Phan Việt toàn tập

lifegoeson
15-10-05, 01:59
hôm nay tình cờ nghe lại bài này (http://www.legalray2003.com/music/TonyOrlandoAndDawn_Tie_A_Yellow_Ribbon.wav), thấy trong Long Tuyển không có (hay là em chưa tìm ra ???) . Thôi thì post lại những bài của chị PhanViet. Nếu có rồi thì delete giùm em

------------------------------
Hãy buộc một dải ruy băng vàng lên cây sồi
Phan Việt

(Các nhân vật trong truyện này hoàn toàn hư cấu. Nếu có bất kỳ sự trùng lặp nào với người thật, việc thật thì chỉ là ngẫu nhiên...hì hì...tác zả vô can)

Đêm trước hôm rời Hà Nội sang Mỹ học, cô không sao ngủ được. Bố mẹ giục cô đi ngủ sớm để giữ sức khoẻ cho chuyến bay dài vượt đại dương sang bên kia bán cầu. Cô tắt điện để chiều lòng bố mẹ, tắt cả cái đèn ngủ nhỏ mà hàng đêm cô vẫn giữ sáng; rồi nằm trong bóng tối nghe nhạc từ một cái cassette cũ. Có hai bài hát cô mở đi mở lại trong một băng nhạc Folk - Country của Mỹ. Một là bài I am leaving on a jet plane của John Denver; một là bài Tie a yellow ribbon round the ole oak trê do Tony Orlando hát. Bài thứ nhất làm cô nghĩ đến phim Amageddon, một phim khá hiện đại, nên cô không thích lắm. Bài thứ hai làm cho cô thấy đau thắt trong lòng. Lời của nó thế này:

Em yêu ơi, hãy buộc một dải ruy băng vàng lên cây sồi già duy nhất
Cây sồi đã ở đó lâu rồi. Còn em có yêu anh nữa không?
Nếu không có dải ruy băng ấy, anh sẽ tiếp tục đi và sẽ cố quên những gì chúng ta đã có vì anh là người có lỗi
Em yêu ơi, anh sẽ đi nếu không nhìn thấy dải ruy băng vàng.
Bác tài ơi, làm ơn nhìn hộ tôi
Vì tôi không có can đảm nhìn cây sồi già duy nhất ấy
Tôi là một kẻ tội nhân, và chỉ có tình yêu của cô ấy mới đem đến tha thứ
Và cô ấy sẽ tha thứ nếu cô ấy buộc lên cây sồi già một dải ruy băng”

Cô đã nghe câu chuyện này nhiều lần rồi. Câu chuyện có thật và xảy ra vào năm 1972 ở một miền nào đó của nước Mỹ - nơi mà cô sắp đến. Chuyện kể về một người con trai phải đi tù ba năm vì phạm tội. Anh viết thư cho vợ và nhắn cô ấy nếu còn yêu và tha thứ cho anh thì hãy buộc lên cây sồi già duy nhất trong quảng trường của thị trấn họ sống một dải ruy băng vàng vào ngày anh sẽ mãn hạn tù. Nếu anh đi xe đò qua mà không thấy có dải ruy băng vàng đó, anh sẽ rời thị trấn và bỏ đi biệt tích, không quay lại làm rầy cô nữa.

Chuyện cũng kể rằng ngưòi con trai này đã khóc nữc nở khi anh nhìn thấy hàng trăm dải ruy băng vàng được buộc quanh cây sồi già trong quảng trường thị trấn vào buổi chiều hôm anh trở về nhà.

Năm 1972, đĩa nhạc này của Tony Orlando trở thành đĩa bán chạy nhất. Tháng 12 năm đó, nước Mỹ - trong một nỗ lực cuối cùng của những kẻ sắp bại trận - đã ném bom tàn phá Hà Nội vào chính những ngày Giáng Sinh. Những ngưòi mẹ, người chị Mỹ phản chiến cho chiến tranh Việt Nam bắt đầu đeo một dải ruy băng vàng trên ngực áo với thông điệp: hãy đưa những người lính trở về nhà. Năm 1991, cuộc chiến ở Iraq một lần nữa làm thay đổi ý nghĩa của dải băng vàng. Nhưng lúc nào nó cũng vẫn là niềm tin, tình yêu và tha thứ.

Cô nằm nghe bài hát rất nhiều lần, rồi ngủ quên lúc nào không biết. Buổi trưa hôm sau ở sân bay Nội Bài, cô cười rất tươi, ôm hôn bạn bè, các chị em gái rồi vội vàng đi vào phòng cách ly. Hai tiếng sau, ở sân bay Hồng Kông, cô ngồi một mình trên ghế dài mặc cho nước mắt chảy xuống.

***
Có một người nhất định không đi tiễn cô vào ngày cô đi. Người này về sau cũng không giải thích lý do và cũng không kể anh đã làm gì vào ngày đó. Thực ra, một lời giải thích là không cần thiết. Cả anh và cô đều hiểu.

Chính người này đã hẹn gặp cô vào buổi tối trước buổi tối cô nằm không ngủ. Cô và anh đi luăng quăng qua các con phố, chẳng ai nói câu gì. Đến bây giờ cô vãn còn nhớ cảm giác đó - cảm giác ở rất gần với anh mà chẳng thể nào nói được điều gì. Mà biết nói gì? Cô đoán anh cũng ngổn ngang như cô. Hai người cứ đi. Anh đưa cô qua tất cả những con phố họ vẫn thường qua; cả những con đường dài vắng vẻ trên Hồ Tây - lúc chiều tà vẫn hay gợi nhớ đến Chiều ở Autengeui của Monet, cả những khu phố cổ náo nhiệt - chợ Hàng Da, phố Hàng Điếu, Lý Quốc Sư, Đinh Tiên Hoàng, Hàng Bông và Hàng Đào. Họ ngồi uống nước mía ở ngay đầu phố Hàng Điếu, chỗ ngã năm chợ. Đấy là lần duy nhất trong cả buổi tối, cô nhìn thoáng vào mặt anh. Bình thản và điềm đạm. Khi đưa cô về ngõ, anh cười, cũng không nhìn vào mặt cô, và nói: “Nhớ giữ gìn sức khoẻ, có gì thì viết thư về nhé”.

Chính người này, mùa hè trước đó vẫn hay chơi Passion Blue trên chiếc piano cũ của Nga mỗi khi cô ghé qua nhà. Anh cũng đưa cô đến những lớp học vẽ người xem anh vẽ. Cô đã ngồi hàng giờ trong căn phòng chật chội trên gác hai của một ông hoạ sỹ già, xem anh và các bạn đo và vẽ bằng than chì. Anh là người duy nhất trong lớp được phép vẽ sơn dầu. Hai bàn tay anh gầy có những ngón dài và xương, nắn nót đưa những nét cọ trên tấm toan trắng. Lúc nào cũng bình thản và điềm đạm như thế.

Cũng chính người này đã đi dạo với cô những tối Sapa mù sương khi bạn bè mải chơi bài hay trêu nhau. Anh mua ngô nướng và kem; đi đến khi mỏi chân thì về.

Trong ba năm quen biết, anh và cô chưa bao giờ cần nói với nhau về tình cảm của mình. Đến tận ngày cô đi cũng thế. Họ cũng chưa bao giờ cầm tay; chưa bao giờ gần gũi. Thậm chí họ cũng không có cả ý nghĩ đó. Nhưng cảm giác thì thật rõ ràng: rằng người kia luôn ở gần khi ta cần. Cả hai đều biết là có quá nhiều thời gian và việc phải làm ở phía trước.

***
Có thật là có nhiều thời gian không?

Lúc ngồi ở sân bay Hồng Kông để kệ cho nước mắt chảy, em có cảm giác như là trách móc. Trách điều gì thì em cũng không hiểu. Chỉ cảm thấy có một chút trống vắng và cảm thấy rõ ràng có cái gì đó đã ra có thể tốt hơn, chắc chắn hơn. Lần này em đi, nhanh thì 3 năm, mà lâu thì chưa biết đến bao giờ sẽ về. Một cái gì đó níu chắc chắn có lẽ là một cái em cần lúc đó. Thế mà em chỉ cảm thấy đi là đi.

Nước mắt chảy một lúc thì em bắt đầu bình tĩnh lại và lôi túi sách ra lục lọi xem bạn bè với bố mẹ còn cố nhét thêm gì lúc sáng nay. Em thấy có một cái gói giấy nho nhỏ, vặn thành hình cái kẹo to, không biết của ai bỏ vào túi. Mở ra thì thấy bên trong là một cái túi nhỏ xíu bằng vải nhung đỏ rực, có dây thắt miệng màu vàng rực giống như túi của các bà già. Bên trong túi có một cái vòng bạc đeo cổ rất đẹp. Cái vòng bạc này - người mà em kể là không đi tiễn em đã đeo nó không biết từ bao giờ rồi. Em không biết ai đã bỏ nó vào túi em sáng nay.

***
“Dear G,” - anh viết, lúc nào cũng bằng tiếng Anh, chắc viết từ văn phòng.
"Are you doing fine over there? It is almost autumn here, beautiful as always. What a shame I don’t have time to enjoy it. The reason is already known: too much work. Are you doing okie, G?”

Lúc nào anh cũng vẫn thế: are you doing fine? Cô có doing fine không ư? Có và không. Làm thế nào để giải thích cho anh hiểu khi mà anh không có cùng tham chiếu về nước Mỹ này? Làm thế nào để anh biết về những mệt nhọc của cuộc sống mới xa xôi, những lo toan hàng ngày; những niềm vui không có người nào xung quanh thực tâm hiểu được; những câu đùa mà những người không chung ngôn ngữ với cô chỉ có thể tán thưởng mà không bắt hết ý. Làm thế nào để cho anh hiểu được những giây phút lo thắt ruột khi một mình lo toan mọi thứ; những lúc nghe một giọng ca nữ hát “Tôi mong về Hà Nội để thương áo len cài vội một chiều đông rét mướt” mà thấy xúc động sâu tận đáy lòng; những lúc đêm muốn gọi điện hay nói chuyện về nhà mà cứ phải nói nhỏ vì các bạn cùng phòng đang ngủ;rồi những khi vui như điên vì những thành tích, những tiến bộ mới, những người bạn mới mà không thể kể cho anh vì không muốn phải dài dòng kể hết về người này người nọ.

“Dear M,” - cô ấn vào nút reply:
“ I am doing perfectly fine here. Yeah, what a shame you don’t find time to enjoy beautiful days in Hanoi. The reason is indeed known and confirmed silly. Are you doing okie too, M?”

***
Em đeo cái vòng cổ bằng bạc đó từ ngày sang Mỹ. Không biết sẽ đeo đến bao giờ. Em vẫn doing fine in almost every way, except one. Cái này thì có lẽ em sẽ phải doing my way thôi.

***
Cuộc chiến mới ở Apghanistan làm cho cả nước Mỹ nơi cô đang sống như lên cơn sốt. Khắp nơi, cô gặp những người Mỹ đeo những dải ruy băng có ba màu trắng, xanh và đỏ như màu cờ Mỹ. Cô cũng dán một dải ruy băng vàng lên trước máy vi tính trong phòng riêng. Các bạn cùng nhà tò mò hỏi, cô chỉ cười và dài giọng hát vui vui:

Em yêu ơi, hãy buộc một dải ruy băng vàng lên cây sồi già duy nhất
Cây sồi đã ở đó lâu rồi. Còn em có yêu anh nữa không?
Nếu không có dải ruy băng ấy, anh sẽ tiếp tục đi và sẽ cố quên những gì chúng ta đã có vì anh là người có lỗi
Em yêu ơi, anh sẽ đi nếu không nhìn thấy dải ruy băng vàng

PV
lifegoeson
15-10-05, 02:05
Khi người ta trẻ...
Phan Việt

...thì niềm vui buổi sáng ngày thứ Tư đã khác niềm vui buổi tối ngày thứ Ba rồi. Tối hôm qua tôi muốn nhảy cẫng lên sung sướng khi ngồi xem buổi hoà nhạc Come together tưởng niệm John Lennon để lấy tiền ủng hộ các nạn nhân của vụ khủng bố hồi tháng 9 ở New York. Buổi sáng nay tôi ngồi vui âm ỷ vì sẽ không phải đến lớp cả ngày, sẽ ở nhà xem sách, xem phim, chơi Nintendo và ăn uống đàng hoàng.

Hôm qua người ta lật lại những gì John đã imagine về một thế giới mà ở đó “There is no countries. No hell below us. Above is only sky” Và John nói rằng“You may say I am a dreamer” Tôi ngồi ở phòng khách nghe những tiếng Piano thánh thót, và nhìn Yoko đi mở dần từng khuôn cưả rộng cho ánh sáng ùa vào phòng. Có một cảm giác rất sung sướng reo vui bên trong làm tôi muốn nhảy cẫng lên, và thấy nghẹn thở vì những thứ đẹp như thế.

Lý thuyết Dramatism của Burke, một học giả trụ cột của mảng khoa học xã hội, nói rằng cuộc sống không phải giống như một vở kịch mà cuộc sống chính là một vở kịch. Khái niệm cơ bản nhất trong lý thuyết của Burke là khái niệm guilt, nhưng guilt được hiểu rất rộng, chứ không đơn thuần là cảm giác xấu hổ, tội lỗi khi làm việc gì sai. Guilt có thể là cảm giác về bất kỳ việc gì, ngay cả niềm sung sướng con nít của tôi lúc ngồi xem John cũng thường trực cái guilt. Guilt có liên quan chặt chẽ với một khái niệm khác - sự hoàn hảo (perfection). Chúng ta có guilt vì chúng ta luôn muốn hướng tới sự hoàn hảo. Giống như khi tôi ngồi nghe In my life, Imagine, Revolution, Dear Prudence, Across the universe của John, tôi thấy mình nhỏ bé đi và tầm thường đi biết bao. Tôi cũng thấy gần với John biết bao.

Thế thì thế giới này là một vở kịch bởi vì người ta luôn phải tìm cách chạy trốn guilt. Để làm thế người ta có hai cách: hoặc là tự nhận lỗi về mình (I am sorry, I am wrong) hoặc tìm cách đổ lỗi cho người khác (I do it because I care for you...blah blah blah). Đổ lỗi cho người khác bao giờ cũng dễ hơn và nhẹ nhõm hơn. Thế nên cái sự sống của chúng ta là một hành trình liên tục đi tìm một ai đó để đổ lỗi, để trút cái guilt ra. Nó là hành trình đi tìm một kẻ tội đồ hoàn hảo. Như thế chẳng phải là một vở kịch sao?

Tôi chẳng bao giờ có nhiều tiền cả. Tôi chẳng bao giờ có nhiều đủ để làm bất cứ cái gì mình muốn. Nhưng tôi cũng chưa bao giờ túng thiếu; lúc nào cũng chỉ có vừa đủ để làm những việc chân chính mà mình muốn thôi. Tôi nghiệm ra nếu bỗng nhiên lúc nào đó tôi có nhiều tiền khác thường, thể nào cũng sẽ nảy sinh một việc gì đó đột xuất khiến tối phải tiêu cái chỗ tiền nhiều bất thường đó. Tôi chẳng bao giờ phiền lòng, chẳng bao giờ bận tâm cả. Của thiên trả địa. Tôi vốn chẳng sở hữu cái gì trong đời sống này ngoại trừ cái tinh thần và cái năng lực làm việc tốt mà tôi sẽ sử dụng trong 80 năm tới. Còn những thứ khác - cuộc sống chỉ đang mượn tay tôi mà sắp xếp kế hoạc của nó thôi. Cuộc sống chỉ muợn tay tôi đóng một vai thủ quỹ tạm thời mà thôi.

Ừ, tôi chẳng bao giờ có nhiều tiền cả..đi học cũng là nhờ học bổng, đi làm thì hưởng lương vừa đủ để di dưỡng cái tinh thần mà tôi sở hữu này thôi. Nhưng thế là cuộc sống đã độ lượng lắm rồi và tôi luôn thấy biết ơn. John có chỗ của John. Cái tinh thần của John lớn và John phải vào vai một người của muôn người, phải quyên tiền từ nhiều người khác để cho những người khác nữa. John là một thủ quỹ lớn. Tôi thì có một cái tinh thần nhỏ thôi; thế nên tôi phát tán cái tinh thần của tôi theo cách nhỏ thôi và tôi chỉ là một người thủ quỹ nhỏ. Nhưng thế cũng là tốt lắm rồi. John, tinyhuong, hay tất cả những Richard Gere, Yoko, Eric Clapton, Kevin Spacey, Analys Morisette đang ngồi trong phòng hoà nhạc tưởng niệm John đều như nhau cả. Tất cả đều có gì sở hữu đâu ngoài cái tinh thần của mình. Những thứ khác đều chỉ là các vai mà cuộc sống giao cho..đều là vai tạm, là một bàn tay trong một bức tranh lớn.

Sáng nay tôi treo lên tường bức tranh “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” mà một người bạn mới gửi cho tôi. Bạn đang giúp tôi một tay để giữ cái tinh thần của tôi đấy; thế cũng như là bạn đã trả lương để tôi làm người tốt rồi. Chỉ có điều tiền lương là tấm lòng, là sự yêu thương của bạn thôi. Người ta giằng giữ, níu kéo nhau và bị buộc vào nhau trong cuộc sống bằng nhiều mối dây lắm; đâu phải chỉ bằng những gì hữu hình, đo đếm được. Bạn tôi cũng là một vai trong cuộc sống của tôi; như tôi là một vai trong cuộc sống của bạn.

Bây giờ tôi không muốn ngảy cẫng lên như tối hôm qua khi xem John; nhưng tôi vui âm ỷ vì John cũng là một vai trong cuộc sống của tôi. Âm nhạc của John nâng đỡ tôi nhiều. Mà như thế thì trong cuộc sống của tôi, tôi là diễn viên chính, John chỉ là diễn viên phụ. Còn trong cuộc sống của John, tôi chỉ là diễn viên quần chúng. Và người bạn “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” có lẽ sẽ thay thế chỗ của John trong cuộc sống mà tôi giữ, để tôi làm hết vai mà cuộc sống giao cho. Sáng nay tôi vui âm ỷ không vì âm nhạc, mà vì tôi có nhiều diẽn viên phụ thật là tốt. Cuộc sống là một vở kịch dài, hoàn hảo, sống động và thật làm sao...

Ngày mai dĩ nhiên sẽ là một niềm vui khác rồi. Ngày mai sẽ có ai đến thêm nữa trong cuộc sống của tôi?
===========
Chú thích: đoạn chữ đỏ chính là đoạn bị các anh chị lớn mắng là cao ngạo

PV
lifegoeson
15-10-05, 02:07
Thợ may và người gieo hạt...
PhanViet

Sáng thứ Ba, trong giờ Mass Comm, Giáo sư của tôi chiếu một phim tài liệu có nhan đề Cool Hunting. Phim này kể về việc giới media đi săn tìm những gì mà giới trẻ, nhất là tầm tuổi trung học và chớm Đại học, cho là cool rồi lăng xê nó lên các phương tiện thông tin để thu hút chính những em nhỏ này. Lấy một ví dụ rất nhỏ và thô thiển là việc săm các hình trên cơ thể chẳng hạn. Giới báo chí, truyền thông sẽ lăng xê hình ảnh các siêu sao tí hon, các người mẫu có săm hình hoặc đơn giản là cảnh những học sinh trung học có những hình săm toàn thân thật đẹp. Mục đích của họ là làm cho những khán giả nhỏ tuổi sau khi xem sẽ nói “it’s cool. Let’s do it”. Bằng cách đó bọn trẻ bắt chước, rồi tự phá vỡ các hình ảnh cool cũ để tạo ra hình ảnh cool hơn; giới media lại lăng xê những trào lưu mới này, rồi bọn trẻ lại bắt chước...vv...cái vòng luẩn quẩn cứ như thế...

Mở rộng ra, cả bạo lực, nổi loạn, dục vọng, các tham vọng, các quy tắc xã hội, các luật lệ, các chuẩn đánh giá con người, cả các định kiến và stereotype cũng đi kèm trong cái vòng luẩn quẩn đó. Và cả tình yêu thương, đức hạnh, sự dũng cảm, lòng tốt, tình yêu cuộc sống...cũng ở trong cái vòng đó luôn. Nói một cách ngắn gọn, nó là việc bán hình ảnh tương lai của bọn trẻ cho chính chúng. Nó cũng giống như là may áo sẵn cho bọn trẻ, bảo rằng “đẹp lắm, mặc đi” và đại đa số bọn trẻ sẽ chui đầu vào không ngần ngại. Cứ tầng tầng lớp lớp áo như thế - cái vòng quay xã hội hoá khiến một đứa trẻ thành một người lớn đã bắt đầu vô thức như thế. Đến một lúc nào đó, có quá nhiều áo mặc, đứa trẻ sẽ chật cứng và chẳng còn cử động nổi nữa...Nhưng đứng về một góc độ nào đó, cái quá trình xã hội hoá con ngừời này cũng giống như là gieo hạt...

Có bao giờ bạn nhìn vào một người nào đó và tưởng tượng xem khi còn nhỏ, rồi còn trẻ, người đó như thế nào? Có bao giờ bạn tự hỏi trước khi bị xã hội hoá đi, người đó vốn như thế nào? Có những người làm cho ta có cảm giác rằng họ sinh ra đã luôn luôn 40 hoặc 50 như thế rồi...không thể tưởng tượng được họ cũng đã có lúc nhỏ và trẻ.

Cool hunting và những khuôn mặt người có liên quan gì với nhau không? Tôi cho là có.

Nếu như chúng ta nghĩ về mỗi con người như là một công cụ, một mắt xích để phát tán thông tin, quan điểm, tình cảm trong cái mạng lưới giao tiếp khổng lồ của xã hội thì mỗi một người trong chúng ta rất có thể chọn một trong hai hoặc cả hai vai trò: thợ may và người gieo hạt.

Tôi có học một lý thuyết (lại lý thuyết!) là lý thuyết two-step flow. Một cách vắn tắt lý thuyết này nói rằng giao tiếp của con người đi qua hai bước. Bước thứ nhất là từ những người phát minh ra ý tưởng xuống đến những người được gọi là opinion leader, tức là những người có khả năng gây ảnh hưởng khi phát biếu ý kiến về một chuyện gì đó. Bước thứ hai là từ những opinion leader này xuống tới đông đảo quần chúng. Opinion leader có thể là các chuyên gia, có thể là bất cứ ai. Khi tôi hỏi một ai đó thông thạo máy tính về việc chọn mua một máy tính mới, người đó là opinion leader của tôi. Khi người ta hỏi tôi về du học ở Mỹ chẳng hạn, tôi sẽ là opinion leader của người đó. Như thế, đứng về lý thuyết, mỗi một người trong chúng ta, dù là khiếm khuyết ở mức độ nào, đều có tiềm tàng cái khả năng làm opinion leader về một mặt nào đó. Mỗi người chúng ta đều tiềm tàng và bắt buộc phải là thợ may hay người gieo hạt hay cả hai như trên.

Vậy thì vấn đề còn lại chỉ là: bạn muốn làm thợ may và người gieo hạt như thế nào đây? Bạn muốn một vụ mùa tốt hay một vụ mùa xấu?

Bạn muốn nhìn một ngưòi và biết người ta đã có một tuổi thơ hay bạn muốn hoang mang không biết trước khi làm người lớn, người đó đã như thế nào?

Khi gặp một lòng tốt, mới thấy ấm áp làm sao...Khi phát tán lòng tốt, cuộc sống mới tốt đẹp làm sao...Có thể chưa phải hôm nay hay ngày mai nhưng mà ít nhất there is hope for tomorow...

PV
lifegoeson
15-10-05, 02:17
Tôi mong về Hà Nội...
PhanViet

Thỉnh thoảng có những ngày không buồn nhưng lại rất chống chếnh, rõ ràng là vui mà tự nhiên mắt cười cũng đau đáu một niềm mong. Tôi biết là mình lại nhớ nhà...

Biết nói gì về Hà Nội bây giờ. Đấy chẳng phải đất tôi đã sinh ra, quê cha ở Bắc Ninh, quê mẹ ở Hải Dương, lẽ nào tôi chỉ đang nhớ giùm ngưòi khác? Cũng có thể là thế thật. Thì nhớ giùm cho bạn bè, cho bố mẹ và anh chị em giờ đang sống ở đó, cho người già em bé, cho những người đã đi qua đời tôi và để lại dấu ấn nhiều đến mức không thể tin rằng trong một cuộc sống mình có thể được yêu thuong và cho nhiều đến thế...Nhớ cho những ai nữa nhỉ?

Ở Hà Nội, tôi có một người bạn thân. Bạn tôi sống ở một khu chung cư, nhà nằm ở tầng một, bên ngoài có một khóm hoa giấy toả bóng, có treo lủng lẳng những cái bình gốm trồng dương xỉ xanh và hoa lan tím, có một cái vòi phun nước nhân tạo ở trên để tạo nên những đám rong rêu xanh trên nền tường. Tôi gọi đấy là tỉểu vườn treo Babilon. Phòng của bạn có một khuôn cửa sổ rộng kiểu Pháp, thấp xuống gần sát mặt đất, trông ngay ra cái vườn treo Babilon đó. Những chiều đi về mệt mỏi, những lúc vui hớn hở, những khi muốn ra ngoài với cuộc sống mà không có một cái đích cụ thể, tôi lại tạt vào nhà bạn, tự nhiên như ghé về nhà một người thân. Chiều mát rượi và thong thả. Tôi ngồi ở cái bậu cửa sổ kiểu Pháp ấy, quay lưng vào trong nhà, mặt hướng ra ngoài xem những cái lá dương xỉ xanh đu đưa. Bạn tôi ngồi trong nhà, ở góc có cái đàn dưong cầm cũ của Nga màu thẫm như nhung đỏ, trên phủ một miếng thổ cẩm. Tôi sẽ nói “Passion Blue” mà không quay đầu lại. Chừng 30 giây sau, tiếng đàn bắt đầu cất lên. Tiếng đàn nhẹ và mơ màng như chính buổi chiều này. Những cái lá dương xỉ xanh đu đưa, hoa lan tím cũng đung đưa...Rồi đến một lúc nào đó, tôi sẽ nhận ra là tiếng đàn đã dứt. Tôi biết bạn đang nhìn tôi, tôi có thể cảm thấy được điều đó. Cảm giác đó thật lạ lùng. Tôi sẽ mỉm cười và nói “đi chứ” mà cũng không cần quay đầu lại. “ừ, đi”. Và chúng tôi sẽ đi, không cần biết sẽ đến đâu và sẽ dừng ở con phố nào...

Thì thôi, tôi chỉ đang nhớ giùm cho tương lai, ơi Hà Nội...

PV
lifegoeson
15-10-05, 02:18
Gõ cửa thiên đường...
PhanViet

Chuông điện thoại đổ lúc 6h sáng. Chị gái tôi cầm máy và được thông báo rằng một người bạn học cũ vừa bị tai nạn rất nặng, khó mà qua khỏi. Chị tôi vội vã vào bệnh viện. Hồi cấp 2, chị tôi và anh ấy rất thân nhau. Tôi nhớ anh ấy thỉnh thoảng đến nhà ăn tối với gia đình - một người con trai rất hiền, ít nói và rất giỏi.

8 giờ sáng. Tôi ngồi xem một bộ phim Canada có tên Thợ săn ảnh. Nhân vật chính trong phim - một anh thợ săn ảnh - bắt được cảnh vợ của thủ tướng đang tra tấn một cậu bé. Thực ra người phụ nữ đó chỉ là một phụ nữ do đảng đối lập của vị thủ tướng dựng lên nhằm bôi nhọ danh dự ông. Người phụ nữ đóng thế về sau bị gây mê và bỏ vào lò hoả thiêu để thiêu sống nhằm xoá tung tích. Này, người ta có thể đối xử với đồng loại của mình như thế không nhỉ?

Thì nhìn xem, thế giới của chúng ta đang tranh cãi rất hăng say với nhau về việc duy trì hay bãi bỏ án tử hình. Có thể chúng ta có quyền phán xét và định đoạn tư cách thành viên xã hội của một công dân nào đó, nhưng tôi tin rằng chúng ta không có quyền phán xét và chủ động chấm dứt sự tồn tại vật chất, sự sống của một con người. Này, chúng ta có cái quyền đó không nhỉ?

Suốt mấy ngày hôm nay tôi chăm chú theo dõi Yahoo đăng tải những bức thư của một em nhỏ ở Serbi gửi cho một cậu bé Mỹ khi quân đồng minh của NATO dội bom xuống Kosovo. Em gái đó nói rằng cái cảm giác không biết mình sẽ sống hay chết trong những giây sắp tới, không biết trong khoảnh khắc tới đây có trái bom nào dội trúng nhà mình không là một cảm giác không thể quên được.

Và này, tôi được biết rằng nước Mỹ vừa mới khởi tố một bác sỹ vì tội giúp đỡ cho các bệnh nhân mắc các bệnh nan y được chết. Lại cũng chính ở nước Mỹ, người ta đang tranh cãi nhau rất nhiều về quyền phá thai của phụ nữ...Nền dân chủ cho phép người phụ nữ có quyền quyết định sinh con hoặc không sinh con theo ý muốn. Nhưng còn đạo đức con người và cái gọi là văn minh chắc không ủng hộ việc người ta kết thúc sinh mạng của một bào thai.

Có cái gì đó không ổn trong những tranh cãi này. Có điều tôi không đủ trí khôn để tìm ra. Chỉ biết rằng chúng ta có thể có 2 cách đối lập nhau để biện hộ cho cùng một vấn đề, mà cả hai cách đều nghe rất logic. Như cái chìa khoá xe trong tay tôi đây. Tôi có thể chứng minh nó là của tôi hoặc không phải của tôi. Này, có sự thật tồn tại ở ngoài kia như một thực thể hữu hình và khách quan không nhỉ?

9 giờ sáng. Tôi ngồi nghe Queen hát. Bây giờ đang là bài Barcelona - và cái giọng khoẻ khoắn đó là của Freddie Mercury, một tài năng âm nhạc đã ra đi vì AIDS. Cách đây vài ngày, một em gái đã điện đến chương trình MTV theo yêu cầu để yêu cầu được nghe bài hát này. Cách đây không lâu em gái đó phải phẫu thuật và đã bị nhiễm HIV/AIDS do máu khô mà em được truyền bị nhiễm khuẩn. Sự cẩu thả của một số người đã làm cho em phải trả giá bằng cả sinh mạng. Này, ai là người có đủ tư cách để giải thích thoả đáng cho em về ranh giới và ý nghĩa của sự sống và cái chết nhỉ?

9.30 sáng. Chuông điện thoại đổ và tôi nhấc máy. ở đầu giây bên kia là giọng nói đầy nước mắt của chị tôi. Tôi biết anh ấy đã đi. Vừa mới sáng hôm qua, anh ấy bảo vệ luận án tốt nghiệp Đại học. Vừa mới hôm qua thôi, anh ấy được coi là đã trở thành một người độc lập và trưởng thành thực thụ.

Chị tôi nói mẹ tôi vào bệnh viện để lo các thủ tục cho gia đình anh ấy nhận anh ấy về vì bố mẹ anh ấy quá đau khổ, không còn đủ tỉnh táo để làm việc gì. Tôi chở mẹ tôi vào viện; trên đường đi cứ tự băn khoăn không biết chết thì như thế nào nhỉ? Tôi đang tập thiền và không hiểu sao, tôi cứ đinh ninh rằng khi con người ta ở trên ranh giới giữa sự sống và cái chết về thể chất, nếu tinh thần người ta kiên quyết không chết thì người ta sẽ không chết. Thử tưởng tượng xem: chỉ trong một phần triệu giây nào đó, một cuộc sống có thể ra đi, một con người rời bỏ đời sống náo nhiệt này mà đi đến đâu đó...

Tôi đứng trong hành lang bệnh viện St.Paul và nghe mẹ anh ấy khóc không thành tiếng. Những người bác sỹ và y tá đi qua đi lại với vẻ mặt lạnh lùng và bình thảnh như không. Có lẽ họ đã quen với cái chết rồi. Này, người ta có thể quen được với cái chết không nhỉ?

Chị hàng xóm của tôi mới sinh em bé. Em mới có 2 tháng tuổi. Những ngón tay em nhỏ xíu, mũi nhỏ xíu, mắt và miệng cũng nhỏ xíu - chúng là những thông điệp thật giản dị mà hùng hồn về cuộc sống này - cuộc sống tràn đầy và đáng quý. Phải mất hơn 20 năm nữa thì em bé ấy mới trở thành một người độc lập và trưởng thành như bạn của chị tôi...

Này, sống và chết - có lẽ nào đấy chỉ là vấn đề về thời gian? Cõ lẽ nào chúng chỉ là 2 mặt của một đồng xu. Và có lẽ nào tôi có thể gọi "Sấp hay ngửa?" Này, sấp hay ngửa?

I am knock, knock, knock'in on Heaven's Door...

PV
lifegoeson
15-10-05, 02:19
From me to you...
PhanViet

Nhiều khi quan sát bạn bè xung quanh và những người lớn tuổi hơn cũng như những người nhỏ tuổi hơn sống, tôi ngậm ngùi mà kết luận rằng tất cả chúng ta đều đáng thương và hình như cái động cơ cuối cùng đẩy thế giới này quay, cái xoáy duy nhất khiến chúng ta làm những gì chúng ta đang làm chính là sự cô đơn (hiểu theo nghĩa rộng). Ta cô đơn lúc ở một mình, ta cô đơn ngay cả khi đứng giữa đám đông bạn bè; ngay cả khi ta cười rất tươi, vui cực điểm thì hình như vẫn có sự cô đơn hiện hữu như cái nam châm ở phía xa - nó kéo ta gắng níu thêm khoảnh khắc vui vẻ này và cố hoàn thiện mình để được ở cùng đồng loại, để không bị ruồng bỏ. Nếu bạn tin vào Kinh Thánh thì lập luận này có thể được hỗ trợ bằng ngay những gì xảy ra trong chương đầu tiên - Sáng Thế Ký - của Kinh Cựu Ước. Khi Adam phạm tội và bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, hình phạt của Adam là xa rời Chúa - sự bắt đầu của nỗi cô đơn thuộc về bản thể. Và nếu bạn tin rằng chúng ta đều là con cháu của Adam và Eva sau khi hai người bị đuổi khỏi vườn địa đàng, bạn sẽ hiểu vì sao chúng ta quay cuồng tìm cách lấp những lỗ hổng tâm hồn.

Sẽ có người cho tôi là "sến" khi viết những dòng trên. Cũng như sẽ có người cho tôi là dư nước mắt đau buồn cho George Harrison(thành viên Beatles mới ra đi) - một người hoàn toàn xa lạ. Nhưng George và sự cô đơn mà tôi nói ở trên có liên hệ chặt với nhau lắm. Quay lại một chút với Kinh Thánh: Khi đuổi Adam khỏi vườn địa đàng chịu hình phạt, Chúa vẫn mở cho Adam một con đường chuộc lại tội lỗi: đức tin. Và khi đó, cái chết thực ra là một tặng phẩm của Chúa cho con ngườì vì sau khi chết những linh hồn Cơ đốc sẽ lên thiên đường, đoàn tụ với Chúa - chấm dứt cái nỗi cô đơn dài và không thể tránh khỏi trong chặng đường dài trên dương thế. Đấy là Kinh Thánh nói thế.

Tôi bắt đầu nghe Beatles lúc tôi học lớp 8, 9 gì đó nhưng chỉ thật sự bắt đầu nghe khi tôi vào cấp III. Trí óc con trẻ lúc đó còn nhiều mơ ước - mơ được đi khắp thế giới, được đến săn sư tử ở châu Phi, được đứng trên đỉnh Tây Tạng hét vang, được đến sống với những chị phụ nữ da đen ở châu Phi hay Nam Mỹ giống như trong Túp lều bác Tôm, được biết đến đồng hoang nước Anh của Đồi gió hú, biết đến những trang viên đầy hoa ở Pháp trong thơ của Hugo, vv...và vv...Lúc đó thì mơ hồ cảm thấy rằng nhạc của Beatles gần và giản dị như cuộc sống, nó ngăn ngắn, vui vui, nó reo lên và thì thầm kể chuyện. Lúc đó mới chỉ võ vẽ một hai chữ tiếng Anh nên đoán bừa lời, nghe bập bõm một số từ rồi tự bịa ra ý tưởng bài hát theo ý mình.

Lần đầu nghe Here comes the Sun, có đoạn "Little darling, I feel like ice is slowly melting. Here comes the Sun. And I say it is alright" tôi cứ nghĩ là có hai người bạn chơi với nhau từ lúc bé tí, rồi một bạn bảo với bạn kia là tuyết tan rồi, trời lại ấm, giống như là nghe "Này mùa xuân ơi, đến mau đây, để cho thêm xanh lá cây rừng". Lúc đó hay tự nghĩ như thế - cảm nhận của trẻ con - mỗi một sự tự phiên dịch và đặt lời thực ra đều là một câu chuyện tự mình kể cho mình, tự mình xây dựng nên cho mình. Có điều là khi xây dựng những câu chuyện như thế, nhờ có âm nhạc nên ta thường chỉ nhớ những gì tốt đẹp, những gì ăn rất sâu vào tâm hồn, những thứ làm nền cho cả tư tưởng và nhân cách sống của ta. Beatles sống với tôi theo kiểu như thế.

Sau này tôi nghe lại Here comes the Sun nhiều lần lắm. Mỗi lần một khác. Nhưng có hai trạng thái cơ bản nhất: lúc còn một mình, cảm thấy ta là tất cả nhưng cũng vẫn biết rằng ta còn có thể và sẽ chia sẻ cuộc sống của ta với một ai đó; và lúc đã thấy người đó. Hai trạng thái nghe rất khác nhau - trạng thái đầu tiên là tự nói với mình, tự nhóm lửa cho mình và chia cho mọi người xung quanh để cùng nhau ấm, còn trạng thái thứ hai là trạng thái thấy niềm vui trong mọi thứ bên ngoài và bên trong, vui rộn ràng cả lên, không còn phải gắng an ủi mình nữa. Nhưng dù ở trạng thái nào, câu chuyện cũng vẫn quay về bản chất cô đơn, hướng thiện của mỗi chúng ta.

Tôi yêu nhạc của Beatles vì nhiều lí do...nhưng mà cái lí do cơ bản nhất có lẽ là vì âm nhạc của Beat giữ gìn, khơi gợi và đẩy đến tận cùng các sắc thái cảm giác tốt đẹp nhất của con người mà tôi lúc nào cũng cố gắng đi tìm. Đấy là niềm vui sống, tình yêu cuộc sống, nghị lực sống, là sự yêu thương nói chung với con người, là tình yêu đôi lứa, là sự độ lượng với chính bản thân mình, là sống giản dị, là đi tìm tri thức để khai sáng con người. Nhiều, nhiều lắm...

Là bởi vì sao?

"Living is easy with eyes closed, misunderstanding all you see. It is getting hard to be SOMEONE but it all works out. It doesn't matter much to me" (Strawberry fields forever)

Những dòng trên viết để tribute cho George, cho John..cũng là như một lời nhắc cho mình về cái ngày mới nghe Beatles và biết rằng "Living is easy with eyes closed..."!

PV
lifegoeson
15-10-05, 02:21
bài này mất một khúc

Cô đơn ơi - tên mi có nghĩa là nghị lực
PhanViet

Nếu có một thời điểm nào đó trong cuộc sống mà chúng ta cần phải và nên bị dúi xuống bùn lầy tăm tối, tốt nhất hãy chọn lúc 18-25 tuổi, lúc mà bạn còn có cả sức khoẻ lẫn sự dẻo dai; cả hưng phấn lẫn thất vọng; cả niềm tin sắt đá lẫn sự ngoan cố mù quáng; cả sự hiểu biết bằng bản năng và trực giác chưa bị pha tạp lẫn sự tăm tối vì mơ hồ nhận thấy những lực cản của xã hội. Nghĩa là có tất cả mà lại chẳng có gì vững chắc. Lúc ấy là lúc có cả một tiềm năng - cái năng lực tiềm ẩn trong từng cử động, từng quyết định nhỏ; cái khả năng có thể nhảy rất dài, vuợt rất xa, thay đổi cả thế giới; hoặc là cái nguy cơ trượt xa khôn cùng xuống vực sâu của tăm tối, kiệt quệ, u uất và rệu rã.

Tuổi trẻ - tự bản thân nó là một tài sản; tự bản thân nó đã hàm chứa ánh sáng và hạnh phúc; khi bị dúi xuống bùn, cơ hội để nó vẫn toả sáng và thăng hoa sẽ lớn hơn so với khi bạn già đi. Lúc đó là lúc phép thử vẫn còn màu nhiệm; con tốt đỏ trong tay có thể còn có thể phong Hậu; bạn có thời gian làm hậu thuẫn và chân trời vẫn còn gợi nhiều thôi thúc. Còn khi bạn đã lớn tuổi hơn, những xây xước đằng trước sẽ làm cho bạn ngần ngại, nếu bạn bị dúi xuống bùn thì rất có thể bạn sẽ tặc lưỡi nằm đó một mình, hoặc sẽ cố gắng vùng vẫy sao cho người khác cũng vấy bẩn lem luốc giống với bạn.

Tuổi trẻ có một thứ vốn ngầm rất đáng quý mà không phải ai cũng biết: sự cô đơn. Trái tim là một giống loài dễ hư hỏng. Nếu nó được no đủ, nó sẽ đổ đốn ngay lập tức. Hạnh phúc làm cho con người ta mềm yếu, người ta vui tươi với mọi thứ, người ta quên mất việc phải làm; người ta bắt đầu tặc lưỡi nhiều hơn với những thói quen xấu. Tình yêu là một giống dây leo khó chiều. Nó cần được thử thách và bị tấn công. Nếu bạn mớm cơm cho nó hàng ngày, chăm sóc nó quá no đủ, nó sẽ chết yểu.

Cô đơn ơi, tên của mi hàm chứa nghị lực. Nhưng sự cô đơn này không đơn thuần là “một mình” theo nghĩa đen của đúng từ này. Cô đơn là một trạng thái tổng hoà rất đặc trưng của tuổi trẻ. Cô đơn vì thấy mình quá bé nhỏ và ngộp thở trước sự rộng lớn của vũ trụ, của hằng hà tinh tú trên đầu mỗi đêm hè ta ngẩng lên. Cô đơn vì thấy mình bất lực trước một sinh vật ngang bằng mình, tồn tại cạnh mình, cần cho mình mà mình không sao sở hữu nổi nó. Cô đơn vì thấy có quá nhiều tiếng gọi mà không biết sẽ đi đâu. Cô đơn vì sự giằng xé giữa những ước mơ thời bé và những thực tế vừa mới đến. Cô đơn vì vừa buồn bã, vừa kiêu hãnh và khoái trá đi lại tung tăng, ngạo ngược trong thế giới của riêng mình, chỉ thỉnh thoảng hào phóng mời vào một hai người khách rồi lại mời họ ra ngoài để ta đóng cửa lại. Khi ta chấp ....

PV
lifegoeson
15-10-05, 02:22
Cho Desperado và Jude thân yêu!
PhanViet

So let it out and let it in
Hey Jude, begin
You’re waiting for someone to perform with
And don’t you know that it’s just you
Hey Jude, you’ll do
The movement you need is on your shoulders.


Có thể chỉ một thời gian rất ngắn nữa, tính bằng giờ, ngày hay tuần, khi em vượt qua được mình ở khúc này, em sẽ quay lại nhìn và cười khoái chí vào những hoang mang của bản thân. Khi người ta còn đang ở khúc đầu của những năm 20 tuổi, mỗi một ngày là một trạng thái mới, mỗi tuần là một sự vượt qua bản thân mới. Ngay cả sự hoang mang, lo lắng của em lúc này cũng là một nỗ lực để vượt qua một điểm xấu nào đó mà em mơ hồ nhận thấy nó đang đến. Sợ những nếp nghĩ thường nhật và những những lối mòn trong tình cảm con người: sự ích kỷ, ghen tức, đố kỵ, tính tự ái cao, sự sĩ diện và giấu dốt, sự kênh kiệu và hợm hĩnh, vv và vv...Việc viết ra tất cả những điều này cũng thế. Em sợ niềm vui sống và mục đích sống mà em đã xác định bị sứt mẻ và nhạt đi một chút. Ừ, nó có thể và rồi sẽ bị sứt mẻ nhưng phải là một sự sứt mẻ có ích và chính xác, không thể là cho một sự hèn yếu được.

Khi em nhìn lại mình lúc đang học Đại học, rồi nghĩ về những nơi em đã qua, những điều em đã làm, những người em đã gặp, điều tự hào nhất lại chính là những thứ nỗ lực tinh thần và những việc làm không tên mà đã đưa em đến cái chỗ hôm nay. ở chỗ hôm nay nhìn lại, em thấy mình kém lúc đó nhiều thứ nhưng cũng hơn rất nhiều. Thực ra nói là hơn hay kém thì cũng khó. Nó giống như một trạng thái dao dộng và thử các hướng khác nhau để tìm ra quỹ đạo của mình. Nhưng dù là sự tĩnh lặng rất sâu nhờ vào thiền của lúc đó hay ham muốn khuấy đảo, ham muốn lật nhào tất cả để bứt lên một tầm mới của trí tuệ và tinh thần ngày hôm nay - chúng đều là nỗ lực đi về cái phía cần phải đến. Hai năm nữa, hoặc là chỉ một năm nữa thôi, em sẽ nhìn lại chỗ này và có thể tự hào được - không phải vì một thành quả nào cụ thể. Điều tự hào nhất - nếu có - chính là sự dũng cảm và cố gắng của mình.

Em vẫn hay nói với các bạn bè thân quen khi họ gặp khó khăn: khi ta đang đi qua một khó khăn, có hai điều tốt. Một là ta biết ta đang đi qua nó. Hai là ta biết lần sau nó sẽ không thể nào là rào cản và không đánh gục được ta nữa. Bây giờ em cũng đang cảm thấy những điều tốt đó. Trong đời người, ai cũng sẽ đi qua lúc này cả: thời kỳ ủ men, thời kỳ chuẩn bị cất thành rượu. Chỉ khác nhau là dài hay ngắn mà thôi. Có người thì ủ cả đời cũng không cất rượu, mãi mãi u mê và lãng phí men với gạo. Có người thăng hoa sớm, thành ngay rượu ngon. Có người sẽ thành giấm. Có nhiều thứ biến thái trong cùng một quá trình. Là vì sao? Là ở sự tự điều chỉnh.

Em đang cố mở mắt to để quan sát và vận dụng những quy luật lúc trước của cuộc sống để thấy đường thôi. Sự tìm đường - bản thân nó là một cái đích rồi, nào đâu có đích cụ thể và cuối cùng. Hôm nay em ngồi đọc mấy tiếng hết quyển Lịch sử Việt Nam. Rồi nghĩ: ông cha mình mò mẫm mấy ngàn năm để tới cái chỗ hôm nay; mình ngồi đọc mấy tiếng hết cả cái quãng đường hàng vạn đời sống, kiếp sống ấy và rút ra được có một bài học thôi - mà cũng chưa chắc đã là bài học cơ bản nhất trong tư duy của mình. Rồi mình sẽ là một trong cả cái dòng lịch sử này, tuy có vẻ là không có khả năng làm gì được cả, nhưng mà thật ra chỉ cần mình gắng sức mà chuyển động một chút, mình vẫn cứ tác động vào dòng chảy đó. Nói như thế có to tát quá không? Nếu mà sợ cả sự nói to tát thì cũng đã là không thật rồi. Vì em nhìn thấy điều đó rõ lắm. Em cũng chẳng ngại. Phải đối diện với mình thêm nữa đi thôi.

Thỉnh thoảng em muốn tự trừng phạt mình. Cái này có nguồn gốc là sự cầu toàn. Sự cầu toàn làm cho em hay sợ những sự nửa vời, sợ những gì không toàn tâm, toàn ý và những thứ ở lưng chừng. Em sợ sự trung bình và trạng thái nửa vời, sợ sự thông hiểu nửa vời, sợ tình cảm nửa vời. Tất cả những gì không được tối đa đều làm em lo lắng thắt ruột. Thế nên là đôi khi nếu em mơ hồ cảm thấy sẽ không đạt đến sự tối đa, sự thăng hoa và vẫy vùng, em sẽ lùi lại chọn một cách khác để được đẩy các giới hạn của mình rộng ra. Lùi lại là một sự trừng phạt vì nó hay đưa đến tiếc nuối - rõ là như thế rồi. Nhưng lùi lại cũng có nghĩa là một nỗ lực. Đôi khi sự tự trừng phạt này làm em khoái chí. Em thấy mình như con chồn trong một câu chuyện ở tập ngụ ngôn Kiến và chim bồ câu của Leo Tolstoy; con chồn thấy cãi giũa, nó liếm và bị đứt lưỡi; máu chảy ra nhưng con chồn tưởng đấy là máu từ cãi giũa và cứ say sưa liếm cho đến lúc cái lưỡi của nó bị nát nhừ. Em không muốn hạn chế bản thân ở bất kỳ một khía cạnh tư duy nào; muốn làm theo tất cả những thứ mà em cho là có thể đưa lại kết quả tốt cho đời sống dù nó đi ngược lại với những định kiến hoặc suy nghĩ phổ thông. Có điên rồ không?

Sự hoang mang và lo lắng hôm nay là một việc rất nhỏ. Em hoàn toàn có thể kiểm soát được nó. Nhưng nó tiềm ẩn một bài học lớn. Thế nên em sẽ để cho nó tự do lộng hành và vật lộn với nó xem biên giới của sự thoái hoá nằm ở đâu. Des và Jude thân yêu nhỉ!

PV
lifegoeson
15-10-05, 02:24
Viết cho ngày mới
PhanViet

Ngày kết thúc đêm bằng ánh nắng; đêm thay thế ngày bằng bóng đen. Cả hai thời điểm ấy đều là lúc người ta thật thà và độ lượng nhất với mình và người - khi mới ngủ dậy và khi sắp đi ngủ. Khi ấy nằm ngẫm nghĩ về những điều sắp làm trong ngày và những điều vừa làm trong ngày, tâm trí thả lỏng, thư thái, hưng phấn và ăn năn, trẻ con và người già. Trong khoảng gần 20 tiếng đồng hồ ở giữa, có rất nhiều sự đã xảy ra. Nhiều khi ở cuối của 20 tiếng, người ta không thể nhớ nổi và không thể quay lại cái lúc bắt đầu của chuỗi thời gian ấy.

Ngày bắt đầu bằng sự nhẹ bỗng của tâm hồn. Mở mắt ra là thấy căn phòng quen thuộc của ta, có cửa sổ nắng sớm xiên chênh chếch, hắt những vệt sáng hiền và vui lên tường; có tủ lớn treo quần áo sặc sỡ vui mắt và thơm; có giá sách lộn xộn, lẫn lộn tiếng Việt và tiếng Anh; có tranh Đông Hồ của Việt Nam và thiệp Hallmark treo lẫn nhau trên tường; cả những cái đĩa nhạc bằng nhựa to treo thành từng bộ lẫn với ảnh bạn bè cũ; có găng tay mùa đông nằm im trên góc tủ chờ tuyết xuống và đồng hồ đeo tay ngày nào cũng phải lên giây. Đêm sẽ đến với một hoặc nhiều niềm trăn trở. Ta đã lấy găng tay ra rồi lại xếp vào chỗ cũ vì tuyết chưa xuống, rét chưa đủ để thấy cô đơn và kéo con người lại gần; ta đã mở rộng cửa cho nắng vào rồi lại kéo xuống vì chói; ta đã lên giây đồng hồ và khi về lại tháo ra để quên thời gian đến ngày mai.

Ngày bắt đầu bằng nỗi nhớ ngày cũ. Khi còn chưa tỉnh đã có nỗi nhớ ở đó rồi; như là sự tiếp tục của một giấc mơ dài nào đó chưa hề dứt. Ta nhớ những đất và những người, những tên và những cảnh; những điều ngọt ngào và đắng cay. Khi chưa mở mắt, miệng đã cười vì những kỷ niệm tốt lành. 20 tiếng. Ngày sẽ kết thúc bằng một nỗi nhớ sâu hơn, có thêm chỗ cho 20 giờ qua, chỗ mà kỷ niệm cũ bỏ lại khi bị xoá mờ một chút. Những kỷ niệm dai dẳng ở lại dai dẳng, ngaỳ càng sáng rỡ và làm ta mỉm cười; khi đêm đến, những gì nhẹ sẽ trôi đi, sáng mai tỉnh dậy chỉ còn lại những gì đáng nhớ.

Ngày bắt đầu bằng một ý tưởng, giấc ngủ sẽ khép ngày bằng một thói quen. Hoặc là ngược lại. 20 tiếng ở giữa là để ta chạy chơi, ta đi lại, ta học tập và lao động, ta nhàn rỗi,, ta tung tăng lăn trở và lật ngược nó. ý tưởng và thói quen, thói quen và ý tưởng - chúng có lẽ chỉ là 2 mặt một đồng xu, hoặc là những tay vịn trên cùng một cầu thang xoáy trôn ốc. Ta nuôi tiếp những ỹ nghĩ cũ và ngày càng vững vàng hơn, có lúc thấy như chạm tay được vào chúng; 20 tiếng ở giữa, làm gì cũng nghĩ đến điều đã định và đã quyết tâm. Đến cuối ngày, ý nghĩ chắc thêm hơn, thân quen trong đầu óc ta thêm nữa. Giống như một con đường đã mở, đi xa hay gần sẽ phụ thuộc sáng mai, tỉnh dậy sau 6 tiêng ngủ, bao phần của ý tưởng cũ đã nhờ lúc ngủ mà ăn vào máu thịt ta.

Ngày bắt đầu bằng một lời hứa; đêm sẽ về bằng một sự thương lượng. Hoặc là ngược lại. Ở giữa của chúng là thành công hoặc thất bại, niềm vui hoặc nỗi buồn, một nhận thức mới về thực tại hoặc là thêm một ảo tưởng vào thực tại cũ, kết quả một phép thử hoặc là động cơ để làm tiếp một phép thử mới. Hứa và thương lượng - sự khác nhau giữa chúng mang nhiều tên gọi: quyết tâm, nghị lực, tính thực tế, sự khôn ngoan, biết điều, lòng tốt, tính người và tính người, sự cảm thông và thoả hiệp. Giống như là một cái objective - interpretive continuum vậy.

Ngày bắt đầu bằng một niềm tin; giấc ngủ ngon bắt đầu với một niềm tin mới. Đã mỉm miệng cười với những kỷ niệm cũ, lại mỉm miệng cười với những ý nghĩ về tương lai. 20 tiếng ở giữa, nụ cười lành hơn, có lẽ là sâu hơn và cao hơn nữa.

Sẽ có ngày khi ta tỉnh dậy cũng là lúc ta vươn mình tỉnh dậy thực sự khỏi một giấc mơ dài..

PV
lifegoeson
15-10-05, 02:26
bài này cũng thiếu

Tản mạn về Mẹ
PhanViet

Bố và tôi mệnh Hoả - Thiên Hoả, nóng giận cũng như điện chớp, loé lên rồi hết ngay. Chị gái tôi cũng mệnh Hoả - Địa Hoả, lửa trong đất, như nham thạch núi lửa vậy. Cả nhà chỉ có mẹ là mệnh Mộc, như gỗ thông; mềm đến mức có thể gọt thành đồ chơi, thơm, và cháy tốt hơn bất cứ loại gỗ nào...

Hồi nhỏ, tôi hay xấu hổ vì Mẹ. Khi tất cả mọi người còn đang để tóc dài y như nhau, Mẹ cắt tóc ngắn, rồi cắt đầu Nhật, rồi uốn tóc. Khi mọi người đều đi dép, mẹ chỉ đi guốc , những đôi guốc gỗ có vân hoa, quai nhựa trong suốt. Thỉnh thoảng tôi vẫn xỏ vào đi luanh quanh trong nhà, lấy làm khoái chí lắm. Khi mọi người đều chỉ mặc áo vải thô hoa, mẹ mua những miếng mút-sơ-lin hoặc soa Mỹ may những cái áo chiết eo thật đẹp mà đến giờ tôi vẫn giữ. Mẹ đẹp thật. Tôi chưa thấy ai có da như Mẹ cả, trắng và mịn như da trẻ nhỏ. Cả tôi và chị gái tôi đều giống Bố, không được thừa hưởng nước da của mẹ, cũng không khéo làm dáng như mẹ. Hồi đó, bạn bè và các đồng nghiệp cơ quan bố mẹ rất hay trêu tôi vì Mẹ đẹp và diện. Các cô bác hay nói "Mẹ mày sắp bỏ bố con mày rồi." Trong tấm lòng con nít của tôi dù thế nào vẫn ánh lên một niềm tức bực. Tôi lao vào đấm đá bất cứ ai nói xấu Mẹ.

Mẹ hiền và thương người. Mẹ hay nói “phúc đức tại Mẫu”. Bà ngoại tôi nói rằng ngày xưa cả huyện Chí Linh chỉ có Mẹ là con gái được đi học đại học, lúc đầu được phân vào Bách Khoa, rồi sau điều sang đại học Văn hoá. Mẹ học giỏi, nhưng ra trường mẹ đi làm thư viện, và cả đời cũng chỉ là một thủ thư bình thường. Bao nhiêu phần việc cho xã hội, Bố làm thay hết. Mẹ chỉ chuyên tâm việc nhà và chăm chúng tôi. Bây giờ, tôi vẫn còn nhớ như in cái thời thơ ấu, khi ngày nào tôi cũng lê la trong cái thư viện rộng thênh thang và vắng người nơi mẹ làm. Tôi giở truyện tranh đọc, hoặc trèo lên các giá sách tìm những con mọt gỗ, hoặc nằm bò trên những cái bàn đọc sách to và mát rưọi. Mẹ dạy tôi đọc khi tôi mới chừng 4 tuổi và cho tôi đi học sớm cùng với chị gái. Cả tuổi thơ của tôi không biết đến nhà trẻ hay mẫu giáo.

Hồi nhỏ, tôi xa mẹ có 2 lần. Lần thứ nhất mẹ về ông ngoại chừng 2 tuần vì nhà có việc. Lần đó lập tức tôi phải vào viện mổ vì viêm ruột cấp tính. Lần thứ hai mẹ đi công tác Nam Định. Tôi cũng phải vào viện vì một tai nạn. Tử vi của tôi nói cho đến trước khi tôi lấy chồng, Mẹ là người bảo trợ cho tôi. Tôi đi Mỹ học, Mẹ là ngưòi lo hơn cả. Chị tôi viết thư sang nói tháng nào Mẹ cũng đi chùa Bảo Khánh thắp hương và cầu kinh để giải hạn cho tôi. Tôi sống bên này vui và khoẻ lắm.

Tôi giống tính Bố và gần với Bố hơn Mẹ. Lúc nhỏ, tôi đi t ........

PV
lifegoeson
15-10-05, 02:27
Bài ra: Luận về râu - Nghiêm Tuỳ Vân

Nhớ khi xưa không có râu
Ta chẳng biết làm gì

Khi xưa, không có râu và không có em ta là một thằng cu vô tư và quậy phá. Ngày em đến và râu ta mọc đó cũng là lúc ta biết buồn. Có râu thật là khoái mà cũng thật là phiền phức. Như em vậy. Ta buồn, người nghĩ đến đầu tiên nếu không phải là em thì cũng là râu. Buồn ta nhổ râu. Vui ta cũng nhổ râu. Thất bại râu ria ta đều nhổ. Phiền phức chỉ bắt đầu khi ta không có râu.Những lúc đó nếu chẳng may có cáu giận em thì cũng không biết làm gì. Ta quay ra chửi râu. Râu có tốt đẹp gì đâu nhỉ? Nếu tốt, ta sẽ không cạo nó đi. Râu là loài ăn đe^m. Nó làm mặt ta như rừng rậm Amadon mỗi sáng. Sáng nào quên không cạo râu là y như rằng mặt em chằm vằm. Em bắt ta cạo đi. Ta vừa cạo vừa giận râu. Giận râu thì ta lại nhổ nó. Nhổ nó rồi nếu giận thì lại hết mất râu. Tóm lại, với em cũng như với râu ta không biết phải làm sao. Có thì phiền phức, không có thì buồn, buồn thì lại phải có, mà có thì lại phiền.

Bài đối: Luận về tóc - PhanViet

Nhớ khi xưa tóc ngắn, mắt bồ câu nhưng chẳng hiền...

Khi xưa, chưa có Anh, ta để tóc ngắn, ta hớn hở và ngang nhiên. Ngày Anh đến, ta bắt đầu biết buồn và ta muốn nuôi tóc dài ra. Anh nói tóc ta đẹp. Anh thích giật những cái tóc mai mỏng của ta. Tóc ta dài thật đẹp, xanh mướt. Mỗi sáng đi qua gương, ta giật giật tóc mai và mỉm cười. Tóc dài cũng phiền. Mẹ phải mua bồ kết và lá xả về nấu nước cho ta gội đầu. Tóc cũng như anh vậy. Lúc vui ta thích chơi với tóc. Ta kết thành những cái sam nhỏ, họăc cột lên, hoặc để xoã, hoặc chỉ buộc một túm nhỏ cao ngang đầu, còn lại để bay bay. Khi giận, ta chỉ muốn cắt phăng đi. Cắt rồi, anh nhìn, không nói gì nhưng mắt thoáng tiếc nuối. Thấy anh buồn, ta thương và lại nuôi tóc. Mỗi sáng đi qua gương, cố kéo tóc mai, nói “dài ra đi, dài ra đi”. Nhưng tóc dài đâu có nhanh. Và Anh cũng thất thường như tóc, ngắn thì buồn, buồn thì thương, phải nuôi dài, dài thì phiền, khi giận lại muốn cắt đi...
lifegoeson
15-10-05, 02:27
Đề ra: Luận về Cấu - Nghiêm Tuỳ Vân

Trời sinh ra em để cấu ta. Tức là sinh ra ta để cho em cấu. Khi nào vui em cấu. Buồn em cũng cấu. Đến muộn em cũng nghiến răng nghiến lợi véo cho ta mấy cái.

Cấu không đơn giản. Phải như một nghệ sĩ mới được. Cấu đau mà không tím. Cấu sao để người cấu thì vui, người được cấu lại cảm khoái. Cấu chỗ bắp tay là ngon nhất. Vừa đau vừa suớng. Khi cấu, không nên cấu miếng to. Cấu miếng nhỏ đau hơn mà lại đỡ dã man.

Trong nghề này em là nghệ sĩ nhân dân. Ta chỉ là ưu tú. Mà nghệ sĩ ưu tú không cấu nghệ sĩ nhân dân bao giờ.Phải không em?

Bài đối: Luận về Cấu - PhanViet

Trời sinh ra ta biết cấu. Tức là sinh ra Anh chịu được cấu. Khi nào vui, ta cấu yêu. Khi nào buồn, ta cấu giận. Nhất là đến muộn thì ta phải cấu cho bõ ghét...

Ờ, dĩ nhiên rồi, cấu hơi bị khó của nó. Phải hơn cả nghệ sỹ ấy chứ. Cấu sao cho đau mà không bị thương tật, ờ. Cấu sao cho Anh cay cú mà không nổi xung lên, ờ. Cấu sao cho Anh dở khóc dở cười mới là thành công, ờ. Đã cấu thì không nên tham và cũng không nên thương. Cấu một miếng vừa đủ. Cấu nhanh và gọn. Chưa kịp kêu, ta đã cấu xong...hờ hờ...Hơi bị dã man mà Anh vẫn phải cười...hì hì...

Anh vẫn bảo ta là nghệ sỹ nhân dân trong nghề này. Anh chỉ là nghệ sỹ ưu tú. Dĩ nhiên là nghệ sỹ ưu tú không được cấu nghệ sỹ nhân dân, còn nghệ sỹ nhân dân thì..hơ hơ., báo cáo các bác, họ sinh ra chỉ là để cấu...hì hì..
lifegoeson
15-10-05, 02:29
bài này cũng thiếu ...

Hành trình nước Mỹ - Prelude
PhanViet

Bạn có thể ngồi ngay cạnh ai đó, ngay trong gang tấc mà xa người ta rất nhiều. Tôi nhận ra điều đó khi ngồi với Edward lúc sáng nay trong phòng đọc sách của Khoa. Edward là một sinh viên câm điếc trong lớp IMC mà tôi làm trợ giảng. Lúc nào cậu ta cũng ngồi ở bàn đầu, đi kèm với 2 người đàn ông khác. Những người này có nhiệm vụ phiên dịch cho Edward. Họ luôn ngồi phía trứoc giảng đường, quay mặt xuống lớp, dùng ngôn ngữ tay để thuật lại những lời của Giáo sư. Edward học không tốt lắm; điểm của cậu ấy không được ổn tuy rằng nó vẫn còn hơn điểm của rất nhiều sinh viên khác. Sáng thứ Năm hàng tuần, tôi đến văn phòng sớm và giảng bài cho Edward, giúp cậu ấy làm bài, trả lời các câu hỏi liên quan đến bài giảng, kể cả những câu hỏi không liên quan đến bài giảng nữa. Sáng nay, người phiên dịch đến muộn nên hai chúng tôi phải nói chuyện với nhau bằng giấy bút. Cậu ấy viết câu hỏi, rồi tôi viết câu trả lời; nếu hiểu rồi thì Edward gật gật đầu; còn nếu chưa hiểu, chúng tôi sẽ tiếp tục viết, hết tờ giấy này đến tờ giấy khác.

Những người bị khuyết tật như Edward thường có một vẻ gì đó không bình thường. Đầu của họ có thể to quá mức, tay có thể quá dài, người không cân đối, cử động không khéo léo, vv và vv... Nếu bạn không tiếp xúc với họ, bạn có thể chẳng mấy bận tâm về những dị biệt này; nhưng nếu bạn phải tiếp xúc với họ, tôi cá rằng bạn sẽ cảm thấy rất không an tâm. Tuy nhiên, nếu bạn tiếp xúc đủ lâu, bạn sẽ vượt qua được cảm giác bất thường đó và không còn để ý đến chúng nữa.

Hồi mới giúp Edward, tôi có một cảm giác e ngại nhất định. Lý do của nó hơi ngớ ngẩn một chút mà thực ra sau này tôi mới nghĩ ra. Cậu ta có một mùi gì đó hơi khác biệt. Chắc đó là mùi kháng sinh hoặc một thứ thuốc gì đó mà Edward phải dùng thường xuyên. Tôi không thích những người dùng nước hoa sực nức vì ó làm cho tôi có cảm giác như mình bị lừa dối. Nhưng tôi cũng không thích mùi kháng sinh. Chúng ta có lẽ chẳng có ai thích mùi kháng sinh cả - giống như chẳng ai thích bệnh viện hay nhà dưỡng lão. Sự e ngại của tôi với Edward có thể chỉ đơn thuần là phản ứng sinh lý tự nhiên nhưng bây giờ nhớ lại tôi cũng thấy hơi tội lỗi một chút.

Edward luôn ngồi một mình ở hàng ghế đầu tiên trong giảng đường. Nếu có một sinh viên nào đó vào lớp muộn mà không muốn đi qua trước mặt cả lớp để trốn xuống phiá dưới giảng đường như hầu hết các sinh viên vẫn làm nếu họ đến lớp sớm, thì người đó cũng sẽ ngồi cách xa Edward ít nhất là vài cái ghế.

Dần dần, chúng tôi quen với nhau hơn. Có lần đang giảng bài, Edward đột nhiên hỏi tôi là tôi có biết trường giành cho người điếc ở trên Washington D.C hay không. Tôi nói tôi không biết vì tôi mới chỉ đến Mỹ có một năm thôi, mà cũng chưa đi Washington bao giờ cả. Cậu ta hăng hái bảo trường này nổi tiếng lắm, rất có uy tín, ngang với cả Harward hay Princeton hay M.I.T và vào đó “rất, rất đắt”. Rồi cậu ta nói đi nói lại tên trường; hào hững nhấn mạnh rằng nó là trường ....

..........................(không biết có mất khúc nào ở giữa không)

Tôi là trợ giảng nên lúc nào cũng ngồi ở hàng ghế ngay đầu tiên để phụ giúp Giáo sư. Giảng đường có hai dãy ghế dốc dần lên phía trên, ở giữa là lối đi, nền nhà có trải thảm và mọi thứ đều ngăn nắp, sạch sẽ, hiện đại. Tôi ngồi ở hàng đầu tiên, dãy ghế bên phải, ngay gần cửa ra vào cùng với các sinh viên khác. Edward ngồi hàng đầu, dãy bên kia, thường là chỉ với một hoặc hai sinh viên hoặc có khi không có ai.

Hồi mới vào học kỳ, cậu ta cùng với hai ngưòi phiên dịch rất hay đến muộn, thường là sau khi Giáo sư đã vào lớp nhưng buổi học chưa bắt đầu. Cậu ta đi ngang qua dãy bàn đầu, mặt lạnh tanh; thậm chí không nhìn ai trong lớp nữa. Tôi đoán là cậu ta đã quen với việc co cụm trong thế giới của những người điếc, với gia đình, hoặc những người mà cậu ta đã tiếp xúc và có ít nhiều tin tưởng. Bây giờ nhớ lại, tôi nhận ra lúc đó hình như tôi cũng vô thức loại trừ cậu ta ra khỏi cái đám đông mà tôi gọi là “sinh viên của tôi”. Kiểu như Edward là một người khách, một người dự thính hay là một cái gì đó kỳ cục đính vào trong cái tập hợp trên. Ngày nào không thấy đoàn ba ngưòi đó diễn qua trước mặt để đi sang dãy ghế bên kia, hình như lớp học cũng sáng sủa hơn. Cũng có thể nó sáng suả hơn thật vì cả lớp không bị phân tán bởi hai người phiên dịch ngồi ngay trên bục giảng cứ khoa chân múa tay theo ngôn ngữ ký hiệu. Tôi cũng không rõ nữa.

------------------(một đoạn rời)

Cũng hồi năm ngoái, trong lớp ME tôi nhớ mãi những cuộc tranh cãi về việc nhà báo nên đề cao vai trò phóng viên, vai trò làm tai mắt khách quan của công chúng hay đề cao vai trò con người. Nghĩa là trong những tình huống gay cấn, một nhà báo nên làm người trước hay làm phóng viên trước.

Có một bức tranh đã được giải Pullitzer - một giải thưởng có uy tín bậc nhất trong làng báo chí truyền thông ở Mỹ. Bức ảnh này chụp cảnh ở một nước châu Phi nào đó trong một năm đói kém. Trong ảnh, một em bé da đen chỉ còn da bọc xương nằm chờ chết trên đường, ruồi nhặng xung quanh, cạnh đó là một con chim ác điểu to lớn hơn cả tấm thân còm cõi của em đang chờ lúc em trút hơi thở cuối cùng là sẽ xông vào mổ xác. Giống chim ấy có khả năng đánh hơi xác chết và cả người sắp chết nữa.

Cuộc tranh cãi là thế này: cái người đã được Pulitzer nhờ bức ảnh đó - anh ta nên đặt máy ảnh xuống mà cứu em nhỏ tội nghiệp đó, hay là lôi máy ra, ngắm xa ngắm gần để chọn một bức ảnh tuỵệt tác nhất. Tôi thì không nghi ngờ rằng anh ta chắc phải chụp cả vài cuộn phim để có được bức ảnh đó, và rất có thể anh ta đã phải ngồi rình hàng tiếng đồng hồ mới được cái cảnh con chim ác điểu hau háu ngôì chờ, chuẩn bị mổ xuống em nhỏ. Câu hỏi là thế này: điều gì xảy ra nếu em nhỏ đó trút hơi thở cuối cùng trong lúc anh ta đang chỉnh ống kính để có một bức ảnh được giải Pulitzer? Và người ta sẽ nói gì nếu đó không phải là một em nhỏ da đen mà là một em nhỏ da trắng?

Chuyện kể rằng: người phóng viên này về sau đã tự tử bằng một viên đạn xuyên qua óc.

***

Tôi đã nói là những người có khuyết tật về thể chất hoặc trí tuệ đều không bình thường. Bạn đã bao giờ gặp những đứa trẻ bị hội chứng tự kỷ chưa (autism)? Tự kỷ là một dạng tật về trí tuệ; đã gọi là tật tức là nó vĩnh viễn ở đó, không chữa được. Những đứa trẻ tự kỷ sợ tiếp xúc, không bao giờ nói chuyện với ai, lúc nào cũng che mặt, trốn vào đâu đó, hoặc là bận tâm với bản thân, không biết điều gì đang xảy ra xung quanh. Bạn đừng nhầm tưởng rằng đây là một dạng bệnh về tâm lý; không, nó là tật về trí tuệ và không chữa được.

Nhìn bề ngoài, trông những đứa trẻ tự kỷ hoàn toàn khoẻ mạnh, thậm chí có nhiều em gái tự kỷ trông rất xinh xắn, dễ thương; bạn khó mà biết được rằng chúng bị tật về tinh thần. Nhưng cầm bàn tay các em lên, bạn sẽ thấy nước da xanh hay trắng bạch vì ít ra ngoài, ít tiếp xúc với ai; bạn thử nhìn vào mắt và thử nói chuyện với một em gái tự kỷ, em sẽ lấp tức lảng tránh ánh mắt bạn hoặc là trốn đi. Chỉ khi nào bạn thật sự ngồi xuống nói chuyện với chúng, bạn mới thấy bạn rõ ràng thuộc về một thế giới khác. Chúng ta và các em thở chung một bầu không khí, ngồi chung phòng, có thể nói chung ngôn ngữ nữa, nhưng chúng ta và các em ấy xa nhau lắm.


****

Lúc đầu, có lẽ tôi đã có một động cơ ích kỷ khi tôi đến văn phòng sớm để giúp Edward học bài vào các sáng thứ Năm. Có lẽ tôi muốn cảm thấy mình tốt và có ích cho một ai đó, nhất là người Mỹ thì càng tốt. Nó củng cố sự tự tin thường trực ở tôi, mà đến giờ đã bị chuyển sang một trạng thái gì đó gần như là sự tụ do, thoải mái thái quá vì không ai có quyền ngăn cản tôi trong một đất nước mà sự tự do cá nhân và sự khác biệt giữa các giá trị cá nhân được được đề cao hoặc ít nhất cũng được chấp nhận.

Hơn thế, suy cho cùng thì tôi khác họ - tất cả những người Mỹ đó. Nó cũng giống như là nếu bạn bị loại trừ ra khỏi một hệ thống đánh giá nào đó thì bạn được miễn trách đối với mọi hành vi trong khuôn khổ hệ thống đó. Nói một cách thô thiển thì người ta không thể nào đem mét ra đo trọng lượng hoặc đem kilogram ra đo chiều cao. Mỗi sáng ngồi học với Edward xong, bao giờ tôi cũng cảm thấy mạnh mẽ và tự tin thêm một ít, giống như một người leo lên được một đỉnh núi, đứng nhìn ra xung quanh. Về sau này, tôi không còn cái cảm giác ấy nữa. Tôi quý Edward vì cậu ấy hiền, chăm chỉ và tốt bụng. Cậu ấy cũng là một người bạn.

***

Edward làm tôi nhớ lại những em nhỏ bị các khuyết tật về thể chất và tinh thần mà tôi đã làm việc cùng khi tôi còn ở Việt Nam. Tôi đã nói rồi: nếu bạn không phải tiếp xúc với chúng, bạn tưởng như cuộc đời này không hề có chúng; nhưng nếu bạn tiếp xúc với chúng, bạn sẽ thấy cuộc đời rõ ràng có nhiều thực tại lắm chứ không phải chỉ có một thực tại mà bạn đã nhìn và đã hưởng. Khoảng ba tháng sau khi tôi vào làm cho dự án ở ĐH Sư phạm Hà Nội về giáo dục cho trẻ chậm phát triển trí tuệ, tôi được tiếp xúc với những em nhỏ này lần đầu tại Thái Nguyên.

Bữa đó tôi cùng với ba chuyên gia Hà Lan và nhóm sinh viên thực tập lên trường; trời mưa phùn mùa xuân nhẹ, bên ngoài là những ruộng mạ lên xanh mướt; lòng tôi lâng lâng sung sưỡng, ngồi trong xe vừa kể chuyện Việt nam cho các chuyên gia, vừa trêu anh lái xe và nghe các sinh viên trêu nhau. Tôi nghĩ cuộc sống có lẽ cũng chỉ cần thế thôi: một công việc làm có ích và đầy triển vọng, đồng nghiệp chu đáo, nghiêm túc, văn minh; bạn bè tốt, hằng tối đi chơi vui vẻ; gia đình sống đầm ấm.

Cảnh đầu tiên mà tôi gặp ở trên trường khi vừa xuống xe là một em trai đang đứng sau chấn song cưả nhòm ra, chỉ chúng tôi và la hét. Cô hiệu trưởng giải thích rằng em bị động kinh và vừa lên cơn lúc sáng, phải nhốt vào phòng đó, phải khoá cả chân tay lại nếu không em sẽ đập phá lung tung. Em vừa mới được tiêm thuốc an thần. Cô nói chỉ lát nữa chắc em sẽ hết cơn. Cậu bé động kinh này đã khoảng 17 tuổi rồi mà trông rất nhỏ. Sau khi đi thăm các lớp, buổi chiều chúng tôi vào thăm em. Em ngồi trên giường, hiền lành như không và thậm chí không biết mình vừa lên cơn động kinh. Em nói là em bị đau đầu. Phòng em nồng nặc mùi thuốc - nó cũng hơi giống mùi kháng sinh của Edward - mọi thứ đều nhàu nát, cũ kỹ và sứt sẹo. Em ngồi trong chăn, thò đầu ra ngoài, hoàn toàn chẳng có gì tự vệ cả. Thương lắm.

Hôm đó cũng là lần đầu tiên tôi ôm và cầm tay những em nhỏ bị bệnh Down, bị Frader Willis, tự kỷ, câm điếc bẩm sinh, vv... Những em nhỏ này tình cảm vô cùng và thực ra đó là do cảm giác bất an của chúng - một đặc điểm tâm lý của tất cả những trẻ thiệt thòi. Tôi cũng biết là thế giới của mình và của các em xa nhau lắm; ước mơ cũng xa nhau lắm. Nước Mỹ đối với tôi có khi gần nhưng Hà Nội đối với những em nhỏ này có khi là điều không tưởng.

***

Thỉnh thoảng tôi có cảm giác xa lạ với cả chính mình nữa. Thỉnh thoảng tôi có cảm giác tôi không biết phải làm gì với tôi cả. Những lúc như thế chỉ muốn trốn đi đâu đó, đọc một cuốn sách cũ để lấy lại sức lực cho mình. Khi đó thì cũng chán ghét mình lắm.

Nhưng tôi cũng nhận ra rằng mình vẫn luôn có thể làm cho mình ngạc nhiên. Có những thứ phát hiện mới mẻ về khả năng tư duy và các sắc thái tình cảm, khi lớn khi nhỏ, vẫn đến luôn luôn. Khi ấy có cảm giác như là sáng ngày ra, đi vào vườn và nhận thấy có mùi hương hoa lạ; phải hít cho đầy lồng ngực. Khi đó thì thấy yêu mình lắm, muốn giữ mình mãi mãi thế này dài lâu.

Thế thì mình cũng phân biệt đối xử với mình lắm nhỉ!

***

Tôi đang nghĩ là sang năm, rất có thể tôi sẽ rời khỏi Omaha đi nơi khác và cho đến hết cả chặng đường dài trên mặt đất này, tôi sẽ không bao giờ gặp lại John, Edward, Kathy hay Dr. Bingham. Cũng có thể tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại những em nhỏ thiểu năng ở Thái Nguyên vì thường là nhà trường chỉ nhận chúng đến năm 18 tuổi, sau đó sẽ trả về cho gia đình; mà em nhỏ động kinh năm ngoái đã 17 tuổi rồi, còn tôi chắc sẽ chưa về nhà được ngay.

Bao giờ thì tôi sẽ ngồi trong lớp ở Mỹ hay ở châu Phi hay ở Việt Nam mà không cần bận tâm ai đang ngồi cạnh tôi? Bao giờ thì hàng người dài ở Los Angeles không còn mệt mỏi và sợ hãi? Bao giờ thì tôi không xa nước Mỹ khi ở trên đất Mỹ, giống như các em nhỏ thiểu năng ở Thái Nguyên không xa Hà Nội khi ở cách Hà Nội có 2h đi ô tô? Bao giờ con ác điểu không còn rình em nhỏ da bọc xương? Bao giờ Edward sẽ đi vào lớp, ngang qua trước mặt cả lớp không còn lạnh tanh như trước và không phải ngồi một mình ở hàng ghế đầu phía bên kia? Và bao giờ thì tôi sẽ không còn phân biệt đối xử với tôi nữa?

PV
lifegoeson
15-10-05, 02:49
không có tựa, không rõ nó ở trong Hành trình nước Mỹ ?!!

PhanViet

Nếu bạn chưa bao giờ tiếp xúc với những người thiểu năng trí tuệ hay bị khuyết tật về thể chất, và bạn lại là một người được giáo dục tử tế để biết rằng không nên phân biệt đối xử và đánh giá con người dựa trên những khiếm khuyết bề ngoài hay màu da hay giơí tính, thì chắc bạn sẽ nghĩ rằng bạn có thể sống hoàn toàn thân thiện với họ. Nếu người ta có đưa cho bạn một cái phiếu điều tra và hỏi bạn một câu đại loại như “Bạn có chấp nhận sống cùng khu hoặc cùng phòng với một người điếc hay người da đen hay người đồng tính luyến ái hay không?” rất có thể bạn sẽ nói “Có” mà không cần mảy may suy nghĩ. Suy cho cùng, đấy chỉ là một cuộc điều tra ý kiến, nó chẳng ảnh hưởng gì tới đời sống hàng ngày, tới gia đình và bản thân bạn cả. Tuy nhiên, nếu như người ta dắt một người điếc hay một đứa trẻ bị hội chứng Down hay một người đồng tính luyến ái đến trước mặt bạn, bạn sẽ nghĩ sao?

***
Trong lớp Speech Seminars năm ngoái, tôi xung phong một mình làm bài thuyết trình mà không vào nhóm với ai cả. Tôi làm thế để tránh cho các bạn phải miễn cưỡng nhận tôi vào nhóm. Lớp học chỉ có 10 người. Tôi là sinh viên nước ngoài duy nhất và cũng nhỏ tuổi nhất lớp. Tôi có quen vài người trong đó; thực ra ba trong số họ cũng là trợ giảng như tôi và chúng tôi vẫn nói chuyện với nhau thường xuyên, rất vui vẻ, thân thiện, thỉnh thoảng còn hang out với nhau nữa. Dẫu vậy, tôi vẫn có cảm giác là nếu tôi tự chịu trách nhiệm về mình thì sẽ tốt hơn. Tôi không muốn ảnh hưởng đến ai cả.

Có thể đó chỉ là mặc cảm của riêng tôi. Có lẽ nó xuất phát từ cảm giác của ngày đầu tiên khi tôi vào lớp đó. Tôi ngồi cạnh một người có tên là John Bacon; anh ta đang làm ở một hãng máy tính nào đó khá lớn và cũng đứng tuổi rồi. Hôm đó, John đến lớp muộn và ghế cạnh tôi có lẽ là ghế trống duy nhất trong phòng. Vì chúng tôi chỉ có 10 người nên giảng viên quyết định sẽ vào phòng đọc sách của khoa ngồi học để chúng tôi có thể xem các tạp chí, tài liệu nghiên cứu và sử dụng các thiết bị khác khi cần. Hôm đó là ngày đầu tiên của học kỳ, tất cả sinh viên ngồi một góc, tôi ngối ở góc đối diện, hơi cách xa họ một chút, cạnh tôi là Giáo sư. Giáo sư của lớp Speech Seminars là một người rất tốt và hiểu biết - Dr. Bingham. Bà luôn khuyến khích tôi trong mọi việc, trong mọi ý tưởng và tranh luận của tôi. Hôm đó John vào lớp, kéo ghế ra xa và ngồi. Nhưng điều tồi tệ nhất là khi tôi tranh luận, anh ta bao giờ cũng cúi xuống đọc sách và tỏ ra chẳng quan tâm tới ý kiến của tôi. Rồi bất thình lình, anh ta có thể cắt ngang lời tôi để nói về một điều gì đó không liên quan đến thảo luận, như thể anh ta không hề nghe thấy tôi nói. Thực ra thì John có thái độ coi thường đối với hầu hết mọi người; nhưng tôi nghĩ là anh ta có lý do rõ ràng hơn để làm thế với tôi. Tôi không giận John, nhưng cảm thấy tổn thương và hoang mang khá nhiều.

Tôi kể chuyện này với chị Kathy và Julie- hai người bạn nước ngoài rất tốt của tôi. Kathy cũng là trợ giảng, đã gần 50 tuổi rồi và rất quý tôi. Julie thì ở New York; chúng tôi chơi với nhau từ khi tôi còn ở Hà Nội; cùng làm trong giới phi chính phủ về từ thiện. Cả Kathy và Julie đều bảo tôi là mặc kệ John và rằng nước Mỹ đầy các “jerks”, tôi chẳng nên phiền lòng làm gì. Nhưng tôi đoán là tôi không thể không phiền lòng được. Và vì thế khi sign up để làm thuyết trình, tôi đã xin làm thuyết trình một mình. Cuối học kỳ, tôi là sinh viên xuất sắc nhất lớp. Tôi thấy hơi tự hào một chút và có lúc nghĩ giá mà tôi có thể làm cho John thấy ghen tị và xấu hổ dù chỉ tí tẹo thì tốt. Hình như lúc ấy tôi muốn trả thù.

Chuyện trên xảy ra từ lâu rồi, từ lúc tôi mới đến Mỹ và vẫn còn hoang mang về mọi thứ. Năm nay tôi có gặp John vài lần. Tôi đã quên cả mối ác cảm mà anh ấy giành cho tôi từ lâu rồi. Mà John cũng có vẻ niềm nở với tôi lắm; chúng tôi thậm chí còn nói chuyện với nhau khá lâu về chuyện nên học tiếp ở đâu khi anh ta ghé vào văn phòng tôi. Tôi cũng chẳng biết là anh ta đã thôi cái ý nghĩ phân biệt chủng tộc hay là anh ta chỉ tỏ ra lịch sự, hoặc là tôi chỉ tưởng tượng như thế. Dù sao tôi cũng không còn bị ám ảnh chuyện đó nữa.

PV
lifegoeson
15-10-05, 02:51
một đoạn khác

PhanViet

Tôi đến Mỹ hồi tháng 8 năm ngoái; chính xác là ngày 15-8-2000, lúc khoảng 0h. Cửa ngõ đầu tiên là Los Angeles, thuộc California - thành phố của kiều dân. Người ta nói rằng 50% dân số California đến từ các nước khác; và như thế về một khía cạnh nào đó có thể coi Cali như cái nồi súp gà điển hình cho nước Mỹ. Lúc nửa đêm, từ trên nhìn xuống, Los Angeles rực rỡ ánh đèn, xe cộ như mắc cửi và máy bay lên xuống nườm nựợp. ở trong hành lang của sân bay Los Angeles, tôi đứng sau một dãy dài người làm thủ tục nhập cảnh. Rất nhiều người trong số họ giống như tôi - nghĩa là đến Mỹ lần đầu tiên và một mình; người đi học, người sang làm việc, người đoàn tụ với gia đình - tóm lại là đều hy vọng một cái gì đó mới mẻ, tốt đẹp ở đất Mỹ này.

Hai ngày trứớc tôi còn ở Hà Nội và tôi không thể nói là tôi mừng vui khi đi Mỹ. Quả thực lúc đó cảm giác của tôi rất lộn xộn; tôi vẫn muốn đi Mỹ từ lâu rồi nhưng đến lúc được đi thì tôi lại thấy dửng dưng; phần vì mọi việc diễn ra quá nhanh; phần vì tôi không muốn rời bỏ Hà Nội; phần vì tôi thấy tiếc rẻ cuộc sống vui vẻ tôi đang có cùng với bạn bè. Lúc ấy tôi nghĩ lúc tôi trở về, chưa chắc mọi thứ đã tốt hơn những gì tôi đang có, hoặc sẽ không tốt hơn những gì tôi sẽ có cũng vào khoảng thời gian đó nếu tôi vẫn ở nhà và tiếp tục phát triển lên theo con đường của mình.

Lúc nửa đêm ở Los: cả đoàn người dài mệt mỏi chờ làm thủ tục. Những nhân viên hải quan Mỹ mặt lạnh tanh hò hét, thét lác và nói nhanh như gió, chẳng cần biết rằng hầu hết những người đứng xếp hàng làm nhập cảnh này có thể lần đầu nghe tiếng Mỹ thực sự. Họ đóng dấu cồm cộp. Tôi thấy một chị phụ nu người Nam Tư bế đứa con nhỏ, luống cuống, lắp bắp, gần như run đến khóc vì sợ.

Tôi mệt và căng thẳng. Tôi chỉ có gần 45 phút để làm thủ tục nhập cảnh, lấy hành lý rồi làm thủ tục gửi đồ, chuyển sang đường bay nội địa để đi Dallas; thế mà hàng người đứng đằng trước tôi thì tưởng như là dài vô tận. Xung quanh tôi, ai cũng mang một khuôn mặt căng thẳng và thẫn thờ - từ mấy sinh viên Hàn Quốc đến những người ấn Độ, rồi hai chị em gái người Hồng Kông ngồi cạnh tôi trên máy bay và cả mấy người châu Âu...Những người Mỹ và Canada làm thủ tục ở một khu riêng; trông họ có vẻ nhởn nhơ, thoải mái hơn nhiều. Tôi đứng dựa lưng vào một cái cột cao trong hành lang tầng trệt của sân bay Los, không để cho bất cứ một ý nghĩ yếu mệt nào len vào đầu và kiên nhẫn chờ đến lượt mình làm thủ tục. Tôi cố gắng không ghét hay thất vọng về nước Mỹ.

Mãi rồi tôi cũng ra khỏi cái hàng người đó để đi tìm hành lý. Phải mất một lúc rất lâu tôi mới tìm ra cái vali to đùng của mình nằm lẫn trong đống hành lý của người khác; rồi vừa đi vừa chạy ra khỏi khu quốc tế, sang khu bay nội địa để chuyển đi Dallas. 0h đêm. Tôi là người cuối cùng lên chuyến bay đi Dallas hôm đó, chỉ ngay trước khi người ta đóng cửa. Lúc đi qua cái cửa soi người và hành lý xách tay, tôi nghe hai cô nhân viên người Mỹ béo ục ịch chỉ tôi thì thầm

PV
lifegoeson
15-10-05, 02:55
Đạo làm người
PhanViet

Thầy ra đề tập làm văn vẻn vẹn ba chữ “Đạo làm người”. Cả lớp nhao nhao “Thưa thày nhưng đạo làm người thế nào ạ? Bình giảng hay giải thích hay miêu tả hay là làm thơ về đạo làm người hả thày”. Thày chỉ cười “Tuỳ! Cứ làm đi” Thày cho một tuần.

Việt nộp bài “Khởi công từ thời sáng thế và vẫn liên tục được xây dựng nâng cấp, Đường Làm Người là một con đường dài nhất và to nhất trong các con đường đã từng được xây trên thế giới. Đường có nhiều làn khác nhau: làn cho da người đi về phương Đông, làn cho người đi về phương Tây, làn cho người vô phương, vv...Giữa các làn đường có giải phân cách đúc bằng bê tông, cao và vững ngang bức tường Béc lin, do các kiến trúc sư lỗi lạc như Thích Ca Mầu Ni, Khổng tử, Trang tử, Giê su Ki tô, Mô ha mét, Freud, Platon, Heghen, Các Mác, vv...vẽ thiết kế và huy động người xây dựng. Cách vệ đưòng không xa là các loại biển quảng cáo: nào là Hawaii, nào là Las Vegas, nào là Hall of fame, bia rượu, nhà nghỉ, đủ các loại...đèn xanh đèn vàng nhấp nháy đầy màu sắc, làm cho cảnh quan con đường thêm sinh động, hấp dẫn...

Đưòng làm người có rất nhiều tầng. Tầng dưới cùng cho những người không còn hình dạng người, di chuyển cần có các phương pháp hỗ trợ như còng tay, khoá chân, vv...đi theo luật hình, luật dân sự.

Tầng tiếp giành cho người đi xe buýt - vừa ngồi vừa đọc báo, thấy có đám đánh nhau thì ghé lại đánh hôi, thấy có ai rơi tiền thì nhìn trước nhìn sau nhặt lấy, nhẩn nhẩn nha nha, không chú ý thời gian trôi qua, bỏ lỡ bến mà không biết, đi đến cuối đường đọc vẫn chưa xong bài báo “Vì sao chúng ta đau khổ”. Làn này theo luật sinh, lão, bệnh, tử.

Tầng tiếp giành cho người đi xe đạp, dĩ hoà vi quý, không hiện đại, không quá thô sơ, từ từ, hiền hoà đi hết đường, vừa đi vừa thở, lưng áo ướt mồ hôi nhưng thôi cũng là thể dục. Làn này tuỳ luật từng lúc, mũ ni che tai, không cần có chính luật, phụ luật, cứ tiện là làm.

Tầng trên cho người đi xe máy, giật gấu vá vai, vội vội vàng vàng, không sang không hèn, tranh thủ tiện nghi, không ra đàng hoàng, không ra bần tiện; phóng nhanh vượt ẩu, đèn đỏ vựợt ngay, cố về đích nhanh, chưa về đến cuối đường mệt bã, đâu biết có ai đi cùng mình, nắng mưa dầu dãi chai sạn, nghi ngờ tất thảy. Làn này dùng luật “mình là trên hết”

Tầng tiếp nữa là những kẻ đi ô tô, nghênh ngang khệnh khạng, bấm còi toe toe, ngồi mát bát vàng, cậy mình có chút kiến thức hay tiền tài danh vọng, hay con nhà quan tước, phóng xe vượt qua, nước bẩn bắn lên người khác cũng mặc kệ; chưa đi được mấy đường mà đã gây tai nạn...Làn này dùng luật rừng, luật kẻ mạnh, ai yếu phải thua.

Rồi còn nhiều tầng nữa..

Có một tầng hẹp lắm, đường nhỏ thôi, ở sát bên lề, không rải nhựa mà lát gạch màu nâu đất, không có gì vui mắt sặc sỡ, không có gì hào nhoáng xa hoa. Nền đường trải bằng hỗn hợp Bi, Trí, Dũng; giải phân cách là định kiến; chỉ có một luật tối cao là yêu thương. Tầng này ít người đi lại lắm vì ai cũng ngại đi bộ...Tầng ấy có biển đề "Đường một chiều, chỉ đến thẳng Xứ Người”

Thầy đọc bài của Việt, cho 2 điểm và phê “ý văn sơ sài, lời văn sáo rỗng, diễn đạt lủng củng, tối tăm. Vứt! Vứt!"

Hu hu, xin Thày tha lỗi cho con!

PV
lifegoeson
15-10-05, 03:28
Bài ra: Luận về trà - Nghiêm Tuỳ Vân

Trà cũng như thuốc đều là thứ nghiện và dễ nghiện.Đã là thứ gây nghiện phàm chẳng có gì tốt. Sáng dậy phải một ấm. Trưa về phải một ấm. Tối đến cũng một ấm. Khi chết rồi, trà cũng đi theo. Đã vậy trà tam tửu tứ.
Uống trà là phải có bạn, kẻ uống trà thường có thói la cà, lề mề. Trà uống chẳng thể đơn sơ. Kỹ lưỡng từ nước, loại trà cho tới khung cảnh khiến cho cái sự ẩm thực trở thành trọng lễ mà không được giản dị. Trà uống nhiều dế gây mất ngủ nhất là cho người già. Trà phân biệt kẻ kế bên làm cho tình người không được bao dung.
Nhưng không có trà cuộc sống kém thi vị hẳn đi.Vi thế cam lòng mà nghiện.

Bài đối: Luận về Chat - PhanViet

Chat không phải là rượu, vậy mà gây nghiện. Phàm đã là thứ gây nghiện, ắt là không tốt. Sáng ngủ dậy cũng vào Chat mấy câu rồi mới đi. Trưa đi học về vào chat. Tối đến cũng chat. Hôm nào máy chết, server bị down, không chat được thì thấy mình cũng như người chết rồi.

Chat phải có bạn, người chat thường la cà, dông dài, liên thiên. Chat chẳng phải đơn giản. Chat phải không nhanh quá, dễ chán; không chậm quá, dễ nản; phải vừa đủ độ đậm để lần sau bạn còn quay lại. Chat phải chân thành và tự nhiên, để bạn và mình đều cởi mở, vui tươi. Mạng là ảo, nên bạn chat trọng nhau về lễ nghĩa và tình cảm, chứ không quan tâm những thứ vật chất, địa vị hay hình thức ngoài đời. Chat làm cho người ta xích lại gần nhau. Đó là lúc tâm hồn nói chuyện với tâm hồn, trí tuệ nói chuyện với trí tuệ, lòng người trải rộng bao la, không vướng mắc gì nữa...

Không có chat, cuộc sống kém hẳn thú vị đi. Vì thế cam lòng mà nghiện...

p/s: hôm nay server bị down nên em không lên chat được đâu ạ




Bài đối đối: Luận về bỏ chat - VT

Chat không phải là heroin, nhưng làm cho người như con nghiện. Ăn chat, sắp ngủ chat cho tới khi ko cần ngủ. Bởi vậy miệng ngáp liên miên, mắt mũi lờ đờ, thân thể còm nhom vì thiếu ăn thiếu ngủ. Cả ngày quanh quẩn bên máy tính, đến lớp ngủ mơ, xong giờ về chat. Bài ko ngó tới, thi cử dồn về. Vậy ta nên bỏ chat.

Ngày 1 qua đi. Ngày 2 không còn nhớ. Ngày 3 bực mình, vào ngó tí. Rồi tới ôn thi, cứ chút xả hơi, vào lăng nhăng đỡ mệt. Thi xong relax, chả việc gì làm, đành lên ngồi chat. Rồi gặp em. Từ đó tới hẹn lại lên, quên ngay chuyện bỏ chat.

NB: Server có down anh vẫn đợi

=====================

Cặp đối sau post lại để tưởng nhớ hiền huynh Goldmun vừa mới đi Tây hì hì

Bài ra: Luận về con gái - Goldmund

Con gái là một loại gai có sắc. Gai làm ta đau mà sắc làm ta say. Vừa đau vừa say nên ta hóa dở dở ương ương. Nhưng nếu không đau không say ta chẳng còn là ta nữa. Cho nên ta vị lụy sắc mà cứ phải cắm đầu vào gai, chấp nhận rủi ro khi trái tim ứa máu để đổi lấy cái cảm giác đê mê lơ lửng.
Con gái đỏng đảnh như mèo và thi ca. Khi ta tìm đến con gái thì con gái hắt hủi ta. Khi ta chán chường con gái thì con gái lại tìm đến, ngồi vào lòng ta và kêu gừ rừ. Nếu ta hất con gái qua một bên thì thể nào cũng bị quào cho vài cái, rướm máu (lại rướm máu).
Con gái cũng chỉ có hai con mắt như ta. Nhưng mắt con gái làm bằng kính hiển vi. Nên con gái luôn nhìn thấy những thứ li ti nhất, thậm chí vô hình. Con gái có thể nhìn thấy trên vai áo ta một sợi tóc lạ (lạy Chúa, tóc nào mà chả là tóc cơ chứ). Con gái có thể nhìn thấy trong mắt ta một ánh nhìn không đúng hướng. Nhưng ghê gớm hơn con gái nhìn thấu lòng ta, nhìn thấu những mầm mống đa mang và những gen lặn không chung thủy của ta.
Con gái là nữ thần của Quên và Nhớ. Con gái dễ dàng quên ta một ngày mấy lần gọi điện cho con gái, tặng cho con gái bao nhiêu hoa hồng, dễ dàng quên ta đã viết cho con gái những bài thơ nóng bỏng hay nói câu anh yêu em chán vạn lần. Nhưng con gái rất nhớ một lần hẹn ta đến muộn, rất nhớ một lần ta trót chiêm ngưỡng một người con gái khác, và nếu có lần ta nói dối mà con gái biết được thì con gái chẳng bao giờ quên.
Thế đấy, thế mà ta vẫn đảo điên vì con gái. Chán nhỉ!

Bài trêu Goldmun chứ không phải đối: Luận Goldmun - PhanViet

"Hiền muội" nghĩa là em gái ngoan. "Hiền đệ" nghĩa là em trai tốt. Ta được Goldmund gọi bằng cả muội lẫn đệ - thật là lãi làm sao...hì hì.
Huynh có hai con mắt - mắt như Mun. Huynh có hai cái tai - tai như Gỗ. Huynh lại còn có một cái miệng - miệng Gỗ Mun. Và huynh có rất nhiều tóc - tóc Mun Gỗ. Ta chưa nhìn thấy huynh bao giờ.
Huynh ta làm thơ - những vần thơ Gỗ. Huynh ta viết văn - những áng văn Mun. Huynh trêu ghẹo mọi người và cười - cười Mun. Huynh tranh luận, khoa chân múa tay và gào thét - giọng Gỗ. Ta chưa nhìn thấy huynh bao giờ.
"Hiền muội" là em gái ngoan. "Hiền đệ" là em trai tốt. Ta được Gỗ Mun gọi bằng cả muội lẫn đệ - thật là lãi làm sao. Ta gọi Gỗ Mun là hiền huynh - huynh thật là thiệt..hì hì...nhờ huynh nhờ?
lifegoeson
15-10-05, 03:30
Thư cuối năm
PhanViet

Các anh các chị, các bạn và các em thân mến,

Bây giờ là tối Giao thừa ở Hà Nội; bên chỗ của Chích thì đang là buổi sáng ngày thứ Hai bình thường đầu tuần; chỗ của các anh chị bên Úc thì đã là tang tảng sáng rồi. Sự bận rộn của cuộc sống bên này và một số những lo lắng gần đây làm cho Chích không viết thường xuyên cho mọi người được. Thỉnh thoảng, cũng tự dày vò mình rằng hình như mình có mới nới cũ; rồi lại tự biện minh cho sự vô tình của mình bằng những thứ lý do muôn thủa như “bận rộn” và gì gì đó. Kể cũng là một tội lỗi nên xưng ra vào lúc cuối năm này.

Thư tình cảm cuối năm này chắc sẽ là một thư ngậm ngùi. Cũng dễ hiểu nhỉ: cuối năm nghĩ lại thì hay ngậm ngùi. Sáng sớm nay ngủ dậy, lúc bước chân xuống giưòng, Chích có một cảm giác khá lạ lùng. Đột nhiên chích thấy rõ là mình như tách làm hai: một nửa mình bước chân xuống giường một cách vô thức theo thói quen, một nửa kia thì ý thức được điều đó. Lạ lùng cái cảm giác phân tách của mình ra thành hai nửa đó: một nửa vật vã với những cảm xúc và suy nghĩ thông thường; một nửa bình thản đứng nhìn, chờ đợi sự thăng hoa hay sự gục chết của nửa kia (hì hì..dã man quá). Cái trạng thái này không phải là một trạng thái thường xuyên. Sự tách đôi này chích không biết nên buồn hay vui bởi vì đã có một giai đoạn khá dài, cả hai chỉ là một, phần nhiều là cái nửa sau. Nói chung thì lúc nhớ ra quá khứ như thế cũng thoáng buồn, bởi vì thấy mình hình như là ngày càng kém cỏi đi.

Hôm qua chích nhận được thư của N. N kể lại chuyện có lần N với chích và T ngồi uống nước ở quán Cây đa chỗ gần Cung thiếu nhi đó; lúc đó N nói là kể mà 40 năm nữa, chúng mình gặp lại nhau, dung dăng dung dẻ, rồi N nói với chích rằng “bà biết không, hồi chúng mình 20 tuổi ấy, tôi iêu thầm bà đấy, nhưng tôi không dám nói” thì sẽ buồn cười lắm nhỉ. Như kiểu là trẻ con đánh vỡ đồ quý của bố nhưng đến tận lúc lớn đùng mới khai ra. Lúc đó cả lũ cười phá ra. Sau rồi hôm qua N nói rằng bây giờ thì rõ rành chúng mình là bạn tốt nên chẳng cần đợi 40 năm nưã để nói điều đó. Bây giờ thì N có thể nói rất thanh thản là trước đây có tình cảm đặc biệt với chích nhưng chẳng dám nói. N bảo lúc N viết thư thế N cười ghê lắm vì vui. Vui là chúng ta nói với nhau thế được. Chích cũng vui vì tình bạn như thế (à, cũng hơi tiếc tiếc...hì hì...chẹp chẹp, sao mà N không nói với chích nhỉ...biết đâu...hahaha...). Hảo bằng hữu, hảo bằng hữu!

Đấy, đọc thư của N hôm qua xong thì chích nghĩ là thư tình cảm năm nay không có các tiết mục Dos and Don’t Dos nữa mà chỉ lan man kể với mọi người bài học của chích năm nay về tình iêu thôi. Mong là các anh chị, các bạn và các em tham khảo, ngõ hầu chúng ta học được lẫn nhau mà không bị sai lầm nữa; cũng như là phải cố vấn cho chích bé đang ti toe tập đi...

Các anh chị và các bạn ạ, chích nhận rõ rằng chúng ta đều là con người! Nói thế này nghĩa là nói rằng chúng ta không mạnh như chúng ta tưởng. Chích muốn nói là chúng ta đều là người với tất cả sự yếu đuối, ích kỷ và tầm thường mà cái chữ đó tiềm ẩn. Trong số các anh chị, các bạn và các em đây, có rất nhiều người rất giỏi giang và trẻ trung. Sự giỏi giang nhất định đi kèm với tuổi trẻ thì sinh ra một sự khác: là sự tự tin quá mức vào khả năng có thể xoay chuyển được cuộc sống và xoay chuyển dòng chảy các biến cố sao cho đúng ý mình. Chích sẽ không nói rằng mọi người sẽ gục ngã và chịu thương tích như một số trong chúng ta; và cũng không mong mọi người phải rơi vào hoàn cảnh như thế; nhưng chích muốn mọi người hãy thận trọng và be prepared rằng sẽ có những biến cố cho thấy chúng ta dù trẻ trung, giỏi giang đến đâu cũng không - hoặc ít nhất là chưa - đủ sức để xoay chuyển. Điều trớ trêu nhưng cũng là điều may mắn là chúng ta lẽ ra đã có thể làm rất nhiều thứ để cho cái cú quật cuối cùng đối với ta không xảy ra nếu chúng ta đừng tự tin quá khi nhìn thấy những mầm mống li ti của nó ở lúc trước.

Nói chuyện tình iêu thì dĩ nhiên là đành phải kể chuyện tình iêu ra vậy. Chích đã xin phép đàng hoàng để kể chuyện tình iêu của anh Q. ra. Sau đây là lời của anh Q kể lại cho chích trong thư cuối năm, xin trích nguyên văn nhé (có lược đi một số đoạn cá nhân quá và các chi tiết hì hì...politically sensitive):

“Chích cũng biết chuyện của anh với M rồi đấy: tình yêu sét đánh - có thể gọi là thế. Yêu nhau được 5 năm năm nay thì đến hơn nửa thời gian là xa nhau vì đi học xa. Cuộc sống bận rộn, những mối lo mới, những quan hệ mới làm cho cả hai bắt đầu khó diễn đạt cảm giác của mình hơn. Yêu thương thì vẫn y như cũ nhưng một cách tự nhiên cả hai bắt đầu có cảm giác về khoảng cách. Được một thời gian, những gì M viết cho anh bắt đầu làm anh thấy tổn thương một cách rất vô lý. Anh không phải là một người có vẻ ngoài điềm tĩnh, nhưng là người điềm tĩnh ở bên trong trước các biến cố; cho nên anh cứ chịu đựng những tổn thương vô lý ấy. Nhưng anh đã mắc một sai lầm: là tin rằng cái cốt lõi mới là quan trọng, còn các biểu hiện nhỏ ở nơi này nơi khác đều không đáng quan tâm.

Thực ra những lúc mà người kia làm tổn thương đến mình là vì người ta có một nhu cầu tình cảm hoặc bị mất thăng bằng, cần có mình làm chỗ dựa. Lúc như thế mà mình lại chỉ nghĩ đến tự ái của mình và quy kết người kia thì chỉ làm hỏng mọi thứ chích ạ. Có những khi M viết thư kể chuyện vui, buồn ở nhà; anh ở đây có một tham chiếu khác, không bắt vào được điều M ngụ ý nên lại hiểu một hướng khác, rồi cư xử rất là không đúng cách. Những khi mình có điều không bằng lòng trong cuộc sống, mình mệt mỏi lo lắng vì điều gì đó ở bên này, mình viết thư mà không biết rằng vô thức những sự mệt mỏi của mình đã ở cả trong đó. Những người có giác quan mịn màng, có sự tinh tế và tình yêu con người kiểu như chúng mình thì lại hay dễ bị tổn thương, dễ hơn nhiều là mình tưởng, chích ạ.

Anh chẳng phải kể chi tiết thì chích cũng biết là một năm qua vất vả thế nào. Cứ dần dần như thế, rồi đột nhiên đến lúc cả hai đều muốn buông tay. Vì mệt chứ không phải vì không còn tình cảm nữa. Bây giờ, anh vẫn còn thương M, nhưng anh rất sợ tâm lý của M: nó có gì đó không ổn định, rất mỏng manh, thất thường. Hình như đã có cái gì đó không hàn gắn được. Anh cũng không biết chắc là mọi việc sẽ đến đâu”

Thực ra mình hoàn toàn có thể làm tốt hơn nếu mình đừng quá chủ quan với sự xói mòn của thời gian. Trong số chúng ta đây có rất nhiều người đang ở xa nhà và đều đang iêu xa, chích chỉ muốn nói là: khoảng cách là một thứ rất đáng sợ, không phải vì chúng ta không đủ kiên nhẫn chờ hay vì chúng ta không iêu, mà là vì chúng ta không chịu hiểu và chuẩn bị cho những biến cố. Chích nghĩ là tình yêu nào cũng đặt trên nền tảng chia sẻ và thấu hiểu; mà nếu sự hiểu và chia sẻ không đạt được thì mọi kiên nhẫn, chung thuỷ chỉ càng làm cho sự đau khổ mỗi bên dài ra. Cái “lỗi” - hì hì tạm quy kết thế đã - mà anh Quang mắc phải - có lẽ giống như nhiều bạn là quá tự tin. Tin vào mình, tin vào bạn mình và tin vào tình yêu. Nói thế này thì nghe có vẻ cực đoan, ra ý bảo tin là ngốc nghếch. Không phải thế. Chúng ta tin nhưng mà không được take it for granted. Phải ngăn chặn những góc khuất của tình cảm ngay khi nó bắt đầu xuất hiện; vì khả năng chắc chắn là khi nó bắt đầu xuất hiện thì nó như một vết dầu loang, ngày càng lớn thêm. Con người ta khi đã đặt được một chân trên con đường tiến vào sự ngóc ngách của tâm hồn chính mình thì người ta cứ hứng thú tiến mãi, bắt chấp sự tổn thương mà những khám phá đó gây ra cho cộng đồng của mình và chính mình.

Sự xa cách về địa lý, những khoảng cách vô hình trong tình cảm, những ngóc ngách mới của nội tâm mà chúng ta mới phát hiện ra rút cục làm cho chúng ta thành một người khác. Sự thay đổi trong tình cảm không đến ngay; nó đến với con người; khi con người thay đổi thì tình cảm cũng bị buộc phải thay đổi theo. Mọi người ạ, nếu cái tâm của mình vững chãi mà chưa bị tổn thương hay bị đánh gục thì đững nên chủ quan cho rằng điều đó sẽ không xảy ra. Lại nữa, đôi khi trong tâm chúng ta không có một chút ý định làm tổn thương người khác nhưng khi chúng ta biểu hiện ra ngoài thì chúng ta hay vô thức không kiểm soát các tác động khác nhau của nó lên môi trường. Chúng ta không thể tách khỏi cộng động. Những điều tốt mình làm cho cộng đồng, có khi cộng đồng không hiểu hết; nhưng những điều mình gây hại thì phản trở lại ngay. Chích nghĩ là chúng ta cần phải hết sức chú ý làm cho cộng đồng không bị tổn thương vì mình. Đấy cũng là yêu cuộc sống đấy...hì hì. Nếu mình vì điều tốt của mình mà không nhận ra được các tác động xấu tiềm ẩn trong cái tốt của mình khi nó phát tán ra ngoài thì mình cũng lại rơi vào trạng thái “vô minh” rồi.

Hihi...lúc mình còn trẻ thế này, chúng mình hay nghĩ là chúng mình có thời gian. Thực ra thì cũng không có nhiều đâu nhỉ? Bây giờ, khi chích nhìn vào các bạn bè lớn của chích, đôi lúc có cảm giác họ mới chỉ hơn 30 một chút mà đã ra “người thiên cổ” rồi. Là vì họ đã cháy hết năng lượng rồi; phần còn lại về sau của cuộc sống chỉ là một loạt những thói quen và bồi đắp kinh nghiệm. Sống như thế dĩ nhiên không có gì sai trái cả...mà chưa biết chừng vài năm nữa chích cũng ra người thiên cổ y dư thế...dưng mà lúc đó thì sẽ viết thư tình cảm khác, kể bài học người thiên cổ. Còn bây giờ thì chích vẫn nghĩ là phải quý thời gian và có một lựa chọn rõ ràng cho mình, lựa chọn và chuẩn bị một tình yêu cuộc sống đủ dài để dùng cho 70, 80 năm (Thánh Ala phù hộ cho các anh chị và các bạn). Trong cái công cuộc chuẩn bị về tình yêu cuộc sống đó, rất quan trọng là việc chuẩn bị bạn đời. Nói “chuẩn bị bạn đời” nghe rất ghê rợn nhỉ...ý chích là phải hết sức thận trọng và quý những gì mình có. Chích vẫn thấy tình yêu và cuộc sống gia đình là điều thiêng liêng lắm; cho nên chích vẫn nghĩ là phải giành thời gian xây dựng nó xứng đáng. Các cụ (thánh Ala phù hộ các cụ) vẫn bảo “xây dựng gia đình”...mà “xây dựng” thì không đơn giản chút nào?

Chúng mình chẳng có nhiều thời gian đâu; chích nghĩ là tuỳ từng thời điểm mà phải ưu tiên điều gì hơn vì cái gì cũng chỉ có thời điểm. Nếu mình bỏ qua nó đi thì luôn luôn về sau mình sẽ theo đuổi và chấp nhận những lựa chọn không phải là cái tối ưu nữa. Chích nghĩ có một người bạn đời mà như bạn, như anh chị em, như thày cô, như cha mẹ nhu vv...thì sẽ là một yếu tố rất tốt để bạn đi được dài mà không bị cháy hết năng lượng. Phải làm sao mà đến năm mình 50, 60, mình vẫn còn trẻ trung, vẫn còn muốn cống hiến và sáng tạo, vẫn muốn sống chân chính, toàn tâm toàn ý chứ không buông xuôi.

Suy cho cùng thì giờ là lúc chúng ta không thể làm đồ chơi của chúng ta được nữa. Cứ ung dung, vui vẻ mãi trong cái khung, cái tầng này của sức người và tình người thì là chúng mình lại lãng phí rồi. Bây giờ ngồi nghĩ lại năm cũ, chích thấy chích tích được một số năng lượng, nhưng lần nào cũng chưa đủ lớn để làm bàn đạp cho mình, lần nào mình cũng vội vàng tiêu hết vào những việc chưa đến lúc. Chích đã luôn chạy nước rút và đi đường tắt trong công việc. Bây giờ thì chích thấy là cần phải khẩn trương nhưng không vội vàng và cần tích đủ năng lượng để mà thử thách thức cái giới hạn mình thấy ở mình. Chích nói thế chắc là các anh chị, các bạn và các em đều hiểu. Mình không thử thì không bao giờ biết mình sẽ đi đến đâu và có thể làm được gì. Dưng mà những lúc đang cố thách thức mình thế này là lúc cần rất nhiều dũng cảm...chích cũng đang run lắm.

Chúc mọi người vũng vàng và quý trọng tình yêu của mình nhé. Và hihi...không quá tự tin một cách mù quáng nhưng vẫn cần phải tin là chúng ta có đủ phẩm chất để được hạnh phúc. Chỉ cần phải chịu khó chú ý một chút thôi. Nhiều khi thấy hai người rất tốt mà không thể nào đến được với nhau, không hiểu tại sao nữa. Mọi người hay đổ tại duyên số; chích nghĩ chắc mình chưa cố gắng thoả đáng chăng? Tình yêu cũng như là sóng, từng đợt dâng cao rồi rút; lúc nó rút thì mình phải vững tin là nó chỉ đang chuẩn bị cho đợt dâng cao tiếp theo. Dưng mà chỗ này chích không dám lạm bàn. Chỉ mong là mọi người quý trọng những gì mình có. Enjoy being in love!

Thôi, thư viết thế này cũng dài rồi. Tình cảm thì chắc chưa đủ dài nhưng mà may mắn thay tình cảm lại là thứ không cần nói nhiều cũng hiểu. Hì hì...chích yêu quý mọi người lắm và chúc cho mọi người vẫn lời chúc cũ từ năm ngoái: là hạnh phúc đầy tay, niềm vui tràn đầy trong mắt, thành công đầy hai vai. Năm nay thì chích sẽ thay đổi nhiều đấy; cũng đã chuẩn bị tinh thần là sẽ vất vả nhiều trong năm nay. Chuẩn bị tinh thần kiểu này vừa vui vừa run: vui là mình cũng biết chuẩn bị cơ đấy, còn run là vì sợ mình lại rơi vào cái tự tin kinh khủng khiếp, chủ quan khinh địch vừa nói trên, rồi mù quáng mà vấp ngã. Nhưng thôi, đấy là việc để nói của thư tình cảm cuối năm sau cơ, không phải bây giờ.

Mọi người ăn Tết vui vẻ nhé. Chích mong về với mọi người và yêu quý mọi người lắm!

Happy Lew Year!
Happy New Year!
Happy New Year!

- chích bông -

PV
lifegoeson
15-10-05, 03:31
Dưới bóng cây phong mùa đông
PhanViet

Mùa đông
Những cây phong không còn lá
Trong công viên trường em ngồi đó
Bỗng nhiên không còn ngạc nhiên

Mặt đất bình yên
Châu Phi không còn xa lạ
Nước Mỹ ở gần ta quá
Nơi đâu cũng sẽ là nhà

Bao la, bao la...
Những cành cây phong khẳng khiu kia
Trên đầu em vẫn như xanh lá
Tri thức như biển cả
Em không cần bơi tới bờ

Ra đi ra đi...
Ở đây ở đó...
Tan vào trong gió
Sự ngạc nhiên em...

Anh có đến như hẹn hay không?
Xin chào thân thiết!
Tự do, tự do ơi - em biết
Ta đang qua, đang qua

Ta đang qua, đang qua
Ơi cây phong khẳng khiu không còn cành xanh lá đỏ
Mùa thu, mùa xuân, mùa hạ đều ở trên cao đó
Xa và gần, có và không

Điều gì là điều có ý nghĩa hơn?
Điều gì là điều sẽ ở lại?
Khi nào tuyết trên cây tan chảy
Lá sẽ đâm lên

Em ngồi dưới bóng cây phong khẳng khiu
Chiều đi qua, người đi qua mải miết
Chỉ nhìn thôi, chỉ nghe thôi
Cuộc sống ôi thân thiết

Không ngẩng đầu lên, em biết
Trên cao kia là những lá đỏ cành xanh
Chiều trong công viên vắng tanh
Châu Phi đến ngồi thì thầm kể chuyện

PV
lifegoeson
15-10-05, 03:33
Truyện ngắn: ĐƯỜNG NHỎ
PhanViet

Có một sáng mùa xuân, tôi tỉnh dậy sớm hơn thường lệ và nghe thấy những con chim sẻ nhảy nhót hót lên vui vẻ như thắp sáng cả bầu trời còn đang mờ tối và tĩnh lặng. Bầu trời có màu thép, hơi ẩm ướt nhưng dịu nhẹ. Không gian như có một mùi thơm là lạ. Những con chim sẻ nhỏ không biết đến giá lạnh cứ nhảy nhót ở đầu nhà và hót lên líu lo. Tôi ngồi dậy và trèo lên bậu cửa sổ ngồi trông xuống con đường nhỏ sau nhà. Mặt đất ẩm nhưng sạch sẽ. Vẫn chưa có người qua lại nhiều ngoại trừ một vài người đi làm sớm. Đây là con đường tắt, xuyên qua những ruộng rau và một vùng đất hoang để ra đường chính. Những thân cây lau và cỏ dại mọc cao vút bên kia đường cắt những vệt dài lên nền trời.

Có một cây dong riềng nở hoa đỏ chói bên bờ cái ao nhỏ phủ đầy hoa bèo trên mặt nước. Hoa bèo tím biếc. Bèo tấm xanh mướt chen chân nhau trong những ruộng rau bên cạnh. Tôi ước rằng mình là một cái hoa nhỏ bay lên được. Như thế tôi có thể đi lang bang trong thế giới này, qua nhiều miền đất và thấy nhiều cảnh đẹp, người đẹp. Tôi có thể đến vùng Scandinavi phủ tuyết hoặc đi qua những khu đồng hoang ở miễn Bắc nước Anh, đi qua những hải cảng luôn thổi thứ gió sầu phương Bắc ở Hà Lan hoặc đi qua những đồng cỏ du mục ở đâu đó nơi có những khúc nhạc vui vẻ, những cuộc nhảy dân gian bất tận. Cứ thế mà đi qua không gian và thời gian thì thật vui ...

Dưới nhà có tiếng cửa sắt kéo. Tôi biết mẹ tôi đã dậy đi chợ. Tôi sẽ chờ mẹ mua thức ăn và đồ ăn sáng về, rồi ăn sáng và đến trường. Tiết học Lịch sử các học thuyết kinh tế hôm nay, tôi phải giảng bài cho sinh viên về Adam Smith, nhà kinh tế học lỗi lạc người Anh. Ông ta có một lý thuyết rất nổi tiếng gọi là “Bàn tay vô hình”. Lý thuyết ấy nói rằng trong lúc các cá nhân trong nền kinh tế theo đuổi lợi ích riêng của mình, sẽ có một bàn tay vô hình hướng các hoạt động của họ theo mục đích kinh tế chung của xã hội và do đó nền kinh tế sẽ đạt được hiệu quả tối ưu.

Cách mấy ngôi nhà, một anh thanh niên đang khua khoắng chân tay trên sân thượng. Nhìn thấy tôi, anh ta vội kết thúc bài thể dục kỳ cục của mình và biến mất sau cánh cửa.

Không gian vẫn tĩnh lặng, chỉ trừ có tiếng những con chim sẻ đang ca lên vui vẻ. Tôi thấy mẹ đi tắt qua con đường nhỏ sau nhà để ra chợ. Dáng của Người nhẹ nhàng và đủng đỉnh. Mẹ lúc nào cũng đủng đỉnh, thư thái.

Ở chỗ thót lại của con đường, ngay cạnh cái ao bèo có một vũng nước to. Nó choán gần hết lối đi, chỉ chừa ra hai dải đất nhỏ bên cạnh, sát mép ao. Đất hai bên cũng lầy lội, đầy những vệt bánh xe đạp. Tôi thấy mẹ tôi đi lại gần vũng nước; Người băn khoăn đôi chút rồi lấy một hòn gạch đặt vào chỗ dải đất lầy lội bên phải đường và bước qua. Dáng của Người vẫn luôn nhẹ nhàng, thư thái.

Dưới con đường nhỏ vẫn chưa có người . Tôi nghe thấy một tiếng rao ở đằng xa:
- Mỳ nóng giòn đây

Tôi biết đấy là thằng bé vẫn hay bán bánh mỳ qua ngõ nhà tôi. Sáng nào nó cũng lượn đi lượn lại tới cả chục lần. Nó nhỏ người, có một mớ tóc xoăn, da đen và một hàm răng nham nhở đến tức cười. Nó có cái thói rao từ rất xa để mọi người nghe thấy mà chuẩn bị, rồi phóng vèo vèo qua và phanh kít lại khi có tiếng gọi. Nó đánh bạn với lũ trẻ trong ngõ nhà tôi và thường lễ phép nói “Chào chị” mỗi khi gặp tôi buổi sáng. Là vì tôi hay chờ mua bánh mì của nó những sáng tôi vội không kịp ăn sáng, đành mang bánh mì đến trường ăn lúc nghỉ tiết. Nó có cái giọng oang oang của một đứa trẻ đang vỡ giọng và những thói tinh nghịch của con nít. Nó là kẻ tử thù của bà cụ già nanh nọc cạnh nhà tôi vì nó hay hét vào tai cụ ấy những lúc nó nhìn thấy cụ - “Chào cụ ạ!”

Tiếng rao đến gần hơn; nghe vô trách nhiệm như người ta đọc một khẩu hiệu.
- Mỳ nóng nào!

Nó vẫn phóng xe vèo vèo và không hề nao núng khi nhìn thấy cái vũng nước to. Trái lại, nó khoái chí co cao hai chân và phóng thẳng qua chỗ sâu nhất, cười phá lên như một anh hùng vừa chiến thắng kẻ thù trong một trận kịch chiến.

Đột nhiên nó phanh kít xe lại và nhảy khỏi xe cũng nhanh như thế. Chỉ trong nháy mắt, cái bông hoa dong riềng đỏ bên bờ ao đã trở thành chiến lợi phẩm của nó.
- Mỳ nóng nào - tiếng rao xa dần.

Tôi quyết định sẽ không mua bánh mỳ của nó trong vòng 1 tuần vì tội đã phá hoại cảnh quan. Mất bông hoa dong đỏ chói ấy, cái khu đằng sau và con đường trở nên thảm đạm hơn. Mà nó thì đâu cần bông hoa.

Có một âm thanh lạ lùng, nghe choe choé và sống sượng. “Mời các bạn đón đọc báo An ninh thủ đô, báo Hà Nội mới, báo Công an nhân dân, báo Tiền phong. Báo An ninh thủ đô hôm nay đăng tin một người mẹ dìm chết con trong vại nước. Vì sao thị lại nhẫn tâm làm như vậy với đứa con mới 9 tháng tuổi của mình ? Mời các bạn đón đọc. Báo Công an nhân dân hôm nay cho các bạn biết những tin tức về vụ án đang làm xôn xao dư luận thủ đô. Đó là vụ cướp của giết người ở tiệm vàng trên phố Ông ích Khiêm làm 3 người chết. Động cơ dã man nào đã đẩy kẻ sát nhân vào việc sát hại một lúc ba mạng người. Các bạn sẽ biết chi tiết trên báo Công an nhân dân”. Tiếp đến là một giọng nhạc vàng méo mó từ cái loa của người đàn ông rao báo. Những lời hát uỷ mỵ đi sau những lời quảng cáo thô lỗ và sống sượng - thật là một sự kết hợp tài tình.

Người đàn ông bán báo và các đồ thập cẩm dừng lại ở chỗ mấy ngôi nhà đang xây dở nằm gần con đường nhỏ. Đây là những nhà dân mới được đền bù khi giải toả đường ở đâu đó chuyển về. Những người chủ nhà giàu có chỉ thỉnh thoảng mới phóng xe máy tạt qua xem tiến độ xây dựng; mọi công việc do những người thợ nhà quê và người thầu khoán lo. Hồi họ làm móng, họ đóng cọc và đầm nền ầm ầm suốt đêm; tôi không sao ngủ được. Bây giờ mấy ngôi nhà đã ở giai đoạn hoàn thiện; họ cắt gạch lát nền cũng ầm ầm.

Người đàn ông tắt cái loa và dừng lại trước một ngôi nhà đang xây dở. Có một nửa bao xi-măng nằm ở ngay trên bậc cửa ra vào. Chắc những người thợ cẩu thả không buồn cất đi trước khi về nhà trọ đêm qua. Người đàn ông bán báo nhìn trước nhìn sau rồi bê nửa bao xi măng đặt lên yên sau xe đạp. Anh ta đạp vội đi.

Cái vũng nước làm anh ta hơi nao núng một chút. Xe nặng, vũng nước thì khá to, đất hai bên thì nhão và lầy. Anh ta lại đang vội. Tôi thấy anh ta chần chừ một lát rồi thận trọng đi qua vũng nước ở chỗ nông nhất, ngay bên rìa mép nước. Nhưng mà hình như chỗ rìa của vũng nước có một cái hố nhỏ hoặc có một hòn gạch nằm dưới mặt nước vì tôi thấy xe của anh ta loạng choạng, giật lên một cái. Người đàn ông nhỏ thó cố sức dận bàn đạp để lấy lại thăng bằng. Cái đầu xe quá nặng vì treo cái loa, ắc quy và cả một cái hòm đựng báo với các thứ đồ vụn vặt. Nó lắc qua lắc lại. Nửa bao xi măng đổ ụp xuống giữa vũng nước. Nước bẩn bắn tung toé lên người anh ta.

Người đàn ông vượt qua vũng nước và đứng lại lau nước bẩn. Anh ta nhìn lại bao xi măng vẻ tần ngần rối nhún vai đi tiếp. Tôi lại nghe thấy cái giọng sống sượng ấy “ Mời các bạn đón đọc báo An ninh thủ đô, báo Hà Nội mới, báo Công an nhân dân, báo Tiền phong. Báo An ninh thủ đô hôm nay đăng tin một người mẹ dìm chết con trong vại nước. Vì sao...”.

Những con chim sẻ nhỏ không còn nhảy nhót ở đầu hồi nhà bên cạnh nữa. Tiếng hót của chúng đã tắt từ lâu rồi. Tôi nghe thấy nhà ai đó mở một khúc nhạc cách mạng; nghe loáng thoáng như là “Từng đôi chim bay đi; tiếng ca rộn ràng; cánh chim xao xuyến; gió mùa xuân ...”. Tôi với tay vào bàn học và bật một đĩa nhạc. Đấy là Enya với nhạc Celtic. Giọng của chị ấy thật đặc biệt; rất có mỹ cảm; nhạc cũng đặc biệt nữa. Tôi hay mở bài Oricono Flow, Caribean Blue và Book of days vào buổi sáng và mở bài On my way home và Marble Halls trước khi đi ngủ. Những bài buổi sáng thường khiến tôi nghĩ đến biển xanh và những người múa vũ ba lê; những bài buổi tối làm tôi nghĩ đến những thung lũng, những con đường về nhà và cả những khoảnh đất thật rộng không có bóng cây nhưng râm mát. Nó làm tôi thấy dễ chịu và tự do, không vội vàng và không lo lắng.

Bây giờ đang là bài Only if - Giá mà : “If you really want to, you can hear me say. Only if you want to, will you find the way” - Nếu bạn thực sự mong mỏi, bạn sẽ nghe thấu lời tôi; chỉ cần bạn khát khao, bạn sẽ tìm thấy con đường”.

Có tiếng động cơ ngắt ngang lời hát ấy. Một đôi vợ chồng trẻ đi làm sớm. Người con gái ngồi sau đang có bầu. Chị mặc một cái váy len rất rộng bên trong, áo khoác ấm ở ngoài và đội mũ bảo hiểm. Người chồng mặc áo khoác rộng, đi giày đen bóng lộn. Họ đi chậm rãi để tránh những viên gạch và sỏi mà mấy nhà đang xây dở làm vương trên đường đi. Người chồng thận trọng dừng lại trước vũng nước. Anh ta đang tìm một giải pháp tối ưu.

Trong Kinh tế học có một đường cong rất nổi tiếng minh hoạ cho Quy luật sự thoả dụng giảm dần. Đặt giả thiết rằng bạn chỉ có một nguồn lực nhất định, ví dụ là 20 000 đồng; bạn sẽ có 2 sự lựa chọn: ăn tối và xem phim. Bạn sẽ có được những kết hợp nhất định: hoặc là đi ăn một bữa tối và xem một bộ phim; hoặc bạn sẽ xem hai bộ phim, hoặc ăn hai bữa tối; tuỳ bạn. Lựa chọn của bạn và do đó sự thoả dụng của bạn được biểu diễn bằng một đường cong; bạn có thể ở trên hoặc ở trong chứ không thể vựơt ra ngoài đường cong ấy.

Người thanh niên tần ngần. Anh ta nhìn bao xi măng ở giữa vũng nước và viên gạch mà mẹ tôi đặt lúc trước ở giữa chỗ đất lầy. Người con gái vẫn ngồi yên trên xe một cách tin tưởng. Cuối cùng người thanh niên chọn giải pháp thứ hai. Anh về số và khéo léo đi vào khoảng đất lầy nhỏ giữa hòn gạch của mẹ tôi và mép vũng nước. Đất ở đó rất nhão; nó kéo lún bánh xe xuống. Anh vội vàng về số và tăng ga. Chiếc xe vượt qua vệt đất lầy, để lại một rãnh trũng nhỏ, khá sâu. Nước tràn từ vũng nước sang cái rãnh đó và bị viên gạch chặn lại.

Có hai em gái nhỏ và ba em trai đang dung dăng dung dẻ trên đường. Đấy là những học sinh của trường cấp một ngay gần nhà tôi. Các em gái mặc quần len, áo khoác và đội mũ len. Các em trai đi giày thể thao và cũng đội mũ len. Từ trên nhìn xuống trông chúng như những cái nấm nhỏ. Cả lũ dừng lại trước vũng nước. Rõ ràng chúng không muốn sử dụng viên gạch mẹ tôi đã đặt vì như thế đơn giản quá, tầm thường quá. Một em trai nhảy lên trên phần nhô lên của bao xi măng trên vũng nước vẻ khoái chí và nhón chân nhảy phốc sang bên kia. Những em còn lại có vẻ thú vị với trò đó; chúng quyết định sẽ chọn giải pháp này. Bọn con trai qua trước rồi đến các em gái nhút nhát. Sau ba lần nhảy của các chàng trai nhỏ, cái bao xi măng đã gần biến mất khỏi mặt nước, chỉ còn nhô lên miếng giấy vàng lờ mờ. Các cô gái nhỏ đành phải chọn con đường nhẹ nhàng là viên gạch nhưng lúc này, viên gạch có nước ngập quanh chân, rất dễ ngã. Chúng đưa tay cho các bạn trai và khẽ đi qua, mỗi bước nhảy lại kêu lên “Uých chà”.

Sau cuộc vượt biển ngoạn mục ấy, các chàng trai nhỏ chưa hết hưng phấn. Một cậu nhặt một cái que dài và vừa đi vừa vụt túi bụi vào những thân cây lau cao vống bên đường. Những em còn lại cũng không đừng được trước trò chơi thú vị ấy; chúng lập tức tham gia vào cuộc chinh phạt một cách hăng say. Bãi cỏ lau cao xanh rờn trở nên tả tơi. Bông hoa dong đỏ thì đã mất. Chẳng để làm gì, chẳng vì cái gì cả.

Tối hôm thứ Bảy vừa rồi tôi đi xem một bộ phim về những người bị hội chứng Đao. Bộ phim có tên “Ngày thứ Tám”. Nó mở đầu thế này: “ Ngày thứ nhất, Chúa tạo ra mặt trời. Mặt trời chói chang nung nóng trên đầu và làm bạn chói mắt. Ngày thứ hai, Chúa tạo ra biển. Biển xô sóng, đẩy những hạt cát nhỏ làm ướt chân bạn. Ngày thứ ba, Chúa tạo ra cây cối. Khi bạn đứng áp mình vào một thân cây, bạn sẽ hoá thành một cành cây và bạn sẽ nghe thấy cây nói. Khi bạn cắt cỏ, cỏ sẽ đau và sẽ khóc. Bạn hãy nhớ an ủi, vỗ về những ngọn cỏ nhé ...”. Tôi nhớ hôm nay là thứ Ba.

***
Có một đám tiếng ồn tiến lại. Đấy là những người thợ xây. Họ ăn mặc tuyềnh toàng mặc dù trời khá rét. Đám người bá vai nhau đi, cuốc xẻng khua lộc cộc trên đường; có người cầm cả điếu cày. Họ văng tục.

Đoàn người đi đến trước vũng nước. Một người nói:

- Cái vũng nước này thấy mấy hôm rồi mà chẳng cạn.

Anh ta lấy xẻng xỉa xỉa xuống nước và nhận ra bao xi măng. Cũng vô thức, anh ta gõ xẻng xuống viên gạch như kiểu những người thợ xây vẫn làm rồi nói:

- Phí cả bao xi măng!

Một người khác lấy quốc hất viên gạch xuống ao. Nước tràn từ vũng nước, qua cái vết xe máy lúc nãy và chảy vào vết lún của viên gạch khi mấy học sinh bé đi qua. Anh chàng thợ nề lấy quốc khơi sâu thêm cái rãnh và kéo dài nó xuống tận mép ao. Nước trong vũng rút qua cãi rãnh nhỏ ấy nhanh không ngờ. Loáng một cái, nước đã cạn để lộ cái lòng trũng có bao xi măng nằm ở chính giữa. Anh chàng cầm xẻng chọc thủng bao xi măng và dàn đều xi măng lên trên cái lòng chảo nhỏ. Anh ta xúc cả một ít cát đổ vào rồi trộn lên. Một người khác vứt một tấm ván lên phía dải đất lầy lội.
- Chắc ngày mai xi măng đông cứng lại thì đi được.

Họ kéo nhau đi qua; cũng thản nhiên và lộn xộn như lúc đầu. Vẫn những câu nói tục.

Tôi nhìn thấy mẹ từ xa. Người vẫn đi rất điềm đạm. Mẹ bước trên tấm ván khéo léo như một diễn viên múa. Tôi biết là đã đến lúc mình phải xuống nhà.

Mẹ bảo tôi lúc ăn sáng:
- Không biết nhà ai tốt quá, đã đổ xi măng cát vào cái vũng nước sau nhà rồi. Chắc là sẽ hết lầy lội. May quá.

Lẽ nào tôi nói với mẹ về Adam Smith và những giả thuyết kinh tế ? Hay tôi kể cho mẹ câu chuyện về viên gạch, về thằng bé bán bánh mỳ, người đàn ông bán báo, bao xi măng, đôi vợ chồng trẻ, cái vết xe máy, những em nhỏ, những người thợ xây và cái rãnh nước ?

Mẹ tôi chỉ tin vào lòng tốt, vào con người và vào những điều giản dị. Mẹ tin vào chính cuộc sống này. Adam Smith chẳng có nghĩa gì; chẳng có nghĩa với ai; trừ với bài giảng của tôi.

PV
lifegoeson
15-10-05, 03:33
Bốn phương trời...
PhanViet

Hôm kia gặp Hoàng trên Yahoo Mesenger. Hoàng bảo “Sao rồi..bao giờ áo gấm vinh quy hả bạn?” Cười. “Chắc 3 năm nữa”. Hoàng bảo “Tính chuyện lấy chồng dần đi không thì muộn H ạ”. Lại cười “Cũng biết thế. Này bé con nhà ấy biết làm gì rồi?” “Biết vịn vào cái gì để đứng lên đi luanh quanh rồi, chắc sắp biết đi. Hơn 8 tháng rồi mà.” “ừ, chúc mừng nhé. Dạo này còn nghe Pink hay phim ảnh gì không?” “Tớ vợ rồi, đâu được như bọn ấy nữa. Nhà có trẻ con nên Rock bị hắt hủi lắm. Phim thì vẫn xem suốt. Vợ tớ thích mà”.

Ngồi nói chuyện với Hoàng gần 1 tiếng về phim ảnh, kể liên thiên chuyện nọ chuyện kia. Hoàng vẫn chẳng khác gì ngày xưa: mê Rock, mê phim, vẫn thẳng tính, vẫn “quái quỷ”...Chỉ vẫn không quen được mỗi khi Hoàng nói “vợ tớ” hay “con tớ”.

***
Lớp học Đại học có 30 người, hầu hết hơn tôi một, hai, thậm chí ba tuổi. Hoàng là người bạn thân đầu tiên. Lần đầu làm quen nhau rất kỳ cục. Cả hai đến lớp muộn nên ngồi cạnh nhau tít cuối lớp. Xa bảng nên chẳng nghe được giáo viên nói gì, chúng tôi bèn giới thiệu tên tuổi rồi tán gẫu. Có những người mà chỉ nói một hai câu, bạn đã thân ngay được. Chúng tôi ngồi cả giờ thi nhau nói như tên bắn về đủ thứ Tam quốc, Thuỷ hử, về Beethoven, về Guns and Roses, về Deep Purple, về phim nọ phim kia, về Triết và các thứ vặt vãnh trên đời. Khi mười bảy, mười tám tuổi, tất cả những thứ đó đều say mê, kỳ vĩ, lớn lao. Hôm sau, Hoàng mang cho tôi mượn băng “The delicate sounds of thunder” của Pink Floyd; tôi mang cho Hoàng mượn quyển “Bình minh mưa” của Pautopsky. Hai đứa thân nhau từ đó.

Năm nhất ở Đại học, lớp có tám con trai. Đến năm sau chỉ còn lại bảy vì một bạn đi học tổng hợp Sydney. Không lâu sau đó, một bạn khác lại đi New Zealand theo chế độ giành cho sinh viên các tỉnh miền Trung, mang theo cả cô vợ 19 tuổi vừa cưới, học dưới hai khoá. Còn lại sáu con trai.

Tôi ít chơi với các bạn trai trong lớp. Những mối thân tình sâu đậm nhất có lẽ là những lúc ngồi cuối lớp chơi cờ caro, hay là ngồi dọc hành lang tán gẫu lúc chờ đến lượt vào phòng thi vấn đáp, hoặc là những lúc tập trung học quân sự hay học thể dục thì ngồi cuối hàng hát Beatles với các bạn. Con trai lớp tôi không biết có bạo dạn ở ngoài không, nhưng trong lớp thì thua xa con gái. Ngoại trừ Hoàng, các bạn vẫn lận đận đến tận lúc ra trường. Bây giờ ngồi đây cố nhớ về các bạn; không thấy gì nhiều: T hay cười hiền hiền, hay gọi tôi bằng cả tên lẫn tên đệm; N lịch thiệp, niềm nở, giữ một thái độ tôn trọng kiểu kính nhi viễn chi với tất cả mọi người; H hay trêu tôi và hay kể chuyện về quê vì chúng tôi cùng quê nội; một vài người khác nữa.

Hai mươi hai con gái, toàn dân học chuyên và chọn; gần như chia hai trường phái: trường phái “hiện đại” của dân Ams cũ và trường phái “cổ điển” của dân chuyên Đại học Sư phạm ngoại ngữ. Dĩ nhiên là trường phái “hiện đại” thì ăn mặc đẹp, nhảy giỏi, trong lớp hay nói chuyện bạn trai và các chủ đề liên quan; trường phái “cổ điển” thì hiền lành, ít nói hơn và ít diện hơn.

Hơn bốn năm học với nhau, chưa lần nào lớp có một cuộc liên hoan đẩy đủ mặt. Ai cũng bận rộn vừa học vừa làm. Giao tiếp chủ yếu là những lúc nghĩ giữa giờ trên lớp, ngồi kể chuyện gẫu; những lúc đi ăn sáng ở căng tin của trường; những dịp lớp có ngưòi đi thi gì đó thì cả hội kéo đi ủng hộ, hò hét. Nói chung là những quan hệ khá lỏng lẻo, nửa vẫn còn vương vấn sự ghanh đua học hành rơi rớt của trẻ con, nửa đã bất cần như thanh niên lớn tuổi.

Năm ba, năm bốn Đại học, lớp vắng đi nhiều. Tôi ít đến lớp hơn trước. Những công việc mới, những con người mới gặp và những thứ mới phát hiện về cuộc sống bắt đầu gọi tôi về những hướng mới. Cổng trường học hàng sáng không còn hấp dẫn nữa. ý thức về nghĩa vụ và trách nhiệm sinh viên cũng mai một đi ít nhiều. Tôi không còn áy náy, khổ tâm khi nghỉ học đi làm như hồi học cấp ba hay mới vào Đại học nữa. Các bạn bè trong lớp cũng biến mất theo những nẻo đường riêng.

Thay vào cổng trường Đại học, những mơ ước khác của chúng tôi có lẽ bắt đầu hình thành rõ ràng hơn. Hoàng không còn đến lớp nữa và đã đi làm chính thức ở một công ty tin học. Tôi tin là Hoàng - cũng giống hầu hết những người trẻ tuổi đang theo đuổi một công việc nào đó liên quan đến tin học - mơ đến những giấc mơ Bill Gates. Hai trường phái cũng tiến gần nhau hơn. Bên hiện đại đằm hơn; còn bên cổ điển thì hiện đại thêm một ít. Bắt đầu có những khuôn mặt đánh phấn và son lúc đến lớp. Bắt đầu những trao đổi về công việc thay vào những chuyện bạn trai bạn gái hay sách cở khi trước.

Tôi không nói với ai trong lớp; nhưng tôi kể với nhiều bạn bè thân ở các khoá dưới và khoá trên. Tôi có một mơ ước mà nếu mô hình hoá nó ra thì sẽ được cảnh một người ngồi trên trảng cỏ châu Phi vào lúc hoàng hôn đổ những mảng nắng vàng thẫm cuối cùng trên những con sư tử oai phong nằm ngủ sau khi chén mồi no say và những đàn voi điềm đạm đi uống nước. Tôi muốn được sống như Mark Twain hay Hemingway hay Jack London: đi và khám phá, hưởng niềm vui từ chính những công việc mà mình phải bỏ cả sức, cả trí và cả tấm lòng vào đó. Tôi muốn như cô Neili Bly - đi vòng quanh thế giới trong 72 ngày. Tôi muốn làm một cái gì đó liên quan đến phúc lợi xã hội. Nhưng vẫn lẩn quẩn, băn khoăn: điều đó có loại trừ cuộc sống gia đình, những thứ bình dị khác như con cái, một mái ấm với một người bạn đời thực sự là tri kỷ của mình, bố mẹ, các chị em gái, các anh rể và các cháu gái, cháu trai không?

***
Tôi ra trường thì đi học xa ngay; từ bỏ những thứ về kinh tế để chuyển sang mảng khác. Hơn một năm, chỉ nhận được thiếp mời qua mạng và chúc mừng bạn bè cũng qua mạng. Hoàng lấy vợ đầu tiên, rồi vào Sài Gòn sống; bây giờ khá thành công trong công việc về tin học. Tiếp đó là Mai, là Ngọc, là Thuỷ, Phương, Linh, Minh...lần lượt lấy chồng và đi làm tứ phương tám hướng.

Người bạn đi học ở Úc giờ vẫn bặt tin. Có lẽ TA sẽ lập nghiệp ở nước ngoài; có thể rồi sẽ vào làm cho một hãng tin học nào đó - một hiện tượng về “chảy máu chất xám” vì TA rất thông minh, ngày xưa đã từng được giải Olympic toán quốc tế.

Người bạn đi học ở New Zealand đã trở về cùng vợ; giờ làm cho công ty BP. Nghe bạn bè nói thì T thành công và đôi vợ chồng trẻ khá hạnh phúc.

***
Hôm qua gặp Linh trên mạng. Ngày trước, Linh là điển hình của trường phái “cổ điển”: trong lớp hầu như không bao giờ nói gì, lúc nào cũng cười hiền hiền. Chúng tôi ít nói chuyện nhưng đều biết khá rõ về nhau. Linh thỉnh thoảng viết thư cho tôi, động viên “cố gắng học cho lớp mình vẻ vang”. Chỉ cười.

Hôm qua hỏi Linh:
- Khoẻ không Linh? Em bé của Linh thế nào rồi?
- Tớ khoẻ. Em bé khoẻ. Ông xã cũng khoẻ. Bao giờ về chơi?
- Tháng Bảy tớ về một chút rồi lại sang. Tớ có biết ông xã ấy không?
- Hì...chắc là không. Ông xã tớ hơi...cao tuổi. Anh ấy năm nay 36 xuân xanh rồi (nháy mắt)
- (cũng nháy mắt)

Tự nhiên thấy vui vui. Thôi, thế là các bạn tôi đều đã là người lớn cả rồi. Những mối thân tình con nít ngày trước giờ đã thành những quan hệ bạn bè độ lượng, ân cần và thông cảm.

Chỉ có tôi là vẫn còn lang thang và chắc chưa sớm về nhà, các bạn tôi ơi...

PV
lifegoeson
15-10-05, 03:40
XÃ HỘI NHÌN QUA MỘT MẮT XÍCH CỦA NÓ
PhanViet


Phần I: Bé bỏng

I am thirteen, going on fourteen

Trong rừng có hoa và có những con chim nhỏ. Xã hội có đứa trẻ con. Hoa là hoa cẩm chướng, chim là con chim chích bông; đứa trẻ con thì được gọi là “ranh con”

Đem hai ý tưởng đó gắn vào với nhau, sẽ làm nảy ra hình ảnh về cả cái quá trình sống của con người, cái quá trình mà một mảnh đất - bao hàm nghĩa một môi trường có thiên nhiên, có con người và các mối dây xã hội chằng chịt trong nó - sẽ đào luyện lên một nhân cách cho xã hội. “Ranh con” và “xã hội” - đấy là điểm khởi đầu cho những thứ về sau này: hoặc ta sẽ được những Vonte, những Luther King, những Đặng Thái Sơn, hoặc là ta sẽ được Hítle, được Pol Pot, được Phúc Bồ. Nở hoa rạng rỡ và cao tiếng hót hay chết lụi và lặng câm. Tất cả là tuỳ ở những cơn gió đưa đẩy trong lòng xã hội!

Phác hoạ ban đầu về ranh con

Ranh con hình như không có tuổi vì lúc nào cũng thấy nó hớn hở vui tươi, hí hửng như vừa khám phá cái gì. Nhưng một ranh con điển hình - hãy cho là nó khoảng 12-13 tuổi, cái tuổi bướng và mỏng manh nhất, dễ uốn nhất và cũng khó uốn nhất, cái tuổi bắt đầu tập làm người lớn nhưng về bản chất vẫn là một trẻ nít. Ranh con vô tư, ngày ăn cơm ba bữa do mẹ nấu, đi chơi bạt mạng với bạn bè, chẳng cần biết kỷ luật, lúc đùa không cần để ý chân có mang giày không, khi chạy (mà ranh con thì rất hay chạy) thì mũ tuột đi đâu mất cũng chẳng cần. Ranh con như con chim chích kia, chỉ có khác là con chim chích kia một mình, tự bắt lấy sâu ăn, còn ranh con thì vẫn có cha mẹ và anh chị em. Âu cũng là một điểm có lợi và bất lợi cho ranh con, so với con chim chích trong rừng và hoa cỏ trên đồng lầy.

Cha của ranh con là một công chức bình thường - một người đã lớn lên ở nông thôn, từng biết các trò thả ống bắt lươn, bẻ diều, đánh đáo, tắm sông, lội ruộng; khi lớn đã đi học đại học, rồi đã từng có những năm tháng ít nhiều trải nghiệm về chiến tranh; hết chiến tranh thì về nhà làm cán bộ giống như bao nhiêu người khác. Một người mẫn cán và mẫu mực; một trí tuệ thông minh và một tính cách trầm ngâm, cương nghị - cha ranh con là một điển hình của lớp người trước và là cả một hình tượng lúc nhỏ đối với ranh con. Việc cầm súng của cha là một điều thần kỳ. Việc cha biết hàn, biết xây nhà, biết sửa đài, vô tuyến, biết sửa mái nhà vào ngày mưa dột, biết bắn súng hơi, biết vá săm lốp xe đạp, biết thắp đèn măng sông, biết lọc nước giếng bằng cát, biết quăng cá chuối, biết làm đèn kéo quân, biết bẫy chuột - tất tật những thứ đó là kỳ vỹ đối với ranh con. Dĩ nhiên là ranh con của chúng ta rất tự hào về cha.

Thỉnh thoảng, ranh con có hỏi cha rằng “Cha đã bắn ai bao giờ chưa?”, cha của ranh con chỉ trầm ngâm, không nói gì. Ranh con thì tò mò lắm. Tò mò - ấy là bản chất của các nhóc tì vậy. Nó cũng là khởi nguồn cho các thiên tài hay ác quỷ: Newton tò mò về quả táo rơi xuống đất, Anhxtanh tò mò về thời gian, Hitle thì tò mò về cái chỗ làm chủ thế giới cho một giống người thượng đẳng, Napoleon thì tò mò về việc dùng pháo binh mà đàn áp quần chúng xem ai sẽ run sợ hơn. Đều bắt nguồn từ bản chất tò mò cả, chỉ khác nhau ở sự định hướng và thế đứng của cái tò mò mà thôi. Cứ tưởng tượng việc Napoleon đại đế điềm nhiên ra lệnh nã pháo vào quần chúng với việc chú nhóc Napoleon ngạo nghễ cầm đất đá ném búi tụi vào đám trẻ con đang nhạo báng chú ta vì cái thân hình thấp bé - chúng tôi cho là có ít nhiều điểm tương đồng trong hai hình ảnh này. Chắc là sau khi đám đông quần chúng hoặc đám trẻ con hoảng sợ bỏ chạy tán loạn thì cả hai Napoleon đều đứng chống nạnh cười khanh khách khoái chí. “See, they were scared to death!”

Nhưng thôi, hãy để Napoleon và Newton yên nghỉ (thánh Ala phù hộ cho họ!), ta quay lại với ranh con của chúng ta. Như đã nói trên, ranh con này còn có mẹ và các anh chị em.

Mẹ của ranh con cũng lớn lên từ nông thôn, rồi vào Đại học; tuy không phải trực tiếp cầm súng nhưng đã có một khoảng thời gian chờ cha ranh con đi bộ đội về - thế cũng có thể được tính là tham gia chiến tranh. Mà cứ tham gia bắn nhau là oai hùng đứt đuôi rồi, không phải tranh cãi gì nữa. Vậy nên ranh con cũng tự hào về mẹ lắm mặc dù mẹ chỉ là một thủ thư bình thường ở một thư viện. Thì mẹ tài tình thật chứ: quản lý hàng vạn quyển sách, những cái mục lục phân loại to nhỏ như là tập trận, những giá sách cao ngất ngểu - thế chẳng phải là một việc đòi hỏi trí thông minh siêu phàm sao? Việc tìm ra đúng một quyển sách nào đó trong cả cái kho sách là một việc cũng vĩ đại tương tự như việc Alibaba nói “Vừng ơi, mở ra” vậy!

Mẹ của ranh con rất hiền và khéo léo - đấy lại là một thèm muốn khác của ranh con vì ranh con của chúng ta lúc nào cũng nhếch nhác xộc xệch vì nghịch ngợm. Ranh con rất ngại tắm và sợ nước nói chung, nhưng lại thích đi lội nước lúc trời mưa. Mưa thì là ngoại lệ vì đấy là nước trên trời, rất bổ; còn các nước khác thì đều đáng gờm, cần phải tránh xa mới được. Sự khéo léo của mẹ dĩ nhiên là một điều thèm muốn vì thỉnh thoảng ranh con cũng đột nhiên nổi hứng muốn làm ra vẻ một nội trợ tí hon. Nhóc tì lôi vải vụn ra cắt cắt may may hoặc thái lá cúc tần với hoa dâm bụt làm đồ hàng cùng với chúng bạn. Lúc ấy, đứa nào mà khéo léo thì được ngưỡng mộ lắm; mà được ngưỡng mộ thì nhóc con nào cũng thèm muốn cả.

Ranh con có một người chị gái và một em gái; nhưng mà chẳng cần xét đến em gái vì ranh con cho rằng nó là “đồ trẻ ranh bú tí mẹ”...chỉ có chị gái là còn ra dáng người lớn, có thể được trọng vọng ít nhiều. Mà cũng đáng trọng vọng thật vì chị gái của ranh con rất ngăn nắp và sạch sẽ - thật tài tình làm sao. Chị gái có những quyển sách được bọc rất cẩn thận, nhãn vở viết nắn nót, cặp sách lúc nào cũng tinh tươm, góc học tập ngăn nắp, đầu tóc gọn gàng, áo quần phẳng phiu. Đáng gờm nhất là chị gái có thể giải được những bài toán hóc búa của ranh con vì chị học chuyên Lý. Nói chung chị gái - lúc đó khoảng 15,16 tuổi - là một “phụ nữ” rất đáng nể!

Nhìn gần ranh con

Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhìn gần gần vào ranh con này.

Ranh con có đi học đàng hoàng. Thật chứ lị- phải đi học chứ. Có điều là đi học để làm gì thì ranh con cũng không rõ lắm. Cái rõ nhất là đi học thì vui. Ranh con có một bản tính vừa thâm trầm, nghiêm túc; lại vừa hớn hở, vui vẻ. Thoắt một cái đã thấy ranh con ngồi trầm ngâm suy nghĩ hay làm bài tập về nhà, nét mặt đăm chiêu như một nhà tư tưởng chính thống. Lúc ấy mà Socrat hay Platon có đi qua cũng phải rón rén chân và ngả mũ kính phục. Có trời mới biết những lúc trầm ngâm ấy thì nhóc con nghĩ gì. Có lần, khi rón rén đi ngang, chúng tôi có nghe ranh con lẩm bẩm rằng “nếu mai mà được nghỉ học thì hay quá”.

Nhưng chỉ thoắt một cái đã thấy ranh con tót ra đường, lê la với chúng bạn, rẽ chỗ nọ, tạt chỗ kia, ngó cái này, nhặt cái khác, cãi nhau, hò hét, đánh lộn, hiền hoà, nói lóng, hát thầm các bài hát bậy bạ, ngó vào nhà nọ nhà kia, trố mắt xem những thứ hay hớm, lăng quăng đến tối mịt giờ ăn cơm mới về nhà. Bản tính của ranh con không ác ý, hồn nhiên, thích tìm hiểu và cũng nghiêm túc một cách ghê ghớm. Tuy còn bé thế, ranh con có thể nói những câu đầy ẩn ý thâm trầm như “Trên đời này, chẳng có cái gì đơn giản cả”. Ghi chú rằng ranh con phát biểu câu trên lúc đang cố gắng móc chiếc dép vừa bị tụt xuống cống do nhóc con cứ thích thập thò đi trên cái gờ cống nhỏ hơn là đi hẳn lên vỉa hè.

Tuy bản tính lơ đãng và chóng quên, ranh con cũng có những mơ ước dai dẳng. Ước mơ này khởi nguồn từ những lúc lê la nằm đọc sách trong thư viện của mẹ. Những trang sách về Promete ăn cắp lửa cho loài người bị xiềng trên núi Olanhpơ, về Spartacus, về Ai van hô và Ri-sa sư tử tâm, về Đôn ki hô tê đánh cối xay gió, về Đan kô dứt trái tim làm đuốc dẫn đường, về những Tốt tô chan, những đội thiếu niên tình báo Bát Sắt, vv..và vv...làm cho ranh con khoái điên lên. Ranh con trầm ngâm mơ màng thấy mình vung kiếm, cưỡi một cái gì đó - nếu là ngựa sắt phun lửa hoặc rồng là tốt nhất, nếu không cũng phải là một con ngựa tốt, chứ không thể là ngựa già kiểu Đôn ki hô tê hay cưỡi lừa, cưỡi la được - và xông pha trận mạc. Hahaha..những lúc như thế ranh con khoái lắm. Vô phúc cho một nhóc tì khác nào vớ phải ranh con lúc đó mà lại chạm tới lòng tự trọng của ranh con. Sự trả thù sẽ vô cùng ác liệt!

Cũng giống như các nhóc con khác, ranh con của chúng ta mơ màng được làm người lớn, tốt nhất là làm đàn ông. Ví dụ như cha chẳng hạn. Thật là kỳ vỹ. Có thể thức khuya thoải mái, sửa ống nước, tháo đồng hồ, vặn đài, TV, đi xe đạp, hút thuốc, không làm bài tập về nhà bất cứ lúc nào tuỳ thích.

Giấc mơ dai dẳng hơn là giấc mơ được đi lang thang khắp thế giới để làm hiệp sỹ hoặc cái gì đó tương tự như thế. Thỉnh thoảng, khi ranh con tuyên bố điều này với chúng bạn, thì có gặp vài rắc rối nho nhỏ. Ví dụ, có nhóc con sẽ hỏi: thế lấy gì mà ăn hay làm thế nào để vượt biển. Kể cũng hơi rắc rối thật nếu không có mẹ đi cùng. Tuy nhiên, đã là hiệp sỹ thì ai lại lo đến chuyện cỏn con như ăn uống. Thế nên ranh con của chúng ta gạt ngay chuyện ăn uống sang bên. Còn về chuyện vượt biển thì có nhiều cách. Ví dụ như có thể đóng bè vượt biển như Tôn Ngộ Không, hoặc bắt một con cá mập hay cá heo rồi cưỡi sang, vv...Đến đây thì vẫn chú ranh lúc nãy lại thắc mắc “thế ăn gì lúc ở trên biển”. Thật là một câu hỏi khó chịu. Nhưng đúng lúc đó thì mẹ của ranh con gọi ranh con về đi tắm và ăn cơm bằng một giọng đã hơi lên cao, nên ranh con đành phải chạy vội về nhà mà chưa có dịp trình bày kế hoạch tác chiến của mình. Đến lần sau thì muộn rồi vì lần sau có thể ranh con lại mơ một điều khác, ví dụ như làm thám tử Sherlock Holmes chẳng hạn.

Tuy thế, quanh đi quanh lại, sau nhiều lần suy nghĩ, ranh con đã quyết định có lẽ sẽ là một phóng viên vì như thế vừa được đi khắp thế giới, vừa được đọc nhiều sách, vừa không phải lo vượt biển hoặc lo ăn gì lúc vượt biển. Xem ra kế hoạch này cũng khả thi mặc dù nó hơi hèn kém so với việc làm hiệp sỹ.

Ranh con có một đức tin

Cần phải làm rõ ngay từ đầu rằng ranh con của chúng ta không mê tín. Đức tin của ranh con là một thứ niềm tin nghiêm túc, có định hướng và trong trắng như thể đứa trẻ sơ sinh tin vào mẹ vậy. Đức tin của ranh con đã được diễn tả bằng những câu cảm thán rất nhiệt tình như “ối trời ơi” hay “giời đất ơi”. Khi đi ngang qua chùa hay đền thờ, ranh con cũng nghiêm túc một cách đúng mức và rất thành kính giúp mẹ thắp hương các ngày rằm và mùng Một; dĩ nhiên là sau đó thì ngồi thành kính đợi hương tàn để ăn oản (oản mới thắp hương xong ăn rất ngon!). Tuy thế, ranh con lại ghét cay ghét đắng những bà những cô xì xụp khấn vái ngoài chùa và lúc nào cũng cươì như nắc nẻ thấy các bà các cô lạy như tế sao.

Ranh con không sợ ma - ấy là một điều rất khó hiểu đối với người viết này. Ranh con cũng không sợ trộm hay bóng tối. Tuy thế ranh con có hơi sợ chết mà nguyên nhân sâu xa của nỗi sợ này là vì “chết thì chắc là đau lắm, mà không biết sẽ đi đâu.”

Ranh con có một đức tin khác mơ hồ hơn nhưng đáng sợ hơn: tin là cái gì cũng có mắt và có thể trừng trị mình. Vì thế nên ranh con không bao giờ ngắt lá, bẻ cành hay tàn ác với các con vật. Ranh con rất thích thịt gà nhưng không thích xem cắt tiết gà. “Không biết con gà lúc bị cắt tiết có kêu van không nhỉ” - điều này đến giờ vẫn còn là một bí ẩn. Có lẽ là có. Ngay cả rau cũng thế. Lúc bị thái có lẽ chúng cũng kêu, có điều là chúng ta không nghe thấy. Thỉnh thoảng ranh con mơ ước cháy bỏng là mình có thể nghe được các con vật hay cây cối nói - chắc là thú vị lắm. Nhưng thôi, trong lúc chờ phép màu đó xảy ra - rất có thể nó sẽ xảy ra một ngày nào đó -thì tốt nhất là không nên làm hại các con hay cây gì cả. Sự trừng trị chắc là rất ghê ghớm, nên chúng ta chớ có làm.

còn tiếp ....

PV
lifegoeson
15-10-05, 03:41
Sự tách rời tương đối

Tuy sống cùng bố mẹ và chị gái nhưng từ nhỏ, ranh con đã có một sự tách rời tương đối về tư tưởng và tình cảm với gia đình. Một cách mơ hồ, ranh con ý thức rất rõ bổn phận của mình. Những điều gì thuộc về trách nhiệm - dù không ý thức rõ về nó - ranh con vẫn làm rất cầu toàn: ví dụ việc học và việc suy nghĩ. Sự độc lập trong suy nghĩ là một điều chúng tôi vẫn băn khoăn và không tìm ra được lời giải thích thoả đáng. Tại sao trong cùng một gia đình, chịu cùng một sự giáo dục, thậm chí mọi thứ quan tâm và sắm sửa đều như nhau, ranh con của chúng ta lại bộc lộ những xu hướng tự lập và những yếu tố độc lập, cũng như ý thức chủ động tác động lên môi trường sống rất sớm, khác với chị gái hay em gái của ranh con.

Chúng tôi buộc phải cho rằng có những mách bảo thầm kín bên trong, những tiếng nói vô hình, những thứ mà người lớn chúng ta vẫn gọi là “thiên tư” (tức là trí tuệ trời cho) và “thiên hướng” (tức là những hướng suy nghĩ được ban sẵn cho). Sự trầm tư mà chúng tôi có đề cập đến ở trên là bước đầu tiên đưa đến tư duy trưởng thành sau này. Cái quan trọng lúc này không phải là tư duy gì mà là ham muốn được tìm hiểu về xung quanh, là cái ý thức - mơ hồ hay rõ nét - rằng có những lý lẽ, những logic ẩn sau sự vận động của mọi sự vật, hiện tượng. Sự độc lập vô tư lự của đứa trẻ con, một ngày nào đó sẽ cứng cáp và trở thành khả năng tư duy độc lập. Sự ham thích suy tưởng và sự nhìn thấy le lói những vẻ đẹp trong cuộc vật lộn đầu tiên giữa thế giới nội tâm với thực tại khách quan bên ngoài sẽ là những viên gạch đầu tiên xây lên lâu đài tri thức và định hướng cho ranh con.

Một sự tách rời quan trọng hơn đối với ranh con là sự tách rời tương đối với xã hội. Ranh con là một đứa bé. Dù đã bắt đầu chịu những áp lực xã hội một cách gián tiếp thông qua gia đình và bạn bè, về cơ bản, ranh con là một tâm hồn tự do. Sự tự do lựa chọn cái tiếp thụ, tự do với các áp lực khi tiếp thụ và quyền được miễn trừ khỏi các chế tài khi vi phạm các quy tắc xã hội là một thuận lợi đáng kể cho các ranh con. Một đứa trẻ biết suy nghĩ sẽ bắt đầu hình thành cơ chế phê bình và tự phê bình, nhận xét và đánh giá, phán đoán và lựa chọn ngay từ lúc này.

Ranh con hồn nhiên vô tư lự mà chúng tôi nói ở trên đã tách rời tương đối với xã hội ở một điểm khác nữa: ở sự trong sạch của những môi trường mà em tham gia vào: trường lớp, gia đình, thôn xóm. Những môi trường trong sạch tương đối này, kết hợp với một thiên hướng đi tìm cái đúng và cái tốt đã nói trên tạo nên một hình ảnh về thực tại cho ranh con. Bắt đầu từ hình ảnh thực tại này, ranh con sẽ quyết định cách đối xử, cách xử sự với xã hội. Một cách hình tượng, có thể nói là ranh con đang tập soi gương và lựa chọn một hình ảnh hài lòng nhất cho cuộc sống.

Sự tách rời này có ích và có hại thế nào, chúng tôi sẽ còn trở lại bàn tiếp!

Ranh con rất tự trọng...

Chúng tôi dám khẳng định rằng đây là một lòng tự trọng nghiêm túc, trong sáng và đàng hoàng đến đầu đến đũa ấy chứ lị, đâu phải chuyện chơi. Lòng tự trọng ấy thể hiện ở chỗ ranh con sẵn sàng lao vào đánh nhau với bất cứ ai nếu kẻ đó nói chạm tới “danh dự” của ranh con. “Danh dự” này bao gồm: hình thức và tư cách của ranh con, hình thức và tư cách của cha mẹ hoặc chị gái ranh con (em gái thì có thể tha thứ được vì nó đúng là trẻ con bú tí mẹ thật), học vấn hoặc những thứ đại loại như thế. Những câu như “cái đồ thò lò mũi xanh, chạy quanh nhà xí” là một câu xúc phạm kinh người và đáng bị trừng trị thích đáng. Khốn cho kẻ nào nói câu đó!

Chúng tôi cho rằng lòng tự trọng này rất đáng ngợi ca. Lý do là vì rất nhiều người lớn không có hoặc đã để mai một lòng tự trọng này. Ví dụ như người viết bài này đã từng thấy những người lớn bị người khác mắng vào mặt xơi xơi là “đồ...” mà vẫn cười đầy chịu đựng. Ấy, người có lòng tự trọng như ranh con của chúng ta thì ắt không cho kẻ kia thoát thân.

Cái lòng tự trọng đơn giản ở trên, một ngày sẽ lớn lên thành lòng tự trọng của một người đàn ông hay một phụ nữ trưởng thành. Lòng tự trọng đúng mực chính là một biểu hiện rõ ràng để phân biệt một bậc chính nhân quân tử với một kẻ tiểu nhân.

Và tương đối dũng cảm

Dĩ nhiên là lòng tự trọng phải đi kèm với sự dũng cảm, thậm chí có phần liều lĩnh. Nhưng mà hãy gọi là lòng dũng cảm thôi vì từ “liều lĩnh”có thể làm hỏng hình ảnh nhóc tì tiên đồng của chúng ta. Các ranh con rất thích kể cho nhau các chiến tích oai hùng của mình; ví dụ như trốn không ngủ trưa để đi bắt chuồn chuồn, thả diều trên sân thượng, đi rình ở công viên, làm kếp bằng bọt biển và xăng, câu cá, chọi cá, vv và vv...Ranh con của chúng ta cũng có rất nhiều chiến tích. Nói chung là một tuổi thơ khá tự hào.

Khi một đứa trẻ tự hào về tuổi thơ của mình - dù là lòng tự hào con nít đi nữa - có nhiều điểm lợi và hại trong đó. Giống như thần Atlas gánh bầu trời, những niềm tự hào đã được phóng đại qua con mắt trẻ thơ sẽ có thể là lực đẩy hoặc là gánh nặng. Chúng tôi đã biết những nhóc con rạng rỡ ở tuổi thơ và tắt lịm khi đến tuổi trưởng thành do không chịu nổi chính ánh sáng của mình. Và chúng tôi cũng biết những nhóc con đã tự thắp sáng lên dần dần bằng một niềm tin chậm nhưng chắc chắn vào bản thân.

Đứng về mặt cấu thành nhân cách, sự tự hào khi nhỏ chính là những thứ quan trọng nhất mỗi khi một người phải tự đo đếm lại mình. Nó cũng là những ánh sáng thần tiên mà một người nhớ lâu nhất. Khi người ta lớn lên, những thành công mang nhiều sắc màu khác, không còn đơn thuần là một sự tự hào thuần tuý tinh thần và mang nghĩa như Promete lấy lửa suởi ấm cho loài người nữa. Chẳng có gì đáng nhớ bằng những tấm giấy khen đầu tiên, những bằng khen đầu tiên, những cuộc thi và giải thưởng đầu tiên. Chẳng gì đáng nhớ bằng việc lần đầu trốn nhà đi chơi xa, lần đầu tiên nhảy từ tầng hai xuống đất vì bọn trẻ con trai thách thức, vv..và vv...

Ranh con có một lương tâm rõ ràng

Hối lỗi là một biểu hiện rõ ràng nhất rằng bạn có lương tâm. Nếu bạn không hối lỗi về những điều xấu mình làm, thì có nghĩa là lương tâm của bạn đã bị sún răng và không còn cắn rứt được nữa; hoặc giả là nó bị móm rồi cũng nên. Rất cần thận trọng với việc này và chúng tôi thành thật khuyên bạn phải đánh răng thường xuyên.

Ranh con của chúng ta thì chắc chắn là có lương tâm. Ranh con có rất nhiều tội lỗi mà nhóc vẫn cắn rứt đến bây giờ. Điển hình là một lần ranh con đã giúp một người bạn chí thân - vì một sự cẩu thả kinh hoàng nào đó - đã bị tụt hạng một cách bi thảm trong học bạ; và để tránh cho mẹ bạn khỏi xấu hổ (mặc dù mẹ bạn thực ra không hề xấu hổ nếu biết chuyện), cũng như tránh những hậu quả khủng khiếp có thể đến khi sự thật bị phanh phui, ranh con đã giúp bạn giả mạo chữ ký của mẹ trong học bạ. Điều này đến giờ vẫn còn là một bí mật sống để bụng, chết mang đi và lương tâm của ranh con vẫn không ngừng cắn rứt.

Lãng mạn và hiện thực

Ranh con của chúng ta có nhiều niềm vui vào loại kinh khủng, hầu như cái gì cũng làm cho ranh con tò mò và vui thú được. Bắt được một con bọ ngựa bụng to, thấy một con cua có nhiều cua con ở bên trong, gặp một con rắn nước trên đường, hái được một quả ổi xanh cóc cáy từ trên cây, vớ được một quyển sách thú vị - cái gì cũng là một vui thú kinh hoàng cả. Trẻ nhỏ là thế: trẻ nhỏ có bản năng vui vẻ.

Ấy thê mà ranh con này lại còn có một thiên hướng khác: thiên hướng thâm trầm, thích lang thang mà suy nghĩ - tức là đi thơ thẩn một mình quên cả thời gian - vốn là một cách dùng thời giờ kinh điển của các nhà triết học.

Nếu bạn chịu khó đi lại một chút, bạn sẽ gặp ranh con ở khắp nơi. Chỗ nào ranh con cũng thích ngó nghiêng, xem xét: tìm hiểu các lối đi tắt trong nội thành, ở quanh nhà; đi xe ra ngoại ô, lượn vòng vèo để xem đồng lúa và các bãi tha ma; vẩn vơ chui vào các công sở chỉ để nhìn, lượn qua các công viên, đi quanh các chợ. Một thú vui của ranh con là đi vơ vẩn ra ngoại thành, cứ đi không có chủ đích đến đâu cả, nhìn ngó chán chê rồi đi về, đủng đỉnh và trầm mặc ở bên ngoài như một nhà hiền triết nhưng lại reo vui âm ỷ ở bên trong.

Sự lãng mạn mang tính bản năng này còn thể hiện ở chỗ ranh con tự thấy gần gũi với những thứ như cây cỏ, trăng sao, những con vật nuôi, những thanh âm và sắc màu vui nhộn. Chúng tôi đã nói ở phần đầu: trong rừng có con chim, trên đồng có hoa; xã hội có đứa trẻ nhỏ. Lúc còn bé, một cách tự nhiên, các ranh con gần với thiên nhiên hơn là xã hội loài người. Tâm của chúng gần với hoa lá cây cỏ chim chóc hơn là những thứ nhà cao tầng, cầu thang, đèn giao thông, vân vân...

Ranh con của chúng ta rất thích những chỗ ồn ào náo loạn; nhưng lại cũng thích những chỗ vắng vẻ, hiu quạnh, âm thầm. Những nơi sáng đèn, nhiều người, nhiều âm thanh màu sắc làm cho ranh con khoái mê. Nhà hát, rạp chiếu phim là một mô hình thu nhỏ của thế giới thần kỳ. Ranh con giữ một niềm kính trọng mơ hồ với nghệ thuật - với những người múa ballet, những người đang gân cổ ngân nga các trích đoạn opera, những nghệ sỹ múa hiện đại, những người đóng phim, chơi nhạc, vẽ, vân vân và vân vân. Chen lấn xô đẩy trong các cuộc hội chợ là một thú vui. Dùng cùi chỏ để huých, luồn lách, chạy xăm xăm trong các sân bóng đá cùng với bố cũng là một niềm vui kinh hoàng khác. Lúc nào được đi rạp chiếu phim, vừa xem những bộ phim Nga giật giật vừa ăn nhóp nhép cái gì đó thì quả là thiên đường.

Tuy thế, như đã nói ở trên, ranh con cũng thích vắng vẻ một mình. Ngồi vắt vẻo trong vườn nhà ông bà, đứng chống cằm ở bờ rào một vài tiếng, ngồi ở cửa sổ nhòm những cái bong bóng lúc trời mưa, múa ballet một mình trên sân thượng lúc đêm khuya, nhảy nhót trên đống chăn trong bộ dạng một ca sỹ nhạc Rock hay opera - tất tật những thứ đó đều được ranh con thực hiện với tất cả tâm huyết của mình. Chớ có nghi ngờ cái tâm huyết đó.

Tình yêu cuộc sống của một người lớn bắt đầu từ những sự gần gũi và quan sát giản dị này.

Những ranh con ấy - chúng ở đâu mà ra?

Adam được tạo ra bằng cách thổi linh hồn vào một nắm đất đã nặn thành hình người. Đôi khi quan sát các ranh con, chúng tôi buộc lòng phải nói rằng sự tạo ra các ranh con có ít nhiều là may rủi. Thần thiêng thổi qua, những trẻ ranh ra đời - mỗi đứa một khuôn mặt và đặc tính khác nhau. Có cái gì đó vượt ngoài những tác động chung trong khuôn khổ có thể tác động của con người: chăm sóc vật chất, giáo dục của gia đình và xã hội. Có cái gì vượt trên những thứ đó.

Những ranh con này - khi các em còn bé - xã hội nhiều khi có thái độ coi thường với các em và chăm sóc các em theo một lối áp đặt rất nguy hiểm. Xã hội quên mất sự tách rời tương đối và khả năng tự điều chỉnh cũng như những tiếng nói định hướng bên trong của các ranh con. Các em chưa phát triển hết về thể chất và trí tuệ nhưng cái tiềm năng tiếp thụ và cái tiềm năng chuyển mình rất lớn. Bất cứ sự hồ đồ nào trong những tác động của xã hội cũng có thể mang lại những tác hại khôn lường.

Đi về đâu?

Cuộc sống là một cố máy nghiền khổng lồ. Khi các ranh con còn nhỏ, các em có thể chui qua một cái kẽ hở nào đó của cỗ máy này và tránh bị nghiền nát. Nhưng khi lớn lên, cái máy đó lù lù hiện ra. Ranh con biết làm gì bây giờ?

Bông hoa trên đồng không có mái nhà nương thân, mưa gió là chịu dập vùi; con chim trong rừng chưa làm được tổ ấm, phải chịu ướt át. Ranh con có mẹ có cha và anh chị em, có nhà có cửa; nhưng ranh con cũng vẫn phải chịu bão táp mưa sa.

Có điều, đấy là bão táp của cuộc đời!

Các ranh con sẽ đi về đâu?


Hết phần I
Gaup
15-10-05, 05:02
Đọc bài này lại nhớ Thăng Long năm đầu thật là dịu dàng, trong sáng, trên bảo dưới nghe, mọi thứ đều đẹp đẹp xinh xinh hồng hồng mầu mầu, sáng sáng leng keng lách cách tích tắc, nói đ.íu cái là bị cả làng cau mặt lại mắng là hư với thành viên cá biệt. Đùng cái bác Kiu em ở đâu về gọi trẻ con là bò với ngu thế là ô hô ai tai bắt đầu lung tung hết cả.


Bài ra: Luận về trà - Nghiêm Tuỳ Vân

Trà cũng như thuốc đều là thứ nghiện và dễ nghiện.Đã là thứ gây nghiện phàm chẳng có gì tốt. Sáng dậy phải một ấm. Trưa về phải một ấm. Tối đến cũng một ấm. Khi chết rồi, trà cũng đi theo. Đã vậy trà tam tửu tứ.

Bài đối: Luận về Chat - PhanViet

Chat không phải là rượu, vậy mà gây nghiện. Phàm đã là thứ gây nghiện, ắt là không tốt. Sáng ngủ dậy cũng vào Chat mấy câu rồi mới đi. Trưa đi học về vào chat. Tối đến cũng chat. Hôm nào máy chết, server bị down, không chat được thì thấy mình cũng như người chết rồi.
p/s: hôm nay server bị down nên em không lên chat được đâu ạ

Bài đối đối: Luận về bỏ chat - VT


NB: Server có down anh vẫn đợi

=====================

Cặp đối sau post lại để tưởng nhớ hiền huynh Goldmun vừa mới đi Tây hì hì

Bài ra: Luận về con gái - Goldmund

Con gái là một loại gai có sắc. Gai làm ta đau mà sắc làm ta say. Vừa đau vừa say nên ta hóa dở dở ương ương. Nhưng nếu không đau không say ta chẳng còn là ta nữa. Cho nên ta vị lụy sắc mà cứ phải cắm đầu vào gai, chấp nhận rủi ro khi trái tim ứa máu để đổi lấy cái cảm giác đê mê lơ lửng.
Bài trêu Goldmun chứ không phải đối: Luận Goldmun - PhanViet

"Hiền muội" nghĩa là em gái ngoan. "Hiền đệ" nghĩa là em trai tốt. Ta được Goldmund gọi bằng cả muội lẫn đệ - thật là lãi làm sao...hì hì.
lifegoeson
15-10-05, 05:42
Oklahoma Du Hí
PhanViet

1.

Omaha - Khúc Prelude tháng Ba


Ở đâu đó - tôi tin - phải có câu trả lời cuối cùng cho tất cả những lộn xộn và bất an của thế giới này. Như là, vì sao người Mỹ giàu có còn chúng ta thì vẫn nghèo? Vì sao ở phía kia của Mặt Trăng lại luôn tối và lạnh lẽo? Vì sao người Quảng Đông ở Trung Quốc có thể ăn thịt người? Hoặc như là, vì sao cái trang web nhiều người truy cập nhất thế giới lại là một trang web về porn? Và này, Bin Laden và đồng bọn có nỗi ám ảnh tuổi thơ vào với máy bay và nhà cao tầng nào không nhỉ?

Nhất định là ở đâu đó phải có câu trả lời cuối cùng cho tất cả những lộn xộn và bất an của thế giơí này.

Thì cứ nhìn cái thế giới tin hin của tôi mà xem. Câu hỏi làm tôi trằn trọc mất mấy tuan “Đi đâu, làm gì trong một tuần nghỉ Spring break” rút cục đã được trả lời thoả đáng và nhanh gọn không ngờ. Một buổi chiều tháng 3 không có gì đặc biệt, trong lúc đang đủng đỉnh thu dọn băng đĩa và tài liệu giảng dạy sau buổi lên lớp, Giáo sư Teresa đột nhiên hỏi tôi có muốn đi Oklahoma với cô vào dịp Spring break. Tôi chẳng tìm được lí do gì để nói không. Và thế là: Oklahoma!

Bingo!

2. Đi đường

Có năm chúng tôi lên đường từ Omaha đi Oklahoma. Đoạn đường dài chừng 400 dặm, băng ngang qua bang Kansas. Có nhiều cách để phân chia nước Mỹ, nhưng tôi hay chia thành 2 kiểu: kiểu thứ nhất là cắt ngang nước Mỹ thành miền Bắc và miền Nam - miền Bắc tự do, miền Nam bảo thủ; kiểu thứ hai là cắt dọc nước Mỹ thành bờ Đông - đồng bằng lớn ở giữa - và bờ Tây. Cả Nebraska, Kansas và Oklahoma đều thuộc vào phần đồng bằng lớn ở giữa, xuôi dần xuống phía Nam.

Mùa này không phải là mùa lý tưởng để đi chơi vì tuyết đã tan nhưng cây cối chưa mọc trở lại, đâu đâu cũng chỉ là một màu xám xám của cỏ và cành khô trên những quả đồi nhấp nhô liên tục. Đi suốt các bang ở vùng đồng bằng lớn nước Mỹ là những cánh đồng ngô, bò, đồi nối tiếp đồi chạy ngút mắt. Cứ đi một quãng lại thấy những quả đồi vừa được đốt cỏ xong: đen và bụi. Bây giờ vẫn đang là cuối mùa khô ở Mỹ - nếu có bão và sét, rất có thể có các đám cháy trên các đồng cỏ khô hoặc rừng cây trụi lá.

Chúng tôi khởi hành từ sáng trên hai xe ô tô kiểu minivan, vừa đi vừa ăn dọc đường. Qua Kansas chẳng có gì nhiều để nói: chỉ đồng cỏ và đồng cỏ. Cái đáng nói nhất có lẽ là giao thông của nước Mỹ: trên cả tuyệt vời. Hệ thống đường rất rõ ràng và tiện lợi, biển chỉ đường rõ ràng; đến mức ngay cả nếu bạn chưa bao giờ biết đường đi Florida, bạn cũng có thể dùng bản đồ để đến nơi. Trên đường cao tốc liên bang, cứ một quãng lại có một khu gọi là rest area, ở đó có nhà vệ sinh công cộng cực kỳ sạch sẽ, có bán đồ ăn, có các tờ tin, thậm chí có cả chỗ nghỉ cho những lái xe đường trường. Dọc đường có rất nhiều các trạm xăng tự động, bạn tự bơm xăng và tự trả tiền. Tuy nhiên, cái đáng nói nhất là ý thức tuân thủ luật lệ giao thông của người Mỹ. ở các biển dừng, ngay cả nếu hai bên đường vắng tanh không có ai, họ cũng không vượt. Bơm xăng xong, bạn tự động vào trả tiền, không ai nhắc nhở nhưng cũng chẳng ai vi phạm. Ngoài ra, Kansas là nơi bắt nguồn của bộ phim nổi tiếng “Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên”.

9h tối, chúng tôi vào đến địa phận Oklahoma, đồng thời cũng là vào đến khu tự trị (reservation) của người da đỏ. Tôi có thể nhận ra điều đó vì ông Joe Trumbly lái xe nhanh hơn ở phía trước. Như hổ được về rừng, như tay súng săn vào đến vùng đất săn của mình, xe của ông chạy loang loáng phía trước xe của tôi, bỏ lại hai bên những cánh rừng và những cột mốc đường loé sáng trong đêm. Bên trong xe ấm áp nhưng ở bên ngoài chắc ngập tràn gió lạnh vì tôi nghe rõ tiếng gió thổi ràn rạt, vù vù. Tôi tưởng tượng ra chăng hay sự thật là mảnh đất này có nhiều điều huyền bí?

3. Một nhóm kỳ quặc

Khi viết những dòng này - một buổi tối thứ Tư đẹp trời - tôi đã sống ở Oklahoma ngày thứ ba. Chính xác hơn là ở Pawhuska, một trị trấn nhỏ, vắng người, đồng thời là khu tự trị của bộ lạc da đỏ Osage. Tôi ở cùng gia đình Trumbly: gồm ông Joe, bà Alaine, cô Teresa và Layton.

Chúng tôi có lẽ là một nhóm kỳ quặc.

Ông Joe Trumbly là một người da đỏ thuần chủng (mặc dù da ông bây giờ chủ yếu đỏ vì rượu bia), một trong những người đứng đầu bộ lạc Osage, tiếng Anh gọi là councilman, một chức tương đương với bộ trưởng trong các thể chế chính trị khác. Khi mà tổng thống Bush tổ chức tiệc nhậm chức Tổng thống, gia đình Trumbly cũng là khách mời.

Bà Alaine Trumbly thì là người da trắng hoàn toàn, gốc châu Âu, không hề có chút pha tạp nào của người da đỏ - một phụ nữ rất lịch lãm, khả kính và ân cần.

Cô Teresa - năm nay 40 tuổi - mang dòng máu lai giữa người da đỏ với da trắng. Cô đã lấy một người Thái - con trai một gia đình hết sức giàu có, danh giá; có ngân hàng, công ty tài chính và các loại tài sản khác. Họ chung sống một vài năm rồi li dị. Trong cả bộ lạc những người da đỏ Osage cũng như đối với người da đỏ Mỹ nói chung, người như cô Teresa không nhiều. Trên nước Mỹ rộng lớn này, người da đỏ vẫn là chủng tộc nghèo nhất, tỷ lệ thất học cao nhất, tỷ lệ nghiện rượu cao nhất, vv và vv...nhiều thứ nhất khác nữa mà chắc họ không mấy tự hào. Cô Teresa là tiến sỹ và giáo sư tại trường đại học - đối với hầu hết người da đỏ thì đó là một ngoại lệ.

Layton Lamsam, con trai cô Teresa - mới có 10 tuổi. Dĩ nhiên là Layton mang trong mình cả ba giòng máu: da đỏ của thổ dân Mỹ gốc, da trắng châu Âu và da vàng của châu á. Layton thuộc về nước Mỹ vì em sinh ra và lớn lên ở đây, chịu ảnh hưởng từ những người bạn Mỹ. Layton thuộc về một thế hệ nữa của nước Mỹ - thế hệ của thế kỷ 21, không biết đến chiến tranh vệ quốc mà biết đến các cuộc khủng bố kiểu mới của loài người. Nhưng tôi biết Layton - có lẽ do những đặc điểm di truyền - tuy còn nhỏ mà đã biểu hiện những đặc điểm pha trộn đáng kinh ngạc giữa tính cách Mỹ, tính cách người da đỏ và cả tính cách á Đông.

Tôi là một người châu Á thuần chủng, nói chính xác thì là Việt Nam. Tôi là một người da vàng. Tổ tiên của tôi sinh sống ở vùng Kinh Bắc đã rất nhiều đời, đã sinh con đẻ cái nhờ vào làm ruộng và các nghề thủ công; đã có người đỗ Tiến sỹ và được ghi danh trong Quốc Tử Giám cũng như có những người làm gia phả trở nên tối tăm.

Chúng tôi chỉ cần thêm một người châu Phi nữa là có thể có cả thế giới trong một mái nhà.

(Thực ra - nếu nói cho đầy đủ, với một thái độ không phân biệt chủng tộc - thì còn một nhân vật nữa trong gia đình. Nhân vật này có tình cảm khá đặc biệt với tôi. Ví như lúc tôi đang ngồi gõ những dòng ký ngắn này bằng chiếc laptop của cô Teresa thì hắn đứng nhìn chăm chú vào mặt tôi với một vẻ ngưỡng mộ đủ khiến tôi xấu hổ và một ánh nhìn trong sáng đến mức đáng ghen tức. Không muốn bị xấu hổ thêm, tôi cầm cái cổ dề lôi hắn - à, tên hắn là Bill - ra khỏi phòng khách. Hắn quẫy đuôi đầy bất bình.)

Xin quay lại với câu chuyện các chủng tộc. Một hệ quả - tuy không nhất thiết là tất yếu, nhưng khá dễ dàng nhận thấy từ sự đa dạng về chủng tộc mà tôi nói trên - là sự đa dạng về các niềm tin, các hệ thống giá trị trong xã hội. Nước Mỹ ngày nay là sự tổng hoà của rất nhiều thứ: vừa hấp thụ những tinh hoa của lục địa cũ - tức châu Âu - lại vừa phát triển từ trong lòng nó những nét tinh hoa riêng của một mảnh đất trẻ với những con ngươì mới. Xét theo một cách nào đó: nước Mỹ lớn mạnh chính nhờ ở sự hoà trộn các giá trị nói trên. Nó giống như một vòng tròn xoáy trôn ốc: sự đa dạng và dễ dãi của nước Mỹ hấp thụ thêm nhiều người từ các nước - rất nhiều trong số họ là những người mang sẵn trong mình những điểm khác biệt và những giá trị phá cách, vốn không được chấp nhận hoặc là rất xuất sắc ở nước cũ. Những người này lại tạo ra thêm những sự đa dạng mới, giống như thêm gia vị vào nồi soup gà...và vì thế nước Mỹ càng mở rộng biên độ dao động của nó.

Năm người và một chó: chúng tôi chẳng ai giống ai cả!

4. Lược khảo không chính thức về Oklahoma và người da đỏ

Oklahoma - cái tên này bắt nguồn từ bộ lạc Choctaw - có nghĩa là “người da đỏ”

Oklahoma bắt đầu có tư cách một tiểu bang kể từ ngày 16-11-1907, bang thứ 46 trong tổng số 50 bang của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Trên mọi phương diện, Oklahoma là một bang đặc biệt. Thực tế là những người tạo ra bang này chưa bao giờ có ý định tạo ra nó như là một “bang” của Mỹ - nghĩa là ngang bằng với New york hay California, hay Massachusetts. Oklahoma là miếng thịt bạc nhạc mà nước Mỹ giành cho người da đỏ. Nó được thành lập chỉ như là cái rọ lớn để nước Mỹ dồn người da đỏ vào đó, tránh cái gai trong mắt chính quyền.

Cần phải tưởng tượng thế này:

Nước Mỹ vốn thuộc về người da đỏ.

Trên mảnh đất trù phú mà ngày nay được gọi là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, hàng ngàn năm trước chỉ có những bộ lạc da đỏ sinh sống. Những nơi mà ngày nay người ta trồng ngô, xây nhà máy, xây cao ốc, xây nhà ga xe điện ngầm, mở công viên, dựng công viên Disney - trước đây là nơi người da đỏ săn bắn, sinh sống. Những Omaha, những Kansas city, những Oklahoma city của ngày này - trước đây là thảo nguyên rộng lớn của người da đỏ, nơi hàng đàn trâu rừng chạy lồng, ngựa hoang, và các loại động vật khác chung sống.

Sau khi Columbus phát hiện ra châu Mỹ, các nước lớn ở châu Âu thi nhau đưa người tới lục địa mới này. Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và bất kỳ nước nào có thế mạnh về hàng hải đều đã vượt biển đổ bộ lên tân thế giới. Họ đi theo hai nhóm với hai mục đích: một là những người di dân tự do muốn rời châu Âu vì những lý do chính trị và kinh tế, đến đất mới để bắt đầu cuộc sống mới; hai là quân đội và chính quyền thực dân tới khai thác đất mới để làm giàu cho bản địa.

Trong vòng hai thế kỷ sau khi những người Anh đầu tiên đổ bộ lên bờ biển Đại Tây Dương của nước Mỹ, người da đỏ liên tục bị dồn đuổi vào sâu dần trong lục địa - chỗ hiện nay là đồng bằng lớn và các vùng núi cao. Ban đầu họ dễ dàng thuần phục được người da đỏ - những người lúc đầu sợ hãi và coi họ là Chúa Trời. Tuy nhiên, khi thực dân Anh và Pháp lấn tới chiếm đất - thứ có ý nghĩa thiêng liêng trong đời sống người da đỏ - thì các cuộc chiến bắt đầu nổ ra. Cuộc chiến giữa người da đỏ và thực dân Anh, Pháp kéo dài cho đến năm 1763 thì tạm thời ngừng lại khi Anh tuyên bố không cho phép người da trắng vượt qua khỏi dãy Appalachian, phần phía bên kia trở đi là đất của người da đỏ.

Khi cách mạng Mỹ nổ ra giữa thực dân Anh với dân di cư tự do từ châu Âu sang và nay là chủ thực sự của Mỹ, nước Anh đã mua chuộc rất nhiều bộ lạc da đỏ để chống lại người Mỹ. Sau khi Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ ra đời vào năm 1776, đến lượt mình, chính quyền Mỹ bắt đầu mở rộng đất về phía Tây (về hướng California) vốn vẫn do người da đỏ chiếm giữ.

Để nhổ cái gai là dân da đỏ ra khỏi mắt, chính quyền Mỹ tính đến việc thành lập một cái gọi là Lãnh thổ cho người da đỏ (Indian Territory) vào đầu thế kỷ 19. Đến năm 1930, Quốc hội Mỹ thông qua một đạo luật thành lập lãnh thổ này. Nó nghiễm nhiên tạo lập một biên giới giữa một nửa phần đất bên Đông nước Mỹ thuộc về người da trắng và một phần đất bên Tây thuộc về người da đỏ. Lãnh thổ này bao gồm phần lớn đất đai của các bang Nebraska, Kansas và Oklahoma ngày nay; và biên giới hai khu vực cũng nằm dọc các bang này.

Tuy nhiên lãnh thổ này kéo dài chỉ được 25 năm. Đến giữa thế kỷ 19, sau khi người da trắng phát hiện ra vàng ở phía bờ Tây nước Mỹ, công cuộc tiến về miền Tây để đào vàng đã phá tan biên giới nói trên. Để mở đường cho người da trắng đi về miền Tây - chủ yếu theo đường 66 nổi tiếng - chính quyền Mỹ đã thẳng tay đàn áp các bộ lạc da đỏ.

Trong một nỗ lực cuối cùng để giải quyết dứt điểm vẫn đề người da đỏ, nước Mỹ quyết định ký một loạt hiệp ước vào cuối thế kỷ 19, theo đó thành lập các khu tự trị cho các bộ lạc da đỏ và yêu cầu các bộ lạc di dân tơí sống vĩnh viễn ở đó, tách rời tương đối với xã hội da trắng. Đất đai này chủ yếu là Oklahoma bây giờ. Năm 1866, tổng thống Ulysses Grant đã ký “Hiệp định hoà bình” với các bộ lạc. Tuy trên danh nghĩa, chính quyền liên bang tìm kiếm một giải pháp hoà bình cho những người vốn làm chủ đất đai của nước Mỹ nhưng trên thực tế, họ muốn tiêu diệt người da đỏ, bằng vũ lực và sau đó là bằng văn hoá. Sau Hiệp định hoà bình, quân đội Mỹ ép các bộ lạc da đỏ tới các khu tự trị - những mảnh đất hoang cằn, hầu như không thể canh tác được. Rất nhiều người da đỏ đã chết trong các cuộc di dời này. Và vì thế, hành trình của người da đỏ tới các khu tự trị do chính quyền Mỹ chỉ định được gọi là “Hành trình nước mắt” (Trail of tears).

Oklahoma ngày nay có gần 40 bộ lạc sống trong các khu tự trị riêng: Osage, Cherokee, Choctaw, Chickasaw, Kickapoo, Dalaware, Souk and Fox, Ponca, Shawnee, Seminole, vv...Trên đất đai của các khu tự trị, người da đỏ thực tế sống lẫn với người da trắng và đang bị pha tạp dần. Họ kiếm sống bằng các công việc thông thường; ngoài ra các bộ lạc cso thể mở sòng bạc, buôn bán, khai thác dầu để kiếm tiền.

Người da đỏ biết rằng họ đã thua vĩnh viễn.

Không bao giờ họ còn là chủ trên đất đai Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ nữa.

Cái mà họ còn - chỉ là một nền văn hoá da đỏ mà những người như ông Trumbly và cô Teresa đang cố gắng giữ gìn.

còn tiếp ...

PV
lifegoeson
15-10-05, 05:45
Oklahoma Du Hí
PhanViet


5. Cô Teresa - đôi điều nói thêm về văn hoá!


Tôi có thể nhìn thấy những gì đang mất dần trong văn hoá da đỏ và những gì sẽ còn được giữ lại từ cô Teresa. Có rất nhiều điều để nói về cô mà tôi không biết phải nói từ cái gì. Biểu hiện văn hoá da đỏ đầu tiên mà tôi nhận thấy ở cô chính là những quan niệm về đất đai và gia đình. Tôi không ngạc nhiên khi cô nói rằng cô chỉ thực sự cảm thấy về nhà khi trở lại Oklahoma, về sống trong khu tự trị - một điều mà nhiều người dân Mỹ sẽ cảm thấy kỳ quặc vì người Mỹ hầu như không có khái niệm “mảnh đất chôn rau cắt rốn”. Một người Mỹ điển hình có thể đi từ bang này sang bang khác theo công việc một cách hết sức thoải mái.

Dường như trong cô cũng như trong những người còn mang đậm văn hoá da đỏ, đất đai vẫn có ý nghĩa thiêng liêng. Cuộc chiến giữa người da trắng và người da đỏ hàng trăm năm trước cũng bắt nguồn từ xung đột trong quan niệm về sở hữu đất. Đối với người da đỏ, đất đai, cây cỏ đều có linh hồn và thuộc về thần linh. Việc mua bán, đổi chác đất đai là một điều hết sức phi nghĩa đối với họ. ý niệm nơi chôn rau cắt rốn đối với họ rất cao cả và thiêng liêng. Đấy chính là lý do vì sao người da đỏ chống cự quyết liệt khi chính quyền Mỹ buộc họ dời đến Oklahoma. Người da đỏ chết trên “hành trình nước mắt” vì sự suy sụp tinh thần nhiều hơn và về sức lực.

Tôi không ngạc nhiên khi cô Teresa kể rằng cô đã yêu và cưới một người Thái Lan khi đang học Cao học. Tôi cũng không ngạc nhiên khi cô nói cô không muốn đến châu Âu nhưng rất tò mò về châu á và văn hoá cộng đồng ở đó. Tôi không ngạc nhiên khi cô nói rằng vì một lý do nào đó, cả cô và con trai Layton của cô đều thân thiết với người châu á.

Câu trả lời cho những điều này không chỉ nằm ở vấn đề tính cách cá nhân. Tôi tin là văn hoá - đấy chính là câu trả lời.

Dĩ nhiên là bây giờ, không bộ lạc da đỏ nào còn dựng lều đốt lửa trên thảo nguyên hay đi săn chung. Họ sống trong các ngôi nhà xây giống như tất cả mọi người khác. Họ lái ô tô, họ dùng lò vi sóng, họ mặc quần bò, áo sơ mi như những người thường (mặc dù rất nhiều đàn ông da đỏ vẫn để tóc dài). Tuy thế, cách tổ chức cộng đồng và nếp suy nghĩ của kiểu văn hoá tập thể, có thứ tự trên dưới rõ ràng thì vẫn còn ăn sâu.

Cần nhớ rằng các khu tự trị của người da đỏ là những lãnh thổ riêng mà trên đó luật pháp của tiểu bang không có hiệu luc. Đất trong khu tự trị cũng như là một tiểu quốc gia hoặc một dạng lãnh thổ với các quyền hạn chế. Họ có thể không được quyền đặt sứ quán, tuyên bố chiến tranh, giao thiệp cấp nhà nước với các nước ngoài Mỹ hoặc các bộ lạc khác, nhưng trên danh nghĩa mỗi bộ lạc vẫn là một quốc gia có quyền tối cao sau quyền của liên bang. Ví dụ như bộ lạc Osage thực tế được gọi là Quốc gia Osage (The Nation of Osage). Trong phạm vi lãnh thổ của một bộ lạc, tức là khu tự trị, họ không đóng thuế cho bang, không chịu luật pháp của bang. Các sòng bạc mở trên đất của người da đỏ - dù chính quyền bang có thấy chướng tai gai mắt đến đâu đi nữa - cũng không được quyền can thiệp, đánh thuế.

Xin trở lại nói tiếp về vấn đề văn hoá. Cô Teresa lớn lên - mặc dù hưởng một nền giáo dục và các tiện nghi của nền văn hoá da trắng, nói chính xác hơn là nền văn hoá đề cao chủ nghĩa cá nhân và sự công bằng giữa các các nhân - nhưng về bản chất, cô là một người có một niềm tin và nếp sống vững chắc theo kiểu văn hoá bộ lạc. Nó gần với văn hoá Việt Nam hay văn hoá một số nước châu á. Tôi và cô Teresa thân với nhau - ngoài mối quan hệ công việc giữa một Giáo sư với trợ giảng - lý do chính có lẽ là vấn đề văn hoá.

Trong số nhiều điều khác biệt giữa văn hoá bộ lạc với văn hoá Mỹ, điều khác biệt lớn nhất có lẽ là lối sống cá nhân và lối sống tập thể. Cho đến giờ, trong một bộ lạc da đỏ, người đứng đầu (được gọi dưới một số tên như Chief, The President, the Governor) vẫn được kính trọng nhất mực. Người da đỏ rất chú trọng thứ bậc trong bộ lạc; tôn trọng sự chia sẻ, nương tựa vào nhau mà sống. Những thứ quan niệm mới của xã hội Mỹ - như quan hệ tách biệt tương đối giữa cha mẹ với con cái về tài chính và nơi ở; tính ngang bằng về quyền công dân giữa các cá thể trong cộng đồng, vv - vẫn chưa lan đến các bộ lạc. Mặc dù hiện tại đa số các bộ lạc dùng chế độ bầu cử để lựa chọn người đứng đầu bộ lạc thay vì chế độ tập tước cha truyền con nối như trước kia, và dù những tư tưởng dân chủ mà nền văn hoá Mỹ áp đặt lên người da đỏ đang bóc dần những thành trì cuối cùng của nền văn hoá bộ lạc, dường như sâu bên trong có những thứ bản năng thuộc về giống nòi, chủng tộc vẫn được duy trì, nhất là ở những người như cô Teresa và ông Joe Trumbly.

Cũng có thể, chính vì nhu cầu tồn vong của bộ lạc mình, người da đỏ không cho phép nó lan tới, hoặc ít nhất là chưa lan tới. Mất văn hoá chính là cái làm cho một dân tộc bị xoá bỏ, chứ không phải sự mất mát về đất đai hay tài sản. Như tôi đã nói, người da đỏ ý thức rõ ràng rằng trên mảnh đất Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ - vốn ngày xưa là đất đai của họ - họ không bao giờ còn có thể là chủ và là người chiến thắng. Có lẽ lịch sử lâu dài và đẫm máu của các cuộc chiến với người da trắng trong đó người da đỏ là kẻ yếu và thua cuộc đã buộc họ càng xích lại với nhau hơn và cố gắng gìn giữ văn hoá của mình.

Cuộc chiến cuối cùng của người da đỏ chính là cuộc chiến giữ gìn văn hoá của họ.

6. Been there, (almost) done that - Tôi đi đánh bạc lần đầu


Tôi nói với cô Teresa lúc ở Omaha rằng tôi muốn đến một sòng bạc của người da đỏ để xem. Thế là buổi tối thứ hai trong tuần ở Oklahoma, chúng tôi đi đánh bạc.

Hiện nay, hầu như bộ lạc da đỏ tập trung nào cũng mở sòng bạc trên đất của mình. Lý do thì có nhiều. Một phần vì mở sòng bạc kiếm được rất nhiều tiền mà lại không phải chịu thuế của bang cho loại hình kinh doanh đặc biệt này. Một phần khác là vì - do những lý do lịch sử - người da đỏ hình thành nên truyền thống đánh bạc và uống rượu. Ngoài ra, các sòng bạc của người da đỏ cho phép trẻ em trên 18 tuổi là được vào trong khi các sòng bạc khác bạn gặp ở Las Vegas hay bất kỳ nơi nào khác đòi hỏi bạn có giấy tờ chứng minh trên 21 tuổi. Xin nhắc lại rằng trên đất của người da đỏ, họ có quyền đặt các quy định mà chính quyền tiieủ bang không thể can thiệp. Còn chính quyền liên bang thì quá xa để lo cho những người vốn đã chịu quá nhiều thiệt thòi trong lịch sử Mỹ.

Trên đường từ Omaha xuống Oklahoma, chúng tôi đã định vào một sòng bạc rất lớn ở Kickapoo thuộc bang Kansas. Đây là sòng bạc của bộ lạc Kickapoo. Trớ trêu là tôi không mang theo bất cứ giấy tờ nào có ghi ngày sinh để chứng minh mình đã qua tuổi 18; cho nên, sau một hồi thuyết minh, tôi và ông Joe đành ngậm ngùi quay ra. Dọc đường từ Kansas đi Pawhuska, tôi gặp ít nhất là ba sòng bạc lớn của các bộ lạc da đỏ: Kickapoo, Red Fox và Golden Eagle. Họ mở ngay gần sát đường lớn, lúc nào cũng đông người Mỹ đến đánh bạc.

Dĩ nhiên là tôi vẫn không có giấy tờ tuỳ thân. Nhưng Pawhuska là đất của ông Joe Trumbly nên tôi không gặp phải trở ngại nào. Lúc tầm 9h tối ngày thứ Ba, tôi, ông Trumbly và cô Teresa vào đến sòng bạc của người Osage.

Thực ra, nói đến sòng bạc nghĩa là phải có đánh bạc thực thụ. Còn sòng bạc mà tôi đến vẫn đang tiếp tục mở rộng phần đánh bạc; phần đã hoàn thiện rồi thì không có bàn đánh bạc ăn tiền theo ván mà chủ yếu chơi Bingo và một số các thể loại khác. Chơi bingo là dễ nhất vì bạn dùng các máy tự động để chơi, trên thực tế là tuỳ vào việc bạn may mắn hay không mà thắng chứ không dựa nhiều vào kinh nghiệm hay tài chơi bài. Sòng bạc này thuộc về bộ lạc Osage. Chính quyền bộ lạc bỏ tiền để xây, trang bị máy, quảng cáo, hưởng lợi nhuận và quyết định việc chia lợi nhuận giữa các thành viên trong cộng đồng. Những người làm ở đây chủ yếu là người da đỏ.

Sau một màn chào hỏi giữa ông Trumbly với hai người quản lý sòng bạc - hai anh em da đỏ sinh đôi nhà Wallers, vẫn còn để tóc dài ngang lưng, tết ra sau - người ta dẫn tôi và cô Teresa ra quầy. Chúng tôi đọc tên, họ gõ trên máy tính và in ra một cái thẻ trắng, kích thước bằng một là thẻ tín dụng, có tên tôi và một hàng số. Thế là xong thủ tục, tôi có thể bắt đầu chơi.

Xin được nói qua một chút về quang cảnh ở trong một cái sòng bạc thế này. Lúc tôi vào khu chơi bingo và chơi bạc đơn giản, trong một gian phòng rộng chừng 500 mét vuông, có khoảng gần 100 máy chơi các kiểu và có khoảng hơn 100 người. Khói thuốc mù mịt, đèn xanh đỏ nhấp nháy tứ tung, nhạc từ các máy chơi bingo kêu ỏm tỏi, tiếng tiền xu loảng xoảng, người qua người lại rộn ràng, rất là buồn cười. Hôm đó là thứ Ba và trời không đẹp lắm nên không phải ngày cao điểm của sòng bạc - tôi đoán thế. Vào ngày cuối tuần thì ở đây chắc là đông hơn. Tuy vậy, vẫn có thể nhận ra một số đặc điểm: những người đến đây đa phần là người lớn tuổi và rất nhiều người già; chủ yếu là nam giới. Họ là những người về hưu muốn đến giải trí, những người thất nghiệp, những người rảnh rỗi buổi tối trong một thị trấn chẳng có mấy vui vẻ, những người da trắng ở các vùng lân cận muốn tìm một chỗ tiêu tiền qua một tối thứ Ba ảm đạm, vv và vv...Nói chung thành phần rất phong phú. Hầu hết đều là ngưòi không giàu có, muốn đến thử vận may; hoặc là trung lưu muốn giải trí.

Xin được mở ngoặc nói thêm rằng một người Mỹ điển hình sẽ không quan niệm việc đến sòng bạc là một việc đi ngược lại các quy tắc đạo đức. Nếu bạn nghiện cờ bạc để đến mức tan nát nhà cửa, huỷ hoại cuộc đời, liên luỵ người khác thì chắc chắn là không tốt. Còn nếu đến sòng bạc giải trí thỉnh thoảng - họ cho như thế là hoàn toàn lành mạnh. Tất nhiên, những người Mỹ sùng đạo Cơ đốc thì phản đối việc đánh bạc dưới mọi hình thức: dù để kiếm tiền hay chỉ để giải trí. Nhưng phải thành thực mà nói rằng tín ngưỡng đang dần trở thành một phần của văn hoá Mỹ, một thứ mà ai cũng làm chỉ vì xã hội làm thế thay vì đức tin thực sự. Vì vậy nên Las Vegas vẫn thịnh vượng. Các sòng bạc của người da đỏ vẫn rất thịnh vượng.

Ông Joe Trumbly khăng khăng cho tôi 20 đô để làm vốn cho lần đến sòng bạc đầu tiên. Tôi kiếm một cái máy chơi Bingo ở ngay phía ngoài, có tên là Fruit Shake để thử vận may trong lần đầu tiên đến một sòng bạc. Sau khi nhét cái thẻ và nhét tờ 20 đô vào máy, lập tức màn hình báo là tôi có 400 điểm ở trên thẻ. Cái máy mà tôi ngồi vào là cái máy đơn giản nhất: bạn cho thẻ vào, chọn mức đặt cọc cho mỗi ván rồi nhấn nút chơi; máy sẽ tự động quay rồi dừng giống như trò xổ số, nếu bạn được ba hàng có các hình giống nhau thì bạn sẽ thắng điểm, cứ mỗi điểm sẽ quy ra là 5 cents. Nó có 9 ô vuông, tạo thành 8 hàng: ba hàng dọc, ba hàng ngang và 2 hàng chéo. Bạn có thể tuỳ chọn đặt cọc bao nhiêu hàng, tốt nhất là nên chọn 8 hàng vì cơ hội trúng sẽ cao.

Dĩ nhiên là tôi đặt cọc 8 điểm cho mỗi lần và bắt đầu chơi. Hahaha..cái trò này thật là buồn cười. Chẳng hiểu lúc ra khỏi nhà tôi bước chân nào ra trước mà tôi thắng liên tục; tiền xu rơi loẻng xoẻng, chuông báo kính cong, đèn xanh đỏ nhấp nháy loạn xị ngậu. Chơi 5 phút thì tôi lên được 700 điểm, tức là tôi đang thắng được khoảng 15 đô. Nếu tôi chơi ở máy Bingo nào đặt cọc 1 đô hay 5 đô một ván thì tôi đã sắp có đủ tiền để mua vé maý bay về nhà rồi...hì hì. Bàn bên cạnh, tôi thấy cô Teresa cũng đang hí hửng chơi như trẻ con. Quanh quanh có rất nhiều người cũng đang ra sức ấn nút, mắt dán vào màn hình. Tôi buồn cười muốn chết. Bây giờ tôi bắt đầu hiểu vì sao người ta nghiện cờ bạc: cái cảm giác lúc thắng bạc, nghe tiền xu đổ leng keng, nhạc reo tí toét, đèn xanh đỏ nhấp nháy rất là buồn cười. Bạn càng thua thì bạn càng muốn chơi tiếp để gỡ; khi bạn gỡ được, bạn lại muốn chơi thêm để thắng...cứ như vậy.

Trò Bingo chỉ có 5 xu một điểm và là trò cho các ông bà già nên tôi nhảy qua khu khác chơi. Có rất nhiều trò, đủ cả phức tạp lẫn giản đơn mà bây giờ tôi cũng chẳng thể diễn tả lại rành mạch. Tôi đã thử chơi bài poker với máy nhưng được một tẹo thì tôi bỏ cuộc vì không đủ kiên nhẫn. Tôi ngồi lâu nhất ở trò Crazy Monkey; đặt cọc 50 cents một ván và chơi mấy chục ván liền. Đã có lúc tôi thắng 120 đô, nhưng vì chơi lần đầu, tôi không biết là nên đi rút tiền ngay khi thắng mà cứ chơi tiếp nên một lúc sau thì tôi lại xuống còn 60 đô; rồi lại lên 90, rồi lại xuống. Cái trò đánh bạc này - bạn đã dính vào là không muốn dứt ra. Chỉ trong tích tắc, bạn có thể kiếm được tiền bằng cả nửa tháng lương hay cả tháng lương đi làm tuỳ vào mức bạn đặt cọc, mà chẳng tốn công sức gì. Thế nên không ngạc nhiên khi người ta dễ nghiện các sòng bạc.

Gần 12 giờ đêm thì chúng tôi ra về.

Đêm đó, không tính 20 USD của ông Joe cho, tôi thắng được hơn 70 đô. Một người bạn rất có kinh nghiệm có lần khẳng định với tôi là làm cái gì lần đầu cũng sẽ may mắn, ví dụ như đi đánh bạc lần đầu thì sẽ có vận đỏ do Trời Phật phù hộ. Tôi chưa bao giờ tin những tín điều kỳ quặc đó. Bây giờ thì tôi cũng tin chút xíu...hì hì. Tuy thế lần này tôi chưa thực sự đánh bạc mà chỉ chơi bingo. Hy vọng là lần sau nếu tôi có dịp đến một sòng bạc quy mô hơn thì “Người Ta” vẫn nghĩ là tôi chơi lần đầu và phù hộ cho tôi thêm nhiều vận đỏ nữa...hì hì...

Bingo!

PV
lifegoeson
15-10-05, 05:49
Oklahoma Du Hí
PhanViet


7. Một chuyện chẳng ăn nhập gì

70 đô la thắng bạc đêm đó - tôi làm hai việc. 50 đô la - tôi làm một việc liên quan đến những người da đỏ. 20 đô la còn lại - tôi làm một việc liên quan đến chỉ một người. Người này da vàng.

Chỉ hai tuần trước khi đi Oklahoma, tôi vẫn đinh ninh là sẽ cùng người da vàng này đi cùng trời cuối đất, chỗ nào cũng có nhau. Thế mà chỉ trong tích tắc, mọi thứ xoay chuyển không ngờ: bỗng dưng tất cả trở nên bấp bênh như chưa từng có gì vững chắc trước đó. Tôi thấy mình như bị một nhát dao đâm rất chắc và sâu vào trúng tim, khiến cho tất cả những sức mạnh sâu xa nhất cũng khép lại trong một trạng thái đóng băng để tự vệ.

Chiều nay, khi tôi đứng giữa khoảng đất rộng rãi sát lề đường, dưới chân chỉ là cỏ khô tháng Ba trải dài ngút mắt, cắt vào nền trời là những cái cần trục nhỏ đều đặn lên xuống hút dầu thô từ trong lòng đất có màu đỏ vàng; trên đầu là những đôi diều hâu sải cảnh lượn tìm mồi; cao hơn nữa là trời xanh ngăn ngắt và nắng vàng chói; trí óc của tôi bắt đầu gượng dậy. Tôi muốn tìm một câu trả lời cho những xung đột giữa mình và thế giới, những hỏng hóc mà tôi mơ hồ cảm thấy bấy lâu nay. Tôi biết chuyện với người da vàng kia chỉ là cú huých trực tiếp.

Vì một lý do nào đó, bố tôi hay kể cho tôi câu chuyện này: Năm tôi ba tuổi, có một người thày tướng - vì nhầm tôi (lúc đó cắt tóc cua) là con trai - đã tình cờ nói với bố tôi lúc nhìn thấy tôi rằng “Thằng này có hai cái tai rất đẹp. Lớn lên thì khá lắm”.

Câu chuyện đôi tai đẹp lúc 3 tuổi chỉ là một câu chuyện nhỏ, như một giọt nước li ti. Nhưng ở một phạm vi rộng hơn, những thứ nhắc nhở mơ hồ ấy có lẽ tạo nên một ý thức trách nhiệm xã hội cũng mơ hồ, một thành tố của văn hoá cá nhân. Trong địa vị người lớn, có lẽ bố mẹ tôi không chủ ý đẩy những câu chuyện kiểu như trên cùng với nhiều câu truyện khác thành một dạng biểu tượng, một thứ mục đích ngấm ngầm hay một cái khung nào đó mà tôi sẽ phải đưa mình vào. Nhưng với đầu óc của một đứa trẻ chưa đủ sức quyết định gì cho bản thân, khi ý thức về bản thân đơn thuần là một dạng ý thức phản ánh, tức là ý thức dựa trên đánh giá của người khác, của ngoại cảnh, của công chúng, của các chuẩn định sẵn - thì những câu chuyện trên mơ hồ tạo nên một cái áo xã hội dù to dù nhỏ mà tôi mặc dần vào; đến một lúc nào đó thì quên mất con người bên trong, chỉ còn cái áo.

Giống như Icarus, cái phần bản năng tiềm tàng trong ý thức về bản thân giục tôi bay lên và tìm những lối đi riêng cho mình, tìm cách khẳng định mình.

Ước mơ bay lên của tôi đã từng như thế này: Tôi sẽ lớn lên, rồi đi làm nhiều việc tốt cho xã hội, sẽ sống sung túc và thanh thản, sẽ làm cho bố mẹ tôi vui, sẽ làm cho các chị em gái vui và tự hào, sẽ lập gia đình với một người mà tôi coi là bạn đời, sẽ có các con trai con gái, cháu trai cháu gái mà tôi gọi tất cả là “con”, sẽ dạy chúng đọc sách, học làm người tốt từ nhỏ, sẽ vẫn có những bạn bè tốt như bây giờ, cuối tuần tụ tập nhau ở nhà tôi như lúc còn trẻ, sẽ làm một đồng nghiệp mẫu mực, sẽ làm nhiều việc và đi khắp nơi xây dựng các mạng lưới phúc lợi cộng đồng. Tôi sẽ viết sách và làm nghiên cứu, sẽ đi giảng bài và cả đi làm thực tế trên công trường, sẽ sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn, cả toàn cầu nữa.

Đến giờ, tất cả những biểu hiện bên ngoài của giấc mơ Icarus trên vẫn còn nguyên, nhưng ý nghĩa của nó đã thay đổi. Tôi đã nhận ra tất cả các mắt xích trong câu chuyện trên đều dễ vỡ nếu tôi neo nó vào bên ngoài thay vì bên trong; nếu tôi nhầm lẫn giữa mục đích và phương tiện, nếu tôi nhầm lẫn giữa hình thức và bản chất, giữa kết quả và hệ quả, giữa nguyên nhân và hiệu ứng. Nếu thay vì lấy lao động như là mục đích tự thân, tôi dùng nó như là phương tiện để đạt được tiền tài danh vọng hoặc ngay cả những sự hài lòng cá nhân mà thước đo rốt ráo của nó là sự đánh giá của xã hội thì tôi sẽ không bao giờ được thoả mãn. Tất cả những điều tôi đạt được sẽ trở nên vô nghĩa nếu đó không phải là điều tôi muốn làm, tôi lựa chọn làm, tôi tự đặt ra mục đích và tự đánh giá. Ngay cả sự hài lòng cá nhân cũng sẽ mang một màu sắc vay mượn và phản ánh.

Ở Oklahoma, tôi bắt đầu mơ hồ nhận ra sự bấp bênh của từng mắt xích trong ước mơ bay lên này. Tôi cũng biết mình chưa đủ sức và chưa đủ trí để tìm một câu trả lời dứt khoát. Nhưng tôi biết rằng ánh sáng đã le lói cuối đường hầm.

20 đô la được bạc, khi về đến nhà tối thứ Bảy, tôi mua một cái phone card và gọi về Hà Nội cho người da vàng nọ. Hạnh phúc là điều có thực và tất yếu; khổ đau mới là điều phi lý.

Omaha - Interlude tháng Năm

Ba tháng trước đây, tôi có đến Oklahoma trong một dịp nghỉ học giữa kì học mùa xuân. Gọi là đi nghỉ nhưng nó mang nhiều màu sắc đi trốn và đi tìm. Cái mà tôi muốn trốn tránh là một sự hoang mang cụ thể. Cái mà tôi muốn tìm thì mơ hồ hơn. Nó nằm trong trong một sự thôi thúc ngấm ngầm, một ham muốn được trả lời dứt khoát, quyết định dứt khoát con đường mình sẽ đi trong cả quãng đời sau này.
Ở Oklahoma về Omaha, tôi đã có câu trả lời cho cả hai thứ trốn và tìm một cách rõ ràng hơn. Sự rõ ràng này đến nhờ vào một số phương tiện mà thế giới gọi tên là “tình yêu đích thực, tính nhân ái và sự thấu hiểu”. Nó có một khẩu hiệu ẩn dưới là “Take it easy!”
Ở Oklahoma về, tôi có một cảm giác nhẹ nhõm hơn nhưng không hẳn là được giải phóng. Sự tự do thoát khỏi khỏi một số mối lo phiền và nỗi đau không phải là cái tôi muốn tìm tuy rằng nó có giúp cho tôi một quãng dừng để thu thập sức lực và tinh thần trong lúc vẫn mò mẫm để tìm cách rũ bỏ sáp ong trên cánh và nuôi dưỡng giấc mơ bay lên. Tận sâu bên trong, tôi biết mình thiếu một nền tảng vững chắc về nhận thức để làm hậu thuẫn cho các quyết định của mình. Tôi biết là những phiền lo bên trên có thể trở lại bất cứ lúc nào, chừng nào tôi vẫn còn luanh quanh trong đường hầm này.

Tôi có một hình dung mơ hồ về trạng thái mà tôi muốn đạt tới: một sự tự do và thanh thản tuyệt đối đối với mọi thứ bên ngoài và bên trong. Tuy thế, sự tự do và thanh thản này phải không bắt nguồn từ cảm tính mà bắt nguồn từ nhận thức. Nó không phải một trạng thái thanh thản chết, không phải sự tĩnh lặng kiểu không vận động. Tôi biết nó phải cao hơn thế. Nó phải là một nhận thức không phụ thuộc ngoại cảnh và sự tu tập nào. Nó phải là trạng thái ý thức rõ ràng về mọi thứ, về bản thân; là một trạng thái yêu thương vô bờ bến, không sợ hãi, không điều kiện và không định kiến; là sự reo vang không dứt của tình yêu cuộc sống trong cảm giác mình là chủ thực sự của bản thân và thế giới. Có mặc đẹp hay không không quan trọng. Có biết người này người kia không không quan trọng. Có được tán dương khen thưởng yêu thương, có bị la mắng phê bình không không quan trọng. Có đạt được những điều mình ham muốn trước đây hay không không quan trọng nốt.
Sự tự do tư tưởng - Tôi biết cái trạng thái ấy; nhưng tôi chưa biết con đường nào sẽ đưa tôi đến đó. Tôi chỉ biết rằng tôi sẽ không take life easy! Cuộc sống này của tôi quá đáng quý để có thể take it easy!

***
Thế giới vốn không có các xung đột, mâu thuẫn hoặc các nghịch lý. Khi nào bạn nhìn thấy một hiện tượng có vẻ hàm chứa mâu thuẫn và nghịch lý, khi nào bạn phải dằn vặt về một xiềng xích nào đó, hãy kiểm tra thước đo, thang đánh giá, và ngay cả các nhận thức mà bạn cho là tiên đề hay nền tảng bất đi bất dịch của bạn trước.

8. Tháng Sáu ở Oklahoma

Dĩ nhiên là tuyết đã tan từ lâu rồi. Những triền đồi màu xám, trơ trụi đất sỏi vàng của tháng Ba đã được phủ kín bằng màu xanh non ngút mắt của cỏ và các loại hoa dại. Sóng cỏ và hoa trập trùng trong khi gió thổi lộng qua các thung lũng, cuốn lên trời những đám hoa khô nhỏ li ti.
Dĩ nhiên là giao thông nước Mỹ vẫn thế: những con đường cao tốc nhiều làn xuyên liên bang, xe cộ đi lại trật tự, những cây cầu bắc ngang sông, những hệ thống bơm xăng dầu tự động, những con đường nhiều tầng bắc xuyên qua các thung lũng thoai thoải.
Dĩ nhiên là hàng ngàn cái cần trục nhỏ nằm rải rác trên khắp đất Oklahoma vẫn làm việc cần mẫn đêm ngày để hút dầu từ trong lòng đất lẫn đá sỏi với sét.
Dĩ nhiên là người da đỏ vẫn còn huyền bí và hấp dẫn với những phong tục và lễ hội văn hoá cuả họ.
Và dĩ nhiên là Oklahoma làm tôi vui. Cũng như Omaha làm tôi vui. Nước Mỹ làm tôi vui. Hà Nội làm tôi vui. Châu Phi làm tôi vui. Người da vàng, người da đỏ, người da đen làm tôi vui. Cả sự sống này của tôi vui hớn hở.
Từ hàng trăm, hàng ngàn năm nay, chính con người chinh phục và tạo ra ý nghĩa cho thế giới tự nhiên chứ không phải ngược lại. Tất cả những gì mà tôi nhìn thấy ngày hôm nay: dù là những cái cần trục hút dầu, dù là những làn đường giao thông nhiều tầng, dù là những cánh đồng trồng đầy các giống ngô cải tiến, dù là những đường dây tải điện bắc vượt qua các thung lũng đầy hoa và cỏ - tất cả đều chỉ là sản phẩm hữu hình của năng lực tư duy cá nhân. Năng lực tư duy này là sản phẩm cá nhân, không có khả năng tráo đổi và làm giả, không có khả năng thay thế. Nó cũng như văn hoá là thứ không thể vay mượn và trao đổi được. Một nền văn hoá và một người sẽ chết đi ngay từ phút giây anh ta đầu hàng và từ chối quyền tư duy độc lập để tráo đổi lấy các phương tiện và công cụ tư duy có sẵn mà xã hội tạo ra, tráo đổi sự thoả thuận và các tiện ích trí tuệ tồn tại dưới nhiều hình thức.
Thế giới này vận hành được không phải nhờ vào các sóng cỏ và hoa trên các sườn đồi, nhờ nắng vàng hay mây xanh mà nhờ vào sức người và trí tuệ sáng tạo không mệt mỏi của con người.
Đẹp hơn cả trời xanh và mây trắng là những cột khí tượng và những căn nhà xây trên sườn đồi bằng những vật liệu có khả năng chống lại lốc, gió xoáy, chống lại mưa bão. Đấy là trí tuệ của con người trong công cuộc chế ngự thời tiết, làm chủ thiên nhiên, hiên ngang thách thức thiên nhiên.
Đẹp hơn cả những thứ hữu hình như áo lông chim sặc sỡ, những ánh sáng huyền bí mơ hồ của người da đỏ là vẻ đẹp của ý nghĩ và tâm hồn ẩn dưới đó, vẻ đẹp của sức mạnh duy trì văn hoá - sức mạnh tạo nên bởi những người biết rằng văn hoá không phải là thứ có thể vay mượn và tráo đổi; cũng như năng lực tư duy là thứ không thể vay mượn và tráo đổi.
Ẩn dười những cái cần trục nhỏ lên xuống đều đặn hút dầu từ lòng đất sâu hàng ngàn thước có màu đỏ vàng là tư duy của những người đã nghĩ ra nguyên lý hút dầu từ trong lòng đất sâu, của người thợ luyện kim tạo ra những mũi khoan có khả năng xuyên thủng đất đá, của người thợ đã tạo nên mạng lưới chằng chịt những đường ống dẫn dầu dưới lòng đất, xuyên lòng đại dương, xuyên qua các quả đồi và các vách núi đá, của những người thợ lọc dầu chuyển quặng dầu thành ra các sản phẩm phục vụ con người. Trái Đất này không còn thuộc về và không còn bị làm chủ một đấng siêu nhiên nào nữa ngoài con người, ngoài năng lực tư duy sáng tạo của con người.
Sự tiện lợi vật chất mà tôi được hưởng chỉ là ánh sáng phản chiếu của vẻ đẹp trí tuệ, sức mạnh trí tuệ. Sự ngưỡng mộ của tôi với các tiện ích giao thông, với các sản phẩm làm từ quặng dầu, với những cây cà chua, cây ngô thu hoạch trên các đồi cao chính là sự ngưỡng mộ và trân trọng trí tuệ con người chứ không phải sự ngưỡng mộ các nền tảng vật chất hay sự hưởng thụ. Ham muốn của tôi khi nhìn thấy những biểu hiện của nền tảng vật chất ấy là phản ánh ham muốn dùng trí tuệ của chính mình chứ không phải ham muốn có các nền tảng đó cho sự hưởng thụ của mình.
Cái đẹp hơn cả chính là cái đẹp trong mục đích tự thân của sự tư duy và sáng tạo. Của sự tồn tại và ý thức đầy đủ về sự tồn tại.
Tôi hiểu rằng tình yêu con người phải là tình yêu và sự trân trọng với khả năng tư duy và sáng tạo của họ; chứ không phải là sự đùm bọc, chở che, ban phát của cải vật chất cho họ. Đem cho một người một số tiền, xây cho họ một căn nhà không phải là biểu hiện cuối cùng của tình yêu thương. Bao che cho những cảm giác tự ti và sự hèn yếu của một người - dù là dưới vỏ bọc nào: vỏ bọc về tình nhân ái, tình đồng bào, sự vị tha, độ lượng - đều là tội ác, đều là chối bỏ và phủ nhận giá trị của người kia.
Và tình yêu đích thực sẽ là một tình yêu có ý thức, không sợ hãi và không điều kiện, là sự chấp nhận hoàn toàn trong nhận thức đầy đủ về bản chất của tình yêu.
Tôi cũng hiểu rằng tình yêu bản thân - vì thế - không phải là việc chiều chuộng những ham muốn vật chất và tinh thần của thân xác và của một tâm hồn không mục đích. Nó phải là tình yêu không tách rời, không phân biệt, không điều kiện và có ý thức đối với cả thể xác và tâm hồn. Nó là tình yêu với từng hơi thở và từng cơ bắp mà ta biết hàm chứa trong nó sức nâng, sức dướn, sức đẩy để biến đổi thế giới. Nó là tình yêu với từng ngón tay mà ta biết ẩn chứa trong nó khả năng cầm nắm, khả năng nhào nặn tượng, khả năng đưa các nét chì kiến trúc hay các nét cọ trên các tấm toan, khả năng gõ các dòng lệnh lập trình, khả năng viết và diễn đạt tư duy thành các tác phẩm. Nó là tình yêu với các rung động trào lên trong tim và các sự xoáy vặn, trăn trở của tư duy, của trí tuệ trong sự đi tìm các điều mới. Tất cả những thứ chúng ta vẫn nghĩ - ăn uống, ngủ nghỉ, giải trí, quan hệ con người, vân vân - đều phải mang trong nó mục đích tự thân và sự ý thức sâu sắc về giá trị và tình yêu bản thân, sự không tách rời giữa trí tuệ và thể xác của ta. Bất cứ ai chỉ coi trọng tâm hồn mà khinh thường thể xác hoặc ngược lại đều đã sai lầm.

Tháng Sáu ở Oklahoma, đất và trời như khoác áo mới.

còn tiếp ...

PV
lifegoeson
15-10-05, 05:55
Oklahoma Du Hí
PhanViet


9. Ngày bầu cử

Về Oklahoma lần này, tôi không quan sát cuộc bầu cử như một kinh nghiệm mới về đời sống một bộ lạc xa lạ. Tôi đã nhận ra sự giống nhau giữa người da đỏ, người Mỹ và người Việt Nam; tôi bắt đầu thấy mình quên đi rằng người Mỹ da trắng, mắt xanh; người da đỏ để tóc dài mặc áo lông thú. Con người ở đâu cũng thế - đều có chung những đặc tính, chịu chung những sự khốn cùng do các xiềng xích với tự nhiên, với xã hội, với bản thân. Con người ở đâu cũng chỉ có một con đường để ra khỏi sự khốn cùng đó.

Một vài dữ kiện:

Đạo luật Liên bang Hoa Kỳ ngày 2-3-1929 quy định cứ bốn năm một lần (tính từ năm 1930) vào ngày thứ Hai đầu tiên của tháng Sáu, các thành viên trong bộ lạc Osage sẽ tiến hành bầu cử để chọn ra chính quyền bộ lạc. Việc bầu cử sẽ chọn ra một tộc trưởng (gọi là Principal Chief), một người phó (Asisstant Principal Chief) và một hội đồng cố vấn gồm 8 người.

Năm 1906, chính quyền Hoa Kỳ ban hành một đạo luật về phân bổ đất đai cho người Osage, theo đó tất cả các thành viên trong bộ lạc (tính theo thống kê cho đến ngày 30-6-1907) sẽ được hưởng một mảnh đất. Lúc đó, bộ lạc Osage có 2228 đầu người. Mỗi một đầu người (kể cả trẻ con hoặc trẻ con đang còn trong bụng mẹ) được phân bổ đất sẽ có một quyền và chế độ quyền lợi này gọi là headright system.
Theo chế độ headright này, việc bầu cử trong bộ lạc không tuân theo chế độ cử tri phổ thông dựa trên quyền bình đẳng giữa các công dân trong xã hội. Thay vào đó, trong bộ lạc Osage, chỉ những người có headright mới được bầu cử. Khi một người có headright chết đi, người đó sẽ để lại quyền cho con hoặc cho một người nào đó theo di chúc. Nếu một người có hai con trai và để lại quyền cho cả hai con thì mỗi người con sẽ được một nửa headright và phiếu bầu của họ sẽ có giá trị 1/2 headright. Ví dụ trong gia đình ông Trumbly hiện nay, chỉ có ông Joe có quyền bầu cử, bà Alaine không được bầu vì bà không phải dân Osage, cô Teresa không được bầu vì chưa có quyền headright. Khi nào ông Joe qua đời và để lại quyền headright thì cô Teresa mới được tham gia bầu cử.

Hiện nay, có khoảng gần 20 ngàn người trên nước Mỹ là người Osage. Những năm trước đây, người Osage trên khắp nước Mỹ vẫn về Pawhuska - khu tự trị bộ lạc - để bầu cử. Năm nay, khoảng 2/3 người Osage không về khu tự trị nữa mà bầu theo chế độ cử tri vắng mặt (absentee voters). Ngay cả người Osage sống ở Pawhuska cũng vắng mặt trong cuộc bầu cử vốn được coi là rất trọng đại trong đời sống bộ lạc này.

Ngày 4-6-2002: tham gia cuộc tranh cử lần này có 5 ứng cử viên cho vị trí tộc trưởng, 2 ứng cử viên cho vị trí tộc phó và 22 người tranh cử cho hội đồng bộ lạc. Khắp trong thị trấn là những cái biển nho nhỏ ghi những hàng chữ vận động tranh cử, các tờ rơi vận động, cả các trang web của các ứng cử viên. Mọi thứ đều mang một màu sắc dân chủ rất Mỹ ngoại trừ những quy định về quyền bầu cử đã nói trên.


Một vài yếu tố phụ:

Khi tôi xuống xe lúc khoảng 10 giờ sáng thứ Hai, ngày 4-6-2002, có khoảng vài trăm người đứng ngồi trong các khu lều bạt căng trên bãi đất rộng cạnh khu nhà trung tâm của bộ lạc Osage. Ngoài lí do về thăm nhà của cô Teresa, lần này chúng tôi về Pawhuska còn vì cô Teresa muốn Layton có mặt trong lần bầu cử cuối cùng của ông Joe Trumbly. Đây là nhiệm kỳ cuối cùng của ông Joe trong hội đồng bộ lạc. Mặc dù vẫn có tên trong danh sách ứng cử vào hội đồng, nhưng ông Joe tham gia chủ yếu vì muốn ủng hộ cho tộc trưởng Tillman hiện tại của bộ lạc - một người mà ông Joe cho là rất có khả năng và xứng đáng.
Ông Joe là một trong số ít những người Mỹ ở tuổi ngoài 60 mà tôi thấy vẫn còn minh mẫn và có sức làm việc tuyệt vời. Ông là người chịu trách nhiệm về tài chính cho bộ lạc, một người rất rộng lượng và thẳng thắn. Ngày nào ông cũng xem bản tin tài chính, đọc The Economist, Wall Street Journal và các loại báo, tạp chí kinh tế khác. Ông Joe có trí nhớ và sự sắc sảo hiếm thấy của một người quản trị. Tôi cũng biết rằng ông và tộc trưởng Tillman là những người khá có tiếng nói trong các vấn đề liên quan đến người da đỏ trong cộng đồng các bộ lạc cũng như ở Washington.
Ông Joe nói rằng trong số các ứng cử viên vào hội đồng bộ lạc có một người phụ nữ từng bị ông Joe đuổi việc vì gian lận sổ sách và nghiện ngập. Tuy thế, dư luận bộ lạc lại đứng về phía người phụ nữ kia với một lí do đơn giản: người phụ nữ đó là người Osage, và có các đặc quyền của người Osage: bao gồm cả đặc quyền được cung cấp việc làm và hưởng tiền công từ công việc mà họ không có khả năng hoàn thành.
Tính độc lập tương đối của các bộ lạc, đặc biệt là trong các khu tự trị đã làm hỏng người da đỏ. Lối sống đùm bọc cộng đồng mù quáng đã làm hỏng người da đỏ. Họ sống dựa trên các đặc quyền; lấy việc mình là người da đỏ như một thứ công cụ để đặt điều kiện và để kết án xã hội trong các tình huống mà họ phải va chạm với xã hội. Có thể nói rằng hầu hết những cá thể mạnh mẽ của bộ lạc (như cô Teresa) đều đã rời khu tự trị để đi làm ăn sinh sống ở xa; còn lại trong các khu tự trị là một cộng đồng những người sống dựa vào nhau và dựa vào đặc quyền da đỏ trong bộ lạc. Nói theo một cách nào đó họ đang “sống mòn” và tầm gửi vào một cái bóng của quá khứ.
Thống kê cho thấy trong số những người Osage sống ở Pawhuska hiện nay, nếu tiến hành kiểm tra để tuyển việc thì rất nhiều trong số họ không đủ tiêu chuẩn vì không qua khỏi các cuộc kiểm tra về mức độ nghiện rượu, nghiện thuốc phiện. Không riêng gì với người Osage, người da đỏ trên khắp nước Mỹ vẫn có tỷ lệ thất học cao nhất.
Khoảng 12 giờ, bữa ăn trưa bắt đầu. Chúng tôi đứng trong lều của tộc trưởng Tillman cùng với ông Joe, anh em nhà Wallers và các thành viên khác trong hội đồng bộ lạc. Tộc trưởng Tillman nói một vài lời cảm ơn, rồi tất cả cầu nguyện Chúa Trời trước khi xếp hàng để lấy đồ ăn. Trong các lều, tiếng nói cười vang lên rộn rã.
Như tôi đã nói: con người ở đâu trên Trái Đất này cũng giống nhau.

A có nhất thiết là A không?

Đêm đó, chúng tôi không thắng. Khoảng 12h đêm thì ông Joe và bà Alaine về nhà. Ông Joe không có ý kiến gì về thất bại của mình; nhưng ông hết sức buồn vì tộc trưởng Tillman và anh em nhà Wallers không được bầu trở lại. Cả 8 người trong hội đồng cũ, chỉ có 1 người duy nhất vẫn được bầu. Ông Joe nói rằng ông có cảm giác bị phản bội. Cô Teresa an ủi ông rằng trong những người được bầu mới, không có ai là người theo Đạo và điều đó chứng tỏ rằng Chúa đã rút bàn tay chở che của Người khỏi dân tộc Osage, giống như trước đây Chúa đã từng rút tay Người khỏi dân Israel trong 40 năm khi họ quay lưng lại Chúa.
Tôi nằm trong bóng tối nghe cô Teresa, bà Alaine và ông Joe cầu nguyện. Layton đã ngủ từ lâu rồi. Một lát sau, trong nhà im lặng, chỉ còn tiếng máy điều hoà chạy đều đều. Tôi biết ông Joe - dù vững vàng đến mấy - cũng sẽ cảm thấy hụt hẫng, giống như tôi đã chứng kiến cú sốc ở bố tôi cách đây mấy năm trong một dịp tương tự. Tôi nghĩ đến cô Teresa và bà Alaine, đến nỗi đau mà họ đang gánh hộ ông Joe một cách không cần thiết.
Tôi nghĩ đến trời đen ngoài kia, đến gió lồng lộng trên các sườn đồi cách chỗ tôi nằm không xa, đến những người Osage đang ngủ trong thị trấn Pawhuska này. Cái mà họ đang mất đi thực ra không đáng giữ. Cái văn hoá hiện vật thể hiện dưới các thứ lều trại, áo lông thú, chế độ tập tước hay nhiều thứ khác không phải là cái mà họ nên đau khổ vật vã khi mất đi.
Cái mà họ hay bất cứ một dân tộc nào khác nên lo lắng về sự mất mát của nó chính là sự mất mát của sức người, của trí tuệ con người. Một dân tộc không suy nghĩ là một dân tộc chết. Một dân tộc không duy trì một nền tảng giá trị dựa trên quyền cá nhân và sự tự tôn cá nhân, mà dựa trên các đặc quyền, các quan hệ và sự bảo trợ sẽ không thể nào lớn mạnh. Một dân tộc không có các thang đánh giá con người dựa trên khả năng tư duy và sáng tạo của họ, mà dựa trên quan hệ hoặc các thứ thước đo mang tính phản ánh khác sẽ chỉ sống như một cái cây cớm nắng mà thôi.
Sức người - đấy là mấu chốt của một dân tộc bởi vì con người tạo văn hoá, chứ không phải văn hoá quy định ngược lại con người.
Sự khác nhau giữa A và A nằm ở đâu? Nằm ở chỗ khi được cho phép tự nguyện lựa chọn, con người đã từ chối sử dụng thứ công cụ duy nhất làm cho họ sống như một con người: khả năng tư duy, đánh giá và ra quyết định một cách độc lập, một cách có lí.
Như tôi đã nói: Con người ở đâu cũng có chung một sự khốn cùng như nhau. Con người ở đâu cũng chỉ có một cách để ra khỏi sự khốn cùng đó.

còn tiếp ...

PV
lifegoeson
15-10-05, 05:56
Oklahoma Du Hí
PhanViet

10. Bão thảo nguyên

Bắt đầu là tiếng leng keng vội vã, hốt hoảng và hoang mang của cái chuông gió treo đầu hồi nhà.
Bắt đầu là những cơn gió nóng hầm hập trườn nhẹ nhàng qua các thung lũng, mang trong mình sự hanh hao của bầu trời, sức nóng và vị oi oi, nồng nồng của đất dầu.
Bắt đầu là những đám mây màu xám cau có vần vũ từ xa bay lại rồi thình lình ôm trùm lấy các đỉnh đồi xung quanh và lồng lộn thay đổi hình dạng liên tục phía trên các nóc nhà, các con đường trong thị trấn.
Bất thình lình, mưa trút xuống ào ạt như thể thần chiến tranh cưỡi cỗ xe 12 ngựa vừa mở cổng thành xung trận, quá tự tin đến mức không cần đợi chiêng báo hiệu. Bầu trời như nứt ra và nước cứ thế trút xuống, tưởng như Chúa Trời gây Đại hồng thuỷ thứ hai sau thời của Noah.
Mưa đá! Những hạt mưa là những cục băng to bằng đầu ngón chân cái rơi rầm rập từ trên cao xuống: gõ lộp độp trên các nóc nhà, lăn tơi tả trên mặt cỏ và đập ràn rạt trên nền đường. Thiên nhiên đang hú gào thể hiện quyền lực của nó trên Mặt Đất. Không gian trùm trong màn mưa trắng và những tiếng ầm vang, tiếng hoan ca.
Trong tích tắc, gió đổi từ hanh hao, hầm hập nóng sang mát lạnh. Nàng rít lên lanh lảnh, ghé miệng thổi tung các lá cờ treo trước các căn nhà, vung tay bứt từng đám lá ném tung toé xuống mặt đường hoặc bừa ẩu vung lên không trung. Nàng trườn mình qua các rừng cỏ lau và cây bụi trên các sườn đồi bỏ lại sau những tiếng vi vút ngân dài. Nàng nhảy xuyên qua màn mưa bằng bước chân vũ nữ, thò tay vặn từng tấm màn nước trắng thành những hình xoáy tròn rồi buông tay rắc nước ra khắp nơi; nàng đi như chạy trên mặt hồ rộng, kéo theo gót chân nàng những đợt sóng trắng bạc, chỏm sóng nhập vào những giọt nước đang rơi xuống từ trời cao, đuổi xô nhau vào bờ trong sự hoan hỉ.
Nước chảy xối xả trên đường, từ nóc nhà, từ trên đồi cao, từ trong các lòng mương khô hạn, từ các con sông xa - sông Ankansas, sông Missouri, sông Nebraska, hay từ biển lớn đổ về. Nước như nứt từ duới đất trào lên khi gặp mưa từ trên xuống. Nước như trào ra để hoà hợp vơí dòng thác từ trời cao. Nước bắn tung lên các cửa sổ, cuồn cuộn chảy dọc các con dốc, láng sáng trên mặt lá, nhỏ tong tong từ cái chuông gió, phủ mờ mặt kính cửa sổ, kéo trôi váng dầu trên mặt đất xuống các lũng nước; gột sạch bụi đỏ trên những thân cỏ.
Hoà vào tiếng nước xối trên mặt đất và tiếng gió rít lưng chừng, hiên ngang ngự trị phía trên cao là thần Sét, tay vung lưỡi búa vạch những đường lửa sáng khắp trời. Gã cười lên khanh khách trong bộ giáp trụ sáng bạc, đứng oai phong trong cỗ xe tứ mã, luồn qua các đám mây lớn, châm lửa vào từng chân mây và mở miệng túi ném ra những tiếng sấm lăn dài trong không trung. Hắn ngạo nghễ trải thảm đỏ dưới chân hắn khắp cả bầu trời. Những nóc nhà rung lên, nhập nhoạng ánh sáng ma quái trong chớp loè và sấm nổ. Những trườn đồi sẫm bóng mây và mờ trong màn mưa thi thoảng lại loé sáng, vạch một bóng rõ ràng nên nền trời.
Phía xa, những cánh rừng thẫm lại trong mưa. Những con sóc vội vã đi trốn từ lúc bắt đầu có gió. Những con hươu đứng bồn chồn dưới tán cây trú mưa, thỉnh thoảng lại rùng mình vẫy nước rồi vùng bỏ chạy khi sét rạch ngang trời. Cây cối tơi tả, cành khô gãy răng rắc, những tàng cây cổ thụ nặng nước cũng ngã gục, nhựa rỉ ra, sực lên một mùi hăng hăng mà gió đón lấy và ném vào không trung.
Chiều hôm qua, ba chúng tôi - cô Teresa, bà Alaine và tôi - đi Bartlesville sắm đồ. Chiều hôm kia, chúng tôi đi Ponca city thăm một người họ hàng. Những lúc xe chạy lên đỉnh đồi, có cảm giác như chúng tôi đang phóng thẳng vào đường chân trời. Aaaaaaaaaaaaaaa...Hai bên đuôi mắt tôi là những thung lũng lộng gió và xanh ngút mắt; mây trên cao làm thành từng đám bóng nắng rời rạc khắp trên mặt cỏ. Mặt trời ở trước mặt tôi đỏ ối như một miệng lò nung, thấp tháng bóng dáng những cánh tay trần của những người thợ nhễ nhại mồ hôi đang hối hả đúc thời gian. Trên đầu tôi, trên tóc tôi, diều hâu lượn tròn từng đôi, thong thả và thoải mái như những người chủ thực sự của bầu trời. Ngồi trong xe nhìn ra ngoài, tôi nghĩ đến những con đường lượn quanh các sườn đồi và những cột điện cao tải điện đi ngang dọc. Ai là người bạt núi mở đường? Ai là người chôn cột, căng dây, kéo điện thắp sáng trời đêm?
Chiều nay, bão về vần vũ trên thảo nguyên, làm chủ đất và trời. Ngoài kia, mưa vẫn rơi xối xả, gió vẫn gào thét và sấm chớp vẫn rạch chéo qua khoảng không nối liền trời và đất. Cái cửa sổ tôi đang đứng nhìn ra ngoài bắt đầu mờ mờ hơi nước. Nhìn xuyên ra ngoài, tôi thấy những cành cây vặn mình quằn quại trong gió mưa. Chỉ có mỗi một thứ hình thù xấu xí trơ trọi trên mặt đất là trơ gan cùng gió bão: những cái cần trục hút dầu. Mặc gió mưa thét gào cuồng nộ, nó vẫn lên lên xuống xuống khoan thai để kéo quặng dầu lên các đường ống. Gió, nước, sấm, chớp chẳng mảy may làm nó động lòng.
Nếu tôi đưa bàn tay phải này lên và gạt những đám hơi nước trên cửa sổ đi, tôi sẽ nhìn thấy bên ngoài rõ hơn. Nhưng tôi vẫn đứng lặng yên, hai bàn tay bất động, duỗi dài song song với thân người trong một ý thức rõ ràng rằng sẽ không có bàn tay nào được đưa lên cả. Có tiếng reo ca hoan hỉ ở trong đầu. Đấy là tiếng reo chiến thắng của trí óc với cơ bắp cụ thể này, là sự hân hoan nhìn thấy bóng dáng sức mạnh tiềm ẩn của tư duy. Bàn tay có đưa lên hay không không quan trọng; nhưng tôi biết trong những lúc khó khăn sau này, khi tôi sẽ phải quyết định có đưa tay ra hay không, tôi có thể dựa vào đầu óc mình được. Cả thể xác và trí tuệ của tôi là một khối thống nhất không thể tách rời. Tôi có thể cảm thấy nó trong từng hơi thở, từng cử động.
A ha. Những ý nghĩ đang vươn dài ra. Chúng tung mình lên không, nhào lộn, luồn lách qua các đám mây, bay trên mặt hồ, bứt tung các đám lá ném lên trời, đập mạnh hai cánh mà lao vút lên phía trên các đám mây tích lửa rồi sà xuống thổi ra một luồng hơi làm nguội đi dòng nham thạch âm ỷ. Những ý nghĩ như sóng cuộn lên, chạy dài ra xa bờ trong tiếng cười nhạo khanh khách, kéo vào gần âu yếm và thân thiện, rồi vút lên trong cả sự giận dữ và yêu thương sâu như dao cắt. Có lúc chúng hiện hình rõ rệt như có thể cầm nắm được, có lúc chúng mơ hồ như một bóng thiên nga trên mặt hồ đêm có màu trắng xanh. Chúng lăn như những hòn bi ve nhiều màu trên các trang giấy viết bài, chúng trầm tư xếp hàng trong các dự định đang thành hình một cách vững chắc, chúng háo hức nhưng kiên nhẫn trong những nỗ lực đi xa. Chúng độc lập và tự tin. Mỗi lần như thế, có cái gì đó lại reo vang lanh lảnh. Một cái gì đó nhiều nhiều nhiều, đẹp đẹp đẹp và thân thiết vô cùng, như có thể dang tay mà ôm vào lòng. Thần Trí Tuệ cưỡi cỗ xe 18 ngựa lao vun vút trong đường hầm dài hun hút của tư duy, vút ra phía bên kia cửa hang nơi có ánh sáng và những con ngựa đầu mang sừng sải cánh bay lên, chân duỗi dài như những người múa ballet cổ điển.
Bão trên thảo nguyên là Đan-kô, người đã dứt trái tim soi đường cho những người khác đi qua đầm lầy; để rồi bị dẫm đạp lên, và chết trong quên lãng. Bão trên thảo nguyên là Atlas - vị thần đã đứng nâng cả bầu trời trên đôi vai cho nhân loại. Bão trên thảo nguyên là Promete ăn cắp lửa cho loài người rồi bị xiềng trên đỉnh Ô-lanh-pơ cho ác điểu rỉa thịt. Sự hy sinh của những người vĩ đại chính lại là lửa, là nguồn sống, là nguồn ánh sáng cho những kẻ tầm gửi khác, sống để huỷ hoại thế giới, sống để hấp thụ và phản chiếu ánh sáng nguồn kia một cách dối trá. Bão này chính là cơn giận của Đan-kô, là Atlas quyết định hất tung bầu trời trên vai, là Promete thả lửa xuống thiêu đốt tất cả, để mặc thế giới tự chịu trách nhiệm về mình. Thần ý Nghĩ bay ngang tàng trên không trung trong bộ cánh bạc, cười vang trước trật tự mới của vạn vật.
Trong ầm ào cuồng nộ của bão thảo nguyên, có bóng người đứng trên đỉnh đồi cao, hai tay vươn lên thâu lấy Mặt Trời, Gió và Sấm Chớp.
***
“Sau cơn mưa rào, mọi vật đều sáng và tươi..”


11. Khi thế giới (không còn) hoàn hảo

Chúng ta nói về Utopia như một ý tưởng hão huyền.
Rồi chúng ta lại nói về hoà nhập nhưng không hoà tan văn hoá.
Chúng ta nói về sự giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Rồi chúng ta lại nói về sự hội nhập thế giới, về “the global village”
Có thể những rối ren trong thế giới hiện tại làm cho người ta thấy ý tưởng về một thế giới đại đồng không phân biệt Mỹ, Việt Nam, Ai Cập, Palestine, Israel, Na Uy, Hà Lan vv...là một ý tưởng điên rồ và không tưởng. Người ta nghĩ sẽ không bao giờ con người triệt tiêu hoặc dung hoà văn hoá dân tộc được đến mức mà họ có thể chấp nhận nhau hoàn toàn để sống chung như trong một nhà, như thể thế giới chỉ là một cái vườn lớn, nhiều cây nhưng cùng sinh ra từ một lòng đất.
Thực ra sự không tưởng này nằm ở chỗ người ta cứ khăng khăng cho rằng mỗi dân tộc nhất định phải có một văn hoá như một thứ thuộc tính đeo bám vào một thực thể có sẵn. Rằng văn hoá Việt Nam là một thuộc tính đeo bám vào thực thể có sẵn là mảnh đất chữ S dài từ Mũi Cà Mau đến chỏm đầu Hữu Nghị Quan, đường bờ biển hơn 3000 km. Hay văn hoá Trung Quốc là cái tính “Tàu” đeo bám vào mảnh đất hình cái quạt nằm ở về phía Bắc nước ta. Người ta không chấp nhận nổi ý nghĩ rằng sẽ đến một lúc nào đó, cả thế giới chỉ có một văn hoá, một thứ chuẩn mực đạo đức, một nguyên tắc chung.
Nhưng điều đó hoàn toàn có thể xảy ra trong tương lai khi nhận thức của con người cao hơn, khi các phương tiện kỹ thuật và công nghệ làm biến đổi ý nghĩa truyền thống của không gian và thời gian. Khi ấy sẽ có một khái niệm văn hoá mới: văn hoá cá thể. Người Việt vẫn giữ lấy quan họ, giữ lấy áo dài, khăn xếp, hò Nam Bộ; người da đỏ cứ việc nhảy múa trong áo lông chim; người Scotland cứ việc mặc váy thổi kèn túi dọc bờ biển, nhưng đó không phải là gốc của văn hoá mới. Cái cốt của văn hoá là cách người ta giao tiếp với nhau, cách người ta xử lí quan hệ giữa mình và cộng đồng, cách nhìn nhận và xử lí khái niệm "bản thân" và "công chúng".
Cái văn hoá cá thể này đòi hỏi người ta thôi không xem xét đám đông như là xem xét một thực thể có ý chí độc lập nữa. Người ta cần nhận ra rằng ý kiến của đám đông - mặc dù là một tiêu chí "đẹp" - rốt cục không phải là một tiêu chí đáng tin cậy khi ra quyết định. Về bản chất, thế giới này vận hành chủ yếu nhờ vào một số những bộ óc lớn - những người dám theo đuổi cái mà họ cho là đúng bằng mọi giá; phần còn lại - tức là phần bao gồm đại đa số những người không bao giờ có đủ sức mạnh để theo đuổi cái đúng bằng mọi giá - thì chủ yếu đi theo.
Tôi đã từng cho rằng người Mỹ ưu việt hơn người Việt, hoặc người Trung Quốc có những đặc điểm riêng khiến cho họ làm được những việc ta không làm được. Nhưng sau 2 năm ở Mỹ, tôi bắt đầu nhìn thấy người Mỹ, người Việt hay người Anh - khi xem xét riêng rẽ với tư cách cá thể độc lập với xã hội - hoàn toàn không khác nhau trên các điểm cơ bản. Bạn hoàn toàn có thể hiểu thấu đáo, có thể "đọc" một người Mỹ hay người Trung Quốc như "đọc" một người Việt nam. Bạn có thể nhìn vào một cá thể và đoán định về con đường anh ta đi, cách anh ta xử lý cuộc sống và những nguyên tắc nền tảng khiến anh ta xử lí cuộc sống như thế - kể cả những nguyên tắc thành văn lẫn những nguyên tắc thuộc dạng subconscious.
Nếu đến một ngày như thế, văn hoá của ngày ấy sẽ là thứ không tồn tại ở cấp độ tổ chức, cộng đồng hay quốc gia nữa. Nó chỉ tồn tại ở cấp độ cá thể và tất cả các cá thể trên thế giới sẽ cùng chung nhau văn hoá đó: văn hoá cá thể bình đẳng, ở đó mỗi người nhận thức rõ bản thân; sống trên nguyên tắc, trên mục đích của mình; không sống vì người khác và cũng không yêu cầu người khác sống cho mình; ở đó mọi sự quyết định đều trên tinh thần độc lập và có lí.

Tháng 6 – 2002.

PV
lifegoeson
15-10-05, 06:02
Thư về làng hoa
PhanViet

Mẹ sinh con khi bố vắng nhà
Hai bên ông bà giành nhau đặt tên cháu gái
Mười bảy mùa cây và hoa trong làng trổ bông kết trái
Ông và bà đều đã đi xa

Ngọc Hà, Ngọc Hà!
Bố nói tên con là dòng sông trong vắt
Người trồng hoa giữ nước nguồn như giữ gìn con mắt
Hoa là mắt con gái lúc bình minh

Ngọc Hà - làng mình:

Mùa xuân hoa huệ trắng tinh
Mùa thu cúc vàng rực rỡ
Bốn mùa hoa hồng tươi đỏ
Hoa lan tím những đầu hồi

Mẹ ơi, mẹ ơi
Khi người ta mười bảy
Người ta như dòng sông xanh kia muốn được một lần cuộn chảy
Vượt tung những thác, những ghềnh

Con qua Caribê - những trưa nắng triền miên
Vàng như cúc vườn mình ngày Tết
Những rừng phong chiều Osaka rực chờ đông đến
Đỏ như những cánh hoa dơn
Đêm Phi châu cát trắng cô đơn
Trên đầu sông Ngân trong như một dòng sông ngọc
Bố ơi, trên sa mạc hoang vu mặt trời lại mọc
Hoa nào vừơn mình sẽ giống mắt con?

Bây giờ là tháng Giêng non
Đất làng mình đang được cuốc cày để vào vụ mới
Nuớc mát sẽ tưới vào vết cằn nuôi hạt mầm mùa tới
Khi nắng ấm lên, con sẽ về nhà

Lan tím đầu hồi chắc sắp nở hoa?
Cúc vàng mùa thu con về sẽ trổ
Hoa hồng vườn mình bốn mùa vẫn nở?
Trắng tinh hoa huệ vẫn chờ

Ơi hoa, ơi hoa

Hoa Hà Nội gìn giữ lòng Hà Nội
Cho những phần Hà Nội ở nơi xa
Cho tôi là Nguyễn Ngọc Hà!
Con gái Hà Nội xa nhà đã lâu

PV
Happiness
23-10-05, 18:46
Có một bạn ko rõ tên gửi cho diễn đàn bài viết đầy đủ dưới đây của PV, đồng thời có nhắc tzv chăm chút hơn cho Long tuyển. Xin chân thành cảm ơn bạn và hy vọng sẽ tiếp tục nhận được sự đóng góp của bạn.

Cũng xin trả lời bạn rằng dù mọi người rất cố gắng, những gì đem vào Long tuyển nhiều khi cũng chỉ có vậy. Dang dở không hoàn thiện có thể coi là một phần vẻ đẹp của Thăng Long. Ví dụ như Oklahoma du hí xuất hiện ở TL cũng ko hoàn chỉnh như khi được đem nộp lấy giải báo Tuổi trẻ ... Lúc bấy giờ, chẳng ai biết bạn ấy muốn xem Thăng Long là bước chuẩn bị cho một cuộc chơi lớn hơn. Bingo!!!

------------------------

CÔ ĐƠN ƠI - Tên mi có nghĩa là nghị lực


Nếu có một thời điểm nào đó trong cuộc sống, mà chúng ta cần phải và nên bị dúi xuống bùn lầy tăm tối, tốt nhất hãy chọn lúc 18-25 tuổi, lúc mà bạn có cả sức khoẻ lẫn sự dẻo dai; cả hưng phấn lấn thất vọng; cả niềm tin sắt đã lẫn sự ngoan cố mù quáng; cả sự hiểu biết bằng bản năng và trực giác chưa bị pha tạp lẫn sự tăm tối vì mơ hồ nhận thấy những lực cản của xã hội. Nghĩa là có tất cả mà lại chẳng có gì vững chắc. Lúc ấy là lúc có cả một tiềm năng - cái năng lực tiềm ẩn trong từng cử động, từng quyết định nhỏ, cái khả năng có thể nhảy rất dài, vượt rất xa, thay đổi cả thế giới; hoặc là cái nguy cơ trượt xa khôn cùng xuống vực sâu của tăm tối, kiệt quệ, u uất và rệu rã.

Tuổi trẻ - tự bản thân nó đã là một tài sản, tự bản thân nó đã hàm chứa ánh sáng và hạnh phúc, khi bị dúi xuống bùn, cơ hội để nó vẫn toả sáng và thăng hoa sẽ lớn hơn so với khi bạn già đi. Lúc đó là lúc phép thử còn màu nhiệm, con tốt đỏ trong tay có thể còn phong Hậu; bạn có thời gian làm hậu thuẫn và chân trời vẫn còn gợi nhiều thôi thúc. Còn khi bạn đã lớn tuổi hơn, những xây xước đằng trước sẽ làm cho bạn ngần ngại, nếu bạn bị dúi xuống bùn thì rất có thể bạn sẽ tặc lưỡi nằm đó một mình, hoặc sẽ cố gắng vùng vẫy sao cho người khác cũng vấy bẩn lem luốc giống với bạn.

Tuổi trẻ có một thứ vốn ngầm rất đáng quý mà không phải ai cũng biết: sự cô đơn. Trái tim là một giống loài dễ hư hỏng. Nếu nó được no đủ, nó sẽ đổ đốn ngay lập tức. Hạnh phúc làm cho con người ta mềm yếu, người ta vui tươi với mọi thứ, người ta quên mất việc phải làm, người ta còn bắt đầu tặc lưỡi nhiều hơn với những thói quen xấu. Tình yêu là một giống dây leo khó chiều. Nó cần được thử thách và bị tấn công. Nếu bạn mớn cơm cho nó hàng ngày, chăm sóc nó quá no đủ, nó sẽ chết yểu.

Cô đơn ơi, tên của mi hàm chứa nghị lực. Nhưng sự cô đơn này không đơn thuần là "một mình" theo nghĩa đen của đúng từ này. Cô đơn là một trạng thái tổng hoà rất đặc trưng của tuổi trẻ. Cô đơn vì thấy mình quá bé nhỏ, và ngộp thở trước sự rộng lớn của vũ trụ, của hàng hà tinh tú trên đầu mỗi đêm hè ta ngẩng lên. Cô đơn vì thấy mình bất lực trước một sinh vật ngang bằng mình, tồn tại cạnh mình, cần cho mình mà mình không sao sở hữu nổi nó. Cô đơn vì thấy có quá nhiều tiếng gọi mà không biết sẽ đi đâu. Cô đơn vị sự giằng xé giữa những ước mơ thời bé và những thực tế vừa mới đến. Cô đơn vì vừa buồn bã, vừa kiêu hãnh và khoái trá đi lại tung tăng, ngạo ngược trong thế giới riêng của mình, chỉ thỉnh thoảng hào phóng mời vào một hai vị khách, rồi lại mời họ ra ngoài để ta đóng cửa lại.

"Hạnh phúc làm con người mềm yếu và quên mất việc phải làm". Rất nhiều người đã nói thế. Rất nhiều người đã được dạy cần cảnh giác với hạnh phúc. Nhưng "việc phải làm" ấy là để làm gì, nếu không phải để mang lại hạnh phúc? Và mục đích cuối cùng của mọi việc là gì nếu không phải hạnh phúc?

Vì thế có lẽ chăng nên nuôi dưỡng trái tim như nuôi con mèo dùng vào việc bắt chuột: để mặc nó đói, nó sẽ phải tìm đường săn mồi. Con mèo đói đến lúc săn được mồi đã quá hao sức vào việc săn, đã quá đói, nên nuốt vội con chuột mà quên mất hưởng thụ thành quả. Và con chuột (hạnh phúc) chui tuột vào dạ dày mà chẳng để lại dư vị gì.

Trái tim là một con mèo, đừng thử thách hay tấn công nó nhiều quá. Nó sẽ tự tìm được một khoảnh sân để duỗi dài sưởi nắng. Trong cái sân nắng ây, có lẽ cô đơn không phải là người bạn tốt.

Cô đơn - tên của nó hàm chứa sợ hãi. Bởi dù theo nghĩa nào đi chăng nữa, cô đơn có nghĩa là khoanh riêng mọt vùng đất cho mình, đặt tên cho nó là "tôi", rồi xây lên một thành trì bao bọc. Mà đã xây thành, có nghĩa là đứng trước nỗi sợ xâm lăng.

Cô đơn - tên của nó hàm chứa khổ đau. Bởi để giữ thành, thì phải chiến đấu. Nếu không giữ được đó là khổ đau. Nếu giữ được, thì một mình trong cái chiến thắng hoang tàn đó, chiến thắng trở nên 3 lần vô nghĩa.

Cô đơn - tên của nó hàm chứa mất mát. Khi đã xây lên một thành trì khoanh thế giới của mình lại, có nghĩa là đã đánh mất thế giới bên ngoài kia.

Mặc dù vậy, cô đơn dường như là một trạng thái mặc định cho mọi người. Tuy nhiên, cũng như một đứa trẻ chỉ lớn nếu cai sữa để ăn cơm, một người trẻ phải chối bỏ và thoát khỏi sự cô đơn để lớn lên.

Nhưng trước khi chối bỏ, người đó phải ý thức được nó. Ngày xưa có một câu chuyện về người cha trong ngày sinh nhật của đứa con 3 tuổi. Đứa con khư khư giữ những quà tặng, không cho các bạn chơi cùng. Người cha quyết định dạy con mình biết chia sẻ bằng cách giật đồ chơi khỏi tay đưa con cho những đứa khác. Có một điều mà người cha đó quên: trước khi học cách chia sẻ, đứa bé phải học cách sở hữu. Người ta không thể cho đi cái gì người ta không có. Cũng vậy, người ta không thể thoát khỏi bức tường mà người ta không nhìn thấy.

Thời gian để tự ý thức đó có thể là rất lâu. Để kiêu hãnh về thế-giới-riêng-tư không thể lặp lại của mình. Để thù địch với tất cả những gì không phải là nó. Để chiến đấu bảo vệ nó. Để thấy nó là chật hẹp và quyết tâm thoát khỏi.

Thoát khỏi không có nghĩa là đánh mất, không có nghĩa là để cho thế giới của mình bị xâm lăng bởi thế giới ngoại lai. Thoát khỏi có nghĩa là cho đi, là đem cái thế giới riêng tư ấy chia sẻ và hợp nhất với những thế giới khác thành một thế giới rộng lớn hơn. Thoát khỏi, có nghĩa là học cách sống với các sinh vật ngang bằng mình, tồn tại với mình, cần cho mình mà không đòi hỏi phải sở hữu. Những giấc mơ, khi đó, không mất đi. Chúng chỉ ít viển vông hơn. Khi đó người ta không còn mơ tung cánh giang hồ.

Cô đơn có thể do khách quan hoặc chủ quan, nếu do khách quan thì đó quả thật là sự sợ hãi, khổ đau và mất mát. Nếu như cô đơn do tự ta tìm đến, nó sẽ không còn là sự sợ hãi khổ đau hay mất mát nữa. Nó sẽ là nơi mà thực sự cảm thấy an toàn, một nơi yên tĩnh vô cùng, nơi mà ta có thể bình tâm đánh giá mọi việc trên thế gian này, nơi mà ta có thể nhận thức được cái hay, cái dở ..., và cũng có thể là nơi để tâm hồn ta chìm vào quên lãng. Và chính những thời điểm như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy lớn hơn rất nhiều, sẽ thay đổi cách nhìn của chúng ta về thế giới xung quanh, và sẽ trở nên hoàn thiện hơn rất nhiều.