Sử ký 4 Mã Noy

Hồ Chiêu Ngọc
05-09-05, 12:52
Truyện lưu lạc giang hồ nay được sự đồng ý của 4 Mã nên copy và paste trọn bộ về Thăng Long. Trâu (Hán tự vẫn dùng là Hà Mã) lại về Hợp Phố. (Lời người copy & paste)

Gú Gồ liệt truyện

Internet năm Ất Dần có loạn, khắp nơi fo rùm ngang ngược, giặc chã nổi lên như sung. Phàm tô bích lớn nhỏ, cứ ba bốt lại có một bốt hỏi gì không ai đáp nấy được.

Ở đất Pin Tờn có chàng tuổi trẻ tên là Gấu mà họ cũng là Gấu, vầng trán không cao không thấp nhưng tóc lại vừa đen vừa ngắn, lúc sinh ra nhiều lông giống hệt như con gấu nên bố mẹ mới đặt tên là vậy. Chàng chán cảnh thiên hạ loạn lạc, lê dân lầm than, thường buổi chiều vào giờ đi dạo tiêu cơm lại ra đầu cầu Thê Húc mà than rằng nhà xí một ngày không thể không có nước, nước một ngày không thể không có vua, vua một ngày không thể không có net. Đoạn chàng vén quần vào mạng học chat với gái, tình cảnh rất thê lương.

Một hôm, chàng ăn ổi không ị được, đến tối vẫn lang thang quanh quẩn ở đầu cầu, đột nhiên thấy lù lù một đống bên đường. Chàng lại gần, quả nhiên là một bà già tuổi mới ngoài hai mươi mà dung nhan sắc xảo, ăn nói gọn gàng không kém thiếu nữ đôi tám. Bà già thấy chàng đi đến thì không nói không rằng nguýt dài một cái mà đánh rơi mất chiếc nội y 36DDD[1]. Gấu lấy làm lạ, cúi xuống nhặt lên không kịp mân mê mà cài lại vào người bà già lập tức. Bà liếc mắt gật đầu, chiếc nội y lại rơi xuống dưới đất. Gấu vốn có hai đức tính tò mò và chậm hiểu, liên tiếp cúi xuống nhặt nội y lên cài ngay vào người bà già.

Bà già bèn liếc mắt gật đầu lần nữa, nội y lại rơi xuống, lần này còn chạm đất hơn hai lần trước. Gấu vẫn ung dung tự tại cúi xuống nhặt lên cài áo vào rút tay ra, phong thái khoan thai không hề câu nệ những tiểu tiết trong nội y. Bà già tỏ vẻ mừng, uốn lưỡi thì thầm vào tai Gấu:

- Thiếp sống ở đây đã lâu, quen gọi là Ê Vìu Bà. Giờ này ngày mai chàng hãy mặc đầy đủ áo quần ra đầu cầu đợi thiếp, sẽ có thiên duyên.

Gấu mừng lắm, xòe bàn tay ra đếm xem bao nhiêu tiếng đồng hồ nữa thì được hưởng duyên trời. Đếm đến ngón thứ 22, chàng ngẩng mặt lên thở thì bà già đã cao chạy xa bay.

Hôm sau, chàng đặc cách mặc cả áo lẫn quần đến giờ gà lên chuồng lả lướt ra đầu cầu. Nhìn xa đã thấy lù lù một đống bên đường, đến nơi quả nhiên Ê Vìu Bà đã ngồi vắt vẻo hai chân ở hai thành cầu rồi. Bà già rũ nội y bỏ đi mà nói:

- Hôm nay muộn rồi, ngày mai giờ này chàng ra đây đợi mối nhân duyên.

Hôm sau, Gấu chỉ kịp mặc xong quần là khấp khểnh ra cầu từ lúc mặt trời chuyển ráng đỏ. Đến nơi đã thấy bên đường một đống lù lù, Ê Vìu Bà đang ung dung ngồi nhai móng chân từ lâu. Thấy Gấu, bèn rũ nội y bỏ đi mà nói:

- Hôm nay cũng muộn rồi, ngày mai giờ này chàng ra đây đợi mối duyên thừa.

Hôm sau, Gấu không thèm mặc quần áo, cứ thế chạy thục mạng ra cầu từ lúc chính Ngọ. Chàng đứng gãi bẹn ở đầu cầu cho đến giờ gà lên chuồng mới thấy Ê Vìu Bà thong dong bước đến. Bà già thấy Gấu thì không chạy mà nói:

- Thiếp khen chàng có lòng ham duyên, không ngại quần áo hủ lậu mà một lòng chờ mong mối tình này.

Đoạn đích thân cởi nội y đưa cho Gấu. Gấu mừng lắm, thò cả cánh tay vào trong lục một lúc liền thấy cuốn sách mỏng dính, bìa làm bằng da dê Nội Mông thơm mùi nhựa thông Tây Tạng, gáy đóng bằng gỗ tuyết tùng trên đỉnh Át Lát phủ băng quanh năm, trong lại tuyệt nhiên không có chữ nghĩa gì cả. Chàng ngẩng mặt lên, bắt gặp ánh mặt hiền từ âu yếm của Vìu Bà mà nghe:

- Đây là bộ Gú Gồ Dâm Thư[2]. Chàng hãy mang sách về luyện cho thành tài, nhìn thấy sách như nhìn thấy thiếp, đặng xuất thân phò dân cứu nước cho thỏa lòng thiếp mong đợi ba trăm năm nay.

Đoạn nũng nịu biến mất.

Gấu mang bộ Gú Gồ về cùng nhau lên giường yêu đương, đến trang cuối cùng hiện lên một dòng chữ trông giống vết răng chuột mà lại đúng là vết răng chuột. Dòng chữ viết: mở ngoặc kép http://www.google.com đóng ngoặc kép. Gấu cả mừng, ngẩng mặt lên trời mà cười ba tiếng.

Từ đó, chàng say sưa học thuật Gú Gồ, phàm ba mươi sáu chiêu bảy mươi hai tư thế đều đọc thuộc từ trước ra sau từ sau ra trước. Bèn vào mạng thực hành, đong gái như chém bùn, thiên hạ phục lắm. Bấy giờ ở nước Đái có Sên Phù chém sắn khởi fo rùm, chiêu tụ hiền tài khắp nơi. Gấu liền cắp sách về định mưu kế dưới trướng, tất thảy đều dùng mưu chước đã định trong Gú Gồ Thư. Được hai năm thì thanh thế rầm rầm khắp mạng, Sên nhất thống fo rùm, lập nên Thăng Long, Gấu cũng được vinh danh lập quốc Hải Đăng.

Sau này, cũng vì chàng sinh lòng từ bi, nhận hết trách nhiệm kiến thức về sở hữu của mình mà che giấu Gú Gồ Dâm Thư, nên mới nảy sinh cuộc chiến Gấu Vìu đại náo Thăng Long. Nhưng đấy là chuyện về sau, thiết nghĩ không cần kể ra ở đây.

Chỉ biết, từ ngày lập quốc, Gấu dốc sức ngày đêm truyền bá thuật Gú Gồ. Thăng Long trên dưới hơn ngàn thành viên đều một lòng học đạo, chỉ trong hai năm đã có một trăm linh tám vị hải đăng ăn Gú Gồ uống Gú Gồ ị Xí Bệt, dùng Gú Gồ hai tay như một, một tay như không, đồng lòng đứng ra cáng đáng giang sơn, đì sạch bọn chã. Để cho hàng hàng tô bích cóp pết kiến thức, cột cột thành viên sao chép thơ ca, thật là khí độ của một diễn đàn lành mạnh vậy.



Chú thích:

[1] Theo từ nguyên học, nội y có chữ DĐ xuất xừ từ chữ Dâm Đãng trong Thăng Long hào hoa dâm đãng trí tuệ. Lý do tại sao, đến giờ chúng tôi vẫn còn đang tìm hiểu tiếp.
[2] Sau hậu thế nhân một hôm trẹo lưỡi đọc nhầm là Gấu Gù Thu Dâm. Cái tên này thực ra đều là những luận điệu đặt điều xuyên tạc không đúng đường lối, chúng tôi đã tự động lược bớt đi chứ nhất nhất không chép lại vào sử, kể cả phần chú thích.
Hồ Chiêu Ngọc
05-09-05, 12:58
Hồng Giác Ngưu liệt truyện, phần thượng: Kiu Lơ thế gia

Internet năm Ất Dần đại loạn, khắp nơi fo rùm ngang ngược, giặc chã nổi lên như sung. Phàm tô bích lớn nhỏ, cứ ba bốt lại một bốt chim non, năm bốt lại một bốt em chã, càng dẹp càng nở ra.

Ở Khoái Châu có chàng trai trẻ tuổi mới ngoài bốn mươi, diện mạo khả ái đầu óc lại sáng lạn lạ thường, người trong họ thường kính trọng gọi là Thần Kinh. Lại có tên khác là Tâm Thần. Thuở nhỏ tính tình hung bạo, phàm là muỗi hay là chấy rận nếu đắc tội chàng đều búng chim[1] đến chết, vì thế còn có tên là Kiu Lơ. Kiu Lơ thấy cảnh em chã chim non bay lượn khắp vn2k, ttvn, bèn lấy làm không vui mà xỏ dép đi tìm đường cứu net.

Chàng liền bôn ba thiên hạ mười hai năm, nằm gái nếm mứt cũng nhiều, song đâu đâu cũng thấy chã với người chung sống lộn xộn không có tôn ti trật tự trên dưới trước sau. Lấy làm buồn lắm.

Một lần chàng rẽ qua đường vào một diễn đàn nhỏ uống nước đi tiểu, thấy cô chủ diễn đàn phong thái ung dung trán rộng má hồng, mà xung quanh có trên dưới mười bảy chã chạy đi chạy lại. Trà nước được mươi câu, đi tiểu cũng được đôi lần, chàng nhắc câu người mà chung sống với chã thì không khác gì loài cầm thú[2]. Đàn chủ gạt lệ thiết tha:

- Phải đâu thiếp không biết chuyện xưa tích cũ, người sống với chã, chã sống với người, không sinh tồn thì ắt diệt vong. Hiềm một nỗi cơ sở lý luận không đủ, năng lực quản lý yếu, nhận thức còn thiếu sót nên mới không kham nổi trách nhiệm này. Cũng mong có người quân tử quật cường dựng cờ đuổi chã, thiếp sẽ phục lăn.

- Ta rắp tâm tìm đường diệt chã cứu thế, nhưng hiện giờ thiên hạ đại loạn, xe cộ ngoài đường không có trật tự luật lệ gì cả. Chi bằng nàng hãy vì nước cùng ta ân ái, rồi cấp cho ta một chiếc 4`x4` đặng tìm đường đi tiếp.

Đàn chủ toan mở miệng chúm chím thì hơn mười tên chã lực lưỡng chạy lại, một mặt vật ngửa đàn chủ ra ghế, một mặt chẹn họng Kiu Lơ lấy hai con bò sống ra mà bắt ị đầy vào miệng chàng. Trong cơn nguy khốn, chàng chỉ thấy loáng thoáng hai ngón tay giữa thanh thoát của cô chủ diễn đàn chỉ thẳng lên trời[3].

Kiu Lơ cả mừng, về nhà nghiên cứu Wikipedia và Gú Gồ liền ba ngày ba đêm. Sáng ngày thứ tư, thứ năm, chàng vừa chợp mắt thì sao vàng năm cánh bồng bềnh quanh mộng. Chàng nghe lanh lảnh một giọng ồm ồm ngữ pháp thì đúng cả nhưng sai lỗi chính tả:

- Nghươi đi về phía Tây, đến vùưng hồ lớn thaác Niagara gặp nghài Hồng Giác Ngưuu thhì sẽ toaọi nghuyện.

Tỉnh dậy thì mặt trời đã quá bụi tre, chàng bèn tắm rửa sạch sẽ lên đường lập tức.

Đường đi vạn dặm muôn vàn khó khăn. Độ như, chàng qua Ích Châu thu được đệ tử Ích Châu dẫn đường đi theo hướng mặt trời lặn nên nhầm về phương Nam vượt xứ Mễ Tây cơ gặp bộ tộc chuyên ăn tiền người rồi vẫn về được điểm xuất phát. Hay như, chàng lái xe bốn bánh lộn bốn vòng trên đường cao tốc ngẫu nhiên gặp được mỹ nhân khăn vàng ôm cây sồi liền xuất khẩu ra mười lăm bài thơ bài nào cũng giống bài nào mà đọc lên lại có vần cả. Thiết nghĩ, đều là những chi tiết nhỏ nhặt không cần kể ra đây.

Đường đi vạn dặm kết thúc bằng một phát phanh[4]. Kết thúc rồi chàng lại đi dép chạy bộ tiếp, trời lạnh ngăm ngăm cởi trần phăng phăng vượt núi băng băng. Hai ngày bốn đêm chạy liên tục mà không gái, chàng bắt đầu thấm mệt, ngẩng mặt lên nhìn vùng thác Niagara trước mặt quả là một đồng cỏ mênh mông, cỏ cỏ xanh mướt mướt, thật là một nơi tiên cảnh. Chàng phóng tầm mắt ra xa, liền thấy một bầy chã gần chục tên đang co ba bốn chục cái chân chạy bốn phía. Phía sau, một vị thần uy phong lẫm lẫm đang cầm sừng đuổi đánh chã. Chúng chạy một lúc rồi nhẩy xuống nước bơi loạn xạ, chàng hả lòng hả dạ lắm lắm.

Chàng nhìn kỹ, đoạn lại nhìn thân thể chính mình. Vị thần có điểm khác, ví như trên người thần có lông mà chỗ ấy lại không, hai tay lại dùng để chạy mà đuôi thì nằm phía sau hậu môn. Đặc biệt trên trán chệch về tai thần mọc ra một đôi sừng mầu xám vàng có dấu kiểm định công tơ còn ửng đỏ. Chàng định thần, đoán đây chính là Hồng Giác Ngưu, bèn lại gần sụp lậy xưng tên.

Thần rằng:

- Ngươi không cần xưng tên ta cũng biết. Chính ta đã báo mộng cho ngươi bằng giọng ồm ồm đúng ngữ pháp sai chính tả hai năm về trước. Cô chủ quán ngươi gặp cũng đã được ta báo mộng, lại chỉ cho đôi sừng, nên hai ngón tay giữa mới co quắp chĩa thẳng lên trời hình sừng như thế.

Kiu Lơ mừng lắm, hỏi kế sách diệt chã. Thần rằng:

- Người muốn diệt chã đầu tiên phải diệt tại tâm. Nay ta hỏi ngươi, con gì sáng đi bốn chân trưa đi hai chân chiều đi ba chân?

Kiu Lơ cả mừng trả lời:

- Đích thị là con người, phỏng ạ?

Hồng Giác Ngưu đột nhiên nổi trận lôi đình, giận dữ ra mặt, từ mũi trở lên trán máu tụ thành dòng, đỏ lên rực rỡ. Đặc biệt hai nhánh sừng cong vút lên trời, chuyển mầu từ xám vàng sang một mầu đỏ chót như mặt người béo uống rượu say. Kiu Lơ giật mình lùi lại hai bước đưa hai chân trước ra trước rồi thủ thế Lưu Vân Cước.

Cơn ngượng đã nguôi, Hồng Giác Ngưu vỗ vai Kiu Lơ mà giảng giải:

- Tên tục của ta là Con bò sừng đỏ, phàm gặp những chuyện ngu ngốc dốt nát nực cười thì cặp sừng không nhịn được mà đỏ chót lên như mặt người béo uống rượu say. Nay giải thích cho ngươi bớt sợ. Ngươi có đá Lưu Vân chứ có đá Lưu Thiên Lôi, Lưu Sóng Thần thì ta cũng húc chim một phát là ngã mà không biết tại sao.

Đoạn, lại nói:

- Chã còn trong tâm, tất không thể đánh đuổi chã ở diễn đàn. Ngươi dùng ngôn ngữ kiến thức của chã để đối đáp lại với chã, thì diệt được một đứa mà sinh ra mười đứa khác, chỉ mang đến đại họa ttvnol chứ tuyệt nhiên không thể cứu nhân độ thế.

Ngươi phải biết lấy bụng quân tử mà đì tiểu nhân, đem lòng chính nhân mà trừ đần độn. Phàm diệt chã, phải diệt tận gốc, đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn, đánh cho chúng chích luân bất phản, đánh cho sử tri net giới anh hùng chi hữu chủ.

Đối diện với câu hỏi của ta, ngươi phải đỏ mặt lên mà chửi. Rằng “Câu hỏi đần độn của chú mày, con bà nó, làm anh ngượng đỏ cả sừng. Chú mày chỉ chứng tỏ cái sự thui chột của nền giáo dục nước nhà, cái sự ngu muội của bọn đi du học[5]. Chú mày người không ra người, lợn không ra lợn, thực là một đứa dở hơi biết bơi làm nhục cả gần trăm triệu đồng bào nài lưng cày cuốc cho chú mày đi học.” Rồi phải chửi chúng như vầy … như vầy …

Kiu Lơ nghe lời như cởi tấm lòng, liền cảm thấy thăng hoa giác ngộ, lâng lâng như mới làm tình với ba cô gái trẻ chân dài vừa xinh đẹp vừa có bằng tiến sĩ triết học. Bèn ngoảnh mặt về phía Nam mà nói với thần Hồng Giác Ngưu:

- Thần nói ngu bỏ mẹ. Câu nói đần độn của chú mày, con bà nó, làm anh ngượng đỏ cả mông. Chú mày chỉ chứng tỏ cái sự thui chột của nền giáo dục nước nhà, cái sự ngu muội của bọn đi du học. Chú mày người không ra người, lợn không ra lợn, thực là một đứa dở hơi biết bơi làm nhục cả gần trăm triệu đồng bào nài lưng cày cuốc cho chú mày đi học.

Thần mỉm cười, kết luận:

- Nuôi quân ba năm, dùng quân một giờ theo tinh thần Nghị định 351. Nay ta nhắc thêm ngươi hai câu khẩu quyết: “Con bò ngượng đỏ sừng” và “Dở hơi biết bơi.” Mong ngươi sớm thành công.

Đoạn quay đầu chạy mất.


Kiu Lơ ngây ngất lăn quay, đến ba khắc sau mới từ từ tỉnh lại. Chàng nhìn trong tay vẫn còn đôi sừng mầu xám vàng có dấu kiểm định công tơ còn ửng đỏ. Chàng cả mừng, liền xuống núi thay trời hành đạo.

Nghe tin Sên Phồ lập nước, xây dựng Thăng Long, Kiu Lơ gật đầu từ từ hiểu rằng cơ hội chém chã cắt chim [non] đã đến. Chàng nửa đêm dâng lên Sên Phồ bộ ba mươi sáu kế diệt chã, kế nào cũng tinh diệu thần kỳ. Sên lúc đó thường phải đích thân xuất chinh thảo chã, thành công thì ít, mà bị chã vây bắt làm nhục cưỡng hiếp thì nhiều. Đọc được kế sách của chàng Kiu liền lấy làm mừng lắm, phong ngay cho chàng làm Thần Kinh Đệ Nhất Hải Đăng, cai quản Thăng Long ba mươi bót, nắm toàn quyền sinh sát.

Chàng sai thuộc hạ lập ra bể bơi, cột điện là hai hình thức tra tấn rất dã man đối với bài chã, nick chã. Đoạn, thân chinh ra đứng đầu ngõ Thăng Long hạ chã như chém bùn. Đàn đàn chã chã bài rơi xuống bể bơi, thân bắn lên cột điện, khắp nơi dậy tiếng chã ai oán. Người người đều lấy làm mừng, vững bụng mà phấn đấu thành Hải Đăng. Như Bẩy Ruồi, Gấu Già, Anh Vũ, Ê Vìu, đều là những tay cự phách nhân chiến dịch diệt chã mà nổi đình nổi đám được.

Chã vốn nhiều như cát sa mạc, mạnh như nước biển Đông, liền biến tướng mỗi ngày hai mươi nick, liên tục quấy phá an sinh. Chàng nổi giận, lập đàn Tổng Sỉ Vả, chỉ thẳng vào mặt chã mà nói “Đồ dở hơi biết bơi, chúng mày nói con bò nhà anh cũng ngượng đỏ sừng.” Đoạn lôi bộ sừng màu vàng xám chuyển đỏ có dấu kiểm định công tơ ra làm chứng. Chúng phục lăn. Người người liền lấy câu khẩu quyết ấy ra làm lời chào cửa miệng, lời tỏ tình về đêm, lời đánh thức buổi sang, lời chúc tụng sinh con, lời chia buồn người ốm, lời xin pic gái, lời dọa hacker. Thật là nhà nhà đỏ sừng, người người đỏ sừng. Loài chã, phàm xuất xứ từ diễn đàn nào, hễ có chút tự trọng liêm sỉ là bị đánh đuổi tiêu diệt hàng loạt, suốt đời không ngẩng đầu lên được.

Thiên hạ thái bình. Kiu Lơ treo ấn từ quan, để lại cặp sừng đỏ lưu danh hậu thế, còn mình cùng mỹ nhân về núi hưởng thú điền viên của con người ba chân thêm một lúc nữa. Cặp sừng tuy còn, song anh hùng đã khuất, thiên hạ về sau lại có mầm mống loạn lạc, dẫn đến Hiền Lương phân tranh Gấu Gù đại chiến Sên Phồ. Nhưng đó là những chuyện về sau, tạm thời không cần nhắc đến.

Chỉ biết, từ đó trẻ em năm sáu tuổi chưa biết nói đã nghêu ngao bài trường ca hai câu:


“Trên trời có vì sao Ngâu
Dưới Thăng Long có con trâu đỏ sừng.”

Chính là nói về chàng Kiu Lơ và sự tích Hồng Giác Ngưu vậy.
Hồ Chiêu Ngọc
05-09-05, 12:59
Chú thích:
[1] Không phải chim của chàng.
[2] Lượng Tử rằng: “Người chung sống với chã giả dã, người chi nhân tính y như cầm thú ư.” Về sau có người nói câu này vốn là của một người câm mù chữ lúc cao hứng nghĩ ra.
[3] Điệu “Một ngón chọc trời” rất thịnh hành ở Tinh Châu, Kinh Châu, vốn là một khúc của vở Pho PLây Vũ. Người múa thường có nhiều ám chỉ mông lung không rõ ràng, ai nhìn cũng hiểu.
[4] Sách Chung Đung có câu “Đường đi một dặm, bắt đầu bằng một dặm, kết thúc cũng bằng một dặm.”
[5] Du học chã sinh cũng là một loài thú lạ thời bấy giờ.
Hồ Chiêu Ngọc
05-09-05, 13:09
Dịch gia liệt truyện

Internet năm Ất Dần đại loạn, fo rùm trùng trùng, em chã điệp điệp. Phàm tô bích lớn nhỏ, cứ ba bốt lại một bốt tiếng Anh, năm bốt lại một bốt tiếng Pháp, quả thực không hề có tôn ti trật tự gì cả.

Bấy giờ ở trung tâm văn hiến hào hoa đảm đang là Thăng Long có Hải Đăng Gấu, trên không sợ hải âu ỉa vào đầu, dưới chẳng màng tầu chiến đâm vào đít[1]. Những lúc buồn tình chàng thường mặc quần ra sân rít thuốc, đoạn lại ngửa mặt lên trời than:

- Forùm trừ phi Vietnamize thì bất khả duy trì. Em chã chúng nó nói tiếng bồi thế lày thì lose mịa nó sự trong sáng of tiếng Việt. Phải giáo chã dịch thuật, gọi là translation cho nó dễ hiểu.

Đoạn, sáng tinh mơ hôm sau vào triều dâng bản tấu chương 12 thứ tiếng bàn về Dịch thuật. Trung Ương xem xong gật gù chuẩn tấu, cho Gấu thành lập xưởng Dịch Thuật, thỏa chí tung hoành nội ngoại ngữ.

Mở ra được một tháng, ngày ngày Gấu mặc áo dài khăn xếp đứng đầu ngõ, không câu nệ chã hay người, nhất loạt đều mời vào làm một cốc nước chè, đi một bãi tiểu tiện trong xưởng Dịch Thuật. Lác đác có người vào ra, mà không khoe trim khoe bím thì cũng chỉ cưỡng hiếp thường ngày, chứ tịnh không hề có đóng góp nào xuất chúng. Gấu bèn tư duy, lấy làm buồn lắm.

Một hôm, Gấu đang đứng sau chấn song sắt của xưởng Dịch Thuật nhìn Thăng Long tấp nập đong đưa thì bỗng cảm thấy một luồng chân khí ẩm ướt sờ mó lên đôi vai mỡ gầy. Chàng quay ngoắt lại, thấy cách xa năm thước có một thanh niên khôi ngô nho nhỏ đang bẽn lẽn đứng nhìn. Bèn vẫy tay gọi lại gần hỏi chuyện. Thanh niên thưa:

- Tiểu sinh là người Ba Lê, họ Gia tên Nút, năm sáu tuổi đã dịch sách có chữ sang sách không chữ, đến năm mười hai tuổi ngón nghề khéo léo dịch thông chỉ cần một tay, đến năm mười lăm tuổi dịch thông chỉ cần hai ngón tay. Năm mười bảy, chuyển từ dịch thông sang dịch tinh, thiên hạ tiện đặt tên hiệu là Tinh Dịch Gia. Phàm có thứ tiếng gì có chữ có hình, Tinh Dịch Gia dịch ra tinh tường ngay ngắn.

Nay thấy thiên hạ có loạn, mà hộp Dịch Thuật của tiền bối tuy nhiều bốt nhưng thiếu Tinh, tại hạ thấy không được trọn vẹn[2]. Nay tại hạ muốn về dưới trướng giúp rập việc công cho tiền bối được toại nguyện, chẳng phải cũng hay lắm ru?

Gấu mừng lắm, nói chuyện qua loa mấy câu, nhận Gia Nút làm con nuôi rồi cùng nhau lên giường, rất rất ái mộ. Trong lúc hoan lạc trao đổi kíến thức văn chương xã hội, Gấu để ý thấy mũi chàng thanh niên có hai lỗ trong có lông mầu đen, lại có hơi ấm đi qua đường này. Gặng hỏi, Gia Nút bẽn lẽn tiết lộ mình vốn là giống người có lông xứ Ba Lê, phàm khi có chuyện buồn là lông mũi bay phấp phới không cản được. Gấu một long chiêu hiền đãi sĩ, cũng không câu nệ gì chuyện ấy.

Lại nói, Gấu từ khi có Tinh Dịch Gia Nút như cá gặp nước, thỏa sức phát triển Dịch Thuật, hết Bắt trẻ đồng xanh rồi đến Suối nguồn tươi trẻ, từ Sonet sang Thất ngôn bát cú, tiếng Latin nhảy đến tiếng Nhật cổ, không gì không có, có cũng như không. Tinh Dịch Gia Nút cũng thỏa sức vẫy vùng, trong một năm xuất bản xấp xỉ năm bộ sách, không hẹn mà trùng bộ nào cũng dịch sang tiếng Việt hết. Sách phóng ra ào ào, bọn chã không hiểu gì cả mà từ đấy cũng bớt vào quấy nhiễu xưởng Dịch Thuật. Sự nghiệp vá trinh tiếng Việt từ đấy cũng có cơ hoàn thành.

Xem chừng lực đã mạnh, Gấu lại cậy Tinh Dịch Gia thảo tấu chương nhiều điều nhiều chữ lên trình Trung Ương. Trung Ương hưởng ứng, hạ luật phàm những bốt vừa và ngắn hễ có chữ nào tiếng Tây tiếng Tàu tiếng Swaziland là tự động hồn xuống bể bơi thân lên cột điện. Đến như Hải Đăng, gái đẹp cũng không cho phép ngoại lệ. Đoạn, lại trao độc quyền dịch thuật cho cơ sở Dịch Thuật của Gấu, phàm những chữ rẻ tiền nhờ dịch bên ngoài đều không được chấp nhận.

Gấu nắm binh dịch quyền trong tay, một tiếng thốt lên vạn người nghe theo, đạp chim non dẹp em chã bình định suốt một dải Thăng Long. Từ đó, trẻ em theo người lớn, người lớn theo ông già, ông già theo Hải Đăng, Hải Đăng theo Dịch Giả, tô bích lớn nhỏ nhất nhất viết thuần tiếng Việt. Thiên hạ thịnh trị, tô bích nổ lên như bắp rang bơ. Trung Ương lấy làm mừng lắm.

Từ ngày độc quyền, Dịch Thuật đắt hàng như pic gái. Chã chã xếp hàng ngoài cửa xin chấm mút chút ít Tinh Dịch Gia Nút, mà ngay đến các bậc Hải Đăng đạo mạo cũng phải cắt vạt áo trước kéo tà áo sau[3] vào luồn cúi Gấu để lấy chữ pốt bài. Tước hiệu Dịch Gia cũng từ đó bán ra ào ào, hình thành những Tân Dịch Gia gọi là nhóm dịch trẻ. Bèn mượn gió bẻ măng đục nước buông cần, uốn lưỡi cú diều mà sỉ nhục triều đình, đem thân dê chó mà khinh rẻ tể phụ. Nhiều vị lập quốc Hải Đăng cũng bị tra tấn hành hạ ngày ngày qua bể bơi tối tối phơi cột điện. Từ đó mới dẫn đến những cảnh bãi bể nương dâu, đầu rơi máu chảy như trận Gấu Vìu đại chiến cửa Thăng Long, hay Nội chiến Thăng Long anh hùng $%@& anh hùng, đến mức giang sơn nay vạch làm đôi, tiếng xấu còn để đến hơn trăm năm sau. Thiết nghĩ đây đều là những chi tiết nhỏ nhặt, không cần chép lại vào đây. Âu cũng là thói đời của kẻ độc quyền vậy.

Chỉ biết, Gia Nút vốn không màng quyền lực, nhìn thảm cảnh ngày ngày 50 bốt chém giết lẫn nhau không khỏi ngậm ngùi, lỗ mũi phập phồng lông bay phấp phới. Gấu thấy vậy càng nặng tình nặng nghĩa khuyên nhủ Gia Nút về quê tự tận còn hơn ở lại chốn quan trường điêu linh. Tinh Dịch Gia Nút nghe theo, lại không đặng nhìn cảnh Gấu bôn tẩu ngược xuôi thường xuyên bận cả bốn chân mà không có thời gian cùng nhau âu yếm, bèn tiến cử Dịch Gia mới lớn là Thỏ Đói[4] thay mình hành đạo, còn bản thân thì về núi tuẫn tiết.

Xưởng Dịch Thuật từ đấy ngày ngày vang tiếng leng keng, như sóng nước Trường Giang cuồn cuộn lớp sau đè lên lớp trước, lớp đầu tiên đè lên lớp cuối cùng. Kết cục đến khi sóng nước chẩy đi sạch, lại còn nguyên khí độ của một bót vô thần ở Thăng Long vậy.





Chú thích:
[1] Tương truyền, một hôm Gấu đang ngồi hóng mát bên chiếc microphone nối mạng điện thoại quốc tế thì có nick Des gọi giật lại:
- Tránh mau cho ông đi.
- Ông léo tránh, mày tránh ông ra.
- Ông nhắc lại, đếm đến 12 mà mày không tránh đường cho ông thì đừng có trách.
- Đếm đê, ông léo sợ.
- Nói cho mày biết, ông là Đô Đốc Des dẫn hạm đổi Biển Đông bao gồm hai tầu khu trục mười sáu tầu tuần dương hộ tống tấu sân bay to nhất thế giới. Tránh ra, ông nói thế mày tự hiểu.
- Ông là Hải Đăng. Nói thế mày tự hiểu.
[2] Dân gian có câu « Quý Hồ Tinh bất quý Hồ Đa » là để ám chỉ sự việc dịch thành hồ tuy nhiều mà không có tinh, sau này ắt tuyệt tự.
[3] Truyện dân gian Việt Nam : Gấu làm quan to, có người bạn vào hỏi nhờ Gấu may áo hộ. Gấu bảo, quan lớn thích nhìn rốn, vạt áo trước phải cắt cho cao. Quan ghét nhìn mông, tà áo phía sau càng dài càng tốt. Từ đó hậu thế mới có câu « cắt vạt áo trước kéo tà áo sau » vậy.
[4] Thỏ Đói vốn họ Thợ, về sau được Hải Đăng Kiu Lơ nhận làm con đẻ nên đổi thành họ Thỏ. Thỏ nhân một đêm một tay hành lạc, sinh ra dịch tác đồ sộ Mỹ học Hay ghen, chưa ai đọc không ai hiểu, mà nên công trạng oai trấn một cõi. Về sau bị người tài gièm pha mà lí lịch có phần mất đi sự trong sáng.
Hồ Chiêu Ngọc
05-09-05, 13:13
Hồng Giác Ngưu liệt truyện, phần hạ : Thỏ Đói thế gia

Internet năm Bính Mão bốn phương phẳng lặng, fo rùm vững vàng. Phàm chim non em chã đều nhất nhất trọng dụng người tài, chiêu hiền đãi sĩ, cuộc sống thanh bình lắm lắm.

Bấy giờ ở kinh thành Thăng Long có viên Hải Đăng họ Kiu tên Lơ đứng đầu hai hàng bá quan[1]. Hiềm một nỗi chàng tuy không có vợ mà chờ mãi chẳng thấy sinh con cái gì cả, lấy làm rất phiền muộn.

Một hôm, chàng vi hành ngoài diễn đàn, bỗng thấy một thanh niên tuổi ngoài hai mươi diện mạo mười phần khả ái hình dung muôn vẻ tuấn tú đang ngồi ị cho vui ở vệ đường. Kiu Lơ mừng lắm, gọi điện lại hỏi chuyện. Thanh niên thưa tên họ Thợ Đời, gốc người nho nhã gia cảnh xuề xòa. Kiu Lơ bán tín bán nghi, bèn nhận ngay thanh niên làm con đẻ, cải họ thành Thỏ đổi tên thành Đói mà mang về ra sức dậy dỗ nuôi nấng. Chẳng mấy chốc, chàng thanh niên đã lớn bằng một cậu bé mười ba, mười bốn, trí tuệ hết sức khảng khái[2].

Thỏ Đói thông minh từ nhỏ. Chàng về Thăng Long năm hai tuổi đã dịch xong Mỹ học Hay ghen dùng làm kim chỉ nam cho các chị em là đàn bà lại đi tranh giành chồng con của nhau mà đột nhiên quên mất thẩm mỹ. Năm ba tuổi đã soạn luận cương cách mạng Mác Lê dùng làm kim chỉ nam cho các bậc Hải Đăng là chính trị gia lại đị tranh giành quyền lực của nhau mà đột nhiên quên mất võ nghệ. Có người đọc xong lấy làm cảm phục.

Được bốn tuổi thì Thỏ lên đến ngôi vị Hải Đăng, lại kiêm nhiệm thống lĩnh cả phần Dịch Thuật[3], dưới ít người mà trên vạn người, uy phong lẫm lẫm. Ngày ngày vào giờ Tí, giờ Sửu, chàng lại ung dung cưỡi ngựa, đảo, qua, đảo, lại Thăng Long. Nên trong thành có người khen phong thái hòa nhã mà lại khiêm tốn, thật là có khí độ một bậc đại gia.

Lại nói Kiu Lơ oai danh lừng lẫy, giữ cho Thăng Long sạch bóng chim non em chã đã được mấy năm[4], công thành danh toại đều nhờ vào bộ sừng màu vàng xám đỏ rực lên khi có bóng quân thù[5]. Trong đám chim non em chã có chàng Tuấn Bát tự dưng lấy thế làm bực, thường hay ngoảnh mặt vào tường mà nói « Ta quyết chiếm bằng được Thăng Long, san phẳng Dịch Thuật, cho các ngươi thấy thế nào là lẽ phải không cần Hải Đăng.»[6] Đoạn, bèn tập hợp hơn nghìn em chã, đích thân phóng xe cầm đá ném thẳng vào Thăng Long. Song nhiều lần mà không thành công, vì đám em chã cứ gần đến nơi lại bị bộ sừng màu vàng xám đỏ rực làm cho buồn cười mà chết đến quá bảy, tám phần.

Bấy giờ có người trí thức mật hiến kế cho Tuấn Bát dùng thức ăn ngon mà phản gián trong nội bộ Hải Đăng. Bát khen phải, liền tuyển hơn mười bẩy mỹ nữ có sắc đẹp của người đàn ông xấu trai dâng cho Thỏ Đói để nghị hòa, những mong mỹ nữ biết dùng uy tín và trí tuệ của mình để thực hiện thực phẩm kế.

Thỏ thấy mỹ nữ tuyệt sắc thì hồn xiêu phách lạc, nửa đêm dâng tấu chương xin Trung Ương nhẹ tay với chã, coi chã như người, coi người như nhau. Tấu chương rất hùng hồn, có nhiều đoạn viết « có quyền được sống, quyền tự do, và quyền pốt bài trên mạng », có nhiều đoạn lại không viết gì, lời lẽ thống thiết văn hoa, hết sức xúc cảm. Trung Ương sáng dậy đọc khen hay, bèn chuẩn theo mà mở cửa thành cho chã.

Từ ngày được tiến cống hơn mười bẩy mỹ nữ có sắc đẹp của người đàn ông xấu trai, Thỏ say đắm lạc thú, ngày nào cũng ăn uống no say, có ngày ăn đến ba bữa, tiểu tiện ba lần, lần nào cũng như lần nào, mà không hề biết điều độ. Có người ăn mày nhìn vào thở dài mà cười rằng « Phàm ăn cái gì nhiều cũng có ngày phải thải ra. » Nghe xong không ai hiểu gì.

Ăn ở với mỹ nữ được ít lâu, Thỏ bụng đã căng, đi lại khó khăn, chờ ngày khai hoa nở nhụy mà lấy làm vui mừng lắm. Lại dặn mỹ nữ, sau này nếu có loạn lạc cứ vào Yahoo tìm nick Thỏ Đói là gặp lại được nhau.

Mỹ nữ nhân buổi tối không trăng liền đè Thỏ ra mà hỏi bí mật cặp sừng bò. Thỏ trả lời không lại được hơn mười bảy mỹ nữ, bất giác thổ lộ ra cặp sừng thật cất trong mật thất của Trung Ương, phải dùng password như vầy, như vầy mới vào được. Lại căn dặn cẩn thận đám mỹ nữ nhất nhất phải quên ngay password, hoặc giả vô tình nhớ được thì cũng nhất quyết không được đánh tráo cặp sừng. Mỹ nữ vâng dạ cho qua chuyện.

Đêm sau, liền lẻn vào trong mật thất lấy đi cặp sừng chuẩn có dấu kiểm định công tơ, lại cẩn thận thay thế bằng gần tám cặp sừng mới nguyên nhập khẩu từ châu Mỹ trên viết toàn tiếng nước ngoài, lại không có được mầu đỏ rực gì cả. Sừng đã bị tráo, hơn mười bẩy mỹ nữ giả đò xin Thỏ về quê thăm Tuấn Bát cho đỡ buồn. Thỏ thấy hay liền đồng ý ngay.

Không ai ngờ, đám mỹ nữ về quê liền mang cặp sừng thật đưa cho chính Tuấn Bát chứ không thăm thú gì cả. Tuấn Bát được sừng cả mừng, bèn nhắn tin khai chiến với Trung Ương, hẹn ở Xấu Xí đình quyết phen sống mái. Đoạn, sửa sang mũ áo, rút tay khỏi túi quần chuẩn bị nghênh chiến.

Trung Ương nhận tin nhắn liền nhếch mép cười, đóng cửa thành rồi lại ung dung gác chân lên ngủ. Đến khi Bát mang quân chật ních Xấu Xí đình mới thảng thốt mặc quần trong rồi sai người đi lấy cặp sừng màu vàng xám có dấu kiểm định công tơ hay đỏ rực mỗi khi có em chã. Không khí lộn xộn mà vẫn uy nghi, gấp gáp mà vẫn chần chừ, thật hết sức thú vị.

Thuộc hạ liền đem gần tàm cặp sừng mới ra dùng. Trung Ương cả mừng, vì trời giúp nên mới có nhiều sừng như vậy. Không ngờ, đến khi giáp trận mới hay sừng mới tuy đẹp mà không đỏ tí nào cả,vô hình chung trong Xấu Xí đình người người chã chã lớp lớp đều như nhau, lời lẽ âu yếm lẫn với chửi rủa, thật là loạn chiến bất định. Tình thế bấy giờ tứ chứng nan y tứ mã nan truy, Thăng Long vận hạn người có nghĩa khí không ai không rỏ lệ thương tiếc.

Tuấn Bát thành công, vào thành phủ dụ dân chúng cho quen, đoạn lại xếp đặt công việc đâu vào đấy, phong tước cho chim non, ban đất cho em chã. Ngay đến những vị lão thành như Sên cũng được hưởng lộc pic gái, nhà nhà lấy làm thỏa mãn lắm. Những sự trị quốc an dân khác cũng có nhiều, song thiết nghĩ là chuyện về sau không cần phải kể hết ra cả đây.

Nhưng đúng như lời than khi ngoảnh mặt vào tường, lãnh đạo mới đã quyết chiếm Thăng Long thì cũng san phẳng Dịch Thuật, bấy giờ chim non thả rông nơi Dịch trường, em chã nhẩy múa ở Dịch xá, khung cảnh hết sức náo nhiệt ảo não. Chỉ có người dịch giả già tuổi hơn hai mươi ngày ngày cầm cuốn Dịch Gia liệt truyện ra đầu phố ngồi tự cù cho đỡ buồn là biết được phần nào oai linh quá khứ vậy.[7]

Lại nói em chã chiếm được Xấu Xí đình, Thăng Long đại loạn, Hải Đăng sa cơ tự trói. Trung Ương duy có Hải Đăng Kiu Lơ cướp được một con ngựa quèn, một tay cầm cương một tay xốc ngược Thỏ Đói lên mà chạy khỏi internet, hòng lập nghiệp mới dựng nước chống chã. Nhưng chàng đi đến đâu cũng thấy chã theo hàng đàn ngước mắt nhìn ái mộ, khung cảnh thật vô cùng ảm đạm.

Chàng bèn dẫn Thỏ về phía thác Niagara tìm thần Hồng Giác Ngưu nhờ mượn thêm bộ sừng cứu quốc. Nhưng gần đến nơi mà chã chã hàng đàn vẫn bám gót theo, nhất tề tuôn ra những lời lẽ âu yếm tôn thờ, tình huống bấy giờ thật là vô cùng nguy kịch.

Kiu Lơ và Thỏ cưỡi Ngựa đến đồng cỏ mênh mông, cỏ xanh mướt mướt, mà chã vẫn đuổi kíp sau lưng. Kiu Lơ xuống ngựa thổi kèn gọi thần Hồng Giác Ngưu. Thần quả nhiên hiện ra, hỏi tại sao con khóc. Đoạn không cần nghe phân bua gì, chỉ thẳng ra sau lưng Kiu Lơ có Thỏ Đói mải miết mật thư cho chã trên YIM mà rằng:

- Chã chính ở sau lưng ngươi đó!

Kiu Lơ quay lại nhìn Thỏ thở dài, đoạn tiện tay chém chết thần con bò sừng đỏ rồi nhảy xuống thác tuẫn tiết, tính cả tuổi làm Hải Đăng hưởng thọ hơn năm năm gần bốn năm. Về sau người đời biết chàng chưa chết nên mới lập đền thờ ở ngoài cổng thành Thăng Long. Lại làm thơ rằng :


Thử địa biệt Thăng Long
Kiu Lơ phát lung tung.
Tích thời ngưu giác một
Kim nhật thủy do hàn.[8]

Chính là để chỉ sự tích tuẫn tiết thác Niagara và sự việc chã phá Thăng Long vậy.

Về sau, Thỏ Đói cải trang hồi hương, cùng nhiều vị nhân sĩ khác mượn cớ Phản Bát phục Long cắt máu ăn thề dựng cờ khởi nghĩa, thanh thế hết sức to lớn, chẳng mấy chốc đã trở thành một nền thịnh trị nhiều thuộc hạ không kém gì cơ địa của Tuấn Bát. Nhưng đấy là chuyện về sau, thiết nghĩ không cần phải kể hết ra ở đây.

Sau có người biết chuyện, gõ vào mạn thuyền mà ngâm nga:

“Trường Giang sóng cuồn cuộn hề, diễn đàn lớp sau đè lên lớp trước hề hề hề…”
Hồ Chiêu Ngọc
05-09-05, 13:14
Chú thích :

[1] Xem thêm tại : Hồng Giác Ngưu liệt truyện, phần thượng : Kiu Lơ thế gia, kỷ Internet năm Ất Dần.
[2] Lời nhà xuất bản : Đoạn này chúng tôi biên tập theo nguyên văn, song không khỏi có phần hoang mang. Vì chúng tôi cho rằng, phàm những kiệt xuất thế gia như Thỏ Đói thì trí tuệ họa chăng cũng chỉ thảng hoặc khảng khái, vừa vừa khảng khái, hay nói ngoa ngôn lên thì cũng chỉ khảng cbn khái thôi, chứ sao có thể « hết sức khảng khái » được. Chúng tôi cho rằng việc ngoa ngôn phóng đại này có bàn tay của xưởng dịch thuật, song vì đạo đức biên tập nên vẫn lễ phép để nguyên bản dịch như vậy – người đọc đã lưu ý xin thông cảm.
[3] Xem thêm Dịch Gia liệt truyện : xưởng Dịch thuật vốn không có sẵn, mà sau này được chính người đời mở ra cho vui. Phàm những cao thủ lịch lãm đều thấm thía câu « Chỉ ngang ngọn giáo vào hang Dịch thuật »[3.1], ý nói công việc khó khăn là ở chỗ đó.
Chú thích : [3.1] Xem thêm Chinh phụ ngâm (có thể cũng của nhân vật Thỏ nói ở trên), trang 3 in khổ A4 cỡ chữ vừa đủ[3.1.1].
Chú thích : [3.1.1] Đủ như thế nào thiết nghĩ độc giả nước ta tự hiểu được, không cần giải thích thêm.
[4] Xem thêm tại : Hồng Giác Ngưu liệt truyện, phần thượng : Kiu Lơ thế gia, kỷ Internet năm Ất Dần.
[5] Ibid. Chú thích thêm : đây là bộ sừng bò, không phải sừng của chàng.
[6] Xem thêm tại Tuấn Bát thế gia, sách không được viết nên chưa xuất bản. Vì sách đó in chữ nhỏ quá nên không được đưa nốt vào đây.
[7] Ở đây bản gốc còn một đoạn dài bằng hai đốt ngón tay, lời lẽ có phần ngông nghênh mạo phạm nên đã không được viết ra bao giờ. Khi biên tập chúng tôi có Gú gồ mà không sao tìm lại được.
[8] Thời xưa ít học ngoại ngữ, không ai hiểu nghĩa bài thơ, cả người làm thơ cũng không hiểu. Sau có kẻ đang đêm dịch bừa thành ra như sau:


Nơi này rời Thăng Long
Kiu Lơ tóc lung tung.
Sừng trâu xưa đã mất
Nước sông vẫn lạnh lưng.
Hồ Chiêu Ngọc
05-09-05, 13:19
Vĩnh Xuân liệt truyện/Bạch Hạc thế gia

Internet năm Ất Dần có loạn chim non, cứ ba nhà lại có một nhà có người béo phì, năm nhà lại có một nhà có người yếu sinh lý, muôn dân lầm than tình cảnh hết sức ai oán.

Bấy giờ ở đất Bách có đạo sĩ họ tên không tự nhớ được, hiệu là Bạch Hạc[1], từ nhỏ đã lên chùa tu theo dòng Vĩnh Xuân mà trở thành cao thủ xuất sắc ít ai bằng[2]. Chàng thấy tình cảnh quốc gia lâm nguy thất phu bất mãnh mà lấy làm buồn lòng lắm. Bèn cải trang thành một đạo sĩ vào thành Thăng Long giảng võ thâu đồ cứu nhân độ thế. Thật là tâm địa đại từ đại bi.

Đạo sĩ chạy quanh thành được hơn hai năm, nhân cách lớn nhỏ đều đã gặp cả. Tịnh vẫn chưa truyền được đạo. Nhân có hôm mỏi chân, liền ngồi xuống dựng bạt thành lều dựng xốp thành biển nhận cứu chữa sinh linh béo phì yếu sinh lý, về sai người đời gọi là rất hoành tráng. Biển hiệu chỉ trưng có bốn chữ “Vĩnh Xuân quán”[3].

Quán rất đông khách ra ra vào vào tuyệt nhiên không mở miệng hỏi han gì cả, Bạch Hạc rất mừng. Đến ngày thứ ba, có một vị lão nhân bước vào quán, phong thái ung dung tóc còn chưa mọc, nhìn xa thì tưởng là Hải Đăng mà đến gần mới biết lại chính là Hải Đăng. Thanh niên tự xưng họ Kiu tên Lơ, muốn thỉnh giáo Bạch Hạc.

Hai vị ngồi xuống ôm hôn rồi rót trà bắt chuyện. Kiu Lơ hỏi:

- Ngài tu đã lâu năm, xin hỏi: Võ nghệ là gì? Nội gia là gì? Vĩnh Xuân là gì?

Hạc rung râu trả lời:

- Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Bát quái biến hóa khôn lường.

Đoạn rút từ túi quần ra một bản đồ trên khung giấy A0 có đủ 64 quẻ chỗ thì vạch chỗ thì không vạch biến hóa khôn lường. Kiu Lơ xem xong mừng lắm mà quên luôn mất câu hỏi. Trà thêm hai tuần, Kiu Lơ tỉnh rượu lại hỏi :

- Vĩnh Xuân từ đâu đến, đi đến đâu ?

Hạc nhếch mép nói:

- Đạo khả đạo phi thường đạo. Danh khả danh phi thường danh.

Đoạn không nói gì. Kiu Lơ cũng không nói gì. Trà thêm hai tuần, Kiu Lơ mở mắt hỏi tiếp :

- Ai cần Vĩnh Xuân, Vĩnh Xuân cần ai ?

Hạc cả cười :

- Con mịa, anh chỉ thuộc đến hai câu thôi.

Kiu Lơ bấy giờ mới giật mình, nhỏm dậy vái hai vái mà nói :

- Tiểu sinh đã ngộ. Luyện võ nghệ là để phục vụ nhân sinh, được nhân sinh hãy quên võ nghệ. Phàm võ nghệ đã theo phải biết học đã học phải biết luyện đã luyện phải biết bỏ. Đừng nói Vĩnh Xuân phải làm gì cho bạn, hãy nói bạn phải làm gì cho Vĩnh Xuân[4]. Đạo lý cao thâm, từ nay tiểu sinh sẽ thay ngài chữa béo phì yếu sinh lý.

Đoạn lại nói :

- Tiểu sinh chỉ có điều băn khoăn, rằng tiền bối dáng vẻ thanh thoát sinh lực tràn trề mà trong ánh mắt nội công lại có phần thâm hậu, phỏng như vậy ru ?

Bạch Hạc tủm tỉm, chỉ cho Kiu Lơ thấy ở giữa nhà có chiếc cột đồng trông giống người nửa trên mặc áo mà nửa dưới lại mặc quần, lại đang đứng cười khanh khách. Đoạn bảo Kiu Lơ lại gần đẩy đổ.

Kiu Lơ chắp tay thi lễ, rồi tiến đến. Húc liền mười phát cái cột không đổ. Đoạn quay lại bảo Bạch Hạc: “Ngài húc đi”. Hạc húc luôn một phát. Cột cũng không đổ.

Kiu Lơ trầm ngâm thất thần, đoạn bất thần chắp tay vái Bạch Hạc ba vái mà mời ngồi lên ghế trên. Thưa rằng:

- Tiểu sinh khẩu phục rồi. Tiểu bối húc đến mười phát cái cột không đổ, mà tiền bối húc một phát cột vẫn không đổ, mới biết sức học của lão tiền bối cao thâm lắm lắm. Tiểu sinh muôn phần bội phục.
Hạc không nói gì, chỉ cười ruồi cho khoái.

Nói đoạn, Kiu Lơ đứng dậy xỏ dép đi về phương Nam hành Đạo, thiên hạ phục lắm. Hạc cũng rút cọc xếp lều thu gom hành lý đi về phương Bắc. Thành ra người đời vẫn chưa hiểu Vĩnh Xuân là gì.

Năm Thăng Long thứ mấy, thứ mấy, có người nhìn thấy Bạch Hạc, Kiu Lơ uống trà đá pha nước lọc cho rẻ ở ngoài quán, lại có hậu duệ là Bi Sún, Thỏ Đói hầu bên cạnh. Bèn đem ra kể chuyện này với hậu thế, rồi thêm thắt rằng hai vị mượn tay hậu duệ mà thi triển ý niệm võ thuật, đánh nhau bụi mù mịt cả một phương trời, ai thắng ai thua rõ ràng rành mạch mà không ai biết cả. Lại có người kể thêm rằng Bi Sún hai tay dụng Vĩnh Xuân mà cưỡng hiếp Thỏ Đói trước mặt hai vị, tình thế hết sức xót xa. Lại có sử gia nhân qua đấy chép lại rằng Thỏ không phải thua Bi đâu, mà là thua Vĩnh Xuân thủ pháp dùng nhu thắng Nhu đấy. Sự việc này đến giờ vẫn còn mờ mịt như ánh đèn nê ông, khúc mắc như đường Lê Lợi, thiết nghĩ cũng không đáng kể cụ thể làm gì.

Từ đấy, chim non hàng hàng, em chã lớp lớp, tất cả đều đi học bất kể là khiêu vũ võ thuật hay chụp ảnh phóng thanh. Thật là một nền thịnh trị bát quái[5] vậy.

Chỉ biết về sau Bạch Hạc thường hiện nguyên hình là con chim lớn mầu vàng mỡ gà lại trông như con gà, rồi bay thẳng về trời. Hậu thế bèn có thơ vịnh, viết ở trên gác hai cửa hàng phở gà nổi tiếng ở bờ hồ:



Gà vàng ruộm

Con gà vàng ruộm người chén mất
Để lại trơ xương vương vãi lầu,
Một lần làm thịt dù mất hẳn
Vài hôm nước luộc vẫn thơm lâu.
Cổ cánh dạ dày không tiếc rượu
Đầu mào chân cẳng chạy đi đâu,
Chiều tối say rồi, quê không nhớ
Ăn xong đánh giấc, hỏi ai sầu?


Chú thích:
[1] Bạch Hạc là tên một loài chim màu trắng ít lông thường sống ở hạ lưu sông Bàng, sông Cấm, lại có hai cái bướu khác mầu hình tròn vừa tay. Có người nhìn thấy, đặt ra bài vè Hạc đeo xu chiêng, chính là để chỉ tích này.
[2] Cổ nhân có câu: “Cao thủ nhiều người hơn nhiều người kém nhưng ít ai bằng”, dùng để chỉ bậc chân tu đắc đạo không bận tâm với đời.
[3] Đoạn này trên thì gián nhấm bỏ đi, ở giữa hương án dưới gì gì Xuân. Chúng tôi khôi phục lại được bốn chữ “Vĩnh Xuân quán”, còn lại ba chữ kia thì chịu không nhìn ra được.
[4] Đoạn này người dịch vì buồn ngủ mà quên mất năm sáu câu linh tinh khác cũng rất quan trọng.
[5] Có người dịch sang tiếng Việt là 8x, nhưng nguồn tin còn chưa được tiết lộ.
Hồ Chiêu Ngọc
05-09-05, 13:26
Thi phú liệt truyện

Internet năm Bính Mão bốn phương phẳng lặng fo rùm vững vàng. Phàm người hay chã đều có khứu thơ ca, cứ ba nhà lại có một nhà có người ngâm thơ, năm nhà lại có một nhà có người chép thơ, thật là một nền thịnh trị văn xuôi vậy.

Bấy giờ ở thành Thăng Long có viên công chức lãng tử, lúc sống là người hào phóng chặt chẽ rộng lượng xét nét duyên dáng xinh đẹp nên bằng hữu gọi là Phan An cho quen. Những lúc trước khi ăn cơm sau khi rửa bát chàng thú đọc sách ngâm thơ, lâu rồi thành quen, lấy làm thích chí lắm. Trong họ có chàng học sinh cấp hai chơi thân với bác ruột chị dâu chú hàng xóm cách 13 nhà đi qua thấy thế cả cười, rằng “Thằng bé năm 3 tuổi đã thuộc lòng Kinh Thi, năm 7 tuổi đã làm thơ ngâm phú, sau này chắc chắn sẽ trở thành người biết chữ.” Phan nghe thấy lấy làm ngạc nhiên lắm, bám theo gặng xin chàng học sinh đoán tương lai. Chàng chỉ cười nhạt, viết ba chữ vào ống tay áo của chính mình rồi lẳng lặng bỏ đi. Phan về tra Gú Gồ, ba chữ dịch ra tiếng Việt là “Que Sera, Sera”. Lấy làm thú vị lắm, liền chép lại sự tích này vào đáy chiếc bình cổ nhỏ đời Hiển Long nước Tân Ba Ba, rồi thả xuống sông Kinh Thầy xem sau này ra sao.

Năm sau thành phố tuyển nhân viên, chàng nhờ ông cậu kém mười hai tuổi làm đại phu khuân vác mà xin được một chân chưởng lý. So với lời người học sinh năm xưa, quả là không sai một chữ. Từ đó chàng bèn xếp việc công dịch, ra sức thảo phú ngâm thơ chờ ngày vinh quang.

Ngày băm hai tháng bẩy hàng tuần chàng tụ họp thi nhân viên chức ở đầu phố đi ị làm thơ[1]. Mỗi lần tập hợp lại chàng lại được gọi là Thi phú ông[2], thơ như suối chảy, suối chảy ra thơ, rất rất tâm đắc. Trong thành nhiều người phục lắm, hay tụ tập vào những chỗ khuất để trao nhau tác phẩm thi ca. Thảng hoặc còn phá lên cười khanh khách.

Tiếng tăm cao tít, chàng thường có mời những thi gia đắc đạo ở xóm trên thôn dưới đến giao hoan. Trên có Thổ Phỉ, Gỗ Mun, dưới có Ê Vìu, Thảo Nguyên[3]. Lại có khi đảo vị trí ngang dọc trước sau, văn thơ không cần cóp pết cũng chảy ra dầm dầm. Lấy làm thích thú lắm.

Ngày lẻ tháng bẩy, có viên thư lại mặt mày hùng dũng chí khí sảng khoái họ Năm tên Xu[4] nhân việc mới tìm đường lên núi hái rau vi[5] mà mời Thi phú ông cùng bằng hữu lên lầu I Lu ở phía bắc thành Thăng Long[6] uống rượu cho ngon. Khách khứa đến trăm người, ai cũng giỏi văn chương, rành thi phú, lên thang máy, xuống đi bộ.

Trong số đó, có cậu bé tên Cổ Nhuế tuổi chừng bốn mươi mặt mũi cổ quái hình dung tuấn tú, năm tám tuổi đã biết ăn bằng thìa, đến mười lăm tuổi đi học chỉ một tiết đã đánh vần ngược xuôi được chữ Văn theo ngữ pháp tiếng Việt. Năm mười sáu ngẫu nhiên học được tiếng Đức Cực Lợi, từ đó làm thơ viết văn vô cùng thành thạo, thật là trăm năm có một, có một không hai, không hai thì trăm.

Bấy giờ nhân tiện Thi phú ông họ Phan đang ngâm thơ, họ Cổ liền vểnh râu cười nhạt. Phan cho là lạ, gặng hỏi xin thơ. Người xung quanh đều xôn xao bàn tán, rằng họ Cổ chỉ là đứa trẻ ranh ngoài bốn mươi tuổi, lập nghiệp ở những phân cục nơi nào chứ không dàm làm thơ ở trong Thăng Long thành. Bèn nhất loạt đòi Cổ đọc thơ, hòng hiếp dâm tập thể từ sau lưng.

Cổ Nhuế đứng dậy, chỉ xá dài mà không lậy. Đoạn, gọi một bình nước chanh không đường, lại bảo phàm những nhà Cổ học nhất thiết phải uống nước chanh thì chí mới thú, khí mới phách, tinh mới thông, bấy giờ thơ mới ca. Năm Xu bèn vỗ tay gần hai cái, quả nhiên có người thiếu nữ khuôn mặt trái xoan ngâm rượu bẽn lẽn bưng ra cho Cổ một bình nước chanh không đường lại có vỏ phảng phất đâu đấy rồi lặng lẽ vào phòng trong mặc thêm chiếc áo lót mầu hồng có đăng ten.

Họ Cổ uống một hơi hết một thìa nước chanh, đoạn thắt lưng chặt lại cho bớt trung tiện rồi ngâm :


I Lu quán
Hồ Tây có quán tên I Lủ

Phan cười lớn, cho rằng thơ mà lại có vần thì không phải là thơ hay. Khách khứa nghe thấy thế cũng không bằng lòng, nhao nhao đòi Cổ Nhuế tự trả tiền nước chanh.

Bấy giờ chàng mới đặng hắng một hồi rồi bùi ngùi đọc tiếp:


Nhạc nhẹ leng keng với ca vũ.

Phan nín lặng, tuy trong bụng còn chưa coi Cổ ra gì những cũng cảm thấy mạch thơ của Cổ có nhiều phần sinh lý. Khách cũng có người buông đũa xuống bát, rút tay khỏi quần mà chăm chú nghe đọc thơ.

Cổ Nhuế đợi cho không khí lắng xuống tám, chín phần, từ trong ra ngoài duy chỉ nghe được tiếng ruồi bay gái rên. Đoạn hứng khởi đọc tiếp:


Ngoài phố xe hơi sớm sớm phi,
Rèm cuốn trai gái chiều chiều đú.

Phan nghe thấy toát mồ hôi, ngồi phịch xuống chiếc gối dài hình vuông. Trong đám tân khách có người phục lắm, buông ra ba tiếng ngáy đồng vọng.

Họ Cổ nhìn quanh, biết là chúng khách tuy có văn chưa có thơ, khả dĩ có chương vị tất có phú. Bèn làm cho xong cả bài để về sớm với vợ con :


Buồn tình giở ảnh ngày chu du
Hàng đổi di tinh được mấy thu.
Gác trên chủ quán đâu mà lại
Để nước đường chanh đếch hợp gu.[7]

Đoạn xắn nốt ống quần bên phải ra thang máy xuống tầng trệt lấy xe về nhà.

Về sau nhân có vị sử gia muốn câu bài mà chép lại nguyên vẹn bài thơ như thế này :


Hồ Tây có quán tên I Lủ
Nhạc nhẹ leng keng với ca vũ.
Ngoài phố xe hơi sớm sớm phi,
Rèm cuốn trai gái chiều chiều đú.
Buồn tình giở ảnh ngày chu du
Hàng đổi di tinh được mấy thu.
Gác trên chủ quán đâu mà lại
Để nước đường chanh đếch hợp gu.[7]


Bài thơ này ngẫu nhiên giống hệt với bài thơ ở trên, kể cả chấm phẩy chú thích, âu cũng là sự lạ ở trên đời này.

Bấy giờ, trên gác tân khách im phăng phắc[9], duy chỉ có Thi phú ông Phan An là vuốt mồ hôi từ trán xuống chân, rùng mình lảo đảo bước ra quầy trả tiền đi thẳng. Có văn nhân lấy làm lạ, lại gần chỗ Cổ Nhuế vẫn ị khi trước. Thì ra ở phía dưới có một chiếc bình cổ nhỏ niên hiệu Hiển Long nước Tân Ba Ba, lại còn nguyên mùi nước sông Kinh Thầy. Trong bình đã kể rõ chuyện xưa có vị học sinh cấp hai nhân tiện tiết lộ thiên cơ, lại kể ngày này, năm này, Phan An bị hiếp ra sao, Cổ Nhuế là người thế nào, lại có nguyên cả bài thơ I Lu quán ngẫu nhiên giống hệt với hai bài thơ ở trên, kể cả chấm phẩy chú thích, âu cũng là sự lạ ở trên đời này. Xem ra, họ Phan đến bấy giờ mới hiểu được thiên cơ là vậy.

Sau có người nói nhìn thấy chàng rao bán thơ ca ở đoạn giữa đường Nguyễn Du với Nguyễn Đình Chiểu, phong thái ung dung tự tại rất đáng yêu. Lại có người nói chàng bỏ mặc gia đình sự nghiệp để đi làm một nhà từ thiện to. Lại có người thấy chàng mang mũ áo của một nhà từ thiện to rao bán thơ ca ở đoạn giữa đường Nguyễn Du với Nguyễn Đình Chiểu[10]. Các vị cao nhân thân pháp bất phàm, thiết nghĩ cũng không cần khảo cứu thêm làm gì mà mất đi sự trong sáng của câu chuyện.

Lại nói, Cổ Nhuế uống nước chanh làm thơ nhanh, gây dựng uy danh lẫy lừng Thăng Long. Bèn nghĩ bụng, thơ xuất phát từ bụng, ị cũng phát từ bụng, tuy đã biết làm thơ, bất tất phải làm thơ. Liền tụ tập hơn nghìn hảo hán, ngày ngày đi dạo quanh kinh thành, phàm nhà nào có người đi ị liền xắn tay đến giúp, lại thu gom hầu hết sản phẩm về phân tích. Được hai năm, công danh đã thành, liền dâng biểu lên Trung Ương mua chức Phân cục trưởng cục Phân. Trung Ương chuẩn tấu, một mặt phong mảnh đất phía Tây cách thành hai mươi tầm dao quăng[8] làm đất ăn lộc của chàng, một mặt lại sai chấp bút quan là Gỗ Mun thảo một bài vè thất ngôn tứ tuyệt dài bốn trang dùng làm dụng cụ ca tụng công trạng họ Cổ. Bài vè ý tứ dứt khoát mạch lạc, lời lẽ uyển chuyển thâm thúy, nhất là có đoạn viết rằng:


Thanh niên Cổ Nhuế xin thề
Chưa đầy hai sọt chưa về quê hương.

Âu cũng là một áng văn thơ đặc sắc có tiếng thời bấy giờ.

Những lúc rỗi rãi Cổ Nhuế lại vào mạng phê bình văn học, cuộc sống cân bằng giữa văn học và phân cục thật hết sức sảng khoái. Từ bấy giờ, tại Thăng Long bĩ rồi lại thái, hối rồi lại minh[11], thơ rồi lại văn, ba nhà lại có một nhà văn nhỏ, năm nhà lại có một nhà văn to. Thật là một nền thịnh trị trào phúng vậy.[12]
Hồ Chiêu Ngọc
05-09-05, 13:26
Chú thích:
[1] Trong đám người này có ông Âu Dương Tu là thi nhân thời nhà Tống ở Trung Quốc, vẫn nhớ mãi ân đức của Phan An nên sau này nhân việc xây nhà xí hai ngăn bèn gọi việc đi ị làm thơ là hứng thú đệ tam của mình.
[2] Từ này chỉ liên quan đến hứng thú làm thơ, còn việc đi ị nhiều ít hay dở thế nào thì sau không thấy tài liệu nào nói đến. Chúng tôi phỏng đoán, người đời trước còn chưa quen làm việc này nên đã sơ ý bỏ quên theo dòng lịch sử chăng?
[3] Tất thảy đều là những tay cự phách, sau này thành danh mỗi người tự viết một tự liệt truyện về người khác, có khi còn được xuất bản ra làm ba, bốn bản cùng một lúc, khí độ cứng cỏi văn chương hào nhoáng nên cũng không cần kể thêm ra ở đây làm gì.
[4] Xem thêm Năm Xu liệt truyện, trang 5 đến 15, bản khổ A4 vừa gọn trong lòng bàn tay cô gái ít lông, vốn cũng là một truyện đa phần trong tâm thức người đọc chứ chưa được viết ra bao giờ.
[5] Dân gian có thơ “Di Tề không ăn gạo nhà Chu[5.1], Năm Xu không uống nước đu đủ. Di Tề chết đói núi Thú Dương, Năm Xu lăn quay quán I Lủ.”, chính là chỉ sự tích thiếu gạo lên ILU này vậy.
[5.1] Bác Di, Chú Tề vì nhà Chu lên thay nhà Ân mà bị béo phì mất mấy hôm, bèn đồng tâm quyết chí bỏ không ăn gạo nhà Chu rồi lên núi Thú Dương hái rau vi ăn cho có chất xơ. Về sau có người Thăng Long xấu xí đi qua than rằng, gạo nhà Chu có chất dinh dưỡng, không lẽ rau vi không có chất dinh dưỡng ư? Di Tề nghe vậy liền bỏ cả rau vi mà chết đói trên núi, hưởng thọ trăm tuổi, mỗi người năm mươi.
[6] Khi xưa ở Trung Quốc có Đằng Vương Đường Cát dựng nên chính lầu này, phong cảnh sông hồ cây cỏ rất hùng vĩ nên về sau không dùng để làm gì.
[7] Sau này có nhà thơ già đời Đường tên Vương Bột nhân học được ngoại ngữ là tiếng Hán Nôm mà sao chép lại bài thơ này vào bộ Đường Thi ba trăm bài theo lối ký tự tượng hình. Thơ rằng:


Đằng Vương cao các lâm giang chử,
Bội ngọc minh loan bãi ca vũ.
Họa đống triêu phi Nam phố vân,
Châu liêm mộ quyển Tây sơn vũ.
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,
Vật hoán tinh di kỷ độ thu.
Các trung đế tử kim hà tại?
Hạm ngoại trường giang không tự lưu.


Người đời thích lắm, không khen không chê. Về sau nhân năm hai mươi bảy tuổi Vương đi thuyền xuống phương Nam thăm cha mà chết béng mất. Thiết nghĩ, chuyện người tài chép thơ gặp hoạn âu cũng là thói đời ngang ngược, không có gì đáng kể tỉ mỉ.
[8] Có người không biết, cho rằng một tầm dao quăng bằng một cây số Tây. Hóa ra đếch phải.
[9] Chữ “phắc” gốc có bộ âm bên cạnh chữ dương nghĩa là dê. Người đời sau không biết, khi biên soạn lại chép nhầm thành chữ phắc tiếng Anh, chúng tôi cho là không có căn cứ. Nay trình bày thêm để bạn đọc được tự suy xét.
[10] Sách Chung Đụng có câu “Phi thương bất phú”, chỉ sự cần thiết phải biết thương người mới làm được thi phú. Phải chăng chàng họ Phan đọc sách mà hiểu đại ra như thế ư?
[11] Hai câu ngắn này ý tứ sâu sắc, người viết vốn dĩ không hiểu nên đưa vào cho duyên.
[12] Chúng tôi nghi ngờ truyện này chắc chắn được sao chép lại từ chuyện ngoài thành Thăng Long thuở xưa. Lại có bậc trí giả mách lẻo rằng truyện này đã được xuất bản năm năm sau mất rồi. Ngặt một nỗi thiếu người đứng ra tố cáo nên chúng tôi vẫn phải đăng truyện ở đây. Kính mong các độc giả tinh mắt to ngực lượng thứ.
Hồ Chiêu Ngọc
30-10-05, 00:34
Đọc sách liệt truyện

Internet năm Đinh Thìn đại loạn, pho rùm nổi lên bốn phương, phàm hễ có hai admin và một con vịt là lập thành pho rùm, chinh chiến yêu đương, thôn tính chia rẽ, khiêm tốn ngạo mạn sạch sẽ nhầy nhụa không thừa không thiếu. Bấy giờ nhà nhà gia nhập mạng, lớp lớp lên pho rùm, phi loại học giả đít xanh không ai ngó ngàng đến sách vở gì, thật là phong độ một nền thịnh trị bốn phương cùng choảng hai chân vững vàng.

Bấy giờ có nhà gian hùng thời loạn là Tào Sên nhờ có chút tài lẻ cầm quân trị nước mà dẫn hơn hai mươi admin đánh đông dẹp bắc, phất cờ Phò Vương, lập nên cơ nghiệp Thăng Long, đóng đô lại cũng chính là ở Thăng Long, lại đặt hiệu cũng là Thăng Long. Bèn lấy làm đắc chí, ngày đêm ăn chơi hưởng lạc vào mạng làm thơ chứ tuyệt nhiên không động gì đến chính sự.

Ở phương Tây Nam có đất Ích Châu, còn gọi là đất Thục, do Ích Châu Mục Lưu Ích Châu cai quản. Ích Châu phong thái hung bạo mà bản tính lại hiền thảo, khiêm nhường mà ngoan, cứng rắn mà yếu, phạt nhiều tội mà không nặng, thưởng ít người lại nhiều tiền, quần thần thấy thế không nói gì. Ích Châu lại không có sừng gì cả nên có nhiều người không phục, thường nhân lúc người không để ý mà vật ngửa ra làm trò đồi trụy cho đỡ buồn. Dưới quyền có vị quan Biệt Giá chức không to không nhỏ người không béo không gầy mặt mũi phi thường hình thù cổ quái nhìn nhiều không chán, lại có tên gọi là Trương Năm Xu, vốn là người có chí lớn mong tiến thân với minh chủ mà ngày ngày vẫn phải đi mua ô mai cho Châu thì trong lòng lấy làm khoan khoái bất yên. Bèn tìm cách xuất ngoại.

Tháng sáu năm đó có điềm lạ, mặt trời buổi trưa nắng nóng mà đến chiều tối đột nhiên lại biến đi đâu mất, mà đến sáng hôm sau lại hiện ra, cứ thế ba bốn ngày liền. Lại có loài giun không có chân suốt ngày chỉ nằm trong đất nên không ai nhìn thấy, không biết là loài giun gì có mấy chân. Có Ích Chấm là chủ đất Hán Trung cứ buổi trưa lại bị da thịt đàn bà mười sáu, mười bảy tuổi ấp ủ tứ phía nóng quá không tài nào chịu được, mới bất đắc dĩ cất quân thôn tính Ích Châu.

Châu giật mình, đang ăn hai quả trứng lộn có lông vội quệt mép mặc quần gọi quần thần vào định kế chống giặc. Năm Xu thấy có dịp hiến thân tiến nghiệp bèn dâng bản tấu dài nội dung miên man[1]. Châu đọc hiểu ngay, phái Năm Xu xuất sư lên Thăng Long tìm đường cứu nước, lại khảng khái trợ cấp mười hai đồng bạc trắng và một con gà trống thiến để vừa đi đường vừa hỏi chuyện vừa đánh thức vừa ăn thừa cho Năm Xu dọc đường. Năm Xu đã chuẩn bị sẵn cả một tập bản đồ ba phe bốn mâu thuẫn đặng dâng lên Sên Phò lập công.

Năm Xu đẩy xe đạp tuyết đến Thăng Long, ngày ngày đứng đợi ngoài cửa từ tám giờ sang đến tám giờ tối, đoạn về nhà ngủ trưa cho khỏe. Hiềm một nỗi Sên Phò bấy giờ mới dẹp xong loạn Mã Sất ở Lũng Tây[2], thân thể khỏe mạnh tinh thần cường tráng, lấy làm tự đắc lắm nên cứ sáng ngủ dậy lại quên tên Năm Xu. Chàng nổi tâm địa tự ái, mới tìm bằng được loại dây thun lun tun là loại dây mỏng hình ống mầu vàng mỡ gà dài bằng cái chân con gà đực lông ngũ sắc, đoạn buộc kín dương cụ của mình lại để chừa không đi chơi thêm thanh lâu kỹ viện nào ở Thăng Long nữa[3]. Rồi nằng nặc mật thư đòi gặp Sên.

Sên giữ lễ cứ thế quên tiệt. Sau vì có hôm đại tiện không được thanh thản mà bất giác thốt ra lời “ự” ưng thuận, phải bất đắc dĩ triệu Xu lên nhà chơi. Lại nhìn thấy Xu mặt mày nhăn nhúm ở phía trán, trên đỉnh đầu thì có đầy lông cứng mầu đen như tóc mà hai lỗ mũi nhìn vào lại cùng có mầu đen giản dị đồng chất, liền không ưng gì lắm. Hỏi bâng quơ, coi thường người ở xứ xa xôi man di chưa chắc đã học hành sách vở gì nhiều. Lại vặn vẹo sao Ích Châu không tự cạo đỉnh đầu quỳ gối xin hàng thân đến thuần phục. Bấy giờ Năm Xu mới cứng cỏi lén giở đáp án giấu trong lớp quần lót thứ nhất ra mà trả lời, rằng Internet vẫn còn loạn lạc liên miên, chẳng cứ gì đất Thục mà ngay đến Gấu già cũng không phục, còn bàn luận nhiều lời làm gì. Sên giận tím mặt, mắng ngay hai phát bằng tay, lúc bấy giờ mới ị được. Lại kêu admin hai bên mang Xu ra treo lên cột điện ngay.

Bấy giờ ở ngoài Diễn đàn chung có người chạy lại kêu “Không nên!” Đoạn nói:

- Xu là người ở xa đến, lại là sứ thần Ích Châu, chúa công treo hắn lên thì thiên hạ đổ xô nhau làm theo để được tiếng bài viết tắm bể bơi, tấm thân treo cột điện. Lúc đó Thăng Long nguy mất. Chi bằng để thần dùng tài hùng biện của mình mà hiếp dâm hắn đi cho nức tiếng thơm Thăng Long.

Chúng nhìn lại, thì ra, là quan, tòng sự, mặc áo lông trắng, họ Dương, tên Tu, tài cao học rộng, đôi tai nhọn dài hơn người, lại có biệt tài vừa làm ngựa vừa làm lừa mà đồng liêu mới yêu quý gọi là La. A Tu La khuyên nhủ một hồi lâu, Sên nguôi giận ngay lập tức, truyền cho Xu ra ngoài chơi chun với Tu La cho ngoan, đoạn cứ thế không mặc quần áo gì mà vào nhà trong.

Lại nói A Tu La dẫn Năm Xu vào thư viện cùng nhau chơi chun. Đoạn trách Năm Xu không biết nói năng lễ nghĩa làm thỏa mãn đức độ hào hoa của Sên. Lại hỏi nhân tình thế thái đất Thục, tướng giỏi thì đặt tên là gì, văn hay thì đặt tên là gì, món ngon thì đặt tên là gì, gái đẹp thì đặt tên là gì. Xu cười nhạt, câu nào cũng trả lời ngay ngắn gọn gàng, phía ngoài miệng lại có chiếc răng không biết để vào đâu nên đâm bừa ra khỏi môi dưới cho duyên. Vặn lại La:

- Người xem ra trí tuệ đĩnh đạc thông minh xuất chúng, sao không bán văn nuôi miệng mà lại cun cút hầu hạ Phò Vương nơi Thăng Long văn vật?

Tu La rằng:

- Nguơi ở xa đến, hẳn chưa biết được trí tuệ quảng đại ý tứ sâu sắc của Phò Vương. Mà ta ở đây cũng chưa biết[4].

Đoạn thò tay vào ca táp rút ra một cuốn sách dầy bằng miếng thịt bò bít tết ở mấu mông nướng vừa tái tới cắt ra ở giữa còn một chút nước thịt hồng hồng, lại bọc bằng da con dê đen râu trắng thường uống nước ở nhánh suối bên tả dưới chân núi Tản về sau bị làm thịt vì béo, bên trong có loại giấy mầu trắng vàng thơm mùi thảo nguyên Nội Mông không có trang nào dính vào trang nào, kể cả hai trang ở cạnh nhau. Trong lại có rất nhiều chữ, có chữ lại viết hoa, mỗi trang chữ nghĩa rải một mạch từ đầu trang đến cuối trang, lại phảng phất có dấu chấm phẩy, mà không có trang nào giống trang nào. Người ngoài nhìn vào cứ tưởng là một cuốn sách. Trên bìa cuốn sách đề rõ “Sên Phò Dâm Thư”, bàn về mưu lược cầm quân đánh đông dẹp bắc chinh phạt trị an, toàn chuyện tưởng tượng hết sức lý thú.

Bấy giờ Năm Xu đỡ lấy, giở qua loa một tuần là thuộc lòng, đoạn đưa lại cho Tu La mà bảo:

- Ngươi bảo đây là kiệt tác Sên Phò tạc dựng mà ra à? Đây thực chỉ là sách của kẻ vô danh trước công nguyên, Phò Vương lấy về dịch ẩu rồi nhận bừa một phát. Sách này loại trẻ con ăn bánh đa đi giầy ba ta ở nước Thục cũng thuộc, không nói đến ta.

Đoạn ngả lưng xuống đọc lại vanh vách cuốn sách liền từ trang đầu đến trang cuối, mạch lạc khoan thai, uyển chuyển hùng hổ, mà tiệt không có câu nào giống với sách của Sên cả. Tu La thấy thế phục lắm.

Liền lẻn về tấu lại với Sên, hỏi sao không nhận Xu về làm chân rửa rau lau nhà. Sên trả lời khinh khỉnh, rằng hạng người này tên họ bất minh, lông mày rậm hơn râu mà mặt mày lại nhăn nhúm ở phía trán, thuộc họ dân man di biết đi, nhất là trên đỉnh đầu lại có thứ lông cứng mầu đen giống hệt như tóc, nhất quyết trí tuệ không được liệt vào hạng nhân tài tốt nghiệp cấp hai. Tu La mới phân trần trắng đen chuyện tại sao khi xưa Mặc Tử viết bằng mực đen, mà Quan Vân Trường thì mặt lại đỏ, đại loại lời lẽ phức tạp tiệt không liên quan gì đến Năm Xu cả, Sên nghe rất vừa lòng. Lại thuật chuyện Năm Xu ngồi dựa lưng vào hành lang mà cũng đọc thuộc lòng sách “Sên Phò Dâm Thư” không đúng chữ nào, lại bảo đấy là sách của kẻ vô danh trước công nguyên truyền đến trẻ con ăn bánh đa đi giầy ba ta. Sên bấy giờ gãi đỉnh đầu mà chửi cố nhân vô danh trước công nguyên không biết giữ bí mật để lộ ra cho cả trẻ con ăn bánh đa đi giầy ba ta. Nói đoạn bèn sai đốt cuốn “Sên Phò Dâm Thư”[5]. Lại khiến Tu La mật thư mời Năm Xu ngày hôm sau ra xem duyệt binh ở tận Long Tuyển cho khiếp sợ mà chết quách đi.

Sáng sớm hôm sau Năm Xu y hẹn ra xem Sên Phò dẫn hơn hai mươi admin duyệt binh trùng trùng điệp điệp ở Long Tuyển, từ đầu này đến đầu kia ngựa phi nước đại cũng mất ba ki lô mét, phi nước kiệu cũng phải mất xấp xỉ từng đấy, mà đi bộ thì thật không ai biết xa gần thế nào. Sên Phò cưỡi ngựa thổi còi duyệt binh mệt phờ, thở hắt ra mãn nguyện mà lườm nhìn Năm Xu hỏi đã từng thấy binh mã hùng hậu hàng họ phấp phới thế này bao giờ chưa. Xu thủng thẳng trả lời:

- Chưa từng thấy. Đất Thục chỉ trị nước bằng rượu thịt, bất tất phải động binh đao.

Sên giận lắm, lại hỏi mày bị tao dọa ba phen bốn bận trên diễn đàn thế này đã chết khiếp trước uy tao chưa. Xu đặng hắng nói tưng tửng:

- Uy của Đại Vương tại hạ biết quá rõ. “Sên Phò Dâm Thư” danh khắp thiên hạ, Đại Vương nhờ sách mà khi xưa phá Kít Man ở Bộc Dương, đánh Bất Sầu ở Uyển Thành, bến Xích Bích thắng Bẩy Ruồi, đường Hoa Dung hạ Lưu Gấu, gần đây rứt râu xé áo ải Đồng Quan, cướp quần che trim sông Vị Thủy, đều là uy vũ đệ nhất cả.

Sên cả giận, đoán rằng đây thực ra toàn là những điểm xấu của mình chứ không tốt đẹp gì. Liền quát đem Xu ra bêu sọ trên cột điện, quẳng xác xuống bể bơi. Quần thần xúm lại can, Xu mới thoát khỏi tội chết, chỉ bị cưỡng hiếp sơ sơ bằng con ngựa kéo cối xay lúa lông đen.

Xu về lữ quán giận lắm, tự nhủ mình mang thân đến hiến, đâu ngờ lại bị cưỡng hiếp không công bằng. Bèn nghĩ, chi bằng trên đường về rẽ qua làm chén nước tiện tay dâng bản đồ cho Lưu Gấu. Đoạn ngay đêm đó một mình một ngựa không quản đau mông[6] rời Thăng Long về thành Thanh Niên ở Kinh Châu tìm Lưu Gấu.

Lại nói Lưu Gấu ở Thanh Niên tả hữu có quân sư là Thỏ Đói, Hấp Nét, vì đất Kinh Châu chật hẹp không làm được nhà vệ sinh riêng nên vẫn có ý thôn tính thêm Ích Châu, mà chưa nghĩ ra tại sao. Nay nghe nói Năm Xu lên đường đến Thăng Long hiến thân cho Sên, đoán rằng Ích Châu sẽ bị Tào Sên cướp mất, lấy làm day dứt luyến tiếc lắm. Đến khi nghe tin Sên không nghe Năm Xu nói mà chỉ thích cưỡng bức thì muôn phần cao hứng, sai liền ba viên hổ tướng ra đón đường cung kính mời Năm Xu vào uống nước ăn thịt luộc.

Năm Xu cảm động nhận lời, trong bụng có ý tiếc không sang chầu Gấu trước. Bèn trước mặt chàng tuôn lời hoa mỹ ca ngợi dòng dõi danh giá công trạng hiển hách. Đoạn lại ngậm ngùi kể chuyện mình bị cưỡng bức không công bằng chỉ vì trot đọc đâu nhớ đấy. Gấu mừng lắm, một tay vỗ bụng cười hả hả một tay đáp lễ ca ngợi tài năng đức độ Năm Xu một tay lần vào quần trong xoa mông Năm Xu cho bớt đau. Lại truyền cho quân sư Thỏ Đói, Hấp Nét từ hậu cung bước ra mời rượu Năm Xu, cung kính lung liếng làn thu thủy nét xuân ba hết sức lý thú. Năm Xu liền yên tâm ở lại Thanh Niên tìm hiểu.

Gấu thu xếp cho Xu vào nhà khách rồi quay lại phủ. Chợt có cá nhân mật báo rằng Năm Xu từ nhỏ thích đọc thuộc lòng sách, mỗi lần có sách trong có nhiều chữ thì hứng thú tột đỉnh, đang buổi trưa nắng cũng nhất quyết phải ra nhà xí đọc bằng được rồi mới chịu đi ị. Lưu Gấu mới bàn khẽ với quân sư họ Thỏ, họ Hấp, đoạn khiến Thỏ Đói nửa đêm lẻn[7] đến khách sạn gõ cửa phòng vệ sinh xin diện kiến Năm Xu. Năm Xu nghe nói đến cuốn “Thỏ Hầu Tinh Thư”[8] thì lấy làm mừng lắm, liền cùng tác giả ân ái nhiều giờ liền, lại đem câu chữ ra ngâm nga rất hứng thú. Đến khi đêm tàn, Thỏ ôm giầy luồn về, Xu tiễn ra cửa lại buột miệng tiết lộ cuốn “Tinh Thư” thực chỉ là sách của kẻ vô danh trước công nguyên, Thỏ lấy về dịch ẩu rồi nhận bừa một phát. Sách này loại trẻ con ăn bánh đa đi giầy ba ta ở nước Thục cũng thuộc, mà Xu cũng thuộc. Thỏ cả cười, vỗ lưng dưới Năm Xu mà ngâm rằng:

-

Sách hay thể hiện tâm hồn
Người xưa hẳn cũng có lòng như ta.
Xá gì sách đứng tên ai,
Xá gì người viết có tài hay không.
Của ta cũng giống của ông,
Miễn rằng trong ấy có luận là mừng.[9]

Năm Xu giật mình, chắp tay vái ba vái mà rằng:

- Lời lẽ của ngài quả là không sai không đúng, tiểu bối muôn phần bội phục. Ý rộng ở ngụ ngôn, đọc sách phải ở lòng. Phàm các loại sách lớn nhỏ trên đời, cứ có lòng ở trong là được, không cần câu nệ nguồn gốc mầu da mùi vị phẩm chất.

Rồi bỏ tay ra cho Thỏ kéo quần đi về.

Năm Xu gặp được Lưu Gấu, Thỏ Đói, mới quyết chí vì nước hiến đất, dâng cho Gấu bộ bản đồ 3D núi non trùng điệp chỗ thì có cây cỏ chỗ thì chỉ toàn là hình vẽ, trải dài từ ranh giới với Kinh Châu cho đến rừng hoang nước độc của người dân tộc Man hay ăn con cá da trơn luồn khe lách suối. Gấu xem xong mừng lắm, khiến Năm Xu về Ích Châu thu xếp trước, hẹn ngày tái ngộ. Lại khiến Năm Xu tìm thêm nhân tài tốt nghiệp cấp hai giúp rập cho công mau thành danh mau toại. Năm Xu chắp tay tạ từ, đoạn lại nước mắt ngắn dài âu yếm từ biệt Thỏ Đói. Rồi quay lưng lững thững cưỡi bò về thẳng Ích Châu.

Về sau quả nhiên Lưu Gấu làm theo sách “Thỏ Hầu Tinh Thư”, lại sử dụng đám nội gián của Năm Xu mà bình Ích Châu thành công, nhậm chức Ích Châu Mục. Có điều khi hành sự có phần chần chừ, để cho người anh ruột khác cha khác mẹ của Trương Năm Xu phát hiện mật báo cho Lưu Ích Châu, làm cho Ích Châu xóa béng mất nick Năm Xu, lại đặt bừa phục binh giết luôn nick của quân sư Hấp Nét. Phải đến khi Thỏ Đói tự mình đem thân ra dấn thì sự nghiệp mới thành. Thỏ một tay gây dựng cơ đồ, lại để lại cuốn “Thỏ Hầu Tinh Thư” cho hậu thế sao chép, nhưng được gần hai đời thì thất truyền mất.

Lưu Gấu chiếm được Ích Châu, đủ lông đủ cánh, quay giáo đối diện với Tào Sên, dùng sách cũ của người thời cổ đại mà thắng Sên với Ích Chấm ở Hán Trung. Bấy giờ Dương Tu La cậy tài tâm lý hơn người, biết ý Tào Sên muốn rút quần cố thủ mới truyền khẩu lệnh Gân Gà, liền tự mình cho quần ra trước. Sên cả giận, truyền treo cả nick lẫn IP.[10]

Nhân tài học hết cấp hai như La với Xu kết cục như vậy âu cũng là bạc mệnh vậy!

Sau này có ông Tôn Vũ sống ở thời trước, đọc được hai cuốn sách của Tào Sên với Thỏ Đói, thấy cuốn này khác cuốn kia mà cuôn kia cũng không giống cuốn này, mới chế lại thành tuyệt tác lưu truyền nhiều đời, đặt tên là “Tôn Tử Binh Pháp”. Lại giống hệt cả sách của Thỏ lẫn sách của Sên. Đến khi các nhà sử học hiện đại khai quật di chứng lịch sử mới vỡ lẽ ra rằng không biết Thỏ có thật, Sên có thật hay Tôn có thật, sách chắc chắn không biết ai viết, mà nội dung lý luận tài hoa phong phú, cũng gọi là cuốn sách có lòng vậy.

Lại nói Lưu Gấu nhân lợi dụng Năm Xu mà chiếm đoạt được Ích Châu, thanh thế mạnh mẽ. Bấy giờ pho rùm ít dần, pho rùm lớn nuốt pho rùm bé, pho rùm yếu theo pho rùm mạnh, không phải cứ một con vịt với hai admin là lập quốc xưng vương. Người đời bèn lấy làm vui, dần dần chuyển sang đọc sách luận văn. Nhà nhà đóng tủ sách, lớp lớp ngâm văn chương, thật là phong độ của một thị trường nóng hổi.
Hồ Chiêu Ngọc
30-10-05, 00:35
Chú thích:
[1] Bản tấu nay còn giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật, không có người nào đọc được mà lại chẳng có ai hiểu gì.
[2] Mã Sất là con nhà dòng dõi, phụ thân nhân có việc phải nói linh tinh liền bị Sên ngứa mắt xóa luôn nick. Bèn cùng với gần chục nội tâm khác nhau khởi binh báo thù, đánh thốc đến sát nách Phò Vương, chiến công có phần hiển hách [2.1]. Sau bị Sên dùng kế sửa mật thư nửa úp nửa mở mà ly gián, khiến những nội tâm Mã Sất nghi ngờ mà sát hại lẫn nhau, cuối cùng bị Sên dồn binh đuổi đánh mấy lần áo quần tan tác thân xác bơ phờ. Cùng đường về với Ích Chấm ở Hán Trung, sau lại bỏ Chấm mà theo về với Lưu Gấu. Đại loại toàn là những chuyện thú vị mà lại không liên quan gì, nên người đọc người kể nên quên tiệt hết sạch.
[2.1] Xin độc giả tự bỏ tiền tìm sách thuê người đọc sự tích Tào Sên rứt râu xé áo ải Đồng Quan, cướp quần che trim sông Vị Thủy, vốn cũng là để chỉ chiến dịch phản Sên phục Long này.
[3] Đoạn này cổ thư giải thích không được rõ. Chúng tôi có đối chiếu với môn giải phẫu học thân thể cường tráng mà phỏng đoán rằng người xưa chỉ khi chạy mới cần dùng đôi chân như chúng ta ngày nay, còn bình thường đi bộ bằng dương cụ, nên mỗi lần gói lại đi lại khó khăn mới không phải mất tập trung lang thang nơi hoa lệ chăng.
[4] Nhân vật ở đây cứ vận theo phép khiêm tốn mà tính. Phép này đại loại chỉ dẫn phàm chủ cứ chê khách một câu nặng thì kèm theo đó lại tự chê mình một câu nhẹ, chê khách hai câu nặng thì kèm theo đó tự chê mình một câu nặng, rồi phải lăn ra cười bò. Chi tiết thế nào, đến nay đã thất truyền.
[5] Cuốn sách này quả thực là của Sên Phò bịa ra, chẳng qua Năm Xu nói bậy để lừa cho vui, không ngờ vì vạ miệng mà từ bấy giờ cuốn sách bị thất truyền vì đốt. Khi biên tập lại truyện này chúng tôi đã cố tìm kiếm, mà xem ra vô vọng.
[6] Theo người xưa mông là chỗ tích tụ tinh hoa cốt cách của con người, vì thế mà xương mới không mọc ra được như ở loài thú có đuôi. Đau mông, nghĩa là phẩm cách và tinh thần bị tổn thương đặc biệt. Chúng tôi phỏng đoán mơ hồ rằng việc này có liên quan đến việc nhân vật bị cưỡng hiếp bằng ngựa. Diễn giải như vậy tuy là cần rất nhiều suy luận, song cũng có điểm hợp lý.
[7] Đối với bậc chính nhân quân tử cứu nhân độ thế nhân tài tái thế nhất quyết không thể dùng một từ “lẻn” mà diễn tả hết được. Đoạn này chúng tôi đồ rằng có sự nhầm lẫn trong nguyên bản chăng; hoặc giả người viết tùy tiện thêm bớt chỉ cốt chọn từ cho đúng ngữ pháp mà quên mất thanh thế sự nghiệp. Cũng có giả thuyết trước tác vốn không phải vậy, mà là hậu thế nghịch cát sửa bừa. Xem ra không có giả thuyết nào hoàn chỉnh. Chúng tôi chiếu theo nguyên tắc, cứ thế giữ đúng như nguyên bản.
[8] Sách của Thỏ Đói nhiều vô kể, dải lần lượt ra trên đường Lê Lợi phàm người bình thường đi dọc theo sách từ năm mười tuổi đến năm hai mươi tuổi mới hết, còn chã thì thực không biết tốn bao nhiêu lâu. Trong đó thảng hoặc lại có sách do chính Thỏ tự nghĩ ra, ngôn từ văn hoa lời lẽ bay bổng thật không khác gì những cuốn khác cả.
[9] Bài thơ này Thỏ không xuất bản bao giờ nên không ai đọc được cả, là do biên tập viên dựa vào bằng chứng gián tiếp về thân thế con người mà dựng thành. Nếu có đúng như in với bài thơ gốc thì xin độc giả thông cảm.
[10] Có sử gia tiên đoán rằng Tu La tinh hoa phát tiết sớm, Tào Sên vốn không ưa từ lâu, nay chỉ là mượn cớ để treo nick cho nhẹ nợ. Chúng tôi kiểm tra lại sổ sách thì thấy là không có căn cứ. Âu cũng là những hoa ngôn về tương lai của các loại lịch sử viên vậy.
Truyện này được viết theo tích Trương Tùng phụng mệnh Lưu Chương sang sứ Tào Tháo trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, vốn là truyện có thật trong tưởng tượng của tác giả La Quán Trung, lại có thêm thắt bằng đo đạc thực tế xã hội bấy giờ cùng với những suy luận có lý dạng giản đơn của người viết. Chúng tôi chân thành cảm ơn các bên liên quan đã cung cấp dẫn chứng; mọi sai lầm còn sót lại hoàn toàn thuộc về trách nhiệm người viết. Truyện viết ra để đăng lên mạng, nếu không có khả năng xin không suy đoán vượt quá nội dung câu chữ.
Naruto
30-10-05, 01:24
Truyện lưu lạc giang hồ nay được sự đồng ý của 4 Mã nên copy và paste trọn bộ về Thăng Long. Trâu (Hán tự vẫn dùng là Hà Mã) lại về Hợp Phố. (Lời người copy & paste)



Hẹ hẹ... Giật gân nhể!