Nhân định thắng thiên?

Gaup
01-09-05, 04:56
NHÂN ĐỊNH THẮNG THIÊN?
CÂU CHUYỆN DIỆU KỲ VỀ RỦI RO VÀ CƠ HỘI
BY PETER BERNSTEIN


Mục lục

Vài lời phi lộ
Dẫn nhập

TỚI NĂM 1200:
NHỮNG BƯỚC KHỞI ĐẦU

1. Gió của người Hy Lạp và vai trò của con xúc xắc
2. Dễ như I, II, III

THỜI KỲ 1200 - 1700
MỘT NGÀN SỰ KIỆN HUY HOÀNG

3. Tay cờ bạc thời Phục Hưng
4. Mối liên kết Pháp
5. Những ý tưởng kỳ diệu của Kỳ diệu Ý tưởng Nhân

THỜI KỲ 1700 - 1900
SO ĐO BẤT TẬN

6. Suy tưởng về bản chất con người
7. Truy tầm bất biến đạo đức
8. Tối thượng luật về tính bất khả tư biện
9. Người đàn ông óc nứt
10. Quả đậu và hiểm nguy
11. Tấm vải dệt bằng hạnh phúc

THỜI KỲ 1900 - 1960
NHỮNG ĐÁM MÂY ĐEN CỦA SỰ MƠ HỒ VÀ NHU CẦU ĐẠT ĐƯỢC ĐỘ CHÍNH XÁC CAO HƠN

12. Đo lường sự tăm tối của chúng ta
13. Ý tưởng khác biệt cấp tiến
14. Người đếm mọi thứ ngoại trừ các calorie
15. Câu chuyện lạ lùng về tay môi giới chứng khoán vô danh

NHỮNG CẤP ĐỘ CỦA NIỀM TIN:
KHÁM PHÁ SỰ BẤT ĐỊNH

16. Sự thất bại của tính bất biến
17. Cảnh sát Lý thuyết
18. Hệ thống đặt cược bên ngoài tuyệt vời
19. Sự hoang dại nằm chờ


Ghi chú
Tham khảo
Dẫn chiếu Tên
Dẫn chiếu Chủ đề

[Các tựa đề có thể sẽ thay đổi trong thời gian dịch]
Gaup
01-09-05, 06:58
[Phần Vài lời phi lộ sẽ dịch sau cùng]


Dẫn nhập

Điều gì chính là sự khác biệt giữa hàng ngàn năm lịch sử và thời gian mà chúng ta gọi là thời hiện đại? Câu trả lời không chỉ đơn thuần là tiến bộ trong khoa học, công nghệ, chủ nghĩa tư bản hay nền dân chủ.

Quá khứ xa xôi mang trong mình vô khối những nhà khoa học, nhà toán học, nhà phát minh, nhà công nghệ, và những triết gia chính trị học xuất sắc. Bầu trời đã được họa đồ, thư viện vĩ đại ở Alexandria đã được xây, và hình học Euclid đã được giảng dạy hàng trăm năm trước khi Jesus Christ ra đời. Thời đó, nhu cầu về các phát kiến công nghệ để phục vụ chiến tranh cũng cao không kém gì ngày nay. Than đá, dầu lửa, sắt và đồng đã phục vụ loài người hàng ngàn năm, đồng thời việc đi lại và giao lưu đã đánh dấu những bước khởi đầu của nền văn minh mà đến nay chúng ta còn lưu dấu được.

Ý tưởng cách mạng định hình lằn ranh giới giữa thời hiện đại và quá khứ chính là khả năng kiểm soát và làm chủ rủi ro hay sự nhận thức được rằng tương lai không chỉ đơn giản là ý thích nhất thời của thần thánh và con người ta không bị động trước tự nhiên. Cho tới khi loài người khám phá ra một con đường để vượt qua lằn ranh giới đó thì tương lai chẳng qua vẫn chỉ là một tấm gương phản chiếu quá khứ hay là lãnh địa u minh của các nhà tiên tri và bọn thầy bói, những người nắm giữ độc quyền kiến thức về những sự kiện người ta chờ đợi.

Cuốn sách này kể câu chuyện về một nhóm các nhà tư tưởng, những người có tầm nhìn xuất sắc giúp phát lộ ra cách có thể kéo tương lai lại phục vụ cho hiện tại. Thông qua việc chỉ cho thế giới cách thông hiểu rủi ro, đo lường nó, và cân nhắc những hậu quả của nó, những nhà tư tưởng này đã chuyển đổi việc chấp nhận rủi ro [risk-taking] thành một trong những chất xúc tác hàng đầu định hướng cho xã hội Tây phương hiện đại. Cũng giống như Thần Prometheus [Thần lửa Prô-mê-tê trong thần thoại Hy lạp], họ đã dám thách thức lại các thánh thần và rồi lần mò trong bóng tối để tìm ra ánh sáng có thể giúp biến đổi tương lai từ kẻ thù thành cơ hội. Thay đổi trong thái độ đối với việc quản lý rủi ro có được nhờ các thành tựu của họ đã giúp chuyển hóa sự say mê của con người đối với các trò chơi và môn cá cược thành tăng trưởng kinh tế, chất lượng sống được cải thiện, và tiến bộ công nghệ.

Thông qua việc hoạch định một quy trình duy lý để chấp nhận rủi ro, những nhà phát kiến này đã cung cấp thành tố trước đây còn thiếu để giúp thúc đẩy khoa học và kinh doanh tiến nhanh vào thế giới của tốc độ, năng lực, truyền thông tức thời, và ngành tài chính tinh vi, một thế giới định hình thời đại của chúng ta. Những phát hiện của họ về bản chất của rủi ro, và môn nghệ thuật đồng thời là ngành khoa học của các lựa chọn, chiếm vị trí trung tâm của nền kinh tế thị trường hiện đại mà các quốc gia khắp thế giới đang vội vã du nhập. Dù còn nhiều cạm bẫy và khó khăn, nền kinh tế tự do, với trọng tâm là sự lựa chọn, đã mang đến cho nhân loại khả năng tiếp cận tới những điều tốt đẹp của cuộc sống ở mức cao nhất từ trước đến nay.

Kỹ năng hoạch định ra trước những gì có thể sẽ xảy ra trong tương lai và lựa chọn trong số các khả năng có thể có nằm ở tâm điểm của các xã hội hiện đại. Quá trình quản lý rủi ro dẫn dắt chúng ta trong vô vàn các quyết định, từ việc phân phối tài sản cho tới việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, từ khởi động chiến tranh cho tới lập kế hoạch cho một gia đình, từ việc trả phí bảo hiểm cho tới việc đeo dây bảo hiểm trong ô tô, từ việc trồng ngô cho tới việc bán bánh bột ngô.

Thời xưa, các công cụ được sử dụng trong nông nghiệp, sản xuất, quản lý kinh doanh, và giao tiếp đều rất đơn giản. Hỏng hóc là việc thường xảy ra, nhưng để sửa chữa người ta ít khi phải vời đến thợ sửa ống nước, thợ điện, thợ chữa máy tính, hoặc kể cả các kế toán và cố vấn đầu tư. Hỏng hóc trong một lĩnh vực hiếm khi có ảnh hưởng trực tiếp đến một lĩnh vực khác. Ngày hôm nay, các công cụ mà chúng ta sử dụng rất phức tạp, và các hỏng hóc có thể gây ra tai họa với những hậu quả thật khôn lường. Chúng ta cần phải luôn ý thức được khả năng xảy ra hỏng hóc hay sai sót. Nếu như không có được kiến thức về lý thuyết xác suất và các công cụ khác của việc quản lý rủi ro, các kỹ sư đã không thể nào thiết kế được những cây cầu to lớn bắc qua những dòng sông rộng nhất, các ngôi nhà vẫn sẽ được sưởi ấm bằng lò sưởi hay bếp than, các dụng cụ chạy điện đã không tồn tại, trẻ em sẽ vẫn còn bị tật nguyền vì bệnh bại liệt, không có máy bay nào bay và du hành vũ trụ vẫn sẽ chỉ là một ước mơ.* Nếu thiếu các hình thức bảo hiểm khác nhau thì cái chết của người kiếm cơm trong gia đình sẽ đẩy những gia đình trẻ vào chỗ chết đói hay trông đợi vào lòng từ thiện của thiên hạ, và sẽ còn có nhiều người hơn nữa không nhận được chăm sóc y tế, và rồi chỉ có những người giầu có nhất mới có đủ tiền để mua nhà ở. Nếu như nông dân không thể bán nông sản của họ với giá cố định trước kỳ thu hoạch thì chắc chắn họ sẽ sản xuất ra ít lương thực hơn nhiều.

Nếu như chúng ta không có các thị trường vốn luân chuyển cho phép những người tiết kiệm có thể phát tán các rủi ro của họ, nếu các nhà đầu tư bị hạn chế chỉ được sở hữu một loại cổ phiếu (giống như ở thời sơ khai của chế độ tư bản), những công ty vĩ đại đầy năng lực phát kiến phần nào định hình thời đại của chúng ta, những công ty như Microsoft, Merck, DuPont, Alcoa, Boeing, và McDonald's có lẽ đã không bao giờ ra đời. Năng lực kiểm soát rủi ro, và đi kèm theo nó là ham muốn được đối đầu với rủi ro và chọn những lựa chọn có ảnh hưởng xa trong tương lai, là những thành tố chủ đạo của nguồn năng lượng thúc đẩy hệ thống kinh tế tiến lên phía trước.

*Nhà khoa học có công phát triển tên lửa Saturn 5 giúp phóng đoàn du hành Apollo đầu tiên lên mặt trăng đã nói thế này: "Anh muốn một cái van không bị rò rỉ và anh cố làm tất cả mọi thứ để tạo ra cái van đó. Nhưng thế giới thực vẫn chỉ cho anh một cái van bị rò. Anh bị buộc phải quyết định xem rò rỉ đến mức nào là chấp nhận được." (Trích cáo phó của Arthur Rudolph (http://en.wikipedia.org/wiki/Arthur_Rudolph) trên Thời báo New York số ra ngày 3/1/1996.)
Gaup
02-09-05, 00:20
Ý niệm hiện đại về rủi ro có gốc rễ trong hệ thống số Hindu-Arab được mang đến phương Tây chừng bẩy tám trăm năm trước. Nhưng việc nghiên cứu rủi ro một cách nghiêm túc chỉ bắt đầu từ thời Phục Hưng, khi người ta phá bỏ những hạn chế của quá khứ rồi công khai thách thức những niềm tin có sẵn từ lâu. Trong thời này, đa phần thế giới được phát hiện ra và các nguồn tài nguyên được khai thác từ những vùng đất đó. Đây là thời của những tranh chấp tôn giáo, của nền tư bản sơ sinh, và của một phương pháp tiếp cận nhiệt thành tới khoa học và tương lai.

Vào năm 1654, khi mà thời Phục Hưng đang ở giai đoạn cực thịnh, Hiệp sỹ de Méré [Chevalier de Méré], một nhà quý tộc Pháp yêu thích cả cờ bạc và toán học, đã thách nhà toán học Pháp lừng danh Blaise Pascal giải một câu đố. Câu hỏi là làm thế nào để chia các phần thưởng của một trò chơi cơ hội chưa kết thúc cho hai đấu thủ vào lúc mà phần thắng đang nghiêng về một người. Câu đố này đã làm các nhà toán học bối rối kể từ lúc nó được đưa ra 200 năm trước đó bởi một thầy tu tên là Luca Paccioli. Đây chính là người đã giới thiệu cho các doanh gia thời đó phương pháp ghi sổ sách kế toán hai cột và dạy bảng cửu chương cho Leonardo da Vinci. Pascal đã nhờ cậy sự giúp đỡ của Pierre de Fermat, một luật gia đồng thời là một nhà toán học xuất chúng. Kết quả của sự hợp tác của hai người có thể so sánh như một dạng thuốc nổ tri thức. Có ai ngờ một câu đố vui kiểu Trivial Pursuit của thế kỷ 17 [trò đố sự kiện thông tin lặt vặt thịnh hành ở Mỹ] lại có thể sinh ra lý thuyết xác suất, là trọng tâm toán học của khái niệm rủi ro.

Lời giải của họ đưa ra cho câu đố của Paccioli đồng nghĩa với việc người ta lần đầu tiên có thể ra quyết định và dự báo tương lai với sự trợ giúp của các con số. Ở thế giới trung đại và cổ đại, ngay cả trong những xã hội tiền tri thức hay nông nghiệp, người ta vẫn có thể ra quyết định, phát triển những lợi ích của mình, và buôn bán với nhau, nhưng làm vậy mà không có một sự thông hiểu thực sự bản chất của việc đưa ra quyết định. Ngày nay, chúng ta không bị phụ thuộc vào mê tín và truyền thống nhiều như cổ nhân, chẳng phải vì chúng ta hôm nay duy lý hơn mà bởi sự hiểu biết của chúng ta về rủi ro cho phép chúng ta đưa ra các quyết định theo kiểu duy lý.

Vào lúc mà Pascal và Fermat tạo ra bước đột phá vào thế giới xác suất đầy quyến rũ thì có một làn sóng phát kiến và khám phá to lớn đang tràn qua xã hội lúc đó. Đến năm 1654, việc trái đất hình tròn đã được công nhận, những vùng đất mới rộng lớn đã được tìm ra, thuốc súng đang biến các pháo đài trung cổ thành cát bụi, in ấn với con chữ rời đã không còn là điều mới mẻ nữa, các họa sỹ đã thành thục cách sử dụng phối cảnh, của cải đang đổ về châu Âu, và thị trường chứng khoán Amsterdam hoạt động thịnh vượng. Một vài năm trước đó trong thập kỷ 1630, trái bong bóng hoa tulip Hà Lan nổi tiếng đã vỡ tan do người ta phát hành những hợp đồng option [check thuật ngữ chứng khoán] với các đặc điểm căn bản không khác với những công cụ tài chính tinh vi đang được sử dụng thời nay.

Những biến chuyển này có những hệ quả sâu sắc góp phần đẩy lui những điều thần bí. Vào lúc này, tiếng nói của Martin Luther đã có trọng lượng và vòng hào quang đã không còn được vẽ vào những bức tranh của Ba Ngôi Thiên chúa cùng các thánh nữa. William Harvey đã đánh đổ những luận thuyết y khoa cổ đại với sự phát hiện ra hệ thống tuần hoàn máu, và Rembrandt đã vẽ “Bài học Giải phẫu” với cơ thể người trần truồng trắng lạnh. Trong một môi trường như vậy, chẳng chóng thì chầy cũng sẽ có người đưa ra lý thuyết xác suất dù cho Hiệp sỹ de Méré có thách đố Pascal hay không.

Năm tháng trôi qua, các nhà toán học đã biến lý thuyết xác suất từ trò chơi của giới cờ bạc thành một công cụ mạnh giúp sắp xếp, lý giải và áp dụng thông tin. Các ý tưởng xuất sắc lần lượt ra đời, lớp này đè lên lớp khác, và nhờ thế mà các kỹ thuật quản lý rủi ro định lượng đã được đưa ra bắt nhịp cho thời hiện đại.

Tới năm 1725, các nhà toán học đã cạnh tranh với nhau để lập ra các bảng tính tuổi thọ trung bình và chính phủ Anh quốc tự chi trả bằng tiền thu được từ việc bán các niên khoản nhân thọ. Đến giữa thế kỷ 18, bảo hiểm hàng hải đã vươn lên thành một ngành nghề thịnh vượng và cao cấp ở London.

Vào năm 1703, Gottfried von Leibniz đã nói với nhà khoa học và toán học Thụy sỹ Jacob Bernoulli rằng: “Tự nhiên đã thiết lập những mẫu hình thông qua các sự kiện lặp đi lặp lại, nhưng chỉ đúng trong đa phần mà thôi,” và nhận xét đó thúc đẩy Bernoulli sáng tạo ra Luật Số Lớn [Law of Large Numbers] và các phương pháp lấy mẫu thống kê hôm nay được dùng trong đủ loại hoạt động như trưng cầu dân ý, nếm rượu, lựa chọn cổ phiếu, và việc thử nghiệm các loại thuốc mới. Lời phàn nàn của Leibniz, rằng điều đó “chỉ đúng trong đa phần mà thôi”, có lẽ sâu sắc hơn là ông hiểu, chính bởi ông đã đưa ra chìa khóa cho câu hỏi tại sao lại tồn tại rủi ro. Nếu như không có lời nhận xét thêm này thì người ta có thể dự báo mọi thứ, và trong một thế giới mà mọi sự kiện đều giống hệt một sự kiện trước đó thì sẽ không có thay đổi nào xảy ra.

*Thành tựu của Jacob Bernoulli được miêu tả kỹ hơn trong Chương 7. Luật Số lớn đại khái phát biểu rằng sự khác biệt giữa giá trị quan sát được của một mẫu và giá trị thực của nó sẽ giảm khi mà số lượng các quan sát [observations: check từ thống kê tiếng Việt] trong mẫu tăng lên.
ColdHeart
02-09-05, 03:36
Ý hay mà lời dịch cũng hay, xứng danh Hải Đăng TL ;)

.
Gaup
02-09-05, 06:28
Vào năm 1730, Abraham de Moivre đã đưa ra gợi ý về cơ cấu của phân phối chuẩn [normal distribution] – còn được biết đến với tên gọi đường cong hình chuông – và phát hiện ra khái niệm độ lệch chuẩn [standard deviation]. Hai khái niệm này cùng nhau tạo nên khái niệm thường được biết đến với tên Luật Bình quân và là các thành tố cần thiết của các kỹ thuật hiện đại nhằm lượng hóa rủi ro. Tám năm sau đó, cháu của Jacob là Daniel Bernoulli, một nhà khoa học và toán học không kém phần xuất sắc, lần đầu tiên đã xác định được một quy trình mang tính hệ thống mà đa số người ta sử dụng khi lựa chọn và ra quyết định. Quan trọng hơn thế, ông tiên phong ý tưởng rằng sự thỏa mãn nhận được từ sự gia tăng chút ít tài sản “sẽ tỷ lệ nghịch với lượng tài sản đã sở hữu từ trước đó.” Với nhận xét có vẻ ngây thơ này, Bernoulli đã giải thích tại sao vua Midas là một người không hạnh phúc, tại sao người ta có xu hướng né tránh rủi ro [risk-averse], và tại sao để thuyết phục khách hàng mua nhiều hàng hơn thì đầu tiên phải giảm giá hàng. Phát biểu của Bernoulli đã là mô thức chi phối [dominant paradigm] của hành vi lý trí [rational behavior] trong suốt 250 năm sau và đặt nền móng cho những nguyên tắc hiện đại của lĩnh vực quản lý đầu tư.

Gần đúng 100 năm sau sự tác hợp giữa Pascal và Fermat, một mục sư phá rào người Anh là Thomas Bayes đã tạo ra một bước tiến vượt bậc trong môn thống kê bằng cách chỉ ra người ra có thể đưa ra các quyết định tốt hơn nhờ pha trộn các thông tin cũ và thông tin mới vào với nhau bằng toán pháp. Định lý của Bayes chú trọng vào những dịp thường xuyên xảy ra khi chúng ta có những đánh giá trực giác khá chính xác về xác suất của một sự kiện và muốn hiểu xem làm thế nào để có thể thay đổi những đánh giá đó một khi các sự kiện thực tế xảy ra.

Tất cả những công cụ mà ngày hôm nay chúng ta sử dụng trong việc quản lý rủi ro và trong phân tích các quyết định và lựa chọn, từ giả thiết tính duy lý chặt chẽ trong môn lý thuyết trò chơi cho tới các thách thức của lý thuyết hỗn mang [chaos theory – lý thuyết loạn biến, thuyết hỗn loạn], đều bắt nguồn từ những phát triển diễn ra giữa các năm 1654 – 1760, nhưng có hai ngoại lệ:

Vào năm 1875, Francis Galton, một nhà toán học nghiệp dư là anh họ của Charles Darwin đã khám phá ra nguyên tắc hồi quy trung bình [regression to the mean], một nguyên tắc góp phần giải thích tại sao tính kiêu ngạo dễ dẫn đến thất bại [pride goeth before a fall] hay tại sao trong mọi cái rủi thường đều có cái may [clouds tend to have silver linings]. Bất kỳ khi nào chúng ta ra quyết định dựa trên kỳ vọng rằng mọi việc rồi sẽ trở lại “bình thường,” chúng ta thực ra đang áp dụng nguyên tắc hồi quy trung bình.

Vào năm 1952, nhà kinh tế học được giải Nobel Harry Markowitz, khi đó còn là một sinh viên trẻ tuổi học cao học ngành lý thuyết vận hành [operations research] tại Đại học Chicago, đã chứng minh bằng toán học tại sao bỏ tất cả trứng vào cùng một giỏ lại là một sách lược có mức rủi ro không thể chấp nhận được và tại sao việc đa dạng hóa hình thức đầu tư lại đưa nhà đầu tư đến gần nhất với một bữa trưa miễn phí [Làm gì có bữa trưa miễn phí –thành ngữ Mỹ]. Phát hiện này đã khởi đầu cho một phong trào tri thức sau này đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của Wall Street, ngành tài chính doanh nghiệp, và các quyết định kinh doanh ở khắp nơi trên thế giới; những ảnh hưởng của phát hiện này chúng ta vẫn còn cảm nhận được đến tận hôm nay.
quasa
02-09-05, 08:27
Hay, chỉ nói được vậy. Bác có lên được kế hoạch bao giờ dich xong hết không,cho em biết với nhé
Gaup
02-09-05, 22:16
:75:

Trong suốt câu chuyện mà tôi sẽ kể có bóng dáng của sự đối kháng triền miên giữa những người cho rằng những quyết định tốt nhất phải dựa trên các con số và các tính toán định lượng, được quyết định bởi những mẫu hình đã xảy ra trong quá khứ, và những người khác đặt nền tảng các quyết định của họ trên những cấp độ niềm tin chủ quan hơn về tương lai bất định. Sự bất đồng này chưa bao giờ được giải quyết ổn thỏa cả.

Vấn đề khác biệt thực ra là quan điểm của người ta về mức độ mà quá khứ có thể quyết định tương lai. Chúng ta không thể lượng hóa tương lai do nó vẫn còn là điều chưa biết nhưng chúng ta đã học được cách sử dụng các con số để nghiền ngẫm những gì đã xảy ra trong quá khứ. Nhưng chúng ta có thể tin tưởng đến mức độ nào rằng các mẫu hình trong quá khứ có thể nói cho chúng ta biết tương lai rồi sẽ ra sao? Điều gì quan trọng hơn khi đối diện với một rủi ro, thực tế như chúng ta quan sát thấy hay những niềm tin chủ quan của chúng ta về những gì còn nằm ẩn trong sâu thẳm của thời gian? Quản lý rủi ro là một môn khoa học hay ngành nghệ thuật? Chúng ta có thể nói chắc chắn được là ranh giới giữa hai cách tiếp cận này nằm ở đâu không?

Xây dựng được một mô hình toán học có vẻ giúp giải thích được tất cả mọi thứ chỉ là một việc. Nhưng khi chúng ta đối mặt với những thử thách của cuộc sống thường nhật, của những phép thử sai liên tục, thì sự mơ hồ của các dữ kiện cũng như sức nặng của nhịp đập trái tim có thể làm tiêu tan mô hình toán đó chỉ trong khoảnh khắc. Lúc sinh thời, ông Fischer Black, một nhà lý thuyết tiền phong của ngành tài chính hiện đại đã bỏ trường MIT [Viện Công nghệ Massachusetts] để về với Wall Street, có nói, “Thị trường có vẻ kém hiệu quả hơn rất nhiều khi quan sát từ bờ sông Hudson [sông chảy qua New York nơi có Wall Street] thay vì từ bờ sông Charles. [sông chảy qua Boston nơi có trường MIT]”

Qua thời gian, bất đồng ý kiến về các tính toán lượng hóa dựa trên các quan sát về quá khứ với những cấp độ niềm tin chủ quan bỗng có thêm nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn. Công cụ điều khiển bằng toán học của quản lý rủi ro hiện đại hàm chứa trong nó những hạt giống của công nghệ mang tính tự hủy hoại và phi nhân tính. Kinh tế gia được giải Nobel Kenneth Arrow đã cảnh báo: “Hiểu biết của chúng ta về cách mọi việc diễn ra dù trong xã hội hay trong tự nhiên luôn kéo theo những đám mây mơ hồ. Vô số tội lỗi đã xảy ra là kết quả của niềm tin vào những điều chắc chắn.” Trong khi phá vỡ gông cùm của quá khứ để mưu cầu tự do chúng ta có thể lại trở thành nô lệ của một tôn giáo mới, hay một hệ tư tưởng không kém phần tồi tệ, hạn chế, và độc đoán so với cái cũ.

Cuộc sống của chúng ta chứa đựng đầy các con số, nhưng lắm khi chúng ta quên rằng các con số thực ra chỉ là các công cụ. Các con số không có tâm hồn, chúng còn dễ trở thành đối tượng của sự tôn sùng quá đáng. Rất nhiều các quyết định quan trọng nhất của chúng ta được giao cho máy tính, là những thứ máy móc có thể nuốt các con số với sự phàm ăn của quái vật và luôn đòi hỏi được cho ăn nhiều và nhiều số hơn để nhai, nuốt và nhổ ngược lại.


:75:

Để có thể đánh giá được mức độ mà các phương pháp xử lý rủi ro của chúng ta hôm nay là lợi ích hay đe dọa, chúng ta cần phải biết được toàn bộ câu chuyện kể từ những bước khởi đầu. Chúng ta phải biết được tại sao những người muôn năm cũ đã hay đã không cố gắng thuần hóa rủi ro, họ đã tiếp cận với công việc này ra sao, những cung cách suy nghĩ và luận thuyết nào đã thoát thai từ những trải nghiệm của họ, và những hoạt động của họ đã tương tác ra sao với những sự kiện lớn và nhỏ khác để làm thay đổi hướng đi của nền văn hóa. Một cái nhìn toàn cảnh như vậy sẽ giúp chúng ta hiểu được rõ hơn là hiện nay chúng ta đang đứng ở đâu, và rồi chúng ta sẽ đi đâu từ đây.

Dọc theo câu chuyện, chúng ta sẽ nhắc nhiều đến các trò chơi cơ hội, những trò này có các ứng dụng vượt xa vòng quay của trò roulette đỏ đen. Rất nhiều các ý tưởng cao thâm nhất về quản lý rủi ro và ra quyết định đã phát triển lên từ những phân tích về các trò chơi con trẻ nhất. Người ta không cần phải là tay cờ bạc hay kể cả là một nhà đầu tư để nhận ra những điều mà cờ bạc và đầu tư phản ánh về rủi ro.

Quân xúc xắc và vòng quay roulette cùng với thị trường chứng khoán và thị trường trái khoán [bond market] là những phòng thí nghiệm tự nhiên để nghiên cứu rủi ro bởi chúng có thể dễ dàng phục vụ cho các tính toán định lượng; ngôn ngữ của chúng là ngôn ngữ của các con số. Chúng cũng phản ánh rất nhiều về chính chúng ta. Khi chúng ta nín thở dõi theo quả bóng trắng nhỏ nảy tưng tưng trên vòng quay roulette, hay khi chúng ta gọi cho người môi giới của chúng ta để đặt lệnh bán hay mua vài cổ phiếu, trái tim của chúng ta có chung nhịp đập với các con số. Và vì thế là có chung nhịp đập với mọi hệ lụy quan trọng phụ thuộc vào cơ hội.

Từ rủi ro (risk) có nguồn gốc từ động từ cổ tiếng Ý risicare, có nghĩa là “dám làm.” Hiểu theo nghĩa này, rủi ro là một lựa chọn hơn là tiền định. Những hành động chúng ta dám làm, phụ thuộc vào việc chúng ta có bao nhiêu tự do lựa chọn, là tất cả những gì câu chuyện về rủi ro sẽ kể. Và câu chuyện đó giúp nói rõ hơn về thực tế làm người.
Gaup
05-09-05, 00:59
TỚI NĂM 1200: NHỮNG BƯỚC KHỞI ĐẦU


1

Gió của người Hy Lạp và vai trò của con xúc xắc

Vậy thì tại sao mà việc quản lý rủi ro lại là một khái niệm hiện đại điển hình như vậy? Tại sao nhân loại lại phải đợi hàng ngàn năm trước thời Phục Hưng để phá vỡ những rào cản trên đường tiến tới đo đạc và kiểm soát rủi ro?

Những câu hỏi này không phải dễ trả lời. Nhưng để bắt đầu trả lời chúng ta vẫn có định hướng. Ngay từ khởi thủy của lịch sử môn cờ bạc, hiện thân của việc chấp nhận rủi ro, đã là một trò giải trí được yêu thích và thường còn là một thứ nghiện nữa. Chính một trò chơi cơ hội đã tạo cảm hứng cho bước đột phá cách mạng của Pascal và Fermat vào lãnh địa của các luật xác suất chứ không phải những câu hỏi sâu sắc nào đó về bản chất của nền tư bản hay tầm nhìn tương lai. Nhưng ngay cả cho đến lúc đó, trong suốt chiều dài của lịch sử, người ta đã đặt cược và chơi trò chơi mà không cần sử dụng những hệ thống tỷ lệ cá cược mà ngày nay chúng ta dùng để phân định thắng thua. Hành động chấp nhận rủi ro được thả nổi, không bị hạn chế bởi bất kỳ lý thuyết quản lý rủi ro nào.

Con người ta luôn mê mẩn trò cờ bạc đến vậy chính bởi nó đưa chúng ta đối đầu với số phận, một cách trực tiếp không hạn hẹp không níu kéo. Chúng ta dám dấn thân lao vào cuộc chiến nản lòng này chính bởi chúng ta tin rằng chúng ta có một đồng minh mạnh mẽ: Thần May mắn sẽ đứng ở giữa chúng ta và số phận (hay các tỷ lệ thắng thua) để can thiệp rồi mang phần thắng đến cho chúng ta. Adam Smith, bậc thầy về bản chất con người, đã định nghĩa cái động cơ này là "cái lòng tin tự cao tự đại mà đa phần người ta đều có về khả năng của mình [và] những giả thiết quá sai lệch về sự may mắn của họ." Mặc dù Smith am hiểu tận tường rằng chính thiên hướng chấp nhận rủi ro của con người thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ông cũng sợ rằng xã hội sẽ phải chịu thiệt thòi nếu thiên hướng đó bị thả rông không thể kiểm soát. Chính vì thế ông đã rất cẩn thận trong việc cân bằng những cảm quan đạo đức đối lại với những lợi ích của cơ chế thị trường tự do. Khoảng 160 năm sau, một nhà kinh tế vĩ đại Anh quốc khác là John Maynard Keynes, đã đồng ý: "Khi mà sự phát triển tài sản của một quốc gia trở thành phụ phẩm của các hoạt động của sòng bài thì chắc là người ta đã làm sai điều gì đó."

Tuy vậy nếu người ta không có tính tự cao tự đại và lòng tin vào sự may mắn của người ta thì thế giới này chắc đã là một nơi buồn chán. Ngay Keynes cũng phải thừa nhận rằng: "Nếu bản chất con người không cảm nhận được sự cám dỗ để chấp nhận rủi ro...thì có lẽ sẽ không có nhiều đầu tư chỉ đơn giản là kết quả của những phép tính toán." Không có ai chấp nhận rủi ro với kỳ vọng rằng họ sẽ thất bại. Khi các nhà nước Soviet cố gắng kết liễu sự bất định thông qua các kế hoạch và mệnh lệnh của nhà nước, họ đã đồng thời bóp chết những tiến bộ kinh tế và xã hội.
Gaup
05-09-05, 06:33
:75:

Hàng ngàn năm nay người ta đã làm nô lệ cho các trò cờ bạc. Người ta chơi bạc ở khắp nơi, bởi những kẻ cùng đinh cho chí những giới đáng kính nhất trong xã hội.

Đám lính của Thái thú La mã Pilate đã bắt thăm nhận phần chiếc áo choàng của đấng Ki-tô khi Ngài chịu hình trên cây thập giá. Hoàng đế La Mã Marcus Aurelus thường thấy đi cùng với mấy tay hồ lì riêng của ngài. Bá tước xứ Sandwich đã chế ra món ăn mang tên ông ta để tránh phải rời khỏi bàn chơi bạc để đi ăn. Trong thời Cách mạng Mỹ, George Washington cũng lập sòng trong lều quân vụ của ông. Vùng Viễn Tây Hoa Kỳ thời mở đất đồng nghĩa với các trò cờ bạc. Và bài hát "Vận may chính tên nàng đêm nay" [Luck Be a Lady Tonight] là một trong những bài hát được nhiều người nhớ nhất trong vở Guys and Dolls [Gã trai và Búp bê], một vở nhạc kịch về một tay mắc bệnh nghiện cờ bạc cùng trò xúc xắc crabs [hai con nhọt] của hắn.

Trò cờ bạc lâu đời nhất mà ta biết là một loại trò xúc xắc với tên gọi astragalus, chơi bằng các đốt xương mắt cá. Tổ phụ của các quân xúc xắc hiện đại này là một cục xương hình vuông (http://www.lederkram.de/lederkram/repliken/astragali.jpg) lấy từ mắt cá của cừu hay hươu nai, đặc và không có tủy xương và cứng đến mức gần như không thể nào đập vỡ. Các đốt xương xúc xắc này đã được tìm thấy ở các hố khai quật khảo cổ ở nhiều nơi trên thế giới. Các tranh mộ cổ Ai Cập cũng có vẽ hình trò chơi với xúc xắc đốt xương từ thời năm 3500 trước Công nguyên, và trên các bình gốm cổ Hy Lạp có hình các gã trai trẻ đang quăng các viên xương vào giữa một hình tròn. Mặc dù Ai Cập đã trừng phạt bọn nghiện cờ bạc bằng cách bắt họ phải khiêng đá xây kim tự tháp, bằng chứng từ các khai quật cho thấy các vị pharaon cũng không ngại hạ mình xuống dùng các quân xúc xắc đểu [loaded dice] trong các trò chơi của các vị. Trò craps [hay crabs - crabs là ngôn ngữ đổ bác gọi phát quăng được 2 con 1] là một phát minh Mỹ phát triển từ một số các trò xúc xắc du nhập vào châu Âu từ các cuộc Thập Tự Chinh. Những trò chơi này thường được gọi chung với tên là hazard [rủi ro, cơ hội] có gốc là từ al zahr là từ tiếng Ả rập nghĩa là quân xúc xắc.

Các trò chơi với quân bài phát triển từ châu Á từ các hình thức xem bói thời cổ, nhưng chỉ trở nên phổ biến ở châu Âu sau khi kỹ nghệ in ấn được phát minh. Lúc đầu thì các quân bài đều có hình vuông và kích thước lớn, không có hình để phân biệt hay góc tù. Những quân hình thì chỉ có một đầu người thay vì hai đầu người, điều này có nghĩa là lắm khi người chơi phải phân biệt quân bài mình cầm từ đằng chân lên nên nếu một người chơi xoay quân bài thì sẽ làm lộ ra việc là anh ta cầm các quân bài hình. Các góc vuông làm cho việc chơi ăn gian dễ hơn bởi vì người chơi có thể bẻ quặp một phần của góc quân bài rồi sau đó nhận ra quân này trong nọc. Những quân hình hai đầu người và góc bài được cắt tròn chỉ được đưa vào sử dụng trong thế kỷ 19.

Giống như trò craps, trò poker cũng là một biến dạng kiểu Mỹ của một trò chơi quân bài cổ hơn, tuổi của nó thực ra chỉ khoảng 150 năm. David Hayano đã miêu tả trò poker là "những âm mưu bí mật, lừa gạt đỉnh cao, chiến lược tính toán kỹ, và những niềm tin sắt đá [với] nhiều tầng lắm lớp sâu và vô hình...Một trò chơi để chơi chứ không phải để ngắm." Theo lời Hayano thì có khoảng 40 triệu người Mỹ chơi poker thường xuyên, tất cả đều tự tin vào khả năng của mình lừa gạt đối thủ.

Nhưng loại cờ bạc dễ nghiện nhất có vẻ như là những trò chơi thuần túy là cơ hội được chơi ở các sòng bài mà hiện nay đang mọc lên như nấm sau mưa ở khắp những cộng đồng Mỹ một thời bình yên. Một bài báo trong tờ Thời báo New York số ra ngày 25/9/1995, ghi chép từ Davenport, Tiểu bang Iowa, đưa tin rằng cờ bạc là ngành công nghiệp tăng trưởng nhanh nhất ở Hoa Kỳ, "một ngành kinh doanh trị giá 40 tỷ đô có nhiều khách hàng hơn các sân đấu bóng chày hay rạp chiếu phim." Tờ Thời báo cũng trích lại lời của một giáo sư Đại học Illinois ước tính rằng các chính phủ tiểu bang phải trả 3 đô la cho các chi phí của các cơ quan xã hội và hệ thống hình pháp cho mỗi 1 đô la thu được từ các sòng bài, một tính toán mà có lẽ Adam Smith đã có thể dự báo.

Lấy ví dụ Tiểu bang Iowa, cho tới năm 1985 còn chưa có cả chương trình xổ số nhưng tới năm 1995 đã có 10 sòng bạc lớn, ngoài ra còn một đường đua ngựa và một đường đua chó với các máy đánh bạc bỏ xu mở thông tầm. Bài báo còn nói rằng "gần như 9 trong 10 người dân Iowa nói rằng họ có chơi bạc," trong đó 5,4% nói rằng họ có một "vấn đề về cờ bạc", tăng từ 1,7% chỉ 5 năm trước đó. Điều này diễn ra ở một tiểu bang mà trong thập kỷ 70 một tu sỹ Công giáo đã phải đi tù vì bị buộc tội mở sòng bài bingo. Có thể thấy rõ ràng là trò al zahr trinh khiết như vốn có giờ vẫn còn lẩn quất ở quanh ta.
voie
06-09-05, 01:48
Ngả mũ khâm phục bác Gấu
a-tu-la
06-09-05, 22:18
Quyển này có vẻ hay thật. Gấu dịch trôi chảy vãi. Khâm phục. Thế mà hôm qua lúc trên xe Gấu bảo dịch chơi không xuất bản. Hôm nay đọc mới biết Gấu nhà em khiêm tốn vãi! Dịch xong xuất bản đê!!! Trí thức Việt cũng cần nâng cao dần lên tý, chứ cứ đọc "bảy thói quan của người thành đạt" mãi chán bỏ mịa.

Không hiểu "Operation Research" có phải là "Vận trù học" trong tiếng Việt không nữa. Hôm nào hỏi mấy anh trong ngành này cái. Lâu lâu rồi em cũng không biết nên dịch thế nào.

tên sách là cái giề mà bác Gấu dịch là Nhân định thắng Thiên nghe cải luơng thế?
a-tu-la
06-09-05, 22:21
Theo Googlism thì tên sách là Against The Gods. Dịch ổn phết nhờ. Nhưng em nghĩ nên bỏ dấu hỏi đi.
a-tu-la
06-09-05, 22:26
Dưng mà tên đầy đủ là:

Against the Gods: remarkable story of Risk

mà dịch là:

Nhân định thắng Thiên: câu chiện diệu kỳ về rủi ro và cơ hội

thì chưa tín lắm nhỉ? Thư thả nghĩ thêm cái.
Gaup
06-09-05, 22:29
Atula lại thổi anh rồi.

Sách tên là Against the Gods, chắc chơi chữ từ Against all odds. Dịch là Nhân định thắng thiên quá đúng, lẩy Kiều phát cho ngon.

Các bác khen em dịch em cảm ơn, mà thế này là khen bà già ăn tiết rồi. Em mà có thời gian ngồi nghiền ngẫm em dịch còn Việt hơn. Thế các bác mới hiểu em khó chịu thế nào khi đọc các loại bài dịch của chú Janus, văn dịch ********* gì mà trúc tra trúc trắc, quần chúng đọc làm sao mà hiểu được. Dịch cho người chứ có phải để thẩm du cho minh đâu phỏng các bác?

Em dịch cho các bạn đọc chơi thôi, dịch để in thì lại thành thẩm du rồi. Mà dịch vì tiền thì lại càng không bõ.

Dù sao cũng cảm ơn các bác khen em, em sẽ cố dịch cho xong, chắc khoảng 2-3 tháng nếu cứ tốc độ này, dịch xong mà thích thì in cũng được.

Em cần tìm một bác gái tính tình cẩn thận giúp em một việc đơn giản, sau này nếu sách có in em ghi tên bác đó vào cùng. Hai bác jinxy và cavenui có vẻ phù hợp với công việc này, nếu như hai bác đó không quá bận. Em định sẽ gửi cho các bác bản scan dạng tiff, các bác dùng Microsoft Document Imaging đi kèm Office Xp nhận dạng rồi format lại text rồi gửi lại file doc tiếng Anh cho em. Việc này cũng rất nhẹ nhàng thôi, hơi mất công chỉnh sửa chút xíu vì OCR của MDI cũng rất tốt. Bác nào giúp được em thì mật thư cho em.
Gaup
06-09-05, 22:32
Dưng mà tên đầy đủ là:

Against the Gods: remarkable story of Risk

mà dịch là:

Nhân định thắng Thiên: câu chiện diệu kỳ về rủi ro và cơ hội

thì chưa tín lắm nhỉ? Thư thả nghĩ thêm cái.

Bác em, cái chữ risk của tiếng Anh nó không chỉ đơn giản là rủi ro như tiếng Việt. Chữ rủi ro trong tiếng Việt thuần túy là bad luck - rủi ro hay là chết, risk tiếng Anh thực ra nó chung dung hơn.

Trên tinh thần dịch lấy ý không lấy từ, em các bác đành phải thêm cơ hội vào để cân bằng và đối xứng. Tên sách thì chua thế cho nó ngon, nhưng vào trong văn bản dịch khi người đọc đã tạm đồng tình với cách dùng từ và phần nào hiểu ý của mình rồi, thì chỉ để là rủi ro thôi cũng được.

Bác hiểu em chưa ạ?
mode
06-09-05, 22:35
Bác Gaup có bản pdf của quyển này cho em xin, google toàn thấy nó đòi 3 chục $ mà em thì nghèo ko có tiền
Gaup
06-09-05, 22:37
Em chỉ có bản sách, thế nên mới phải nhờ các bạn khác giúp làm nhận dạng.
mode
06-09-05, 22:44
Thế lúc nào convert được bác up lên cho anh em nhé, em cảm ơn
a-tu-la
06-09-05, 22:48
Bác hiểu em chưa ạ?

vầng, em hiểu bác ợ. Chữ Risk dịch hơi khó của nó zồi. ý em là kiếm đuợc một từ tuơng đuơng trong tiếng Việt thì hay, đỡ phải chẻ ra làm hai từ. Dưng em cũng chưa nghĩ ra đuợc. Mấy cái từ thuần Anh dịch khó vãi. Giống kiểu từ thuần Việt cũng thế.

Kinh nghiêm dịch của em là từ X tiếng Anh chuyển sang tiếng Việt thành Y, xong em lại dịch từ Y thành từ Z tiếng Anh. Nếu X=Z thì em cho là tàm tạm ổn.

Kiểu dịch Risk = Rủi ro, xong nghĩ, dịch Rủi ro về tiếng Anh thì thành "bad luck" như kiểu của bác, thế là thấy chưa ổn, ... em cũng hay đắn đo như thế.

Em cảm nhận thì RISK ở đây như là mạo hiểm, liều lĩnh... Thôi cứ dần dần theo nội dung sách ta dịch sau vậy.
Elgnoy
06-09-05, 22:59
Không hiểu "Operation Research" có phải là "Vận trù học" trong tiếng Việt không nữa.
Đúng thế, bác La ạ.

Gấu dịch hay. Thơm một cái.
Gaup
06-09-05, 23:00
Em bác cũng nghĩ nhiều về cách dịch tựa đề này, chắc phải gần hai năm từ khi đọc sách này đến giờ, nghĩ đi nghĩ lại thấy tựa đề dịch thế là ổn rồi mới dám nhảy vào mà dịch sách. Em nghĩ rủi ro và cơ hội tóm gọn được mọi ẩn ý, liên tưởng của tựa đề và theo em thế là đã ổn. Không có gì ra được khỏi trời đất phỏng ạ.

Em thấy bác em giỏi mà đôi khi khiêm tốn quá. Lắm người dịch cứ coi tác giả là ông chúa phải tuân lệnh và phục tùng tuyệt đối. Em thì khác, em không ngại sửa tác giả những khi mình hiểu ý người ta và thấy có thể cải thiện văn bản gốc. Nếu là mình thì mình đã viết như thế này. Em nghĩ bác và em có thể khiêm tốn ra mà nói, đặc biệt là khi sách viết mang tính phổ cập kiến thức còn nông cạn, thì trình mình cũng không kém trình tác giả lúc đứng khom người là bao nhiêu, nếu không nói là còn hơn. Thế nên chả cần tuân theo tác giả hết cỡ bác em ạ, miễn là mình không đặt cái sự thổi phồng mình lên làm chủ ý mà lấy việc tạo ra một văn bản tuyệt hảo làm mục đích cuối cùng, thì mình nói chung cứ sửa tác giả vô tư. Ông Bernstein lúc bằng tuổi em với bác sao mà đã đủ trình dịch một quyển thế này từ tiếng Việt qua tiếng Anh phỏng bác?
Gaup
07-09-05, 02:49
:75:

Các trò chơi cơ hội cần phải được tách riêng ra khỏi những trò chơi có vai trò của kỹ năng. Những nguyên tắc vận hành trong các trò roullete, xúc xắc, hay máy đánh bạc bỏ xu đều giống nhau nhưng chúng chỉ giải thích được phần nào những gì có liên quan đến các trò như poker, đánh cá ngựa đua, và backgammon [một trò chơi kiểu bàn cá ngựa, người chơi tung xúc xắc và di chuyển các quân cờ tròn về đích]. Kết quả trong các trò chơi nhóm đầu được quyết định bởi cơ hội trong khi ở nhóm sau sự lựa chọn có vai trò của riêng nó. Tỷ lệ thắng thua tức xác suất được cuộc là tất cả những gì người ta cần biết để đánh cá trong một trò chơi cơ hội, nhưng người ta cần biết thêm rất nhiều thông tin để có thể dự báo xem ai sẽ thắng và ai sẽ thua khi mà kết quả của trò chơi phụ thuộc cả vào trình và số. Có những người đánh bài và cá độ ngựa đua thực sự là những chuyên gia trong trò chơi của họ nhưng không có ai xây được một nghề nghiệp thật sự thành đạt trong trò xúc xắc crabs cả.

Rất nhiều người quan sát cho rằng thị trường chứng khoán thực ra không hơn gì một sòng bạc. Thắng cuộc trên sàn chứng khoán là kết quả của kỹ năng và sự may mắn hay chỉ đơn giản là kết quả của một canh bạc đỏ? Chúng ta sẽ quay trở lại câu hỏi này trong Chương 12.

Những dây đen và dây đỏ thường xảy ra trong các trò chơi cơ hội giống như trong cuộc sống thực. Các tay cờ bạc phản ứng với những việc này theo cách phi đối xứng, họ cố gắng khẩn cầu luật bình quân sớm kết thúc các dây đen. Và đồng thời họ cũng khẩn cầu luật bình quân đừng vội ra tay để kéo dài các dây vận đỏ. Luật bình quân không nghe bất kỳ lời khẩn cầu nào hết. Những lần quăng xúc xắc vừa xong không chứa bất kỳ thông tin nào về kết quả của lần tung tiếp theo. Các quân bài, đồng xu, con xúc xắc, và vòng xoay roulette không hề có trí nhớ.

Các tay chơi bạc có thể nghĩ rằng họ đang đặt cược vào quân đỏ, số 7, hay tay bài tứ quý nhưng trên thực tế họ đang đặt cược vào cái đồng hồ. Người thua cuộc muốn vận ngắn trông giống như vận dài để xác suất thắng cuộc phục hồi. Người thắng cuộc thì muốn vận dài trông giống như vận ngắn để xác suất thắng cuộc bị tạm ngưng. Ở rất xa các bàn cờ bạc, các vị giám đốc các công ty bảo hiểm cũng làm việc theo cách thức tương tự. Họ đặt mức phí bảo hiểm để bù đắp cho những tổn thất họ phải chịu trong kỳ dài hạn nhưng khi động đất, cháy hay bão tất cả xảy ra cùng một lúc thì kỳ ngắn hạn có thể là một con đường rất là đau khổ. Không giống như bọn cờ bạc, các công ty bảo hiểm có vốn tiết kiệm và để riêng ra các ngân khoản dự trữ đề phòng những dây toàn vận rủi trước sau gì cũng xảy ra.

Thời gian là yếu tố quyết định trong cờ bạc. Rủi ro và thời gian là hai mặt của cùng một đồng xu bởi vì nếu không còn có ngày mai thì cũng chẳng làm gì còn có rủi ro cả. Thời gian chuyển hóa rủi ro và bản chất của rủi ro được định hình bởi khung thời gian [time horizon]: tương lai mới chính là đấu trường đó vậy.

Thời gian có tầm quan trọng lớn nhất trong trường hợp các quyết định một khi đã đưa ra thì không thể được đảo ngược. Ấy thế nhưng người ta bị buộc phải đưa ra rất nhiều các quyết định không thể đảo ngược dựa trên cơ sở thông tin không đầy đủ. Tính bất nghịch đảo chế ngự các quyết định từ việc nên đi tầu điện ngầm hay đi taxi, việc xây nhà máy ô tô ở Brazil, tới việc chuyển sang công việc mới, hay tuyên bố chiến tranh.

Nếu như ngày hôm nay chúng ta mua một cổ phiếu chúng ta luôn có thể bán cổ phiếu đấy đi vào ngày mai. Nhưng chúng ta có thể làm gì sau khi tay hồ lì bên bàn roullete đã xướng: "Ngưng đặt cược!" hay sau khi một khoản cược poker đã được tố lên gấp đôi. Thế là hết đường thối lui rồi. Ta có nên tạm ngưng hành động lại để hy vọng rằng dòng thời gian trôi qua sẽ làm cho vận may hay xác suất xoay theo hướng có lợi cho ta không?

Hamlet đã phàn nàn rằng do dự nhiều quá trước những khả năng bất định là không tốt bởi vì "sự do dự làm bạc đi sắc mầu của lòng quyết tâm...rồi lắm vụ đã có đủ thiên thời địa lợi nhân hòa bị trượt khỏi tay chỉ vì không hành động cho nhanh." Nhưng một khi đã hành động thì ta cũng bỏ mất lựa chọn chờ đến khi có thêm thông tin mới. Kết quả là việc không hành động ngay cũng có giá trị của nó. Kết quả càng không chắc chắn thì chần chờ càng có giá. Hamlet nghĩ sai rồi: người nào do dự thì đã đi được nửa đường về nhà. [trêu Hamlet - đọc kịch]
a-tu-la
07-09-05, 03:24
Em thấy bác em giỏi mà đôi khi khiêm tốn quá. Lắm người dịch cứ coi tác giả là ông chúa phải tuân lệnh và phục tùng tuyệt đối. Em thì khác, em không ngại sửa tác giả những khi mình hiểu ý người ta và thấy có thể cải thiện văn bản gốc. Nếu là mình thì mình đã viết như thế này.


Ở điểm này em không đồng ý với bác Gấu. Thế hóa ra lúc mình dịch Pascal, mình học cụ nó nguyên lý bình thông nhau ví cả ròng rọc từ hồi lớp 6, thì mình lại bỏ những chỗ cụ Pascal cụ ý ú ớ về chất lỏng ví cả áp suất mặt à? Em nghĩ dịch thì phải triền tải đúng nội dung chứ bác, ngay cả khi dịch giả thấy thằng tác giả nó ngu dốt quá, nhưng đấy là sách của thằng tác giả cơ mà? Nếu định sửa nó, ta phải là cuốn sách bình luận hay bài báo review riêng chứ? Làm sao thích thì chỉnh đuợc hả bác.

Ví dụ như thời kháng chiến, Trần Đức Thảo đuợc phân công dịch sách của đồng chí Truờng Chinh ra tiếng Pháp, thì có những chỗ cụ Chinh viết rất ngô nghê, thì cụ Thảo cũng đành nhổ nuớc bọt mút đầu bút mà dịch chứ. Không hóa ra lại thành Luận cuơng văn hóa của cụ Thảo Chinh à?
Gaup
07-09-05, 03:56
Ở điểm này em không đồng ý với bác Gấu. Thế hóa ra lúc mình dịch Pascal, mình học cụ nó nguyên lý bình thông nhau ví cả ròng rọc từ hồi lớp 6, thì mình lại bỏ những chỗ cụ Pascal cụ ý ú ớ về chất lỏng ví cả áp suất mặt à? Em nghĩ dịch thì phải triền tải đúng nội dung chứ bác, ngay cả khi dịch giả thấy thằng tác giả nó ngu dốt quá, nhưng đấy là sách của thằng tác giả cơ mà? Nếu định sửa nó, ta phải là cuốn sách bình luận hay bài báo review riêng chứ? Làm sao thích thì chỉnh đuợc hả bác.

Ví dụ như thời kháng chiến, Trần Đức Thảo đuợc phân công dịch sách của đồng chí Truờng Chinh ra tiếng Pháp, thì có những chỗ cụ Chinh viết rất ngô nghê, thì cụ Thảo cũng đành nhổ nuớc bọt mút đầu bút mà dịch chứ. Không hóa ra lại thành Luận cuơng văn hóa của cụ Thảo Chinh à?

Bác em, sửa theo cái ý là làm cho rõ hơn, làm cho tốt lên, chứ không phải chê bai diệu vợi. Chỗ nào họ nói sai thì mình dịch theo nguyên bản, chỗ nào họ nói chưa rõ thì mình làm rõ hơn, mình giúp người ta chứ không phản người ta. Bác em yên tâm.

Như ông Bernstein rõ là không biết tiếng Việt chứ nếu biết ông ấy đã không viết như thế. Nếu biết tiếng Việt ông ý đã viết là rủi ro và cơ hội chứ không chỉ là rủi ro không. Bác đồng ý em không? Mình là người dịch mình là cái cầu giữa hai bờ văn hóa bị cách biệt về ngôn ngữ. Mình dịch tức là mình nối cái bờ ngôn ngữ để văn hóa nó tạp giao với nhau. Mình là thằng lười nếu chỉ nối ngôn ngữ mà không làm mối văn hóa với nhau. Đã làm thì làm cho chót. Làm sao cho người đọc tiếng Việt hiểu được đến tận cùng của ý người viết tiếng Anh muốn nói. Ý tại ngôn ngoại...người ta nói thế nhưng ý người ta sâu sắc hơn, nếu chỉ trăm trăm dịch cái ngoại vi là mình bị mất nửa phần nội xuy rồi phỏng bác em. Thế nên em nói sửa không có nghĩa là viết lại, mà là đọc bác làm con trong sáng hơn.

hì hì

chúc các bác em vui
quasa
14-09-05, 08:01
Dịch thì dịch mà không dịch nữa thì thôi,ai lại để người khác chờ mỏi cả cổ thế này. Bác đé o có lòng thương người gì cả.
Nhưng mà này, chuyền cho tớ, tớ giúp OCR. nhá
Bách Khoa
15-09-05, 01:14
Em chưa đủ trình đọc hết, nhưng mà thấy các bác dịch là "trò chơi cơ hội" nó cứ thế nào ấy. Em x biết tiếng Anh, nhưng chắc thế nào trong từ gốc cũng có từ chance. Không lẽ nó không phải la may rủi hay la may mắn ?

Còn vụ Gods trong "Against the Gods" thì em đoán là nó liên quan đến câu "... God play dice..." của bác Anh xờ tanh tưởi.

Dưng mà các bác hay khen phò mã tốt áo quá :D
mgri
21-09-05, 17:55
Em cần tìm một bác gái tính tình cẩn thận giúp em một việc đơn giản, sau này nếu sách có in em ghi tên bác đó vào cùng.
- Chưa nhờ đã chê là "việc đơn giản, ..nhẹ nhàng" thì người ta có muốn làm cũng bớt hứng thú.
- Nhử cho "ghi tên cùng" nghe chả khác gì nói khi nào thẩm du thì cho thẩm du ké.
- Không biết nếu in thì có cần xin bản quyền không hay là vẫn theo tinh thần "Ăn cắp sách không phải ăn cắp"?
-Remarkable có phải là diệu kỳ không, phải đọc xong mới nói được.

Đấy là em chỉ thắc mắc mấy vấn đề ngoài lề, còn văn vẻ bác dịch thì ngon, hơn khối thằng ở nhà. Đúng là dịch sách thì phải chuyển tải toàn bộ nội dung và tư tưởng của người ta, nhiều thằng dịch như cái máy, đéu coi độc giả ra gì.
Gaup
21-09-05, 20:43
- Chưa nhờ đã chê là "việc đơn giản, ..nhẹ nhàng" thì người ta có muốn làm cũng bớt hứng thú.
- Nhử cho "ghi tên cùng" nghe chả khác gì nói khi nào thẩm du thì cho thẩm du ké.
- Không biết nếu in thì có cần xin bản quyền không hay là vẫn theo tinh thần "Ăn cắp sách không phải ăn cắp"?
-Remarkable có phải là diệu kỳ không, phải đọc xong mới nói được.

Đấy là em chỉ thắc mắc mấy vấn đề ngoài lề, còn văn vẻ bác dịch thì ngon, hơn khối thằng ở nhà. Đúng là dịch sách thì phải chuyển tải toàn bộ nội dung và tư tưởng của người ta, nhiều thằng dịch như cái máy, đéu coi độc giả ra gì.

Chú Mgri đúng là còn trẻ, cầm đèn chạy trước ô tô à?

Nói thế thôi, việc convert text từ bản scan là việc nhẹ nhàng thật, nhẹ hơn nhiều so với việc dịch, chú thích làm việc nặng thì chú dịch với anh. Dịch sai anh chửi.

Nếu in sách ghi tên cùng thì có sao đâu? Ai bỏ công thì phải được ghi nhận. Chú nghĩ dịch sách là việc thẩm du à? Thời gian anh có thể nghỉ ngơi mà anh ngồi dịch không công thế này là công ích rồi chú ạ. Thủ dâm cái fít.

Cũng không đến lượt chú hỏi in có phải xin bản quyền không. Nếu in, anh chú tự xin bản quyền, không phải đến lượt chú nhắc. Anh chú còn biết về IP nhiều hơn chú khối.

Remarkable có phải là diệu kỳ không thì anh chú mày đọc sách mấy lần rồi anh biết, không đến lượt chú thắc mắc.

Chú lại còn vuốt lưng anh khen ngợi dịch hay. Ở Việt Nam mà xếp ra 10 người dịch tốt, anh chú sẽ chắc chắn đứng số 9.

Nói thế cho chú tức. Chiều nay anh lại ngồi dịch tiếp cho chú thèm.
mgri
21-09-05, 23:50
Chú Mgri đúng là còn trẻ, cầm đèn chạy trước ô tô à?

Nói thế thôi, việc convert text từ bản scan là việc nhẹ nhàng thật, nhẹ hơn nhiều so với việc dịch, chú thích làm việc nặng thì chú dịch với anh. Dịch sai anh chửi.

Nếu in sách ghi tên cùng thì có sao đâu? Ai bỏ công thì phải được ghi nhận. Chú nghĩ dịch sách là việc thẩm du à? Thời gian anh có thể nghỉ ngơi mà anh ngồi dịch không công thế này là công ích rồi chú ạ. Thủ dâm cái fít.

Cũng không đến lượt chú hỏi in có phải xin bản quyền không. Nếu in, anh chú tự xin bản quyền, không phải đến lượt chú nhắc. Anh chú còn biết về IP nhiều hơn chú khối.

Remarkable có phải là diệu kỳ không thì anh chú mày đọc sách mấy lần rồi anh biết, không đến lượt chú thắc mắc.

Chú lại còn vuốt lưng anh khen ngợi dịch hay. Ở Việt Nam mà xếp ra 10 người dịch tốt, anh chú sẽ chắc chắn đứng số 9.

Nói thế cho chú tức. Chiều nay anh lại ngồi dịch tiếp cho chú thèm.
-Ý em là nếu bác nói kiểu như: "..tôi mắc 1 vấn đề đòi hỏi khá nhiều thời gian và công sức là…" thì người giúp sẽ thích hơn, chứ ai chả biết là bác dịch thì khó hơn.
-Còn cái câu thủ dâm thì là bác nói chứ ai? Câu trước bác vừa bảo nếu đem in thì khác gì thủ dâm, câu sau bác lại nhử cho tên người ta lên sách là gì? Bác hay quên quá.
-Em cũng chẳng lăn tăn gì chuyện IP đâu, bản thân em cũng từng dùng phần mềm crack, đọc sách không bản quyền. Dân mình nghèo, đú với tây đêk được thì phải làm thế thôi, nhưng em vẫn không khoái cái subtitle "ăn cắp…" lắm, nhất là nó cũng chả phải của Gorky. Ăn cắp thì có cái chọ gì hay đâu mà phải trương lù lù ra như thế? Bác thay quách đi!
-Còn bác nói nếu VN có 10 thằng dịch tốt thì bác đứng thứ 9 kể cũng là được. Không đến nỗi huyênh hoang quá, khen bác.
Gaup
21-09-05, 23:55
-Còn bác nói nếu VN có 10 thằng dịch tốt thì bác đứng thứ 9 kể cũng là được. Không đến nỗi huyênh hoang quá, khen bác.

Thứ 9 từ dưới lên.
Bắc Thần
22-09-05, 00:12
Chết cười với nhà các bác!
quasa
30-09-05, 08:57
này,em kéo cái này lên phát. Nếu bác scan xong hết rồi thì bác làm ơn share cho bọn em với, thèm thuốc, vật quá đi mất.
Gaup
30-09-05, 22:03
Tình hình là như thế này.

Hôm trước em định xé quyển sách ra để scan cho nhanh mà vì có mỗi quyển xé ra sợ phí nên đã mua thêm quyển nữa. Cuối tuần này em muốn bắt đầu scan.

Hôm trước có bác nào đề nghị giúp em việc convert làm ơn nói lại cho em cái. Em sẽ gửi file tiff cho bác rồi bác gửi file doc lại cho em, có file đấy em sẽ cố dịch đều đặn hơn. Quyển này rất hay.

Hy vọng xong quyển này sẽ có quyển khác tương tương nội dung tên là foooled by randomness.
baby_greenskirt
01-10-05, 01:01
Tuần tới này em rỗi rãi, em có thể giúp bác Gấu. Mỗi tội em chưa hiểu rõ sẽ phải làm thế nào, chưa chắc có đủ chương trình để làm nhưng cái này nhờ mọi người thì chắc ko vấn đề gì.
ColdHeart
02-10-05, 13:38
Ai có thời gian, giúp Gaup một tay. Để nhận dạng các bản scan, có thể dùng OmniPgae, link để download thì lấy ở đây:

http://www.thanhnienxame.net/showpost.php?p=20793&postcount=18

Hoặc cách khác, Gaup cứ đưa các bản scan lên một account trên photobucket, đặt chế độ public để mọi người đều có thể vào xem được. Khi xem, ai thích thì có thể tiến hành "nhận dạng" trang nào đó theo ý thích, xong rồi thì post lên hoặc chuyển cho Gaup theo số trang. Tớ nghĩ như thế sẽ hay hơn về lâu dài.

.
quasa
05-10-05, 15:24
đây rồi. có thế chứ. Bác gửi mail cho em nhé, cho em góp công chuyển text vậy.
em la phich1@yahoo.com
mong tin bác lắm
gió
15-10-05, 08:14
Cuối cùng mải xem đánh ghen quên hết cả dịch diếc.
shinichi
07-11-05, 19:55
Em chưa đọc kỹ , bác Gấu dịch xong hết chưa . Xong hết em đọc luôn 1 mạch cho phê .
Gaup
07-11-05, 22:53
Em mới chuyển sang việc mới, bận vãi đái con gà mái.
vandotvodat
17-11-05, 17:11
Bác Gấu cố gắng lên đê. Em đang lên cơn hưng phấn. :icecream:
NiceT
18-11-05, 09:22
Em tìm được cái này ở trang web Business week online
Hy vọng Gấu dịch xong quyển này nhanh



CHAPTER 4

The French Connection Neither Cardano nor Galileo realized that they were on the verge of articulating the most powerful tool of risk management ever to be invented: the laws of probability. Cardano had proceeded from a series of experiments to some important generalizations, but he was interested only in developing a theory of gambling, not a theory of probability. Galileo was not even interested in developing a theory of gambling.

Galileo died in 1642. Twelve years later, three Frenchmen took a great leap forward into probability analysis, an event that is the subject of this chapter. And less than ten years after that, what had been just a rudimentary idea became a fully developed theory that opened the way to significant practical applications. A Dutchman named Huygens published a widely read textbook about probability in 1657 (carefully read and noted by Newton in 1664); at about the same time, Leibniz was thinking about the possibility of applying probability to legal problems; and in 1662 the members of a Paris monastery named Port-Royal produced a pioneering work in philosophy and probability to which they gave the title of Logic. In 1660, an Englishman named John Graunt published the results of his effort to generalize demographic data from a statistical sample of mortality records kept by local churches. By the late 1660s, Dutch towns that had traditionally financed themselves by selling annuities were able to put these policies on a sound actuarial footing. By 1700, as we mentioned earlier, the English government was financing its budget deficits through the sale of life annuities.

The story of the three Frenchmen begins with an unlikely trio who saw beyond the gaming tables and fashioned the systematic and theoretical foundations for measuring probability. The first, Blaise Pascal, was a brilliant young dissolute who subsequently became a religious zealot and ended up rejecting the use of reason. The second, Pierre de Fermat, was a successful lawyer for whom mathematics was a sideline. The third member of the group was a nobleman, the Chevalier de Méré, who combined his taste for mathematics with an irresistible urge to play games of chance; his fame rests simply on his having posed the question that set the other two on the road to discovery.

Neither the young dissolute nor the lawyer had any need to experiment in order to confirm their hypotheses. Unlike Cardano, they worked inductively in creating for the first time a theory of probability. The theory provided a measure of probability in terms of hard numbers, a climactic break from making decisions on the basis of degrees of belief.

Pascal, who became a celebrated mathematician and occasional philosopher, was born in 1623, just about the time Galileo was putting the finishing touches on Sopra le Scoperte dei Dadi. Born in the wake of the religious wars of the sixteenth century, Pascal spent half his life torn between pursuing a career in mathematics and yielding to religious convictions that were essentially anti-intellectual. Although he was a brilliant mathematician and proud of his accomplishments as a "geomaster," his religious passion ultimately came to dominate his life.1

Pascal began life as a child prodigy. He was fascinated with shapes and figures and discovered most of Euclidean geometry on his own by drawing diagrams on the tiles of his playroom floor. At the age of 16, he wrote a paper on the mathematics of the cone; the paper was so advanced that even the great Descartes was impressed with it.

This enthusiasm for mathematics was a convenient asset for Pascal's father, who was a mathematician in his own right and earned a comfortable living as a tax collector, a functionary known at the time as a tax farmer. The tax farmer would advance money to the monarch-the equivalent of planting his seeds-and then go about collecting it from the citizenry-the equivalent of gathering in a harvest whose ultimate value, as with all farmers, he hoped would exceed the cost of the seeds.

While Pascal was still in his early teens, he invented and patented a calculating machine to ease the dreary task of adding up M. Pascal's daily accounts. This contraption, with gears and wheels that went forward and backward to add and subtract, was similar to the mechanical calculating machines that served as precursors to today's electronic calculators. The young Pascal managed to multiply and divide on his machine as well and even started work on a method to extract square roots. Unfortunately for the clerks and bookkeepers of the next 250 years, he was unable to market his invention commercially because of prohibitively high production costs.

Recognizing his son's genius, Blaise's father introduced him at the age of 14 into a select weekly discussion group that met at the home of a Jesuit priest named Marin Mersenne, located near the Place Royal in Paris. Abbé Mersenne had made himself the center of the world of science and mathematics during the first half of the 1600s. In addition to bringing major scholars together at his home each week, he reported by mail to all and sundry, in his cramped handwriting, on what was new and significant.2

In the absence of learned societies, professional journals, and other means for the exchange of ideas and information, Mersenne made a valuable contribution to the development and dissemination of new scientific theories. The Académie des Sciences in Paris and the Royal Society in London, which were founded about twenty years after Mersenne's death, were direct descendants of Mersenne's activities.

Although Blaise Pascal's early papers in advanced geometry and algebra impressed the high-powered mathematicians he met at Abbé Mersenne's, he soon acquired a competing interest. In 1646, his father fell on the ice and broke his hip; the bonesetters called in to take care of M. Pascal happened to be members of a proselytizing Catholic sect called Jansenists. These people believed that the only path to salvation was through ascetisism, sacrifice, and unwavering attachment to the strait and narrow. They preached that a person who fails to reach constantly for ever-higher levels of purity will slip back into immorality. Emotion and faith were all that mattered; reason blocked the way to redemption.

After repairing the hip of Pascal père, the Jansenists stayed on for three months to work on the soul of Pascal fils, who accepted their doctrine with enthusiasm. Now Blaise abandoned both mathematics and science, along with the pleasures of his earlier life as a man about town. Religion commanded his full attention. All he could offer by way of explanation was to ask, "Who has placed me here? By whose order and warrant was this place and this time ordained for me? The eternal silence of these infinite spaces leaves me in terror."3

The terror became so overwhelming that in 1650, at the age of 27, Pascal succumbed to partial paralysis, difficulty in swallowing, and severe headaches. As a cure, his doctors urged him to rouse himself and resume his pleasure-seeking ways. He lost no time in taking their advice. When his father died, Pascal said to his sister: "Let us not grieve like the pagans who have no hope."4 In his renewed activities he exceeded even his earlier indulgences and became a regular visitor to the gambling tables of Paris.

Pascal also resumed his researches into mathematics and related subjects. In one of his experiments he proved the existence of vacuums, a controversial issue ever since Aristotle had declared that nature abhors a vacuum. In the course of that experiment he demonstrated that barometric pressure could be measured at varying altitudes with the use of mercury in a tube emptied of all air.

About this time, Pascal became acquainted with the Chevalier de Méré, who prided himself on his skill at mathematics and on his ability to figure the odds at the casinos. In a letter to Pascal some time in the late 1650s, he boasted, "I have discovered in mathematics things so rare that the most learned of ancient times have never thought of them and by which the best mathematicians in Europe have been surprised."5

Leibniz himself must have been impressed, for he described the Chevalier as "a man of penetrating mind who was both a gambler and a philosopher." But then Leibniz must have had second thoughts, for he went on to say, "I almost laughed at the airs which the Chevalier de Méré takes on in his letter to Pascal."6

Pascal agreed with Leibniz. "M. de Méré," he wrote to a colleague, "has good intelligence but he is not a geometer and this, as you realize, is a great defect."7 Here Pascal sounds like the academic who takes pleasure in putting down a non-academic. In any case, he underestimated de Méré.8

Yet Pascal himself is our source of information about de Méré's intuitive sense of probabilities. The Chevalier bet repeatedly on outcomes with just a narrow margin in his favor, outcomes that his opponents regarded as random results. According to Pascal, de Méré knew that the probability of throwing a 6 with one die rises above 50% with four throws-to 51.77469136%. The Chevalier's strategy was to win a tiny amount on a large number of throws in contrast to betting the chateau on just a few. That strategy also required large amounts of capital, because a 6 might fail to show up for many throws in a row before it appeared in a cluster that would bring its average appearance to over 50%.9

De Méré tried a variation on his system by betting that sonnez-the term for double-six-had a better than 50% probability of showing up on 24 throws of two dice. He lost enough money on these bets to learn that the probability of double-six was in fact only 49.14% on 24 throws. Had he bet on 25 throws, where the probability of throwing sonnez breaks through to 50.55%, he would have ended up a richer man. The history of risk management is written in red as well as in black.

At the time he first met Pascal, the Chevalier was discussing with a number of French mathematicians Paccioli's old problem of the points-how should two players in a game of balla share the stakes when they leave the game uncompleted? No one had yet come up with an answer.

Although the problem of the points fascinated Pascal, he was reluctant to explore it on his own. In today's world, this would be the topic for a panel at an annual meeting of one of the learned societies. In Pascal's world, no such forum was available. A little group of scholars might discuss the matter in the intimacy of Abbé Mersenne's home, but the accepted procedure was to start up a private correspondence with other mathematicians who might be able to contribute something to the investigation. In 1654, Pascal turned to Pierre de Carcavi, a member of Abbé Mersenne's group, who put him in touch with Pierre de Fermat, a lawyer in Toulouse.

Pascal could not have approached anyone more competent to help him work out a solution to the problem of the points. Fermat's erudition was awesome.10 He spoke all the principal European languages and even wrote poetry in some of them, and he was a busy commentator on the literature of the Greeks and Romans. Moreover, he was a mathematician of rare power. He was an independent inventor of analytical geometry, he contributed to the early development of calculus, he did research on the weight of the earth, and he worked on light refraction and optics. In the course of what turned out to be an extended correspondence with Pascal, he made a significant contribution to the theory of probability.

But Fermat's crowning achievement was in the theory of numbers-the analysis of the structure that underlies the relationships of each individual number to all the others. These relationships present countless puzzles, not all of which have been resolved to this very day. The Greeks, for example, discovered what they called perfect numbers, numbers that are the sum of all their divisors other than themselves, like 6 = 1 + 2 + 3. The next-higher perfect number after 6 is 28 = 1 + 2 + 4 + 7 + 14. The third perfect number is 496, followed by 8,128. The fifth perfect number is 33,550,336.
NiceT
18-11-05, 09:24
Pythagoras discovered what he called amicable numbers, "One who is the other I," numbers whose divisors add up to each other. All the divisors of 284, which are 1, 2, 4, 71, and 142, add up to 220; all the divisors of 220, which are 1, 2, 4, 5, 10, 11, 20, 22, 44, 55, and 110, add up to 284.

No one has yet devised a rule for finding all the perfect numbers or all the amicable numbers that exist, nor has anyone been able to explain all the varying sequences in which they follow one another. Similar difficulties arise with prime numbers, numbers like 1, 3, or 29, that are divisible only by 1 and by themselves. At one point, Fermat believed he might have discovered a formula that would always produce a prime number as its solution, but he warned that he could not prove theoretically that the formula would always do so. His formula produced 5, then 17, then 257, and finally 65,537, all of which were prime numbers; the next number to result from his formula was 4,294,967,297.

Fermat is perhaps most famous for propounding what has come to be known as "Fermat's Last Theorem," a note that he scribbled in the margin of his copy of Diophantus's book Arithmetic. The notion is simple to describe despite the complexity of its proof.

The Greek mathematician Pythagoras first demonstrated that the square of the longest side of a right triangle, the hypotenuse, is equal to the sum of the squares of the other two sides. Diophantus, an early explorer into the wonders of quadratic equations, had written a similar expression: x4 + y4 + z4 = u2. "Why," asks Fermat, "did not Diophantus seek two [rather than three] fourth powers such that their sum is square? The problem is, in fact impossible, as by my method I am able to prove with all rigor."11 Fermat observes that Pythagoras was correct that a2 + b2 = c2, but a3 + b3 would not be equal to c3, nor would any integer higher than 2 fit the bill: the Pythagorean theorem works only for squaring.

And then Fermat wrote: "I have a truly marvelous demonstration of this proposition which this margin is too narrow to contain."12 With this simple comment he left mathematicians dumbfounded for over 350 years as they struggled to find a theoretical justification for what a great deal of empirical experimentation proved to be true. In 1993, an English mathematician named Andrew Wiles claimed that he had solved this puzzle after seven years of work in a Princeton attic. Wiles's results were published in the Annals of Mathematics in May 1995, but the mathematicians have continued to squabble over exactly what he had achieved.

Fermat's Last Theorem is more of a curiosity than an insight into how the world works. But the solution that Fermat and Pascal worked out to the problem of the points has long since been paying social dividends as the cornerstone of modern insurance and other forms of risk management.

The solution to the problem of the points begins with the recognition that the player who is ahead when the game stops would have the greater probability of winning if the game were to continue. But how much greater are the leading player's chances? How small are the lagging player's chances? How do these riddles ultimately translate into the science of forecasting?

The 1654 correspondence between Pascal and Fermat on this subject signaled an epochal event in the history of mathematics and the theory of probability.* In response to the Chevalier de Méré's curiosity about the old problem, they constructed a systematic method for analyzing future outcomes. When more things can happen than will happen, Pascal and Fermat give us a procedure for determining the likelihood of each of the possible results-assuming always that the outcomes can be measured mathematically. They approached the problem from different standpoints. Fermat turned to pure algebra.

Pascal was more innovative: he used a geometric format to illuminate the underlying algebraic structure. His methodology is simple and is applicable to a wide variety of problems in probability.

The basic mathematical concept behind this geometric algebra had been recognized long before Fermat and Pascal took it up. Omar Khayyam had considered it some 450 years earlier. In 1303, a Chinese mathematician named Chu Shih-chieh, explicitly denying any originality, approached the problem by means of a device that he called the "Precious Mirror of the Four Elements." Cardano had also mentioned such a device.13

Chu's precious mirror has since come to be known as Pascal's Triangle. "Let no one say that I have said nothing new," boasts Pascal in his autobiography. "The arrangement of the subject is new. When we play tennis, we both play with the same ball, but one of us places it better."14

1
1 1
1 2 1
1 3 3 1
1 4 6 4 1
1 5 10 10 5 1
1 6 15 20 15 6 1

All sorts of patterns greet the eye when we first glance at Pascal's Triangle, but the underlying structure is simple enough: each number is the sum of the two numbers to the right and to the left on the row above.

Probability analysis begins with enumerating the number of different ways a particular event can come about-Cardano's "circuit." That is what the sequence of numbers in each of these expanding rows is designed to provide. The top row shows the probability of an event that cannot fail to happen. Here there is only one possible outcome, with zero uncertainty; it is irrelevant to probability analysis. The next row is the first row that matters. It shows a 50-50 situation: the probability of outcomes like having a boy-or a girl-in a family that is planning to have only one child, or like flipping a head on just one toss of a coin. Add across. With a total of only two possibilities, the result is either one way or the other, a boy or a girl, a head or a tail; the probability of having a boy instead of a girl or of flipping a head instead of a tail is 50%.

The same process applies as we move down the triangle. The third row shows the possible combinations of boys and girls in a family that produces two children. Adding across shows that there are four possible results: one chance of two boys, one chance of two girls, and two chances of one each-a boy followed by a girl or a girl followed by a boy. Now at least one boy (or one girl) appears in three of the four outcomes, setting the probability of at least one boy (or one girl) in a two-child family at 75%; the probability of one boy plus one girl is 50%. The process obviously depends on combinations of numbers in a manner that Cardano had recognized but that had not been published when Pascal took up the subject.

The same line of analysis will produce a solution for the problem of the points. Let us change the setting from Paccioli's game of balla to the game of baseball. What is the probability that your team will win the World Series after it has lost the first game? If we assume, as in a game of chance, that the two teams are evenly matched, this problem is identical to the problem of the points tackled by Fermat and Pascal.15

As the other team has already won a game, the Series will now be determined by the best of four out of six games instead of four out of seven. How many different sequences of six games are possible, and how many of those victories and losses would result in your team winning the four games it needs for the pennant? Your team might win the second game, lose the third, and then go on to win the last three. It might lose two in a row and win the next four. Or it might win the necessary four right away, leaving the opponents with only one game to their credit.

Out of six games, how many such combinations of wins and losses are there? The triangle will tell us. All we have to do is find the appropriate row.

Note that the second row of the triangle, the 50-50 row, concerns a family with an only child or a single toss of a coin and adds up to a total of two possible outcomes. The next row shows the distribution of outcomes for a two-child family, or two coin tosses, and adds up to four outcomes, or 22. The next row adds up to eight outcomes, or 23, and shows what could happen with a three-child family. With six games remaining to settle the outcome of the World Series, we would want to look at the row whose total is 26-or two multiplied by itself six times, where there will be 64 possible sequences of wins and losses.* The sequence of numbers in that row reads:

1 6 15 20 15 6 1

Remember that your team still needs four games to win the pennant, while the opposing team needs only three. There is just one way your team can win all the games-by winning all the games while the opponents win none; the number 1 at the beginning of the row refers to that possibility. Reading across, the next number is 6. There are six different sequences in which your team (Y) would gain the pennant while your opponents (O) win only one more game:

OYYYYY YOYYYY YYOYYY YYYOYY YYYYOY YYYYYO

And there are fifteen different sequences in which your team would win four games while your opponents win two.

All the other combinations would produce at least three games for the opposing team and less than the necessary four for yours. This means that there are 1 + 6 + 15 = 22 combinations in which your team would come out on top after losing the first game, and 42 combinations in which the opposing team would become the champions. As a result, the probability is 22/64-or a tad better than one out of three-that your team will come from behind to win four games before the other team has won three.
NiceT
18-11-05, 09:26
The examples reveal something odd. Why would your team play out all six remaining games in sequences where they would have won the pennant before playing six games? Or why would they play out all four games when they could win in fewer games?

Although no team in real life would extend play beyond the minimum necessary to determine the championship, a logically complete solution to the problem would be impossible without all of the mathematical possibilities. As Pascal remarked in his correspondence with Fermat, the mathematical laws must dominate the wishes of the players themselves, who are only abstractions of a general principle. He declares that "it is absolutely equal and immaterial to them both whether they let the [match] take its natural course."

The correspondence between Pascal and Fermat must have been an exciting exploration of new intellectual territory for both men. Fermat wrote to Carcavi about Pascal that "I believe him to be capable of solving any problem that he undertakes." In one letter to Fermat, Pascal admitted that "your numerical arrangements . . . are far beyond my comprehension." Elsewhere, he also described Fermat as "a man so outstanding in intellect . . . in the highest degree of excellence . . . . [that his works] will make him supreme among the geomasters of Europe."

More than mathematics was involved here for Pascal, who was so deeply involved with religion and morality, and for Fermat the jurist. According to their solutions, there is a matter of moral right involved in the division of the stakes in Paccioli's unfinished game of balla. Although the players could just as easily split the stakes evenly, that solution would be unacceptable to Pascal and Fermat because it would be unfair to the player who was lucky enough to be ahead when playing ceased.16

Pascal is explicit about the moral issues involved and chooses his words with care. In his comments about this work, he points out that "the first thing which we must consider is that the money the players have put into the game no longer belongs to them . . . but they have received in return the right to expect that which luck will bring them, according to the rules upon which they agreed at the outset." In the event that they decide to stop playing before the game is over, they will reenter into their original ownership rights of the money they have put into the pot. At that point, "the rule determining that which will belong to them will be proportional to that which they had the right to expect from fortune . . . . [T]his just distribution is known as the division." The principles of probability theory determine the division, because they determine the just distribution of the stakes.

Seen in these terms, the Pascal-Fermat solution is clearly colored by the notion of risk management, even though they were not thinking explicitly in those terms. Only the foolhardy take risks when the rules are unclear, whether it be balla, buying IBM stock, building a factory, or submitting to an appendectomy.

But beyond the moral question, the solutions proposed by Pascal and Fermat lead to precise generalizations and rules for calculating probabilities, including cases involving more than two players, two teams, two genders, two dice, or coins with two sides. Their achievement enabled them to push the limits of theoretical analysis far beyond Cardano's demonstration that two dice of six sides each (or two throws of one die) would produce 62 combinations or that three dice would produce 63 combinations.

The last letter of the series is dated October 27, 1654. Less than a month later, Pascal underwent some kind of mystical experience. He sewed a description of the event into his coat so that he could wear it next to his heart, claiming "Renunciation, total and sweet." He abandoned mathematics and physics, swore off high living, dropped his old friends, sold all his possessions except for his religious books, and, a short while later, took up residence in the monastery of Port-Royal in Paris.

Yet traces of the old Blaise Pascal lingered on. He established the first commercial bus line in Paris, with all the profits going to the monastery of Port-Royal.

In July 1660, Pascal took a trip to Clermont-Ferrand, not far from Fermat's residence in Toulouse. Fermat proposed a meeting "to embrace you and talk to you for a few days," suggesting a location halfway between the two cities; he claimed bad health as an excuse for not wanting to travel the full distance. Pascal wrote back in August:

I can scarcely remember that there is such a thing as Geometry [i.e., mathematics]. I recognize Geometry to be so useless that I can find little difference between a man who is a geometrician and a clever craftsman. Although I call it the best craft in the world it is, after all, nothing else but a craft . . . . It is quite possible I shall never think of it again.17

Pascal put together his thoughts about life and religion while he was at Port-Royal and published them under the title Pensées.18 In the course of his work on that book, he filled two pieces of paper on both sides with what Ian Hacking describes as "handwriting going in all directions . . . full of erasures, corrections, and seeming afterthoughts." This fragment has come to be known as Pascal's Wager (le pari de Pascal), which asks, "God is, or he is not. Which way should we incline? Reason cannot answer."

Here, drawing on his work in analyzing the probable outcomes of the game of balla, Pascal frames the question in terms of a game of chance. He postulates a game that ends at an infinite distance in time. At that moment, a coin is tossed. Which way would you bet-heads (God is) or tails (God is not)?

Hacking asserts that Pascal's line of analysis to answer this question is the beginning of the theory of decision-making. "Decision theory," as Hacking describes it, "is the theory of deciding what to do when it is uncertain what will happen."19 Making that decision is the essential first step in any effort to manage risk.

Sometimes we make decisions on the basis of past experience, out of experiments we or others have conducted in the course of our lifetime. But we cannot conduct experiments that will prove either the existence or the absence of God. Our only alternative is to explore the future consequences of believing in God or rejecting God. Nor can we avert the issue, for by the mere act of living we are forced to play this game.

Pascal explained that belief in God is not a decision. You cannot awaken one morning and declare, "Today I think I will decide to believe in God." You believe or you do not believe. The decision, therefore, is whether to choose to act in a manner that will lead to believing in God, like living with pious people and following a life of "holy water and sacraments." The person who follows these precepts is wagering that God is. The person who cannot be bothered with that kind of thing is wagering that God is not.

The only way to choose between a bet that God exists and a bet that there is no God down that infinite distance of Pascal's coin-tossing game is to decide whether an outcome in which God exists is preferable-more valuable in some sense-than an outcome in which God does not exist, even though the probability may be only 50-50. This insight is what conducts Pascal down the path to a decision-a choice in which the value of the outcome and the likelihood that it may occur will differ because the consequences of the two outcomes are different.*

If God is not, whether you lead your life piously or sinfully is immaterial. But suppose that God is. Then if you bet against the existence of God by refusing to live a life of piety and sacraments you run the risk of eternal damnation; the winner of the bet that God exists has the possibility of salvation. As salvation is clearly preferable to eternal damnation, the correct decision is to act on the basis that God is. "Which way should we incline?" The answer was obvious to Pascal.

Pascal produced an interesting by-product when he decided to turn over the profits from his bus line to help support the Port-Royal monastery.20 In 1662, a group of his associates at the monastery published a work of great importance, La logique, ou l'art de penser (Logic, or the Art of Thinking), a book that ran to five editions between 1662 and 1668.Ý Although its authorship was not revealed, the primary-but not the sole-author is believed to have been Antoine Arnauld, a man characterized by Hacking as "perhaps the most brilliant theologian of his time."21 The book was immediately translated into other languages throughout Europe and was still in use as a textbook in the nineteenth century.

The last part of the book contains four chapters on probability that cover the process of developing a hypothesis from a limited set of facts; today, this process is called statistical inference. Among other matters, these chapters contain a "rule for the proper use of reason in determining when to accept human authority," rules for interpreting miracles, a basis of interpreting historical events, and the application of numerical measures to probability.22

The final chapter describes a game in which each of ten players risks one coin in the hope of winning the nine coins of his fellow players. The author then points out that there are "nine degrees of probability of losing a coin for only one of gaining nine."23 Though the observation is innocuous, the sentence has earned immortality. According to Hacking, this is the first occasion in print "where probability, so called, is measured."24

The passage deserves immortality for more reasons than that. The author admits that the games he has described are trivial in character, but he draws an analogy to natural events. For example, the probability of being struck by lightning is tiny but "many people . . . are excessively terrified when they hear thunder."25 Then he makes a critically important statement: "Fear of harm ought to be proportional not merely to the gravity of the harm, but also to the probability of the event."26 Here is another major innovation: the idea that both gravity and probability should influence a decision. We could turn this assertion around and state that a decision should involve the strength of our desire for a particular outcome as well as the degree of our belief about the probability of that outcome.

The strength of our desire for something, which came to be known as utility, would soon become more than just the handmaiden of probability. Utility was about to take its place at the center of all theories of decision-making and risk-taking. It will reappear repeatedly in the chapters ahead.

Historians are fond of referring to near-misses-occasions when something of enormous importance almost happened but, for one reason or another, failed to happen. The story of Pascal's Triangle is a striking example of a near-miss. We have seen how to predict the probable number of boys or girls in a multi-child family. We have gone beyond that to predict the probable outcome of a World Series (for evenly matched teams) after part of the Series has been played.

In short, we have been forecasting! Pascal and Fermat held the key to a systematic method for calculating the probabilities of future events. Even though they did not turn it all the way, they inserted the key into the lock. The significance of their pioneering work for business management, for risk management, and, in particular, for insurance was to be seized upon by others-for whom the Port-Royal Logic was an important first step. The idea of forecasting economic trends or of using probability to forecast economic losses was too remote for Pascal and Fermat to have recognized what they were missing. It is only with hindsight that we can see how close they came.

The inescapable uncertainty of the future will always prevent us from completely banishing the fates from our hopes and fears, but after 1654 mumbo jumbo would no longer be the forecasting method of choice.

*The full text of this correspondence, translated into English, appears in David, 1962, Appendix 4.

*Mathematicians will note that what Pascal has really provided here is the binomial expansion, or the coefficients of each successive multiplication of (a + b) by itself. For example, the first row is (a + b)0 = 1, while the fourth row is (a + b)3 = 1a3 + 3a2b + 3ab2 + 1b3.

*At this point, Pascal anticipates Daniel Bernoulli's epochal breakthrough in decision analysis in 1738, which we explore in detail in Chapter 6.

ÝThe Latin title for this book was Ars Cogitandi. See Hacking, 1975, pp. 12 and 24.
NiceT
18-11-05, 09:31
Còn đây là bài giới thiệu cũng từ trang web BusinessWeek Online


AGAINST THE GODS
The Remarkable Story of Risk
By Peter L. Bernstein Wiley -- 383pp -- $27.95


Statisticians, in the telling of Peter L. Bernstein, are nothing less than Promethean heroes. He argues that the people who mastered the calculation of probabilities, beginning in 16th century Italy, stole from the gods something more precious than fire--namely, the understanding of risk. We can't see the future, of course, Bernstein writes in Against the Gods: The Remarkable Story of Risk. But by calculating probabilities, we can do the next best thing: make intelligent decisions--and take control of our lives--on the basis of scientific forecasts. The mastery of risk is the foundation of modern life, he contends, from insurance to the stock market to engineering, science, and medicine.

Against the Gods sets up an ambitious premise and then delivers on it. This is a lively, panoramic book that includes tales of everyone from Omar Khayyam to Florence Nightingale to Daniel Ellsberg. Khayyam, the poet, was also a mathematician. Nightingale, the nurse, once offered to fund a chair in applied statistics at Oxford University. And Ellsberg, the Defense Dept. analyst who leaked the Pentagon Papers, specialized in the behavioral psychology of risk-taking.

Bernstein argues that the mastery of risk is what divides modern from ancient times. The ancient Greeks, for example, adept as they were with numbers, regarded mathematics as belonging to a higher plane, unsuited for the messiness of daily life. Amazingly, Bernstein says of dice-rolling: ``Though people played these games with insatiable enthusiasm, no one appears to have sat down to figure the odds.'' Anyone who did would have cleaned up.

Someone who did try to clean up is Bernstein's first hero, Girolamo Cardano, a Milanese born around 1500 who was not only a famous physician but a compulsive gambler. His vice led to his greatest achievement: publishing the first serious work to lay out the statistical principles of probability.

From then on, things happened quickly. Over the years, the field of risk attracted such giants as Galileo, Pascal, Newton, Gauss, Poincare, von Neumann, and Keynes. All of them come alive here. Blaise Pascal, for instance, is remembered as a religious philosopher. But as a youthful mathematician, he teamed up with Pierre de Fermat--famed for the mathematical puzzle known as Fermat's last theorem--on a solution to an old conundrum: how to divide the stakes of an uncompleted gambling game. With its implications for prediction in other fields, Bernstein says, Pascal and Fermat's solution became ``the cornerstone of modern insurance and other forms of risk management.''

Confidence in probability and statistics reached a high-water mark in the Victorian era. By the 20th century, confidence waned a bit. Long-run averages aren't always helpful, John Maynard Keynes famously observed, because ``in the long run, we are all dead.''

Next to take a crack at risk were game theorists, led by John von Neumann, the mid-century genius of bomb-making and computing. Game theory presented life as a contest in which people seek to maximize rewards and minimize risks--while others do the same, often with conflicting objectives. Many game theorists repeated a mistake of the Victorians, by having too much faith that human behavior could be modeled mathematically. Still, their insight paved the way for modern portfolio theory, which says diversification reduces risk. Harry Markowitz put forth the theory at age 25 in a 1952 paper in the Journal of Finance.

Bernstein brings Against the Gods up to the present with an account of how some skeptical researchers--beginning with the Israeli-born psychologists Amos Tversky and Daniel Kahneman in the 1950s--trashed the classical model of rationality by exploring how people actually behave in risky situations. The bottom line: People behave irrationally, even when they know they are doing so. Bernstein relates an anecdote about a distinguished Soviet professor of statistics who showed up at an air-raid shelter during a German bombardment. Until then, he had scoffed at the prospect of being hit. What changed his mind? ``Look,'' he explained. ``There are 7 million people in Moscow and one elephant. Last night, they got the elephant.''

Like Girolamo Cardano, Bernstein himself is a Renaissance man. He's not only an author--Against the Gods is his sixth book--but a working Wall Street economist who consults for institutional investors and companies. Against the Gods is loaded with tidbits of modern economic research and war stories from Bernstein's 40-year career, which makes for an enchanting blend of history and investment advice.

Bernstein clearly relishes this stuff. In a chapter on derivatives, he devotes two pages to describing an intricate ``cotton loan'' issued in 1863 by the Confederacy. Then, he launches into the principles behind the model for the proper pricing of options that was developed in the 1960s by Fischer Black, Myron Scholes, and Robert C. Merton.

After the early chapters, there's not much here outside of finance, which is clearly Bernstein's main interest. Even within finance, Bernstein gives short shrift to important topics such as Monte Carlo analysis, which uses computer-generated random numbers to solve intractable problems. But that's O.K. Bernstein covers plenty of ground as it is. And he does so with the verve of someone who has lived his subject.

By Peter Coy
shinichi
26-11-05, 00:40
Ông gấu đâu rồi , hết bận vãi đái con gà mái chưa ?
wawawa
21-12-05, 11:53
Hihi, em up cái này lên nhân tiện hỏi thăm bác Gaup :D
tuananh247
21-12-05, 16:27
bác Gấu đâu rồi, bận vãi đái hết chưa thì dịch tiếp cho bà con coi với, bỏ lâu quá,
DTA
22-12-05, 11:00
Atula lại thổi anh rồi.

Các bác khen em dịch em cảm ơn, mà thế này là khen bà già ăn tiết rồi. Em mà có thời gian ngồi nghiền ngẫm em dịch còn Việt hơn. Thế các bác mới hiểu em khó chịu thế nào khi đọc các loại bài dịch của chú Janus, văn dịch ********* gì mà trúc tra trúc trắc, quần chúng đọc làm sao mà hiểu được. Dịch cho người chứ có phải để thẩm du cho minh đâu phỏng các bác?

Em dịch cho các bạn đọc chơi thôi, dịch để in thì lại thành thẩm du rồi. Mà dịch vì tiền thì lại càng không bõ.

Dù sao cũng cảm ơn các bác khen em, em sẽ cố dịch cho xong, chắc khoảng 2-3 tháng nếu cứ tốc độ này, dịch xong mà thích thì in cũng được.

Em cần tìm một bác gái tính tình cẩn thận giúp em một việc đơn giản, sau này nếu sách có in em ghi tên bác đó vào cùng. Hai bác jinxy và cavenui có vẻ phù hợp với công việc này, nếu như hai bác đó không quá bận. Em định sẽ gửi cho các bác bản scan dạng tiff, các bác dùng Microsoft Document Imaging đi kèm Office Xp nhận dạng rồi format lại text rồi gửi lại file doc tiếng Anh cho em. Việc này cũng rất nhẹ nhàng thôi, hơi mất công chỉnh sửa chút xíu vì OCR của MDI cũng rất tốt. Bác nào giúp được em thì mật thư cho em.

Anh vốn thích cờ bạc nên mới tò mò chui vào đây đọc bản dịch của Gấu, cũng thú vị. Nhưng anh cũng hơi chạnh lòng vì thấy chú được các em xanh đỏ khen ngợi nhiều quá, e rằng công việc dịch dọt của chú cứ mãi ở mức a ma tơ này mà thôi. Thằng Janus dù sao vẫn có hẳn một theory riêng về dịch thuật, và theory ấy không phải không có cơ sở, cho dù chú có vừa ý hay không. Đấy ít ra cũng là một phẩm chất cần có của dịch giả, phỏng ạ?

Dù sao anh cũng chúc chú dịch xong cuốn này, rồi sẽ mổ xẻ sau. Dịch như hiện nay anh thấy mới chỉ đạt cấp độ bản nháp thôi, chú nhỉ.

Thôi, anh lại biến đây.
Quan Nhân
22-12-05, 11:53
Em đồng ý với bác DTA, bác Gấu dịch đúng mà chả hay mấy, đọc cứ nhạt nhạt thế nào ý. Cái này còn phải sửa thêm thì đọc mới thích.
Gaup
22-12-05, 20:06
Bác DTA em, một bản dịch tốt là một bản dịch bám sát ý tưởng của bản gốc và trình bày bằng một thứ bản ngữ rõ ràng, dễ hiểu và hài hước khi có thể - tất cả cái gọi là triết lý dịch thuật của em chỉ có thế thôi chứ em không có một cái gì gọi là cả một lý thuyết về dịch như dưỡng tử của em. Hơn mười năm làm mọi việc liên quan đến dịch em bác đã tiếp cận với đủ loại lý thuyết dịch của đủ loại người, những loại thành sách vở cũng có mà những loại bí quyết truyền miệng truyền tay cũng có và em bác cảm nhận được rằng dịch cũng như Phậc tất cả đều là ở tại tâm.

Bác em bảo em dịch thế này chỉ làm bản nháp thì em chịu bác vậy nhưng mà em chỉ nghĩ là bác em vốn dân tiếng Đức là một, thứ hai là cũng không thể có thời gian mà ngồi so từng dòng bản gốc với bản dịch của em để mà biết chất lượng thế nào - nên chăng cái câu chê bai kiểu người lớn xoa đầu trẻ con chỉ là cái câu nhận định thiếu cơ sở. Bởi nếu bác em thực sự mà ngồi xem xét từng dòng thì đã thấy bên dưới câu chữ dù không có lý thuyết nhưng đ ịt con mẹ có tấm lòng. Thế mới là quý chứ.

Thật em không hiểu cái thời em bác múa may quay cuồng làm mưa làm gió trên thị trường dịch thuật thế giới, cái thời em bác làm cho những James Baker, Albright, Bush cha, Đặng Tiểu Bình, Từ Đăng Hữu, Lưu Chính Cương, Barshefky, Boutros Ghali, vv. chói mắt run chân vì tài năng chuyển ngữ đa ngôn ngữ Việt Nam tự cổ chí kim chỉ có một thì bác em đang đứng run rẩy buôn thuốc lá lậu bên góc phố nào ở Đông Bá Linh để giờ bác em về ngồi trên cao mắng em dịch đểu. Thời thế đảo điên.
Bachhac
22-12-05, 21:09
Bác DTA em, một bản dịch tốt là một bản dịch bám sát ý tưởng của bản gốc và trình bày bằng một thứ bản ngữ rõ ràng, dễ hiểu và hài hước khi có thể - tất cả cái gọi là triết lý dịch thuật của em chỉ có thế thôi chứ em không có một cái gì gọi là cả một lý thuyết về dịch như dưỡng tử của em. Hơn mười năm làm mọi việc liên quan đến dịch em bác đã tiếp cận với đủ loại lý thuyết dịch của đủ loại người, những loại thành sách vở cũng có mà những loại bí quyết truyền miệng truyền tay cũng có và em bác cảm nhận được rằng dịch cũng như Phật tất cả đều là ở tại tâm.

Bác em bảo em dịch thế này chỉ làm bản nháp thì em chịu bác vậy nhưng mà em chỉ nghĩ là bác em vốn dân tiếng Đức là một, thứ hai là cũng không thể có thời gian mà ngồi so từng dòng bản gốc với bản dịch của em để mà biết chất lượng thế nào - nên chăng cái câu chê bai kiểu người lớn xoa đầu trẻ con chỉ là cái câu nhận định thiếu cơ sở. Bởi nếu bác em thực sự mà ngồi xem xét từng dòng thì đã thấy bên dưới câu chữ dù không có lý thuyết nhưng đ ịt con mẹ có tấm lòng. Thế mới là quý chứ.

Thật em không hiểu cái thời em bác múa may quay cuồng làm mưa làm gió trên thị trường dịch thuật thế giới, cái thời em bác làm cho những James Baker, Albright, Bush cha, Đặng Tiểu Bình, Từ Đăng Hữu, Lưu Chính Cương, Barshefky, Boutros Ghali, vv. chói mắt run chân vì tài năng chuyển ngữ đa ngôn ngữ Việt Nam tự cổ chí kim chỉ có một thì bác em đang đứng run rẩy buôn thuốc lá lậu bên góc phố nào ở Đông Bá Linh để giờ bác em về ngồi trên cao mắng em dịch đểu. Thời thế đảo điên.

Chú Gaup,

A-ma-tơ + Đ ịt mẹ tấm lòng = Bản dịch nháp
Gaup
22-12-05, 21:12
Con đĩ Hạc kia, anh mày mà là a ma tơ thì ai sẽ là bờ rô phét sừn lồ?
Bachhac
22-12-05, 21:29
Con đĩ Hạc kia, anh mày mà là a ma tơ thì ai sẽ là bờ rô phét sừn lồ?

Chú Gaup,
Dân tiếng Đức + Buôn thuốc lá = Bờ rô phét sừn lồ

( Em xin lỗi bác DTA, tại thằng Gaup nó dọa giết em qua mật thư )
Quan Nhân
22-12-05, 21:50
Hóa ra anh em không thổi kèn cái là bác Gấu dỗi ngay, đanh đá đếch chịu được, hị hị.
Gaup
22-12-05, 22:16
Không phải không phải, thổi kèn đúng chỗ thì anh chú chết ngay nhưng mà thổi lung tung thì không được. Giờ ai đó chỉ ra những đoạn nào anh đã hiểu sai hay dịch sai và có đủ dẫn chứng chính xác để backup phê bình thì anh chú chịu ngay, lạy cụ ạ. Chứ tự nhiên vào bảo là dịch kém, dịch sai, dịch nháp mà lại không nói lên được kém, sai, nháp ở chỗ nào thì anh điên là phải. Chứ không phải vì anh chỉ thích được thổi kèn, chú QN vỡ ra chưa?
vandotvodat
22-12-05, 23:21
Hị hị! Hẳn nào bác Gấu em đ éo vào dịch nữa, chắc sợ lòi cái sai ra, thằng khác nó chửi, phỏng? :icecream:
Bác cứ vào dịch nốt đê, sai em vẫn thổi cho bác là được chớ gì? Đ éo giề! Đang hay lại đứt chun quần!
Quan Nhân
23-12-05, 10:27
Em thử chỉnh lại 1 tí phần đầu, bác Gấu xem thế nào không lại bảo em thổi kèn không đúng kiểu bác thích. Em chưa xem bản gốc E mà chỉ căn cứ vào bản dịch để chỉnh lại câu chữ cho giống tiếng Việt hơn. Mấy từ tàu khìn của bác như phi lộ, dẫn nhập với mấy từ trong bài đọc ngang phè phè, chỉ thấy trong kiếm hiệp thôi.


Mở đầu

Điều gì làm nên sự khác biệt giữa hàng ngàn năm lịch sử và khoảng thời gian mà chúng ta gọi là thời hiện đại? Câu trả lời không chỉ đơn thuần nằm ở tiến bộ trong khoa học, công nghệ, chủ nghĩa tư bản hay nền dân chủ.

Quá khứ xa xôi mang trong mình vô số những nhà khoa học, nhà toán học, nhà phát minh, nhà công nghệ, và những triết gia chính trị học xuất chúng. Bầu trời đã được đồ bản, thư viện vĩ đại ở Alexandria đã được xây, và hình học Euclid đã được giảng dạy hàng trăm năm trước khi Jesus Christ ra đời. Thời đó, nhu cầu về các phát kiến công nghệ để phục vụ chiến tranh cũng cao không kém gì ngày nay. Than đá, dầu lửa, sắt và đồng đã phục vụ loài người hàng ngàn năm, đồng thời việc đi lại và giao lưu đã đánh dấu những bước khởi đầu của nền văn minh mà đến nay chúng ta còn lưu dấu được.

Ý tưởng cách mạng định hình lằn ranh giới giữa thời hiện đại và quá khứ chính là khả năng kiểm soát và làm chủ rủi ro hay sự nhận thức được rằng tương lai không đơn giản là ý thích nhất thời của thần thánh và con người ta không bị động trước tự nhiên. Cho tới khi loài người khám phá ra một con đường để vượt qua lằn ranh giới đó thì tương lai chẳng qua vẫn chỉ là một tấm gương phản chiếu quá khứ hay là lãnh địa u minh của các nhà tiên tri và bọn thầy bói, những người nắm giữ độc quyền kiến thức về những sự kiện người ta chờ đợi.

Cuốn sách này kể câu chuyện về một nhóm các nhà tư tưởng, những người có tầm nhìn xuất sắc giúp khai sáng (em kô tìm được từ nào chuẩn hơn nhưng phát lộ là từ của tàu khìn, sai bét) ra cách có thể kéo tương lai lại phục vụ cho hiện tại. Thông qua việc chỉ cho thế giới cách thông hiểu rủi ro, đo lường nó, và cân nhắc những hậu quả của nó, những nhà tư tưởng này đã chuyển đổi việc chấp nhận rủi ro [risk-taking] thành một trong những chất xúc tác hàng đầu định hướng cho xã hội Tây phương hiện đại. Cũng giống như Thần Prometheus [Thần lửa Prô-mê-tê trong thần thoại Hy lạp], họ đã dám thách thức lại các thánh thần và rồi lần mò trong bóng tối để tìm ra ánh sáng có thể giúp biến đổi tương lai từ kẻ thù thành cơ hội. Thay đổi trong thái độ đối với việc quản lý rủi ro có được nhờ các thành tựu của họ đã giúp chuyển hóa sự say mê của con người đối với các trò chơi và môn cá cược thành tăng trưởng kinh tế, chất lượng sống được cải thiện, và tiến bộ công nghệ.

Thông qua việc hoạch định một quy trình duy lý để chấp nhận rủi ro, những nhà phát kiến này đã cung cấp thành tố trước đây còn thiếu để giúp thúc đẩy khoa học và kinh doanh tiến nhanh vào thế giới của tốc độ, năng lực, truyền thông tức thời, và ngành tài chính tinh vi?, một thế giới định hình thời đại của chúng ta. Những phát hiện của họ về bản chất của rủi ro, và môn nghệ thuật đồng thời là ngành khoa học của các lựa chọn, có vai trò trung tâm trong nền kinh tế thị trường hiện đại mà các quốc gia khắp thế giới đang vội vã du nhập. Dù còn nhiều cạm bẫy và khó khăn, nền kinh tế tự do, với sự lựa chọn đóng vai trò trung tâm (để nhất quán với câu trên), đã mang đến cho nhân loại khả năng tiếp cận tới những điều tốt đẹp của cuộc sống ở mức cao nhất từ trước đến nay.
Gaup
23-12-05, 12:03
Bác Quan Nhân em có nhiệt tình nhưng lại không biết Trung Văn nên sửa lung tung quá, thôi đừng sửa nữa hộ em. Em dùng từ Hán Việt loạn bậy không phải vì tiếng Việt em kém hơn tiếng Việt của bác mà vì em cố tình làm thế để bôi ra những thứ mầu sắc cổ đỉn như bác em đọc thấy - những thứ vớ vẩn em cố tình chêm vào là để làm duyên, để nhuận sắc, để chiêu tuyết cho bản dịch và cũng để chiêu mộ bạn đọc. Bác không ở trong cái tâm tư nghịch ngợm với câu chữ uốn éo uốn lượn như con giun cái kén, như con chó con mèo trong gầm chạn, ấn đệm và độn thanh âm để làm tăng tính nhạc ngô nghê thì bác em đừng sửa lợn lành thành lợn què hộ em. Bản dịch này em làm đã rất kỹ càng và nếu sau này có đưa in em chắc chắn sẽ còn phải sửa lại một lần nữa sao cho những thứ đường kim mũi chỉ gắn kết Việt tây trở nên mờ nhạt đi hơn nhiều nữa. Nói chung lại bác em đừng sửa từ tiếng Việt của em vì em dùng từ gì là đã tính toán nát óc ra từ đấy để làm sao cân đong được đủ và không thừa không thiếu ý chính của văn bản gốc - những chỗ nào quá lố là cố tình chứ không phải vì lúng túng. Em bác đã qua giai đoạn lúng túng với ngoại ngữ được khoảng 10 năm rồi. Đi dịch cabin cho những cuộc hội đàm cấp cao (Bush - Đặng Tiểu Bình 1995, James Baker - Nguyễn Cơ Thạch 1996, vv) làm gì có thời gian đâu mà có thể lúng túng được.

Nhiệt tình của tuổi trẻ có nhiều điểm hay nhưng nếu thiếu một nền tảng kiến thức thực sự vững chắc đằng sau thì lại thành ra dở.
thanglong
23-12-05, 14:25
Trình độ dịch và đanh đá thì chê thế léo nào được anh Gấu em...hê hê...

Anh Gấu dịch tiếp đê, em đang muốn đọc để kiểm chứng xem trình về xác suất thống kê của em đến đâu đây. Với cả, dạo này lại sa vào cái trò chứng khoán. Nhiều lúc mông lung lắm...
Quan Nhân
23-12-05, 15:49
Mk, em ngoài giang hồ rồi nhưng quả này cũng phải làm cho xong, ai lại thổi có nửa chừng bỏ đi mất cả hứng, nhể. Bác Gấu em toàn đi dịch cho lãnh đạo cao cấp khựa-mẽo từ năm mười mấy tuổi, thảo nào nhiễm văn phong khựa là phải, em đã nhận xét là cấm có sai, bác dịp tới mà về nước phải cố gắng đi học mấy khóa ngắn hạn về ngữ pháp và câu cú tiếng Việt, nói chung là gấp nhưng nếu bác cố gắng thì cũng không uổng đâu.

Lý luận của bác làm em nghĩ đến kiểu ngày xưa có thằng ăn phở miền Bắc ngon mới nghĩ đến chuyện đem vào bán trong SG. Vào trong ấy lại phải thêm thắt gia vị cho nó hợp với dân trong ấy, thế là cho nhiều đường vào, ăn kèm thêm cả bát rau sống nữa. Dân trong đấy thì lúc đầu có biết gì đâu, cứ thấy lạ mà ăn cũng được, thế là táng lấy táng để. Sau này thành lệ, ăn phở SG cứ phải thế. Dân Bắc vào thấy thế thì kêu là đếch phải phở, nhất là mấy cụ gì nhà văn hay kỹ tính gì gì ấy. Cùng mang danh là phở, thành phần cũng na ná nhau, nhưng hương vị rõ là khác, phỏng bác. Thôi em ra ngắm phố phường, lát nữa quay lại.
5xu
23-12-05, 19:23
Gấu dịch Freakeconomics đi. Có publisher định nhờ Gấu đấy. Liên lạc đi.
Nguyễn Thành Luân
23-12-05, 21:32
Em bác đã qua giai đoạn lúng túng với ngoại ngữ được khoảng 10 năm rồi. Đi dịch cabin cho những cuộc hội đàm cấp cao (Bush - Đặng Tiểu Bình 1995, James Baker - Nguyễn Cơ Thạch 1996, vv) làm gì có thời gian đâu mà có thể lúng túng được.


Thế hãng taxi Thủ Đô có giải thưởng cho: "người công nhân lái taxi có trình độ đa ngoại ngữ giỏi nhất thế giới" ko anh Gấu? Tầm 95,96 bác DTA đứng run rẩy bán thuốc lá lậu ở Đông Bá Linh thì bác Gấu em chả đang lọ mọ chở Tây đi đá phò còn giề. Vậy mà bay sang Mẽo dịch cho nãnh đạo cấp cao chả thấy hãng taxi Ha noi thổi kèn gì cả lol :))
DTA
27-12-05, 10:33
Bác DTA em, một bản dịch tốt là một bản dịch bám sát ý tưởng của bản gốc và trình bày bằng một thứ bản ngữ rõ ràng, dễ hiểu và hài hước khi có thể - tất cả cái gọi là triết lý dịch thuật của em chỉ có thế thôi chứ em không có một cái gì gọi là cả một lý thuyết về dịch như dưỡng tử của em. Hơn mười năm làm mọi việc liên quan đến dịch em bác đã tiếp cận với đủ loại lý thuyết dịch của đủ loại người, những loại thành sách vở cũng có mà những loại bí quyết truyền miệng truyền tay cũng có và em bác cảm nhận được rằng dịch cũng như Phậc tất cả đều là ở tại tâm.

Bác em bảo em dịch thế này chỉ làm bản nháp thì em chịu bác vậy nhưng mà em chỉ nghĩ là bác em vốn dân tiếng Đức là một, thứ hai là cũng không thể có thời gian mà ngồi so từng dòng bản gốc với bản dịch của em để mà biết chất lượng thế nào - nên chăng cái câu chê bai kiểu người lớn xoa đầu trẻ con chỉ là cái câu nhận định thiếu cơ sở. Bởi nếu bác em thực sự mà ngồi xem xét từng dòng thì đã thấy bên dưới câu chữ dù không có lý thuyết nhưng đ ịt con mẹ có tấm lòng. Thế mới là quý chứ.

Thật em không hiểu cái thời em bác múa may quay cuồng làm mưa làm gió trên thị trường dịch thuật thế giới, cái thời em bác làm cho những James Baker, Albright, Bush cha, Đặng Tiểu Bình, Từ Đăng Hữu, Lưu Chính Cương, Barshefky, Boutros Ghali, vv. chói mắt run chân vì tài năng chuyển ngữ đa ngôn ngữ Việt Nam tự cổ chí kim chỉ có một thì bác em đang đứng run rẩy buôn thuốc lá lậu bên góc phố nào ở Đông Bá Linh để giờ bác em về ngồi trên cao mắng em dịch đểu. Thời thế đảo điên.

Ha ha ha...
Gấu dốt! Càng nói càng tòi ra cái a ma tơ mà còn cứ cố cãi chầy cãi bửa. Về đạo dịch thuật, một thằng dịch chuyên nghiệp thì đ'eo bao giờ được nói là không có thời gian. Không có thời gian thì gọi thế đ'eo là chuyên nghiệp được? Tóm lại, đã gọi là dịch chuyên nghiệp là lúc đ'eo nào cũng phải có thời gian, chứ cứ bôi bản dịch ra mãi không xong là thế đ'eo nào.

Còn bản gấu bốt không phải bản nháp thì gấu định đem đi in à, nếu đúng thế thì cho anh can ngay. Dù không rách việc đi bới sâu tìm vết nhưng đọc lướt qua cũng đã thấy là phải xếp vào loại "cần biên tập" rồi.

Còn những cái tên kinh hồn táng đởm mà Gấu kể ra thì anh 'eo hiểu là gì vì anh e'o thấy bọn đó viết cái gì cả. Mãi mới hiểu ra là Gấu dịch cabin. Nếu Gấu tự khoe tài thì anh phải nói rằng tài đấy là cái tài "phiên dịch" chứ đ'eo phải là tài của "dịch giả", nhá!
Quan Nhân
27-12-05, 11:58
Thật là nghe bác Gấu và bác DTA nhắc đến tên mấy tay ngoại quốc kia làm em lại chạnh lòng nhớ đến hồi trước mình đi dịch cho lần Clinton sang HN đàm phán thương mại với bác An nhà mình, lại còn dạo bác Mạnh sang Mỹ ký hiệp định song phương với Bush cha nữa chứ. Ôi thời oanh liệt nay còn đâu :icon_cry:!
quasa
27-12-05, 13:05
Thôi, Gấu ơi, dịch làm dek gì bạn.
Người cần đọc thì đọc được bằng ngôn ngữ gốc của nó rồi, dịch cho người đọc giải trí không thì phí cho nên kết luận là Gấu đưa luôn bản scan hoặc PDF lên cho nó nhanh và có ích.
Mây
27-12-05, 22:03
Em thì em cứ thích quy ra thóc bác DTA ạ. Hồi em thất nghiệp í, có bác bác mang đến nhà quả tiểu thuyết dày cộp, bảo dịch cái này đi. Em tính sơ sơ 1 trang chắc được khoảng 40 nghìn. Thế là em dỗi, em ứ dịch. Hôm sau ông già mang tập tài liệu hội thảo của ADB về bảo là dịch đi để mấy hôm nữa ngồi cabin. Dịch cái đấy được 10USD/trang, đến hôm ngồi cabin lại được thêm 200USD/buổi làm việc. Em hỏi ông già em là sao giá dịch khác nhau vậy, ông già bảo thì loại này khó nhằn, bao thằng phải cố nuốt mà cứ nghèn nghẹn. Thế là thế nào bác DTA?
Mây
27-12-05, 23:20
Dịch tài liệu để phát mọi người xem thêm í, còn hôm cabin dịch thêm nữa. Sách thì tùy từng quyển mà tiền dịch cao thôi, chứ không phải quyển nào cũng được như thế.
5xu
28-12-05, 02:17
Còn những cái tên kinh hồn táng đởm mà Gấu kể ra thì anh 'eo hiểu là gì vì anh e'o thấy bọn đó viết cái gì cả. Mãi mới hiểu ra là Gấu dịch cabin. Nếu Gấu tự khoe tài thì anh phải nói rằng tài đấy là cái tài "phiên dịch" chứ đ'eo phải là tài của "dịch giả", nhá!

Em biên tập lại bác DTA cái. Phải gọi là thông ngôn mới đúng bác ạ. Phiên dịch là cái đ'o gì?

Nhưng em công nhận cái trò thông ngôn mà lên đỉnh cao cũng là kinh đấy bác ạ. Dịch consecutive 2 chiều trước cả trăm người đã thấy nể rồi, còn dịch simultaneous 2 chiều mà cho cả trăm thằng đeo headphone nghe rồi gật gù thì kinh lắm đấy.
lonton
28-12-05, 10:59
Hố hố bác DTA em nói thế là đã đủ hiểu là chả biết cái giề về nghề dịch. Bác em ơi, dịch cabin nó đã là đỉnh cao của mọi hình thức dịch rồi. Em nói thế này em sợ bác lại chặn họng em bảo là chẳng lẽ dịch cabin lại còn đỉnh cao hơn cả dịch Shakespeare nên em dặn trước là không so sánh quả táo với quả nho như thế. Hình thức cung cách dịch khác với nội dung của tài liệu được dịch, vv.

Chắc trên này có nhiều bạn còn nhớ đợt hội thảo việt nam ở bảo tàng lịch sử tự nhiên ở New York em bác hai ngày liền dịch liền tù tì từ thuốc nam thuốc bắc sang lên đồng thầy bói cúng tế của dân thiểu số sang thơ ca quan họ vần vèo lịch sử cận đại trung đại cổ đại. Mỗi bài tham luận của diễn giả là một loạt các từ vựng chuyên môn chuyên ngành rộng hẹp tiếng latin tiếng Anh tiếng Pháp. Trời ơi, em thật là một trang hảo hán về dịch thuật. Thật tuyệt vời! Khán giả có người đề bài thơ làm chứng rằng:

Một hôm nào đó
Như bao hôm nào
Chú phiên dịch nhỏ
Bỏ trym vào bao

Chuyên nghiệp không có nghĩa là dành hết thời gian cho nó mà là trong thái độ làm việc, trong những tiêu chuẩn hết sức cao mình áp dụng vào công việc. Chuyên nghiệp ở đâu cũng thế là một thái độ đối với đối tượng công việc chứ không phải lượng thời gian mình dành cho nó.

Còn biên tập thì dĩ nhiên rồi, cái gì mà chẳng cần phải được biên tập. Bác em có lẽ cũng cần phải được biên tập, có lẽ cũng mới chỉ là bản nháp trong bàn tay tạo hóa, còn phải tự sửa mình và được sửa nhiều.

Nói về chuyện biên tập em bác cũng là biên tập chuyên nghiệp, chả có gì bác nói mà em không biết từ trước.

ờ...
rẽ qua đây đọc bài thấy đúng là bác Gấu. Đúng cái diễn đàn mà bác dựng nên có khác, nói hươu thì nó ra hươu mà nói vượn thì nó ra vượn. Bác Gấu phải nói thêm là phiên dịch bác là chuyên nghiệp, biên tập chuyên nghiệp, học hành nghiên cứu cũng chuyên nghiệp, kết luận lại bác là con người chuyên nghiệp, phỏng?
Hơn 3 sệ rồi vẫn lê la ở các diễn đàn, suốt ngày ăn tục nói phét đánh dắm rong, tưởng được gọi là admin, Hải đăng nghe oai lắm nhưng thực ra trong đầu chẳng có tí chất xám nào cả vì ở độ tuổi ấy thì những thằng tạm được đã có cơ nghiệp hoặc nên ông nên bà mẹ nó rồi, chí ít thì cũng phải có 1 định hướng nghề nghiệp rõ ràng. Cái kẹc nào cũng làm, quá bảo là thánh.
Khuyên bác Gấu nói ít thôi bọn chã nó còn sợ, nói nhiều tí bọn nó lại bảo thằng này còn chã hơn mình. Chính như bác bây giờ khôn nhất nên bỏ mẹ nó cái bằng PhD rồi lập nghiệp càng nhanh càng tốt bác ạ, nên học tập người khác trước khi là quá muộn. Đ.éo biết bác học mấy năm rồi mà còn mất bao lâu mới lấy được tấm bằng nữa đây. Bác Lão ma và Phải gió vào xem tử vi cho anh Gấu em 1 phát cái nào.
lonton
28-12-05, 11:07
đọc qua mấy bài đầu công nhận anh Gấu em dịch hay, bác có 1 thú tiêu khiển rất tao nhã tuy nhiên bài trên em vẫn để đấy hòng giúp bác tỉnh ngộ. Thiện tai, thiện tai.
Gaup
28-12-05, 11:32
tỉnh ngộ cái lon ton anh chú...bố khỉ chú nhóc
ColdHeart
31-12-05, 09:39
Thế Gaup ko dịch nữa à? Tranh thủ mấy hôm nghỉ, Gaup dịch đi vài trang cho mọi người mở rộng tầm nhìn. Gaup dịch hay, đó là điều ko phải bàn cãi. Còn Gaup dịch có chuẩn ko, thì phải đọc mới biết được, nhờ ;)

.
late
31-12-05, 15:03
Thế còn lê từ diễn đàn này sang diễn đàn nọ, từ tiết mục quần áo gái đến quán nước của các cụ về hưu mà mãi chưa thành Hải Đăng thì có thánh không hả em Lonton?
Thế em bao tuổi rồi, mấy năm nữa thì 3 sệ?
À quên nếu Lonton là Hải Đăng Lonton em anh Hải Đăng Saint thì xin lỗi nhé.
ColdHeart
18-01-06, 11:26
Gaup, quyển sách quả thật là rất hay. Dịch tiếp đi Gaup.


.
VIETNAM
19-01-06, 11:45
Cám ơn Bác Gau nhé. Khi nào chuyển sang pdf thì up lên cho anh em coi nhé. Cám ơn bác một lần nữa. Quyển sách được lắm.
late
19-01-06, 18:49
Chết thật hôm trước bênh lấy bênh để thế nhưng sự thực cay đắng là nhìn thấy tiêu đề "Nhân định thắng thiên" em lại tưởng anh Gấu dịch tuồng hay cải lương gì từ Việt sang Anh, đang tấm tắc khen sao nhiều tài lẻ thế nhưng có mở ra đọc đâu. May hôm nay thấy nhiều người khen quá lại lọ mọ xem, chứ không thì đúng là phí nửa cuộc đời. Hay quá. (thật thà, có sao nói vậy, đừng có treo em lên đấy)

Em khoái cả đoạn anh giải thích risk không phải là rủi ro (=bad luck) vì thỉnh thoảng có người không phân biệt được 2 khái niệm này. Trong cái giếng con con của em thì đúng là 2 khái niệm này khác nhau hoàn toàn. Risk được biểu hiện bởi standard deviation hay biểu hiện bởi beta trong Capital Asset Pricing Module (expected return on stock = return on risk free bills + beta*(return on market(S&P500) stock - return on risk free bills).

Risk cao thì expected return càng cao. Thế nên dịch risk là rủi ro không thôi thì không được. Ngày xưa trong mấy lần training cho khách hàng bọn em hay giải thích risk là khả năng sai lệch so với kết quả dự tính. Kết quả có thể cao hơn có thể thấp hơn, chứ không phải risk là thu được kết quả thấp hơn (bad luck như anh dùng). Mà risk chỉ được để cập đến khi đang tính toán các khả năng. Chứ khi có kết quả rồi thì không còn dùng từ risk nữa. Lúc ấy gain/loss rồi. Loss khi ấy mới hợp với nghĩa rủi ro của VN mình hơn. Xong trẹo hết cả mỏ mà chả hiệu quả mấy.

Giờ lần đầu tiên em thấy có người dịch là "rủi ro và cơ hội". Anh thêm chữ cơ hội vào đúng là giải thích được hết nghĩa của nó, cơ hội khi kết quả thu được dao động lên trên kết quả dự tính.

Em chẳng hiểu hết được nhưng vì thích quá nên cũng phải comment vài câu, chữ nghĩa dốt nát nhưng ... có tấm lòng. :D
Gaup
19-01-06, 21:51
Các bác em tình cảm quá. Đợt vừa rồi quả thực em rất bận, dịch cái này phải có flow chứ bỏ một thời gian rồi quay lại không làm ngay được. Em hứa là sẽ làm từ từ cho các bạn đọc. Sắp tới em sẽ rảnh một thời gian chắc sẽ dịch được nhiều. Em cảm ơn các bạn lần nữa. Lời khen thì hàng ngày em nhận được nhiều lắm (hì hì) nhưng mà các bạn Thăng Long khen thì bao giờ cũng làm em vui, tại lời khen khi hai bên không ai phụ thuộc nuôi nấng ai nó thật lòng hơn.

Em yêu của các bác
Anh yêu của các em
lonton
19-01-06, 23:31
Em khoái cả đoạn anh giải thích risk không phải là rủi ro (=bad luck) vì thỉnh thoảng có người không phân biệt được 2 khái niệm này. Trong cái giếng con con của em thì đúng là 2 khái niệm này khác nhau hoàn toàn. Risk được biểu hiện bởi standard deviation hay biểu hiện bởi beta trong Capital Asset Pricing Module (expected return on stock = return on risk free bills + beta*(return on market(S&P500) stock - return on risk free bills).

Risk cao thì expected return càng cao. Thế nên dịch risk là rủi ro không thôi thì không được. Ngày xưa trong mấy lần training cho khách hàng bọn em hay giải thích risk là khả năng sai lệch so với kết quả dự tính. Kết quả có thể cao hơn có thể thấp hơn, chứ không phải risk là thu được kết quả thấp hơn (bad luck như anh dùng). Mà risk chỉ được để cập đến khi đang tính toán các khả năng. Chứ khi có kết quả rồi thì không còn dùng từ risk nữa. Lúc ấy gain/loss rồi. Loss khi ấy mới hợp với nghĩa rủi ro của VN mình hơn. Xong trẹo hết cả mỏ mà chả hiệu quả mấy.

Giờ lần đầu tiên em thấy có người dịch là "rủi ro và cơ hội". Anh thêm chữ cơ hội vào đúng là giải thích được hết nghĩa của nó, cơ hội khi kết quả thu được dao động lên trên kết quả dự tính.

Late ơi, anh buồn cười quá, em cứ như là phát minh ra Châu Mỹ kô bằng, mấy cái vớ vẩn này ai học về Finance mà chẳng biết.
Nói tóm lại là nên dậy cho chúng nó tiếng anh và dúi vào tay chúng nó mấy quyển Đại cương học về tài chính hơn là dịch mấy cái trò vớ vẩn này.
Em xin lỗi anh Gấu là em kô phải ghét bỏ gì anh mà em ném đá đâu nhưng em thấy nó đe'o xứng đáng cái tầm như anh nổ và bọn chã tung hô nên em phải cảnh tỉnh kẻo người ta bảo TL đe'o có người hiểu biết, phỏng.
late
19-01-06, 23:52
Hải Đăng tương lai kiêm Tiến sỹ trước 30 tuổi tương lai Lonton lại nhầm lẫn khái niệm lấy ví dụ dẫn chứng với phát minh rồi.

Lại nhầm tiếp nữa giữa thú vui câu cá của Nguyễn Khuyến với công ty đánh bắt xa bờ. Bạn bớt ăn thua đi.

... xóa đoạn này...

Em xóa đoạn khiêu khích bạn Lonton đi vì vừa đọc bài của anh Gấu ở dưới, tự thấy lời lẽ như thế không nên để ở trong topic này. Xin lỗi anh.
Gaup
20-01-06, 00:25
Chú lonton, nổ với tung hô là một nét duyên Thăng Long, cả người nổ và người tung hô đều ngậm miệng cười thầm là chúng ta đang giả vờ làm người nhớn ngô ngọng, giả vờ làm các cụ ngồi chiếu sân đình ăn miếng xôi đỗ vớ vẩn vỗ đùi nhau. Nổ và tung hô kiểu này rất là duyên vì không ai coi là việc nghiêm túc cả, trừ chú. Nổ và tung hô kiểu này khác với bọn rỗi hơi hay ngồi mấy quán cà phê high end Hà Nội gọi điện thoại di động tứ tung đặt hàng 5000 tấn sắt về cảng Hải Phòng tuần sau và 10 em gái trinh từ Sing sang tháng tới. Nổ và tung hô những thứ đó là hời hợt, huyễn tưởng, và lịt phịt. Nổ kiểu này là buồn cười nên rất vui. Chú vào ném đá topic này từ đầu đến giờ anh mắng cho mấy bận rồi mà còn chưa tỉnh ngộ ra lần này anh phải vào nói tuột ra thế thực chẳng hay ho gì, như kể chuyện cười xong lại còn phải giải thích. Dịch dọt như ở đây chú mà đọc kỹ chú sẽ thấy anh lồng đủ thứ vui cười vào, dịch một đằng nhưng lồng nhiều thứ chửi thằng này thằng kia Thăng Long rất là vui thích. Chú nên relax, đừng lên gân khoe trình, vì nếu cả anh cả chú đều lên gân khoe trình thì thực tế không thể chối cãi được là chú không thể nào chạy kịp anh. Anh với chú có thể thông minh ngang ngửa nhưng anh hơn chú được cái đoạn thái độ ung dung với cuộc sống và loài người mà anh thấy chú không có nên nhận thức của chú nói chung còn tọt tẹt anh thật.

Nói chung là đẳng cấp khác nhau rồi, chú không nhận xét được về anh kiểu đấy đâu nên đừng cố nữa. Chẳng có cái gì chú nói mà anh chưa nghe, anh không hiểu. Anh chú làm nhiều việc trông ngoài tưởng như người không biết nên cắm đầu làm việc vô ích nhưng thực ra là thừa biết nhưng cứ lựa chọn làm. Rộng lớn lắm em lon ton ạ. Đừng húng lên thế đi.
Kuzmin
06-02-06, 12:13
Bác dịch nhiều đoạn đọc vào lắm! Thanks!
Hoadainhan
07-02-06, 19:14
Gấu đâu rồi ? Ai chê cứ bảo chọn mịa nó một cuốn nào tâm đắc dịch thử cho anh em bình loạn xem sao ??? Lại làm ngộ nhớ đến nhận xét của một người bạn " người VN là người hay có thói quen bình phẩm và nhận xét rất sâu sắc về công việc của tất cả các người khác, trừ công việc của mình".Dịch thế là ổn rồi. Tiếp tục đi. Làm ngộ chờ vãi !
Hoadainhan
11-02-06, 12:15
Em yêu của các bác đâu rồi ? Chẳng thấy tiếp tục gì cả ????
Hoadainhan
27-02-06, 22:43
Ơ kìa. Gấu lại cũng mất tích như Phát ghẻ à ? Hẹn dịch tiếp mà lại chuồn đâu rồi. Thấp thoáng ở chủ đề này khác mà lại biến mất ở đây? Hay là chú lại vừa gắp được cái xổ số độc đắc, bận nhậu à. Nếu có thăng thì cũng báo anh Tler chứ.
@DINH HY : lo chuyện chuẩn bị hậu sự dần đi, trưởng ban Tang lễ
wawawa
30-03-06, 19:28
Tình trạng là hơn tháng rồi kể từ bài cuối cùng gào thét kêu gọi bác Gấu mà vẫn chưa có bài dịch tiếp theo của bác. Em kéo cái này lên! :D
Ocean
31-03-06, 21:45
Hay quá em cũng đang tìm quyển này thì thấy ở TL. Bác Gaup có bản text hay pdf thì up lên cho em xin với. Còn nếu vẫn đang là file ảnh thì em có thể nhận dạng cho bác.

Bác nhanh quay trở lại dịch đi nhé, đọc đang hay.
lonton
03-04-06, 21:48
ông cụ lặn mất rồi, Gấu mà kô dịch dọt nữa thì TL thành cái nhà hoang mất
Vợ bỏ
04-04-06, 04:44
Treo mẹ cái thằng lonton này lên đi. 130 bài của nó có được bài nào ra hồn không hay toàn khoe hàng vớ vẫn. Lúc đ'eo nào cũng há mõm ra khoe anh trình cao, anh đẹp trai. Đ'eo đứa nào nó ỉa đái vào hay sao mà cứ đi la liếm khắp nơi thế? Thằng phải gió nó chết rồi chứ không nó lại chả bắt mày liếm đít nó. Thằng Gấu dở hơi việc gì phải đôi co với thằng trĩ đằng mồm này, định làm từ thiện cắt trĩ cho nó à? Mỗi lần vô đây đọc TL thấy thằng lonton trĩ mồm này post bài là thấy ngứa mắt. Bên Hạ Long chúng nó chửi cho chưa biết nhục hay sao mà vẫn còn mở mồm ra trĩ thế? Có cần đọc bài của em Người Việt viết về mày ko để tao post lên tnxm hầu mày đọc.
Gaup
04-04-06, 05:10
Bác em yên tâm, để đấy nuôi làm cảnh kiểu như nuôi con cave trồng cây thuốc phiện vườn ao chuồng tí thôi mà. Thỉnh thoảng để nó sủa cho vui nhà.
Quan Nhân
04-04-06, 08:39
Tớ nghe bài chửi này quen quen, ấy đấy à ấy ơi.
@ Gấu: Vợ bỏ nick trai mà có khi trym to bằng cái đầu bác em (@Gấu again) :icecream:
lonton
04-04-06, 13:40
Treo mẹ cái thằng lonton này lên đi. 130 bài của nó có được bài nào ra hồn không hay toàn khoe hàng vớ vẫn. Lúc đ'eo nào cũng há mõm ra khoe anh trình cao, anh đẹp trai. Đ'eo đứa nào nó ỉa đái vào hay sao mà cứ đi la liếm khắp nơi thế? Thằng phải gió nó chết rồi chứ không nó lại chả bắt mày liếm đít nó. Thằng Gấu dở hơi việc gì phải đôi co với thằng trĩ đằng mồm này, định làm từ thiện cắt trĩ cho nó à? Mỗi lần vô đây đọc TL thấy thằng lonton trĩ mồm này post bài là thấy ngứa mắt. Bên Hạ Long chúng nó chửi cho chưa biết nhục hay sao mà vẫn còn mở mồm ra trĩ thế? Có cần đọc bài của em Người Việt viết về mày ko để tao post lên tnxm hầu mày đọc.
sao lại có những thằng/ con cứ lẽo đẽo theo mình thế nhỉ. Anh mày nhắc lại là một là cút đi chỗ khác, hai là ignore cái bài của anh ra. Dm chứ cái trò log nick khác nhé, đe'o hay ho cái gì đâu. DCM chứ mày thích anh táng lại hay anh bỏ qua? Anh đe'o thích cái cảm giác ghét 1 ai đó mặc dù người ta có ghét mình nhiều lắm, tính anh nhân hậu là thế nhưng mọi thứ đều có giới hạn, hiểu kô con mọi. Anh có thể biết mày là ai nhưng anh đe'o muốn và cũng đe'o thèm làm thế, còn cái việc cứ đi theo mà liếm đít anh thì anh cứ nói thẳng là đe'o đến lượt cô, nhé.
Còn cái trĩ của anh nhé, nó to = đầu con gấu. Nhớ hôm nọ chửi Gaup già mồm, Gaup sủa đe'o lại được đâm ra cầu cạnh mình tạnh đi cho nhờ. Hôm qua anh gặp cao nhân nên mới động viên Gấu 1 câu. Còn nếu nhé cảm thấy là bên này là sân chân của 1 nhóm người nhé, cứ treo mịa nó nick anh lên, nhưng phải có lý do cho nó đàng hoàng, hoặc nếu đe'o có lí do thì cứ nói mẹ nó thẳng ra là anh đe'o thích mày, anh treo mày, mày đi mẹ nó chỗ khác mà chơi cho nó nhanh, đơn giản vậy thôi.
Hoadainhan
05-04-06, 13:39
Gấu lại làm ngộ nhớ đến phim " Far and far away", cái cảnh Tom Cruise cắm cờ giữ đất. Dịch một đoạn demo làm chủ đề cãi vã cho xôm xong rồi lượn. Chú có lẽ đổi thành " hàng xôn" đi. Mà thôi, cứ để "hàng xịn", vì chú có lẽ hợp với "ị"
hơn "ô ". May mà được cái mũi với miệng kéo lại. Mà ngoa nó vừa vừa thôi, dịch tiếp đi, câu giờ quá...
dpt
07-04-07, 18:36
Thế topic này end ở đây hả các bác? Không có ebook, không có scan gì gì nữa ạ?
Ross
05-05-07, 08:45
Dịch tiếp đi bác ơi. Em vật vã vì quyển này rồi đấy :)