Kể chuyện những cây đàn- Vũ Tự Lân

Cavenui
29-09-05, 17:35
Chuyện dài về đàn piano
Vũ Tự Lân

Đàn piano có xuất xứ từ châu Âu, ra đời đã gần 3 thế kỷ và có mặt ở nước ta hàng thế kỷ rồi, nhưng chắc rằng cũng còn ít người quan tâm tìm hiểu tường tận về cây đàn tuyệt vời được tôn vinh là nữ hoàng âm nhạc này. Piano là tên gọi rút ngắn, chính ra phải gọi cây đàn là pianoforte. Trong âm nhạc thuật ngữ piano có nghĩa là nhỏ, nhẹ êm; forte có nghĩa là to, mạnh. Đó là những thuật ngữ mà người sáng tác ghi vào bản nhạc để yêu cầu người biểu diễn tác phẩm thực hiện độ mạnh, nhẹ của âm thanh theo đúng ý định của mình. Cho nên những người chế tạo ra cây đàn gọi nó là pianoforte để nhấn mạnh khả năng phát ra được những âm thanh nhỏ (piano), to (forte) khác nhau mà những cây đàn cùng dòng họ của nó như clavecin, clavichord không thực hiện được.
Piano là nhỏ, forte là to, ai cũng hiểu thế rồi. Nhưng có 1 điều kỳ lạ là cây đàn này ngày càng được hoàn thiện thì âm thanh của nó ngày càng to, càng vang hơn, rút cục, tên gọi của nó người ta chỉ giữ lại chữ piano, có nghĩa là nhỏ, mà bỏ hẳn chữ forte, là to, mạnh đi.
Ngày nay, trên thế giới, người ta dùng phổ biến 2 loại đàn piano: một loại thường dùng trên sân khấu hòa nhạc, gọi là piano hòa nhạc (piano de concert) hoặc piano có đuôi (piano à queue), piano có cánh, có hình dáng kéo dài, âm thanh vang, khỏe, và một loại nhỏ, gọn hơn gọi là piano thẳng (piano droit) hoặc piano tủ vì hình dáng nó giống như cái tủ buffet. Loại đàn nhỏ này được chế tạo từ năm 1826, chuyên để dùng ở tư gia.
Tổ tiên lâu đời của đàn piano là những loại đàn dây phát ra âm thanh bằng cách gẩy hoặc gõ vào dây, như loại đàn monocorde (một dây) thời cổ Hy Lạp, đàn psaltérion, đàn cithare thời Trung Cổ, rồi những loại đàn gần với piano thời nay nhất, cũng có bàn phím (clavier), như clavichord, clavecin.
Khác với đàn clavecin, vốn là một loại đàn có bàn phím nhưng phát ra âm thanh bằng một hệ thống cần có móc ở đầy cần để gảy vào dây đàn, piano lại phát ra âm thanh bằng một hệ thống cần có những búa bọc nỉ ở đầu để gõ vào dây đàn. Chính hệ thống cần và búa này giúp tạo ra một trong những tính năng quan trọng của đàn piano- có những âm thanh to, nhỏ khác nhau do lực chạm của ngón tay vào phím đàn (thuật ngữ nghề nghiệp gọi là touch- chạm, sờ vào phím) mạnh hay nhẹ.
Nếu căn cứ vào hệ thống dây và búa của piano thì nó là hậu duệ trực tiếp của cây đàn dulcimer, còn căn cứ vào bàn phím thì nó là hậu duệ trực tiếp của các loại haspichord và clavichord.
Có nhiều ý kiến khác nhau về người chế tác và thời gian ra đời của cây đàn piano. Chỉ trong thời gian chênh nhau một vài năm, ở điều kiện giao thông liên lạc và thông tin quá thô sơ thời ấy, năm 1716 ông Jean Marius ở Paris, năm 1717 (có sách còn nói là năm 1700) ông Bartolomeo Cristofori ở Florence, ông Gottlieb Schroler ở Saxe đã chế tạo ra những kiểu cơ chế bằng búa cho các nhạc cụ có bàn phím. Nhưng nói chung, dường như người ta đều nghiêng về ý kiến cho rằng ông Cristofori là người chế tác piano sớm nhất. Về sau, vào năm 1726, lại có ông Gottfried Sibermann, vốn là người chế tạo đàn organ ở Đức, đã làm ra 2 cây đàn piano dựa theo ý tưởng của Cristofori và nhờ nhạc sĩ người Đức lỗi lạc thời đó- *.S.Bach- nghe và góp ý kiến. Khi ấy, cây đàn còn nhiều nhược điểm nên Bach không ủng hộ lắm.
Vào thời đầu, âm thanh của piano bị chê là thô thiển so với tiếng đàn thanh cao của clavecin. Thậm chí, đại văn hào Pháp Voltaire khi viết thư cho người bạn là bá tước Du Deffan còn nhận xét: "Nếu so với đàn clavecin thì piano chỉ là một thứ dụng cụ của người bán hàng xoong chảo...".
Nhưng được cải tiến dần, âm thanh của đàn piano ngày càng đẹp. Và với ưu thế tạo được những âm thanh thật nhỏ, êm, nghe như gió thoảng hoặc mịn như nhung, trong vắt như ngọc, và cả những âm thanh thật khỏe, hùng mạnh như cả một dàn nhạc, đàn piano dần dần chiếm được cảm tình của người biểu diễn, người sáng tác và người nghe. Ưu thế tuyệt vời của piano so với clavecin được khẳng định là nhờ chính các nhạc sĩ lớn của trường phái cổ điển Vienne. Các nhạc sĩ Haydn và Mozart vừa sáng tác cho clavecin lẫn đàn piano. Mozart là nghệ sĩ kỳ tài trong lĩnh vực sáng tác và biểu diễn đàn piano, còn Beethoven chỉ sáng tác cho piano, không sáng tác cho đàn clavecin.
Đóng góp vào nghệ thuật biểu diễn đàn piano, ngoài những nhạc sĩ sáng tác và nghệ sĩ biểu diễn lớn nói trên, còn có những nhạc sĩ sáng tác và biểu diễn khác đặc biệt quan tâm cải tiến, mở rộng khả năng kỹ thuật của cây đàn piano, như Muzio Clementi, nổi tiếng với những bản sonatine, những sách luyện tập piano như Gradus ad Pamassum, là những sách kỹ thuật cho đến nay vẫn được sử dụng, trong khi các tác phẩm viết cho piano của ông giờ đây hầu như không còn ai dùng đến.
Nghệ sĩ đàn piano kiêm nhạc sĩ sáng tác người Áo Hummel Johann Nepomuk, học trò của Haydn, Mozart và cả Clementi nữa, cũng là người có đóng góp nhiều cho sự phát triển kỹ thuật đàn piano bằng những kỹ thuật chạy gamme, arpège (hợp âm rải) với tốc độ nhanh đến chóng mặt, nhưng về phương diện sáng tác, không mấy xuất sắc. Tuy nhiên, ông cũng có những học trò rất giỏi, chủ yếu phát triển theo hướng mở rộng kỹ xảo của cây đàn, như Czerny, Thalberg, hoặc John Field, người đã sinh ra thể loại nocturne trước cả Chopin. Nhưng còn đừng cao hơn những nghệ sĩ đàn piano- nhạc sĩ sáng tác nói trên, đó là các nhạc sĩ Ferenc Liszt người Hungary và Fréderic Chopin người Ba Lan.
Ferenc Liszt là người đã mở rộng lĩnh vực kỹ thuật cho piano một cách diệu kỳ. Sau khi được nghe nghệ sĩ đàn violon kỳ tài của mọi thời đại- Niccolo Paganini- biểu diễn, ông tự thấy mình cũng có thể làm được với cây piano như Paganini với cây violon. Ông miệt mài nghiên cứu, sáng tạo, luyện tập trên cây đàn của mình và cuối cùng đã thành công, tìm ra và hoàn thiện nhiều thủ pháp kỹ thuật mới cho cây đàn. Có một chi tiết thú vị mà lịch sử đã ghi lại là Liszt đã làm hỏng nhiều đàn piano, có lẽ do lối chơi mạnh mẽ, muốn cho âm thanh của đàn piano vang lên như cả một dàn nhạc.
Cavenui
29-09-05, 17:36
Nếu như nước Italia là cái nôi của đàn piano với tên tuổi của Bartolomeo Cristofori, thì sau đó đã bị lấn át bởi các hãng sản xuất piano của Đức do Gottfried Sibermann dẫn đầu, cho mãi đến thế kỷ 19 các hãng của Italia mới phục hồi được uy tín. Nổi bật nhất cho đến ngày nay vẫn là các hãng Bluthner, do ông Julius Bluthner thành lập năm 1853 ở Leipzig và hãng Bechstein do ông Bechstein thành lập cũng trong năm 1853 tại Berlin. Cây piano lớn của hãng lần đầu tiên xuất xưởng đã được Ferenc Liszt mở hàng bằng bản Sonata giọng Si thứ nổi tiếng của ông.
Hãng sản xuất đàn piano lâu đời và quan trọng nhất của nước Anh do ông Burckhardt Shudi, người gốc Thụy Sĩ, thành lập đã hơn 2 thế kỷ. Năm 1770 ông hợp tác với John Broadwood người Ai len (sau này lấy con gái của Shudi). John Broadwood trở thành chủ hãng sau khi Shudi qua đời và đổi tên hãng thành Broadwood, John & Sons Ltd,. Đàn của hãng chế tác theo cơ chế kỹ thuật của Anh có nhiều ưu điểm, và nhiều khi Chopin đã tỏ ra không "chung thủy" khi thích chơi đàn của hãng này dù vốn quen dùng đàn của hãng Pleyel (Pháp).
Sebastien Erard là người đi đầu trong công nghiệp sản xuất đàn piano của Pháp. Nhãn hiệu Erard đã đưa uy tín và sự phồn vinh của đàn piano Pháp lên đỉnh cao, nhất là với loại đàn piano lớn (piano à queue). Ferenc Liszt không những là khách quen thân của gia đình Erard mà còn là cố vấn cho hãng, thích đến hãng chơi thử đàn những khi ông sang Pháp. Nhiều danh cầm thế giới như Paderewski, Busoni, Sauer, Harold Bauer... thường đến biểu diễn trong phòng hòa nhạc phố Mail của hãng khiến những cây piano của Erard càng thêm nổi tiếng. Năm 1960, hãng Erard sáp nhập với hãng Gaveau.
Ignace Pleyel sáng lập hãng sản xuất piano Pleyel năm 1807, cũng nổi tiếng không thua hãng Erard, nhưng có một thời Pleyel chuyên sản xuất loại đàn piano tủ nên cũng không cạnh tranh gay gắt với Erard. Năm 1961, hãng sáp nhập với Gaveau-Erard nhưng vẫn sản xuất đàn mang nhãn hiệu Pleyel. Cho đến 1976, ông Schimmel ở Brunswick mua hẳn hãng này.
Hãng Gaveau chủ yếu sản xuất loại đàn piano hòa nhạc cỡ nhỏ phù hợp với mọi yêu cầu. Ngoài ra, phòng hòa nhạc mang tên của hãng ở phố La Boétie cũng tập hợp được một đối tượng thính giả và người biểu diễn cực kỳ sành điệu.
Nước Nga có những hãng sản xuất piano từ thế kỷ 19, như Schroder, Becker và sang thế kỷ 20 có thêm nhiều hãng ở Moskva, Peterburg, nhưng nói chung chưa chiếm được những vị trí nổi bật trong thị trường đàn piano.
Nhật Bản đã có hãng sản xuất đàn piano và những nhạc cụ phương Tây khác từ năm 1889 và đến nay những piano mang nhãn hiệu Yamaha, Kawai cũng đang dần chiếm lĩnh thị trường thế giới.
Nước Mỹ có quá nhiều hãng SX đàn piano, chẳng hạn các hãng Stodart và James Gray ở New York, Baldwin, đối thủ của Steinway, Bush, John Henry Schomacker, Fischer, Knabe, Mason & Hamlin Co., Mathusek v.v. nhưng nổi tiếng nhất vẫn là hãng Steinway. Ông tổ của hãng này à Steinway, quê ở Wolshagen, di cư sang Mỹ năm 1850. Năm 1853 ông thành lập hãng sản xuất đàn tên là Steinway & Sons. Chẳng lâu sau, công ty này đã cạnh tranh thắng lợi với các hãng sản xuất piano của châu Âu. Ngoài cơ sở chính ở New York, Steinway còn có chi nhánh ở London và Hamburg.
Cavenui
29-09-05, 17:37
Piano tại Việt Nam
Cây đàn piano đã xuất hiện ở Việt Nam hàng trăm năm rồi. Năm tháng chính xác khó xác định, nhưng những tư liệu lịch sử âm nhạc cho thấy ngay từ đầu thế kỷ XX, cây đàn piano đã có mặt ở nước ta tại các trường dòng Thiên chúa giáo, dùng trong giảng dạy, phục vụ lễ nghi trong nhà thờ, và trong các cuộc lưu diễn của các nghệ sĩ nước ngoài đến VN. Một số nhà hàng, khách sạn lớn ở Hà Nội, Sài Gòn v.v. cũng có đàn piano dùng trong những buổi hòa nhạc phục vụ khách, như khách sạn Coq d'Or ở Hà Nội chiều nào cũng có chương trình hòa nhạc cổ điển rất phong phú. Nữ nghệ sĩ piano Pháp Armande Caron đã lưu diễn nhiều lần tại Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng với các tác phẩm cho đàn piano của Beethoven, Chopin, Saint-Saens... Một số người Pháp như các ông O.Baivy, Thoreval, sau này, cả những nhạc sĩ VN nữa, đã mở lớp dạy tư môn đàn piano, mở cửa hàng cho thuê, sửa chữa, bán nhạc cụ, sách nhạc, bản nhạc.
Tháng 9 năm 1927 tại Hà Nội, Pháp quốc Viễn Đông âm nhạc viện (Conservatoire Française d'Extrême-Orient) đã ra đời và do các ông Poincignon và Bilewski làm giám đốc. Trong trường có những chuyên ngành nhạc cụ như piano, cello, violon, contrebasse. Trường chỉ tồn tại được 3 năm do thiếu kinh phí. Tại Sài Gòn, từ năm 1933 cũng có lớp dạy đàn piano do nữ nghệ sĩ Armande Caron phụ trách. Ngay từ sớm đã có nhiều nhạc sĩ VN chơi piano giỏi như nữ nghệ sĩ Thái Thị Lang (chị ruột của nghệ sĩ Thái Thị Liên), các nghệ sĩ Nguyễn Hữu Hiếu, Võ Đức Thu, Nguyễn Xuân Khoát...
Nêu một số dẫn chứng như thế để thấy cây đàn piano chẳng xa lạ gì với người Việt Nam chúng ta, và cũng đã có những nghệ sĩ đoạt giải thưởng quốc tế về piano như Đặng Thái Sơn, Tôn Nữ Nguyệt Minh...
LANGTU
29-09-05, 17:50
Piano cũng như các loại đàn khác, mỗi hãng có một âm sắc riêng, và các nhạc sĩ cũng chọn tùy theo gu của họ mà dùng.

Tuy Steinway khá lan tràn nhưng Bossendorfer và Yamaha đang lên. Còn dân quý tộc lắm tiền lại hay chuộng piano Pháp của mấy nhà nhỏ nhỏ nhưng sản xuất thủ công nghiệp.


Hiện nay đang có chương trình làm piano số, không nên nhầm với máy điện tử dùng bộ số tạo ra âm thanh, tương lai sẽ để cạnh tranh với piano cơ khí. Chưa biết thế nào.
Cavenui
05-10-05, 11:12
CÂY ĐÀN VIOLON
TS.Vũ Tự Lân

Từ bàn tay nghệ nhân huyền thoại
Violon thuộc loại đàn dây kéo vĩ, tức là phát ra âm thanh do sự cọ xát của cây vĩ (archet) vào dây đàn. Tổ tiên của đàn violon truyền từ Perse (Ba Tư), Maure vào châu Âu từ thế kỷ thứ VIII sau Công nguyên. Thời Trung cổ, các ca sĩ hát rong ở châu Âu đã sử dụng loại đàn kéo vĩ kích cỡ nhỏ gọi là đàn Fidèle và Rebec để đệm theo giọng hát. Vào thời Phục hưng, cả một họ hàng loại đàn viole từ cao đến thấp được sử dụng rất phổ biến, nhưng âm thanh còn nhỏ, nghẹt. Chỉ vào thế kỷ XVI mới thấy ở châu Âu có những loại đàn dây kéo vĩ giống như đàn violon. Những cây đàn violon có hình dáng như ngày nay xuất hiện ở Pháp, Italia vào thế kỷ XVI.
Chẳng bao lâu sau tại các vùng, miền của châu Âu như Tirol, Vienne, Saxe, Bỉ, Pháp, Hà Lan, Anh... đã mọc lên nhiều xưởng chế tạo đàn violon. Nhưng loại violon tốt nhất là của Italia, tập trung vào 2 thành phố nhỏ Brescia và Cremone ở Đông Bắc Italia.
Người sáng lập trường phái làm đàn violon ở Brescia là Gasparo Bertolotti và Paolo Magnini, học trò của Bertolotti. Trường phái này đạt đến đỉnh cao thịnh vượng vào nửa sau thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17. Nhiều nghệ sĩ violon tài danh như Charles Bériot, Henry Vieuxtemps người Bỉ thế kỷ 19 đều sử dụng những cây violon do Magnini chế tạo để biểu diễn, còn Rodolphe Kreutzer, nghệ sĩ violon người Pháp nổi tiếng thế kỷ 19, lại rất thích cây violon của Gasparo Bertolotti chế tạo.
Còn trường phái Cremone do ông Andrea Amati lập ra. Và trong hơn 200 năm, trường phái này đã sản sinh ra hơn nhiều người làm đàn nổi tiếng, như Niccolo Amati, cháu của Andrea Amati. Nhưng chính học trò của Niccolo Amati, ông Antonio Stradivari, mới được coi là vĩ đại nhất trong những người vĩ đại. Cạnh đó, dòng họ Guarneri ở Cremone cũng nổi tiếng; Cây violon được đặt tên là del Jésus, là do Giuseppe Guarneri làm ra. Tương truyền rằng cây đàn này cùng nhiều cây đàn xuất sắc khác được ông làm khi bị ngồi tù và được đặt tên là đàn trong tù. Sinh thời Niccolo Paganini, nghệ sĩ violon thiên tài người Italia, đã sử dụng cây đàn này.
Còn cây đàn do Antonio Stradivari chế tạo thì không gì sánh được. Ông sống đến 93 tuổi, tự tay làm ra hơn 1000 cây đàn các loại, đều có hoa tự 2 chữ A và S lồng vào nhau ở trong hộp cộng hưởng của đàn. Nổi tiếng nhất là các cây violon Rode, Delphine, Aurore, Cygne.
Mỗi trường phái đều có bí quyết riêng, cha truyền con nối, thầy truyền cho trò, không lọt ra ngoài, cho đến nay nhiều bí quyết đã thất truyền. Tuy vậy nhà bác học Claude Marli người Pháp cũng đã tìm ra một số bí quyết và đem công bố. Chẳng hạn ông cho biết đàn của các trường phái chế tạo violon ở Italia, nhất là ở Cremone, muốn cho có âm thanh đẹp thì các bộ phận trong cây đàn phải được làm bằng những vật liệu khác nhau. Như mặt đàn phải làm bằng gỗ bách tán, một loại thông chỉ mọc trên các núi ở Thụy Sĩ, mặt sau đàn phải làm bằng gỗ cây phong mọc ở đồng bằng châu Âu, mặt phím đàn phải làm bằng gỗ mun, cần archet phải làm bằng gỗ vùng Pernambuc vừa nhẹ, vừa dai, vừa dẻo, và dùng từ 125 đến 150 sợi lông đuôi ngựa.
Riêng loại vecni phủ ngoài mặt đàn thì các bậc thầy ở Cremone phải pha chế bằng một số loại nhựa cây ở vùng Tirol, nhưng giờ đây không còn ai biết được công thức nữa.
Cavenui
05-10-05, 11:12
Violon-Tiếng nói của trái tim
Đàn violon được coi là biểu tượng cho giọng nữ cao (soprano). Theo nhạc sĩ Pháp thế kỷ 19 Berlioz thì âm thanh của violon "...vừa đam mê, vừa trinh bạch, vừa não lòng vừa hiền dịu, có thể khóc lóc kêu gào, hoặc than thở, có thể hát ca hoặc nguyện cầu... âm thanh của nó thấm sâu vào trái tim con người...".
Kỹ thuật chơi đàn violon được phát triển và hoàn thiện dần theo thời gian, trải hàng vài thế kỷ, chẳng hạn đầu tiên người ta chỉ biết chơi 1 thế ngón tay (position), dần dần đến 3 thế, đến thế kỷ 18 mới chơi được 8 thế. Chơi trên 2 dây (double corde), chơi hợp âm 3,4 nốt thì đến thời *.S.Bach mới hoàn thiện. Thế kỷ 18 người ta mới biết chơi những âm bồi (sons harmoniques), điều mà ngày nay mỗi nhạc công trong dàn nhạc đều làm được. Cũng từ thế kỷ 18 mới có những sách dạy chơi violon, đầu tiên là của nghệ sĩ violon nổi tiếng Locatelli, tiếp sau là những sách của Kreutzer, Viotti v.v. Cũng chỉ từ thế kỷ 18 người ta chú ý đến việc dạy các kỹ thuật sử dụng tay archet. Arcangielo Corelli, nghệ sĩ đàn violon kiêm nhạc sĩ sáng tác thế kỷ 17, 18 là người đầu tiên sáng tác những tác phẩm dành riêng cho đàn violon, lập ra 1 trường phái violon với những nghệ sĩ biểu diễn kiêm nhạc sĩ sáng tác lỗi lạc như Locatelli, Tartini, Vivaldi, Viotti... NS Bach vĩ đại người Đức cũng sáng tác nhiều cho violon với những bản Partita, Chaconne nổi tiếng. Tiếp đến hàng loạt những nhạc sĩ trường phái cổ điển Vienne, rồi trường phái lãng mạn như Schubert, Mendelssohn, Schumann, và sau này như Brahms, Lalo, Saint-Saens, Glazounov, César Franck, Debussy, Ravel...đều có những tác phẩm nổi tiếng viết cho đàn violon.
Niccolo Paganini, nghệ sĩ đàn violon vĩ đại nhất của mọi thế kỷ; người Italia thế kỷ 19, người được người đời xưng tụng bằng nhiều huyền thoại nhất trong nghệ thuật, chẳng hạn có người thề rằng đã trông thấy 1 con quỷ bám vào cái archet của ông và nhảy múa, cho nên ông chơi đàn mới quyến rũ đến thế. Nhưng lịch sử có ghi lại chính xác là khi Paganini biểu diễn, đàn thường hay đứt dây, chỉ còn 3 dây, rồi 2 dây, 1 dây, ông vẫn biểu diễn như thường và lại càng tuyệt vời hơn. 24 bản Capriccio ông sáng tác cho đàn violon là những tác phẩm rất hay và rất khó. Ông đã mở rộng kỹ thuật và khả năng diễn tấu của cây violon nhưng ông không sáng lập 1 trường phái riêng nào, ông là duy nhất, không ai bắt chước, không ai kế thừa được, ngay cả người học trò duy nhất của ông là Sivori cũng không theo được ông.
Nhưng nhìn chung, kỹ thuật chơi đàn violon cho đến nay đã phát triển một bước dài và đã cung cấp ngày càng nhiều những nghệ sĩ đàn violon giỏi, đưa âm thanh của cây đàn tuyệt diệu này đến hàng triệu người hâm mộ. Nước ta cho đến nay cũng đã có những nghệ sĩ violon tầm cỡ như Tạ Bôn, Bích Ngọc, Bùi Công Thành, Bùi Công Duy, Đỗ Phượng Như...
Cavenui
05-10-05, 11:13
Những cây đàn khác trong bộ dây
Đàn Alto (viola)
Đàn alto về tư thế đứng kéo cũng như về kỹ thuật cũng gần giống như violon, chỉ có các quãng rộng hơn, archet nặng hơn một chút khiến phần nào hạn chế độ linh hoạt khi chơi; khóa nhạc không dùng khóa sol mà dùng khóa do (ut). Mặc dù có những tương đồng nói trên, alto khác violon trong tính chất biểu cảm. NS Pháp Hector Berlioz cho rằng âm thanh các dây trầm của alto hơi chua chát, các dây cao thì đắm say một cách buồn bã, âm sắc cây đàn nói chung "buồn sâu xa".
Đàn alto một thời gian dài bị ngộ nhận và bỏ mặc cho những tay đàn violon kém chuyển sang. NS Gluck trường phái cổ điển Vienne là 1 trong những người đầu tiên đã sử dụng có hiệu quả âm thanh khàn khàn của cây đàn alto trong vở Iphigénie ở Tauride. Các nhạc sĩ Stamitz, Haydn và Mozart đã chú ý nhiều hơn đến việc sử dụng đàn alto, nhưng chính những nhạc sĩ trường phái lãng mạn đã biết tận dụng khả năng biểu hiện đặc biệt của cây đàn này. Cho đến nay cho dù đã có nhiều nghệ sĩ giỏi về đàn alto, nhưng cũng vẫn còn ít những tác phẩm viết cho đàn alto, bao gồm một số bản sonate, concerto viết cho alto của Paul Hindemith, Cyrill Scott..., một số duo cho violon và alto của Kreutzer, Bréval... Riêng NS Berlioz đã sáng tác bản giao hưởng Harold ở Italia trong đó alto giữ vai trò chủ đạo theo đặt hàng của Niccolo Paganini. Còn một số nhạc sĩ sáng tác như Vieuxtemps, Enesco, Kodaly... cũng dành cho đàn alto một số sáng tác nguyên gốc hoặc chuyển soạn từ các bản sonate hoặc tiểu phẩm của violon hoặc cello sang cho đàn alto.

Đàn violoncelle (cello)
Trong khi đàn violon và đàn alto có những kỹ thuật chơi gần giống nhau, thì đàn cello có những yêu cầu kỹ thuật khác do kích cỡ lớn hơn nhiều, rồi tư thế chơi đàn gần như giữ cho cây đàn thẳng đứng. Thời cổ xưa, người chơi cello treo cây đàn vào cổ để có thể vừa đi vừa chơi trong các cuộc diễu hành, hoặc kẹp giữa hai đầu gối. Giữa thế kỷ 19, ông Servais đã nghĩ ra cách nâng cao cây đàn lên bằng một que nhọn cắm vào đàn như một thứ chân phụ, tránh cho đàn không bị kẹp quá chặt vào hộp cộng hưởng, ảnh hưởng đến độ vang và âm sắc. Tầm cữ của cello là 3 quãng 8 và 1 quãng 5. Những người chơi giỏi có thể mở rộng hơn nữa tầm cữ này nhờ sử dụng những âm bồi (sons harmoniques), khỏe hơn và dễ chơi hơn so với violon. Người ta sử dụng đàn cello hoặc như 1 bè trầm, hoặc như 1 nhạc cụ chơi giai điệu. Từ thế kỷ XVII, cello đã có mặt trong các dàn nhạc opera. Cello còn là nhạc cụ bạn tấu (cùng hòa tấu) cho đàn violon. Nó cũng sớm có những tác phẩm dành riêng cho mình như các bản sonate, concerto và ngày càng được bổ sung phong phú thêm. Có thể kể ra một số những nghệ sĩ đàn cello nổi tiếng như Alfredo Piatti, Arturo Toscanini, nhạc trưởng lừng danh nhưng vốn là nghệ sĩ đàn cello tài ba, rồi Pablo Casals, Rostropovich...

Đàn contrebasse
Đàn contrebasse có tầm cữ khoảng 2 quãng 8 và 1 quãng 6, nếu sử dụng những bồi âm thì có thể mở rộng tầm cữ đến 4 quãng 8. Nhạc cho đàn contrebasse được ghi ở khóa Fa, âm thanh phát ra thấp hơn ghi 1 quãng 8.
Kỹ thuật chơi loại đàn này đòi hỏi phải có sức, kích cỡ đồ sộ của cây đàn buộc tay trái phải giang rộng hơn, archet nặng nề nên không chơi được những nét nhạc dài tốc độ quá nhanh.
Vai trò của đàn contrebasse trong dàn nhạc là phụ trách bè trầm cùng với các cây cello. Cây đàn này xuất hiện trong dàn nhạc giao hưởng từ năm 1663. Trong phần lớn những tổng phổ dành cho dàn nhạc thời trước Beethoven cũng như trong bản giao hưởng đầu tiên của ông thì các đàn cello và contrebasse chơi chung 1 bè, về sau mới chia thành 2 bè khác nhau.
Người nghệ sĩ đầu tiên chơi độc tấu trên đàn contrebasse là ông Joseph Kaempfer vào năm 1787 tại Paris, chơi 1 cây đàn khổng lồ khi chuyên chở phải tháo ra thành 26 bộ phận mới mang vác đi được, được đặt tên là Goliath. Năm 1846 có nghệ sĩ người Italia Dragonetti đã dùng contrebasse hòa tấu cùng nghệ sĩ đàn violon Viotti trong 1 song tấu viết cho 2 đàn violon của ông này. Dragonetti chơi bè của đàn violon 2 bằng chính cây contrebasse của ông!
Ngày nay có nghệ sĩ người Nga Koussewitzsky chơi đàn contrebasse điêu luyện tuyệt vời, nhưng trên 1 cây đàn có kích cỡ nhỏ hơn, sau ông cũng chuyển sang làm chỉ huy dàn nhạc.
Cavenui
05-10-05, 11:27
Ghi chú của Cavenui
Loạt bài của bác Vũ Tự Lân là viết về các loại nhạc cụ khác nhau, cho nên tên gọi topic ":...những cây đàn" chưa chuẩn lắm, vì sắp tới bác Lân định kể về các loại kèn trống sáo nhị gì đó.
Nhưng em ngại đổi tên topic, với lại nghe mấy chữ "những cây đàn" nó cũng hồng hồng tím tím hơn là "nhạc cụ".

Dân nhạc cổ điển Việt thường gọi tên nhạc cụ theo tiếng Pháp, ví dụ violon chứ không violin (nghe quen rồi), violoncelle chứ không cello (2 cái tên này độ phổ biến ngang nhau) nên sau này bác Lân sẽ gọi đàn guitare chứ không phải guitar, em vẫn sẽ giữ nguyên cách viết của bác ấy.

Tuần sau bác Lân sẽ nói chuyện tiếp. Trong lúc bác ấy còn bận uống nước, các bác cứ vào bình luận cãi vã, đính chính, cung cấp thông tin mới... cho vui.
DINH HY
05-10-05, 12:43
Nhân chuyện đàn dây, trước 75, mình rất thích 1 LP của CARAVELLI, khi xa nhà tìm mua đĩa đó mà không có, sau này nghe G. Becaud và C. Aznavour thì mới biết là cái Caravelli mà mình nghe có rất nhiều bài của 2 ca sĩ trên.

Mỗi khi có dịp mình đều để ý tìm nhưng ngay cả ở Pháp cũng chẳng thấy có. Có lần qua Dũng Digital hỏi thì bà cụ đưa ra 1 Caravelli khác (trùng tên), không phải cái mình muốn. :icon_cry:
psycho
05-10-05, 14:25
Bác Lân nói thế nào ấy. Những violinist kiệt xuất thì dùng đàn của Giuseppe Guarneri là chính, đàn của Strad. thì có vẻ không được các bác này quý bằng. Tớ lấy một số dẫn chứng về những nghệ sĩ đã từng sở hữu cả hai loại đàn này nhé. Jascha Heifetz có 2 con đàn, một con là Del Gesu, con kia là Strad. Con Del Gesu thì Heifetz dùng gần như suốt đời, nó gắn liền với danh tiếng và tên tuổi của Heifetz, còn con Strad sau này bán cho bọn Nippon Nhật Bản. Còn Mehnulin thì có tới 3 con đàn, trong đó ông mê nhất là con Del Gesu 1742 "Lord Wilton", con này ông chuyên dùng để biểu diễn mà thôi. 2 con Strad. còn lại không được quý bằng, đến con đàn Strad. được đánh giá là cao nhất - Stradivari's 1714 "Soil" cũng đem bán cho Itzhak Perlman năm 1984. Mà những cái tên sử dụng Del Gesu thì có lẽ cũng đáng để xem xét chứ: Paganini, Heifetz, Kogan, Kreisler, Menuhin ... nhất là trong đó lại có Nicolo Paganini với con đàn Canone lừng danh, cái này thì chắc là dòng Strad. chẳng bao giờ có được.

Với lại góp ý 1 tẹo là đàn của Guarneri thì phải viết là Del Gesu chứ nhỉ, hay là lại tiếng Pháp chuyển thành del Jésus?
Cavenui
05-10-05, 14:45
Em không có ý kiến gì về chuyện so sánh dòng Strad. với dòng Del Gesu.

Còn cái tên Jésus với Gesu thì em mới phát hiện ra:
Giuseppe Antonio Guarneri (1687-1745), Giuseppe's other son, gained his appellation Giuseppe del GESU {Giuseppe of JESUS} from the sacred monogram IHS (the beginning of the Greek word for Jesus), which he placed after his name on his labels. His violins are noted for their rich tone and have been prized by such players as the Italian virtuoso Nicolo Paganini.
http://www.guarnieri.com/violin.htm
lão ma
05-10-05, 15:10
Nhân đây cũng xin giới thiệu cuốn phim "The red violin", xuất bản năm 1999. Ai muốn biết thêm về sức mạnh của bà chúa âm nhạc và tại sao thì nên tìm đọc / xem.
psycho
05-10-05, 17:59
The Red Violin soundtrack là do anh giai Joshua Bell chơi. Còn nếu như đã quảng cáo là "muốn biết thêm sức mạnh của bà chúa âm nhạc và tại sao" thì cái đáng xem nhất, đó là bộ hai đĩa "The Art of Violin", với piano thì là "The Art of Piano", với chỉ huy dàn nhạc thì là "The Art of Conducting", với opera bel canto thì là "The Art of Singing" - highly recommended!
psycho
05-10-05, 18:15
Em không có ý kiến gì về chuyện so sánh dòng Strad. với dòng Del Gesu.

Còn cái tên Jésus với Gesu thì em mới phát hiện ra:
Giuseppe Antonio Guarneri (1687-1745), Giuseppe's other son, gained his appellation Giuseppe del GESU {Giuseppe of JESUS} from the sacred monogram IHS (the beginning of the Greek word for Jesus), which he placed after his name on his labels. His violins are noted for their rich tone and have been prized by such players as the Italian virtuoso Nicolo Paganini.
http://www.guarnieri.com/violin.htm

Có cái này cho Núi đọc thêm:

Bartolomeo Giuseppe Guarneri (del Gesù), also known as Joseph (August 21, 1698 - October 17, 1744), has been called the finest violin maker of the Amati line. Giuseppe is known as del Gesù because his labels always incorporated the characters I.H.S. (Iesu Hominum Salvator) and a Roman cross—possibly because he was a Jesuit.
http://www.theviolinsite.com/violin_making/guarneri.html
glasgow
05-10-05, 22:30
Bạn psycho sành điệu quá. Bạn có thể cho mượn bộ Art of conducting không?


The Red Violin soundtrack là do anh giai Joshua Bell chơi. Còn nếu như đã quảng cáo là "muốn biết thêm sức mạnh của bà chúa âm nhạc và tại sao" thì cái đáng xem nhất, đó là bộ hai đĩa "The Art of Violin", với piano thì là "The Art of Piano", với chỉ huy dàn nhạc thì là "The Art of Conducting", với opera bel canto thì là "The Art of Singing" - highly recommended!
glasgow
05-10-05, 22:33
Loạt bài này là bác Lân đang viết hay là Cave lấy trong quyển nào? Có thể cho mượn được không?


Ghi chú của Cavenui
Loạt bài của bác Vũ Tự Lân là viết về các loại nhạc cụ khác nhau, cho nên tên gọi topic ":...những cây đàn" chưa chuẩn lắm, vì sắp tới bác Lân định kể về các loại kèn trống sáo nhị gì đó.
Nhưng em ngại đổi tên topic, với lại nghe mấy chữ "những cây đàn" nó cũng hồng hồng tím tím hơn là "nhạc cụ".

Dân nhạc cổ điển Việt thường gọi tên nhạc cụ theo tiếng Pháp, ví dụ violon chứ không violin (nghe quen rồi), violoncelle chứ không cello (2 cái tên này độ phổ biến ngang nhau) nên sau này bác Lân sẽ gọi đàn guitare chứ không phải guitar, em vẫn sẽ giữ nguyên cách viết của bác ấy.

Tuần sau bác Lân sẽ nói chuyện tiếp. Trong lúc bác ấy còn bận uống nước, các bác cứ vào bình luận cãi vã, đính chính, cung cấp thông tin mới... cho vui.
psycho
05-10-05, 22:58
glasgow xin tớ nhiều quá giờ tớ x cho nữa. :D. Trong đó không có em Sarah đâu, toàn các bác già hoặc trán hói hoặc rậm râu hoặc vừa hói vừa rậm râu (à quên có Karajan không hói không rậm :D), đùa tí cứ nghiên cứ Sarah Chang kỹ càng đi, cái The Art of Conducting kia tớ có nhưng cho mượn thế x nào được.
glasgow
06-10-05, 00:02
Hehe, hóa da là Gù, tưởng nhân vật nào mới. Em Sarah chưa có hứng nghe hết, nhưng dạo này cứ khi nào hơi buồn tí đem Salut d'amour ra nghe lại yêu đời trở lại.

Bộ Conducting đấy bạn được xem cả 2 nhát rồi, cũng phải tầm 2001, 2002, nhưng là VHS. Gù mua bên kia hay mua ở nhà đấy. Nếu ở nhà thì để bạn còn kiếm.
Cavenui
06-10-05, 13:59
Em cám ơn bác psycho đã đóng góp thông tin quý báu. Bác gù hay thẳng lưng em không quan tâm, nhưng kiến thức của bác luôn được hoan nghênh ở đây.

Bác glasgow, những gì bác Lân viết ra không in vào sách. Mấy bài trên bác Lân có gửi đi một số nơi, trong đó có tạp chí Nghe Nhìn Việt Nam. Bác Lân còn viết về bộ gỗ, bộ đồng trong dàn nhạc giao hưởng, về bộ gõ, kèn saxophone và đàn guitare. Cho dù chất lượng không đều (mấy bài viết về cả bộ hơi sơ lược) em cũng sẽ giới thiệu tất cả lên đây. 1 tuần 1 bài. Bác chịu khó đợi. Trong lúc chưa có bài bác Lân, chính những tham luận của các bác mới làm nên sự sinh động của topic.
glasgow
06-10-05, 15:39
Dear Cavenui, tham luận thì bạn không dám viết vì chưa đủ trình.

Nếu Cavenui thích các loại nhạc cụ, bạn nhớ là có 1 quyển hình như tên là Các nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng, Hồng Đăng soạn, xuất bản tầm 7x, bạn chưa đọc nhưng chắc có thể tham khảo được.

Anyway, cảm ơn Cave.
Cavenui
12-10-05, 12:50
Bộ gỗ trong dàn nhạc giao hưởng-những nhạc cụ chủ yếu
TS.Vũ Tự Lân

Các nhạc cụ hơi (thổi hơi) hợp thành 2 bộ- bộ gỗ và bộ đồng. Sở dĩ có tên gọi này là do chất liệu chế tạo nên các nhạc cụ đó. Trong dàn nhạc giao hưởng đàn dây bao giờ cũng được xếp phía trước còn các nhạc cụ hơi như kèn gỗ, kèn đồng toàn bị đưa xuống phía sau. Do đó đôi khi chúng ta không phát hiện được những khả năng kỹ thuật và biểu hiện cảm xúc của những nhạc cụ thổi hơi này.
Các nhạc cụ thuộc bộ gỗ bao gồm flute, oboe, clarinet và bassoon.

Flute (còn gọi là sáo hoặc sáo tây)
Theo những tài liệu khảo cổ học, người ta đã phát hiện ra những cây sáo có từ cuối thời đồ đá cũ. Như vậy tổ tiên của cây flute ngày nay là các loại sáo có từ thời tiền sử. Châu Âu từ thời trung cổ phổ biến 2 loại sáo: sáo dọc và sáo ngang. Cả 2 loại sáo này đều tham gia những dàn nhạc đầu tiên của châu Âu thế kỷ XVII. Nhưng sáo ngang thuận tiện hơn cho việc cải tiến và hoàn thiện, cho nên đến giữa thế kỷ XVIII nó đẩy hẳn cây sáo dọc ra khỏi dàn nhạc giao hưởng. Cho đến đầu thế kỷ XIX, tầm âm của cây sáo ngang, tức cây flute, còn hạn chế. Nhưng đến những năm 30 của thế kỷ đó thì nghệ sĩ flute nổi tiếng người Đức là Theobald Boehm đã chế tạo ra 1 cơ chế máy móc tinh xảo, là 1 hệ thống những nắp đậy hơi rất nhạy, mở hoặc bịt các lỗ của cây flute thông qua các ngón tay điều khiển của người thổi flute.
Người thổi flute giỏi có thể thổi được đến 3 quãng 8 và 1 quãng 4. Âm thanh của flute có ít bồi âm cho nên âm thanh của nó nói chung hơi lạnh, đùng đục. Ở khu trầm, tiếng flute nghe tròn trặn, bí ẩn. Âm khu trung- trong sáng và thơ mộng, thường được sử dụng trong những đoạn độc tấu (như trong đoạn scherzo bản overture Giấc mộng đêm hè của nhạc sĩ Đức thế kỷ XIX Felix Mendelssohn). Âm khu cao rạng rỡ, ở những nốt cao nhất nghe hơi chói chang. Nhạc sĩ Nga thế kỷ XIX Rimsky-Korsakov đã nhận định về tính chất âm thanh của flute là: "... âm sắc lạnh, phù hợp hơn cả với những giai điệu duyên dáng, vô tư, nhẹ dạ ở điệu Trưởng và với tính chất buồn buồn nông nổi ở điệu Thứ..."
Tính kỹ sảo choáng lộn và sự thuận lợi khi diễn tấu giai điệu, thực hiện những đoạn chạy lướt nhanh của cây flute hơn hẳn các nhạc cụ thổi hơi khác, còn khi chơi âm nảy (staccato) thì flute là vô địch.
Không thể dùng flute để miêu tả những tình cảm lớn, nhưng nó lại rất tuyệt vời khi đi vào miêu tả thiên nhiên, bắt chước tiếng chim hót, hoặc miêu tả những nhân vật huyền thoại, hoang tưởng của những vùng rừng núi thì không có gì sánh được với âm thanh của cây flute.
Trong dàn nhạc, flute thường được trao cho nhiệm vụ độc tấu, chẳng hạn những đoạn độc tấu flute trong Tổ khúc giọng Si thứ của *.S.Bach, Sheherazade, Capriccio Tây ban nha của Rimsky-Korsakov, Cây sáo thần của Mozart, Daphnis và Chloé của Ravel...
Trong chế tạo, sản xuất flute thì nổi tiếng nhất là các hãng Buffet-Crampon, Couesnon, Selmer, Marigault, Jardé... của Pháp, các hãng Haines và Powel của Mỹ.
http://img.photobucket.com/albums/v161/thuyduong/Instruments/Flute2.gif

Hautbois (oboe-Anh)
Là 1 nhạc cụ có nguồn gốc cổ xưa không thua kém gì cây flute. Có thể coi loại sáo aulos thời cổ Hy Lạp là 1 trong những tổ tiên của kèn oboe.
Đầu thế kỷ XVII, dựa trên cơ sở một số loại kèn từ các vùng Trung Cận Đông du nhập vào, 2 nghệ nhân người Pháp là Philidore và Otterger đã chế tạo ra loại kèn oboe để dùng trong dàn nhạc. Trong gần 1 thế kỷ, oboe là thần tượng của các nhạc sĩ và những người mê nhạc. Những nhạc sĩ sáng tác lớn nhất của thế kỷ XVII, XVIII như Lully, Rameau, Bach, Handel cũng yêu thích và sử dụng oboe trong các tác phẩm của mình. Sang thế kỷ XIX, người ta đưa vào kèn oboe cơ cấu nắp đậy hơi của cây flute của ông Boehm, và từ đó kết cấu của oboe chỉ còn thay đổi về chi tiết mà thôi.
Oboe là 1 nhạc cụ hình ống, 1 đầu loe ra, 1 đầu có cắm dăm kép- là 2 miếng sậy dát mỏng buộc chặt vào nhau, cắm vào 1 ống nhỏ bằng đồng- gọi là thắng, để nối dăm kèn với thân kèn. Khi thổi hơi vào, những miếng sậy này rung lên, sự rung động này truyền vào cột không khí trong lòng ống của nhạc cụ và tạo ra âm thanh. Nhờ một số đặc tính về cấu trúc, kèn oboe hầu như không bị biến đổi về độ chuẩn cao, thấp của âm thanh, cho nên người ta quen lấy âm thanh của oboe làm âm mẫu cho các nhạc cụ trong dàn nhạc.
Khả năng kỹ thuật của oboe khá linh hoạt, nhưng vẫn thua cây flute. Chủ yếu nó là 1 nhạc cụ có âm thanh du dương như ca hát, chứ không phải là 1 nhạc cụ kỹ xảo. Chúng ta còn nhớ chủ đề nhạc của các con thiên nga trong đoạn entr'acte chuyển sang màn 2 ở vở Hồ thiên nga của nhạc sĩ Nga thế kỷ XIX Tchaikovsky do kèn oboe độc tấu, âm nhạc thật du dương, đẹp đẽ biết bao!
Âm sắc của kèn oboe có pha chất giọng mũi rất đặc biệt. Ở âm khu trung nó có âm thanh tươi mát, êm dịu, làm xúc động lòng người, đôi khi than vãn, gần như xót xa. Khác với tính chất lạnh lẽo của flute, oboe giàu tính xúc cảm hơn. Sở trường của nó là sự buồn rầu, than thở, những tiếng rên rỉ não lòng. Âm thanh của nó cũng có thể miêu tả sự dí dỏm và duyên dáng, đôi khi còn hài hước, nếu sử dụng một số nốt của khu âm trầm.
Nhiều nhạc sĩ danh tiếng đã viết những bản hòa tấu cho kèn oboe và dàn nhạc, như Concerto cho oboe & violon và dàn nhạc của *.S.Bach, 6 bản concerto cho oboe và dàn nhạc của nhạc sĩ Đức thế kỷ XVIII Haendel, 11 bản concerto cho oboe và dàn nhạc thính phòng của nhạc sĩ Italia thế kỷ XVIII Vivaldi v.v.
Những hãng sản xuất kèn oboe nổi tiếng thế giới vẫn là những hãng của Pháp như Rigoutat, Marigaux, Buffet, Couesnon, Jardé... và một vài hãng của Áo, Nga.
Cavenui
12-10-05, 12:50
Clarinette (clarinet-Anh)
Nếu như cây flute và các kèn oboe, bassoon đã có chỗ trong dàn nhạc giao hưởng khoảng vài trăm năm, thì kèn clarinet chỉ có chân trong dàn nhạc giao hưởng vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Ông tổ của clarinet là loại ống tiêu chalumeau.
Năm 1690, ở nước Đức, người thợ sản xuất nhạc cụ tên là Denner đã cải tiến từ ống tiêu chalumeau thành 1 cây kèn có âm khu cao chói chang giống như tiếng kèn trompette. Thời đó người ta gọi loại kèn trompette có âm thanh cao vút là kèn clarino, cho nên loại kèn mà có âm thanh giống kèn clarino, nhưng nhỏ hơn thì gọi là clarinetto. Kèn clarinet có tên gọi từ đấy. Nhưng phải qua gần trăm năm sau clarinet mới có mặt thường xuyên trong dàn nhạc.
Hình dáng bên ngoài của clarienet từa tựa như kèn oboe. Nó là 1 ống bằng gỗ, 1 đầu loe ra, 1 đầu giống như mỏ chim, có gắn 1 dăm kèn làm bằng sậy. Dăm kèn clarinet khác với dăm kèn oboe vì là dăm đơn, trong khi ở oboe lại là dăm kép.
Người thổi kèn clarinet ngậm bộ phận gọi là mỏ có dăm kèn ấy vào mồm, thổi hơi vào, làm cho chiếc kèn rung lên, và qua đó làm rung cột không khí trong ống kèn để tạo ra âm thanh. Clarinet có âm vực khoảng 3 quãng 8 và 1 quãng 6, ghi trên khuông nhạc ở khóa Sol.
Kèn clarinet có thể đạt tới 1 trình độ kỹ xảo tuyệt vời, chơi được những đoạn chạy lướt và những hợp âm bất thường, hóc búa nhất.
Ở khu âm trầm, âm sắc của clarinet dầy dặn, vang. Âm khu cao của clarinet lảnh lót và rất thơ mộng. Lên cao nữa thì âm thanh hơi the thé, gắt. Trong dàn nhạc clarinet thường hay được giao độc tấu, có nhiều đoạn rất nổi tiếng chứng tỏ những khả năng ưu việt của cây kèn. Nó thường hay đảm nhiệm những giai điệu đẹp, du dương, giống như tiếng tiêu thôn dã, chẳng hạn các nhạc sĩ Nga Rimsky-Korsakov, Tchaikovsky đều dùng clarinet để miêu tả tiếng sáo mục đồng. Nó còn được dùng để thể hiện những tình huống bi kịch hoặc mang màu sắc hoang tưởng, thần bí, thí dụ trong cảnh Thung lũng chó sói của opera Viên đạn thần của nhạc sĩ Đức thế kỷ XIX C.Weber.
Kèn clarinet của các hãng sản xuất Pháp như Buffet, Crampon, Selmer, Leblanc và Couesnon cho đến nay vẫn được ưa chuộng hơn cả.

Basson (bassoon-Anh, fagott- Đức)
Kèn basson là nhạc cụ hơi, sử dụng dăm kép giống kèn oboe. Basson có nguồn gốc từ thời xa xưa, tổ tiên của nó cũng thuộc dòng họ tiêu, sáo, nhưng là loại ống tiêu đặc biệt, dài gần 3 mét!
Đến thế kỷ XVI, người ta thấy loại ống tiêu trầm dài quá khổ này thật bất tiện nên ở nhiều nước như Đức, Pháp, Italia đã bắt đầu hàng loạt cuộc thể nghiệm cải tiến. Cho đến thế kỷ XVIII, kèn basson đã có hình dạng như bây giờ, khác chăng nữa chỉ về một số chi tiết. Người có công lao lớn nhất trong việc cải tiến kèn basson là nghệ sĩ chơi kèn basson nổi tiếng người Đức Carl Almenrender. Ông phối hợp với người thợ làm nhạc cụ Adam Herkel nghiên cứu ròng rã 11 năm và cuối cùng đã chế tạo ra kèn basson với hệ thống kết cấu như ngày nay. Năm 1831 hai ông lập xưởng chế tạo kèn basson Herkel tồn tại cho đến tận bây giờ.
Ban đầu, các nhạc sĩ lớn của thế kỷ XVIII như Bach, Haendel chưa chú ý đến kèn basson, vẫn chủ yếu dùng basson làm bè trầm cho toàn dàn nhạc. Chỉ đến các nhạc sĩ thuộc trường phái cổ điển Vienne như Haydn và Mozart kèn basson mới được sử dụng làm phần trầm cho riêng bộ gỗ của dàn nhạc, trao cho basson những đoạn solo, dùng basson dạo đầu cho cả 1 chương nhạc, thường là chương menuet. Mozart đã sáng tác 2 bản concerto cho basson và dàn nhạc, trong đó bản giọng Si giáng trưởng rất nổi tiếng.
Kèn basson là nhạc cụ có âm trầm nhất trong số các đàn, kèn tham gia nhạc thính phòng. Ở âm khu trầm và âm khu trung, âm thanh của basson giống tiếng đàn cello hoặc kèn cor, và khi lên âm khu cao, basson rất giống giọng hát con người, với đôi chút màu sắc nỉ non, than vãn. Basson có thể diễn tấu những đoạn nhạc du dương, trữ tình, làm cho người ta yêu thích vì tính diễn cảm phong phú và vẻ đẹp của âm thanh, hoặc những đoạn nhạc mang tiếng hài hước, thậm chí kệch cỡm, như tiếng nói của 1 người thích đùa, thích châm chọc. Nó cũng có thể diễn tả tính chất bi thảm, ảm đạm, gây ấn tượng sâu sắc cho người nghe, chẳng hạn nhạc sĩ Nga Glinka dùng kèn basson đi cùng với bài hát của vai Gorislava để miêu tả nỗi bi thương, buồn thảm trong vở opera Ruslan và Ludmila.
Các hãng sản xuất kèn basson nổi tiếng nhất cho đến nay vẫn là hãng Herkel của Đức và các hãng Buffet, Crampon hoặc Cabar của Pháp.

http://img.photobucket.com/albums/v161/thuyduong/Instruments/clarinet-oboe-bassoon.jpg
Cavenui
18-10-05, 11:25
Bộ đồng trong dàn nhạc giao hưởng
TS Vũ Tự Lân
Kèn cor
Tổ tiên của cây kèn cor ngày nay chính là chiếc tù và. Nửa đầu thế kỷ XVII tù và đã trở thành kèn cor đi săn, một loại kèn có thang âm tự nhiên. Đến lúc ấy, người ta đưa kèn cor vào trong dàn nhạc opera, nhưng chỉ đến thế kỷ XIX nó mới trở thành thành viên có mặt thường xuyên trong dàn nhạc giao hưởng. Loại kèn cor theo thang âm cromatic có âm vực rộng- 3 quãng 8 và 1 quãng 6, còn người thổi giỏi có thể mở rộng thêm 1 cung (ton) nữa. Cor là cây kèn có âm thanh mơ mộng nhất trong bộ đồng của dàn nhạc giao hưởng. Ấm thanh của nó đầy đặn, sang trọng và mềm mại. Ở âm khu trầm, âm sắc kèn cor hơi ảm đạm, còn ở âm khu cao thì khá là gay gắt.
Khả năng kỹ thuật của kèn cor khá đa dạng: nó có thể chơi những âm nảy, ngắn gọn (staccato), những láy rền (trille), nhắc đi nhắc lại một âm ở tốc độ nhanh, những quãng nhảy rộng. Nhưng sở trường của kèn cor vẫn là sự liền tiếng (legato, cantilena). Khả năng diễn cảm của kèn cor rất rộng: nó có thể tham gia những nét nhạc mang tính anh hùng ca như trong vở Siegfried củaWagner, tính chất thơ mộng, mơ màng của ban đêm trong Giấc mộng đêm hè của Mendelssohn, tính cao cả trong Giao hưởng giọng Đô trưởng của Schubert, có thể hát ca chậm rãi như kể chuyện trong đoạn mở đầu chương chậm Giao hưởng số 5 của Tchaikovsky... Trong dàn nhạc, kèn cor có thể đảm nhiệm những đoạn độc tấu, đồng thời có thể hòa hợp rất ăn ý không chỉ với bộ đồng, mà cả bộ gỗ nữa.
Nhạc sĩ Haydn đã viết 2 bản concerto cho kèn cor và dàn nhạc, Mozart viết 4 concerto, Vivaldi viết concerto cho 2 cor và dàn nhạc...
Các nhà sản xuất kèn cor của Pháp như Selmer, Courtois và Couesnon vẫn là những hãng có tín nhiệm trên thế giới, được nhiều nghệ sĩ ưa dùng.
http://img.photobucket.com/albums/v161/thuyduong/Instruments/cor.jpg
Cavenui
18-10-05, 11:26
Kèn trompette (trumpet-Anh)
Nguồn gốc của trompette cũng giống như kèn cor. Nó được sử dụng ít nhất cũng từ thời kỳ đồ đồng. Các dân tộc thời cổ đại, kể cả ở phương Đông và trong đạo Hồi, đều dùng loại kèn có âm thanh giống loại trompette thời nay. Trompette được dùng với nhiều chức năng: báo hiệu, chiến trận, thờ cúng trang nghiêm. Trompette đã có mặt trong dàn nhạc opera ngay từ khi opera mới ra đời: trong vở Orphée của nhạc sĩ Claudio Monteverdi người Italia thế kỷ XVII, người được coi là 1 trong những ông tổ của nghệ thuật opera, đã sử dụng đến 5 kèn trompette. Có một thời nhạc công thổi trompette là người được đặc biệt trọng vọng, và kỹ thuật thổi loại kèn này là những điều bí ẩn, không ai phổ biến cho ai. Kèn trompette cổ xưa có ống dài, theo thang âm tự nhiên, còn trompette thời nay do có hệ thống piston nên đã có thang âm cromatic, âm vực của nó khoảng 2 quãng 8 và 1 quãng 6. Nó là loại kèn có âm thanh lên được cao nhất trong bộ đồng. Kỹ thuật sử dụng kèn trompette về cơ bản giống như kèn cor, nhưng nó linh hoạt hơn, có thể chơi những đoạn chạy lướt nhanh, mọi kiểu láy, hợp âm, staccato, nhắc đi nhắc lại 1 âm ở tốc độ nhanh. Các âm khu của kèn trompette không đồng nhất xét về mặt chất lượng, tính chất âm thanh. Âm khu trầm nghe đầy tính bi kịch, nhạc sĩ Nga thế kỷ XIX Rimsky-Korsakov đã phải nhận định rằng âm khu này mang đầy chất bất hạnh, hiểm họa. Âm khu cao khó thổi, rất gắt, chỉ chơi được ở sắc thái forte. Âm khu trung mạnh mẽ khác thường, bóng bảy, chói lọi, có thể xuyên qua, cắt ngang âm thanh của toàn dàn nhạc. Âm sắc kèn trompette thể hiện tuyệt vời tính chất hùng vĩ, chiến thắng, hội hè. Tính trữ tình không phải sở trường của nó, nhưng để miêu tả tính chất anh hùng thì không nhạc cụ nào sánh được với nó. Còn khi lắp ống giảm thanh (sourdine) vào thì âm sắc của trompette có thể biến đổi đến mức khó nhận ra: ở sắc thái nhỏ (piano) âm thanh của nó nghe hoang tưởng, thần bí, còn ở sắc thái thật to (fortissimo) thì lại nghe như xé tai, thậm chí kệch cỡm.
Các nhạc sĩ nổi tiếng như Haydn, Mozart, Corelli, Vivaldi, Shostakovich... đã viết những tác phẩm độc tấu, hòa tấu với dàn nhạc cho kèn trompette. Nhiều nhạc sĩ sáng tác thời nay cũng đã mở rộng khả năng biểu cảm của cây trompette, làm cho cây trompette có 1 vị trí ngày càng lớn trong âm nhạc thính phòng.
Các hãng Selmer, Courtois và Couesnon của Pháp là những nơi sản xuất trompette có tín nhiệm trên thế giới.
http://img.photobucket.com/albums/v161/thuyduong/Instruments/trumpet.jpg
Cavenui
18-10-05, 11:27
Kèn trombone
Nguồn gốc của kèn trombone cũng tương tự như kèn cor và trompette. Thời Trung cổ nó chỉ đóng vai trò như một thứ kèn trầm trong dòng họ trompette. Thoạt đầu trombone có chiều dài gấp đôi trompette. Nhưng đến nửa sau thế kỷ XV, trombone đã có hình dáng như ngày nay, và ngay từ khi xuất hiện, nó đã là 1 nhạc cụ chơi thang âm cromatic nhờ một kết cấu gọi là coulisse. Đây là một ống phụ có hình dạng chữ U, lắp vào ống chính và giúp cho ống này dài thêm ra, ống phụ này trượt trên rãnh nên người chơi có thể dễ dàng kéo ống ra vào, khiến ống kèn lúc dài lúc ngắn, tạo ra những âm thanh cao thấp khác nhau. Người thổi di chuyển ống phụ bằng tay phải, tay trái đỡ lấy kèn.
Sử dụng trombone rất tốn hơi và do việc kéo ra kéo vào phần ống phụ mất nhiều thời gian, nên trombone kém linh hoạt hơn so với các nhạc cụ khác trong bộ đồng: chạy gamme chậm, không thật rành rọt, ở sắc thái forte nghe nặng nề, khó thổi theo kiểu legato. Nhưng nó lại có những ưu thế về sức mạnh và sự hùng dũng. Nhạc sĩ Nga Rimsky-Korsakov cho rằng âm sắc của trombone ảm đạm, hung hãn ở các âm trầm và trong sáng, huy hoàng ở những âm cao. Nhạc sĩ Monteverdi, cha đẻ của thể loại opera, đã cảm nhận được tính bi thảm của trombone và đã sử dụng đến 4 cây trombone để tạo hiệu quả ấy trong vở Orphée của ông. Trombone cũng đã tỏ ra bi thảm, kịch tính trong bản Requiem của Mozart, trang nghiêm oai vệ trong opera Alceste của Gluck, nhà cải cách opera vĩ đại thuộc trường phái Vienne. Bắt đầu từ Gluck, trong dàn nhạc opera nhất thiết phải có 3 kèn trombone và chúng thường xuất hiện vào lúc cao trào, đỉnh điểm của diễn biến kịch. Từ nửa sau thế kỷ XIX, nhóm trombone trong dàn nhạc giao hưởng được bổ sung thêm 1 cây kèn trầm- kèn tuba. 3 cây trombone cộng với 1 kèn tuba hợp thành 1 dàn tứ tấu "nặng" của bộ đồng. Tchaikovsky đã sử dụng bộ đồng "nặng" này để tạo hiệu quả bi thảm trong chương kết của bản giao hưởng số 6 của ông.
Trombone của các hãng Selmer, Courtois và Couesnon của Pháp thuộc vào số những nhạc cụ được ưa chuộng trên thế giới.
http://img.photobucket.com/albums/v161/thuyduong/Instruments/trombone.jpg
Cavenui
18-10-05, 11:28
Kèn tuba
So với những nhạc cụ khác trong bộ đồng, kèn tuba ra đời rất muộn, mãi đến năm 1835 mới xuất hiện ở Đức. Người chế tạo loại kèn này là ông Moritz theo yêu cầu của ông Tổng giám đốc Âm nhạc nhà binh của nước Phổ. Thoạt đầu vì chưa thật hoàn chỉnh nên nó chỉ được sử dụng trong các dàn kèn quân đội và các dàn kèn vườn hoa. Sau nhờ công lao cải tiến của ông Adolph Sax, nhà chế tạo nhạc cụ người Bỉ, nên tuba đã được đưa vào dàn nhạc giao hưởng. Tuba là nhạc cụ chơi thang âm cromatic, có âm thanh trầm nhất của bộ đồng, kích cỡ của nó rất lớn. Nó có âm vực rộng đến 4 quãng 8. Âm khu trầm của nó nghe khàn khàn, nếu thổi với sắc thái forte (mạnh) thì nghe như tiếng gầm gừ. Âm khu trung có âm thanh hùng mạnh, đầy đặn, âm khu cao mềm mại như ở kèn cor, nhưng hơi run rẩy.
Kèn tuba không nặng nề như người ta thường nghĩ. Ngược lại, ở âm khu trung nó có thể đạt tới một sự linh hoạt đáng kinh ngạc. Nó có thể chơi ở sắc thái rất nhỏ ngay cả ở những âm trầm, và nếu cần, nó có thể bao trùm lên toàn dàn nhạc. Các bậc thầy về kèn tuba, ngoài kỹ xảo tuyệt vời, đã tạo cho tuba một tiềm năng giai điệu và biểu cảm không thua kém cây đàn cello. Nhưng dẫu sao, thổi loại kèn này phải tốn hơi, thường ở âm khu trầm cứ thổi 1 nốt nhạc, người nhạc công lại phải lấy hơi. Khả năng kỹ thuật của nó khá linh hoạt, trong dàn nhạc nó đảm nhiệm vai trò bè trầm cho bộ ba kèn trombone. Đôi khi nó cũng được trao cho vai trò độc tấu.
Trong gia đình kèn tuba có các loại contretuba hoặc contrebas-tuba, rồi những loại kèn hélicon, sousaphone hoặc soubassophone rất được ưa chuộng ở Mỹ.
Gia đình tuba, ngoài một số thành viên được sử dụng trong dàn nhạc giao hưởng, nói chung rất được trọng vọng trong các dàn kèn fanfare và dàn kèn hòa tấu (harmony orchestra) vì đóng một vai trò quan trọng.
http://img.photobucket.com/albums/v161/thuyduong/Instruments/Tuba.jpg
Cavenui
25-10-05, 11:35
Bộ gõ trong dàn nhạc giao hưởng
TS Vũ Tự Lân
Tên gọi của nhóm nhạc cụ này trong dàn nhạc giao hưởng xuất phát từ phương thức phát ra âm thanh của chúng: gõ vào những mặt da được căng lên hoặc gõ vào những phiến kim loại hoặc phiến gỗ. Nếu nhìn lên phía trái sân khấu hòa nhạc, nơi người ta bố trí những nhạc cụ này, ta sẽ thấy những nhạc cụ to nhỏ có hình thù, chất liệu rất khác nhau.
Vai trò của các nhạc cụ gõ không đa dạng như vai trò của các nhạc cụ dây hoặc hơi: phần lớn chúng không chơi được giai điệu, những hợp âm nhiều bè. Nhạc cụ gõ thường được sử dụng để làm đẹp thêm âm thanh của dàn nhạc, khiến âm thanh dàn nhạc sáng rõ, bóng bẩy hơn, hoặc để làm nhiệm vụ bắt chước, chẳng hạn tiếng thần công, sấm chớp v.v. Nhưng chức năng đích thực của bộ gõ chính là tiết tấu. Không có nhạc cụ nào, bộ nào trong dàn nhạc làm nổi bật lên tiết tấu, tính năng động trong âm nhạc bằng bộ gõ.
Chức năng nhạc cụ gõ là loại nhạc cụ cổ xưa nhất trên thế giới, và con người thời nguyên thủy trước khi biết các dây được căng lên cũng như ống sậy rỗng có thể phát ra âm thanh thì đã biết tạo ra tiết nhịp bằng cách gõ vào những súc gỗ, vò đất sét rung hoặc ngay vào cơ thể mình. Cái trống thô sơ đã đi cùng con người trong suốt thời nguyên thủy.. Đông, Tây cổ đại và châu Âu Trung thế kỷ, Phục hưng đã biết đến nhiều nhạc cụ bộ gõ. Nhạc cụ gõ thâm nhập vào các dàn nhạc opera và ba-lê khá sớm theo nhu cầu của vở. Còn với dàn nhạc giao hưởng thì cho đến đầu thế kỷ XIX trong thành phần của nó chỉ có trống định âm (timpani). Nhưng cùng với sự phát triển của loại nhạc có tiêu đề, khi mà các tác phẩm giao hưởng thường được xây dựng dựa trên những đề tài cụ thể thì các nhạc cụ gõ bắt đầu được sử dụng rộng rãi ở các buổi hòa nhạc của dàn nhạc giao hưởng.
Trong âm nhạc thế kỷ XX, vai trò của các nhạc cụ gõ trong dàn nhạc đã tăng thêm đáng kể. Nhiều khi âm sắc của chúng lại trở thành phương tiện để miêu tả tư duy âm nhạc. Trong vở opera Antigone của nhạc sĩ Đức Carl Orff, số lượng nhạc cụ gõ được sử dụng lên đến con số 67! Thông thường chỉ cần 3 nhạc công để chơi tất cả các bè của bộ gõ thì ở vở này phải dùng đến 15 người. Còn năm 1961 ở Strasbourg, người ta thành lập một dàn nhạc cụ gõ 140 chiếc, do 6 nhạc công sử dụng. Ngoài những nhạc cụ thường gặp còn có những loại hiếm thấy như những ống tre treo lủng lẳng, những trống sư tử...

Timpani (Trống định âm)
Timpani là loại nhạc cụ rất cổ. Từ xa xưa, các tổ tiên của nó đã có mặt ở châu Á, châu Phi, Hy Lạp, La mã... để dùng trong chiến trận, trong nhảy múa. Ở châu Âu đã từ lâu lắm, người ta dùng những timpani nhỏ cầm tay. Thời Trung cổ người ta đánh timpani ngay cả lúc cưỡi ngựa. Chỉ đến thế kỷ XV những timpani cỡ lớn mới thâm nhập vào châu Âu qua Thổ Nhĩ Kỳ và Hungari. Đến thế kỷ XVII, timpani được đưa vào dàn nhạc.
Ngày nay, hình dáng bên ngoài của các timpani giống như những cái nồi đồng đặt trên giá đỡ, có căng mặt da. Căng da bê hoặc da lừa được thuộc kỹ trên miệng nồi bằng những ốc êcru. Khi đánh, người ta dùng 2 dùi trống nhỏ đầu bọc nỉ mềm gõ vào mặt da. So với những nhạc cụ gõ có mặt da khác, timpani phát ra những âm thanh có độ cao cụ thể, xác định. Mỗi timpani chỉ chơi được một nốt nhất định. Trước khi chơi người ta điều chỉnh lại mặt da để có đúng cao độ cần thiết. Việc điều chỉnh này hơi mất thì giờ. Với loại trống hiện đại người ta dận lên các bàn đạp (pédales), ở loại timpani thời trước thì vặn êcru để cho mặt da căng lên hay chùng xuống. Mặt da càng căng bao nhiêu, âm thanh càng cao lên bấy nhiêu. Nếu cho chùng hoặc căng mặt da quá mức, âm sắc có thể biến đổi.
Vì mỗi chiếc timpani chỉ chơi được 1 âm, cho nên để có được 2 âm, từ thế kỷ XVII, các dàn nhạc đều dùng một đôi timpani. Vai trò của các timpani trong dàn nhạc khá đa dạng. Các tiếng gõ của chúng nhấn mạnh tiết tấu của những nhạc cụ khác, tạo nên những hình tiết tấu lúc đơn giản, lúc phức tạp. Đôi dùi trống vê ròn trên mặt da, các timpani giúp tăng cường âm lượng rất hiệu quả, đôi khi giống như tiếng sấm. Nhạc sĩ người Đức thế kỷ XIX Giacomo Meyerbeer trong opera Những người Guygơnô đã sử dụng 4 timpani Sol, Do, Re, Mi tạo thành 1 chủ đề nhạc hấp dẫn, mang chất nhà binh. Đôi khi người ta trao cho các timpani diễn tấu 1 giai điệu nhỏ, chẳng hạn trong chương 1 bản giao hưởng số 11 của Shostakovich. Cũng có khi các timpani cũng chơi những hợp âm, như ở chương "Cảnh ngoài cánh đồng" trong giao hưởng "Hoang tưởng" của nhạc sĩ Pháp Hector Berlioz.
http://img.photobucket.com/albums/v161/thuyduong/Instruments/timpani.jpg
Cavenui
25-10-05, 11:36
Chuông phiến
Có thể nói chuông phiến là nhạc cụ thơ mộng nhất trong bộ gõ. Vốn thời xưa là những chiếc chuông nhỏ có độ cao khác nhau, về sau người ta thay chúng bằng 1 bộ những phiến kim loại to nhỏ khác nhau. Chuông phiến được xếp vào loại nhạc cụ gõ có độ cao xác định. Bộ phận chính của chuông phiến bao gồm 1 dãy thanh kim loại xếp thành 2 hàng, âm sắc gần giống tiếng chuông, xếp trong một hộp bằng gỗ. Chuông phiến có 2 loại: một loại dùng 2 dùi gõ vào (dùi gõ cũng bằng kim loại), một loại sử dụng hệ thống búa và bàn phím như cấu trúc của piano nhưng đơn giản hơn, trông như 1 chiếc đàn piano nhỏ xíu.
Đem so sánh thì loại dùng dùi kim loại gõ vào nghe âm thanh trong hơn, hấp dẫn, sáng lóng lánh như bạc, thánh thót, ngân nga. Nhưng với loại dùng bàn phím thì sử dụng được linh hoạt và nhiều kiểu hơn, phong phú hơn khi chơi những hợp âm, nhờ mô phỏng kỹ thuật đàn piano. Nhạc sĩ Đức thế kỷ XIX Wagner trong tác phẩm "Những danh ca thành Nuremberg" đã cho flute piccolo kết hợp với chuông phiến diễn tấu 1 giai điệu nhẹ nhàng, tươi sáng trên nền đệm của bộ dây. Nhạc sĩ Mozart trong Cây sáo thần đã dùng chuông phiến khi vai Papageno xuất hiện.
http://img.photobucket.com/albums/v161/thuyduong/Instruments/Tubular-bells.jpg

Xylophone
Chắc rằng xylophone đã ra đời khi con người phát hiện ra nếu gõ vào một phiến gỗ thì phát ra được một âm thanh có độ cao xác định. Tại Nam Mỹ, châu Á và châu Phi có rất nhiều loại xylophone cổ xưa. Cho đến nay ở châu Phi còn những loại xylophone khổng lồ, phải 4 người cùng chơi.
Đến thế kỷ XV ở miền Nam châu Âu người ta biết đến xylophone là 1 nhạc cụ thông dụng của những ca sĩ hát rong. Mãi đến năm 1830, nhạc cụ này mới được hoàn chỉnh và trở thành 1 nhạc cụ dùng trong dàn nhạc. Việc cải tiến này nhờ vào công lao của ông Gouzinov ở Nga, vốn là một nhạc công tự học. Ông mày mò cải tiến nhạc cụ này, hoàn chỉnh nó và đem đi biểu diễn khắp nơi, khiến nó trở nên phổ biến. Âm sắc của xylophone khá độc đáo, nghe hơi khô khan, rõ tiếng gỗ, sắc nhọn và không thể ngân vang, tạo cảm giác rỗng, lạnh. Xylophone ít được dùng trong các tác phẩm giao hưởng, vì dùng không đúng chỗ hoặc quá lâu dễ trở thành nhàm chán. Nhưng nó lại là 1 nhạc cụ rất kỹ xảo, có thể chơi những đoạn chạy lướt nhanh, vê dùi (khác với chuông phiến dùng dùi kim loại, xylophone dùng dùi gỗ), vuốt... Nhạc sĩ Nga Rimsky-Korsakov dùng xylophone miêu tả tiếng con sóc nhấm hạt dẻ trong opera "Chuyện kể về vua Saltan", còn nhạc sĩ Shostakovich dùng xylophone trong đoạn miêu tả những bước chân của quân phát xít.
http://img.photobucket.com/albums/v161/thuyduong/Instruments/xylophone3.jpg

Chuông
Từ xưa, chuông đã có mặt trong đời sống con người khi tế lễ, hội hè hoặc dùng để báo động, báo nguy. Chính vì thế về sau do nhu cầu của tác phẩm cần miêu tả những tình huống, những trạng thái, những khung cảnh ấy, nhiều nhà hát opera (đặc biệt ở Nga) đã đưa những chuông nhà thờ thực thụ vào trong nhà hát, đặt ngay sân khấu. Khi sự phát triển của âm nhạc có tiêu đề đòi hỏi những phương thức miêu tả đa dạng, các dàn nhạc giao hưởng ngày càng cần đến âm thanh của loại chuông này. Đến cuối thế kỷ XIX người ta đã phải sáng chế ra loại chuông có thể dùng trong dàn nhạc. Đó là một bộ những ống thép treo trên giá, mỗi ống có một âm xác định, dùng búa kim loại có bọc cao su gõ vào để phát ra âm thanh. Nhạc sĩ Italia Giacomo Puccini đã dùng loại chuông này trong opera Tosca, nhạc sĩ Nga Prokofiev dùng trong cantate Alexandre Nevsky...
Cavenui
25-10-05, 11:37
Triangle (Tam giác thanh)
Là một trong những nhạc cụ nhỏ nhất của dàn nhạc giao hưởng, chỉ có một âm không có cao độ xác định. Đây là một thanh kim loại uốn thành hình tam giác, có một góc không dính vào nhau, mỗi chiều dài khoảng 20cm, treo lên một sợi dây, dùng một đũa kim loại gõ vào các thành của nhạc cụ. Từ thế kỷ XV người ta đã biết đến nhạc cụ này, thế kỷ XVIII nhạc sĩ Pháp Gretri đã dùng nó trong opera của ông. Sau đó triangle trở thành 1 thành viên không thể thiếu được trong các tác phẩm của Mozart như "Vụ bắt cóc từ hậu cung", "Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ"... hoặc trong tác phẩm của nhiều nhạc sĩ khác, kể cả Beethoven, khi muốn khắc họa màu sắc phương Đông.
Tuy không có độ cao nhất định, nhưng triangle được xem như một nhạc khí có âm vực cao, âm thanh trong trẻo, gây một cảm giác tươi mát, dịu, có lúc ngời sáng.
http://img.photobucket.com/albums/v161/thuyduong/Instruments/Triangle.jpg

Tambourine (Trống con)
Tambourine là 1 nhạc cụ được sử dụng rất đa dạng trong dàn nhạc giao hưởng. Thoạt đầu nó xuất hiện trong các opera thế kỷ XVIII trong các màn mang tính chất quân sự, nhưng chẳng bao lâu sau nó còn được sử dụng trong những tình huống căng thẳng, kịch tính. Nó có tác dụng gây sự nhộn nhịp, một không khí trẻ trung, rạo rực, có tính chiến đấu. Nó còn có thể giúp vào việc tạo nhiều bối cảnh như tiếng sóng vỗ lao xao, tiếng ồn ào của đám đông, không khí hội hè...

Grosse caisse (Bass drum- trống to)
Grosse caisse thường để trên giá gỗ, kích thước khá lớn (khoảng 70-90cm), có 2 loại. Có một loại ít dùng hơn, chỉ có một mặt da. Trống gõ bằng dùi gỗ, một đầu có bịt da hay dạ mềm. Vai trò của grosse caisse trong dàn nhạc khá là đặc biệt. Thoạt tiên người ta chỉ dùng nó trong loại "nhạc Thổ Nhĩ Kỳ", nhưng từ đầu thế kỷ XIX người ta dùng nó nhiều nhằm những mục đích tạo hình bằng âm thanh, như bắt chước tiếng súng đại bác, tiếng sấm, gây bão táp, kích động mạnh, góp phần tạo cao trào kịch tính cho tác phẩm.

Tamtam
Là 1 nhạc cụ có xuất xứ từ phương Đông. Xuất hiện ở châu Âu trong thời kỳ Cách mạng Tư sản Pháp. Chẳng bao lâu sau người ta đưa nó vào dàn nhạc opera, và từ đó, nó được dùng cả trong những tác phẩm nhạc giao hưởng vào những lúc bi thảm nhất. Tiếng tamtam vang lên có nghĩa là chết chóc, tai họa, là sự xuất hiện của những lực lượng siêu nhiên, thần thánh, là lời nguyền rủa, báo trước sự xuất hiện những biến cố khác thường.

Cymbal
Từ thời cổ đại người ta đã biết đến loại nhạc cụ này. Là loại đĩa lớn bằng kim loại, trong dàn nhạc giao hưởng người ta thường dùng cymbal treo cạnh trống lớn, còn nhạc jazz lại dùng 2 cymbal úp vào nhau, điều khiển bằng bàn đạp (charleston) chân.
Cavenui
31-10-05, 11:58
Kèn saxophone
TS Vũ Tự Lân
Khi nhắc đến loại kèn này, ở nước ta người ta quen gọi ngắn gọn là kèn saxo (bỏ đuôi phone đi). Tên gọi saxo là lấy từ tên của người chế tạo ra nó- ông Adolphe Sax (1813-1894), người gốc Bỉ, một người chế tạo nhạc cụ nổi tiếng trong thế kỷ XIX.
Thời ấy các dàn quân nhạc của nước Pháp rất cần một loại kèn có âm sắc vừa của gỗ, vừa của đồng để làm cầu nối, làm trung gian giữa bộ gỗ và bộ đồng trong dàn nhạc. Adolphe Sax đã sử dụng một nguyên tắc cấu tạo mới: kết hợp một ống hình nón với cơ chế van đóng mở của ô-boa và dăm đơn của kèn clarinette. Thân kèn bằng kim loại, hình dáng bên ngoài giống như kèn clarinette trầm: ống kèn loe ra ở dưới, cong lên ở trên như hình cổ ngỗng.
Adolphe Sax làm ra cây saxo đầu tiên vào năm 1840 nhưng đến 1846 ông mới được cấp bằng sáng chế, sau khi đã chấm dứt mọi sự tranh cãi, kiện cáo liên quan đến cây kèn này xem nó có đúng là một phát minh, một sáng chế mới của Adolphe Sax hay không.
Adolphe Sax từ cây kèn saxo đầu tiên ấy đã chế tạo ra cả một "họ" kèn saxo, chia ra làm 6 loại: kèn saxo piccolo (hay saxo sopranino) giọng Mi giáng hay giọng Fa, kèn saxo soprano giọng Si giáng, kèn saxo alto giọng Mi giáng, kèn saxo tenor giọng Si giáng, kèn saxo baryton giọng Mi giáng, kèn saxo basse giọng Si giáng và kèn saxo contrebasse giọng Mi giáng. 2 loại saxo basse và contrebasse ít khi được sử dụng, nhưng nó lại cung cấp được cho dàn nhạc giao hưởng những nền trầm có giá trị vì âm thanh chuẩn xác, tròn trặn của chúng.
Sáng chế của ông Adolphe Sax đã thành công rực rỡ: loại kèn mới này quả thật đã thực hiện xuất sắc chức năng trung gian giữa bộ gỗ và bộ đồng trong các dàn quân nhạc. Hơn nữa, âm sắc của nó hấp dẫn đến mức lôi cuốn được sự chú ý của nhiều nhạc sĩ sáng tác, nhạc công. Âm sắc của kèn saxo vừa giống kèn cor Anglais (ô-boa trầm), vừa giống kèn clarinette, lại vừa giống đàn cello, đồng thời lại nồng nhiệt, giàu sức biểu hiện. Nó có thể đắm say cuồng nhiệt, thậm chí hơi cường điệu, và lại có thể rất hài hước, nghịch ngợm. Cường độ âm thanh của saxo lớn hơn nhiều so với cây kèn clarinette vốn rất gần gũi với nó. Âm vực của toàn bộ họ hàng kèn saxo rộng đến 4 quãng tám rưỡi.
Về mặt kỹ thuật, saxo rất hoàn thiện. Tuy về bản chất nó thiên về những âm thanh kéo dài, liền tiếng (cantilena), nhưng nó cũng thực hiện tốt những quãng nhảy, những âm nảy, ngắt (staccato), những đoạn chạy lướt nhanh. Đặc biệt hấp dẫn là một số hiệu quả của saxo như glissando (trượt từ âm này sang âm khác) và tiếng cười nổi tiếng mà saxo thể hiện được bằng cách bật hơi với các vần ha và fa.
Sự phong phú về cường độ âm thanh của kèn saxo khiến nó có thể chơi ở nhiều sắc thái khác nhau, từ ppp (pianissimo- rất nhỏ) đến ff (fortissimo-rất to) mà âm thanh không hề bị biến dạng. Tính linh hoạt của kèn saxo chẳng thua gì clarinette khiến nó có thể đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật khủng khiếp nhất, cho nên nó cung cấp cho người sáng tác những khả năng và những màu sắc mới mà tiếc rằng không phải nhà sáng tác nào cũng biết sử dụng, hoặc vì ngộ nhận, hoặc vì bảo thủ. Bởi lẽ kèn saxo không chỉ là một cây solo có giá trị, mà nó còn tạo được một cầu nối tuyệt vời giữa bộ gỗ và bộ đồng, hỗ trợ kéo dài thêm âm vực cao của các cây kèn cor, kết hợp với những clarinette và cor, với kèn basson, tăng cường cho bè alto...
http://img.photobucket.com/albums/v161/thuyduong/Instruments/AdolpheSax_in_Dinant.jpg
Tượng Adolphe Sax ở Dinan-Bỉ
Cavenui
31-10-05, 11:59
Sau khi ra đời, kèn saxo thoạt đầu chỉ có mặt trong các dàn quân nhạc ở nước Pháp, nhiều năm người ta có vẻ nghi ngại nó vì những cuộc tranh cãi xung quanh cây kèn này, mặc dù các nhạc sĩ cỡ lớn như Rossini, Meyerbeer và Berlioz đã hết lời ca ngợi. Các nhạc sĩ Kastner và Berlioz đã dùng saxo ngay từ năm 1844, Berlioz trong bản Chính ca thiêng liêng, Kastner trong vở oratorio Ông vua cuối cùng của Judas. Dần dà, các bậc thầy cũng đưa kèn saxo vào dàn nhạc của họ, lúc đầu coi như một thứ phá lệ, về sau càng ngày càng dùng nhiều hơn. Rồi kèn saxo cũng được đưa vào các dàn nhạc opera và dàn nhạc giao hưởng, tuy không được coi là thành viên thường xuyên của dàn nhạc. Có thể kể những tác phẩm giao hưởng đầu tiên có mặt kèn saxo: Hamlet của A.Thomas, Arlésienne của Bizet, Werther của Massenet, Huyền thoại về thánh Christophe của Vincent d'Indy, Giao hưởng tại gia của R.Strauss, Những bức tranh trong phòng triển lãm (phần phối dàn nhạc) của Ravel. Nối tiếp các bậc thầy ấy, những nhạc sĩ đương đại như Berg, Honegger, Hindemith, Milhaud, Jolivet, Ibert, Prokofiev, Petrassi, Dallapiccola, Boulez, Nono... cũng đã sử dụng kèn saxo trong sáng tác của họ. Không thể không nhắc thêm một số tên tuổi lẫy lừng đã nâng cao uy tín của cây kèn saxo: nhạc sĩ Nga thế kỷ XX Rachmaninov đã trao cho kèn saxo diễn tấu một trong những giai điệu đẹp nhất của ông ở chương 1 bản Những vũ khúc giao hưởng. Nhạc sĩ Pháp Debussy đã viết 1 bản Rhapsody cho saxo và dàn nhạc, còn nhạc sĩ Ravel trong bản Bolero nổi tiếng đã sử dụng 3 loại kèn saxo: sopranino, soprano và tenor. Nhạc sĩ Tchaikovsky đã dùng saxo trong vở opera Lolanta. Nhạc sĩ R.Wagner dùng saxo trong opera Tanhauser. Thế mà trên con đường phát triển khá gian truân của nó, kèn saxo còn là nạn nhân của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong những năm chủ nghĩa phát xít bao trùm lên nước Đức, kèn saxo bị cấm vì là một nhạc cụ có nguồn gốc không phải Arien!
Năm 1857, Nhạc viện Paris đã mở một lớp dạy chơi kèn saxo do chính ông Adolphe Sax phụ trách. Năm 1870 lớp bị bãi bỏ, đến tận 1942 mới được khôi phục lại, do ông Marcel Mule giảng dạy. Marcel Mule là người sáng lập trường phái saxo Pháp, 1 trường phái nổi tiếng trên thế giới. Ông vừa là người độc tấu, hòa tấu trên sân khấu hòa nhạc, vừa chơi trong tứ tấu kèn saxo, vừa là nhà sư phạm giảng dạy bộ môn saxo tại Nhạc viện, nên đã đóng góp công sức lớn lao cho việc khôi phục uy tín của cây kèn một thời bị nhạo báng do đem sử dụng vào những việc quá dung tục, như lời ông Paul Locard, nhà nghiên cứu âm nhạc Pháp, đã nhận xét. Nhờ cống hiến của Marcel Mule mà kèn saxo xuất hiện ngày càng nhiều trên sân khấu hòa nhạc, độc tấu, hòa tấu, trong dàn nhạc giao hưởng và trong âm nhạc thính phòng.

http://img.photobucket.com/albums/v161/thuyduong/Instruments/MarcelMule.jpg
Cavenui
31-10-05, 12:00
Kèn saxo, tuy phần nào bị xem nhẹ trong âm nhạc bác học, thì lại rất được coi trọng trong âm nhạc bình dân: ngay từ đầu thế kỷ XX, saxo là cây kèn không thể thiếu mặt trong nhạc jazz của người Mỹ gốc Phi, dần dà trở thành "vua nhạc jazz" với những khả năng diễn tấu cực kỳ phong phú của nó. Những cây saxo jazz lừng lẫy khó quên trong lịch sử nhạc jazz như Don Byas (saxo tenor), Benny Carter (saxo alto), John Hardee (saxo tenor), Coleman Hawkins (saxo tenor)...
Trong thời kỳ phôi thai của nhạc jazz tại New Orleans, với phong cách ngẫu hứng tập thể, vai trò của các cây kèn saxo còn khá lu mờ. Và lịch sử chỉ ghi lại những tên tuổi lỗi lạc của những người chơi trompette như Louis Armstrong, King Oliver, kèn cornet như Bix Belderbecke, kèn trombone như Jack Teagarden, kèn clarinette như Sydney Bechet, Jimmie Noone...., chưa nhắc đến những cây saxo lỗi lạc. Mãi đến cuối thập niên 20, khi phong cách ngẫu hứng tập thể bị coi là lỗi thời, được thay thế bằng sự phối khí sẵn trước cho toàn dàn nhạc, chỉ giữ lại lối ngẫu hứng khi độc tấu nhạc cụ, và là lúc xuất hiện những dàn nhạc jazz lớn phục vụ cho khiêu vũ với lối chơi swing nổi tiếng, thì mới thấy nhắc đến những nghệ sĩ kèn saxo. Chẳng hạn nhóm saxo 6 người của dàn nhạc jazz Count Basie nổi lên các nghệ sĩ độc tấu saxo kiệt xuất Herschel Evans, Lester Young (saxo tenor) và Buddy Tate. Trong dàn nhạc jazz của Lunceford có hai nghệ sĩ độc tấu saxo nổi tiếng: nghệ sĩ saxo alto và clarinette Willie Smith và nghệ sĩ saxo tenor Joe Thomas. Dàn jazz của Erskine Hawkins có những cây độc tấu saxo xuất sắc như Julius Dash (saxo tenor), Bill Johnson, Bobby Smith (saxo alto), Heywood Henry (saxo baryton và clarinette)... Trong nhóm "Fats Waller and his rhythm", một nhóm được coi là xuất sắc nhất trong lịch sử "nhạc jazz đã ghi âm" có cây saxo Gene Sedric rất nổi tiếng.
Từ thời kỳ phong cách swing trở đi cho đến bây giờ, các cây kèn saxo luôn giữ vai trò quan trọng trong nhạc jazz, cho dù bản thân nhạc jazz đã trải qua nhiều bước thăng trầm và biến đổi với các phong cách be-bop, free jazz- do chính nghệ sĩ saxo Omette Coleman- khởi xướng cùng với nghệ sĩ saxo tenor John Coltrane và nghệ sĩ đàn piano Cecil Taylor. Họ thể nghiệm bằng hòa thanh, giai điệu và tiết tấu một kiểu jazz mở rộng tự do chưa từng thấy trong nhạc jazz. Trong phong cách này, ngôn ngữ âm thanh của các nghệ sĩ saxo jazz tự do chứa đựng nhiều âm thanh không phải tạo ra bằng kỹ thuật chơi saxo thông thường, mà còn có những âm thanh siêu nhỏ, đa âm thanh và những âm thanh gào rú lạ tai. Phong cách này không bàn kỹ ở đây, nhưng cho dù ngay cả trong phong cách jazz hiện đại, vị trí nổi bật của các kèn saxo vẫn không mấy chịu ảnh hưởng do những khả năng tuyệt vời của nó mà hiếm nhạc cụ nào đạt được: linh hoạt về kỹ thuật, âm vực rộng, tiếng kèn lúc say đắm nồng nàn, lúc lẳng lơ, hài hước, lúc gào rú cuồng nhiệt, rất thích hợp với không khí kích động, rạo rực, ầm ĩ có khi cuồng loạn của nhạc jazz. Các nghệ sĩ nhạc jazz luôn nhắc nhở đến tên tuổi của ông Adolphe Sax, người chế tạo ra nhạc cụ này, với lồng biết ơn sâu sắc. Tất nhiên trong nhạc jazz không chỉ có saxo, mà còn có những nhạc cụ khác như piano, trompette, trombone, contrebasse, bộ gõ... nhưng âm thanh của saxo trong nhạc jazz vẫn không gì thay thế được.
Cho đến ngày nay những nghệ sĩ kèn saxo vang lừng thời trước phần nhiều đã quá cố, nhưng còn lại một số vẫn tiếp tục giữ nghề như John Coltrane, Coleman Hawkins, Lester Young..., rồi những đàn em, con cháu của họ vẫn tiếp tục duy trì con đường mà họ đã khai phá, chẳng hạn những nghệ sĩ Steve Coleman, nghệ sĩ mù Roland Kirk, nghệ sĩ Sonny Rollins, Joe Henderson...
Các hãng sản xuất saxo của Pháp như Selmer, Buffet-Crampon, Couesno, Leblanc vẫn giữ được tín nhiệm, ngoài ra còn những hãng của Mỹ, và nhất là những năm gần đây các loại saxo của hãng Yamaha như YAS 875, YTS 875... cũng đang được nhiều nhạc công chú ý.
Cavenui
07-11-05, 12:05
Đàn guitare
TS.Vũ Tự Lân
Ở châu Âu, người ta coi đàn guitare là "hoàng hậu" của vương quốc cổ kính các loại đàn dây gảy, trong đó có đàn luth, đàn đomra, balalaica, đàn mandoline v.v. Trong tất cả các loại đàn dây gảy, chỉ có đàn guitare là dành được vị trí vững chắc trong nhạc thính phòng.
Đàn guitare có xuất xứ từ cổ xưa lắm. Có nhiều giả thiết khác nhau về xuất xứ của cây đàn, nhưng đều công nhận cây đàn có nguồn gốc phương Đông. Trên tường các Kim Tự Tháp Ai Cập và công trình kiến trúc Assyrie cổ kính đều thấy trông cây đàn noble và đàn el-aud trông từa tựa đàn guitare. Loại đàn guitare cổ xưa đã theo chân những người Ả Rập chinh phục đất Tây Ban Nha. Trong hành lang của nhà thờ tôn vinh Thánh Jacques-de-Compostelle và trong rất nhiều chữ trang trí ở đầu một chương trong bản thảo Cantigas của vua Alphonse le Sage, người ta tìm thấy những hình vẽ nhạc cụ giống với đàn guitare. Ở đây, đàn guitare đã trở thành nhạc cụ dân tộc của người Tây Ban Nha.
Vào thế kỷ XII, ở Tây Ban Nha cùng song song tồn tại 2 loại guitare: guitare Ả Rập đáy cong, guitare Latinh đáy phẳng. Sang thế kỷ XIV và XV, guitare Ả Rập ngày càng gần với loại đàn luth, được gọi tên là mandora. Guitare Latinh đáy phẳng chiếm ưu thế và đã có hình dáng giống như cây guitare thời nay. Vào thế kỷ XVI người ta bỏ lối chơi bằng que gảy, chuyển sang gảy bằng các ngón tay. Cũng trong thế kỷ XVI, ở Tây Ban Nha đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu và bài bản cho guitare. Cuốn sách dạy guitare đầu tiên là của ông Juan Carlos Amat.
Sang thế kỷ XVII, Italia là nơi guitare được phát triển mạnh, lấn át hẳn đàn luth. Cây đàn guitare lúc này đã gần giống với hình dáng guitare thời nay. Đầu đàn không xoắn, mà phẳng; thùng đàn bé lại, trang trí cầu kỳ bằng xà cừ, ngà voi và gỗ mun chạm trổ. Nhạc sĩ sáng tác và biểu diễn đàn guitare xuất sắc Gaspar Sanz đã viết sách nghiên cứu về đàn guitare, tổng hợp sâu sắc những hiểu biết về guitare, sử dụng nhiều thí dụ lấy từ âm nhạc dân gian. Nhưng cũng trong thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII, cây guitare đã lan tràn khắp châu Âu với những tên tuổi như Corbetta, Carulli, De Visée v.v. Ở Pháp có ông François Campion, nghệ sĩ đàn guitare nổi tiếng, đã soạn cuốn "Những phát kiến mới cho đàn guitare".
Cuối thế kỷ XVIII, các nghệ sĩ guitare Tây Ban Nha đã sáng chế ra cây đàn guitare 6 dây, cải tiến từ cây guitare 5 dây tồn tại trước đó. Lối mắc dây 4 kép 1 đơn bị loại bỏ, bổ sung thêm 1 dây trầm; lên dây Mi, La, Re, Sol, Si, Mi như bây giờ.
Từ cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, đàn guitare về cơ bản đã có dáng dấp của guitare thời nay và được cải tiến nhiều về chất lượng âm thanh và hệ thống phím đàn. Công lao lớn nhất thuộc về người thợ làm đàn người Italia Antonio de Tores, được mệnh danh là "Stradivari của cây đàn guitare". Ông là người đầu tiên cố định hình dáng và kính thước của đàn guitare. Hiện nay đàn guitare cổ điển tiêu chuẩn hóa được gọi là "đàn guitare kiểu Tores".
Cavenui
07-11-05, 12:07
Cũng giống như đàn piano, đàn guitare có nhiều khả năng chơi nhạc nhiều bè và không cần đàn khác đệm theo, ngược lại guitare có thể đệm cho hát, cho nhạc cụ khác. Hơn nữa nó lại gọn nhẹ, chuyên chở, mang đi mang lại rất thuận tiện, do vậy đàn được dùng nhiều trong đời sống thường ngày, nhất là để đệm cho hát. Sinh hoạt ca hát của các nước Tây Ban Nha, Italia, các trại Di gan sống du mục khắp châu Âu luôn gắn liền với cây đàn guitare.
Bên cạnh vai trò đệm cho ca hát, guitare vẫn luôn giữ vai trò một cây đàn độc tấu, hòa tấu trên sân khấu. Trong thế kỷ XIX, các nhạc sĩ sáng tác nổi tiếng của chủ nghĩa lãng mạn như Weber, Berlioz, Wagner, Grétry đã sử dụng guitare trong tác phẩm như một thứ nhạc cụ tâm đắc. Bản Serenade nổi tiếng của Schubert cũng được chính ông chuyển soạn cho guitare.
Nghệ sĩ đàn violon kỳ tài Niccolo Paganini, đồng thời cũng là một cây guitare xuất sắc, đã từng nói: "Tôi là ông vua của violon nhưng đàn guitare là bà hoàng của tôi". Trong khi chơi 2 nhạc cụ dường như chẳng có gì chung nhau này (1 đằng là đàn dây kéo vĩ, 1 đằng là đàn dây gảy), Paganini đã áp dụng nhiều lối chơi của violon cho guitare và guitare cho violon. Bản thân Paganini đã viết trên 140 bản nhạc cho guitare độc tấu, 28 bản song tấu guitare với violon, 4 tam tấu, 9 tứ tấu cho đàn dây kéo vĩ và guitare.
Ngoài ra các nghệ sĩ guitare Italia khác như Luigi Boccherini, Anton Diabelli cũng có công lao lớn trong việc hình thành loại hòa tấu đàn guitare. Còn Fernando Carulli lại là nghệ sĩ biểu diễn và nhà sư phạm nổi tiếng trong lĩnh vực guitare. Ông là tác giả của hơn 400 tác phẩm cho guitare và cuốn "Sách dạy đàn guitare" được tái bản nhiều lần sau khi ông chết.
Tây Ban Nha thế kỷ XIX cũng sản sinh ra những nghệ sĩ guitare kiệt xuất, nổi bật là Fernando Sor- được coi là "Paganini của guitare", lưu diễn khắp châu Âu với cây đàn guitare. Sáng tác và biểu diễn của ông chinh phục người nghe bằng sự truyền cảm, có chiều sâu và hoàn toàn làm chủ mọi tính năng của cây đàn. Bạn thân của ông, Dionicio Aguado cũng là nghệ sĩ guitare xuất sắc. Fernando Sor có tiếng đàn mượt như nhung do gảy bằng phần mềm của ngón tay, còn Aguado lại có tiếng đàn lấp lánh, tươi sáng, do gảy bằng móng tay. Ngoài ra còn phải kể đến những tên tuổi lẫy lừng như Carcassi, Mauro Giuliani, Huerta, Miguel Llobet; Llobet là người mở ra nhiều lĩnh vực mới cho guitare, đưa vào guitare kỹ thuật chơi phức điệu, một thứ kỹ thuật vốn cho đến lúc bấy giờ người ta vẫn cho là không thể dung hòa với đặc tính của guitare.
Do sự lấn át của cây đàn piano, nên có thời gian vai trò cây đàn guitare bị lu mờ trên các sân khấu châu Âu, chủ yếu nó chuyển vào sinh hoạt âm nhạc của quần chúng. Giới sáng tác chuyên nghiệp hầu như bỏ rơi guitare để chuyên tâm sáng tác cho piano. Riêng ở Tây Ban Nha, guitare vẫn được các nhà soạn nhạc chú ý, vì đàn guitare từ bao đời đã được coi là nhạc cụ dân tộc của Tây Ban Nha. Âm nhạc dân gian là nguồn nuôi sống, tiếp sức cho sự hồi sinh của cây đàn guitare trên sân khấu châu Âu vào cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX. Một trong những người đóng góp đáng kể nhất cho sự hồi sinh này là nghệ sĩ guitare vĩ đại Francisco Tarrega, người được công chúng và giới nghệ thuật suy tôn là "người biểu diễn giỏi nhất của các thời đại", được coi là "Sarasate của guitare" (Pablo Sarasate là nghệ sĩ đàn violon kiệt xuất của Tây Ban Nha). Tarrega đã học tại Nhạc viện Madrid, đi biểu diễn tại Paris và London, và đều được hoan nghênh cuồng nhiệt. Ông đã tạo cho mình một phong cách riêng, cây đàn trong tay ông biến thành một dàn nhạc nhỏ. Những sáng tác cho guitare của Tarrega thời bấy giờ được coi là mẫu mực trong việc vận dụng mọi tính năng kỹ thuật và ưu thế của cây đàn guitare trong việc thay đổi âm sắc. Một nghệ sĩ guitare lớn của thế kỷ XX là Andres Segovia đã khai thác một cách thiên tài những cải tiến của Miguel Llobet, đưa kỹ xảo phức điệu ấy lên một mức dường như không ai vượt qua được. Ông là người đã bằng nghệ thuật của mình góp phần phá bỏ quan niệm coi thường đàn guitare do không biết tận dụng những khả năng ưu việt của cây đàn này. Ông nói: "Không nên hạn chế chức năng của cây đàn tuyệt diệu này chỉ ở việc đệm cho dân ca, dân vũ và ca khúc". Ông vận động nhiều nhà soạn nhạc lớn viết cho guitare, và đã hình thành một đội ngũ sáng tác cự phách cho đàn guitare như: Manuel de Falla, Castenuove-Tedesco, Turina, Roussel, Ponce và Joaquin Rodrigo...
Kể từ năm 1920 trở đi, đàn guitare phát triển khắp thế giới thành một trào lưu rầm rộ. Nhiều tác giả cỡ lớn chú ý đến guitare và sử dụng guitare vào trong tác phẩm của mình. Phần lớn các nhạc viện trên thế giới đều có bộ môn dạy guitare ngang hàng với các nhạc cụ khác.
http://img.photobucket.com/albums/v161/thuyduong/Musicians/tarrega.jpg
Francisco Tarrega (1852-1909)
Cavenui
07-11-05, 12:08
Khó có thể biết chính xác đàn guitare đã vào nước ta từ bao giờ. Cũng có thể nó đã theo chân các nhà truyền giáo phương Tây đến Việt Nam từ xa xưa, không có tài liệu nào nói đến, nhưng chí ít thì nó đã là một nhạc cụ quen biết với người yêu nhạc Việt Nam từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX. Các nhạc sĩ tiền bối của nền tân nhạc Việt Nam, từ người nhạc công đến người sáng tác ai mà không biết chơi guitare! Thời trước Cách mạng tháng Tám, ở Hà Nội, Sài Gòn và nhiều thành phố, thị trấn trên khắp nước ta, guitare là một nhạc cụ phổ biến trong sinh hoạt âm nhạc của nhiều nhóm thanh niên vui chơi với nhau cùng với các cây mandoline, banjo, banjo alto... Nhiều lớp dạy chơi guitare đã được mở ra ở các thành phố. Sau này, khi nổ ra cuộc Toàn quốc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp, cây guitare vẫn không thiếu mặt trong các nhóm Tuyên truyền văn nghệ, tuyên truyền vũ trang, trong các trường Thiếu sinh quân, các đội văn công của các trung đoàn, sư đoàn bộ đội ta. Trường Âm nhạc kháng chiến cũng có bộ môn dạy guitare. Giờ đây tất cả các trường trung cấp, cao đẳng âm nhạc, cũng như các nhạc viện đều có bộ môn guitare.
Từ khi trong sinh hoạt âm nhạc thế giới có thêm loại guitare điện tử, thì để phân biệt, ở nước ta người ta quen gọi cây guitare acoustique có bầu vang là "guitare gỗ" hoặc "guitare thùng".
Giờ đây mức độ phổ biến của cây guitare Tây Ban Nha không còn được như trước, chủ yếu tập trung vào những Câu lạc bộ, những nhóm người yêu thích. Nhưng không phải vì thế mà cây guitare đã mất hẳn chỗ đứng trong sinh hoạt âm nhạc. Dẫn chứng là thành công của Đại Nhạc hội guitare toàn quốc lần I tổ chức tại Hà Nội năm 2002. Đại Nhạc hội lần II tổ chức tại đảo Hòn Tre, Khánh Hòa có số thí sinh gấp đôi lần trước, có cả thí sinh Việt kiều về tham gia thi. Với trình độ điêu luyện hơn trong xử lý dàn bài diễn tấu, về nghệ thuật phân đoạn, phân câu, về sắc thái và tình tiết, âm lượng và âm chuẩn cũng như tính đồng bộ và ăn ý trong hòa tấu. Ngoài những tác giả kinh điển quen thuộc chuyên viết cho guitare như Carulli, Fernando Sor, Isaac Albeniz, Villa Lobos, Tarrega..., các thí sinh còn biểu diễn khá tốt những tác phẩm của các thiên tài bậc thầy như *.S.Bach, Haendel, Beethoven, Mozart... được chuyển soạn cho guitare.

/Vũ Tự Lân