang trở về chờ người hái trái. Cam Valencia quả mọng nắng như thể chúng đã mọc lên từ những trang nhật ký mê sảng trên thuyền Tây Ban Nha vượt đại dương tìm thuộc địa ở cuối thế kỷ 15. Gabriel muốn chạy dọc hàng cây hái cam cho tới sáng. Những quả cam rực đỏ Gabriel xẻ đôi đưa tận miệng Angel. Nắng ối California chảy thành dòng trên da Angel nhợt nhạt, nhỏ giọt xuống mặt đất bùn lẫn vào với tuyết ngoài mặt trận Tây Âu. Gabriel sẽ lái máy bay một động cơ ngang qua vòm trời, để lại một vệt khói mỏng như mây. Bên dưới là chiến trường. Bên dưới là khu nhà track-homes đất ủi.

Angel 19 tuổi. Lúc tôi tới được vị trí phòng tuyến, da Angel đã tái màu.

Lạy Chúa, tôi nói gì được với Người đây khi ngôn ngữ duy nhất giữa chúng ta là những tội danh?

Trời sáng từ vòng chân trời. Pilar tóc xõa đứng chiên trứng, nướng bánh mì trét bơ mứt và pha cà phê cho bữa sáng. Xong Pilar gói sandwich bỏ vào hộp cho tôi mang vào sở ăn trưa. Chiều về, Pilar sẽ bày xong bữa cơm chiều lúc tôi uống lon bia. Pilar sẽ nói vọng ra từ nhà bếp: "Cái máy giặt anh hứa với em, ngày mai thứ Bảy mình đi mua cho kịp trước ngày em sinh, nha anh." Tôi sẽ nói vọng vào: "Sure, Pilar."

Lạy Chúa, tôi nói gì được với Người đây khi ngôn ngữ giữa chúng ta là những tội danh? Trước Người, tôi đành xưng tên bằng xưng tội.

Ở sở, tôi lánh mặt John Hirose lúc giờ ăn trưa. Tôi rủ Hector sang sân cỏ bên hông ngồi ăn bánh mì kẹp thịt Pilar đã tế nhị làm đủ cho cả hai. Hirose tần ngần gọi lúc tôi đang kéo Hector ra khỏi xưởng. Hirose vừa được nhận vào làm trong đội tiện của tôi nên hắn chưa có bạn ăn trưa. Hắn nhận ra tôi hôm đầu vào sở: "Gabriel? Nhớ tao không, lớp 6 thầy Jameson." Mùi ngai ngái tỏa ra từ tóc hắn.

Sông Santa Ana chảy từ đâu, đổ ra biển chỗ nào ngày xưa tôi không biết. Nhưng gần như trưa nào tôi cũng chạy dọc theo con sông nước thấp, khúc chảy ngang đường Fairview. Đó là đường từ trường về ruộng nhà Hirose. Nó lúc nào cũng quần cộc, áo sơ mi thẳng thóm, vừa đi vừa chạy trên đê, tay xách chồng sách nịt dây da. Theo sau là bọn trẻ da trắng đứa đạp xe, đứa chạy bộ. Tiếng bọn chúng hét Hirose, Hirose vang vang trong nắng. Tôi ghét đôi chân ngắn, cong cong của Hirose chạy huỳnh huỵnh trên đất. Tôi ghét tóc nó đen cứng chải dầu tém xuống hai bên thái dương.

Buổi trưa tháng Năm nắng đã hơi gắt, hoa tím nhạt mùi nồng nở kín hai hàng cây ở trên cao. Dây morning glory tím đậm leo phủ qua rào sau những căn nhà dọc theo sông. Bọn trẻ phía trước tôi đã bắt đầu nhặt đá liệng về phía Hirose. Tôi nhặt đá lúc đầu nhỏ sau tròn to. Tôi bỏ đá vào cặp, tim đập thình thịch. Hoa tím rụng đầy đất, mùi ngái của nước đái và nồng của rượu. Tôi cầm viên đá, to bằng quả trứng chim, nhắm về phía Hirose đang chạy. Phía trước tôi, bọn trẻ có đứa quay lại:

"Ê thằng Mexican, mày làm gì vậy?"

Chúng cười rú. Tôi đứng khựng.

Buổi trưa hôm đó tôi ngồi trong bụi morning glory. Sông Santa Ana nước cạn, chảy qua đường Fairview không nghe tiếng.

Hôm tôi ở lại làm overtime, Hirose ra tìm tôi ngoài cửa sau lúc giờ break. Hắn thọc tay vào túi quần:

"Cho xin điếu thuốc."

Tôi quẹt diêm cho hắn. Đóm lửa lóe lên lúc Hirose nghiêng đầu vào tay tôi mồi thuốc. Tóc hắn lòa xòa rơi xuống mắt. Tôi nói:

"Tóc mày không tém nữa?"

Hirose cười:

"Mày nhớ? Vào lính nó gọt đầu, còn gì tém."

"Lính?"

"Lữ Đoàn 442, Thung lũng Po, Ý."

Hôm núp trong bụi morning glory, tôi thấy những chân đá tay đấm của lũ con trai đập vào người Hirose. Nó co lại, hai tay ôm đầu, không rên la. Bọn trẻ cũng không đứa nào hò hét. Một cuộc ấu đả trong đoạn phim câm. Tôi nghĩ đến nước sông Santa Ana, đầy cá sáng bạc, trôi tuột ra biển.

"Gabriel, hồi ngoài mặt trận, có lần tao nằm mơ thấy mẹ."

"Ừ."

"Không phải tao nhớ mẹ. Tao thấy tao đứng nhìn mẹ tao bước rất chậm, theo sau là chiếc cùi giấy vệ sinh lăn long lóc xuống những bậc tam cấp thấp. Mẹ tao phấn son tươm tất, mặc bộ đầm cổ trắng to bản như những người đàn bà da trắng đi lễ nhà thờ vào sáng chúa nhật. Mẹ tao cứ thế đi giữa phố. Không ai chào, không ai tiễn. Cùi giấy vệ sinh lăn chầm chậm theo sau."

Tôi thọc tay vào túi quần, nắm chặt hộp diêm. Vỏ hộp nham nhám, không nhẵn như những hòn đá trứng chim. Mùi tóc Hirose ngai ngái ở gần.

"Mà mày biết không Gabriel, chưa bao giờ tao nhìn thấy mẹ tao rõ như lần đó."

Buổi tối Gabriel lái chiếc xe Ford Thunderbird đời 1955 về nhà. Xe Gabriel vững chãi lăn bánh về phía tương lai của một người Mỹ con di dân gốc Mexico. Cha Gabriel đã có thể hãnh diện hay thở dài. Con Gabriel sẽ sinh ở nhà thương; và vài ngày sau đó Pilar sẽ rạng rỡ vén tóc đặt nó vào nôi trong căn phòng mới sơn màu trời non bên cạnh phòng master bedroom. Gió Santa Ana bắt đầu thổi. Những sân nhà track homes chưa mọc cỏ, bụi rít vào đêm tháng Chín.



1975

Tôi chỉ dãy nhà thẳng hàng, giống nhau, ở dọc những con đường xe Henry chạy ngang. Henry nói:

"Track-homes."

Tôi lặp lại.

Henry nói:

"Nhà cha mẹ tôi cũng là track-home cất thời hậu chiến. Còn nhà cô đang ở cũ hơn nhiều."

Những căn nhà cách nhau đều đặn như những dãy lều trại tị nạn, giữ nhịp dọc theo những con đường thành phố.

Chiều hôm đó, lúc Phan loay hoay dán giấy che chỗ kính vỡ ở cửa sổ phòng, tôi nói:

"Những căn nhà giống nhau dọc theo đường, họ gọi là track-homes."

Phan không ngẩng lên. Tôi nói:

"Mai mốt Mẹ sẽ mua một căn nhà như thế."

Lúc chúng tôi lăn từ giường xuống đất, lưng bàn tay Phan rà ngang má tôi, Phan thở rút:

"Anh không đi đâu. Mà anh cũng không phải hạng đàn ông đó."

Lưỡi Phan dí nhẹ xuống giữa lưng tôi, lê dài xuống kẽ mông, xoáy vào môi, chạy vòng lên bụng. Tôi xoắn tay vào tóc Phan, kéo Phan lên ngang mặt. Tôi không cảm thấy sức nặng của Phan trên người. Môi Phan ấm. Tôi không cảm thấy gì ngoài hơi ấm. Tôi ghị Phan xuống. Phan tuột khỏi tay tôi.

"Sao vậy, Phan?"

"Nghe kìa."

"Không phải xe lửa đâu. Henry tập trống đó mà. Nghe kìa, theo nhịp."

Phan gục đầu xuống bụng tôi.

"Anh."

"Gì?"

"Những người đàn ông khác, họ có như thế không?"

Phan ngừng lại trên đầu ngón chân tôi.

"Anh."

"Gì?"

"Sao anh không vào em được?"

"Sao cô nói nhiều vậy? Những người đàn bà khác, họ chỉ rên, và thở gấp, và kêu tên tôi, và. . ."

Tôi cười rũ, chuyển thành cơn ho thốc lên từ dước bụng. Đèn xe ngoài đường quét ngang tường vôi ố.

Sáng thứ Bảy Mẹ nghỉ ở nhà. Mẹ ra ngồi bậc tam cấp vườn sau. Hoa cẩm chướng trái mùa mọc quanh chân Mẹ. Mùi hoa trắng toát. Như trên đời không còn mùi gì khác. Như tóc Mẹ áo Mẹ da Mẹ không toát mùi hạnh nhân. Tiếng trống của Henry nhịp đều. Cây birch lá rũ tròn như những con cá rô sấp ngửa, bơi ngược dòng từ giữa thân cây lên tận ngọn. Nắng lung linh bạc, đổ xiên.

Tôi đứng trong bếp nhìn ra chỗ Mẹ ngồi. Phan từ phía phòng bước ra đặt tay lên vai Mẹ. Mẹ níu lấy tay Phan. Phan rụt tay lại quay vào. Mẹ cười:

"Ở đây Phan. Đừng vô ra mãi như Vân Tiên cõng mẹ."

Cả hai khúc khích cười.

Mùi cẩm chướng tràn lan vào tới bếp.

Tôi gọi vọng ra:

"Cậu Phan nói bữa nay hốt lá vườn rồi sang nhờ xe Henry đi chợ."

Tôi bương ra, lấn vào Phan trên bậc tam cấp.

Mẹ ngẩng lên nhìn tôi. Tôi với lấy bừa cào lá. Lá nâu đậm nhạt mục rữa ngập sân. Phan quay vào nhà. Tôi xoay đi bĩu môi. Mẹ không nói gì bước xuống giúp tôi hốt lá. Tôi dồn hết vào góc sân, chạy vào tìm diêm quẹt. Mẹ kêu theo:

"Không đốt được, bỏ vào bao thôi."

Tôi không nói gì, trở ra quẹt lửa châm vào đống lá.

Mẹ nắm tay tôi:

"Niên, con sao vậy?"

Lửa không bắt ngọn nhưng khói ngùn ngùn tỏa. Mùi khét như cẩm chướng. Người đàn bà tóc vàng nhà bên hét lên, tiếng cao the thé.

Phan chạy ra phụ Mẹ tạt nước vào đống lá. Mẹ líu ríu nói với người đàn bà hàng xóm:

"Con bé không biết. Nó không làm thế nữa đâu."

Phan bước đến tát vào mặt tôi. Những ngón tay Phan bỏng rát trên má, không ấm như lúc Phan đặt ngón tay vào chỗ trũng ở cổ tôi. Tai tôi ù. Tôi lên cơn ho rũ. Tôi không ngừng. Tôi gập người ho thốc xuống mớ cẩm chướng. Để cho chúng đừng trắng nữa đừng thơm ngát đừng tràn lan.

Nhà dưỡng lao gọi là sanatorium, em đọc được trên bảng nhỏ ngoài sân trước. Anh ngồi im lắng nghe tiếng tíc tắc đồng hồ giữ nhịp như tiếng trống của Henry. Nắng xế rọi từ sau làm mặt anh tối quá em không đọc được.

"Làm sao anh vượt qua đường rày?"

"335 bước thôi Niên, và tôi bước thêm bước 336."

Anh nghĩ gì mặt anh tối quá em không đọc được. Anh không còn nghe xe lửa chạy ban đêm, tiếng vòng bánh nghiến trên đường sắt?

"Ngày mai anh lại đến?"

"Liên nói mai Liên tới thăm cô."

Anh nghĩ gì nắng xế chói quá em không đọc được, anh thấy không anh đôi bàn chân em đang bắt đầu tan thành những con cá rô vẩy bạc lội tứ tán. Anh không là hạng đàn ông như thế là hạng nào chắc không phải hạng con trai bản xứ cười rú rúc lúc em mặc áo ngủ dài em tưởng đầm maxi đi học lũ con trai bản xứ rà xe theo huýt sáo lúc em mặc đầm carô xanh dương Mẹ lựa ở Goodwill dọc đường xe lửa về cắt phần dưới rách lên lai thành mini cũn cỡn cho em mang giày cao gót cũng mua ở Goodwill lội bộ dự lễ trao giải toán học ở trường hay còn hạng đàn ông nào còn hạng đàn ông nào nữa?

"Buông ra, Niên."

Nhưng môi anh ấm quá lưỡi anh êm quá và anh ôm em nhẹ như thinh không da anh mùi cẩm chướng anh không nhớ sao anh không nhớ sao?

"Không phải tình yêu đâu Niên. Hơn nữa cô còn nguyên đó mà."

Đầu tàu đen ngòm kéo theo sau một trăm toa container chở da bò rỉ nước vàng đục dọc dài những đường sắt ra tới bến tàu về các nước Thái Bình Dương. Ngày xưa, những bộ da bò mới lột trong quận người ta cũng kéo bằng đường sắt ra tới vách núi Dana Point thảy xuống bãi cho tàu chở vòng sang xưởng đóng giày ở New England bên bờ Đại Iây Dương. Đoàn tàu rầm rập chạy vào đêm. Mất hút.

Hôm tôi trở về căn nhà lệch mái, mưa tuôn theo tường vôi vữa lả tả rơi.

Trong ảnh chụp từ cao, giấy vụn tụ thành dòng giữa xác xe la liệt - pháo xa, chiến xa, thiết vận xa - rụi đen, mút mắt. Phía sau là biển. Giấy trắng xóa, như xác cá mắc cạn.

Tôi và Mẹ sẽ ở lại đây, trong căn nhà này.
nkali
16-11-05, 13:15
1867

lạ chừng đường sá

bơ vơ

có bầy đom đóm sáng nhờ đi theo

qua truông rồi lại lên đèo

dế kêu

giăng giõi

sương gieo lạnh lùng

(Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên, thập kỷ 1850)



2003

Mưa thánh kinh trút xuống giữa Nasiriya và Najaf. Phóng viên chiến trường theo đoàn First Expeditionary Force đã tường trình như thế trên radio giữa những cơn bão cát. Mưa kinh thánh là sao?

Sáng Thứ Bảy, ngày 5 tháng 4, năm 2003, 60 chiến xa Đồng Minh lăn bánh vào Bá-Đa. Đường lố nhố người. Có người vẫy tay. Nhiều tiếng nổ vang lên mà thật ra chưa hề dứt từ lúc những phi đạn Tomahawk tinh khôn bay vào 17 ngày trước đó. Người đàn ông bên đường bay nửa khuôn mặt. Ở thế kỷ mới, người ta chết như đã chết ở thế kỷ trước. Trong vòng 3 tiếng đồng hồ sáng ngày 5 tháng 4, 2003, quân Đồng Minh ước lượng đã tiêu diệt được 3.000 người trên đường vòng Bá- Đa.

Mưa tẩy máu ở lại cùng Cựu Ước. Mưa rửa tội ở lại cùng Tân Ước. Mưa trần thế, hạt to, trút xuống trong cơn bão cát đã ở lại đâu đó giữa Nasiriya và Najaf, phía tây sông Euphrates, phía nam thành Bá-Đa. Nước sông tràn xuống sa mạc. Cá đổ ra đầm khô, giẫy lấp sấp.

Lạy Chúa, tôi đang đứng giữa cuộc sát sinh, và rồi sau đó nữa, giữa thời hậu chiến.



1917

Ở năm 1917, tôi chưa thấy Mos-cơ-va và tôi chưa đặt chân tới cách mạng , như thể cách mạng là một quê hương. Vì năm 1917, tôi còn quê hương ở Istanbul.



Ở năm 1938, quê hương tôi tuyên án 28 năm tù trong phiên tòa trên chiến thuyền có cầu tiêu cứt cao nửa mét họ nhét tôi vào những lúc giải lao. Vì một bài thơ. Không hề gì đâu không nên ái ngại vì chỉ 12 năm sau tôi đã được ra tù một phần vì bên ngoài người ta phát động tranh đấu cứu tôi ra khỏi lao tù và ngay sau đó tôi âm mưu vượt biên đến Bảo Gia Lợi ngang biển Bosporus giữa cơn bão trên chiếc thuyền máy bé tí. Thuyền sóng nhồi không hề gì đâu vì tôi gặp được và kêu cứu tàu chở hàng Lỗ Ma Ni. Thuyền vượt biên sắp đắm gặp tàu bỏ đi là chuyện thường phải không, cho dù tàu đó có treo cờ một nhà nước cách mạng. Không nên ái ngại vì tôi không bỏ cuộc đòi hỏi con người chịu trách nhiệm với con người. Chỉ hai tiếng sau họ đã phải vớt tôi lên. Tôi sống, nhờ vào những người đến từ tương lai, nơi tôi đang đi tới. Vào tới phòng thủy thủ đoàn, họ không nhận ra tôi. Trên tường họ là bức ảnh của tôi phóng lớn với hàng chữ:


HÃY CỨU NAZIM HIKMET

This Journey

We open doors,

close doors,

pass through doors,

and reach at the end of our only journey

no city,

no harbor—

the train derails,

the ship sinks

the plane crashes.

The map is drawn on ice.

But if I could

begin this journey all over again,

I would.

Nazim Hikmet

Leningrad
1958

(Randy Blasing và Mutlu Konuk chuyển ngữ

từ tiếng Thổ Nhĩ Kỳ)

nguyễn hương
June 2003
Imagine
01-03-06, 19:24
Đọc Cải Táng là đi vào giữa địa hình u mịch, đi sâu vào lỗ huyệt dấu kín những mưu mô, hận thù, dối trá, lừa đảo và đồng thời mê sảng, ma mị của một làng xã khép kín quẩn cùng. Cải táng là nhau chôn xuống và cốt moi lên, là mìn nổ tung cho núi lòi ruột, là đêm người đàn bà chờ nghe tiếng rú tình nhân trên đồng cỏ... và những cái chết oán đền nối tiếp nhau. Với giọng văn gọn sắc - đặc biệt những độc thoại, lời lẽ ý tưởng vượt trên mức nông dân bình thường của các nhân vật - Nguyễn Hương, ngòi bút đầy cá tính của văn chương Việt Nam đương đại, đã dựng lên một vở kịch dữ dội, tàn nhẫn về mối tương quan giữa con người.

Mai Ninh

Cải Táng
nguyễn hương

MỊCH

Nhau tôi chôn chỗ này, dưới gốc cây sao, ở giữa dãy núi và nhánh sông chảy qua làng. Cha tôi bảo lúc ông vùi lắp xong sợi nhau trắng nhẫy, ngẩng trông hướng gió thì sao Bắc Đẩu đang nhấp nháy sáng. Nhỏ xíu. Như hạt cát rơi xuống lưng chừng thì dừng lại, lơ lửng cách sườn đồi một sải tay trời đêm.

Vậy là tôi thành thầy địa lý : nghề của cha tôi truyền lại. Công việc muôn đời không sợ hết. Địa hình, vô số địa hình biến hóa từ từng đó thứ : gió, nước, núi, sông, và phương hướng sao trời. Những thứ trong mắt cha tôi đêm ấy.

Tôi cũng không biết đêm ấy là bao giờ. Địa hình không có đường thẳng lịch sử, không có biến cố, ngoài những vận hành tiềm ẩn trong đất, bằng động lực của gió, nước, núi, sông, và phương hướng sao trời.

Nửa đêm, gió hú trên triền núi. Gió tốc liếp phên chái bếp, đập thôi thúc. Nửa đêm, gió uốn cây cành răng rắc. Tôi mơ hồ nghe tiếng cây cối nổ dòn trong bom lửa.

Nở, vợ tôi, trở mình. Tôi vòng tay qua người nàng. Ngón tay tôi chạy dọc một đường thẳng từ sóng mũi nàng xuống môi, qua chỗ trũng ở cổ, chạy giữa hai vú, xuống bụng, vùi vào khoảng trống sâu hút trong người nàng. Bên trong là địa hình, với gió nước, núi sông, và phương hướng của sao Trời. Tĩnh lặng. Ướt nóng như thuở sơ khai. Tôi cười bâng quơ, trườn qua nằm phủ lên người nàng. Xương nàng cứng cáp. Da thịt nàng mềm.

NỞ

Nửa đêm, gió luồn qua chỗ lõm bên hông sườn núi, oằn oại hú trên ngọn tre làng, vật rầm rầm xuống mái tôn. Người ta cho nổ núi lấy đá đắp đường cho xe tải hàng công nghiệp hóa đất nước. Đám thanh niên thất nghiệp đập đá, mài nhẵn thành rồng cuộn trên bộ đồ trà bán giá hai trăm nghìn cho du khách. Núi lòi ruột. Đá nham nhở xanh. Không như Mịch tưởng, bên trong không có địa hình bình lặng, không có thế giới sơ khai.

MỊCH

Tôi lặp lại điều cha tôi làm đêm ấy. Tôi chôn cha tôi giữa quả núi đầu rồng và nhánh sông uốn khúc. Bây giờ tôi chôn tôi vào người nàng. Chờ phát ở đời sau.

NỞ

Địa hình đeo đẳng theo Mịch như một thứ ảo giác phi lịch sử. Răng Mịch sáng trong đêm. Mịch nấc tha thiết lắm, mộng du trong động tác khai nguyên. Hắn mong con trai nối dõi, lặp lại khởi đầu một cách mơ ngủ.

Chúng tôi lấy nhau đã hơn mười năm. Bây giờ đã muộn mằn sanh nở. Muộn mằn nghề nghiệp. Lòng sông vốn hẹp lại cứ đầy dần, vì mất rừng, đất đỏ trên đồi trôi tuột xuống sông. Còn núi. Nói núi thì hơi quá. Đồi thì lở loét vì mìn. Mìn chiến tranh. Mìn nổ đá công nghệ. Sông núi không chỉ lẳng lặng theo những biến chuyển địa chất muôn đời trong thế giới của phong thủy. Địa hình đầy biến cố : hận thù, cơm gạo.

MỊCH

Gà gáỵ. Tiếng gà trống đơn độc trên rào tre trước sân. Trời không còn gió. Tôi trỗi dậy pha trà. Nàng hãy còn ngủ. Đầy đặn.

Tôi nhìn ra cửa sổ. Ông Thiện đang dừng lại trước cổng, cúi nhìn những đường gân xanh trên hai bàn tay. Ông vụt ngẩng lên gọi :

“Ông Mịch ơi. Tôi có chuyện nhờ.”

Sương sớm đọng giọt trên cổng tre. Tôi quay vào mặc áo. Có tiếng ông mở cổng ngoài sân. Ông Thiện ngồi trước mặt tôi. Hai chén trà bốc khói. Ông nói :

“Đêm qua gió. Thằng Thọ lại lên cơn, rúc vào góc nhà, bịt chặt tai. Mắt nó trợn ngược. Mép sùi dãi. Ông phải giúp tôi.”

“Thì tôi đã nói với ông. Chỗ chôn cất cụ nhà tốt thật, nhưng chỉ phát được một đời. Còn thì phá các đời sau.”

Ông Thiện lẩm bẩm :

“Không. Hàm rồng cơ. Chỉ tại chúng nó phá núi làm đường. Động mạch.”

Ông nhìn tôi :

“Ông Mịch, tôi phải cải táng ông cụ. Tôi có mỗi thằng con trai.”

Tôi đi dọc bờ sông tìm nơi cải táng cha ông Thiện. Biết đâu dời xuống bụng rồng chẳng mang an lành đến cho đám hậu duệ. Nắng quá ngọ chói chan trên mặt sông sóng lăn tăn như vẩy cá đang hóa rồng. Tôi che mắt nhìn. Có tiếng gọi sau lưng tôi. Bà Vị cắp nón vẫy vẫy dưới nắng. Bà xốc tới:

“Ông Mịch, may quá gặp ông. Con tôi, thằng Hỷ, nó lại về ông ạ. Em nó bảo thung lũng sương đọng, chướng khí, lạnh lẽo.”

Bà chậm mắt. “Ông giúp giùm tôi. Chọn cho em nó một chỗ ấm áp bình yên.”

Tôi về đến cổng nhà là gà đã vào chuồng. Nàng trong nhà đi ra. Nàng cười, xòe tay cho tôi xem quả trứng to tướng, bóng nhẵn, vân trắng trên nền hồng. Nở nắm lấy tay tôi :

“Cầm lấy xem.”

Quả trứng mát lạnh. Ra là đá hoa mài. Nở bảo :

“Cái này bán cho du khách cũng khá đấy, anh.”

Nở quay lưng, tôi níu tay nàng :

“Nở này. Thằng Hỷ, con bà Vị, làm sao mà chết ?”

“Thì đàn ông chết trẻ là chết bom chết đạn.”

NỞ

Chồng tôi tối ngày lững thững ở chỗ tha ma như cơn mộng du về quá khứ. Không dứt. Trước, chồng tôi đi săm soi con nước, triền đồi. Bây giờ, mọi thứ đều được trưng dụng để lấp liếm vẻ nhếch nhác trên con người, trên nhà cửa. Người ta mơ vàng, mơ kho tàng giấu trong bụng núi. Người ta cho nổ mìn. Đá tảng thành đá cục. Không có điều gì giấu kín trong lòng núi. Đá cục mài nhẵn thành đá trứng. Những quả trứng tròn lẳng, xám, xanh, hồng, tía, trào ra từ bụng núi. Mỗi quả biết đâu lại chẳng chứa một điều kỳ diệu. Lũ thanh niên thất nghiệp mài. Lũ trẻ con thất học mang đi bán cho du khách, hai mươi nghìn một quả, một ước mơ, một điều kỳ diệu.

Du khách mua, mười sáu nghìn một quả, một thế giới thứ ba nhốt kín.

Chồng tôi lững thững ở nhưng nơi phong thủy đã thu hẹp. Quanh đi quẩn lại những chỗ Mịch bày cho người quyền chức chôn ông chôn cha. Những lỗ huyệt dấu kín. Mỗi lỗ là một cuộc đời và nhiều câu chuyện giấu kín.
Imagine
01-03-06, 19:28
CHUYỆN TRONG MỒ CỦA HỶ

Người kể không phải là Mịch, không phải là Nở. Chuyện người chết không cần tên người kể. Như chuyện ma. Ma lai rút ruột. Chỉ đầu, tóc, ruột, bay lơ lửng trong đêm. Không nương, không bám được vào đâu. Không căn cứ. Lời lẽ hoang đường.

Hỷ lạnh. Mớ xương cứng lại vì lạnh. Trí nhớ Hỷ mù mịt. Sương đục, la đà đọng lại chỗ trũng giữa hai quả đồi. Hỷ thèm trời trong, đồi núi sắc nét, không có mù sương, chan hòa nắng. Hỷ thèm nắng ấm, nóng chảy da như những buổi trưa Hỷ trốn trên gác. Giọng mẹ Hỷ dưới nhà rên rỉ với cán bộ Phụ Nữ đến động viên bà cho con đi nghĩa vụ :

“Nó biến rồi chị ạ. Tôi mà biết nó ở đâu tôi lôi về đóng nọc. Xấu cả họ.”

Hỷ nghe tiếng bà Vị khóa trái cửa, tiếng lục đục dưới bếp, tiếng chân trên nấc thang tre kẽo kẹt. Cơm nguội trên lá chuối, lấm tấm đỏ mấy rẻo tép phi. Hỷ cười với mẹ. Hỷ không có cha. Tóc bà Vị lòa xòa mồ hôi, bệt vào da. Những đêm trăng da bà sáng mờ mờ, tóc bà rơi rũ, bệt vào má, vào gáy. Nhưng đó là chuyện bà Vị.

Còn Hỷ. Hỷ cũng đang nhớ những đêm trăng. Hỷ nhớ Nở. Da Nở sáng mờ mờ dưới trăng. Tóc Nở rơi rũ, phủ lên mắt, lên môi Hỷ. Ve gào trên đồng cỏ. Cánh đồng cỏ hoang đường nở bông đậu hạt. Hạt cỏ bay mù dưới trăng. Gió bay đến đâu cỏ mọc đến đó. Cánh đồng lan ra mãi, phủ một màu hoang tưởng lên làng mạc, phố xá, tỉnh thành, quốc gia. Chỉ còn cánh đồng cỏ trong đêm trăng.

Áo Nở gió tốc ra xa. Nở cười chồm dậy đuổi theo, bỏ Hỷ nằm trần truồng dưới trăng. Nở chạy đến bìa cỏ, với bắt chéo áo. Nở chếnh choáng ở mép cánh đồng. Bên dưới là sao, sao như cát sông Hằng, chen chúc sáng. Nở gọi Hỷ. Tiếng Nở bay lơ lửng. Cánh đồng bay lơ lửng trong đêm sao. Lúc Hỷ chạy đến nơi là Nở đang rơi giữa vũ trụ, bóng tối xuyên suốt qua người. Sao bung như pháo bông. Hỷ gục xuống áo Nở còn vướng trên bụi cỏ. Mìn cá nhân nổ chát tai. Áo Nở thấm đầy máu Hỷ.

Hỷ rú lên mà chắc gì ai nghe. Tiếng hú của Hỷ bay lơ lửng như ma lai rút ruột. Không nơi tựa. Không luận cứ. Không ngôn từ.

CHUYỆN CỐT CHA ÔNG THIỆN

Sống, tôi là người rộng rãi. Chẳng những chỉ bọn tá điền của tôi mà cả làng ai túng bấn đến đều được tôi cho vay không thóc thì tiền. Vâng, thì lấy lãi. Nhưng là để giữ kỷ cương. Không bọn rỗi nghề chỉ có ỷ lại mà nát rượu. Năm chồng tháng chất không trả nổi thì đem con đến gả bán. Mà tôi vẫn giữ gia phong. Không phải cứ sẵn đó mà quàng vào cho rối. Nền nếp đâu đó bà cả bà hai đã rõ ràng. Trong nhà, ngoài ngõ, đường đường chính chính, không ai chê trách vào đâu được.

Ấy vậy mà khi chết, thằng Cả nhà tôi phải chôn chui chôn nhủi như mèo giấu cứt. Nó làm chức to thế mà thằng cha nó chết khát trong tư thế thúc khủy, lúc con Vị đang xỉa xói tố địa chu. Cha thằng Mịch đi bày cho thằng Cả lỗ xoáy ở hốc núi : hàm rồng.

Lẽ ra thì cũng được đi. Đời xưa, tổ vua Lê còn dám nhảy xuống Hàm Rồng cho hậu duệ nên nghiệp đế vương. Nghiệp đế nào không xưng tụng bằng máu ? Máu tổ tiên, thiên hạ, công thần, con cái. Nay xá gì cái xác bầm dập của tên địa chủ ác ôn này. Khổ nổi, chính cha thằng Mịch xưa cứ bảo : Hàm rồng chỉ nơi đó trên sông Mã, nghìn năm mới mở một lần, tổ nhà Lê lấy mẹ nó rồi, còn thì là ham chó tất. Sáu trăm năm đất chó. Dễ đến bốn trăm năm nữa. Kệ đất với nước, xưa kia với mai hậu, tao cũng có được cái hốc núi mà nằm.

Tưởng đã yên. Nào ngờ tối hôm kia thằng Cả Thiện nửa đêm xách đèn bão chỉ trỏ cho hai tên vai u thịt bắp quật mồ cha nó, mò mẫm hốt cốt mang đi cải táng xuống gần mé sông. Chưa đào xong, nước đã đọng đầy lỗ huyệt. Ấy vậy mà chúng nhẫn tâm vùi tôi xuống. Thằng Thiện vốc đất quăng xuống nắp quan tài đánh độp.

Nước lõm ngõm buốt xương. Chừng đó tôi mới khám phá mình mất xương bả vai. Chúng bỏ sót vai phải của tôi trên hóc núi, trời ạ. Thế là thằng tôi vắt vẻo giữa hàm chó và bụng cá-chưa-hóa-rồng. Vĩnh cửu.

Ơ! Cái con Vị làm gì thế nhỉ? Nó rải phân lên mồ cha chồng hụt của nó đấy à. Xong còn vén quần đái sè sè xuống chỗ đất còn tươi. Nước ngấm qua ba tấc đất. Mùi hôi thối lan trong đêm, xông vào Vĩnh Cửu.

Chém cha con Vị. Từ dưới huyệt nhìn lên, trông gái lục tuần đái vẫn mát mắt. Hồi xưa con Vị còn thon thả mà mông đã đẫy, chắc nịch. Tao xem đâu ra đấy mới xin cho thằng Thiện. Tao biết đâu được bố thằng Mịch đã nằm ấm chỗ. Thằng thầy bói đất lúc đó đã có mẹ con thằng Mịch. Con Vị nhà bần, trai chơi đã chán chê, mà còn làm hỗn, không thèm chỗ Dâu Cả nhà tao.

Ấy thế, tao phải đè nó ra cạnh giếng nước để xác định thứ bậc xã hội. Nó dưới. Tao trên. Không thì còn ra cái thể thống gì. Đêm đó da nó cũng trắng mờ mờ như đêm nay.

Tự dưng xương tôi buốt lắm. Ai mà không tham sống. Thịt da ấm áp, len vào Vĩnh Cửu.

NỞ

Mùi phân trên khoảng đất tươi bay ra như một tín hiệu được đánh đi : Mả cha thằng Thiện đấy. Cứ thế, mỗi sáng lại thêm một đống phân tươi. Ông Thiện đến tìm chồng tôi, vò đầu bứt tai. Mịch ung dung bảo :

“Tôi thì tìm chỗ khác được đấy. Sẽ yên thôi. Tùy ông. Ai ngờ dân họ thù ông cụ thế.”

Mà có phải họ thù ông gìa đâu. Lão dù gì cũng đã đền tội. Oán là oán ông Thiện. Con trai bà Vị đang nằm yên trên gác. Ông Thiện phát động phong trào động viên nghĩa vụ, ập vào từng nhà, lôi tuột Hỷ xuống, kéo lê Hỷ trên bãi mìn Cambuchia. Môi Hỷ đỏ. Anh bộ đội nhân dân Việt Nam tình nguyện trên đất nước anh em anh hùng.

Mìn xé toạc tới háng Hỷ.

Tôi không nghe tiếng mìn nổ. Đêm nằm giữa cánh đồng cỏ tôi thấy Bãi Mìn của Hỷ trên trời. Mìn chen chúc như sao, bung như pháo bông giữa đêm tối. Không có tiếng nổ. Tôi chờ nghe tiếng nổ. Tôi chờ nghe tiếng rú của Hỷ.

Nhiều năm sau đó tôi còn mơ thấy áo mình thấm đầy máu Hỷ. Màu đỏ tươi chói chan dưới trăng. Áo tôi đỏ tươi giữa cánh đồng cỏ đen trắng, giữa đêm đen trắng. Câm lặng.

MỊCH

Lúc ông Thiện bỏ vốc đất xuống nắp áo quan đánh độp, tôi thấy ông rùng mình. Trong cái chớp mắt của ông, tôi thấy quang cảnh cánh đồng cỏ qua góc vai phải ông cụ. Bắp tay ông cụ lay lay trong động tác chắc nịch, chính xác. Trên cao là cánh diều căng gió. Cậu bé Thiện lấp xấp chạy theo lưng bố, mắt dán vào cánh diều trên khoảng trời cao vút, đóng khung ba bề bằng góc vai phải và bắp tay của bố. Ông Thiện quay lại nhìn tôi. Cơ bắp quanh mắt ông co giật. Tôi thấy trên đó gương mặt của Thọ. Mất tai phải. Vết sẹo như con tắc kè cong đuôi bám quanh mắt phải. Thọ thuộc lớp nhỏ hơn tôi. Phải làm gương trong chiến dịch động viên địa phương của bố. Thọ trở về từ Cambuchia không tai và mất trí. Mỗi lần nghe tiếng động to, như khi trời gió, là Thọ mắt trợn ngược, sùi dãi, nép vào góc nhà.

Ông Thiện là nhà lãnh đạo gương mẫu. Tố cha. Đẩy con đi chiến trường. Quá khứ và tương lai, ông nghiền nát cho hiện tại, cho quyền chức, cho quốc gia, cho tập thể. Hiện Tại vĩnh cửu.

Tôi phục vụ ông Thiện, uy quyền, bạo lực, phục vụ Hiện Tại. Tôi mang theo mình sự cảm thông với Hiện Tại mà Nở không hiểu được. Nở vẫn tưởng tôi sống trong quá khứ xa xưa, mơ ngủ trong chuyện muôn đời của phong thủy như một thứ ảo ảnh phi lịch sử. Nở có biết đâu trên bãi chiến trường của tôi, Hiện Tại đã đốt cháy đồng đội, đốt cháy kẻ thù, đốt cháy tôi. Chúng tôi tái sinh trong bạo lực và uy quyền của một thì hiện tại miên man, không dứt.

Tôi không mơ ngủ. Tôi biết Nở năm đó tối tối lẻn ra tìm Hỷ ngoài đồng cỏ. Tôi thấy Nở nằm phủ lên Hỷ. Tóc Nở rơi rủ lên mắt, lên môi Hỷ. Tôi thấy điều đó trong luận cứ, trong ngôn từ của Nở. Tôi thấy cả, vì tôi nhìn bằng đôi mắt của quyền lực. Soi mói. Len lỏi. Không cùng. Mê sảng. Mọi thứ quyền lực đều sáng suốt và mê sảng.

Tôi chếnh choáng trước uy quyền và bạo lực của những điều ẩn dấu. Thâm cung bí sử. Tôi biết cả. Vì tôi biết địa hình. Biết gió nước, biết núi sông, biết phương hướng sao trời. Nửa đêm, tôi đi cải táng cha ông Linh.

Mả cha ông Linh bỗng dưng đùn mối. Ông Thiện bảo :

“Mịch, đi bốc mộ nó. Làm sao cho tàn mạt mấy đời sau nó thì thôi.”

Ông Linh là cấp dưới ông Thiện. Nay lăm le hất chân ông Thiện. Ông Linh đi khui vụ vi cánh ông Thiện bán lậu mìn trong kho đạn thời chiến ra cho dân phá núi tìm vàng, lấy đá. Cho dân tầm thù đặt chất nổ nhà nhau.

Lần này tôi không cần phu đào huyệt như lần trước. Tôi đào một mình. Tôi quì trên đất mới. Tôi thọc tay xuống huyệt móc moi, thỏa mãn như đang thọc tay xuống cổ họng mình moi móc ruột gan. Tôi muốn sờ vào chỗ tận cùng, ngửi mùi mồ mả.

Tôi moi cốt cha ông Linh mang đi vùi vào hốc núi, chỗ đám thanh niên thất nghiệp đặt mìn nổ đá. Mìn kho đạn thời chiến bán lậu ra ngoài còn nguyên sức công phá. Cốt cha ông Linh bắn tung tóe, lẫn vào bụi đá.

Con trai ông Linh bị xe tải tông chết, ba ngày sau khi tôi cải táng cụ nội nó. Thằng Hậu lúc đó đang phóng xe máy cao tốc qua đèo.

NỞ

Hậu, Hỷ, và Thọ xưa là bạn cùng lứa, mười bốn mười lăm, nhỏ hơn tôi dăm tuổi. Thời đó chúng tôi tối tối rủ nhau đi gỡ khoai hợp tác xã. Tôi nướng khoai, Thọ đánh cắp rượu Liên Xô ở tủ rượu nhà ông Thiện. Hậu và Hỷ kháo nhau chuyện trong Nam. Giấc mơ tang bồng của chúng chỉ đến thế. Thọ không mơ gì xa xôi cả, chỉ Cái Hoa.

Cái Hoa mặc áo hoa, có mụn sữa trên cánh mũi. Cái Hoa lãng tai, hay nghễnh ngãng hỏi anh Thọ nói gì ?

Tôi gặp Mịch năm tôi hai mươi, lúc Mịch giải ngũ trở về từ chiến trường Miền Nam. Mịch lành lặn. Không có dấu vết gì của sự tàn phá. Tôi chùi vào dưới người Mịch, ấm áp. Hai năm sau tôi về với Mịch. Tôi bước vào giấc mơ của thời xa xưa, tĩnh lặng. Của núi, của sông, của phương hướng sao trời. Một thanh bình mê ngủ sau chiến tranh. Tôi thả dây bầu xanh ngắt bò lổn ngổn trên đất, rơi rũ trên dàn.

Năm đó, Hỷ phiêu lưu vào Nam trở về. Hỷ cao khỏng, mười chín, con vô thừa nhận. Hỷ ập về như thực trạng thời hậu chiến. Hai năm sau hòa bình, sức công phá của chiến tranh giải phóng chúng tôi thoát khỏi sự kìm tỏa của hy vọng, đẩy chúng tôi vào một thế giới hư vô. Dây bầu của tôi khô héo trên dàn. Tôi lao vào đêm sao của cánh đồng cỏ. Bóng tối xuyên suốt qua người như cái chết.

Chỉ một năm sau là Hỷ đã đi khuân đạn trên Bãi Mìn một cuộc chiến khác.

Hơn một thập kỷ sau đó, lúc người ta đã chôn sạch mọi cuộc chiến, tôi đi đám tang của Hậu. Trong bọn, có Hậu là trở về từ Cambuchia lành lặn. Lúc lấp huyệt Hậu, ông Linh bắt gặp ánh mắt tôi. Ông nhìn tôi trừng trừng. Ông nhìn xuống huyệt Hậu trừng trừng, như cố khám phá điều dấu kín ông.

Lúc mọi người tản mát, tôi đến cầm tay ông Linh. Ông hỏi :

“Thằng Hậu, làm sao mà chết ? Xe tông thì bầm dập, làm sao lại không còn nó nữa, hả cháu ?”

Tôi không cho ông được một nguyên nhân. Tôi lắp bắp :

“Chồng cháu cải táng cụ nội của Hậu.”

Ông Linh hỏi :

“Xe tông thì bầm dập, sao lại mất biến đi ?”

Một tuần sau, tôi đi chôn Mịch. Tôi chôn Mịch sau nhà, ngay hôm nhận xác. Tôi đào huyệt với lũ gà. Tôi thả dây bầu xanh ngắt, bò lổn ngổn trên mả Mịch. Tôi không nhờ ai xem cuốc đất.

Hôm đó, ông Linh mặt tái mét lắp bắp ngoài cổng nhà tôi, chỗ ông Thiện đứng tháng trước :

“Tôi phải nhìn xem làm sao xe tông mà lại mất đi.”

Ông Linh kể Mịch ngoái lại nhìn ông lúc bị ông đẩy vào đầu xe tải. Ông kể người Mịch văng vào vệ đường, ngoặt nghẹo. Ông kể Mịch nhìn trời rồi nhắm mắt.

Ông kể sống chết vẫn là điều dấu kín ông. Nhưng Mịch thì thấy cả. Chết giữa ban ngày mà Mịch nhìn thấy ngôi sao Bắc đẩu nhấp nháy, lơ lửng cách sườn đồi một sải tay trời đêm. Mịch sáng suốt, mê sảng.

Còn tôi. Cuối cùng rồi tôi cũng nghe được tiếng rú của Hỷ bay lơ lửng trong đêm. Không luận cứ. Không ngôn từ.

nguyễn hương

nguồn: AMVC
Imagine
01-03-06, 19:31
MÀU DA VÀ NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG DI DÂN VIỆT TRONG BỐI CẢNH HOA KỲ

đặng thơ thơ và nguyễn hương thực hiện

http://www.mydamau.com