Truyện ngắn gái viết, gái dịch

one
13-11-05, 18:21
Gái dịch ở đây là em, đợt vừa rồi viết tiểu thuyết rẻ tiền không kịp cho cá sấu xem phải dịch truyện độn vào. Đọc lại thấy mình dịch cũng tàm tạm nên em đem gửi báo, chả biết có được đăng không. Thôi thì cứ đem lên đây đã, chả mấy khi log in ngon thế này :D
one
13-11-05, 18:23
Nuối tiếc

KATE CHOPIN



Moa-den(1) Aurélie có một thân hình khoẻ mạnh, đôi má hồng hào, mái tóc nâu đã điểm bạc và cặp mắt với ánh nhìn quả quyết. Bà thường mang một cái mũ của đàn ông khi ra đồng làm việc, khoác áo xanh kiểu lính khi trời lạnh và đôi khi đi ủng cao cổ.

Bà chưa bao giờ kết hôn, chưa bao giờ yêu. Hồi 20 tuổi bà nhận được một lời cầu hôn và đã từ chối thắng thừng. Đến tận bây giờ bà vẫn chẳng tiếc rẻ gì về việc đó. Vì thế nên bà sống khá cô độc. Bà chẳng có ai thân thích ngoài chú chó Ponto, đám người da đen sống trong những túp lều nhỏ giúp bà việc đồng áng, đàn gà, vài con bò, một đôi la, khẩu súng ngắn để bắn mấy con diều hâu trộm gà và một đức tin.

Một buổi sáng, moa-den Aurélie đứng trước hiên, tay chống nạnh, nhìn một đám trẻ con -như vừa từ trên trời rơi xuống- đang đi tới. Hẳn là bà không trông đợi bọn trẻ cũng như chào đón chúng. Chúng là con của Odile, người láng giềng gần nhất đối với bà, tất nhiên là chỉ gần chứ không phải thân thiết gì!

Năm phút sau, người mẹ trẻ xuất hiện. Chị ta bế con bé Élodie, tay hờ hững dắt Ti Nomme, Marcéline và Marcélette bước lề mề theo sau.

Mặt Odile đỏ bừng, méo mó vì nước mắt và có vẻ kích động. Chị vừa nhận được điện gọi khẩn của xứ đạo ở quê, mẹ chị đang ốm nặng. Chồng chị thì ở tận Texas, chắc cách đây phải đến cả triệu dặm, và Valsin -anh chàng làm công người lai- đang đánh xe la, chờ để chở chị ra ga.

“Đừng hỏi gì, bác Aurélie, bác chỉ cần trông giúp cháu bọn trẻ đến khi cháu quay về. Dieu sait (2), nếu có cách nào khác thì cháu đã không phiền bác. Bác cứ coi chúng như con cháu trong nhà, đừng có chiều đứa nào hết. Cháu đây này, cháu đến điên dở vì chúng nó, Leon thì không có nhà, mẹ cháu thì chả biết sống nổi hay không!”- Quả là một viễn cảnh đau lòng khiến Odile cuối cùng cũng phải vội vã và hoảng loạn mà quay về cái gia đình chán nản của chị.

Chị lùa bọn trẻ vào trong bóng râm của mái vòm ngôi nhà dài, thấp. Ánh nắng trắng đập vào tấm ván cũ cũng màu trắng, mấy con gà đang vừa đi vừa bươi cỏ, và chị cất những bước nặng nhọc, vẻ mặt nghiêm nghị, thẫn thờ bước qua hàng hiên về phía cổng. Hương hoa cẩm chướng dễ chịu trong không khí và tiếng cười của những người da đen ngang qua những cánh đồng trồng bông…

Moa-den Aurélie đứng “chiêm ngưỡng” bọn trẻ. Bà đưa ánh mắt nghiêm khắc về phía Marcéline đang vẹo sườn bế con bé Élodie béo nục. Rồi cũng với ánh nhìn như vậy, bà lướt qua Marcélette đang i ỉ khóc vì bị Ti Nomme tai quái chọc phá. Sau một lát quan sát, bà trấn tĩnh lại, vạch ra trong đầu một loạt những việc phải làm với bọn trẻ. Bà bắt đầu cho chúng ăn.

Nếu như trách nhiệm của moa-den Aurélie chỉ bắt đầu và kết thúc bằng việc cho lũ trẻ ăn như thế thì thật đơn giản. Cái chạn của bà cũng thừa sức làm được việc đó. Nhưng lũ trẻ không phải những con ỉn con, chúng đòi hỏi sự quan tâm mà moa-den Aurélie không bao giờ ngờ được, bà sẽ phát ốm để làm việc đó.

Thực sự thì, trong vài ngày đầu, bà tỏ ra không thích hợp với việc trông nom lũ trẻ nhà Odile. Làm sao mà bà biết được rằng Marcélette luôn khóc nhè mỗi khi nghe ai nghiêm giọng nạt to cơ chứ. Đó là tính riêng của nó. Con bé chỉ đỡ quấy hơn khi thấy Ti Nomme mê mải với đám hoa lá, thằng bé ngắt hết sạch hoa dành dành và cẩm chướng của bà, để tìm hiểu cấu trúc thực vật.

“Hông bảo được Ti Nomme đâu thưa moa-den Aurélie - Marcéline “lên lớp” cho bà- bà phải trói ló vào ghế ấy. Mẹ cháu thường làm thế mỗi khi ló quậy”. Chiếc ghế mà moa-den Aurélie trói thằng bé khá rộng và thoải mái, nó chớp ngay cơ hội để đánh một giấc trên ghế trong một buổi chiều ấm áp.

Đêm xuống, khi bà định sắp lũ trẻ vào giường đâu ra đó (như bìn thường bà xuỳ đàn gà vào chuồng), chúng cứ ì ra không nghe lời. Bà phải làm gì? Lấy ra những chiếc áo ngủ làm từ vỏ gối và mong chúng đổi ý, và vỗ vỗ vào mông chúng như quật bò cho đến khi chúng ngủ ư? Hay là đem một chậu nước ra giữa nhà những bàn chân nhỏ chạy rông suốt ngày, bẩn thỉu và rám nắng kia được ngâm rửa nhẹ nhàng nhỉ? Việc này đã làm Marcéline và Marcélette cười vui vẻ, nó cũng làm cho bà tin rằng Ti Nomme có thể ngủ chẳng cần nghe kể chuyện Croque-mitaine hay Loup-garou hay cả hai, hoặc Élodie sẽ ngủ mà chẳng cần ru hời gì hết.

“Tôi nói cho dì hay, dì Ruby – moa-den Aurélie nói riêng với bà nấu bếp – tôi, tôi thà phải trông coi cả tá đồn điền còn hơn là bốn đứa nhỏ. Thật kinh khủng! Bonté (3), đừng có nhắc đến trẻ con trước mặt tôi!”

“Không thễ trông đợi bà hĩu tất tật về chúng, thưa bà. Tôi thấy rỏ ràng hôm goa bọn nó chơi với giõ chìa khoá của bà. Sao bà không ngăn chúng lại? Những thứ như thế làm răng chúng khó coi trong gưng. Còn nhiều điều bà phãi biết khi quãn lý trẽ con”.(4)

moa-den Aurélie tất nhiên chả kỳ vọng hay thiết tha gì dăm mớ kiến thức xa xôi tinh tế mà Rudy thu lượm được trong cuộc đời ba chìm bảy nổi của dì. Bà chỉ thấy hài lòng khi học được vài mẹo-làm-mẹ nho nhỏ để dùng khi cần.

Những ngón tay dính nhằng của Ti Nomme buộc bà phải “khai quật” lại chiếc tạp dề trắng mà nhiều năm không sờ tới, và bà cũng phải làm quen với những cái hôn ươn ướt của nó, một biểu hiện tình cảm trìu mến và chứa chan rất tự nhiên. Bà cũng phải hạ cái giỏ khâu lâu nay chẳng dùng, từ trên nóc chiếc giá làm bằng cây ngải hương xuống, đặt trong tình trạng sẵn sàng phục vụ cho những vết rách vì gai cào hay những cái khuy đứt. Bà cũng mất vài ngày để quen với tiếng cười, tiếng khóc, tiếng bi bô léo nhéo âm vang suốt cả ngày trong và quanh nhà. Và không phải ngay lập tức bà có thể quen ngủ yên với hơi nóng của con bé Élodie, thân hình mũm mĩm của nó đè sấp lên người bà và hơi thở ấm áp của một đứa khác phả vào má bà như cái đập cánh của một con chim.

Nhưng độ hai tuần sau, moa-den Aurélie đã quen với tất cả những việc đó, bà không còn phàn nàn nữa.

Và cũng sau hai tuần, một buổi tối, moa-den Aurélie nhìn về phía hàng rào, nơi bà vẫn thường đứng cho bầy gia súc ăn, bà thấy cỗ xe màu xanh của Valsin ở khúc quanh của con đường. Odile ngồi cạnh anh chàng người lai, lưng thẳng và đầy vẻ cảnh giác.Khi chiếc xe đến gần hơn, vẻ mặt rạng rỡ của người mẹ trẻ cho thấy chuyến trở về này của chị thật vui vẻ.

Nhưng việc này đến không báo trước và không lường trước, đã mang lại cho moa-den Aurélie một cảm giác xao xuyến gần như là rung động. Phải tập hợp bọn trẻ lại. Ti Nomme đâu rồi? Thằng bé ngồi ở phía dãy chuồng gia súc xa kia, đang miết lưỡi dao trên một phiến đá mài. Còn Marcéline và Marcélette? Đang chơi trò may quần áo cho búp bê trong góc hiên nhà. Và Élodie thì đang bình yên trong vòng tay bà, hét lên sung sướng khi thấy bóng dáng quen thuộc của cỗ xe màu xanh mang mẹ về.

Sự náo động không còn, tất cả đã đi. Sẽ thế nào nếu bọn trẻ đi hết? moa-den Aurélie đứng ở hàng hiên, nhìn và lắng nghe. Bà không còn nhìn thấy chiếc xe, hoàng hôn đỏ thắm cùng những tia sáng màu xám xanh yếu ớt cuối ngày và một đám mây tía bay ngang cánh đồng đã che khuất nó. Bà không còn nghe được tiếng kẽo kẹt lục cục của bánh xe. Nhưng bà vẫn nghe loáng thoáng tiếng nô đùa chói tai vui vẻ của lũ trẻ.

Bà quay trở vào nhà. Còn nhiều việc đang đợi bà, bọn trẻ đã để lại một đám bừa bộn, nhưng bà không muốn sắp xếp lại. moa-den Aurélie buông mình xuống bên bàn. Bà lướt nhìn chầm chậm khắp căn phòng, bóng tối sâu thẳm dần bao phủ dáng hình đơn độc của bà. Bà gục đầu xuống cánh tay và oà khóc. Ồ, bà đã khóc! Không thút thít như thường thấy ở phụ nữ. Bà khóc ồ ồ như một gã đàn ông, với những tiếng nấc bật ra từ tâm hồn. Bà không để ý rằng Ponto đang liếm tay mình.

(1)Đáng ra nên dịch là bà hoặc cô. Em để moa-den vì bà này gốc Pháp và chưa chồng.
(2)Lạy Chúa.
(3)Chúa lòng lành.
(4)Bà giúp việc này nói ngọng lung tung.

Nhất Thân Tầm
one
13-11-05, 18:32
Vụ ly dị của phu nhân Celestin

KATE CHOPIN


Sáng sáng, mỗi khi ra quét tước ngoài hè, phu nhân Celestin luôn khoác một cái áo cánh bằng vải bông giản dị, gọn gàng. Thầy kiện Paxton thấy nàng thật xinh đẹp trong chiếc áo màu xám với những nếp gấp duyên dáng sau lưng. Và lúc nào nàng cũng thắt một cái nơ bướm hồng ở cổ để tôn chiếc áo lên. Mỗi sáng thầy Paxton đi qua nhà nàng để tới văn phòng trên phố St Denis, thầy đều thấy nàng quét dọn ngoài hiên.

Thỉnh thoảng thầy dừng lại và nghiêng qua rào, nhã nhặn cất tiếng chào buổi sáng, ngắm nghía nhận xét bụi hoa hồng nhà nàng hoặc có thời gian thì nghe nàng tâm sự đôi câu. Phu nhân Celestin thường cũng hay chuyện. Một tay nắm đuôi áo choàng, tay kia yểu điệu nhấc chiếc chổi, nàng bước xuống gần thầy kiện đang nhoài người qua hàng cọc rào.

Tất nhiên là nàng sẽ kể cho thầy nghe về mấy chuyện trắc trở. Tất cả mọi người đều biết chuyện trắc trở của phu nhân Celestin.

“Tôi phải nói thật” - Một lần thầy Paxton nói với nàng, bằng một giọng cẩn trọng đầy đắn đo ra dáng người hiểu luật – “Đàn bà con gái chứ có phải gì đâu, em cứ cam chịu thế này à? Đấy, làm lụng đến rụng rời chân tay” - Nàng liếc nhanh xuống hai đầu ngón tay hồng hồng hở ra từ kẽ chiếc găng giả da. “Nào khâu vá, đi dạy nhạc, làm việc chân tay để nuôi thân và hai đứa nhỏ” – Mặt nàng Celestin rạng lên khi nghe người khác liệt kê những nỗ lực của mình.

“Ông nói đúng, ông Thẩm. Không một xu lẻ nào, bốn tháng rồi em không thấy anh Celestin đưa về một xu nào”
“Tên vô lại” - thầy Paxton mấp máy bộ râu.
“Dù là” - nàng ta tiếp tục – “người ta bảo anh ấy vẫn đi làm đều đều dưới Alexandria”
“Tôi dám chắc là cả tháng trời em chả thấy tăm hơi hắn đúng không?” – thầy kiện gợi chuyện.
“Nửa năm không về rồi, ông ạ” - nàng thừa nhận.
“Đó, tôi đã bảo mà, hắn gần như bỏ rơi em còn gì, chả chăm nom chu cấp gì cho em. Tôi chả lạ gì con người hắn, hắn có tốt với ai bao giờ”.
“Đấy ông xem” - nàng ho húng hắng – “Trông chờ gì vào gã nát rượu đấy cơ chứ. Ông biết hắn hứa hẹn gì với em không? Em mà có cái khoản tiền như lời hứa đấy thì em đã không phải động chân động tay. Em đảm bảo với ông thế”.
“Thế này nhé, theo tôi ý mà, em mà để thế này thì dại quá, trong khi chỉ cần ra toà đòi quyền lợi là xong”.
“Hôm trước ông có bảo em thế rồi. Em sẽ suy nghĩ thêm về chuyện ra toà. Trăm sự em cậy ông đấy!”.

*

“Ông biết không, chuyện ly hôn..” – Sáng đó nhà nàng Celestin đợi sẵn bên hàng rào – “Em đã nói chuyện với họ hàng bạn bè, tất cả đều ngăn cản, không cho em đưa đơn.”
“Lẽ dĩ nhiên, chắc chắn thế, tôi đã liệu trước mà, ở cái đám kiều dân Âu châu này thì lúc nào chả thế. Tôi đã cảnh báo trước với em rồi đấy thôi, chắc chắn phải có trở ngại, em phải dũng cảm đối diện khó khăn nhé!”.
"Ồ, ông đừng lo. Em chuẩn bị tinh thần rồi. Cụ bà nhà em thì cho rằng chuyện này là một mối ô nhục chưa từng có trong họ nhà em. Nhưng cụ nói ra được thế cũng tốt. Em làm cụ sốc quá còn gì. Cụ cứ bắt em phải đi xưng tội với cha Duncheron, ông biết đức cha rồi phải không? Ôi, em sẽ đi, ông Thẩm ạ, để bà cụ nhà em vui lòng. Chứ còn bao nhiêu cha cố trên đời này hợp lực cũng chả bắt em chịu đựng Celestin thêm tí nào nữa."
Hai hôm sau, phu nhân Celestin lại ở bên bờ rào chờ thầy Paxton: "Ông Thẩm ạ, ông biết đấy... về chuyện ra toà ý mà."
"Vâng, vâng - ông thầy kiện trả lời, hài lòng khi bắt gặp một ánh quả quyết mới mẻ trong đôi mắt nâu và khoé miệng cong cong xinh xẻo của nàng - tôi nghĩ là em đã gặp đức cha Ducheron rồi và cũng phải đấu tranh tư tưởng với cả ngài nữa."
"Ôi, đúng là một buổi thuyết giáo hoàn hảo, em xin thề với ông là thế! Nào là các tấm gương, những lời răn đe, nhiều đến nỗi em nghĩ ngài cứ thuyết mãi không bao giờ dừng cơ. Ngài nói, ngài rửa tay, rồi ngài phán là em phải đi gặp đức Giám mục."
"Tôi tin rằng em sẽ không để đức Giám mục can thiệp gì" - thầy kiện lắp bắp nói với vẻ tức giận khó hiểu.
"Ông chưa biết tính em rồi, ông Thẩm" – phu nhân Celestin quay đầu và cười, một nhát chổi lia nhẹ báo hiệu cuộc nói chuyện chấm dứt.

*

“Thế nào rồi? Đức Giám mục…” - thầy kiện Paxton đứng đó, hai tay nắm hai thanh rào đã lung lay. Nàng không nhìn thấy thầy. “Ồ, ông thẩm đấy ư”. Nàng chạy vội về phía thầy với vẻ hãnh diện của một bà chúa.
“Vâng, em đã gặp đức Giám mục rồi” - nàng bắt đầu. Ông thầy kiện đọc được trong vẻ mặt đầy cảm xúc của nàng vẻ quả quyết không gì lay chuyển nổi. “À, đức Giám mục nói rất hùng hồn, xưa nay chưa bao giờ em thấy một người hùng hồn hơn thế. Em đã phát khóc lên vì cái kiểu hùng biện đó… ngài chả chịu hiểu, chả chịu thông cảm cho tình cảnh của em. Ông Thẩm ạ, ông mà ở đấy thì cũng phải lung lay thôi, vì ngài nói ghê lắm. Nào là việc em sắp làm là nguy hiểm, là mê hoặc. Nào là một người có đạo thì phải biết chịu đựng tất cả đến cùng. Phải biết nghĩ đến sau này, phải biết cưỡng lại cám dỗ… Đức ngài nói với em thế đấy!”
“Nhưng ông ta chả làm em thay đổi quyết định đâu, tôi biết rõ!” - thầy kiện cười mãn nguyện.
“Dĩ nhiên là vậy” - nàng nhấn mạnh lại – “Đức giám mục không phải chịu cảnh ngộ như em, làm sao hiểu được nỗi khổ khi phải ở với người như Celestin cơ chứ! Đến Giáo hoàng có tới đây thì cũng chả thuyết phục được em chịu đựng thêm ngày nào nữa đâu, một khi ông đã nói rằng luật pháp cho phép em đem hắn bỏ rọ trôi sông!”

Những ngày sau đó, thầy kiện Paxton bỗng thay đổi lạ lùng. Thầy thôi mặc bộ đồ thường mà diện bộ cánh ngày Chủ nhật tới văn phòng. Thầy năng lau giày, sửa lại cổ áo và cà vạt hơn. Và thầy còn chăm tỉa tót bộ râu quai nón nữa. Thầy kiện Paxton đi dọc khu phố cổ và mơ mộng. Thầy mơ về một người vợ, người đó không ai khác chính là phu nhân Celestin xinh tươi. Ôi, quả là một giấc mơ ngọt ngào và thiêng liêng. Cái thị trấn nhỏ hẻo lánh này xem ra không còn chứa nổi niềm hạnh phúc của thầy nữa…

*

Tim thầy Paxton đập mạnh khi thầy tới gần nhà nàng Celestin sáng hôm ấy, nàng đang đứng sau bụi hồng và đang chăm chú quét tước như thường lệ. Nàng đã quét xong hàng hiên và đang quét tới lối đi lát gạch viền bằng một dải cây hoa tím.

“Chào em”.
“Ồ, ông Thẩm đấy ư? Em chúc ông buổi sáng tốt lành”. Thầy chờ đợi. Celestin phu nhân có vẻ để hết tâm trí vào công việc. Lát sau nàng mới ngập ngừng, vẻ ngượng nghịu.
“Ông biết không, ông Thẩm. Về vụ ra toà ấy… em thấy ông sẽ bỏ qua việc em ly dị” - nàng vẫn dán mắt vào mấy chiếc nhẫn trên bàn tay cầm chổi, nhìn chúng với vẻ phê phán. Thầy kiện Paxton thấy một màu hồng lạ lùng trên mặt nàng, nhưng cũng có thể chỉ là ánh phản chiếu của chiếc nơ trên cổ.
“Vâng, em nghĩ là ông muốn em quyết định… Ông thấy đấy, ông Thẩm, anh Celestin vừa về tối qua. Và ảnh đã hứa với em là từ giờ sẽ tu tỉnh.”

Nhất Thân Tầm
Delliah
13-11-05, 21:26
Em Oản dịch tốt nhỉ. Hai chuyện đều hay quá. Tiếp đi bé ơi!
one
15-11-05, 19:14
Nói thật là em hết vốn rồi. Dịch ì ạch được 3 truyện thì có 1 truyện đang gửi báo quen, nó yêu cầu trước khi nó duyệt xong thì không được ho he. Truyện Nuối tiếc thì có bản tiếng Anh PDF đây. Bản kia thì ở dạng HTML, các tình yêu đọc online vậy.

http://etext.lib.virginia.edu/ebooks/pdf/ChoRegr.pdf

http://www.4literature.net/Kate_Chopin/Madame_Celestin_s_Divorce/
lão ma
15-11-05, 19:19
Oẳn dịch khá phết nhờ, anh khen thật đấy. Cứ tiếp tục thế đi em. À, mà này, truyện ở Ba Vì gì đó xuất bản chưa em?
one
15-11-05, 19:25
Dạ, nếu như không có gì biến cố thì sắp ạ. Hic hic, cuộc đời mong manh không biết đường nào mà lần, nói trước bước không qua thì buồn. Đợt trước em tưởng moi được tiền của tư bản về in sách, ai ngờ nó cho đứt phựt phát. Trong lúc thẫn thờ em viết thêm được quyển nữa rồi đấy bác ạ. Cảm ơn các bác các tình yêu đã đọc. Truyện thứ 3 kia nói về Giáng sinh, em dịch cũng xuôi, gửi đi tầm này là vừa mà tsb nó duyệt lâu quá. Thôi, đợi gần Lô en rồi em đem lên.
lão ma
15-11-05, 19:32
Ối giời, thế ku Gaup nó ăn không cả 3000 hử Oẳn?
Nhớ để dành anh vài cuốn làm quà cho người quen nhớ ... nhớ nhớ!

Chúc Oẳn sớm thành công :)
Nancy
15-11-05, 23:21
Moa-den(1) Chị Aurélie có một thân hình khoẻ mạnh, đôi má hồng hào, mái tóc nâu đã điểm bạc và cặp mắt với ánh nhìn quả quyết. Chị thường mang một cái mũ của đàn ông khi ra đồng làm việc, khoác áo xanh kiểu lính khi trời lạnh và đôi khi đi ủng cao cổ.

Dùng đại từ "chị" có được không?
Mime
16-11-05, 09:33
Không được. Nghe trẻ quá.
lão ma
16-11-05, 14:22
Thử tí nha:


Moa-den Chị Aurélie có một thân hình khoẻ mạnh, đôi má hồng hào, mái tóc nâu đã điểm bạc và cặp mắt với ánh nhìn quả quyết. Chị thường mang một cái mũ của đàn ông khi ra đồng làm việc, khoác áo xanh kiểu lính khi trời lạnh và đôi khi đi ủng cao cổ.

"Moa-den(1) Aurélie là một thiếu phụ có một thân hình khoẻ mạnh, đôi má hồng hào, mái tóc nâu đã điểm bạc và cặp mắt với ánh nhìn quả quyết. Cô ta thường mang một cái mũ của đàn ông khi ra đồng làm việc, khoác áo xanh kiểu lính khi trời lạnh và đôi khi đi ủng cao cổ."

chẳng hạn!
Ateh
16-11-05, 14:26
Nếu tưởng tượng người viết truyện là một trung niên thì đại từ "chị" là đạt. Những người đàn bà chưa chồng nhiều tuổi thường được gọi là chị. Bà này chắc nhiều nhất là 50 tuổi, một thanh niên 20, 30 tuổi cũng gọi là chị được và là vừa phải. Trong "Tóc chị Hoài" Nguyễn Tuân cũng dùng đại từ chị mà.
one
16-11-05, 15:47
Hè hè, dịch là chị nghe ngang ngang vì dịch viên là em còn hơi bị non tuổi, ở VN hăm tư gọi năm chục là chị có khi người ta đánh bỏ bu. Với lại phải gọi là bà thì mới nhấn mạnh được cái sự gái già cô đơn. Cái từ moa-den thì tại trong bản tiếng Anh nó ghi nguyên văn là "Mamzelle Aurélie". Em băn khoăn là băn khoăn cái đại từ ở truyện thứ 2 cơ.
lão ma
16-11-05, 18:01
Anh nghĩ, nếu khỏang chừng 50 tuổi dịch là "bà, bà ta, bà ấy ..." nghe chững hơn!
one
18-11-05, 17:06
Truyện này thì em sửa theo tứ của gái, chưa ưng ý lắm vì vẫn thiếu kết dính nhưng em cũng chẳng muốn làm gì thêm, vì đề tài này gửi đi cứ gọi là còn khướt mới được đăng.

Người lái taxi ở Đại Liên

Nguyên bản: Ran lang thang - Trại cá sấu (http://traicasau.com)
Xay nhuyễn gia: Nhất Thân Tầm - Cũng Trại cá sấu luôn (http://traicasau.com)


Sáng mùng 2 Tết, đường phố không đông nhưng không quá thưa thớt. Người đi chúc Tết lù xù trong những chiếc áo khoác dày cộp, trên tay là phong bao hay gói quà đỏ rực như những đốm lửa đối chọi với màu tối của trang phục. Người tài xế taxi tư nhân cao lớn mở cửa xe cho tôi, gương mặt phong trần thoáng nét dữ dội nở một nụ cười nhẹ nhõm:

- Cung hỷ phát tài!

Tôi cũng mỉm cười nhắc lại câu chúc của anh ta rồi chui vào, lọt thỏm trên băng ghế sau rộng thênh ấm sực. Xe đi men theo rìa bán đảo hướng ra bờ biển. Đường vắng tanh không một bóng người, vài cây thông nhỏ bé in trên nền trời xám nhạt, dưới kia là mặt biển xanh biêng biếc. Ánh nắng hiếm hoi phản chiếu trên mặt tuyết làm chói mắt. Nếu người lái xe không lên tiếng bắt chuyện, tôi đã nghĩ rằng chỉ có mình và một màu trắng xoá tinh khôi này. Lơ đãng lắng nghe thắc mắc về chuyện “một cô gái miền nam nhỏ bé mới 18 tuổi đầu lại có thể không về nhà ăn Tết mà một mình lặn lội tới miền tuyết trắng hoang vu này”, tôi trả lời với vẻ ậm ừ, hơi ngơ ngác. Chẳng biết có nên đính chính với anh ta rằng mình đã qua cái tuổi 18 gần một thập kỷ rồi hay không… Cuối cùng tôi quyết định nên để yên cho suy đoán ấy.

Bờ biển Kim Thạch Than hoang vắng, những tảng đá xù xì lạ mắt nằm ngổn ngang như ăn vạ, gió buốt như thể châm kim vào mặt. Một con chó đen nhảy xổ ra sủa ầm ĩ. Hai người đàn ông chạy tới suỵt chó rồi đứng nhìn tôi với vẻ lạ lẫm. Người lái xe vượt lên chào họ rồi chỉ tay về phía tôi:

- Cô bé này ở miền nam lên, muốn thuê thuyền ngắm biển.

Hai người đàn ông lại trố mắt nhìn tôi thêm một lượt. Ai lại tới thành phố biển “nghỉ mát” vào mùa tuyết trắng kia chứ! Nhưng rồi họ cũng gật đầu, vẫy tay mời tôi vào nhà chòi chứa dụng cụ đi biển để lấy áo phao. Người lái xe chờ tôi thoả thuận giá cả xong rồi mới chầm chậm đi ngược lên chỗ đỗ xe đứng đợi. Chiếc áo dựng cao cổ to xù và dáng người sừng sững in trên nền trời như thể một bức tượng đá cổ.

Tháo thẻ nhớ đã đầy nghẹt ra thay bằng chiếc dự phòng, tôi giơ máy chụp người lái xe đang bước tới. Vừa đỡ ba lô cho tôi, anh vừa hỏi:

- Chụp được nhiều ảnh đẹp chứ?

Tôi mỉm cười thay cho câu trả lời. Còn thừa thời gian để quay về và lên tàu, chuyến tham quan Đại Liên trong dịp Tết của tôi có thể coi là kết thúc tốt đẹp. Tôi duỗi đôi chân tê cứng vì lạnh và hỏi người lái xe thêm về những thắng cảnh, di tích của thành phố.

- Em đã đến công viên Tinh Hải chưa?

Tôi gật đầu.

- Rồi à, thế thì khu phố tây vậy?

- Kiến trúc như thế ở đất nước tôi có rất nhiều.

- Ồ, vậy ra em không phải người miền nam ư?

- Người Việt Nam - tôi cười khẽ - Cũng ở miền nam đấy!

Không có nụ cười thân thiện làm dịu những nét dữ dội như tôi tưởng. Ánh mắt người đàn ông nhìn tôi rất lạ, cái vẻ hơi hoang mang và… nghiệt ngã. Anh cho xe chạy chậm lại, nói với giọng khô khan:

- Em biết không, tôi đã từng tham gia chiến tranh biên giới Việt Nam.

Rồi anh cúi xuống kéo ống quấn lên, trên bắp chân to lớn là một vết thương sâu hoắm.

- Đạn người Việt Nam bắn vào đấy.

Trong một thoáng, tôi đờ người ra mông lung.

- Khi em còn chưa ra đời thì tôi đã bị thương thế đấy. Ngày ấy tôi còn trẻ măng, cao lớn đủ tiêu chuẩn đi lính. Tôi xuống miền nam tham gia chiến tranh.

Người đàn ông với chiếc quần vén ngang bắp chân cho xe chạy như thể sợ bị bắn tốc độ, âm điệu miền bắc với những chữ uốn lưỡi nằng nặng hoà lẫn tiếng gió rì rì bên ngoài:

- Lúc bình thường binh lính hai bên còn sang nói chuyện vui vẻ với nhau, mời nhau hút thuốc. Nhưng chỉ cần mệnh lệnh của chỉ huy là hai bên sẵn sàng nổ súng ngay… Mà này, người Việt Nam em giỏi đánh nhau thật đấy. Không những chỉ đàn ông làm lính mà có đàn bà, trẻ con và người già đều tham gia.

Tôi thoáng mỉm cười, cố không để mắt mình hiện lên một cái gì đó giống niềm tự hào. Tôi biết thứ đó không cần thiết bằng sự chờ đợi, như lúc nãy anh đã chờ tôi gần hai tiếng đồng hồ trong gió biển buốt lạnh.

- Hồi đầu, bọn tôi không biết đâu. Lệnh trên ban ra là chỉ tấn công lính Việt Nam không được giết dân thường nhất là phụ nữ và trẻ con. Nhưng hồi đó ông đại đội trưởng của tôi biết phụ nữ Việt Nam cũng tham gia chiến tranh nên một lần ông ta gặp một toán phụ nữ, ăn mặc bình thường nhưng có dấu hiệu khả nghi. Ông ta thấy họ có súng nên ra lệnh nổ súng giết hết. Sau đó ông ta tự sát, trái quân lệnh mà. Sự kiện đó gây chấn dộng và từ đó lệnh trên ban xuống là bất kể là đối phương ai chỉ cần đi lại trong lãnh địa quân sự thì có quyền bắn .

Người đàn ông đánh tay lái tránh một đống tuyết trên đường, giọng thản nhiên, lạnh lùng. Dường như khi đã chứng kiến nhiều cái chết người ta sẽ chai lỳ. Tôi im lặng nghe. Anh không hề nói bên nào đúng bên nào sai như một số người Trung Quốc bây giờ hay nói mỗi khi gặp người Việt Nam. Tôi nghe tiếng anh thở hắt ra rồi lẩm bẩm:

- Trong cuộc chiến tranh đó không có ai là hảo hán. Với tôi, một vết đạn suýt làm tôi đi tập tễnh cả đời đã là quá đủ.

Rồi anh ngoái hẳn lại nhìn tôi:

- Em liều đấy. Tôi không ngờ có ngày tôi gặp lại một cô gái Việt Nam ở cái xứ lạnh xa xôi này. Em biết điều gì sẽ xảy ra nếu em nói với tôi từ đầu rằng em là người Việt không?

Tôi không nghĩ được gì, chỉ nhìn sững vào khuôn mặt thâm trầm sẵn có của người Trung Hoa, vẻ phức tạp, khó đoán nội tâm của nó khiến tôi tự hỏi không biết vẻ mặt của bản thân mình lúc này như thế nào. Nhưng hình như không có sự sợ hãi trong tâm trí mà chỉ có một cảm xúc hơi nặng nề khó tả. Tôi nhìn vết sẹo trên chân anh. Vết sẹo dễ gây liên tưởng tới tới những bộ phim hành động: khi bị thương người hùng sẽ trốn ở hẻm núi hoang vắng, lấy lửa hơ vào dao rồi khoét mạnh vào vết thương lấy đạn ra... Vết đạn trên chân anh cũng nham nhở y như vậy. Và nó rất thật. Chiến tranh đã quá xa nhưng vết sẹo lộn xộn kia lại quá gần. Bất giác tôi lắc đầu.

Người đàn ông lái xe tới cửa ga rồi dừng lại. Anh không bảo tôi xuống và tôi cũng không có ý muốn xuống ngay, cứ đăm đăm vào một góc vô định trong không gian nhỏ hẹp của chiếc xe. Anh nhìn tôi rồi kéo quần xuống lại như cũ:

- Dẫu sao thì tôi thấy nhẹ nhàng khi đã nói chuyện với em, gần 20 năm rồi tôi mới gặp lại người Việt Nam đấy. Tôi cũng không ngờ là mình có thể bình tĩnh như vậy khi kể chuyện với em về cuộc chiến đó. Mong lần sau em trở lại Đại Liên vào mùa hè, tôi sẽ đưa em đi chơi miễn phí.

Tôi cảm ơn và đưa cho anh 30 tệ, cái giá cho chuyến đi khứ hồi và câu chuyện về cả một quãng đời. Người đàn ông giúp tôi đeo lại ba lô, dáng điệu chất phác như một người anh lo liệu cho em gái. Tôi cảm ơn một lần nữa và quay người bước đi. Những người tài xế taxi gần đó dường như quen anh đều ngạc nhiên và hỏi: “Ai đấy?” Anh đáp: “Các ông biết không? Tiểu cô nương kia là người Việt Nam”.

Trong tiếng loa gọi vang vang, tôi chỉ kịp nghe thấy mấy tiếng ồ lên ngạc nhiên rồi vào hẳn bên trong cửa kính. Ở một góc nào đó trên thẻ nhớ máy ảnh của tôi, người lái xe đang vẫy chào, nụ cười nhẹ như làn nắng cuối chiều buông xuống thành phố biển. Tôi quên không hỏi tên anh.
Nẫu
20-11-05, 01:18
Trại cá nhà em one cấm giai à? Anh đé.o vào được. Định xem ảnh ọt mí lại định giả gái bốt chuyện tình iu mà bị đuổi đi.
one
23-12-05, 15:39
Hôm nay nhìn lịch giật mình nhè nhẹ một cái vỗ trán nhớ ra mai đã là Giáng sinh rồi, đưa cái này coi như một lời chúc cho các tình yêu. Merry Xmas.

Nàng Sophie bé nhỏ

ALICE DUNBAR

Khi Sophie định thần lại, tiếng âm vang của cây đàn organ lịm dần, những nốt nhạc ngân dài yếu ớt tan dần trong mái vòm u tịch của nhà thờ, và nàng đơn độc, thu mình thành một khối đen bé nhỏ trước bàn thờ Đức Mẹ đồng trinh. Những dây nến xót xa trải ánh sáng lung linh lên người nàng, nụ cười nhân từ của tượng Thánh mẫu trong áo choàng trắng dường như đang thì thầm những lời an ủi. Một cơn gió buốt giá ào vào giữa các hàng ghế và Sophie run rẩy, không phải vì lạnh mà vì bối rối.

Nhưng bóng tối đã ập xuống, nến sẽ tắt, cánh cửa đồ sộ của giáo đường sẽ đóng lại, và… quàng chiếc áo khoác mỏng qua bờ vai mỏng mảnh, Sophie vội vã bước ra, nàng đi dọc con phố sáng trưng náo nhiệt để trở về nhà.
Đó là một căn phòng rách nát trồng tuềnh, gió bấc lùa hun hút qua những khe nứt và những mảng tường ám khói cáu bẩn, trông ảm đạm và không ra hồn nhà. Một căn phòng nhỏ tồi tàn trong một căn nhà tồi tàn ở một trong những khu phố bần cùng của quận Ba nơi những đấng đáng tôn kính của tự nhiên cũng như của thành phố từ lâu quên lãng.

Cuộc đời Sophie cũng xác xơ và trơ trọi như căn phòng. Nàng thuê bốn bức tường này của một người đàn bà người lai nhỏ thó nhếch nhác, hẳn con cái bà ta là những thế hệ kế cận đầy hứa hẹn của ngài Abraham (1). Nàng nuôi sống thân thể nhợt nhạt gầy gò của mình bằng đôi bàn tay xương xẩu, làm việc không nghỉ, khâu khâu, vá vá, mòn mỏi trên những dải băng nẹp hay túi quần. Đó là kế sinh nhai của nàng, công việc đơn điệu kéo dài vô tận, và khoản tiền còm cõi cho những ngày đêm lao động chính là niềm hy vọng duy nhất cho đời nàng.

Nàng ngồi trước chiếc lồng than sưởi, vừa hơ những ngón tay bị kim đâm vừa nghĩ về sự kiện lạ lùng hôm nay. Nàng đã lên phố để đưa những kiện quần áo vest bằng sợi thô cho nhà máy và nhận số tiền thù lao rẻ mạt. Trên đường về, nàng đã dừng ở Nhà thờ để cầu nguyện trước bàn thờ Đức mẹ đồng trinh. Nàng đang quỳ đó, rồi một tiếng nhạc bừng lên từ chiếc đàn organ, một mùi hương mê mẩn từ những đoá hoa, ánh sáng lấp lánh đến chói mắt của những ngọn nến, tiếng sột soạt thanh nhã phát ra từ những bộ đồ lụa của khách dự đám cưới. Và Sophie đã nán lại trong đám cưới để ngắm nhìn, theo tiếng thúc giục của trái tim yếu đuối lâu nay tưởng chừng như héo úa.

Rồi tiệc cưới diễn ra trọng thể, trong tiếng rền vang của đàn organ. Những chàng phù rể trịnh trọng, những cô phù dâu mặc váy trắng mỹ miều, cô dâu trang nghiêm trong chiếc mạng che mặt và bộ váy sa tanh, và chú rể hạnh phúc. Nàng nghiêng người để nhìn lướt mặt họ. Và…

Những người đứng gần bàn thờ Đức mẹ nghe thấy một tiếng thở dài yếu ớt, tiếng bước chân vội vã, rồi một thân hình mảnh khảnh trong bộ váy đen nhào tới giữ chặt tay vịn và gục đầu vào đó. Sophie đã ngất đi.

“Mình hẳn phải rất đói” – nàng trầm ngâm bên cạnh chiếc lồng than trong căn phòng nhỏ của mình, “Mình hẳn phải rất đói”, và nàng mỉm một nét cười vàng vọt rồi xua đi mọi ý nghĩ, tập trung chuẩn bị bữa tối với cà phê, bánh mì và thịt muối.

Nếu có ai đó muốn tỏ ra xót thương, ý nghĩ đầu tiên bật ra trên môi người ấy sẽ là: “Tội nghiệp cô gái nhỏ”. Nàng đã đến sống trong khu nhà xơ xác bẩn thỉu này được 5 năm, với chiếc váy nhiễu đen và tiếng nức nở làm lay động tất cả những linh hồn xung quanh. Nàng tuyệt đối không hé môi về cuộc sống trước đây của mình nhưng Michel - người bán tạp phẩm ở góc phố – và Ma-đam Laurent – bà coi cửa hàng may đối diện đã hé lộ về quá khứ huy hoàng và buồn bã của nàng. Tất nhiên họ không biết tất cả, Michel đã bịa vài điều để ra vẻ là người thạo tin trong những buổi trà dư tửu hậu với hàng xóm.

Một buổi sáng, Sophie mở rộng ô cửa sổ tối tăm của căn phòng để đón những làn gió thu tươi mát đang thổi qua những hàng cây lá vàng. Đó là một trong những ngày tháng mười một tĩnh lặng, mờ sương và êm dịu mà New Orleans may mắn được hưởng, trong lúc cả nước đang chịu giá rét. Sophie kéo chiếc máy khâu ra phía cửa sổ, làn gió ẩm ướt ngọt ngào ve vuốt mái tóc đen của nàng.

Tiếng máy khâu chạy xè xè, đều đặn và nhẹ nhàng trên những đai quần jeans ram ráp. Và Sophie khe khẽ ngâm nga theo tiếng máy. Hôm nay, nàng cảm thấy thật lạ lùng.

“Thật tình – Michel bổ sang bên kia đường thì thầm với Ma-đam Laurent đang ngồi khâu vá sau quầy với một chiếc tạp dề ca rô - Tiểu thư bé bỏng đó đang hát. Có lẽ cô ấy đang hồi tưởng”.

“Có lẽ” - Người đàn bà thì thầm đáp lại.

Nhưng Sophie bé nhỏ đang làm việc không ngưng nghỉ. Một sự thúc giục lạ kỳ như muốn bứt nàng ra khỏi ghế để lên phố, và chiếc máy khâu thì sao mà chậm chạp trước đống đai lưng quần jeans vô tận. Những ngón tay của nàng run rẩy vội vã đến bối rối khi buộc kiện hàng cồng kềnh vừa may xong. Đôi chân nàng dạo những bước thần tiên, hăm hở hướng tới đường Claibone, nơi nàng bắt xe lên phố. Một khát vọng thôi thúc nàng phải đến một nơi nào đó, một cảm giác phấn chấn và một niềm hạnh phúc ngốc nghếch đã mang lại sắc tươi vui lờ mờ trên gò má nàng. Nàng tự hỏi tại sao.

Không một ai để ý đến nàng trên xe. Hành khách trên bến Claibone đã quá quen với cô gái mong manh trong bộ váy đen mang theo kiện hàng quá khổ cũng màu đen, đó là một hình ảnh nhỏ nhặt tội nghiệp nhất của thành phố lớn. Nàng thò đầu ra ngoài, mắt ngắm những cây trúc đào dọc đường Nhánh Sông, sự chú ý lại hướng về mẩu đối thoại trong xe.

“Phải, thật khổ cho Neale, vừa mới cưới xong” - Người đàn ông lớn tuổi nói – “Tôi không biết cậu ta sẽ làm gì trong tình hình này.”

Neale! Nàng dỏng tai lên. Đó là tên của chú rể trong đám cưới ở Nhà thờ hôm nọ.

“Chuyện như thế nào ạ?” - Người trẻ tuổi lừ đừ hỏi lại. Anh ta là một người lạ, hiển nhiên một người mới đến thì nên quan tâm đến tình hình một chút để tạo thiện cảm.

“Ờ thì… đầu tiên là công ty phá sản, cậu ta cũng không bận tâm lắm vì có món thừa kế chắc chắn từ ông chú để trang trải, nhưng một yêu cầu xác minh thân thế đột ngột đã khiến cậu ta mấp mé vực thẳm, theo nghĩa đen ấy”.

“Thế không ai biết cậu ấy hay sao mà phải xác minh thân thế?”

“Anh bạn trẻ tốt bụng, chúng tôi biết đấy chứ, nhưng có một quy định kỳ cục trong điều khoản thừa kế bắt buộc rằng cậu ấy chỉ được công nhận khi có trong tay chiếc nhẫn La Mã cổ. Còn nếu không có nhẫn ư, không xác minh, không gia tài. Cậu đã cho đi chiếc nhẫn, và thế là xong!”

“Ồ, việc gì mà phải ầm ĩ lên. Chẳng lẽ anh chàng không lấy lại nhẫn được sao?”

“Nói thì dễ lắm, nhưng mà… hình như hồi xưa Neale đã từng đi lại với một cô gốc Âu và đã dâng tặng chiếc nhẫn cho vị hôn thê mắt huyền ấy. Mà anh biết Neale yêu đương ra làm sao không, bỏ và quên cô gái chỉ trong vòng một tháng. Cô gái thì yêu cậu chàng bằng cả trái tim, vì thế nên cậu ta xấu hổ khi phải tìm cô ta, hoặc chiếc nhẫn.”

Sophie không còn nghe thấy gì nữa, nàng nhìn đăm đăm ra những đồng cỏ bụi mù bên ngoài. Mắt nàng nhoà đi, vì kiêu hãnh nên không giọt lệ nào nhỏ xuống, nhưng bờ mi ầng ậng và bỏng rát. Nàng biết câu chuyện, với tất cả những điều thêu dệt đau lòng. Nàng cũng biết chiếc nhẫn nữa. Nàng nhớ lại cái ngày mà nàng đã vuốt ve, hôn và khóc cùng chiếc nhẫn cho đến khi tim nàng tưởng như vỡ tung bởi nỗi đau quá sức chịu đựng, rồi nàng đem nó đến hiệu cầm đồ để cha nàng có thể thanh thản nhắm mắt. Người tình gốc Âu nhỏ bé của Neale không phải lúc nào cũng nghèo, quá lứa nhỡ thì và kiệt sức như lúc này, nhưng sự bất hạnh đã tới và chiếc nhẫn đã yên vị ở hiệu cầm đồ Mont de Piete. Giờ đây chàng phải có nó, nó là của chàng, nó sẽ giúp chàng không phải chịu nhục nhã, bất hạnh và giúp cô dâu trong bộ váy sa tanh trắng của chàng không phải chịu khổ đau. Chàng phải có nó, nhưng bằng cách nào?

Chiếc nhẫn chắc vẫn còn ở hiệu cầm đồ, chả ai ưa thích cái món trang sức kỳ dị như vậy đâu, và biên lai cầm đồ thì ở đáy ngăn kéo chiếc bàn giấy trong phòng nàng. Phải, chàng phải có nó dù nàng có thể sẽ bị đói khát vì khoản tiền chuộc. Không thể tìm đến chàng và nói rằng chàng phải chuộc nó. Phải rồi, nàng thẳng lưng, cổ vươn cao kiêu hãnh, dòng máu quý tộc châu Âu đang dâng trào mạnh mẽ làm nàng nghẹt thở. Không, vòng khuyên La Mã cổ ấy phải trở về với chàng, nhanh chóng y như khi nó được lồng vào tay nàng.

Chiếc xe xóc nảy chạy chậm chạp và ý nghĩ nóng hổi làm cái đầu tội nghiệp của nàng căng ra. Chàng phải có chiếc nhẫn, nhưng làm thế nào, chiếc nhẫn, chiếc nhẫn La Mã, cô dâu mặc váy sa tanh trắng, chết đói, nàng gần như phát điên, à phải rồi, Nhà thờ.

Nhà thờ kia rồi, ngay tại khu phố đông đúc hối hả nhất, những bức bích hoạ, những chi tiết trang trí bằng đồng và sắt của nó gợi nhớ đến thời Trung cổ. Tất cả mờ đục và yên tĩnh, mùi hương trầm dịu êm bay lên và lan toả từ những ô cửa tò vò xám. Phải rồi, Đức mẹ đồng trinh sẽ thấu hiểu và rủ lòng thương. Vị nữ thánh đẹp đẽ trong chiếc áo choàng trắng trên bàn thờ kết hoa này, hoặc trong hốc tường phía xa trên mái vòm giát vàng kia sẽ là ban phước lành cho nàng. Titiche, chú bé tọc mạch con bà chủ nhà, la lên rằng kiện hàng hôm nay của Sophie lớn hơn mọi ngày. “À, cô gái tội nghiệp” - mẹ Titiche nói – “Đến Giáng sinh sẽ được một món đấy.”

(Còn tiếp)
one
23-12-05, 15:40
Kiện hàng lớn thêm lên mỗi ngày, và Sophie thì gầy rạc đi. Những cơn mưa lạnh ẩm ướt đến gần hơn với khung cửa sổ treo rèm trắng, nhưng thân hình trong bộ đồ đen ấy luôn luôn cúi gập trước máy khâu, đầu gối nâng lên hạ xuống đều đặn theo nhịp bánh quay, những chiếc quần vải bạt chất thành đống bên cạnh nàng. Nàng đến bắt xe ở bến Claibone thường xuyên hơn và hàng ngày, bức tượng Đức mẹ choàng áo trắng trong hốc tường đầy hoa trên mái vòm mạ vàng của Nhà thờ mỉm cười nhân từ với con chiên nhỏ bé.

“Thiệt tình – bà chủ nhà luộm thuộm nói với Ma-đam Laurent – tôi không hiểu cổ sống bằng gì! Không ăn uống, và đêm qua khi trời rét và sương xuống, tôi phải buộc cổ đi nhóm lửa, cổ gần như chết cóng”.
Và rồi có một tin đồn rằng Sophie nhịn đói nhịn khát vắt kiệt sức để bảo lãnh một người họ hàng ra tù trước Giáng sinh, tin đồn đã bao phủ một vầng hào quang đẹp đẽ quanh thân hình còm cõi của nàng trong mắt những người láng giềng mỗi khi nàng ra phố.

Tháng mười một đã trôi qua và tháng mười hai dần đến, những cọc xu nhỏ tích cóp vẫn còn xa mới đủ số nàng cần. Chúa kính yêu! Làm sao mà tiền của cứ đi đâu hết. Tiền thuê nhà, tiền tạp phẩm và than sưởi, nàng đã chắt chiu từng chút. Liệu tất cả những gì nàng để dành đến mức bủn xỉn kia có đem lại điều gì đó? Có thể, phải, có thể từ giờ đến Giáng sinh…

Đêm trước Giáng sinh trên phố Hoàng Gia không phải dành cho những người yếu ớt, bởi những tiếng la hét huyên náo, trò ngựa gỗ quay cuồng của những kẻ ham vui sẽ làm chết khiếp cả những người can đảm nhất. Giữa tiếng la khóc và hò hét, giữa âm thanh chói tai của còi hơi và kèn thiếc, giữa những loạt pháo hoa dữ dội, một bóng người nhỏ bé vội vàng đi dọc phố, một tay giữ chiếc mũ méo mó đã bị những kẻ rong chơi xấc xược giật rách, tay kia, giấu bên dưới chiếc áo choàng mỏng, cầm khư khư một cuốn sách nhỏ nhàu nát.

Nàng hăm hở chạy vào hiệu Mont de Piete, thở không ra hơi. Biên lai đâu? Đây, nhàu nhĩ và nát tươm. Chiếc nhẫn đâu? Nó không bị bán đi chứ? Không à, ơn Chúa! Đó là một niềm sung sướng đền đáp cho những ngày đêm quần quật của nàng, nàng nghĩ, để nó lại trở về.

Titiche không đốt pháo trên bờ tường mà lại, như thói quen tọc mạch, hé mắt nhìn vào khe nứt trên tường, đôi mắt đen to tròn của nó mở lớn khi thấy Sophie bé nhỏ đang hôn và vuốt ve một chiếc nhẫn, nói đúng hơn là một mẩu vàng xấu xí thô kệch.

“Ôi, nhẫn thân thương – nàng rì rầm – trước đây ngươi đã là của chàng và bây giờ người lại trở về với chàng. Ngươi sẽ ở trên tay chàng và có thể chạm tới trái tim chàng. Nhẫn thân yêu, trái tim nhỏ của ta, tình yêu của ta. Ta yêu ngươi, ta yêu ngươi. Phải, phải, ngươi là chàng, ngươi là của ta. Đêm nay, chỉ một đêm nay thôi, ta sẽ ở bên ngươi đến mai, rồi ngươi sẽ đến cứu giúp chàng”.

Sáng hôm sau, âm thanh ồn ào của sáo và còi khuấy động không khí dịu êm. Ai cũng biết hôm nay là Giáng sinh, mọi cánh cửa chính, cửa sổ đều rộng mở để không khí lạnh ùa vào. Giáng sinh tới trong những cỗ xe la chật hẹp, những âm thanh náo nhiệt trên đường phố, với những thứ đồ chơi Giáng sinh và mùi vị Giáng sinh bay ra từ nhà bếp làm bất cứ ai đi ngang cũng phải nheo mũi hít hà. Michel và Ma-đam Laurent mỉm cười chào hỏi nhau từ bên này sang bên kia góc phố, và lời chúc tụng của khách qua đường gợi ra một cái gì đó trong đầu bà chủ nhà đông con.

“Cô Sophie, ờ, tâm hồn tội nghiệp chẳng biết đến Giáng sinh là gì. Mais (2), tôi sẽ gọi cổ để cùng đón Giáng sinh. Cổ sẽ vui lên tí chút”

Căn phòng nhỏ nghèo nàn rất sạch sẽ và ngăn nắp. Không một hạt bụi trên chiếc bàn giấy lỗi thời, một tờ giấy đã viết cái gì đó nằm xộc xệch trên bàn. Người chủ nhà, vốn tò mò y hệt Titiche con trai bà, lật nó lại và đọc.

“ Louis, đây là chiếc nhẫn. Em trả nó cho anh. Em nghe nói rằng anh cần đến nó. Em hy vọng không quá muộn. Sophie”

“Chiếc nhẫn, đâu nhỉ?” – bà chủ nhà thì thầm. Nó ở kia, cài giữa ngón tay Sophie trên ngực áo nàng - ngực áo trắng và lạnh ngắt, gương mặt hạnh phúc lạnh ngắt. Giáng sinh diệu kỳ quả thực đã đến với Sophie.

Trần Thu Trang

(1)Abraham Lincoln - Tổng thống Mỹ, người chủ trương giải phóng nô lệ. Bối cảnh của truyện là miền Nam nước Mỹ sau cuộc nội chiến, bà chủ nhà có thể liên quan đến những nô lệ giải phóng.
(2)Nhưng, hơn nữa…
Delliah
23-12-05, 16:31
Sophie quá đáng thương. Còn One thì dịch quá hay. Trong một phút, chị đã tưởng là mình đang đọc một cuốn truyện ngắn chứ không phải là bài dịch của bé Oẳn Thăng Long.
Gaup
23-12-05, 21:51
Trang yêu dịch rất là hay giọng văn bình thản tình cảm mềm mại thế là tuyệt rồi.

Anh chỉ ra một chỗ mà em bị mắc. Lần sau nếu có gì không hiểu thì đừng đoán mà cố gắng tìm kiếm hỏi han mọi người để làm sao đưa ra được một bản dịch không có tì vết.

Câu này:


As bare and comfortless as the room was Miss Sophie's life. She rented these four walls from an unkempt little Creole woman, whose progeny seemed like the promised offspring of Abraham.

em dịch là:


Cuộc đời Sophie cũng xác xơ và trơ trọi như căn phòng. Nàng thuê bốn bức tường này của một người đàn bà người lai nhỏ thó nhếch nhác, hẳn con cái bà ta là những thế hệ kế cận đầy hứa hẹn của ngài Abraham (1).

Người đàn bà lai nên để thêm cả từ Creole và có thêm footnote để nói cho độc giả biết họ là ai. Xem thêm ở đây: http://www.cajunculture.com/Other/creole.htm

Abraham ở đây không phải là Abraham Lincoln, nếu là Lincoln thì người ta đã gọi là Lincoln. Abraham ở đây là thủy tổ của loài người theo kinh cựu ước của người do thái. Promised offspring of Abraham có nhắc đến sự trong cựu ước có lời hứa rằng một hậu duệ của Abraham sẽ là messiah tiếp theo cứu vớt dân do thái và dân thiên chúa giáo coi Jesus chính là người đó. Xem thêm ở đây.

http://64.233.161.104/search?q=cache:xk9kuK6gZ7sJ:www.biblecentre.net/comment/ot/ebc/gen/gen138.html+%22the+promised+offspring+of+Abraham%22&hl=en

Ở đây chỉ nói đơn giản là con cái bà kia có những nét hình thể giống Jesus.
one
27-12-05, 12:27
Dạ, cảm ơn anh Gấu. Em hứa kiểm điểm rút kinh nghiệm (giống các bác VFF nhỉ).

Từ hồi đầu mùa thu đến giờ em rắp tâm dịch cái The Praline Woman của Alice Dunbar, truyện ngắn tủn, đọc thì hiểu hết thế mà chuyển ra tiếng Việt không thể nào giữ được cái nhịp điệu uể oải buồn buồn miền Nam nước Mỹ. Đây các tình yêu xem thử.

http://classicreader.com/read.php/sid.6/bookid.1447/
one
09-06-06, 13:17
Bắt thăm

Shirley Jackson

Trần Thu Trang dịch


Sáng 27 tháng Sáu, trời trong và nắng ấm, hơi ấm tươi rói của một ngày hè đúng nghĩa. Hoa nở rộ và cỏ xanh mơn mởn. Khoảng 10 giờ sáng, dân làng bắt đầu tập họp ngoài quảng trường, đoạn giữa bưu điện với ngân hàng. Ở thành phố lớn thì phải hai ngày mới bắt thăm xong nên đã bắt đầu từ hôm qua. Còn ở làng này chỉ có 300 nhân khẩu, buổi bắt thăm diễn ra khoảng hai tiếng là đủ, nên mọi việc bắt đầu lúc 10 giờ để bà con kịp về ăn trưa.

Góp mặt đầu tiên tất nhiên là lũ trẻ. Nhà trường mới cho nghỉ hè, cảm giác sổ lồng vẫn chưa rõ rệt, chúng có vẻ chụm lại trong trật tự một lát rồi túa ra bày đủ trò huyên náo trong khi vẫn nói chuyện về trường lớp, thầy giáo, sách vở và roi phạt. Bobby Martin nhét đầy đá vào túi áo, mấy đứa kia cũng nhanh nhẩu làm theo, chọn những hòn đá nhẵn và tròn nhất. Hai thằng Bobby và Harry Jones cùng với thằng Dickie Delacroix – mà dân làng hay đọc thành Dellacroy – cuối cùng cũng chất được một đống đá lớn ở góc quảng trường, chúng canh để bọn khác khỏi xông vào cướp. Lũ con gái đứng một bên, nói chuyện, liếc qua vai nhau nhìn bọn con trai. Những đứa bé tí thì bò lê dưới đất hoặc bám chặt lấy tay đứa lớn.

Không lâu sau, tới đám đàn ông tụ tập, vừa trông chừng đám trẻ vừa nói chuyện về mùa màng và mưa gió, máy kéo và thuế má. Họ đứng cùng nhau, cách xa đống đá ở góc đường, nói đùa hoà nhã và cười mỉm chứ không phá lên. Các bà, trong những chiếc váy và áo len bạc màu mặc ở nhà, đến sau đám đàn ông một chút. Họ chào hỏi nhau, nói vài câu chuyện tầm phào rồi mới đến bên các đức ông chồng. Khi đã ổn định chỗ, họ gọi lũ con lại. Bọn trẻ phải đợi gọi đến dăm lần mới miễn cưỡng đi tới. Thằng Bobby Martin thì né khỏi tầm tay mẹ, cười to và chạy về phía đống đá. Phải đợi bố nó quát, nó mới lùi về đứng giữa bố mẹ và thằng anh cả.

Cũng như các cuộc khiêu vũ tập thể, những câu lạc bộ tuổi trẻ, chương trình mừng lễ Halloween, người điều khiển cuộc bắt thăm là ông Summers, người có thời gian và nhiệt huyết để cống hiến cho phong trào chung. Ông có gương mặt tròn, vui tính, theo nghiệp bán than. Mọi người xót xa cho ông vì hai vợ chồng không đã có con, bà vợ lại còn hay gắt gỏng. Khi ông tới mang theo chiếc hòm gỗ màu đen, có tiếng rì rầm trong đám đông dân làng. Rồi ông vẫy tay, bảo: “Hôm nay hơi muộn tí nhé, bà con”. Ông trưởng bưu cục Graves theo sau, bưng một chiếc ghế đẩu ba chân đặt giữa quảng trường, ông Summers để chiếc hòm đen trên ghế. Và khi ông Summer nói “Có ai giúp tôi một tay không”, đã có một thoáng ngập ngừng trước khi hai quý ông, ông Martin và cậu con cả, Baxter tiến lên phía trước giữ chiếc hòm vào ghế thật chặt trong khi ông Summers xóc những lá thăm giấy bên trong.

Cái hòm chuyên dùng cho cuộc bắt thăm đã thất lạc từ lâu, chiếc hòm đen đang đặt trên ghế kia đã được dùng từ trước khi lão Warner, người cao tuổi nhất thị trấn, ra đời. Ông Summers có nhắc nhiều về chuyện thay chiếc hòm mới với dân làng nhưng không ai thích thay đổi những thứ đã thành truyền thống như chiếc hòm đen. Chuyện kể rằng chiếc hòm hiện tại được làm từ những mảnh gỗ của chiếc hòm trước đây những người đầu tiên an cư ở làng đã đóng. Hàng năm, sau cuộc bắt thăm, ông Summers lại bắt đầu nói về chiếc hòm mới, những vấn đề thường niên cứ thế phai nhạt mà chẳng cần làm gì cả. Mỗi năm cái hòm đen cứ thế cũ thêm, đến giờ đã không còn đen nhưng nhức mà một mé đã bị tướt dọc đến mức hở ra màu gỗ nguyên thuỷ, vài chỗ bạc phếch hoặc cáu bẩn.

Ông Martin và anh Baxter giữ yên chiếc hòm trên ghế cho tới khi ông Summers trộn xong đống thăm giấy. Vì có quá nhiều nghi lễ bị lãng quên hay loại bỏ nên ông Summers đã thoải mái dùng những lá thăm giấy thay vì những mảnh gỗ như người xưa. Ông lý luận rằng những mảnh gỗ chỉ tiện dụng khi làng còn thưa người, bây giờ làng có tới hơn 300 dân và sẽ còn tăng lên nữa nên phải tìm cái gì có thể chứa vừa hết trong hòm. Đêm hôm trước ngày bắt thăm, ông Summers và ông Graves làm thăm giấy bỏ vào hòm rồi đem tới chỗ an toàn là công ty than của ông, khóa lại cho tới sáng hôm sau mới đem ra đây. Thời gian còn lại trong năm, chiếc hòm bị bỏ quên, khi ở chỗ này, lúc ở chỗ khác. Một lần nó nằm trong kho nhà ông Graves suốt năm, lần khác lại nằm trong xó bưu điện, có lần được đặt trên một cái kệ trong hiệu thực phẩm của ông Martin.

Có mấy việc hệ trọng phải được giải quyết xong trước khi ông Summers tuyên bố bắt đầu buổi bắt thăm. Việc lên danh sách các chủ hộ, các trưởng tộc, số khẩu trong mỗi hộ… Rồi việc ông Graves trưởng bưu cục, với tư cách là người chủ trì của cuộc bắt thăm, nhận lời tuyên thệ của ông Summers. Có một thời, người chủ trì phải nghiêm trang tuyên những câu nhám chán, hời hợt. Vài người còn nhớ và thuật lại. Có người nói rằng khi tuyên thệ, người chủ trì phải đứng yên. Có người lại bảo phải vừa nói vừa đi lòng vòng giữa đám đông mới đúng. Nhưng rồi năm tháng qua đi, những nghi thức long trọng này đều được lược bỏ. Trước đây có một nghi thức cũng không kém phần long trọng là vị chủ trì sẽ nói vài điều chào mừng khi mỗi người được gọi tên lên bắt thăm, nhưng điều này cũng đã thay đổi theo thời gian rồi. Đến bây giờ thì vị chủ trì chỉ cần gọi người lên bắt thăm là xong. Ông Summers thì rất tỏ tường mấy chuyện đó. Mặc cái áo trắng sạch sẽ, quần jeans xanh, một bàn tay đặt lơ đãng trên chiếc hòm, trông ông có vẻ rất đuỳnh huỳnh và trịnh trọng khi nói chuyện cà kê dê ngỗng với ông Graves và cha con ông Martin.

Vừa lúc ông Summers thôi nói quay lại phía đám đông dân chúng thì bà Hutchinson vội vã chạy dọc đường mòn dẫn ra quảng trường, áo ngoài vắt trên vai, bà len vào phía sau đám đông. "Quên béng mất ngày này!" bà nói với con mẹ Delacroix đứng bên cạnh, cả hai cùng cười khẽ. "Tưởng ông nhà tôi đang xếp củi mé sau,” bà nói tiếp, “đến lúc nhìn ra ngoài cửa sổ thấy mấy đứa bé đi hết mới nhớ ra hôm nay là 27, lúc đó mới chạy cuống." Bà lau tay vào tạp dề, bà Delacroix lên tiếng: "Bà ra thế vẫn kịp, họ còn nói chuyện câu giờ kia kìa."

Bà Hutchinson nghển cổ lên ngó qua đám đông thấy ông chồng và đám con đứng đằng trước, bà vỗ nhẹ cánh tay bà Delacroix như nói lời từ giã rồi chen lên phía trước. Mọi người vui vẻ tránh đường để bà đi lên. Hai ba người nào đó nói, to giọng để cả đám đông cùng nghe: "Đây bà Hutchinson tới!" hoặc "Bill, cuối cùng bà ý cũng ra kìa." Bà Hutchinson tiến về phía chồng. Ông Summers vẫn chờ nãy giờ mới hồ hởi lên tiếng: "Tessie, chúng tôi tưởng phải bắt đầu mà không có chị chứ." Bà Hutchinson cười toe, nói: "Ông định bắt tôi ngâm hết bát đĩa trong chậu hay sao, Joe?" Có tiếng cười khẽ trong đám đông khi người ta dịch ra phía sau nhường chỗ cho bà Hutchinson.

“Thôi nào.” - ông Summers nói điềm đạm - "tôi nghĩ ta bắt đầu được rồi, để còn về làm việc khác. Có ai vắng mặt không?”

“Dunbar”, nhiều người nói, "Dunbar, Dunbar vắng!"

Ông Summers tra danh sách: "Clyde Dunbar, đúng rồi. Anh ấy bị gãy cẳng phải không? Ai bắt thăm thay anh ấy đây?"

"Tôi, chắc là tôi," một người đàn bà trả lời. Ông Summers quay lại nhìn chị, "Vợ bắt thay cho chồng. Mà cô không có con trai lớn rút thay cho anh ấy à?" Dầu ông ta và tất cả mọi người trong làng đều biết tỏng câu trả lời nhưng cứ phải hỏi cho đúng lệ bộ. Ông ta đợi câu trả lời với dáng điệu chăm chú lịch thiệp.

"Thằng Horace tính chặt ra chưa tròn mười sáu tuổi," chị Dunbar tiếc rẻ. "Chắc năm nay tôi phải thay thế ông ấy."

"Rồi!" ông Summers đánh dấu trên danh sách và hỏi tiếp: "Cậu Watson năm nay bắt thăm phải không?"

Một cậu trai cao nhỏng trong đám đông giơ tay: "Đây. Tôi rút cho mẹ và tôi." Cậu ta chớp mắt bối rối và rụt đầu khi có tiếng xì xào trong đám đông: “Được lắm, Jack." hay "Mừng cho bà già mày có thằng con lớn để làm chuyện đó."

"Ờ,” ông Summer lại lên tiếng, “chắc là đủ cả rồi. Cụ Warner có bắt không?"

"Đây", có tiếng trả lời. Ông Summers gật đầu.

Im lặng đột nhiên bao trùm đám đông khi ông Summers hắng giọng xem danh sách."Mọi người sẵn sàng chưa? Bây giờ tôi đọc tên, tên chủ hộ đầu tiên, người nào nghe tên thì bước lên bắt một tờ giấy trong hòm. Cứ cầm nguyên trong tay, không được mở ra, chờ tới khi mọi người rút xong hết mới được mở. Rõ cả chưa?"

Mọi người đã tham dự nhiều lần đến độ chểnh mảng khi nghe chỉ dẫn, hầu hết im lặng, liếm liếm môi, không nhìn sang xung quanh. Ông Summers giơ một tay lên cao, gọi: “Adam." Một người tách khỏi đám đông và tiến lên. "Chào anh Steve." Ông Summers nói và Adam chào lại: "Chào ông Joe." Họ nhe răng ra, vui vẻ và bồn chồn. Adam với tay vào chiếc hòm đen rút ra một tờ giấy gấp. Anh nắm chặt một góc giấy hấp tấp quay về chỗ cũ, đứng hơi cách xa với gia đình mình, không nhìn xuống tay.

"Allen," ông Summers gọi tiếp " Anderson… Bentham."

"Tôi thấy những lần bắt thăm cứ liên tục nối nhau," bà Delacroix nói với bà Graves đứng phía sau. "Cứ như mới bắt tuần trước ấy."

"Thời gian trôi nhanh quá." Bà Graves phụ họa.

"Clark… Delacroix."

"Đến lượt ông nhà tôi," bà Delacroix nói, bà ta nín thở khi chồng mình đi lên.

"Dunbar."

Chị Dunbar kiên nghị bước về phía chiếc hòm. Một bà nào đó bảo "Cố lên, Janey!". Một người khác nói: "Chị ta cố rồi kìa."

"Sắp đến nhà tôi rồi," bà Graves nói nhỏ. Bà dõi theo ông chồng khi ông Graves đi quanh cái hòm, nghiêm trang chào ông Summers rồi mới chọn một miếng giấy trong hòm. Bây giờ thì khắp trong đám đông đàn ông bồn chồn mân mê mảnh giấy gấp trong bàn tay to lớn của mình. Chị Dunbar và hai đứa con đứng cạnh nhau, chị cầm lá thăm.

"Harburt.... Hutchinson."

"Lên kìa, ông Bill" - bà Hutchinson giục chồng. Mấy người gần bà bật cười.

"Jones."

“Họ nói rồi,” anh Adam thì thầm với lão Warner đứng bên, “ở miền bắc người ta kêu gọi bỏ bắt thăm.”
one
09-06-06, 13:18
Ông già Warner khịt mũi: "Một lũ điên dại. Nghe lời mấy thằng ranh thì cái gì chả xấu xa. Anh có biết tiếp đó là gì không, bọn nó sẽ đòi quay lại sống trong hang hốc, không ai làm gì, sống chui rúc qua ngày. Anh có nghe câu này không, “tháng Sáu bắt thăm, vụ ngô no khẳm.” Thời bọn ta đã từng phải ăn củ mài củ nâu… Phải có bắt thăm mới khá được," ông ta nói thêm, giọng mát mẻ, "Phát mệt vì phải nghe cái thằng Summers đứng trên kia cợt nhả dân tình."

"Có chỗ đã bỏ bắt thăm rồi đó," chị Adam nói.

"Mất mùa rồi mới sáng mắt ra," ông già Warner quả quyết, "Mấy thằng ranh con ngu si!"

"Martin." - Bobby Martin nhìn theo ba nó khi ông ta bước lên trước.

"Overdyke... Percy."

"Mẹ chỉ mong họ nhanh lên," chị Dunbar nói với cậu con lớn. “Mong họ nhanh lên.”

"Sắp xong rồi." – Cậu con trai trả lời.

"Mày chuẩn bị chạy về báo bố mày nhé" - chị dặn con.

Ông Summers tự xướng tên mình rồi trịnh trọng tiến tới chọn một lá thăm. Rồi ông gọi: "Warner."

"Tôi dự bắt thăm đã bảy mươi bảy năm," lão Warner vừa nói vừa bước trong đám đông, "bảy mươi bảy lần."

"Watson."

Cậu trai cao nhỏng rụt rè tiến lên. Có tiếng đâu đây, "Bình tĩnh, Jack." Ông Summers nói: "Từ từ thôi, con trai."

"Zanini."

Sau đó là một khoảng lặng thật lâu, khoảng lặng ngạt thở cho tới khi ông Summers giơ lá thăm mình lên trời nói: “Xong rồi, bà con”. Trong một phút không ai động cựa, và rồi tất cả những lá thăm đều được mở. Bỗng chốc tất cả đám đàn bà đồng thanh hỏi: "Ai vậy? Ai bị vậy? Có phải nhà Dunbar không?". Rồi, tiếng trả lời vang lên, "Nhà Hutchinson. Bill bị rồi. Bill Hutchinson bắt được nó."

"Chạy về báo cho bố mày đi," chị Dunbar bảo cậu con lớn.

Mọi người bắt đầu nhìn quanh để tìm những người trong gia đình Hutchinson. Bill Hutchinson đang đứng im thin thít ngó xuống lá thăm trong tay mình. Chợt bà Tessie Hutchinson la lớn với ông Summers, "ông không để cho ông ấy kịp chọn cái thăm ưng ý. Tôi thấy mà. Không công bằng."

"Đừng nóng, Tessie," bà Delacroix kêu lên.

Bà Graves thì nói: "Tất cả chúng ta đều may rủi như nhau."

"Im đi, Tessie," Bill Hutchinson quát.

Ông Summers lên tiếng, "Thưa bà con, việc tiến hành cũng nhanh rồi, giờ ta phải làm nhanh thêm để xong kịp giờ." Ông ta tra thêm một danh sách, nói: "Bill, anh bắt thăm cho nhà Hutchinson. Trong nhà Hutchinson còn ai nữa không?"

"Còn con Don và con Eva”, bà Hutchinson gào lên, “để chúng nó bắt luôn."

"Nữ nhân ngoại tộc, chị Tessie," ông Summers trả lời nhẹ nhàng, “Chị cũng như mọi người biết rồi còn gì."

"Không công bằng," Tessie lẩm bẩm.

"Tôi nghĩ là không còn ai nữa.” - Bill Hutchinson buồn rầu bảo, “Con gái thì đã bắt thăm với gia đình bên chồng. Vậy cũng công bằng. Không còn ai nữa ngoài mấy đứa bé."

"Vậy chính anh bắt thăm cho hộ nhà mình và cũng chính anh bắt thăm cho từng khẩu, phải không?" ông Summer giải thích.

"Phải," Bill Hutchinson trả lời.

"Nhà anh có mấy người, Bill?" ông Summer hỏi cho có lệ.

"Ba, thằng Bill Con., con Nancy với bé Dave. Với Tessie và tôi."

"Được rồi," ông Summers nói, "Harry, anh thu thăm về chưa?"

Ông Graves gật đầu, giơ những lá thăm lên. Ông Summers ra lệnh: "Bỏ vào hòm đi, thăm của Bill cũng bỏ vào luôn."

"Tôi nghĩ là ta phải làm lại," Bà Hutchinson nói từ tốn hết mức."Tôi đã nói rồi mà, không công bằng. Ông không để cho ông nhà tôi kịp chọn thăm. Ai cũng thấy thế."

Ông Graves đã chọn được năm lá thăm bỏ vào hòm, ông vứt nắm thăm còn lại xuống đất, gió thổi bay tung.

"Nghe đây, tất cả nghe đây," bà Hutchinson nói với người xung quanh.

"Sẵn sàng chưa Bill?" ông Summers hỏi, Bill Hutchinson thoáng liếc vợ con rồi gật đầu.

"Nhớ, bắt lấy lá thăm, giữ nguyên không được mở, chờ tới khi mọi người ai cũng bắt hết. Harry, nhờ ông giúp bé Dave."

Ông Graves cầm tay thằng nhỏ, nó vui vẻ đi theo tới chỗ cái hòm.

“Lấy một lá thăm trong hòm đi Davy," ông Summers bảo thằng bé. Davy thò vào hòm cười. "Lấy một lá thôi. Harry, giữ thăm cho nó."

Ông Graves nắm lấy tay thằng bé, gỡ lá thăm còn gấp khỏi bàn tay nắm chặt của nó, ông cầm đó, thằng bé Dave ngước lên ngạc nhiên.

"Tiếp theo là Nancy." Nancy mới mười hai tuổi, các bạn học của cô bé thở nặng nề khi cô đi lên, hất đuôi váy, tiến về phía cái hòm, duyên dáng rút một lá thăm.

"Bill Con" Billy, mặt đỏ bừng và chân ngoại cỡ, nó gần như lật đổ hòm khi lấy lá thăm.

"Tessie." Bà Hutchinson do dự một phút, nhìn quanh vẻ bướng bỉnh, rồi mím môi tiến về phía cái hòm. Bà giật lấy một lá thăm giấu ra sau lưng.

"Bill." Bill Hutchinson bước lên, đưa tay vào hòm lần mò, rút ra một lá.

Đám đông im lặng. Một cô gái nhỏ thì thào, "Mong sao không phải Nancy." Tiếng thì thầm của cô bé vang tới tận rìa đám đông.

"Không phải là cách làm hồi xưa," lão Warner quả quyết "Dân tình bây giờ không giống hồi xưa."

"Xong rồi. Hãy mở thăm ra. Harry, ông hãy mở giúp thằng bé."

Ông Harry mở lá thăm, đám đông thở ra nhẹ nhõm khi ông giơ cao lá thăm lên cho mọi người thấy nó trắng trơn. Nancy và Bill Con mở thăm mình cùng một lúc, cả hai mừng rỡ cười vang, chúng quay một vòng về phía đám đông giơ lá thăm lên cho mọi người thấy.

"Tessie."

Lại một khoảng lặng. Rồi ông Summers nhìn Bill Hutchinson, Bill mở lá thăm của mình ra giơ lên. Lá thăm trống.

"Vậy là Tessie rồi," ông Summers nói, giọng ngậm ngùi: "Đưa chúng tôi lá thăm của chị ấy xem nào, Bill."

Bill Hutchinson tới chỗ vợ, giật tờ giấy khỏi tay bà. Có một dấu đen trên đó, đêm hôm trước ông Summers đã tô nó bằng bút chì đậm, trong trụ sở hãng than của ông.

Bill Hutchinson giơ lên cao, đám đông xôn xao.

"Xong rồi, bà con," ông Summers nói. "Ta dứt điểm sớm thôi."

Mặc dù dân chúng đã quên nghi thức và đã làm mất cái hòm nguyên gốc, họ vẫn còn nhớ cách ném đá. Đống đá mà lũ trẻ chất lên ở góc quảng trường lúc đầu đã sẵn sàng; cạnh đó là mấy lá thăm bỏ đi bị gió thổi bay lả tả. Bà Delacroix nhặt một hòn đá lớn, bê bằng hai tay, quay về phía chị Dunbar, nói: “Nào làm đi, phiên phiến lên."

Chị Dunbar hai tay đã có sẵn đá nhỏ, thở hổn hển: "Tôi không làm được, bà làm trước đi, tôi làm theo."

Đám trẻ con thì đã sẵn sàng. Có ai đó đã đưa cho thằng bé Davy mấy viên sỏi.

Tessie Hutchinson đứng giữa vòng người. Bà huơ bừa tay ra khi dân làng tiến tới.

"Không công bằng," bà kêu lên. Một hòn đá trúng vào một bên đầu bà. Lão Warner reo hò, "Ném đi, ném đi chứ, bà con." Steve Adam dẫn đầu đám dân làng với bà Graves cạnh bên.

"Không công bằng, không đúng," bà Hutchinson hét lên.

Và rồi chúng đập bà.
Hồ Minh Trí
09-06-06, 13:24
Sao em One không save cái bài này thành dạng ảnh rồi triện cái triện TCS đỏ loẹt vào giữa rồi hẵng bốt lên đây có phải là đỡ lo chúng nó thuổng mất không?
one
09-06-06, 17:29
Truyện này em gửi cho báo xong rồi mới cho lên mạng. Với lại cái truyện có 3000 chữ, nó đã muốn thuổng thì em có làm ảnh triện, nó cũng gõ lại được chứ sao.
Gaup
09-06-06, 18:33
Anh rất là thích thỉnh thỏang em One đi road trip giao lưu với độc giả nhân tiện bán hàng. Em one và Thợ đời giống nhau ở chỗ là giữ quan hệ tốt với mọi diễn đàn có mục đích rõ ràng không giấu diếm kiểu thuyết khách viên chuyên nghiệp thời xưa. Anh khen.
mưa ngâu
09-06-06, 19:01
Nguyên văn bởi Gaup:
Anh rất là thích thỉnh thỏang em One đi road trip giao lưu với độc giả nhân tiện bán hàng. Em one và Thợ đời giống nhau ở chỗ là giữ quan hệ tốt với mọi diễn đàn có mục đích rõ ràng không giấu diếm kiểu thuyết khách viên chuyên nghiệp thời xưa. Anh khen.
Tớ cực phản cảm hai nhân vật này nhất Thăng Long dù không chối cải họ có khả năng, muốn gì là làm cho bằng được và làm hết mình. Họ tự tin đến độ trơ trẽn. Tính toán (calculated) đến độ lạnh lùng. Ngoài đời gặp loại "khôn ngoan" kiểu này là tớ né liền lập tức.
TrueLie
09-06-06, 19:08
Sao lại nói thế? Bạn one là người tốt, không như bác nghĩ đâu.
one
09-06-06, 19:19
Ây dà, bạn hiền True của tớ cứ bình tĩnh. Bạn Ngâu bạn ý nói thế cũng có cái đúng đấy. Tất nhiên, cũng có cái sai, bạn hiền công nhận không. Ai lại bảo One tự tin bao giờ!

Tình yêu Gấu ví von không chuẩn bằng em. Em thấy em với hai cái TL (cái thứ 3 mới quá không tính) cứ như những người tình hờ, bỏ hẳn thì không được, ghét nó đấy nhưng vẫn thích nó đấy, đôi khi lại vẫn cần nó. Mà với các trường hợp như thế, tốt nhất là giữ nó ở khoảng cách vừa phải với mình, thỉnh thoảng vui thì gặp, tiện thì gặp, cho nhau vài khoảnh khắc thắm nồng hoặc giúp nhau việc gì đó. Rồi ai đi đường nấy. Mình nhìn thấy nó nhiều cũng chán, mà nó nhìn thấy mình nhiều cũng chán. Cứ thi thoảng dan díu lại hay hơn.
Gaup
09-06-06, 20:01
Thì là anh nói chuyện đấy. Quan hệ theo kiểu được việc cho mình thôi. Ngày xưa anh cũng giữ mấy gái như thế lúc nào nhỡ tầu thì có chỗ tạm trú.


Chị Dunbar hai tay đã có sẵn đá nhỏ, thở hổn hển: "Tôi không làm được, bà làm trước đi, tôi làm theo."

Đám trẻ con thì đã sẵn sàng. Có ai đó đã đưa cho thằng bé Davy mấy viên sỏi.

Tessie Hutchinson đứng giữa vòng người. Bà huơ bừa tay ra khi dân làng tiến tới.

"Không công bằng," bà kêu lên. Một hòn đá trúng vào một bên đầu bà. Lão Warner reo hò, "Ném đi, ném đi chứ, bà con." Steve Adam dẫn đầu đám dân làng với bà Graves cạnh bên.

"Không công bằng, không đúng," bà Hutchinson hét lên.

Và rồi chúng đập bà.
lão ma
09-06-06, 20:29
Ku Gaup tham lam nhể, cẩn thận có ngày đói giã họng ra vì gái nó ghen nó cho ku tèo đấy em giai ạ. Theo anh thì cứ chén dứt điểm xong rồi chén tiếp cho đỡ lằng nhằng.

Giai mà cứ lằng nhằng thế gái lắm Gaup ạ. :24:
Gaup
09-06-06, 23:05
Ku Gaup tham lam nhể, cẩn thận có ngày đói giã họng ra vì gái nó ghen nó cho ku tèo đấy em giai ạ. Theo anh thì cứ chén dứt điểm xong rồi chén tiếp cho đỡ lằng nhằng.

Giai mà cứ lằng nhằng thế gái lắm Gaup ạ. :24:

Lằng nhằng thế nào hả bác Lão ma em? Lằng nhằng vì có mấy loại kế họach B, C, D, hay lằng nhằng vặn vẹo em one vì em tầu lượn?

Em nghĩ có lẽ mình nên thử làm một việc này vui này. Sất ý mà, ở đây với chúng ta cũng đã được lâu rồi, cũng bắt đầu là có gắn bó. Văn vẻ của Sất với one là hai loại khác nhau, không thể so sánh, và em nghĩ là đều có khả năng thành công trên văn trường cao tương đối giống nhau theo những cách khác nhau. Chỉ tiếc là Sất không có được cái sự PR khéo léo của one - gái thị thành quen va chạm có điều kiện tiếp xúc với văn minh từ sớm nó cũng có nhiều lợi thế. Không thể phủ nhận là Sất viết văn, dù anh em mình đọc chả ai hiểu gì, xuất phát từ sự thúc bách nội tại cần phải sáng tác. Cái này là cái điều kiện cần để thành một nhà văn tử tế, nhưng điều kiện đủ thì Sất còn thiếu sót nhiều. Một trong những điều kiện đấy là có người đỡ đầu cho tử tế. Người đỡ đầu đấy tư vấn cho Sất về cung cách sáng tác, định hướng sáng tác, và giúp đẩy Sất lên đến chỗ Sất tự đứng vững được. Em nghĩ học những thứ này nhanh lắm nên nếu có ai chịu đứng ra hỗ trợ Sất thì Sất thành công có khi còn hơn cả mấy loại văn thơ sĩ ầm ào lâu nay mình nghe.

Các bác nào quan tâm thì chui vào đây, chúng ta bàn luận sự kiện Sất, rồi thử xem chúng ta có cách nào biến Sất thành một dạng Cinderella thời mới không. Làm một mình thì em hơi ngại nhưng mà em tính em chả thiếu gì cách biến Sất thành một nữ văn sỹ có tiếng tăm ở Việt Nam và hoải ngoại trong thời gian 1-2 năm. Hay là chúng ta làm thử tí nhỉ. Chúng ta giúp Sất lúc đầu định hướng này kia mở cửa cho Sất các nơi giúp chỉ ra những chỗ nào còn khiếm khuyết, những việc gì cần làm để cải thiện, nếu mà cần thì giúp Sất ít tiền in sách khi nào sách Sất viết theo kiểu chúng ta góp ý hòan thành. Tiền bán sách Sất trả lại cho chúng ta phần chúng ta cho Sất, thừa chỗ nào thì là của Sất hết mình chả xơ múi gì. Mục đích chỉ là để làm queen maker một thời gian xem sao.

Hấp, Đào, Phương Thảo, Giáng thu, Fox, vv vào đây xem thử trò này có đáng chơi không nhớ.
Mây
10-06-06, 16:30
Em nghĩ anh Gaup sẽ nhận được một bài trả lời thế này của Sất ở đây sau ít phút nữa:

Tổ sư bố nhà chú chị mà thèm vào cái loại định hướng bệnh hoạn rồ dại. Các chú không thấy chị thiên tài đang định hướng cả một đám tâm thần hoang tưởng là các chú à?
Hồ Minh Trí
10-06-06, 20:35
Lằng nhằng thế nào hả bác Lão ma em? Lằng nhằng vì có mấy loại kế họach B, C, D, hay lằng nhằng vặn vẹo em one vì em tầu lượn?

Em nghĩ có lẽ mình nên thử làm một việc này vui này. Sất ý mà, ở đây với chúng ta cũng đã được lâu rồi, cũng bắt đầu là có gắn bó. Văn vẻ của Sất với one là hai loại khác nhau, không thể so sánh, và em nghĩ là đều có khả năng thành công trên văn trường cao tương đối giống nhau theo những cách khác nhau. Chỉ tiếc là Sất không có được cái sự PR khéo léo của one - gái thị thành quen va chạm có điều kiện tiếp xúc với văn minh từ sớm nó cũng có nhiều lợi thế. Không thể phủ nhận là Sất viết văn, dù anh em mình đọc chả ai hiểu gì, xuất phát từ sự thúc bách nội tại cần phải sáng tác. Cái này là cái điều kiện cần để thành một nhà văn tử tế, nhưng điều kiện đủ thì Sất còn thiếu sót nhiều. Một trong những điều kiện đấy là có người đỡ đầu cho tử tế. Người đỡ đầu đấy tư vấn cho Sất về cung cách sáng tác, định hướng sáng tác, và giúp đẩy Sất lên đến chỗ Sất tự đứng vững được. Em nghĩ học những thứ này nhanh lắm nên nếu có ai chịu đứng ra hỗ trợ Sất thì Sất thành công có khi còn hơn cả mấy loại văn thơ sĩ ầm ào lâu nay mình nghe.

Các bác nào quan tâm thì chui vào đây, chúng ta bàn luận sự kiện Sất, rồi thử xem chúng ta có cách nào biến Sất thành một dạng Cinderella thời mới không. Làm một mình thì em hơi ngại nhưng mà em tính em chả thiếu gì cách biến Sất thành một nữ văn sỹ có tiếng tăm ở Việt Nam và hoải ngoại trong thời gian 1-2 năm. Hay là chúng ta làm thử tí nhỉ. Chúng ta giúp Sất lúc đầu định hướng này kia mở cửa cho Sất các nơi giúp chỉ ra những chỗ nào còn khiếm khuyết, những việc gì cần làm để cải thiện, nếu mà cần thì giúp Sất ít tiền in sách khi nào sách Sất viết theo kiểu chúng ta góp ý hòan thành. Tiền bán sách Sất trả lại cho chúng ta phần chúng ta cho Sất, thừa chỗ nào thì là của Sất hết mình chả xơ múi gì. Mục đích chỉ là để làm queen maker một thời gian xem sao.

Hấp, Đào, Phương Thảo, Giáng thu, Fox, vv vào đây xem thử trò này có đáng chơi không nhớ.

Em rất đồng ý mới ý kiến của bác Gaup về việc lăng xê bạn Sất. Đấy quả thực là diệu kế, diệu kế! One ở Hạ Long đã có Saint lăng xê, nay Sất ở Thăng Long có Gaup lăng xê, em cũng sẽ lobby thêm với Thợ Đời bên Tân Long để lăng xê cho Lạng. Khi đó, cuộc chiến tranh lạnh giữa 3 phe Hạ Long - Thăng Long - Tân Long sẽ trở thành một cuộc chiến ủy thác giữa One - Sất - Lạng. Hứa hẹn nhiều trận đấu nóng bỏng, đầy kịch tính.

Để tăng thêm hấp dẫn với trận đấu tay 3 này. Chúng ta phải có phương pháp hỗ trợ về nhân lực, vật lực đầy đủ. Biến mâu thuẫn nội tại sẵn có giữa 3 cá nhân trên thành mâu thuẫn lớn về tư tưởng; kích động, đẩy cao xung đột thành một cuộc chiến toàn diện đại diện cho 3 tư tưởng lớn của Hạ - Thăng - và Tân Long.

Em tin chắc rằng, nếu cuộc chiến này bùng nổ, sẽ tạo đà cho sự phát triển của tất cả 3 tư tưởng trên.

Cuộc chiến ủy thác thật sự chỉ là chiến lược thay màu da trên xác chết. Biến cuộc chiến tranh 3 bên không chính thức thành cuộc chiến chính thức giữa những con rối yêu quý của chúng ta.

Việc chúng ta phải làm duy nhất ngoài việc ủng hộ về vật chất cũng như kích động tư tưởng, chỉ là GIẬT DÂY!
one
10-06-06, 20:41
Có khi em cũng phải về Trại cá sấu nọc ra một con chim mồi để tham gia vào vụ này. Thế chân vạc biến thành thế chân bàn. Nói chung là vui cả. Đùa thế chứ các tình yêu sang chỗ khác bàn chuyện giật dây đê, em post truyện tí. Truyện này thì trăm phần trăm là em viết, không dịch của bố con thằng nào sất!

Bốn mùa 1881


Chuyến bay bị hoãn vì sương mù, bên hàng không bố trí cho nàng về một khách sạn cách nhà anh chỉ hai dãy phố. Nhưng nàng không gọi cho anh, nàng sợ phải nhìn lại một lần nữa ánh mắt bình lặng không trách móc của anh. Nàng cũng không báo cho T. bên kia, chỉ mệt mỏi lên nhận phòng. Để nguyên bộ quần áo dày cộp chuẩn bị cho những đợt mưa tuyết xứ người, nàng ngả xuống giường, những hình ảnh vuông tròn lẫn lộn trượt trong đầu. Nằm trằn trọc mãi không thể ngủ nổi, nàng mở vali tìm vỉ thuốc, thời gian gần đây nàng tìm nó thường xuyên. Đập vào mắt nàng, phía trên đống tư trang đã xếp gọn gàng là một vật rất quen thuộc.
Cái túi giấy màu trắng đục có hàng chữ mạ vàng. Đến bây giờ nàng cũng không nhớ đã tặng ông chủ nhà hàng món gì mà ông ta tặng lại nàng túi quà ngoại cỡ đó. Chỉ nhớ là cái túi quá đẹp và nàng đã bắt anh bỏ hết đống đồ trong ngăn kéo ra để lót nó xuống đáy cùng cho đỡ nhàu. Giờ nó không còn đẹp kỳ diệu như lúc ban đầu nàng mang về, nhưng cái màu trắng ngà của giấy và màu vàng nhũ của chiếc logo đó hợp với chiếc khăn len xanh sẫm thoảng mùi nước hoa của anh vô cùng. Không một bức thư. Không một mẩu giấy nhắn. Món quà chia tay trống trải nhưng vương vấn đến nao lòng…
*
Mùa thu năm ngoái, trời đầy gió và mặt đất đầy xác lá, nàng đang ngồi thu mình trong căn phòng nhỏ lắng nghe “nỗi im lặng phố khuya” như trong nhạc Phú Quang thì anh đến chìa ra hai tấm vé hoà nhạc. Trong tờ chương trình có ghi: Bản Bốn mùa - Concerto cho Violon của Vivaldi.
- Sao anh biết em thích Vivaldi?
- Anh không biết, bạn anh mới đưa vé chiều nay.
- Bạn anh là ai?
- Em không biết đâu.
Nàng thôi không hỏi thêm, cũng không trang điểm thêm, chỉ khoác một chiếc khăn lụa màu nhạt qua vai rồi lặng lẽ đi theo anh. Nhà hát Lớn đầy những người nước ngoài cao lớn, thanh lịch và lạ lẫm. Anh cầm khuỷu tay nàng, miết nhẹ nhẹ như trấn an. Đã lâu rồi kể từ khi T. đi, nàng mới lại đến những nơi hào nhoáng thế này. Hai người ngồi trong một lô tầng hai, nơi nghe tốt nhất và xem rõ nhất. Vị nhạc trưởng người Pháp duyên dáng đưa tay mời vị thần âm nhạc từ đâu đó trên mái vòm đậu xuống cây đũa mảnh. Những nốt thăng nốt trầm lan toả. Nàng nghiêng đầu, khép mắt. Hương thơm của một loại nước hoa lẩn quất giữa hai chiếc ghế của nàng và anh. Nàng không còn lắng nghe nữa mà đang cảm nhận. Tiếng violon réo rắt và mùi man mát trầm lặng của nước hoa đưa nàng tới xứ Lombardi miền Bắc Ý, tới với những cánh đồng hoa oải hương tím ngan ngát trải dài tới chân trời, những vườn cam vườn chanh trĩu quả bên bờ Địa Trung Hải... Giờ nghỉ giải lao, anh ra ngoài rồi trở vào, hương thơm theo những dao động không khí vỗ vào tâm trí nàng như đợt sóng.
- Anh dùng nước hoa?
- Anh vẫn dùng, từ lâu rồi mà.
- Vậy à? Em không biết.
Anh im lặng vài giây rồi nói ra một cái tên, Cerruti 1881. Nàng gật đầu lơ đãng nghiêng mặt hướng về phía anh hơn một chút, không nhận ra rằng từ nay cái ám ảnh kết bằng khói thuốc lá của T. sẽ không còn theo mình thường xuyên nữa.
*
Mùa đông đến, nàng ghi tên học thêm một “cua” tiếng Ý ngoài giờ. Trường ở ngoại ô, trên một con đường mà ánh đèn lấp sau tán cây. Anh đến đón nàng, chạy xe song song trên quãng đường tối nhất, lắng nghe những câu chuyện không đầu không cuối hay những từ nàng mới học và mỉm cười. Thi thoảng anh kéo nàng đi ăn món Ý ở một nhà hàng quen, ông chủ người Parma hay quàng một chiếc khăn màu ô-liu, luôn nói “Ciao, bella” mỗi khi nàng bước vào. Một lần, bên chiếc bàn trải khăn ca-rô, trong khi chờ món Pizza với xúc xích Parma, nàng cười vô tư lự, thì thào với anh:
- Nếu Nino vẫn quàng chiếc khăn kia và có thêm mùi Cerruti 1881, em sẽ yêu ngay.
Anh không cười, chỉ nhìn sâu vào mắt nàng như tìm kiếm một ẩn ý nào đó. Mấy ngày sau, nàng thấy anh cũng có một chiếc khăn len màu ô-liu.
*
Mùa xuân tới, nàng dọn về căn gác đầy ánh sáng. Ở đó, chai nước hoa Cerruti 1881 pour homme trong hộp giấy màu xanh úa vẫn đứng cô đơn trên giá sách giờ có thêm bạn mới là đống libri e taccuini của nàng.
*
Cuối mùa hè, T. xuất hiện, không phải bằng xương bằng thịt mà chỉ bằng một lá thư sáu trang viết tay bay bướm gửi từ một nơi cách nàng nửa vòng trái đất, đúng lúc nàng và anh đang chờ mùa thu tới để kết thúc cuộc sống chung không danh phận và tiến tới một ràng buộc thiêng liêng hơn. Trong căn gác nóng hầm hập vì mất điện, nàng thắp nến đọc thư T., anh nhìn xoáy đôi mắt long lanh nước và lung linh ánh nến của nàng, rồi im lặng ra khỏi phòng.
*
Nàng nâng chiếc khăn lên, ấp vào cổ, cái nham nhám của những sợi len thô to cọ lên làn da và mùi hoắc hương lẫn hoa y-lang y-lang mang mã số 1881 thoảng rụt rè len vào tâm trí, cảm giác vẫn như mỗi khi anh đi đâu về để nguyên khăn mũ khẽ cụng đầu vào thái dương nàng. Đến bây giờ nàng mới nhận ra, với nàng, anh cũng giống như chiếc khăn len đan bằng sợi thô, ấm áp chở che nhưng chưa bao đủ dài rộng để quấn và giữ chặt lấy nàng. Anh chỉ biết đến bên kéo nàng ra khỏi nỗi cô đơn lạnh lẽo, làm trái tim nàng ấm lại bằng mọi cách có thể. Và khi T. trở lại, trái tim nàng không còn cô đơn, anh lặng lẽ quay đi. Ngay cả việc đưa chiếc khăn với bao nhiêu kỷ niệm cho nàng, anh cũng làm lặng lẽ, như nhất định phải vậy, như một cử chỉ chăm sóc kín đáo cuối cùng. Nàng ngồi thẳng lên hít một hơi dài như để trấn áp sự xao động. Một cái gì đó sộc tới, thôi thúc, giục giã, nàng vùng chạy...
Còn nửa dãy phố nữa là nàng sẽ tới nhà anh. Trên vai nàng, từ những nếp cuộn của chiếc khăn len màu ô-liu, Cerruti 1881 toả hương dữ dội hơn bao giờ.

17h30, 31/3/2006
Mio
10-06-06, 20:57
Chuyện của tình yêu One dễ chịu như cảm giác tắm xong, xịt một ít cologne vào khe ngực, rồi chìm vào giấc ngủ bình an. Rung động, cô đơn mà nhẹ nhàng :53:
catyen
15-06-06, 00:11
Trang yêu dịch rất là hay giọng văn bình thản tình cảm mềm mại thế là tuyệt rồi.

Anh chỉ ra một chỗ mà em bị mắc. Lần sau nếu có gì không hiểu thì đừng đoán mà cố gắng tìm kiếm hỏi han mọi người để làm sao đưa ra được một bản dịch không có tì vết.

Câu này:



em dịch là:



Người đàn bà lai nên để thêm cả từ Creole và có thêm footnote để nói cho độc giả biết họ là ai. Xem thêm ở đây: http://www.cajunculture.com/Other/creole.htm

Abraham ở đây không phải là Abraham Lincoln, nếu là Lincoln thì người ta đã gọi là Lincoln. Abraham ở đây là thủy tổ của loài người theo kinh cựu ước của người do thái. Promised offspring of Abraham có nhắc đến sự trong cựu ước có lời hứa rằng một hậu duệ của Abraham sẽ là messiah tiếp theo cứu vớt dân do thái và dân thiên chúa giáo coi Jesus chính là người đó. Xem thêm ở đây.

http://64.233.161.104/search?q=cache:xk9kuK6gZ7sJ:www.biblecentre.net/comment/ot/ebc/gen/gen138.html+%22the+promised+offspring+of+Abraham%22&hl=en

Ở đây chỉ nói đơn giản là con cái bà kia có những nét hình thể giống Jesus.

Không phải là đứa con "đầy hứa hẹn". Chúa có hứa rằng sẽ cho dòng dõi của Abraham đầy trên đất. Nên về bản chất, đó là những đwas con Chúa hứa sẽ ban cho Abraham.

Một khi đã dịch sách/truyện phương tây cần đọc và biết tích Bible.
gió
15-06-06, 08:08
Chuyện của tình yêu One dễ chịu như cảm giác tắm xong, xịt một ít cologne vào khe ngực, rồi chìm vào giấc ngủ bình an. Rung động, cô đơn mà nhẹ nhàng :53:
Chời ơi sao gái Thăng Long dạo này nói chuyện gợi thế hả chời. Anh hình dung ra hết rồi đấy nhé :winkwink:
mưa ngâu
16-06-06, 22:32
catyen viết:
Một khi đã dịch sách/truyện phương tây cần đọc và biết tích Bible.
Bible à? Chắc không? Thế mà tớ cứ tưởng phải nhét vào đầu mớ triết Hy Lạp chứ. À mà trong bible cũng có đủ hỉ nộ ái ố âu lạc dục, nào là hiếp dâm, trừng phạt, qủy ma, sợ sệt, ám ảnh, thanh toán, loạn luân... phải thế không?
catyen
20-06-06, 11:48
Triết Hy lạp không thể có nhiều điển tích như Bible. Nếu đọc De Vinci Code, sẽ gặp rất nhiều hình ảnh từ đó.

Còn mình nghĩ không phải lầ triết hi lạp mà là thaanf thoại Hy-La. Ví dụ như đọc Harry Porter, sẽ thấy rất nhiều ccais tên hoặc nhân vật được mô phỏng, sáng tạo dựa trên chất liệu này.

Bible và thần thoại Hy-La.
one
09-09-07, 04:21
Nhân tiện cơn hắt xì, em lại góp đây một truyện nữa. Vẫn gái viết và gái dịch thôi, Kate Chopin thiên cổ và One tâm thần.

Đôi tất lụa

Kate Chopin

Một hôm, chị Sommers nhỏ nhắn bỗng phát hiện ra mình có mười lăm đô la. Với chị, đấy quả là một món lớn và cái cách nó cộm phồng trong chiếc ví sờn cũ khiến chị có cảm giác về một điều gì quan trọng mà nhiều năm nay không được hưởng.

Chị cứ băn khoăn mãi về chuyện sẽ tiêu gì. Một hai ngày liền, chị dạo quanh thơ thẩn với trạng thái mơ màng nhưng cũng thực sự miệt mài suy xét và tính toán. Chị không muốn vội vàng để làm những việc gây hối tiếc về sau. Nhưng suốt đêm dài lặng vắng, chị nằm trằn trọc với những kế hoạch trong đầu đến nỗi chị có vẻ như đã thấy rõ cách thức đúng đắn và xác đáng để sử dụng đồng tiền.

Chị sẽ thêm một hoặc hai đô la, sắm cho Janie đôi giày đắt hơn loại bình thường chị vẫn mua, để bảo đảm nó sẽ bền hơn. Chị sẽ mua vài mét vải péccan mịn để may áo chẽn cho mấy thằng bé con lẫn cả Janie và Mag. Chị đã định vá lại cái áo cũ. Mag thì phải có một cái áo choàng nữa. Chị đã thấy mấy mẫu rất vừa, giá cả phải chăng ở một cửa hiệu. Và vẫn còn đủ tiền cho mấy đôi tất mới, mỗi đứa hai đôi, đỡ phải mạng mấy đôi cũ. Chị cũng sẽ mua mũ lưỡi trai cho lũ con trai và mũ lính thuỷ cho mấy đứa con gái. Viễn cảnh được thấy đàn con mặc áo mới tươm tất xinh xắn một lần trong đời khiến chị phấn khích đến độ không ngủ được.

Hàng xóm láng giềng đôi khi thường nhắc về những ngày xưa tươi đẹp mà chị Sommers nhỏ nhắn đã nếm trải trước khi nghĩ mình có thể làm vợ anh Sommers. Chị chưa bao giờ nuông chiều bản thân trong hoài niệm mục nát ấy. Chị không có thời gian, không một giây nào dành cho quá khứ. Những nhu cầu hiện tại thu hút mọi khả năng của chị. Một tương lai bất định và buồn thảm đôi lúc làm chị hoảng sợ, nhưng may quá, ngày mai ấy không bao giờ đến.

Chị Sommers là người hiểu giá trị của việc mặc cả, người có thể đứng hàng giờ cò kè bớt một thêm hai để món hàng chị muốn sẽ được bán dưới giá. Chị có thể chống nạnh nếu cần thiết, chị đã học được cách giành giật từng món hàng nhỏ, ôm khư khư với lòng quyết tâm bền bỉ cho đến lượt mình được phục vụ, bất kể phải đợi lâu thế nào.

Nhưng hôm đó, chị hơi uể oải và mệt mỏi. Hồi trưa, chị ăn rất ít, không, đúng lúc đó chị nghĩ lại, thực ra vì mải cho đàn con ăn và dỗ yên chúng, chuẩn bị để đi mua sắm, chị đã quên khuấy bữa trưa.

Chị ngồi trên chiếc ghế xoay trước một quầy hàng tương đối vắng, cố tập trung sức lực và can đảm để trả giá giữa một đám đông hau háu đang bị núi vải may áo sơ mi và vải gai mịn in hoa chắn quanh. Một cảm giác bải hoải ủ rũ lan khắp và chị quờ quạng tì tay lên quầy. Chị không đi găng. Càng lúc chị càng nhận ra tay mình đang chạm phải một cái gì đó êm dịu rất dễ chịu.

Chị nhìn xuống, thấy bàn tay nằm trên một chồng tất lụa. Một tấm biển gần đấy thông báo rằng họ đã giảm giá từ hai đô la rưỡi xuống còn một đô la chín mươi tám xu. Và một cô gái trẻ đứng sau quầy thì hỏi xem chị có muốn kiểm tra đường sợi dệt hay không. Chị cười cứ như thể vừa được mời kiểm tra một chiếc mũ miện kim cương lần cuối trước khi mua vậy. Nhưng chị tiếp tục cảm nhận được cái thứ đồ mềm mại rực rỡ xa xỉ ấy - giờ là bằng cả hai tay, nâng nó lên để xem vẻ óng ánh và cảm nhận nó trượt giữa các kẽ ngón tay như con rắn.

Hai vệt hồng ửng thình lình xuất hiện trên đôi má nhợt nhạt, chị ngước lên nhìn cô gái: “Em nghĩ có đôi nào cỡ tám rưỡi ở đây không?”. Bao nhiêu đôi cỡ tám rưỡi cũng có. Trên thực tế, những đôi cỡ ấy có nhiều hơn cả. Đây là một đôi màu xanh lơ, kia là mấy đôi tím oải hương, một vài đôi thì màu đen tuyền, đôi khác lại có màu xám ngả nâu nhạt. Chị Sommers chọn một đôi màu đen rồi nhìn thật gần và thật lâu. Chị vờ kiểm tra cái mặt sợi mà người bán hàng đảm bảo là tuyệt hảo.

"Một đô chín tám xu", chị đăm chiêu ra mặt, “Rồi, tôi sẽ lấy đôi này”. Chị đưa cô gái năm đô la, chờ cô ta trả lại tiền và gói đồ. Một cái gói sao mà nhỏ xíu! Nó dường như chìm nghỉm trong đáy chiếc túi đi chợ sờn cũ của chị.

Sau đó, chị Sommers không đi về phía quầy giảm giá. Chị gọi thang máy lên tầng trên, vào phòng đợi của quý bà. Tại đây, trong góc nghỉ, chị thay đôi tất sợi bông bằng đôi tất lụa mới mua. Chị chẳng sa vào nỗi băn khoăn cắn rứt hay tự tranh cãi, cũng chẳng cố gắng lý giải sao cho thoả đáng về động lực của việc mình làm. Chị không nghĩ gì cả. Chị có vẻ ngơi khỏi gánh nặng nhọc nhằn một lát. Chị đã dứt mình ra khỏi những thứ đó bằng một cơn bốc đồng vô thức, cơn bốc đồng chỉ đạo hành động của chị và khiến chị thoát ly khỏi trách nhiệm.

Cảm giác của tơ sống trên da thịt chị mới tuyệt làm sao! Chị tưởng như được ngả lưng trên ghế nệm và đắm chìm trong sự xa hoa của nó. Chị cứ như thế một lúc. Rồi chị đi giày, cuộn đôi tất sợi bông lại và ấn vào túi. Sau đó, chị băng sang đường tiến thẳng tới gian hàng giày và ngồi xuống thử.

Chị khó chiều. Người bán hàng không hiểu ý chị, anh ta không tìm ra kiểu nào hợp với đôi tất của chị, và chị không dễ hài lòng. Chị kéo váy, chìa chân ra và nghiêng đầu như thể đang liếc xuống người đánh giày, một đôi bốt mũi nhọn. Bàn chân và gót chân chị trông thật đẹp. Chị không nhận ra nổi là những thứ ấy thuộc về mình, là một phần thân thể mình. Chị muốn một đôi giày thật tuyệt hảo và sành điệu, chị nói với gã trai trẻ đang phục vụ mình, và chị không quan tâm đến chuyện giá tiền tăng thêm một hay hai đô la cho đến khi có được cái mình muốn.

Đã lâu rồi chị Sommers mới được mang một đôi găng vừa vặn. Vào những dịp hiếm hoi chị mua được một đôi, nó luôn đại hạ giá, rẻ đến nỗi sẽ là lố bịch và vô lý nếu cứ trông chờ nó vừa với tay. Giờ đây, chị tựa khuỷu tay vào quầy bán găng, một tạo vật xinh xắn, trẻ trung và dễ thương, thanh nhã và tinh xảo, đang được kéo dọc cổ tay xuống bàn tay chị Sommers. Chị vuốt nó lên trên cổ tay và gài khuy cẩn thận, và để yên một hoặc hai giây chiêm ngưỡng đôi bàn tay đi găng cân đối. Nhưng vẫn còn vài chỗ nữa để tiêu tiền.

Này là sách và tạp chí dựng ở cửa sổ một quầy dưới phố, cách đó vài bước. Chị Sommers mua hai tạp chí đắt tiền mà chị vẫn đọc hồi còn cuộc sống còn dễ thở. Chị mang chúng đi mà không cần gói bọc. Cũng như chị có thể nâng váy đi qua ngã tư đường. Đôi tất, đôi bốt và đôi găng vừa vặn thật tuyệt đã đem đến cho chị cảm giác được đảm bảo, cảm giác được thuộc về đám đông ăn diện.

Chị đang đói ngấu. Nếu là lần khác thì chị đã dằn cơn đói xuống cho đến khi về nhà, nơi chị có thể bày một tách trà và ăn tạm bất cứ cái gì sẵn đấy. Nhưng cơn bốc đồng đang dẫn dắt chị không cho phép chị chịu đựng thêm một chút nào nữa.

Có một nhà hàng ở góc đường. Chị chưa bao giờ bước qua cửa đó, từ bên ngoài, đôi khi chị thoáng bắt gặp những tấm khăn trải bàn sạch như ly như lau và đồ pha lê lấp lánh, và đám bồi bàn có bước chân khẽ khàng đang phục vụ những vị khách tân thời.

Khi chị bước vào, ngoại hình của chị không gây ra sự ngạc nhiên, khiếp đảm nào, như chị vốn hơi lo ngại. Chị ngồi xuống một bàn nhỏ riêng biệt, và một anh bồi cung cúc tiến tới chờ chị gọi món. Chị không muốn phí phạm, chị thèm một miếng ngon lành, với nửa tá sò, món thịt thủ béo ngậy trộn cải xoong, một cái gì ngọt - bánh kem xốp chẳng hạn, một ly rượu vùng sông Rhine, và cuối cùng là một tách cà phê đen.

Trong lúc chờ phục vụ, chị thong thả cởi găng tay và đặt bên mình. Rồi chị cầm cuốn tạp chí lên đọc lướt qua, rọc mấy trang dính bằng sống dao. Tất cả thật dễ chịu. Khăn bàn thậm chí còn sạch hơn cả khi nhìn qua cửa sổ, còn pha lê thì lấp lánh hơn. Những quý ông và quý bà yên lặng không nhìn thấy chị, họ cũng đang dùng bữa trưa bên chiếc bàn nhỏ như chị. Một điệu nhạc nhẹ nhàng dìu dặt đủ nghe, và gió nhẹ đang mơn man thổi qua cửa sổ. Chị nếm món sò, và đọc vài từ, và nhấp chút rượu màu hổ phách, và ngọ nguậy những ngón chân trong đôi tất lụa. Tiền ăn chẳng đáng bao nhiêu. Chị đếm tiền đưa anh bồi và để thêm một đồng xu trên khay, dù sao thì anh ta cũng đã cúi mình trước chị như thể trước một công nương dòng dõi hoàng gia.

Trong ví chị vẫn còn tiền, và điều cám dỗ tiếp theo xuất hiện dưới hình dạng của một áp phích quảng cáo kịch.

Khi chị vào đến nhà hát thì đã hơi muộn, vở kịch đã bắt đầu và chỉ còn chờ chị tới xong là rạp đóng cửa. Nhưng vẫn còn vài chỗ trống ở đây đó và chị được dẫn vào một trong số chỗ như thế, giữa những người phụ nữ ăn vận sáng choang, những người phải đến đây để giết thời gian, ăn kẹo và khoe những trang sức hoa mỹ. Có rất nhiều người khác đến đây chỉ đơn thuần vì vở kịch và diễn xuất. Thật an toàn để nói rằng không có ai ở đây chăm chăm xét nét những cử chỉ của chị Sommers đối với những người xung quanh. Chị thu vào trong mắt toàn cảnh sân khấu, những diễn viên và mọi người với một ấn tượng choáng ngợp, hút theo và tận hưởng nó. Chị cười khi đến màn hài kịch và khóc - chị và người đàn bà diêm dúa bên cạnh đã khóc suốt cảnh bi thảm. Và họ nói với nhau vài câu trong lúc xem. Và người đàn bà diêm dúa chấm khăn lên mắt và xì mũi trên một vuông khăn mỏng viền ren bé xinh thơm ngát và chuyển cho chị Sommers nhỏ nhắn hộp kẹo của bà ta.

Vở kịch kết thúc, nhạc ngừng, đám đông tản ra. Cứ như kết thúc một giấc mơ vậy. Mọi người toả về mọi hướng. Chị Sommers đi về phía góc đường chờ xe.

Một người đàn ông có đôi mắt tinh tường ngồi đối diện dường như muốn nghiên cứu gương mặt nhỏ nhợt nhạt của chị. Nó thách đố ông phải giải mã những gì ông thấy. Thật tình thì ông chẳng thấy gì ngoài việc ông đủ từng trải để nhận ra một ước ao cháy bỏng, một khát khao mạnh mẽ, rằng chiếc xe sẽ không bao giờ dừng lại ở đâu cả, mà cứ tiếp tục mang chị đi như thế mãi mãi.
knowledgeriver
09-09-07, 19:10
Đọc chuyện này dịch trên kia của 1, mình thấy chuyện chuyển tại một thông điệp ngầm và cũng dễ hiểu thôi. Một cô gái với những ham muốn đời thường giản đơn. Mẫu cô gái này, mình không yêu.
GunZ
10-09-07, 13:39
Thế thằng Nâu sẽ yêu mẫu gái nào!? Một câu hỏi thật là nhức nhối triết học giao hoán Đông Tây đè ngửa quấn quýt vật nhau đối với Nâu đúng không.

Nhiều khi đàn ông dễ dàng yếu đuối với những điều mong muốn rất nhẹ nhàng giản dị nhưng khá là thầm kín của những người phụ nữ thân thương xung quanh họ. Một cô gái ao ước có một chiếc lược, một cô gái mong chiếc lá cuối cùng đừng rụng xuống... những cái thực ra nếu không có chữ tình trong đó thì rất là ấm ớ vụn vặt, thế nhưng nếu động lòng thì thằng đàn ông lại như là làm một cái gì đó cao cả lắm. Đôi khi, phụ nữ khó hiểu vì ta cứ nghĩ là họ phức tạp lắm, thực ra có lúc họ đơn giản nhưng mà họ giấu kín quá.

Em các bác vẫn nhớ hồi bé tí em để dành tiền mua một chiếc bút kim tinh cho cô em họ con gái của dì. Và sau này, một dịp nào đó, hình như là sinh nhật, cô ấy tặng em một cái đồng hồ mà hình như giá của nó bằng nửa năm lương của em vì lúc ý cô ấy có khả năng kiếm tiền nhiều lắm. Khi em kêu sao nhiều tiền thế, cô ấy nhắc lại cái bút kim tinh, mặc dù không có ý so sánh. Nói chung sau vụ đấy em kinh nghiệm ra, nhiều lúc một cô gái rất tuyệt vời trao tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải cho một thằng giai rất phò, đơn giản là vì thằng giai ấy phát hiện hoặc ngẫu nhiên làm một việc gì đó như hồi xưa em yêu quý và để dành tiền mua chiếc bút kim tinh cho cô em họ.

Trình em thấp chỉ hiểu văn dịch của chị văn sĩ Oẳn như thế :D.
dao_hoa_daochu
10-09-07, 14:08
The Last Leaf


O. Henry


In a little district west of Washington Square the streets have run crazy and broken themselves into small strips called "places." These "places" make strange angles and curves. One Street crosses itself a time or two. An artist once discovered a valuable possibility in this street. Suppose a collector with a bill for paints, paper and canvas should, in traversing this route, suddenly meet himself coming back, without a cent having been paid on account!

So, to quaint old Greenwich Village the art people soon came prowling, hunting for north windows and eighteenth-century gables and Dutch attics and low rents. Then they imported some pewter mugs and a chafing dish or two from Sixth Avenue, and became a "colony."

At the top of a squatty, three-story brick Sue and Johnsy had their studio. "Johnsy" was familiar for Joanna. One was from Maine; the other from California. They had met at the table d'hôte of an Eighth Street "Delmonico's," and found their tastes in art, chicory salad and bishop sleeves so congenial that the joint studio resulted.

That was in May. In November a cold, unseen stranger, whom the doctors called Pneumonia, stalked about the colony, touching one here and there with his icy fingers. Over on the east side this ravager strode boldly, smiting his victims by scores, but his feet trod slowly through the maze of the narrow and moss-grown "places."

Mr. Pneumonia was not what you would call a chivalric old gentleman. A mite of a little woman with blood thinned by California zephyrs was hardly fair game for the red-fisted, short-breathed old duffer. But Johnsy he smote; and she lay, scarcely moving, on her painted iron bedstead, looking through the small Dutch window-panes at the blank side of the next brick house.

One morning the busy doctor invited Sue into the hallway with a shaggy, gray eyebrow.

"She has one chance in - let us say, ten," he said, as he shook down the mercury in his clinical thermometer. " And that chance is for her to want to live. This way people have of lining-u on the side of the undertaker makes the entire pharmacopoeia look silly. Your little lady has made up her mind that she's not going to get well. Has she anything on her mind?"

"She - she wanted to paint the Bay of Naples some day." said Sue.

"Paint? - bosh! Has she anything on her mind worth thinking twice - a man for instance?"

"A man?" said Sue, with a jew's-harp twang in her voice. "Is a man worth - but, no, doctor; there is nothing of the kind."

"Well, it is the weakness, then," said the doctor. "I will do all that science, so far as it may filter through my efforts, can accomplish. But whenever my patient begins to count the carriages in her funeral procession I subtract 50 per cent from the curative power of medicines. If you will get her to ask one question about the new winter styles in cloak sleeves I will promise you a one-in-five chance for her, instead of one in ten."

After the doctor had gone Sue went into the workroom and cried a Japanese napkin to a pulp. Then she swaggered into Johnsy's room with her drawing board, whistling ragtime.

Johnsy lay, scarcely making a ripple under the bedclothes, with her face toward the window. Sue stopped whistling, thinking she was asleep.

She arranged her board and began a pen-and-ink drawing to illustrate a magazine story. Young artists must pave their way to Art by drawing pictures for magazine stories that young authors write to pave their way to Literature.

As Sue was sketching a pair of elegant horseshow riding trousers and a monocle of the figure of the hero, an Idaho cowboy, she heard a low sound, several times repeated. She went quickly to the bedside.

Johnsy's eyes were open wide. She was looking out the window and counting - counting backward.

"Twelve," she said, and little later "eleven"; and then "ten," and "nine"; and then "eight" and "seven", almost together.

Sue look solicitously out of the window. What was there to count? There was only a bare, dreary yard to be seen, and the blank side of the brick house twenty feet away. An old, old ivy vine, gnarled and decayed at the roots, climbed half way up the brick wall. The cold breath of autumn had stricken its leaves from the vine until its skeleton branches clung, almost bare, to the crumbling bricks.

"What is it, dear?" asked Sue.

"Six," said Johnsy, in almost a whisper. "They're falling faster now. Three days ago there were almost a hundred. It made my head ache to count them. But now it's easy. There goes another one. There are only five left now."

"Five what, dear? Tell your Sudie."

"Leaves. On the ivy vine. When the last one falls I must go, too. I've known that for three days. Didn't the doctor tell you?"

"Oh, I never heard of such nonsense," complained Sue, with magnificent scorn. "What have old ivy leaves to do with your getting well? And you used to love that vine so, you naughty girl. Don't be a goosey. Why, the doctor told me this morning that your chances for getting well real soon were - let's see exactly what he said - he said the chances were ten to one! Why, that's almost as good a chance as we have in New York when we ride on the street cars or walk past a new building. Try to take some broth now, and let Sudie go back to her drawing, so she can sell the editor man with it, and buy port wine for her sick child, and pork chops for her greedy self."

"You needn't get any more wine," said Johnsy, keeping her eyes fixed out the window. "There goes another. No, I don't want any broth. That leaves just four. I want to see the last one fall before it gets dark. Then I'll go, too."

"Johnsy, dear," said Sue, bending over her, "will you promise me to keep your eyes closed, and not look out the window until I am done working? I must hand those drawings in by to-morrow. I need the light, or I would draw the shade down."

"Couldn't you draw in the other room?" asked Johnsy, coldly.

"I'd rather be here by you," said Sue. "Beside, I don't want you to keep looking at those silly ivy leaves."

"Tell me as soon as you have finished," said Johnsy, closing her eyes, and lying white and still as fallen statue, "because I want to see the last one fall. I'm tired of waiting. I'm tired of thinking. I want to turn loose my hold on everything, and go sailing down, down, just like one of those poor, tired leaves."

"Try to sleep," said Sue. "I must call Behrman up to be my model for the old hermit miner. I'll not be gone a minute. Don't try to move 'til I come back."

Old Behrman was a painter who lived on the ground floor beneath them. He was past sixty and had a Michael Angelo's Moses beard curling down from the head of a satyr along with the body of an imp. Behrman was a failure in art. Forty years he had wielded the brush without getting near enough to touch the hem of his Mistress's robe. He had been always about to paint a masterpiece, but had never yet begun it. For several years he had painted nothing except now and then a daub in the line of commerce or advertising. He earned a little by serving as a model to those young artists in the colony who could not pay the price of a professional. He drank gin to excess, and still talked of his coming masterpiece. For the rest he was a fierce little old man, who scoffed terribly at softness in any one, and who regarded himself as especial mastiff-in-waiting to protect the two young artists in the studio above.

Sue found Behrman smelling strongly of juniper berries in his dimly lighted den below. In one corner was a blank canvas on an easel that had been waiting there for twenty-five years to receive the first line of the masterpiece. She told him of Johnsy's fancy, and how she feared she would, indeed, light and fragile as a leaf herself, float away, when her slight hold upon the world grew weaker.

Old Behrman, with his red eyes plainly streaming, shouted his contempt and derision for such idiotic imaginings.

"Vass!" he cried. "Is dere people in de world mit der foolishness to die because leafs dey drop off from a confounded vine? I haf not heard of such a thing. No, I will not bose as a model for your fool hermit-dunderhead. Vy do you allow dot silly pusiness to come in der brain of her? Ach, dot poor leetle Miss Yohnsy."

"She is very ill and weak," said Sue, "and the fever has left her mind morbid and full of strange fancies. Very well, Mr. Behrman, if you do not care to pose for me, you needn't. But I think you are a horrid old - old flibbertigibbet."

"You are just like a woman!" yelled Behrman. "Who said I will not bose? Go on. I come mit you. For half an hour I haf peen trying to say dot I am ready to bose. Gott! dis is not any blace in which one so goot as Miss Yohnsy shall lie sick. Some day I vill baint a masterpiece, and ve shall all go away. Gott! yes."

Johnsy was sleeping when they went upstairs. Sue pulled the shade down to the window-sill, and motioned Behrman into the other room. In there they peered out the window fearfully at the ivy vine. Then they looked at each other for a moment without speaking. A persistent, cold rain was falling, mingled with snow. Behrman, in his old blue shirt, took his seat as the hermit miner on an upturned kettle for a rock.

When Sue awoke from an hour's sleep the next morning she found Johnsy with dull, wide-open eyes staring at the drawn green shade.

"Pull it up; I want to see," she ordered, in a whisper.

Wearily Sue obeyed.

But, lo! after the beating rain and fierce gusts of wind that had endured through the livelong night, there yet stood out against the brick wall one ivy leaf. It was the last one on the vine. Still dark green near its stem, with its serrated edges tinted with the yellow of dissolution and decay, it hung bravely from the branch some twenty feet above the ground.

"It is the last one," said Johnsy. "I thought it would surely fall during the night. I heard the wind. It will fall to-day, and I shall die at the same time."

"Dear, dear!" said Sue, leaning her worn face down to the pillow, "think of me, if you won't think of yourself. What would I do?"

But Johnsy did not answer. The lonesomest thing in all the world is a soul when it is making ready to go on its mysterious, far journey. The fancy seemed to possess her more strongly as one by one the ties that bound her to friendship and to earth were loosed.

The day wore away, and even through the twilight they could see the lone ivy leaf clinging to its stem against the wall. And then, with the coming of the night the north wind was again loosed, while the rain still beat against the windows and pattered down from the low Dutch eaves.

When it was light enough Johnsy, the merciless, commanded that the shade be raised.

The ivy leaf was still there.

Johnsy lay for a long time looking at it. And then she called to Sue, who was stirring her chicken broth over the gas stove.

"I've been a bad girl, Sudie," said Johnsy. "Something has made that last leaf stay there to show me how wicked I was. It is a sin to want to die. You may bring a me a little broth now, and some milk with a little port in it, and - no; bring me a hand-mirror first, and then pack some pillows about me, and I will sit up and watch you cook."

And hour later she said:

"Sudie, some day I hope to paint the Bay of Naples."

The doctor came in the afternoon, and Sue had an excuse to go into the hallway as he left.

"Even chances," said the doctor, taking Sue's thin, shaking hand in his. "With good nursing you'll win." And now I must see another case I have downstairs. Behrman, his name is - some kind of an artist, I believe. Pneumonia, too. He is an old, weak man, and the attack is acute. There is no hope for him; but he goes to the hospital to-day to be made more comfortable."

The next day the doctor said to Sue: "She's out of danger. You won. Nutrition and care now - that's all."

And that afternoon Sue came to the bed where Johnsy lay, contentedly knitting a very blue and very useless woollen shoulder scarf, and put one arm around her, pillows and all.

"I have something to tell you, white mouse," she said. "Mr. Behrman died of pneumonia to-day in the hospital. He was ill only two days. The janitor found him the morning of the first day in his room downstairs helpless with pain. His shoes and clothing were wet through and icy cold. They couldn't imagine where he had been on such a dreadful night. And then they found a lantern, still lighted, and a ladder that had been dragged from its place, and some scattered brushes, and a palette with green and yellow colors mixed on it, and - look out the window, dear, at the last ivy leaf on the wall. Didn't you wonder why it never fluttered or moved when the wind blew? Ah, darling, it's Behrman's masterpiece - he painted it there the night that the last leaf fell."

Em các bác vừa dịch xong...

Trong một khu nhỏ ở phía Tây quảng trường Washington, đường phố chạy ngoằn ngoèo và tự cắt thành những mảnh nhỏ gọi là "biệt khu". Nhũng "biệt khu" này tạo thành những góc và đường lượn kỳ lạ. Mỗi con phố tự cắt một hoặc hai lần. Một dạo, có nghệ sĩ đã khám phá ra khả năng hữu ích của con phố này. Thử hình dung, một người khi thu hoá đơn tiền sơn, tiền giấy và tiền vải vẽ đi qua phố ấy, bỗng nhiên nhận thấy mình quay lại mà chưa thu được lấy một xu nào.

Vậy nên chẳng mấy chốc cánh nghệ sĩ đổ xô dến ngôi làng Greenwich cổ kính kì quặc đó, săn tìm những cửa sổ phía Bắc, những đầu hồi thế kỉ thứ mười tám và những căn phòng áp mái kiểu Hà Lan với giá thuê rẻ. Rồi họ nhập khẩu vài cái xô chậu đúc bằng hợp kim chì và thiếc, một hoặc hai cái bếp lẩu từ đại lộ Thứ Sáu rồi hình thành nên "khu hoạ sĩ".

Áp mái tòa nhà gạch ba tầng thấp tịt, Sue và Johnsy có một xưởng vẽ. Johnsy là tên gọi thân mật của Joanna. Một người từ Maine đến, còn người kia đến từ California.

Họ gặp nhau tại Table d'hôte trong tiệm Delmonico trên phố Thứ Tám và nhận thấy có cùng sở thích về nghệ thuật, về món salad rau diếp, về kiểu ống tay áo ngoài rộng và hợp nhau đến nỗi kết quả là một xưởng vẽ chung ra đời.

Dạo ấy là vào tháng Năm. Tháng Mười Một, gã khách lạ chưa hề được thấy mặt, lạnh lẽo, mà bác sĩ gọi là gã Viêm Phổi, rình rập đến khu họa sĩ, thỉnh thoảng vươn những ngón tay lạnh buốt của mình chạm vào ai đó. Khắp mạn Ðông, kẻ hủy diệt ấy hùng dũng bước đi, quật ngã hàng chục nạn nhân; nhưng khi qua những "biệt khu" đầy rêu và những con phố hẹp loằng ngoằng, bàn chân gã bước đi dè dặt.

Ngài Viêm Phổi không thuộc hàng chính nhân quân tử. Một phụ nữ mảnh mai, máu kiệt dần bởi những cơn gió Tây miền California khó có thể là đối thủ chính đáng của gã đần có nắm đấm đỏ, thở dốc, già nua kia. Nhưng gã vẫn quật ngã Johnsy; cô nằm, hầu như không động đậy trên chiếc giường sắt sơn của mình, nhìn qua những ô kính cửa sổ nhỏ kiểu Hà Lan lên bức tường trống trơn của ngôi nhà gạch đối diện.

Sáng nọ, ông bác sỹ có đôi mày rậm, đốm bạc gọi Sue ra hành lang.

- Ta có thể nói cơ hội sống của cô ấy chỉ còn lại một phần mười, - ông nói khi lắc nhiệt kế để thuỷ ngân hạ xuống. - Nhưng cái phần đó còn phụ thuộc vào việc cô ấy có muốn sống nữa hay không. Cái kiểu con người cứ sắp hàng bên cạnh ông chủ nhà hòm như thế thì thuốc men cũng chẳng có nghĩa lí gì. Cô bạn bé nhỏ của cô đã nghĩ rằng mình sẽ không bình phục nữa. Cô ấy có điều gì vướng mắc trong đầu không?

- Bạn ấy - bạn ấy mong ước có ngày vẽ được vịnh Naples, - Sue đáp.

- Vẽ ư? Hừ! Cô ấy không có điều gì đáng để bận tâm gấp bội lần hơn ư? - một chàng trai, chẳng hạn?

- Một chàng trai à? - Sue nói, cao giọng như thể tiếng đàn chợt buông dây. - Một người đàn ông thì tốt ư? Nhưng, không, thưa bác sỹ, không có chuyện đó đâu.

- À, vậy ra chỉ tại yếu thôi, - bác sỹ nói. - Tôi sẽ cố hết sức chữa chạy bằng tất cả vốn liếng y học của mình. Nhưng một khi bệnh nhận bắt đầu tính có bao nhiêu xe dự tang lễ của mình thì tôi phải trừ đi năm mươi phần trăm công hiệu cứu chữa của thuốc men. Nếu cô có thể làm cho cô ấy hỏi về những mốt mới mùa đông, tay áo chẳng hạn, thì tôi chắc trong mười phần cô ấy đã khá lên hai thay vì một như bây giờ.

Sau khi bác sĩ ra về, Sue vào phòng làm việc, khóc ướt đẫm cả chiếc khăn Nhật. Rồi cô bình tĩnh mang bảng vẽ vào phòng Johnsy, miệng huýt sáo một điệu nhạc Jazz.

Johnsy nằm, quay mặt về phía cửa sổ, tấm chăn trên người hầu như không gợn vết nhăn nào. Sue ngừng huýt sáo bởi tưởng bạn đã ngủ.

Cô dựng bảng vẽ và bắt đầu vẽ bức minh họa cho câu chuyện tạp chí bằng bút sắt. Những họa sĩ trẻ phải lát con đường đến nghệ thuật bằng các bức tranh minh họa cho những truyện trên tạp chí do các cây bút trẻ đã lát xuống để đến với văn học.

Khi Sue đang vẽ phác chiếc quần dài cưỡi ngựa trang nhã và chiếc kính một mắt cho nhân vật chính của truyện, anh chàng cao bồi Idaho, thì cô nghe có tiếng thì thầm lặp đi lặp lại nhiều lần. Cô bước vội đến bên giường.

Mắt Johnsy mở to. Cô đang nhìn ra cửa sổ và đếm - đếm lùi lại.

- Mười hai, - cô đếm, ngừng một lát, - "mười một", rồi "mười", "chín"; rồi gần như cùng một lúc "tám" và "bảy".

Sue lo lắng nhìn ra ngoài của sổ. Ðếm cài gì ở ngoài đó? Trong tầm mắt chỉ có một cái sân trơ trụi, ảm đạm và bức tường trống trơn của ngôi nhà gạch cách chừng sáu mét. Một dây trường xuân già, rất già, gốc cong queo và mục nát, leo đến giữa bức tường gạch. Hơi thở lạnh lẽo của mùa thu đã bứt lá của nó ra khỏi thân cho đến lúc chỉ còn trơ đám cành cây gần trụi hết lá bám vào những viên gạch nẻ sứt.

- Cái gì vậy hả bạn? - Sue hỏi.

- Sáu, - Johnsy nói như thể là tiếng thì thào. - Giờ thì chúng rụng nhanh hơn. Ba hôm trước phải gần cả trăm. Nó làm đầu mình phát đau lên khi đếm. Nhưng bây giờ thì dễ rồi. Một chiếc nữa đã đi. Giờ chỉ còn năm.

- Năm cái gì hả bạn? Nói cho Sudie của bạn biết đi.

- Những chiếc lá. Trên cây trường xuân. Khi chiếc cuối cùng rơi, chắc mình cũng ra đi. Mình biết điều đó đã ba ngày nay. Bác sĩ không nói gì với bạn sao?
dao_hoa_daochu
10-09-07, 14:09
- Ồ, mình không nghe những chuyện nhảm nhí như vậy đâu, - Sue trách với vẻ ân cần quả quyết. - Mấy chiếc lá trường xuân già đó thì có liên quan gì đến việc bạn bình phục kia chứ? Tại bạn quá yêu các dây leo ấy, thế đấy, bạn hư quá. Ðừng có nói dại nữa! À, sáng nay bác sỹ bảo mình rằng cơ hội bình phục nhanh của bạn là - để mình nhớ chính xác lời ông ấy - ông nói cơ hội chiếm đến chín phần mười! À, đấy là cơ hội gần chắc chắn như khi chúng ta đi ô tô hay đi bộ vượt qua một tòa nhà mới ở New York. Bây giờ hãy cố ăn tí cháo và để Sudie quay lại với bức vẽ, có thế thì bạn ấy mới có thể bán cho người biên tập rồi mua rượu vang port cho cô bé ốm yếu của bạn và lườn lợn cho cái bụng háu ăn của bạn ấy.

- Bạn không cần phải mua rượu vang nữa đâu, - Johnsy nói, mắt vẫn nhìn ra ngoài cửa sổ. - Một chiếc nữa rơi rồi. Không, mình không muốn ăn cháo tí nào. Chỉ còn bốn chiếc lá. Mình muốn xem chiếc cuối cùng rụng trước khi trời tối. Rồi mình cũng sẽ đi theo.

- Bạn Johnsy yêu quý ơi, - Sue cúi người xuống nói, - bạn có hứa với mình là sẽ nhắm mắt và không nhìn ra ngoài cửa sổ cho đến khi mình làm xong việc không? Mình phải nộp mấy bức này vào ngày mai. Mình cần ánh sáng, nếu không thì mình đã buông rèm xuống.

- Bạn không thể vẽ ở phòng khác sao? - Johnsy hờ hững hỏi.

- Mình thích ở đây, bên bạn, - Sue đáp. - Hơn nữa mình không muốn bạn cứ dán mắt vào những chiếc lá trường xuân ngớ ngẩn ấy.

- Khi nào bạn xong thì báo ngay cho mình nhé, - Johnsy nói, nhắm mắt lại và nằm im, tái nhợt như một pho tượng đổ, - bởi vì mình mình muốn xem chiếc lá cuối cùng rụng. Mình mệt mỏi vì chờ đợi. Mình rã rời vì suy nghĩ. Mình muốn tháo tung mọi thứ ràng buộc và dong buồm lướt đi, lướt đi tựa như một trong những chiếc lá mòn mỏi đáng thương kia.

- Hãy cố ngủ đi, - Sue nói. - Mình phải mời ông lão Behrman lên làm mẫu bức người thợ mỏ già khắc khổ. Mình sẽ đi một chốc thôi. Ðừng cố di chuyển cho đến khi mình quay lại.

Ông lão Behrman là họa sĩ sống ở tầng trệt bên dưới nhà họ. Lão đã ngoài sáu mươi, có bộ râu xoăn như bức tượng Moses của Michael Angelo, lượn như tóc từ đầu của thần Satyr xuống thân hình một con quỷ nhỏ. Behrman không thành công trong nghệ thuật. Ðã bốn mươi năm múa bút mà lão chưa hề chạm tới được gấu áo Nữ thần của mình. Lão luôn ấp ủ ý định vẽ một kiệt tác, nhưng vẫn chưa bắt đầu. Suốt nhiều năm nay, lão chẳng vẽ được gì ngoại trừ thỉng thoảng làm mấy đường quảng cáo hay chào hàng. Lão kiếm được ít tiền bằng cách ngồi mẫu cho mấy nghệ sĩ trẻ trong khu "hoạ sĩ" ấy, những người không đủ tiền thuê người mẫu chuyên nghiệp. Lão uống gin quá độ, nhưng vẫn nói về kiệt tác sắp vẽ của mình. Còn những lúc khác, lão là một lão già nhỏ thó hung tợn, luôn chế nhạo tính nhu mì của bất kì ai và luôn tự xem mình như loại khuyển đặc biệt, canh phòng bảo vệ hai nghệ sĩ trẻ ở xưởng vẽ bên trên.

Sue tìm thấy lão Behrman nồng nặc mùi rượu dâu nặng trong cái hang mờ tối của lão bên dưới. Trong góc phòng, một tấm vải trống, căng sẵn trên giá, vẫn đợi suốt hai mươi lăm năm nay chờ nét vẽ đầu tiên của bức kiệt tác. Cô kể cho lão nghe ý nghĩ lạ lùng của Johnsy và cái cách bạn ấy thực sự đuối đi, sắp lìa tung như một chiếc lá bay xa khi sự níu giữ mỏng manh của bạn ấy với thế giới này ngày một yếu hơn.

Lão Behrman, đôi mắt đỏ ngấn lệ, oang oang biểu lộ sự khinh thường và công kích của mình trước chuyện tưởng tượng ngu ngốc như thế.

- Chà! Trên thế gian này còn có người ngốc đến độ muốn chết vì những chiếc lá lìa xa cái dây leo dớ dẩn kia ư? Ta chưa bao giờ nghe chuyện nào như thế cả. Không, ta sẽ không ngồi làm mẫu lão già đần độn khắc khổ ù lì của cô đâu. Sao cô lại để cái chuyện ngu ngốc ấy chui vào óc của cô ta? Ôi, tội nghiệp thay cho Johnsy bé bỏng.

- Bạn ấy ốm yếu lắm, - Sue nói, - và sốt đã làm đầu óc bạn ấy đâm bệnh hoạn, đầy rẫy những ý tưởng hoang đường. Thôi được, bác Behrman à, nếu bác không ngồi mẫu cho cháu thì cũng chẳng sao. Nhưng cháu nghĩ bác là một lão già cục cằn, ba hoa, lọm khọm.

- Cô đúng là đồ đàn bà! - lão Behrman hét lên. - Ai bảo ta không ngồi mẫu? Ði nào. Ta đi cùng cô. Ta đã nói suốt nửa tiếng đồng hồ rằng ta sẽ làm mẫu rồi cơ mà. Lạy Chúa! Ðây không phải là nơi để một người tử tế như cô Johnsy nằm dưỡng bệnh. Hôm nào đó ta sẽ vẽ kiệt tác đó và tất cả chúng ta sẽ giã từ chốn này. Lạy Chúa! Ðúng đấy.

Johnsy đang ngủ khi hai người lên gác. Sue kéo rèm xuống che kín cửa sổ rồi ra hiệu cho lão Behrman sang phòng bên. Ở đấy, họ lo lắng nhìn ra cửa sổ, về phía cây trường xuân. Rồi hai người im lặng nhìn nhau một lát. Một cơn mưa lạnh, dai dẳng lẫn với tuyết đang rơi. Vận chiếc sơ mi xanh cũ, Behrman ngồi trên cái ấm lật úp, giả làm hòn đá trong tư thế người thợ mỏ khắc khổ.

Sáng hôm sau, Sue thức giấc sau khi chợp mắt được một tiếng đồng hồ, cô bắt gặp đôi mắt mở to, vô cảm của Johnsy nhìn trân trân vào tấm rèm xanh nơi cửa sổ.

- Kéo hộ nó lên đi; mình muốn nhìn, - cô thì thào giục.

Sue miễn cưỡng nghe lời.

Nhưng, kìa! Sau một đêm mưa quật, gió mạnh lồng lộng không ngớt, trên bức tường gạch kia chiếc lá trường xuân vẫn đứng nương vào vách. Ðấy là chiếc lá cuối cùng. Vẫn xanh thẫm nơi gần cuống lá, nhung quanh rìa đã ngả màu vàng sẫm và hư hoại; chiếc lá vững chãi bám chắc vào cành cây cách mặt đất chừng sáu mét.

- Ðấy là chiếc lá cuối cùng, - Johnsy nói. - Mình tưởng chắc nó đã rơi đêm qua rồi. Mình nghe tiếng gió. Hôm nay chắc nó sẽ rơi và lúc ấy mình cũng sẽ chết.

- Bạn yêu quý, - Sue nói, mặt hốc hác cúi xuống gối, - nếu bạn không nghĩ về bản thân thì hãy nghĩ đến mình. Mình biết làm gì bây giờ?

Nhưng Johnsy không trả lời. Trên cõi đời này, cái cô độc nhất là một linh hồn đang chuẩn bị sẵn sàng để đi xa trên hành trình bí ẩn của nó. Ý nghĩ đó dường như chế ngự cô mạnh hơn khi từng tí, sợi dây ràng buộc cô với tình bạn, với thế gian này đang chùng ra.

Ngày trôi qua và ngay đến khi trong ánh hoàng hôn họ vẫn còn thấy chiếc lá trường xuân cô đơn bám chặt lấy thân cây tựa trên bờ vách. Và rồi khi bóng đêm tràn đến, gió bắc lại lồng lên trong lúc mưa vẫn nặng hạt quật vào cửa sổ, rơi xuống từ mái hiên thấp kiểu Hà Lan.

Lúc trời vừa hửng sáng, Johnsy tàn nhẫn yêu cầu kéo rèm lên.

Chiếc lá trường xuân vẫn còn đó.

Johnsy nằm nhìn nó hồi lâu. Lát sau cô gọi nhẹ Sue, đang nấu cháo gà cho cô trên cái bếp ga.

- Mình đúng là đồ tệ thật, Sudie à, - Johnsy nói. - Cái điều đã khiến chiếc lá cuối cùng kia nằm đấy đã cho mình thấy mình là kẻ nhẫn tâm như thế nào. Muốn chết là tội lỗi. Bây giờ bạn cho mình xin một tí cháo, ít sữa có pha tí rượng vang, và... khoan đã, đưa cho mình chiếc gương tay trước rồi sắp mấy cái gối quanh mình, mình sẽ ngồi dậy xem bạn nấu.

Một giờ sau cô nói:

- Sudie à, hôm nào đó mình hi vọng sẽ vẽ vịnh Naples.

Buổi chiều bác sỹ đến, khi ông về, Sue kiếm cớ để theo ra hành lang.

- Thoát rồi, - bác sỹ nắm bàn tay gầy guộc run run của Sue và nói. - Bằng tài chăm sóc khéo léo, cô đã chiến thắng. Bây giờ tôi phải đi thăm một ca khác ở dưới lầu. Behrman, tên ông ấy... tôi chắc đó là một nghệ sĩ. Cũng bị viêm phổi. Ông ấy đã già yếu mà bệnh tình thì lại nguy kịch. Không còn hi vọng, nhưng hôm nay ông ấy sẽ nhập viện để được chăm sóc kỹ càng hơn.

Hôm sau bác sỹ bảo Sue:

- Cô ấy đã qua cơn hiểm nghèo. Cô đã thắng. Bây giờ chỉ cần bồi dưỡng và chăm sóc chu đáo, thế thôi.

Chiều hôm ấy Sue đến bên giường, nơi Johsy đang nằm bình thản đan nhì nhằng chiếc khăn choàng len xanh thẫm và choàng tay ôm lấy người Johnsy với cả đống gối.

- Mình có chuyện kể đây, chuột bạch này, - cô nói. - Hôm nay, bác Behrman mất vì viêm phổi ở bệnh viện. Bác chỉ ốm có hai ngày. Sáng hôm đầu tiên, người gác cổng đã thấy bác quằn quại đau trong phòng của bác nơi tầng trệt. Giày và quần áo bác ướt sũng, lạnh băng. Họ không thể hình dung bác đã ở đâu vào cái đêm khủng khiếp như thế. Rồi khi họ tìm thấy chiếc đèn lồng, hãy còn sáng và cái thang đã bị kéo khỏi chỗ của nó, mấy chiếc bút lông vương vãi và một bảng pha mầu với xanh vàng hòa lẫn, và... nhìn ra cửa sổ kia, bạn, chỗ chiếc lá trường xuân cuối cùng ấy. Bạn không ngạc nhiên là tại sao nó chẳng hề rung rinh hay di chuyển khi gió thổi? Ồ, bạn thân thương ơi, đấy là kiệt tác của bác Behrman... bác vẽ nó ở đó vào cái đêm chiếc lá cuối cùng rơi.



@GunZ "thực ra có lúc họ đơn giản nhưng mà họ giấu kín quá" - đúng rồi, có những thứ đơn giản lắm nhưng mà dấu kín quá.
JIT
10-09-07, 14:23
Ơ, Đào dạo này lại có thời gian dịch văn cơ à. Lo mà dập lửa cái vụ kia đi chứ nhở. Với cả phụ nữ xem ra chưa bao giờ biết giấu kín cái gì cả. Vấn đề là họ giấu với ai và không giấu với ai thôi, hệ hệ :24:
playboy
10-09-07, 20:13
Hiểu như Găn với Nâu là sai rồi.

Thông điệp trong truyện ngắn này là: đàn ông phải thận trọng khi đưa tiền cho phụ nữ đi sắm đồ, phụ nữ phải răn mình trước cám dỗ của đôi tất lụa.

Trong một cơn hưng phấn bất ngờ (… tay mình đang chạm phải một cái gì đó êm dịu rất dễ chịu) phụ nữ dễ dàng quên đi mục đích tiêu tiền ban đầu (mua đồ cho con) để làm thoả mãn mình bằng những thứ như là đôi tất lụa. Cơn hưng phấn lại làm phát sinh những nhu cầu mới, cứ như là bằng cách nào đó nó kiểm soát, điều khiển hành vi của người phụ nữ khiến họ hành động làm sao để sự tồn tại của nó được kéo dài.

Lúc tiền hết, hưng phấn cũng hết, phụ nữ quay về thực tại. Người phụ nữ trong truyện lúc này mang tâm trạng tiếc nhớ sự việc vừa xảy ra lẫn với sự day dứt vì đã hành động “một cách ích kỷ”. Cô ta không muốn chiếc xe dừng lại là vừa muốn kéo dài một chút hưng phấn còn đọng lại, vừa muốn trốn tránh việc về nhà để tăng thêm gánh nặng tội lỗi khi nhìn lại đàn con không có những cái áo mới tươm tất.

Đàn ông phải thận trọng khi đưa tiền cho phụ nữ đi sắm đồ, phụ nữ phải răn mình trước cám dỗ của đôi tất lụa.

:24: :24: :24:
one
11-09-07, 12:55
Cái truyện Đôi tất lụa này chỉ để nói về một cái tính cố hữu của gái là phù phiếm. Đến người tưởng như tính toán chi li nhất cuối cùng cũng không thoát, vẫn tiêu hết tiền cho những thứ khiến họ có cảm giác được ve vuốt. Em đã từng thấy (ở ngoài) một cô, mua bó hoa mấy trăm ngàn tự mừng sinh nhật mình trong khi con đang thiếu tiền trường. Kiểu phụ nữ như chị Sommers này có lẽ cũng không phải cá biệt.
dao_hoa_daochu
11-09-07, 13:08
Trước anh có đọc quyển "The charming smile of Đào"... à nhầm, nó là quyển "The Psychology of Money" hình như là của Adrian Funhan - anh thấy cái ở trên có lẽ không phải là nói về tính "phù phiếm". Theo như phân tích trong quyển kia, thì đại khái nó giống với cái "bệnh mua sắm" của gái hơn.
one
11-09-07, 13:21
Thế em là gái hay bác Đào là gái nào? :D Đùa vậy, đại khái tâm lý của gái cũng chẳng có gì phức tạp, thích có cảm giác sướng. Không sướng kiểu này thì sướng kiểu khác (èo, nghe khiếppp).

Tự dưng nhìn truyện dịch với cái avatar của bác Đào em lại nhớ đến một anh, anh Saki (chắc giống avatar của bác Đào vì cái mũ).

http://www.theunbrokencircle.co.uk/images/People/Saki.jpg

Anh này viết truyện cũng hay, một trong những hải đăng truyện ngắn, có người so sánh ảnh với O Henry. Đây, em dịch thử một truyện của ảnh:

Hai màn bi kịch Người Thổ Mới

Saki

Bộ trưởng bộ Nghệ thuật (cái bộ mới được kỹ nghệ bầu cử vẽ thêm) đi thăm chính thức một cố vấn cao cấp. Theo nghi lễ xã giao phương Đông, họ đàm luận về mấy chủ đề vô thưởng vô phạt. Đúng lúc tiện mồm định nói đến cuộc thi chạy Marathon thì vị bộ trưởng nhớ ra là ông cố vấn có bà người Ba Tư và có thể coi bất cứ lời ám chỉ nào về cuộc thi Marathon là xúc phạm. Ngay lúc đấy, bộ trưởng lái chủ đề sang hướng khác.

- Theo hiến pháp mới thì phụ nữ có quyền bầu cử, có phải không ạ? - ông chợt hỏi.

- Quyền bầu cử á? Đàn bà á? - ông cố vấn kêu lên ngạc nhiên - Ông bộ trưởng thân mến, Cải cách đã lố bịch lắm rồi, đừng cố làm nó nhố nhăng thêm nữa. Đàn bà không có tâm hồn cũng chẳng có trí khôn, sao lại phải cho đàn bà quyền bầu cử cơ chứ?

- Tôi biết là nghe có vẻ lố bịch - ông bộ trưởng nói - nhưng đấy được coi là tư tưởng Tây học.

- Rồi đây các bà ấy sẽ thành ra lắm yêu sách cho mà xem. Sau cả đời cố gắng nghiêm trang, tôi không thể không cười trước cái đề xuất này. Sao, đám đàn bà đa phần chả biết đọc biết viết. Bầu bán thế nào bây giờ?

- Có thể ta sẽ chỉ tên ứng cử viên và chỗ để họ đánh dấu chữ thập...

- Báng bổ! - ông cố vấn ngắt lời.

- À, ý tôi là đánh dấu lưỡi liềm - ông bộ trưởng sửa lại và nói thêm - Đó sẽ là một thắng lợi của đảng Người Thổ Mới.

- Ồ, tốt thôi, cứ làm thế đi, rồi thành lũ l… - ông ngừng lại vì đang thốt ra những lời không sạch sẽ gì - … lạc đà. Tôi sẽ rao giảng về chuyện đàn bà được bầu cử.

***

Điểm bầu cử đặt ở một khu đất trong vùng Lakoumistan. Ứng cử viên của đảng Người Thổ Mới dẫn đầu với ba hay bốn trăm phiếu vượt hơn và anh đã bắt đầu thảo sẵn lời cảm ơn danh cho cử tri. Kết quả thắng lợi của anh gần như được dự đoán trước rồi, vì anh đã vận động tranh cử với guồng máy hệt như Tây. Anh thậm chí sử dụng cả ô tô. Một số người ủng hộ anh đi tới điểm bầu cử trên những chiếc xe này, và nhờ tay lái khéo của tài xế nhà anh, nhiều người không ủng hộ anh đã đi thẳng tới mộ hoặc bệnh viện địa phương, hoặc nơi nào đấy không có bầu biếc. Và sau đó, một điều gì không ai mong đợi đã xảy ra. Ứng cử viên đối lập, Ali Giáng Phúc, lên sàn với bầy vợ và một đám phụ nữ, dữ dằn chưa, sáu trăm người. Ali đã chẳng làm gì nên hồn khi vận động tranh cử nhưng nghe đâu những lá phiếu của phe đối lập cứ như muối bỏ bể vậy. Ứng cử viên Người Thổ Mới, theo lối Tây, chỉ có một vợ và chả có nhân tình nào, bất lực đứng nhìn số phiếu của đối thủ cứ phồng lên thành một chiến thắng áp đảo.

- Cristabel Columbus - anh kêu lên, lắp bắp viện đến cái tên người khai phá châu Mỹ - Ai mà ngờ được chứ!

- Lạ một cái là - Ali đăm chiêu - người hô hào nhiều nhất cho việc bỏ phiếu kín phải quan sát hòm phiếu kỹ nhất.

Và, trở về nhà với đám cử tri ủng hộ, ông ta lẩm bẩm dưới bộ râu, lẩy một lời thơ cổ:

- Than ôi trí dũng có thừa
Bởi nghe lời thiếp nên cơ sự này!
dao_hoa_daochu
11-09-07, 13:35
Đùa vậy, đại khái tâm lý của gái cũng chẳng có gì phức tạp, thích có cảm giác sướng. Không sướng kiểu này thì sướng kiểu khác (èo, nghe khiếppp).
Thực sự thì cứ lúc nào mà phải nói đến kiểu sướng của gái, anh toàn bị ứa nước mắt. Trong khi zai chúng anh thì thiên nhiên ưu đãi, thú vui nó đầy ra, thì gái lại bị quá đơn điệu. Phải công nhận là làm gái khổ thật. Mà bọn em làm được, anh phục.
Gaụp2
11-09-07, 13:52
One mới đến chơi đấy hả em?

F'rum dạo này ế ẩm quá, chả có hàng ngon đãi khách. Có thằng đào bành vè, hàng tuyển đấy, mời em xơi!
Una
11-09-07, 13:55
Đến bọn em còn phải tự khâm phục bọn em nữa là bác. Cơ mà em cũng chỉ cố nốt lần này đã trót thôi, chứ lần sau em vẫn muốn làm con trai, nếu thông minh anh tuấn có Macbook dùng nữa thì càng tốt, nhưng trước hết phải là con trai :-)
Bác One: Bác post truyện Nữ hầu tước đi, em cũng muốn đọc lại quá! Cám ơn bác nhiều nha :p

Mà bọn em làm được, anh phục.
one
11-09-07, 14:06
Bác Una, em ba chân bốn cẳng dịch xong post lên thì thấy mình lủng lẳng rồi, mất bản dịch và cũng mất hứng. Thôi để chiều tạnh mưa em qua nhà bạn bè gì đó tìm quyển Chekhov tiếng Việt mượn về gõ hầu bác.
Una
11-09-07, 14:14
Tiện thể bác check hộ em xem PHG dịch là Nữ hầu tước hay Nữ bá tước nhá! Tự nhiên em nghĩ điên cả đầu mà vẫn nhớ là Nữ hầu tước, khổ thế! Cám ơn bác lần nữa nha, bác vất vả quá, khi nào tiện thì làm thôi bác ạ, không gấp đâu!

Hic chuyện kia em rất tiếc bác ạ, em cố PM cho bác mà không được :(
dao_hoa_daochu
11-09-07, 14:23
Nhân thể, có Chekhov đấy rồi, có ai có Ivan Bunhin mà tiếng việt thì bốt cho em đọc với.
Gaụp2
11-09-07, 14:33
Anh có tiển tập chiện ngắn Vova ví Masha đấy, đào thích không anh bốt?
Gaụp2
11-09-07, 14:43
Trong giờ học môn Ruskee Iazk

-Thầy giáo quắc mắt: Ai?
-Lớp trưởng Vova nói ngay: Thưa thầy bạn Đào đánh rắm đấy ạ.
-Thầy: Hỗn! Vova đâu, lấy sổ ra cho nó 2 điểm.
-Vova: Thưa thầy, cho vào môn nào ạ?
Thầy giáo suy nghĩ hồi lâu rồi phán: -Cho vào môn ngoại ngữ.
-Vova: Thưa thầy cho vào mục nào ạ?
Thầy giáo còn đang ngắc ngứ thì Vova nói ngay:
-A, em nghĩ ra rồi. Mục kiểm tra miệng.