Lịch sử - Cần lắm những câu chửi thề... ( Tác giả: Vô danh (ai biết xin chỉ giùm)

Phuongdong
30-09-05, 11:43
.... Vì ở đâu, thời nào, thì cuộc sống cũng không thể thiếu được những tiếng chửi như thế. Ví dụ như Phạm Ngũ Lão khi ngồi đan sọt ở phố Phù Ủng bị lính đâm thủng đùi. Đáng lẽ khi đó, một câu "Mẹ mày!" phát ra, thì đó mớI đúng là khẩu khí của một lực điền ứ thừa ý chí. Hay khi Lê Lai dụ địch giãn vòng vây ở núi Chí Linh, sau khi rút mũi tên ra khỏi cổ, câu cuối cùng của người anh hùng thứ 21 này phải là "tiên sư bố thằng nào xô ông ra!".

Vậy mà tịch khống một tiếng chửi thề, suốt 4 nghìn năm lịch sử. Đấy là nguyên nhân của sự kiện 70% điểm số môn lịch sử ở duới m ức kém.

Từ thuở hồng hoang, cha tổ của chúng ta là Lạc Long Quân- thuộc dòng thủy quái. Xì căng-đan cụ để lại là vụ sinh nở dị thường và sau đó là cuộc ly hôn đầu tiên trong lịch sử. Dấu hiệu của một tương lai mờ mịt và một bản sắc âm tính cho con Lạc cháu Hồng!

Em lớn lên trong câu hát ru của mẹ, trong thủ thỉ chuyện cổ tích bên bếp lửa nồng đượm của bà, (đoạn này cô giáo bảo phải chép y nguyên như thế, bất kể mẹ mày có không cho mày bú tý vì sợ xấu mất ti, hay bà mày có còn hay đã chết). Trong giấc mơ hiện về một hình ảnh Thạch Sanh hiền lành chất phác, một Lang Liêu thuần hậu hiếu thảo, một Thánh Gióng 3 tuổi cưỡi ngựa sắt đua lên giời. Đó là những biểu tượng đỉnh cao về hình ảnh người đàn ông đích thực của con cháu Lạc Hồng. Một Thạch Sanh biết nấu cơm bằng niêu vạn năng để đuổi giặc, biết bắn gục đại bàng và chém chết chằn tinh (đek biết là con gì?), nhưng đần vẫn hoàn ngu khi để anh Lý phỉnh phờ lừa cho hết lần này đến lần khác. Tục ngữ hiện đại nên bổ sung câu: Ngu như Thạch Sanh! mới là đầy đủ. Một Lang Liêu khù khờ nhờ quý nhân đãi mà nặn ra được một sản phẩm ẩm thực - một năm chỉ nên ăn mấy ngày nếu không muốn chết vì ngán - sau thành quốc hồn quốc tuý. Ngán - nhờ đó mà được lên làm vua. Mà sao qua mấy lần thi với lại dài dài hội thảo, không thấy ai lấy hình tượng trên tròn dưới vuông làm cái logo cho du lịch nước nhà nhỉ???

Hình ảnh âm tính nhất của người đàn ông Nam Việt có lẽ là bộ trang phục áo dài khăn đóng. Em đồ rằng nhà tạo mẫu bộ thời trang này có nguồn gốc xuất thân từ thái giám đoàn. Từ đường chít eo bên hông đến cái khăn đóng siết chặt màu đen cứt trâu, đó không thể là biểu tượng cho một trang Nam tử được. Vậy mà em vẫn thấy hình ảnh đó qua những văn nhân ưỡn ẹo phe phẩy quạt nan Dương Lễ, Lưu Bình; qua anh hùng đả cướp cứu mỹ nhân Lục Vân Tiên, qua cả những thần tượng âm nhạc thời nay là các anh Quang Linh, Minh Thuận trên sân khấu Lan Anh. Có lần em còn thấy cả anh Quốc Khánh của VTV3 cũng bận như thế. Nghe nói còn suýt được chọn làm quốc phục vào các ngày đại lễ.

Tư chất yếu đuối của đàn ông được bù trừ bằng bản tính cứng rắn của người phụ nữ Việt Nam. Cổ tích cho các cháu bé có kể rằng, cô Tấm dịu hiền sau khi hoàn lương qua bao kiếp, trở thành hoàng hậu đã không ngần ngại dùng đòn thù, dội nư ớc sôi vào người em gái, lột da lóc thịt làm mắm gửi về cho mẹ kế của mình. Một kịch bản mà Edgar Poe sau này đã đạo về để mông thành truyện ngắn Black Cat. Anh gì ở bên Mỹ qua nghiên cứu lịch sử Việtnam chắc không loại trừ mục đích như thế. Cuộc khởi nghĩa chống Tàu đầu tiên được ghi nhận là của hai chị Trưng, sau đó là của chị Triệu. Truyền thống trọng nam khinh nữ của hai ngàn năm Nho giáo muối mặt thừa nhận rằng: vào những năm đầu tiên của Công Nguyên, nuớc Việt không tồn tại đàn ông.

Sử ta, chèo (miền bắc) và cải lương (miền Nam) đã tôn vinh Thái Hậu Dương Vân Nga, người đàn bà được ghi nhận là người vi phạm luât hôn nhân gia đình rõ ràng khi chưa mãn tang chồng mà đã theo giai, rồi tình nguyện để gã trai ấy đào mỏ. Lịch sử cũng ca ngợi Ỷ Lan, cô thôn nữ dám xiên cả Hoàng hậu lẫn một đại đội phi tần đem nướng trên giàn thiêu. Lại còn bịa ra một khái niệm rất vớ vẩn là Tứ bất tử: Có ai biết Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh có công lao gì cho sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm hay trong phong trào xóa đói giảm nghèo của dân tộc???. Hình tượng Mẫu của văn hóa Việt chủ yếu phục vụ nhu cầu cúng bái và lên đồng, một sân chơi lành mạnh cho cộng đồng gaỵ Như thế, nói một cách mất nết, lịch sử Việtnam chẳng sinh ra được một người phụ nữ nào cho nên hồn. May mà sau này còn có chị Dậu, người đã dám "bán chó bán con lấy tiền vào hang thăm anh Trỗi" (@ văn Trò).

Nhân vật kỳ vĩ nhất của lịch sử trung cận đại Việt Nam có lẽ là Nguyễn Văn Ánh. Hai mươi năm nếm mật nằm gai không sờn chí. Xoay xở nhờ cậy từ Xiêm La đến Phú Lãng Sa rồi cuối cùng biết huy động nội lực để khôi phục nhà Nguyễn. Kỳ công hơn việc dẹp tan dư đảng Tây Sơn của nẫu Thơm, là việc bóp mũi sĩ phu Bắc Hà, dựng nên một kinh đô Phú Xuân nền nã mà thuần Việt - tuy vẫn nhuốm màu âm tính - để rồi 190 năm sau dễ dàng trở thành di sản thế giới mà không tốn một xu nào Lobby. Về điểm này, anh Lưu Bị bên Tàu phải gọi bằng cụ. Vĩ đại hơn cả là cuộc khẩn hoang Nam kỳ biến Chiêm Thành, Thủy Chân Lạp chính thức trở thành những bóng ma sờ soạng (@ Chế Bồng Hoan). Biến An Nam từ hình chữ I sang chữ S. Trong lịch sử kinh bang của 2000 năm trước đó, đố có cụ nào quy hoạch giải phóng mặt bằng mà được một diện tích nhiều rộng và nhiều mặt tiền như thế??? Triều Nguyễn không phải chỉ biết xây nhiều lăng tẩm đẹp như anh Thiệp nói, mà là xây cái cơ chế quân chủ thích hợp nhất cho công cuộc thuộc địa hóa tất yếu của Báđalộc. Thế mà... lịch sử!!!! Anh Ánh ở bên kia thế giới, nếu biết công lao của mình bị con cháu phỉ nhổ như thế nào chắc chắn sẽ văng một câu: "Đù má, không có tía, lấy đâu ra Sàigòn để bây đi Tây???".

Đó mới là tiếng nói đích thực của lịch sử. Nếu như Sử ta có chép được nhũng lời nói trần tục như thế, thì có lẽ điểm Sử năm nay khá hơn rồi!

Ờ, mà có ai, có chỗ nào ghi lại sự kiện lịch sử ở Thái Bình cách đây gần chục năm không nhể? Ngày ấy em về thăm Thái Bình và được tận mắt chứng kiến khí thế sục sôi của nhân dân trong phong trào trừng trị lũ tham quan sâu mọt hại dân hại nước. Dưng cơ mà chả ai đưa tin nên đại đa số con Lạc cháu Hồng không hề biết đến sự kiện lịch sử này. Giá như khi ấy cả nước cùng hưởng ứng với nhân dân Thái Bình thì nay đám tham quan đâu còn đất để lộng hành! Giá như các nhà sử học cỡ như Dương Trung Quốc, Lê Văn Lan... có chút ít trung thực và dũng cảm ghi lại sự kiện lịch sử này, thì có nhẽ, môn sử cũng chả bị tủi thân đến nhường ấy.

Mà noí đếk gì đến mấy thí sinh thi đại học Sử. Đến phóng viên của một tờ báo điện tử lớn hàng đầu đất nước, tên tuổi bay sang tận Mỹ tận Anh mà còn hăng hái chú thích ảnh "Quân đội Xô Viết đổ bộ ở Normandy", gắn cái ảnh lính Việt nam cộng hoà vào đoạn văn tả cảnh tiễn bộ đội ta vào Nam chiến đấu cơ mà. Có việc đếk gì đâu! Báo của anh lại còn có bài chính luận về lịch sử thế này:



Ai bảo Sử ta không hấp dẫn? (http://http://vietnamnet.vn/nhandinh/2005/08/475617/)
Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của một dân tộc nhỏ bé mà quật cường không thể không hấp dẫn đối với hậu thế. Một dân tộc thủa xa xưa nằm ở đâu đó phía biển Nam của Trung Hoa rộng lớn mà không hề nhạt nhòa hoặc bị đồng hoá hẳn không thể khiến người sau nói là: "không có gì đáng quan tâm".

Bao thế hệ chúng ta lớn lên mang theo trong lòng niềm tự hào dân tộc - yếu tố nuôi dưỡng tinh thần yêu nước qua những huyền thoại Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, Mỵ Châu - Trọng Thuỷ, Thánh Gióng. Những câu chuyện có thể làm nên giấc mơ lớn lao, đẹp đẽ của những đứa trẻ Việt tuổi lên ba khi còn nắm tay bà nội, bà ngoại.

Lịch sử Việt Nam cận - hiện đại với những cột mốc sừng sững có thể khiến bao nhiêu nhà viết sử xứ khác phải ao ước: Cuộc viễn chinh sang Đông Dương của thực dân Pháp, Cách mạng tháng Tám năm 1945, chiến thắng Điện Biên Phủ, chiến thắng 30/4/1975... Lịch sử trăm năm của nước Vi ệt gắn với tên tuổi Hồ Chí Minh có thể làm nên nhiều cuốn tiểu thuyết lịch sử hấp dẫn.

Bởi thế mới có chuyện, trong những thư viện của các trường Đại học tại Pháp, Mỹ hiện lưu trữ nhiều tư liệu lịch sử Việt Nam để sinh viên nghiên cứu. Bởi thế, hẳn sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi thỉnh thoảng chúng ta lại gặp một người nước ngoài thuộc sử Việt Nam hơn cả người Việt, và nghề chính của họ là: nghiên cứu về Việt Nam, trong đó đa phần là nghiên cứu Lịch sử. Đã có những cuốn sách viết về nhân vật lịch sử Việt Nam thành nổi tiếng trên thế giới.


Theo em biết thì chị tác giả bài này được coi là cây bút đinh của báo đấy. Chắc chị đang đi nghỉ mát ở Quất Lâm thì bị giục trả bài nên chị viết, quả thật, chuối đếk tả được. Tất nhiên cái trí tưởng tượng của em nó khác trí tưởng tượng của trẻ con năm 2005, nhưng em cũng ko tin là đứa trẻ 2005 sau khi đọc, nghe, xem huyền thoaị Sơn Tinh - Thủy Tinh, Mỵ Châu - Trọng Thủy xong sẽ được... giáo dục về tinh thần tự hào dân tộc và lòng yêu nước! Em cũng đíu hỉu chị tác giả "bởi thế" cái giề? Chuyện tìm được người nước ngoài biết sử VN hơn người VN... là do chuyên môn của họ là Việt Nam học, có cái gì là lạ? Cũng như bây giờ nếu chị bấm điện thoaị 1088*8*1 hoặc 1900561570 thì đương nhiên các em trực tổng đài sẽ cho chị biết kết quả trận bóng đá bất kì. Vì đơn giản đấy là nghề của các em í. Còn trong thư viện ở Pháp, Mỹ nó có tư liệu về VN vì Pháp Mỹ nó có đánh nhau ở VN, chứ báu bở đếk giề? Nói chị biết, ít nhất 3 tỷ người trên trái đất nó còn đếk biết VN ở đâu, độ 1 tỷ nữa nghe máng máng VN dính đến vụ đánh nhau với Mỹ, trong đó có khoảng 1 nửa nghĩ giờ vẫn đang đánh nhau! Em thật với chị, nếu chị đi thi đợt vừa rồi chắc chắn chị sẽ thuộc nhóm 0 điểm môn Sử. Sơn Tinh - Thủy Tinh, Thánh Gióng ... toàn là truyền thuyết, bịa từ đầu đến cổ mà chị xếp vào "Sử" thì bảo học tập noi gương cái gì? Rồi Mị Châu, Trọng Thủy mà phát huy lòng yêu nước thì em chắc cái lòng của chị bị thả mịa nó vào nồi nước luộc rồi. Chủ tịch Hồ chí Minh là một con người như thế nào mà chị ghép Người với 100 năm lịch sử Việt? Lịch sử Việt trăm năm tính từ thời điểm nào? Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, thế Hồ Chí Minh có từ khi nào? Đến nay là bao nhiêu năm? Chắc chị cũng chả hiểu chị đang viết cái gì, nghe người ta bẩu thế thì chị viết thế chị nhể.

Con gái em nó học lớp 4. Một hôm đi học về , em thấy nó dấm dúi khóc. Hỏi, nó bảo bị cô mắng là dốt như bò vì môn sử dễ thế mà cũng bị điểm kém. Mở bài kiểm tra của nó ra xem em thấy có câu hỏi thế này: Em hãy cho biết sự khác nhau giữa nền giáo dục thời Lý Trần với thời Lê? Nào, các anh chị nhà báo trả lời hộ em câu hỏi này cái. Nếu không trả lời được thì mời xem cái đáp án của cô giáo nó: giáo dục thời Lý Trần chú trọng đến Phật giáo, còn thời Lê chú trọng đến Nho giáo!!!

Tiên sư bố chúng nó chứ! Một học sinh lớp 4, một đưa trẻ 9 tuổi liệu có thể hiểu thế nào là "nền giáo dục", "Nho giáo", "Phật giáo" không? Có hiểu được Phật giáo và Nho giáo khác nhau thế nào không? Có hiểu "nền giáo dục chú trọng vào Nho giáo, Phật giáo" nghĩa là thế nào không? Ngay đến cả các anh giáo chị giáo, các anh nhà báo chị nhà báo, chán vạn anh còn cha hiểu được nữa , nói gì đến con trẻ. Vậy mà những người viết sách giáo khoa, những giáo sư tiến s ỹ, những nhà đại tri thức, vẫn cứ vô tư nhồi nhét vào đầu óc non trẻ mớ kiến thức lịch sử "hàn lâm" đến vớ vẩn như vậy. Mẹ kiếp, đúng là nền giáo dục giáo điều, vô cảm. Sử ta cũng phải chép y nguyên cả câu chửi này nữa.


Dân ta phải thuộc sử ta. Đã đành rồi.
Nhưng trước hết, sử ta phải đúng là sử đã!
uzii
30-09-05, 12:07
.Nhân vật kỳ vĩ nhất của lịch sử trung cận đại Việt Nam có lẽ là Nguyễn Văn Ánh. Hai mươi năm nếm mật nằm gai không sờn chí. Xoay xở nhờ cậy từ Xiêm La đến Phú Lãng Sa rồi cuối cùng biết huy động nội lực để khôi phục nhà Nguyễn. Kỳ công hơn việc dẹp tan dư đảng Tây Sơn của nẫu Thơm, là việc bóp mũi sĩ phu Bắc Hà, dựng nên một kinh đô Phú Xuân nền nã mà thuần Việt - tuy vẫn nhuốm màu âm tính - để rồi 190 năm sau dễ dàng trở thành di sản thế giới mà không tốn một xu nào Lobby. Về điểm này, anh Lưu Bị bên Tàu phải gọi bằng cụ. Vĩ đại hơn cả là cuộc khẩn hoang Nam kỳ biến Chiêm Thành, Thủy Chân Lạp chính thức trở thành những bóng ma sờ soạng (@ Chế Bồng Hoan). Biến An Nam từ hình chữ I sang chữ S. Trong lịch sử kinh bang của 2000 năm trước đó, đố có cụ nào quy hoạch giải phóng mặt bằng mà được một diện tích nhiều rộng và nhiều mặt tiền như thế??? Triều Nguyễn không phải chỉ biết xây nhiều lăng tẩm đẹp như anh Thiệp nói, mà là xây cái cơ chế quân chủ thích hợp nhất cho công cuộc thuộc địa hóa tất yếu của Báđalộc. Thế mà... lịch sử!!!! Anh Ánh ở bên kia thế giới, nếu biết công lao của mình bị con cháu phỉ nhổ như thế nào chắc chắn sẽ văng một câu: "Đù má, không có tía, lấy đâu ra Sàigòn để bây đi Tây???".


Basic: Nguyễn (Phước - Phúc) Ánh

"Bài này rất nguy hiểm, không phải chỉ vì nó sai mà còn vì người ta nó đọc thấy ... hay hay "

Dẫn lại ý của Dan - Bay vào dông bão - Daniil.
Salut
30-09-05, 19:45
Tớ thấy việc Nguyễn Ánh khai hóa Bến Nghé, Gia Định là đúng, nhưng trước Nguyễn Ánh thì vùng này đã có dzồi thì phải, chính xác hơn là N.A fái Lê Văn Duyệt vô cai quản và hoang hóa vùng đất này, và hiện nay dân SG còn thờ ông tại Lăng Ông Bà Chiểu thì phải. Ở bài này nói là N.A biến nước ta từ chữ I thành chữ S là sai. Quá trình Nam tiến của dân tộc ta kéo dài từ thời Đinh cho tới thời Nguyễn. Tới thời Trịnh Nguyễn fân tranh thì quá trình Nam tiến với xảy ra thực sự mạnh mẽ và quyết liệt, theo như một cuốn sử mà tớ đọc được thì ngay thời này nước ta đã được kéo dài tới tận Hà Tiên rồi. Và tác giả quyển sử này kết luận một câu thế này: "một dân tộc yếu hơn bị đồng hóa bởi một dân tộc mạnh hơn, âu cũng là quy luật tất yếu của lịch sử." Tớ không nhớ rõ ông này là ai, hình như là Nguyễn Hiến Lê thì phải.
neoconservative
30-09-05, 20:50
Khen cho chú phuongdong, khá cho chú phuongdong. Chú có thể thay chị phóng viên được rồi đấy còn không thì chú thay cho anh Dương Trung Quốc. Lịch sử VN mấy ai nói thật. Lịch sử của kẻ thống trị là vậy. Đơn giản như nhà Tây Sơn mọi thứ đều tốt 1 cách hoàn hảo trong sách vở của con em chúng ta nhưng mấy ai biết được chuyện tranh giành quyền lực, xung đột, đấu đá lẫn nhau giữa Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc. Mà lỡ sử Việt mà có phút nói thật thì nói khi nào mới hết hả chú Phuongdong????
neoconservative
30-09-05, 20:51
Phụ lục

Trần Quốc Vượng
Trích “Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia”

(Trong cõi, Nxb Trăm Hoa, California, 1993 tr. 252-259)

Đến đây tôi sẽ khép (lại) bài kể lể đã khá dài dòng của mình bằng câu chuyện một người tuy có tên tưổi nhưng không lấy gì làm nổi tiếng lắm, hay đúng hơn cả là đã trở nên có tên tuổi nhờ gắn bó máu thịt với một người có tên tuổi (nhưng từ đầu đến cuối câu chuyện của tôi đều nói về các nhà Nho, các vị thái học sinh, tiến sĩ, bảng nhãn hay là phó bảng cả).

Đó là câu chuyện về cụ thân sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy.

Phó bảng là một học vị dưới tiến sĩ, chĩ mới xuất hiện ở Việt Nam từ đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn (1830-31).

Trong một lá đơn bằng tiếng Pháp gởi Bộ Thuộc địa Pháp, Nguyễn Tất Thành (sau là Hồ Chí Minh) đã khéo dịch tên học vị của phụ thân mình là sous docteur [1] như ngày nay ta gọi là phó tiến sĩ.

Quê hương cụ, là làng Kim Liên, tên Nôm là làng Sen huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Nhưng đậu phó bảng rồi cụ đã làm Thừa biện Bộ Lễ ở Huế rồi Tri huyện Bình Khê (Bình Định). Rồi bỏ quan (hay bị mất chức quan), cụ phiêu dạt về Sài Gòn, ngồi bắt mạch kê đơn ở tiệm thuốc bắc Hoa kiều, để có chút cơm rượu... Lại phiêu lãng nữa, tới miền Tây Nam bộ, và cuối cùng mất ở Cao Lãnh (Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Mộ cụ phó bảng được xây lại cuối năm 1954 sau sự kiện Genève tạm thời chia đôi đất nước Việt Nam.

Người ta làm như thế vì cụ Hồ. Cũng như mộ bà Hoàng Thị Loan vợ cụ phó bảng và là thân mẫu Hồ Chí Minh mới được dời xây lại vài năm nay ở Nam Đàn, Nghệ An. Người ta làm thế cũng vì cụ Hồ. Hai ngôi mộ này, cũng như bản thân Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa lòng Ba Đình, Hà Nội, đều hiện hữu ngoài ý thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Hồ vốn được xem là người giản dị, khiêm nhường...

Cũng đã có dăm cuốn sách nói về gia thế cụ Hồ Chí Minh, nhưng câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết.

Chỉ là lời truyền miệng dân gian ...

http://webwarper.net/ww/www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5449&rb=0306&*
talatamavancumeta
30-09-05, 22:15
Bác Phương đông sư tầm bài này ở đâu đới? Thàng ku viết bài này dễ là bạn thân của em gì đi thi học sinh giỏi Văn trường Việt Đức lắm. Cùng 1 loại học sinh cực kỳ ngu dốt và phản động.
Bài này ý tưởng ban đầu nghe cũng kêu, nhưng thấy chả có mịa gì đáng đọc cả.



Dân ta phải thuộc sử ta. Đã đành rồi.
Nhưng trước hết, sử ta phải đúng là sử đã!
Chỉ có câu này đáng bàn. Các các còn nhớ đoạn sử quan nước Tấn ghi vào sử câu : "Triệu Thuẫn giết vua" trong truyện Đông Chu liệt quốc ko nhỉ? Sử thì biết thế dek nào là đúng . ;)
Gieng
01-10-05, 00:32
Bài viết hay quá. Vote 5* caí, mà vote ở đâu ấy nhở, à biết rùi. Cơ khổ cái sự việt hóa dd.
Hình như một số bác ở dưới không hiểu hết dụng ý của tác giả...lại sa vào cái tiểu tiết roài....
nvmõ
01-10-05, 05:42
Nguyễn Án có công ? hay chính là một tên bạo chúa nhỏ nhen. Mắt nhìn Ngô Thì Nhậm bị đánh đòn, Quang Trung bị quật mả, Bùi Thị Xuân bị voi giày, Ngọc Hân bị ức hiếp. Nguyền Ánh đă thắng trận mà trả thù nhỏ nhen như thế thì có khác gì kiểu giận cá chém thớt ... mất trí khôn.

Tây Âu nó có ngành nghiên cứu tâm lý của tác giả qua tác phẩm. Dựa trên psychololgy. Ngành này rất ngiêm túc và hiện thực. Tuy nhiên, nó cũng có ngành nghiên cứu tiểu sử rất chi tiết. Tác giả, tác phẩm nào có tâm thức duy lý, hay suy nghĩ ra sao đều được mổ xẻ kỹ càng để back up nữa. Còn nước ta thì tạm vui lòng và chấp nhận với những sự kiện ít ỏi. Đôi khi bị bóp méo hay dập vùi trong quên lãng...
Salut
01-10-05, 05:51
Công tội fân minh, ấy chính là cái cách chúng ta nên nhìn về lịch sử. Công tội Nguyễn Ánh thế nào thì chúng ta phải nghiên cứu cho kĩ dzồi hãn fát biểu. Nhưng theo tui, cái tội lớn nhất của Nguyễn Ánh và con cháu là bế quan tỏa cảng, ngăn chặn sự fát triển của đất nước. Coi lợi ích của cá nhân, của dòng họ lên trên lợi ích của dân tộc, của đất nước. Mọi sự ngu dân đều fải được coi là một tội nặng, đáng bị các thế hệ sau fê fán.
uzii
01-10-05, 09:55
Chú Lút đi hỏi anh Gúc đi, Nguyễn Ánh nào khai phá Sài Gòn?
Chú thuyết thì cũng kinh lắm, nhưng mà chú léo biết giề cả ...
DINH HY
01-10-05, 09:58
Nhưng theo tui, cái tội lớn nhất của Nguyễn Ánh và con cháu là bế quan tỏa cảng, ngăn chặn sự fát triển của đất nước.

Về vấn đề này thì NH cũng không kém đâu. chính TQV cũng đã có 1 bài (hình như ở Trong cõi thì phải) nói rằng chủ trương bế quan tỏa cảng của NH cũng Thiết tỏa trường giang lắm.
DINH HY
01-10-05, 10:48
Về đại chiến lược của Việt Nam trong thời kỳ Trung đại, cũng như thái độ của Việt Nam với Trung Quốc xem: Trần Quốc Vượng, “Tradition, Acculturation, Renovation: The Evolution Pattern of the Vietnamese Culture”, trong David G. Marr, A. C. Milner (bt.) Southeast Asia in the 9th to the 14th Centuries. Singapore: Institute for Southeast Asian Studies, 1988; Trần Quốc Vượng, “Dân gian và bác học”, in lại trong cùng tác giả, Trong cõi. Garden Grove, CA: Trăm Hoa, 1993, tr. 159-195; Trần Quốc Vượng, “Tây Sơn Quang Trung và công cuộc đổi mới đất Việt ở thế kỷ XVIII”, in lại trong cùng tác giả, Trong cõi. Garden Grove, CA: Trăm Hoa, 1993, tr. 65-75.

Đúng là ở Trong cõi
Bắc Thần có 2 quyển này của TQV không?
Bắc Thần
01-10-05, 13:42
Chời! Chắc không có đâu. Già rồi đọc sử Việt làm sao đi thi quốc tịch được.
Salut
02-10-05, 04:46
Chú Lút đi hỏi anh Gúc đi, Nguyễn Ánh nào khai phá Sài Gòn?
Chú thuyết thì cũng kinh lắm, nhưng mà chú léo biết giề cả ...

Chú gúc cho anh cái. Ý anh là trước N.A thì Saigon Giadinh đã có rồi, và sau đó N.A phái tả quân Lê Văn Duyệt vô trấn giữ. Và chính ông này đã xây những nền móng đầu tiên cho vùng đất SG ngày nay, anh thì x có gúc, chú cứ vô Lăng Ông Bà Chiểu hỏi han coi.
wasabi
02-10-05, 05:51
Trời viết 1 lần rồi hỏng lại phải viết lại.

Theo em cái này chả đúng. Lý do là:

- Nhận định Lịch sử Việt Nam mà lại vác cả chuyện cổ tích Tấm cám Thạch Sanh gì vào đây:? "Một Thạch Sanh biết nấu cơm bằng niêu vạn năng để đuổi giặc, biết bắn gục đại bàng và chém chết chằn tinh (đek biết là con gì?)...". Đòi chuyện cổ tích đúng, trời thật nực cười.

- Nhầm giữa dã sử và chính sử. "Một Lang Liêu khù khờ nhờ quý nhân đãi...". Dã sử nó có cái hư cấu của nó cũng như Thủy Hử bên Tầu, làm sao mà nói được.

- Coi cái việc đi chinh phạt là tội lỗi của ông cha ta. "Vĩ đại hơn cả là cuộc khẩn hoang Nam kỳ biến Chiêm Thành, Thủy Chân Lạp chính thức trở thành những bóng ma sờ soạng (@ Chế Bồng Hoan). Biến An Nam từ hình chữ I sang chữ S.". Em nghĩ chả có gì tội lỗi, nền văn minh nào tỏ ra yếu kém trong lịch sử thì tất bị đào thải. Đó là quy luật khách quan chứ chả phải tham lam gì, em nghĩ thế.

- Nhận định chủ quan do tưởng những tay ba hoa phét lác ngu dốt là những tay viết nên lịch sử VN hay sao ấy: "May mà sau này còn có chị Dậu, người đã dám... (Văn Trò)" Nhìn vào văn học trò để nói chuyện sử thì em chịu. Cũng như có ông sau khi đọc bài của em Fi Thanh kêu "Ối giời ơi văn học VN chết mẹ rồi, nhà văn VN điên hết rồi".

Tóm lại là em chả khoái. Mà nhờ bác PD chuyển cho chú nào đã viết ra cái bài này (nếu biết được) câu:


Nhưng trước hết, ông phải hiểu thế nào gọi là sử đã.

Lấy cổ tích, dã sử mới Văn Trò mà bắt nó là sử VN thì đúng là sử VN chả có câu nào chửi thề. Em thật. :14: À quên, nếu lấy phim truyện làm dã sử thì có cái phim Chí phèo có "Đéo mẹ thằng Bá Kiến" là câu chửi thề đấy.
mgri
02-10-05, 06:30
Bác wasabi nhìn nhận vấn đề nghiêm túc quá ( thành ra khá hài hước:)). Nó viết mục đích là định pha trò, tỏ ra dí dỏm. Tuy có nhạt nhẽo và hơi ngớ ngẩn nhưng cũng chỉ nên coi như 1 cái cù không trúng nách thôi, làm gì mà nâng cao quan điểm thế!
wasabi
02-10-05, 07:32
Nhưng thú thực bác mgri em cứ thấy nó xỉ xỉ kiểu một ông chửi chế độ, giáo dục hay là thế nào í (hơn là một bài văn hài hước - vì em thấy nó cứ nói nhăng nhít nhưng mà có chủ đích). Đại khái thế. Chả biết... "Chung quy cũng tại vua..."
Cavenui
06-10-05, 18:18
....Trần Quốc Vượng, “Tây Sơn Quang Trung và công cuộc đổi mới đất Việt ở thế kỷ XVIII”, in lại trong cùng tác giả, Trong cõi. Garden Grove, CA: Trăm Hoa, 1993, tr. 65-75.

Đúng là ở Trong cõi
Bắc Thần có 2 quyển này của TQV không?

Bài viết trên của TQV cũng có trong phần "các bài viết của TQV" mà em đã post, chỉ không rõ là khi xuất bản ở trong nước TQV có sửa đổi gì so với bản Trong cõi không.
Toàn văn (hoặc gần như toàn văn?) bài viết các bác có thể down bên topic TQV, em chỉ trích 1 đoạn nói về chủ trương bế quan tỏa cảng của Nguyễn Huệ:



Thế kỷ XVIII là thời buổi giao lưu KT trên thế giới, trên các biển và đại dương, bắt đầu phát triển mạnh. Phải tìm cách liên kết các thị trường địa phương thành thị trường dân tộc-quốc gia và gắn Nó với thị trường thế giới. Thế mà Ngài lại chủ trương tự cung tự cấp: "Trẫm muốn không có thứ gì phải mua của Tầu cả".
Có người nhắc khẽ Ngài: "Có lẽ vẫn phải mua thuốc bắc của Tầu" và Ngài gục gặc đầu đồng ý...
Ngài có ý định phát triển buôn bán với Trung Hoa và đã xin mở nhà hàng ở Nam Ninh (Quảng Tây), mở chợ biên giới ở Bình thủy quan (Cao Bằng) và Du thôn ải (Lạng Sơn).
Việc ấy đã được tiến hành từ thời Lý với các "bác dịch trường" dọc biên giới Việt-Trung (xem Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn). Những tài liệu mà Trần Văn Quý phát hiện được ở Quỳ Hợp thượng du Nghệ Tĩnh cho ta biết Tây Sơn cũng cởi mở hơn đối với việc buôn bán trên biên giới Việt-Lào...
Nhưng không 1 tài liệu nào cho đến nay được phát hiện cho ta biết về ý định của Ngài nhằm phát triển ngoại thương về hướng biển trong giao lưu KT-VH với Nhật bản, thế giới Nam Hải và phương Tây...
Theo tôi Quang Trung vẫn giữ cái nhìn hướng nội và lục địa cổ truyền và cổ xưa của các triều đại quân chủ Đại Việt. Việc Ngài muốn "xin lại" Lưỡng Quảng cũng như ý định XD Phượng hoàng trung đô xứ Nghệ- ngoài ý định nắn gân Càn Long và đề phòng Nguyễn Ánh từ Gia Định đi đường biển đánh ra Phú Xuân- cũng thể hiện cái nhìn hướng nội và lục địa đó.
Càng ngày thuyền chiến và thủy quân Tây Sơn càng lạc hậu hẳn so với lực lượng ấy của Nguyễn Ánh ở Gia Định. Từ Gia Định, Nguyễn Ánh biết đóng thuyền chiến lối phương Tây, xây thành kiểu Vauban, mở mang đô thị Bến Nghé-Gia Định, giao thương với bên ngoài.
10 năm sau khi Quang Trung qua đời, Nguyễn Ánh đã toàn thắng Tây Sơn.
Salut
06-10-05, 20:05
Thế mà Ngài lại chủ trương tự cung tự cấp: "Trẫm muốn không có thứ gì phải mua của Tầu cả".
Tớ thấy ý tưởng này không có gì là sai trái cả. Quang Trung muốn thoát khỏi sự ảnh hưởng của TQ là đúng. Hiện nay ai chẳng biết nước nào xuất siêu thì được nhiều lợi hơn là nhập siêu.
uzii
07-10-05, 09:54
Chú gúc cho anh cái. Ý anh là trước N.A thì Saigon Giadinh đã có rồi, và sau đó N.A phái tả quân Lê Văn Duyệt vô trấn giữ. Và chính ông này đã xây những nền móng đầu tiên cho vùng đất SG ngày nay, anh thì x có gúc, chú cứ vô Lăng Ông Bà Chiểu hỏi han coi.

Lịt mịa, để anh diễn nôm cho chú nghe nhé:

Anh làm ăn tấn tới, tiếp quản được cái nhà, giao cho chú Lút làm quản lý cầu tiêu. Điều đó không có nghĩa anh tạo ra cái cầu tiêu và chú Lút là người xây dựng nền móng cho cái cầu tiêu đó. Và nếu vì lý do gì đó, chú trúng gió chết trong cầu tiêu, người ta lập cái miếu nhỏ nhỏ thì cũng léo phải vì chú có công với cái cầu tiêu đó, nhá ...

Đây anh gúc hộ chú, Chú xem Tả Quân góp phần xây hay góp phần triệt hạ Gia Định, biến nó thành Phiên An? http://www.hochiminhcity.gov.vn/home/left/gioi_thieu/gioi_thieu_chung/ban_chua_biet/300_nam_dia_danh_gia_dinh?left_menu=1

Anh vẫn biết chú ngu, nhưng léo ngờ chú ngu đến thế!!!
DINH HY
07-10-05, 10:15
Bài viết trên của TQV cũng có trong phần "các bài viết của TQV" mà em đã post, chỉ không rõ là khi xuất bản ở trong nước TQV có sửa đổi gì so với bản Trong cõi không.
Toàn văn (hoặc gần như toàn văn?) bài viết các bác có thể down bên topic TQV, em chỉ trích 1 đoạn nói về chủ trương bế quan tỏa cảng của Nguyễn Huệ:

Cám ơn Núi, bài học cho mình về cái tật cứ tối mắt tối mũi load về rồi chưa đọc ngay để rồi lại quên.

Càng ngày thuyền chiến và thủy quân Tây Sơn càng lạc hậu hẳn so với lực lượng ấy của Nguyễn Ánh ở Gia Định. Từ Gia Định, Nguyễn Ánh biết đóng thuyền chiến lối phương Tây, xây thành kiểu Vauban, mở mang đô thị Bến Nghé-Gia Định, giao thương với bên ngoài.

Đọan này thấy NH giống Napoleon nhỉ, không chịu tiếp thu khoa học kỹ thuật. Thắng trong tất cả các trận đánh nhưng lại thua trong chiến tranh.
Salut
20-10-05, 00:57
Em gúc được bài này:

Niên hiệu: Gia Long

Năm sanh, năm mất: 1762-1820

Giai đoạn trị vì :1802-1820

Miếu hiệu: Thế Tổ Cao Hoàng Ðế

Tên Húy: Nguyễn Phúc Ánh

http://www.nguyenphuoctoc.com/trieudai/gialong.jpg

Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, năm Ất Dậu (1765), Chúa Vũ Nghuyễn Phúc Khoát mất. Quyền thần Trương Phúc Loan chuyên quyền thay Chúa đổi ngôi, đưa Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên ngôi Chúa để dễ bề khống chế. Từ đó Ðàng Trong bắt đầu đi vào con đường suy thoái, sưu cao thuế nặng, khắp nơi đều vang lên tiếng than oán và cuối cùng dẫn đến việc ba anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa năm Quí Tỵ (1773). Lợi dụng lúc Ðàng Trong có nội loạn, Chúa Trịnh xua quân qua sông Linh Giang tấn công Phú Xuân (Huế). Phú Xuân thất thủ, tôi chúa họ Nguyễn phải chạy vào Gia Ðịnh, chấm dứt sự nghiệp của Chúa Nguyễn ở Ðàng Trong.

Trong số người chạy loạn có Nguyễn Ánh lúc bấy giờ mới 13 tuổi. Nguyễn Ánh là con của hoàng tử Nguyễn Phúc Côn và bà Nguyễn Thị Hoàng. Nguyễn Ánh (hay Nguyễn Phúc Ánh) sinh ngày 15 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (1762), thuở thiếu thời đã tỏ ra là một con người có chí và thông minh vì thế rất được Chúa yêu, tuy còn nhỏ nhưng ông được Chúa phong cho chức Chưởng sứ, ông đã tỏ ra là một tướng cầm quân có tài.

Năm Tân Dậu (1777), Nguyễn Huệ đem quân vào đánh chiếm Gia Ðịnh, Chúa tôi họ Nguyễn phải bỏ thành kéo tàn quân chạy về Ðịnh Tường, Cần Thơ. Quân Tây Sơn truy lùng gắt gao, bắt được và giết Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Ánh bắt đầu một cuộc sống long đong và vất vả.

Vài năm sau, Nguyễn Ánh lấy lại được Sài Côn (Saigon) rồi tiến ra lấy lại Bình Thuận. Năm Canh Tí (1780) Nguyễn Ánh lên ngôi Vương ở Gia Ðịnh. Năm Nhâm Dần (1782), thấy thế lực Nguyễn Vương ngày càng mạnh, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ kéo quân vào đánh, Saigon thất thủ, Nguyễn Vương lại bôn tẩu về Hà Tiên rồi chạy ra đảo Phú Quốc.

Nguyễn Vương vốn là con người có chí nên ông bất chấp gian khổ, canh cánh trong lòng một mối thù phục quốc. Chính vì thế nên khi biết được Giám mục Pháp Bá Ða Lộc (Pigneau de Béhaine), người có uy tín và thế lực tại Pháp thời bấy giờ đang ở Ðàng Trong , Nguyễn Vương không ngần ngại cho mời giám mục tới và nhờ giám mục làm sứ giả trong việc cầu viện Pháp. Nguyễn Vương đã để cho con trưởng của mình là Nguyễn Phúc Cảnh mới 4 tuổi theo Giám mục Bá Ða Lộc sang Pháp làm con tin.

Trong thơ cho Vua Pháp (Louis XVI), Nguyễn Vương xin Pháp giúp 1.500 lính và tàu bè, súng ống, vật dụng. Ðể đền bù, Pháp được độc quyền buôn bán ở nước Việt Nam, nhường cho nước Pháp đảo Côn Lôn (Côn đảo), và cảng Hội An (có sách nói là cảng Ðà Nẵng).

Giám mục Bá Ða Lộc ký được hiệp ước Versailles với Pháp ngày 28-11-1787, vua Pháp giao trách nhiệm thi hành hiệp ước cho một ông tướng đống quân ở Ấn Ðộ nhưng ông nầy không thích Giám mục Bá Ða Lộc nên nói ra với vua Pháp và cũng vì nước Pháp đang bị nội loạn nên rốt cuộc vua Pháp không thi hành hiệp ước. Chờ mãi không được, Giám mục Bá Ða Lộc bỏ tiền riêng để mướn một số lính đánh thuê rồi trở về Việt Nam. Năm 1789 thì Hoàng tử về đến Gia Ðịnh.


Khi đưa con đi rồi Nguyễn Vương cũng từ giã mẹ và vợ để sang Xiêm La (Thái Lan) cầu cứu. Tới tháng 6 năm 1784 thì vua Xiêm cho tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 20 vạn quân và 300 chiếc thuyền sang giúp Nguyễn Vương. Lúc đầu quân Xiêm đại thắng chiếm nhiều tỉnh Kiên Giang, Trà Ôn, Sa Ðéc. Sau đích thân Nguyễn Huệ đem đại quân vào đánh, quân Xiêm thua bỏ chạy về nước, Nguyễn Vương cũng chạy theo về Xiêm La lánh nạn.

Tháng 5 năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ theo kế của Nguyễn Hữu Chỉnh tiến chiếm Phú Xuân rồi rồi thừa thắng tiến ra Thăng Long (Hà Nội) diệt họ Trịnh. Việc Nguyễn Huệ ra Bắc làm cho Nguyễn Nhạc (anh của Nguyễn Huệ) nghi ngờ nên cũng vội vã đem quân ra Bắc, hai anh em gặp nhau ở Thăng Long rồi cùng về. Nguyễn Huệ được đóng quân ở Phú Xuân và được phong là Bắc Bình Vương. Từ đó anh em Tây Sơn đã có mầm móng bất hoà, nhiều lần hai anh em đã đem quân đánh nhau.

Vì ham tranh quyền nên anh em Tây Sơn đã không ngó ngàng gì đến các xứ Ðàng Trong nhất là từ Qui Nhơn (Bình Ðịnh) trở vào, lợi dụng thời cơ đó, Nguyễn Vương đã cùng với các bộ tướng củ, tháng 9 năm Ðinh Mùi (1787), trở về nước. Nguyễn Vương đã được dân miền Nam giúp đở rất nhiều, có nhiều tướng giỏi đến phò như Võ Tánh, nên chẳng mấy chốc lực lượng Nguyễn Vương đã lớn mạnh. Ðông Ðịnh Vương Nguyễn Lữ phải bỏ Gia Ðịnh trở về Qui Nhơn. Nguyễn Vương lấy toàn bộ xứ Gia Ðịnh đặt làm bản doanh rồi bắt đầu tổ chức việc cai trị. Năm Canh Tuất (1790) Nguyễn Vương cho đắp lại thành Gia Ðịnh theo kiểu bát quái có 8 cửa xây bằng đá ong.

Thấy Nguyễn Vương lớn mạnh, tháng 3 năm Nhâm Dần (1782) vua Thái Ðức Nguyễn Nhạc nhà Tây Sơn đem quân vào đánh nhưng bị quân Nguyễn Vương đánh lui. Kể từ đó về sau, quân Tây Sơn luôn thất bại khi đem quân vào đánh.

Ở Phú Xuân, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lại tiến quân ra Bắc diệt nhà Lê rồi cho Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhiệm ở lại để cai trị Bắc Hà. Vua Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc cầu viện nhà Thanh. Nhà Thanh sai Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn quân sang đánh. Ðược tin, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Ðế ở Phú Xuân lấy hiệu là Quang Trung thống lãnh đại quân tiến ra Bắc đánh tan 20 vạn quân nhà Thanh, Tôn Sĩ Nghị phải chạy thoát thân bỏ quên cả ấn tín.

Năm Nhâm Tý (1792) vua Quang Trung băng hà, con là Quang Toản lên ngôi mới 10 tuổi, vì thế Vương nghiệp triều Tây Sơn nhanh chóng rơi vào suy vong.

Ðược tin vua Quang Trung băng hà, Nguyễn Vương rất vui mừng, đẩy mạnh việc chuẩn bị đánh Tây Sơn. Dưới trướng Nguyễn Vương lúc bấy giờ có nhiều quan chức người nước ngoài như Dayot (Ông Trí), Philippe Vannier (Ông Chấn), Guilloux, Laurent Barisy (Ông Mân), De Forçant (Ông Lăng), Jean Baptiste Chaigneau, Olivier de Puymanel (Ông Tín), Theodore Lebuen. Những quan chức nầy là những cố vấn kỹ thuật cho Nguyễn Vương trong lãnh vực quân sự, vũ khí, đấp thành, v.v...

Cuộc chiến kéo dài đến năm Tân Dậu (1801) Nguyễn Vương chiếm lại được Phú Xuân, và ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhăm Tuất (1802) Nguyễn Vương lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long. Lên ngôi xong vua Gia Long đưa quân tiến ra đất Bắc, quân Tây Sơn tan rã lần hồi. Ðến tháng 6 cùng năm thì vua Gia Long đã thống nhất được sơn hà, chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài gần 300 năm.

Ngài ra lệnh quật mả vua Nguyễn Nhạc và vua Nguyễn Huệ lên, đem vứt thây đi còn đầu thì đem bỏ giam trong ngục tối (có sách viết là đốt thây thành tro rồi đổ xuống sông, còn sọ thì làm gáo đựng nước tiểu).

Vua sai sứ sang Tàu cầu phong và xin đổi quốc hiệu là Nam-Việt, nhưng vì đất Nam-Việt đã có bên Tàu đời nhà Triệu ngày trước nên Thanh triều mới đổi chữ Việt lên trên, gọi là Việt-Nam để cho khỏi lầm với tên củ.

Ở trong cung, nhà vua không đặt ngôi Hoàng hậu, chỉ có ngôi Hoàng phi và các cung tần. Sau khi vua mất, thì con lên ngôi, mới tôn mẹ lên làm Hoàng Thái Hậu.

Bỏ chức Tể tướng, lập ra 6 bộ, đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng Thư:

-Bộ Lại : coi việc khảo xét công trạng, thảo những tờ chiếu sắc, v.v...

-Bộ Hộ : coi việc đinh điền thuế má, tiền bạc, v.v...

-Bộ Lễ : coi việc tế tự, tôn phong, cách thức học hành thi cử, v.v...

-Bộ Binh : coi việc binh lính, v.v...

-Bộ Hình : coi việc pháp luật, v.v...

-Bộ Công : coi việc làm cung điện, dinh thự, v.v...

Ngài lập Văn Miếu ở các trấn thờ đức Khổng Tử. Mở trường lớn ở Kinh đô để dạy con các quan và các sĩ-tử (sau nầy vua Minh Mạng đổi tên là Quốc Tử Giám). Mở khoa thi Hương để kén lấy những người có học ra làm quan...

Vua Gia Long không theo đạo Thiên Chúa dù Ngài rất biết ơn Giám mục Bá Ða Lộc và có nhiều thiện cảm với các giáo sĩ, nhưng Hoàng tử Cảnh đã theo đạo khi ở chung với Giám mục Bá Ða Lộc. Một lá thư của Cha Lelabousse viết vào tháng 6-1792 cho biết : "Trong buổi lễ được tổ chức vào khoãng cuối tháng 7-1789, Hoàng tử Cảnh nhất định không đến lạy trước bàn thờ tổ tiên đã làm cho Nguyễn Vương đau khổ tủi nhục và tức giận, vứt bỏ phẩm phục, mũ niệm, nói rằng ông là một người cha bất hạnh".

Nhưng vua vẫn một lòng kính trọng Giám mục, trong một lá thư của Giám mục viết cho Hội truyền giáo hải ngoại năm 1795, Giám mục kể rằng trong năm đó có mười chín ông quan trong triều đình viết sớ đưa lên cho Nguyễn Ánh xin Ngài thận trọng đừng để Giám mục lo việc giáo huấn Hoàng tử Cảnh. Nguyễn Vương nổi trận lôi đình, vứt sớ xuống đất và kể những công trạng của Giám mục đối với gia đình và sự nghiệp của Vương. Nguyễn Ánh hăm dọa là sẽ phạt thẳng tay những người có ý nghĩ xấu nầy. Xong Vương vào hậu cung kể lại cho vợ nghe và hai người quyết định là giấu chuyện nầy không cho Giám mục biết.

Ngày 19 tháng 12 năm Canh Thìn (3-2-1820) vua Gia Long băng hà thọ 58 tuổi (theo Trần Trọng Kim thì Ngài mất năm 1819).
Vu~
04-04-14, 11:52
Dạo này ko thấy bạn nào bàn sử ta nữa nhể. 1000 năm chỉ đánh nhau nên thành ra dân mình giờ hiếu chiến quá. TQ tuy to nhưng gặp bọn VN là ngán hẳn, nhưng cái cơ sự này chắc còn tiếp tục ngàn năm nữa, nay chưa có hứng, lúc nào vào bàn nhăng lịch sử tiếp.
Vu~
30-05-14, 15:56
Nhìn lại dòng lịch sử thì đơn giản có thể khái quát rằng:
Phần đầu của chữ S là ông Kinh và một số ông Nùng, Tày, Mường, riêng quản mấy bố này cũng đã mệt ốm. Dù sao trong quá khứ vùng đệm với TQ cũng là cần thiết, giờ vẫn cần thiết.
Đến năm 1600 thì xơi tới Quảng Trị, lúc này sát nhập dần dần ông Chiêm Thành tới 1700 (đến Bình Định), sau đó lại xơi tiếp ông Chân Lạp tới vịnh Thái Lan, 2/3 chiều dài đất nước là mới lấy được 400 năm nay, lại toàn bọn Chăm Pa tóc xoăn da màu như thằng Din họa sĩ, tôn giáo thì khác hẳn khu Bắc. Thế mà giờ đây quản lý được như Việt Nam hiện đại anh nghĩ là tốt rồi đấy :D