Kinh tế VN : Quá khứ, Hiện tại và tương lai

Trojan
18-06-05, 05:09
"Các mốc thay đổi mô hình kinh tế nước ta từ 1954 đến nay, nội dung căn bản, thành tựu và sai lầm của từng giai đoạn. Vị trí hiện tại và tiềm năng phát triển kinh tế trong tương lai. Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội cho VN."


Chú nào có tài liệu online về chủ đề này (tác giả ta, tây, tiếng ta, tiếng anh, tiếng phap, văn kiện Đại hội Party, ...) nhất là các bài bình luận đánh giá của các học giả, chuyên gia trong và ngoài nước..thì cho anh xin.


Rất cảm ơn.

PS : Để đề phòng tranh luận ồn ào, các chú nên gửi mật thư cho anh nhá. Anh cần tìm tài liệu chứ không phải mở cái này ra để tranh luận. Một lần nữa xin cảm ơn.
xmeo
18-06-05, 05:57
Có cái này giống giống với cái bác đi tìm:

http://biendong.info/forum/index.php?showtopic=354&st=0&p=1420&#entry1420
Trojan
18-06-05, 07:43
Anh cảm ơn chú Xmeo, anh cũng tìm đựơc một hai bài hay từ link đó. Đã thank chú qua PM rồi.

PS : Chú nào có link nguồn tài liệu thì gửi qua PM cho anh nhé. Rất cảm ơn.
A.K
18-06-05, 07:50
Sao bác Trojan kiết thế không biết...đây là mục Chuyện Nghiêm Chỉnh, nội dung có được thì cho anh em xem để biết tình hình còn định hướng phát triển mà làm giàu cho đất nước nửa chứ. Nếu chỉ muốn mình bác biết thôi thì qua mục Hỏi đáp kìa. Có gì hay thì pot anh em xem với...
HaiAuPhiXu
18-06-05, 08:08
Trojan ơi, thế bác bị chập mạch à? Bác xin sách, xin tài liệu thì phải vào đọc sách hoặc hỏi gì đáp nấy nếu được chứ? Sao bác lại ngồi đây để xin mâm cao cỗ đầy thế? Bác mới đọc và join thanglong được ít lâu chứ gì. Em thông cảm, bệnh này thường gặp nhưng nan y song cũng ko hẳn là ko chữa được. Em mong bác chóng khỏi. :D
So Luu Huong
06-07-05, 18:36
"Các mốc thay đổi mô hình kinh tế nước ta từ 1954 đến nay, nội dung căn bản, thành tựu và sai lầm của từng giai đoạn. Vị trí hiện tại và tiềm năng phát triển kinh tế trong tương lai. Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội cho VN."


Chú nào có tài liệu online về chủ đề này (tác giả ta, tây, tiếng ta, tiếng anh, tiếng phap, văn kiện Đại hội Party, ...) nhất là các bài bình luận đánh giá của các học giả, chuyên gia trong và ngoài nước..thì cho anh xin.


Rất cảm ơn.

PS : Để đề phòng tranh luận ồn ào, các chú nên gửi mật thư cho anh nhá. Anh cần tìm tài liệu chứ không phải mở cái này ra để tranh luận. Một lần nữa xin cảm ơn.

Em có một số tài liệu về thành tựu sau 20 năm đổi mới, bác đọc tạm.
Bác muốn tìm lài liệu nói về cái lày, em nghĩ trên Tạp chí Cộng sản có nhiều bài viết về ló nắm, có gì bác chịu khó vào tìm nha. Chúc bác thành công!
Những thành tựu chủ yếu về kinh tế, xã hội của nước ta sau gần 20 năm đổi mới
Hội nghị lần thứ 9, BCHTW khoá IX và Kết luận Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nêu khái quát những thành tựu chủ yếu của nước ta sau gần 20 năm đổi mới trên một số mặt như sau:
Về thực hiện nhiệm vụ trung tâm phát triển kinh tế đã đạt được những kết quả quan trọng:
- Nền kinh tế đã vượt qua giai đoạn suy giảm tốc độ tăng trưởng, đạt mức tăng trưởng khá cao; chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của một số lĩnh vực và sản phẩm có chuyển biến.
- Cơ cấu của nền kinh tế tiếp tục có bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá và từng bước hiện đại hoá.
- Tiếp tục thực hiện có kết quả chủ trương giữ vững độc lập, tự chủ về kinh tế, có tiến bộ đáng kể trong việc phát huy các nguồn nội lực của đất nước, của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển; đồng thời tiếp tục mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế.
- Thể chế kinh tế thị trường XHCN được xác lập, đang tiếp tục hình thành và phát triển các loại thị trường: Hàng hóa vật tư, lao động, bất động sản, tiền tệ, chứng khoán, khoa học công nghệ…
(bác cứ gõ "tapchicongsan" trong google là tới niền à)
So Luu Huong
06-07-05, 18:38
Đây nà một trong rất nhiều bài lói về kinh tế trong TCCS, bác chịu khó tìm thêm nha
BỨC TRANH KINH TẾ SẼ CÒN SÁNG HƠN
Trần Đào*
Cho đến tận tháng 6, tháng 7, ngay cả những người lạc quan cũng không nghĩ rằng, bức tranh kinh tế năm 2004 có thể sáng sủa nhiều hơn so với các năm trước. Bởi, từ đầu năm đến thời điểm đó đã xuất hiện hàng loạt những khó khăn, thách thức: rét đậm, rét hại, rét kéo dài ở miền Bắc khi bước vào đầu vụ đông xuân (vụ có diện tích và sản lượng lớn nhất trong năm); dịch cúm gia cầm diễn ra ở hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước làm cho 15,7% lượng gia cầm và hàng tỉ quả trứng bị tiêu huỷ (cho đến cuối năm lượng gia cầm vẫn còn giảm 14,3% so với cùng kỳ năm trước và là một yếu tố góp phần làm cho giá thực phẩm tăng cao, tăng liên tục); nạn đại hạn hán kéo dài, trên diện rộng cả Bắc, Trung, Nam một cách hiếm thấy trong mấy chục năm qua. Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu cũng gặp những trở ngại không nhỏ: giá hàng nhập khẩu tăng mạnh - khoảng trên 9%, nếu tính cả tốc độ tăng tỷ giá (chỉ tính riêng VND/USD là 1,6%, chưa kể tỷ giá VND so với các đồng tiền khác còn tăng cao hơn), thì giá tăng khoảng 11% so với năm trước, cao gấp rưỡi tốc độ tăng bình quân của giá tiêu dùng trong nước (năm 2004 so với năm 2003 là 7,7% ). Tình hình đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư, sản xuất, đời sống; trong xuất khẩu liên tiếp diễn ra các vụ kiện chống bán phá giá các sản phẩm từ cá tra, cá basa, đến tôm của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Bởi vậy, tăng trưởng GDP quý I chỉ đạt 6,89%, quý II: 7,1% và tính chung 6 tháng chỉ đạt 7%, còn thấp hơn cả mức đạt được trong quý III, quý IV năm 2003. Song, nhờ những cố gắng vượt bậc và những giải pháp chỉ đạo vĩ mô quyết liệt nhằm khắc phục khó khăn, thách thức kinh tế Việt Nam đã có bước tiến ngoạn mục trong những tháng cuối năm.
Những nét tươi sáng xuất hiện trong hầu hết các ngành, các lĩnh vực, thể hiện mức tăng trưởng đều cao hơn so với năm trước, hoàn thành hoặc hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra, tạo đà tiến tới vượt chỉ tiêu năm 2005 và đạt mục tiêu kế hoạch 5 năm 2001- 2005.
Tốc độ tăng trưởng vượt trội. Tăng trưởng GDP đạt 7,7%, cao nhất so với 6 năm trước đó, tuy chưa bằng tốc độ tăng 8,15% của năm 1997, nhưng nếu năm 1997 tốc độ tăng theo hướng sút giảm, thì nay theo hướng cao lên. Đây cũng là tốc độ tăng thuộc loại cao trên thế giới (chỉ sau Trung Quốc và Xin - ga - po). Chính tốc độ tăng cao trong quý III, đặc biệt quý IV năm 2004 đã tạo sức bật để nền kinh tế có thể đạt mục tiêu (8,5%) Quốc hội đề ra cho năm 2005, hoàn thành kế hoạch tăng trưởng 7,5%/năm của cả kế hoạch 5 năm (2001- 2005).
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển biến theo hướng tích cực.
Một mặt, tỷ trọng trong GDP của khu vực công nghiệp - xây dựng đạt xấp xỉ 41%, về trước 6 năm so với mục tiêu của Chiến lược Phát triển kinh tế- xã hội 10 năm (2001- 2010). Đây chính là động lực tăng trưởng của kinh tế Việt Nam, bởi trong tốc độ tăng chung7,7%, khu vực này đã đóng góp 3,9%, chiếm 50,6% tổng tốc độ tăng. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 đạt tốc độ tăng 2 chữ số và đạt thành tích cao liên tục trong vòng 14 năm, điều chưa bao giờ có được ở các thời kỳ trước.
Mặt khác, tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã đạt xấp xỉ 38,15%, chặn được sự sút giảm mạnh và liên tục trong 8 năm trước đó (năm 1995 là 44,06%, năm 2000 là 38,74%, năm 2002 là 38,48%, năm 2003 là 38%). GDP do khu vực dịch vụ tạo ra đã tăng 7,5%, cao nhất tính từ năm 1997.
Vốn đầu tư là yếu tố vật chất quyết định tốc độ tăng trưởng cũng có dấu hiệu khởi sắc. Tổng vốn đầu tư đạt 258,7 nghìn tỉ đồng, tăng 17,7%. Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP lên đến 36,3%, cao nhất từ trước tới nay. Suất đầu tư còn 4,7 lần, thấp nhất so với 6 năm trước đó (năm 1995 đạt 31,7%, năm 2000 đạt 32,95, năm 2003 đạt 35,8%). Đầu tư trong nước tăng khá, trong đó vốn ngoài quốc doanh tăng cao nhất (19,6%). Đầu tư trực tiếp nước ngoài có dấu hiệu phục hồi, khi số vốn đăng ký đã đạt trên 2 tỉ USD và nếu kể cả số vốn bổ sung đã vượt 4 tỉ USD, tăng 35%; vốn thực hiện đạt 2,85 tỉ USD, tăng 7,5%. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức cam kết lên đến 3,44 tỉ USD, cao nhất từ trước tới nay.
Điểm sáng hơn cả là tiêu thụ, bao gồm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Tiêu thụ trong nước khởi sắc trên nhiều mặt. Tính theo giá so sánh tiêu dùng cuối cùng tăng tốc độ khá, cao hơn các năm trước và cao hơn hẳn tốc độ tăng dân số, chứng tỏ mức sống của dân cư đã tăng lên. Tỷ lệ tiêu dùng cuối cùng so với GDP của Việt Nam đạt trên 70%, thuộc loại cao so với các nước trong khu vực (Xin-ga-po 55,9%, Ma-lai-xia 58,2%, Thái Lan 67,7%...) - đó chính là một trong những tiền đề quan trọng để gia tăng tiêu thụ trong nước. Bộ phận tiêu dùng từ thu nhập của hộ gia đình được thực hiện thông qua thị trường đã tăng lên từ 75,1% (năm 2000) lên 78,4% (năm 2002) và có thể đạt xấp xỉ 80% (năm 2004), cho thấy tính tự cấp, tự túc giảm và nền kinh tế ngày càng mang tính thị trường. Cơ cấu sử dụng sản phẩm theo ngành trong tiêu dùng của hộ gia đình chuyển biến theo hướng: sản phẩm từ khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chỉ còn chiếm trên dưới 20%, từ khu vực công nghiệp - xây dựng đã tăng lên chiếm trên dưới 53% và từ khu vực dịch vụ chiếm trên 27%. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng 18,5%, nếu trừ đi yếu tố tăng giá bình quân so với năm trước (7,7%) thì vẫn còn tăng 10%, cao gấp 1,3 lần tốc độ tăng GDP và cao nhất từ trước tới nay. Đây là kết quả của việc gia tăng thu nhập và sức mua có khả năng thanh toán trong dân cư. Điều đó chẳng những tác động tốt đối với tăng trưởng kinh tế ở trong nước, mà còn tạo nên một thị trường có dung lượng lớn, sức mua ngày một tăng, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Xuất khẩu tăng trưởng bất ngờ, ngoạn mục với nhiều điểm vượt trội.
Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 26 tỉ USD, tăng 28,9%, vượt xa kế hoạch đề ra và cao nhất tính từ năm 1997. Tính trung bình mỗi tháng kim ngạch xuất khẩu đạt 2.167 triệu USD (cao hơn mức của cả năm 1991). So với GDP, xuất khẩu đạt 57,7%, không những cao nhất từ trước tới nay, mà còn thuộc loại khá cao trên thế giới, chứng tỏ độ mở của nền kinh tế nước ta ngày càng tăng và phù hợp với phát triển kinh tế hướng tới khuyến khích xuất khẩu. Hiện nay, nước ta có kim ngạch xuất khẩu tính theo bình quân đầu người đạt gần 317 USD, gấp 10 lần năm 1991 và vượt xa so với mức 249 USD của năm 2003; hệ số giữa tốc độ tăng xuất khẩu so với tốc độ tăng GDP đạt gần 3,8 lần, cao nhất so với 3 năm trước đó và gấp gần 12,5 lần năm 1991. Bình quân mỗi năm xuất khẩu tăng trên 21,4% - một tốc độ tăng cao, liên tục, trong thời gian dài, điều mà chúng ta chưa bao giờ đạt được trong các thời kỳ trước đây. Sự vượt trội của xuất khẩu còn đạt được ở cả hai khu vực: khu vực kinh tế trong nước lần đầu tiên có xuất khẩu vượt qua mốc 11,7 tỉ USD, tăng 17,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) còn đạt và tăng cao hơn: gần 14,3 tỉ USD, tăng tới 40,4%, với tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 54,9%, cao hơn mức 50,3% của năm 2003. Xuất khẩu tăng ở hầu hết các mặt hàng chủ yếu. Câu lạc bộ các sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu đạt "100 triệu USD" nay đã lên tới 17 thành viên, trong đó nhóm "trên 2 tỉ USD" có 4 thành viên (dầu thô, dệt may, giày dép, thuỷ sản), "nhóm trên 1 tỉ USD" có 6 thành viên (thêm điện tử - máy tính và sản phẩm gỗ), "nhóm trên 500 triệu USD" có 9 thành viên (thêm gạo, cà phê, cao su). Nhiều mặt hàng năm nay có kim ngạch tăng do có sự cải thiện cả lượng và giá xuất khẩu. Theo tính toán sơ bộ, giá tăng đã đóng góp 9%, và lượng tăng đóng góp trên 18% vào mức tăng 28,9% của kim ngạch xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu cũng được mở rộng hơn, vươn tới những thị trường mới như Tiểu vương quốc Ả-rập, I-rắc, châu Phi; trong khi vẫn giữ vững được các thị trường truyền thống nhằm tránh các thiệt hại, rủi ro khi có biến động trên một thị trường. Nhờ xuất khẩu tăng nhanh hơn nhập khẩu nên nhập siêu so với xuất khẩu thấp hơn năm trước (21,2% so với 25%).
Khách quốc tế đến Việt Nam tăng đã làm cho ngành du lịch đạt được kết quả "kép" với 3 điểm sáng hơn. Tổng số khách đạt trên 2,92 triệu lượt người, cao nhất từ trước tới nay. Lượng khách về thăm thân nhân tăng cao và đạt mức gần nửa triệu lượt người trong tổng số gần 3 triệu Việt kiều đã sống ở nước ngoài đến thế hệ thứ ba. Cùng với lượng kiều hối ước trên 3 tỉ USD chứng tỏ cộng đồng Việt kiều vẫn đang hướng mạnh về Quê hương. Lượng khách đến từ các nước giàu tăng cao hơn tốc độ chung, nên lượng ngoại tệ thu được có thể vượt 2,2 tỉ USD, cao hơn nhiều so với 1,6 tỉ USD của năm trước, hơn cả lượng vốn ODA đã được giải ngân và cũng hơn 3/4 lượng vốn FDI được thực hiện trong năm 2004.
Tổng thu ngân sách vượt 14,5% dự toán và tăng 20,2% so với năm 2003. Đây là năm thứ 7 liên tục tổng thu vượt dự toán pháp lệnh và nhờ tốc độ tăng thu cao hơn tốc độ tăng GDP tính theo giá thực tế (20,2% so với 16,2%), nên tỷ lệ tổng thu so với GDP lên đến 23,3%, cao nhất so với nhiều năm qua. Bội chi ngân sách so với GDP không quá 5%, đạt mức do Quốc hội cho phép và được bù đắp chủ yếu bằng nguồn vốn vay trong nước.
Bức tranh kinh tế năm 2004 sẽ còn đẹp hơn nhiều nếu trong 12 chỉ tiêu pháp lệnh không có 2 chỉ tiêu không hoàn thành: giá tiêu dùng và tốc độ tăng dân số (đã 2 năm không thực hiện được mục tiêu giảm sinh do Quốc hội đặt ra). Ngoài ra, những yếu tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững vẫn còn rất mỏng như:
- Chất lượng tăng trưởng chưa cao1.
- Nạn tham nhũng, lãng phí chưa được ngăn chặn một cách hữu hiệu.
- Còn lãng phí, thất thoát trong xây dựng cơ bản.
- Tốc độ cải cách hành chính chậm.
- Tăng trưởng kinh tế chưa gắn với bảo vệ môi trường.
- Công tác xóa đói giảm nghèo tuy đạt được kết quả tốt, nhưng nguy cơ tái nghèo vẫn còn cao.
Rõ ràng, trong điều hành vĩ mô cần quan tâm hơn nữa đến những "lực cản" đang làm giảm cả tốc độ lẫn chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế./.
So Luu Huong
06-07-05, 18:44
TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2004
VÀ DỰ BÁO NĂM 2005
Nguyễn Sinh Cúc*
1 - Tổng quan năm 2004
Năm 2004, kinh tế Việt Nam phát triển trong điều kiện có nhiều khó khăn. Đầu năm dịch cúm gia cầm xẩy ra tại 57/61 tỉnh, thành phố gây thiệt hại nặng nề. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, thiệt hại do dịch cúm gia cầm có thể làm giảm khoảng 1% GDP của Việt Nam trong năm 2004. Thêm vào đó, thời tiết trong năm diễn biến phức tạp: đầu năm rét đậm kéo dài, giữa năm mưa lớn làm ngập úng và mất trắng hàng trăm nghìn héc-ta lúa mùa của các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng. Tiếp đến là hạn hán trên diện rộng, kéo dài nhiều tháng ở Tây Nguyên và các tỉnh Nam Trung Bộ. Cuối năm lũ lụt lớn ở các tỉnh miền Trung gây tổn thất nặng nề về người và của. Ở bên ngoài, thị trường thế giới diễn biến bất lợi cho xuất nhập khẩu, trong đó nổi bật là giá thép, hóa chất, vải sợi, xăng dầu, phân bón và nhiều loại vật tư khác tăng cao so với năm 2003. Thị trường và giá cả nông sản xuất khẩu không ổn định, đã tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh. Nhờ có sự chỉ đạo, điều hành sát sao của Chính phủ, sự nỗ lực của các ngành, các địa phương, kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển toàn diện và tăng trưởng khá. Hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 7,69% so với năm 2003 (kế hoạch đề ra là tăng 7,5% đến 8%), trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,3%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,3%; khu vực dịch vụ tăng 7,3%. Xu hướng tăng trưởng khá ổn định: quý sau cao hơn quý trước; quý I tăng 7%; 6 tháng tăng 7%; 9 tháng tăng 7,4% và cả năm tăng 7,6%. Đó là tốc độ tăng trưởng cao nhất trong vòng 7 năm qua: năm 1998 tăng 5,76%, năm 1999 tăng 4,77%, năm 2000 tăng 6,79%, năm 2001 tăng 6,89%, năm 2002 tăng 7,08% và năm 2003 tăng 7,26%. Trong bối cảnh khó khăn về nhiều mặt, tốc độ tăng trưởng kinh tế 7,6% của năm 2004 là thành tựu đáng ghi nhận.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tiến bộ: tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng dần, tỷ trọng nông nghiệp giảm dần. Do kinh tế tăng trưởng khá nên thu ngân sách cả năm vượt dự toán 11,8% và tăng 17% so với năm 2003. Tổng thu nội địa năm 2004 vượt 18,9% so dự toán và tăng 21,6% so với năm 2003. Tất cả 64 cục thuế đều hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự toán, trong đó có 33 địa phương có số thu thuế trên 500 tỉ đồng. Hầu hết các khoản thu, sắc thuế chiếm tỷ trọng lớn đều đạt và vượt dự toán, có mức tăng trưởng cao. Chi ngân sách đạt kế hoạch, trong đó chi cho đầu tư phát triển chiếm tỷ trọng lớn và vượt dự toán. Các ngành sản xuất và hoạt động dịch vụ phát triển toàn diện và đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn chỉ tiêu kế hoạch.
Nông nghiệp vẫn được mùa, thủy sản tăng trưởng khá. Sản lượng lương thực có hạt đạt mức cao nhất từ trước đến nay và tăng với tốc độ nhanh so với các năm trước. Năm 2004 đạt trên 39,3 triệu tấn, tăng 1,8 triệu tấn (4,5%) so với năm 2003 và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra cho năm 2005. Tốc độ tăng sản lượng lương thực cao hơn tốc độ tăng dân số (1,4%/năm). Nhờ đó lương thực bình quân nhân khẩu tăng nhanh: từ 462,9 kg năm 2003 lên 476 kg năm 2004. Sản xuất lúa đã giảm dần diện tích, tăng năng suất và chất lượng lúa gạo để phù hợp với yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Diện tích gieo cấy lúa giảm từ 7,45 triệu héc-ta năm 2003 xuống 7,42 triệu héc-ta năm 2004, trong đó phần lớn là diện tích lúa vùng đất chua phèn, mặn, thiếu nước, lúa vụ mùa thường bị ngập úng... sang nuôi trồng thủy sản hoặc trồng màu, cây công nghiệp, cây ăn quả có lợi hơn. Năng suất lúa đạt 48,1 tạ/ha/vụ, tăng 1,6 tạ/ha so với năm 2003. Vì vậy, sản lượng lúa của Việt Nam từ 34,5 triệu tấn năm 2003 lên 35,7 triệu tấn năm 2004. Đi cùng với tăng năng suất là tăng chất lượng lúa gạo để tăng sức cạnh tranh của gạo Việt Nam. Các tỉnh trọng điểm lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long đã đầu tư mở rộng diện tích vùng lúa chất lượng cao, hình thành "Cánh đồng vàng xuất khẩu gạo". Quy trình "3 giảm": giảm giống lúa, giảm phân bón hóa học và giảm thuốc trừ sâu trong sản xuất lúa vừa giảm chi phí đầu vào, vừa bảo vệ đất và nâng cao chất lượng lúa gạo. Vụ đông xuân có 150 nghìn héc-ta trồng lúa đặc sản để làm gạo xuất khẩu.
Sản lượng và chất lượng lúa tăng lên đã góp phần tích cực bảo đảm an toàn lương thực quốc gia trong điều kiện thời tiết không thuận. Số hộ thiếu đói giáp hạt năm 2004 giảm 35% so với năm 2003. Lượng gạo xuất khẩu: 3,9 triệu tấn tăng 100 nghìn tấn so với năm 2003. Vị trí thứ 2 về lượng gạo xuất khẩu của nước ta vẫn giữ vững (năm 2003 Việt Nam đứng thứ 3 sau Thái Lan 6,4 triệu tấn; Ấn Độ 4,2 triệu tấn). Không chỉ tăng số lượng mà chất lượng gạo xuất khẩu nước ta cũng có xu hướng tăng dần. Lượng ngoại tệ thu được từ xuất khẩu gạo tăng từ 734 triệu USD lên 900 triệu USD trong 2 năm tương ứng.
Nét mới trong sản xuất lương thực năm 2004 còn thể hiện ở sự chuyển dịch cơ cấu sản lượng tăng dần tỷ trọng ngô và giảm dần tỷ trọng lúa nhưng lượng tuyệt đối vẫn tăng. Diện tích ngô đạt 965 nghìn héc-ta, năng suất 40,6 tạ/ha và sản lượng 3.417 nghìn tấn. Tỷ trọng ngô trong cơ cấu sản lượng lương thực đã tăng từ 8,4% năm 2003 lên 8,8% năm 2004. Ngô đã trở thành một mặt hàng nông sản phục vụ công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi thay thế nhập khẩu và bước đầu xuất khẩu.
Sản xuất cây công nghiệp, cây ăn quả, rau đậu có nhiều khởi sắc. Năm 2004 so với năm 2003, sản lượng cây công nghiệp, cây ăn quả, rau đậu đều tăng: sản lượng lạc tăng 13,7%, đỗ tương tăng 5%; cao su tăng 11,3%, chè tăng 8,6%. Sản lượng cà phê tăng 4,8%, hạt tiêu tăng 7,6%, điều tăng 24%... đã góp phần tăng nông sản xuất khẩu và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Năm 2004 sản lượng cà phê nhân xuất khẩu tăng 21,6% so với năm 2003, tương tự như vậy cao su tăng 10,7%; hạt tiêu tăng 39,7%.
Các loại cây ăn quả đặc sản có chất lượng cao phát triển mạnh, nhất là nho, vải thiều, nhãn, mận hậu, cam, thanh long... đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét. Diện tích cây ăn quả đạt trên 800 nghìn héc-ta, tăng 3,6 % so với năm 2003, sản lượng đạt gần 6 triệu tấn, tăng 15%. Không chỉ tăng diện tích và sản lượng, chất lượng và chủng loại trái cây cũng đã có nhiều chuyển biến theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu. Quả tươi không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu (kim ngạch xuất khẩu năm 2004 đạt 152 triệu USD).
So Luu Huong
06-07-05, 18:46
1 - Tổng quan năm 2004 (tt)
Mặc dù có dịch cúm gia cầm trên diện rộng đầu năm nhưng tình hình chăn nuôi cả nước vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá. Nét mới của năm nay là chăn nuôi chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa rõ hơn, cơ cấu và tốc độ tăng trưởng các đàn gia súc, gia cầm có nhiều thay đổi. Chăn nuôi trâu, bò phục vụ cày kéo giảm, đàn bò thịt tăng nhanh, nhất là bò lai sind, bò sữa. Năm 2004, nước ta có 4.907 nghìn con bò, tăng 11,6% so với năm 2003, trong đó bò sữa gần 98 nghìn con, tăng 20%; riêng thành phố Hồ Chí Minh có 44 nghìn con, có 22 nghìn con cho sữa. Đàn lợn đạt 26,1 triệu con, tăng 5,6%. Sản lượng thịt hơi các loại ước đạt 2.504 nghìn tấn, tăng 5,9% . Cùng với các đàn gia súc truyền thống, năm 2004 các loại hình chăn nuôi mới mang tính hàng hóa như: cừu, đà điểu, lợn thịt hướng nạc, lợn sữa xuất khẩu, bò sữa nhập ngoại, ngan Pháp, vịt Thượng Hải... tiếp tục phát triển. Nhờ đó, sản phẩm chăn nuôi đã đa dạng hơn về chủng loại, cao hơn về chất lượng và phong phú về số lượng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường trong nước và tham gia xuất khẩu. Năm 2004, tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp đạt khoảng 21,2%, tuy thấp hơn năm 2003 nhưng vẫn cao hơn các năm trước.
Lâm nghiệp tuy có khó khăn nhưng kết quả trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng có tiến bộ. Diện tích rừng trồng tập trung đạt 180 nghìn héc-ta, bằng năm 2003. Sản lượng gỗ khai thác đạt 2.459,4 nghìn m3, tăng 1%, chủ yếu là gỗ rừng trồng. Diện tích rừng bị cháy, bị phá giảm 26,8%.
Sản lượng thủy sản cả năm tăng 8,2% so với năm 2003, trong đó thủy sản nuôi trồng tăng 16,9%, thủy sản đánh bắt tăng 3,5%. Diện tích nuôi tôm công nghiệp được mở rộng ở nhiều địa phương. Phong trào nuôi cá bè, cá hầm tiếp tục phát triển góp phần quan trọng vào tăng nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả năm đạt trên 2,35 tỉ USD, tăng 7% so với năm 2003.
Bên cạnh thành tựu về sản xuất, nông nghiệp năm 2004 đã hình thành một số mô hình sản xuất áp dụng công nghệ cao. Đó là mô hình trồng rau sạch chất lượng cao trong nhà kính ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt. Mô hình trồng hoa xuất khẩu ở Mê Linh (Vĩnh Phúc), Đông Anh (Hà Nội), Sa Pa (Lào Cai). Các mô hình khác về cải tạo vườn cây ăn quả theo công nghệ cao như trồng dứa Cay-ren, bưởi Phúc Trạch, táo IPM, bưởi Năm Roi, nhà lưới vườn ươm cây giống ở Bến Tre...
Sản xuất công nghiệp phát triển ổn định và tăng trưởng cao. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 tăng 16% so với năm 2003, trong đó khu vực nhà nước tăng 11,4%, (trung ương tăng 14,5%, địa phương tăng 6%); khu vực ngoài quốc doanh tăng trưởng cao nhất: 22,8% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 15,7%. Nguyên nhân của xu hướng trên là do, trong năm nay, các sản phẩm công nghiệp chủ yếu vẫn duy trì tốc độ tăng cao: sản lượng than sạch tăng 36%, dầu thô khai thác tăng 15%, khí đốt thiên nhiên tăng 114%; thủy sản chế biến tăng 16%; quần áo may sẵn tăng 21,7%; giấy tăng 33,7%; phân hóa học tăng 28,5%; xe máy lắp ráp tăng 38,6%; xe đạp lắp ráp tăng 37,2%; thuốc viên tăng 20,9%; xà phòng tăng 25,3%; gạch lát tăng 22,1%; tivi lắp ráp tăng 19,8%.
Một số tỉnh và thành phố có giá trị sản xuất công nghiệp lớn, có tốc độ tăng cao hơn mức trung bình của cả nước là: Hà Nội, Hải Phòng, Bình Dương, Đồng Nai... Nguyên nhân chủ yếu của kết quả đó là do: nhu cầu sản phẩm công nghiệp của thị trường trong nước và xuất khẩu tăng lên; sức cạnh tranh của nhiều sản phẩm công nghiệp như thủy sản chế biến, sản phẩm gỗ chế biến, dệt may, giày dép,... có nhiều tiến bộ, nhất là công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; các doanh nghiệp công nghiệp mạnh dạn đầu tư đổi mới máy móc thiết bị và ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật mới vào sản xuất để tăng chất lượng, giảm chi phí; Luật Doanh nghiệp và các chính sách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước tiếp tục phát huy tác dụng tích cực. Với kết quả như trên, sản xuất công nghiệp đã vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra (kế hoạch tăng 15%).
Đầu tư xây dựng cơ bản có tiến bộ trên một số mặt. Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước tập trung thực hiện trong năm bằng 104,5% kế hoạch năm, trong đó vốn do trung ương quản lý đạt 107,8%, vốn địa phương quản lý đạt 101%.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng trưởng trở lại sau nhiều năm tăng chậm. Tính chung cả năm đã thu hút trên 4,1 tỉ USD, trong đó: 2,3 tỉ USD vốn đăng ký mới và 1,8 tỉ USD vốn đăng ký bổ sung, đạt mức cao nhất trong 5 năm gần đây. Các dự án tập trung vào ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 60,5% số vốn đăng ký, các tỉnh, thành phố phía Nam chiếm 64,6%, các tỉnh phía Bắc chiếm 35,4% số vốn đăng ký. Các tỉnh thành phố thu hút nhiều vốn đăng ký mới trong năm nay là: Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Các quốc gia và vùng lãnh thổ có nhiều vốn đầu tư trong năm nay là: Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ca-na-đa, Xin-ga-po, Trung Quốc, Hồng Công... So với năm 2003, vốn đầu tư vào các dự án mới tăng nhanh. Đáng chú ý là, đã thu hút thêm vốn đầu tư bổ sung của các dự án cũ đạt mức cao. Đó là dấu hiệu môi trường đầu tư ở Việt Nam đã được cải thiện. Nguyên nhân cơ bản là do kinh tế thế giới hồi phục, môi trường đầu tư của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, chính trị xã hội ổn định, Nhà nước có nhiều chính sách kinh tế - tài chính hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài...

Trong thương mại, xuất khẩu, du lịch, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội tính chung năm 2004 tăng 18,7% so với năm 2003 (khu vực kinh tế nhà nước tăng 8,5%; khu vực kinh tế cá thể tăng 17,8%, kinh tế tập thể tăng 22,7%, kinh tế tư nhân tăng 33%, kinh tế FDI tăng 13,8%). Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tốc độ tăng đạt trên 10,2%. Trong các ngành, thương nghiệp chiếm 81,1% và tăng 19,8%, dịch vụ tăng 15,9%, khách sạn nhà hàng tăng 11,3% và du lịch tăng 24%. Về giá cả hàng hóa và dịch vụ chung cả năm tăng 9,5% so với tháng 12-2003. Dù chưa đạt chỉ tiêu đề ra nhưng tốc độ tăng giá đã được khống chế dưới 2 con số. Có được kết quả này là do các giải pháp kìm chế tốc độ tăng giá của Chính phủ trong 6 tháng cuối năm đã phát huy tác dụng tích cực.
Kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 26 tỉ USD, tăng 30% so với năm 2003, bình quân mỗi tháng đạt 2,16 tỉ USD. Xuất khẩu tăng trưởng cao là nét nổi bật nhất trong thành tựu kinh tế Việt Nam năm 2004 và là đánh dấu thành công trong 2 năm đầu thực hiện cam kết theo lộ trình tham gia CEPT/AFTA. Hầu hết các mặt hàng chủ yếu có kim ngạch xuất khẩu tăng so với năm 2003. Những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỉ USD có tốc độ tăng cao trong năm nay là: dầu thô tăng 53%, hàng dệt may tăng 19,6%, giày dép tăng 17,3%. Một số mặt hàng tuy có kim ngạch không lớn (khoảng 1 tỉ USD) nhưng cũng có tốc độ tăng khá như: hàng điện tử máy tính tăng 55,6%; đồ gỗ tăng 87%; gạo tăng 22%... Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực đều tăng khá, trong đó cà phê tăng 33,4%, cao su tăng 35%, chè tăng 57%, hạt tiêu tăng 40%, hạt điều tăng 48%. Mặt hàng thủy sản tuy gặp khó khăn ở thị trường Mỹ, nhưng các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đã chủ động mở rộng các thị trường khác như EU, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN nên kim ngạch xuất khẩu tăng 7% so với năm 2003.
Nguyên nhân xuất khẩu tăng khá là do kinh tế thế giới hồi phục, giá dầu thô, gạo, cao su, hạt điều tăng cao. Sản xuất trong nước tăng trưởng khá, chất lượng sản phẩm xuất khẩu có tiến bộ, chính sách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước phát huy tác dụng; các hoạt động tiếp thị, hội chợ, triển lãm có hiệu quả.
Kim ngạch nhập khẩu năm 2004 ước đạt 31,5 tỉ USD, tăng 25% so với năm 2003. Nhập siêu ước đạt 5,5 tỉ USD, bằng 21,2% kim ngạch xuất khẩu. Kim ngạch nhập khẩu tăng cao so với năm trước ở hầu hết các mặt hàng quan trọng phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước và cho sản xuất hàng xuất khẩu: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, nhiên liệu, nguyên liệu, xăng dầu, sắt thép, phân bón.
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2004 đạt 2,9 triệu lượt khách tăng trên 24,9% so với năm 2003, trong đó khách du lịch tăng 34%; đến công tác tăng 12%; thăm thân nhân tăng 22,4% và các mục đích khác tăng 9,5%. Lượng khách đến nhiều nhất là từ Trung Quốc, tăng 19,7%; từ Nhật Bản tăng 30,8%. Nguyên nhân khách đến Việt Nam tăng cao là: Tình hình chính trị ổn định, dịch cúm gia cầm được dập tắt sớm. Nhà nước có chính sách thông thoáng hơn như mở rộng các đối tượng khách được miễn thị thực nhập cảnh, cải tiến thủ tục hành chính, hải quan, đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, các di tích văn hóa, mở thêm nhiều đường bay quốc tế. Ngành du lịch có đổi mới trong công tác tổ chức, quản lý và quảng bá, tiếp thị, nâng cao chất lượng phục vụ.
So Luu Huong
06-07-05, 18:47
Bên cạnh những thành tựu to lớn và cơ bản đã đạt được, kinh tế Việt Nam năm 2004 vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung còn ở mức thấp so với kế hoạch, chất lượng tăng trưởng, tính bền vững và độ đồng đều chưa cao. Điều này đựợc thể hiện trong các ngành sản xuất và dịch vụ. Trong công nghiệp, giá trị sản xuất tăng 16% nhưng giá trị tăng thêm chỉ tăng 10,7%. Tốc độ tăng trưởng của một số sản phẩm công nghiệp khai thác lại phụ thuộc quá lớn vào thị trường ngoài nước, trong khi đó thị trường nội địa lại tăng chậm. Chất lượng và giá cả sản phẩm công nghiệp vẫn còn kém sức cạnh tranh. Tình hình tương tự cũng diễn ra trong các ngành trong nông nghiệp và thủy sản. Nguyên nhân chủ yếu là do chi phí trung gian quá lớn, tình trạng lãng phí, thất thoát trong sản xuất và đầu tư xây dựng còn lớn nhưng chưa được khắc phục. Trình độ đồng đều giữa các ngành, các địa phương về phát triển sản xuất và dịch vụ còn thấp. Trong nông, lâm nghiệp và thủy sản, lâm nghiệp vẫn tăng không đáng kể. Nhiều sản phẩm công nghiệp chế biến giảm hoặc tăng chậm so với năm 2003. Rõ nét nhất là quần áo dệt kim, thuốc ống, thép cán, xi măng, máy công cụ, động cơ đi-ê-den, động cơ điện, quạt điện dân dụng, đường, mật. Một số tỉnh, thành phố chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp lại tăng chậm, như thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong khu vực dịch vụ, chỉ có du lịch, xuất khẩu tăng trưởng cao còn các ngành dịch vụ khác vẫn tăng chậm dù tiềm năng còn lớn. Giá cả tăng cao, cho dù quý IV có chậm lại, đã và đang tác động đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Đây là nhược điểm lớn và là chỉ tiêu không đạt kế hoạch đề ra (tăng dưới 5%).
2 - Dự báo triển vọng năm 2005
Nghị quyết của kỳ họp thứ VI Quốc hội khóa 11 đã đề ra các chỉ tiêu kinh tế cho năm 2005, theo đó: GDP tăng 8,5%; giá trị sản xuất nông lâm, ngư nghiệp tăng 5,2%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16%, giá trị các ngành dịch vụ tăng 8,2%, kim ngạch xuất khẩu tăng 16%, tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 38,5% GDP, chỉ số giá tiêu dùng không tăng quá 6,5%. Đó là những mục tiêu rất cao nhưng có cơ sở thực tế, dựa trên những kết quả đạt được trong năm 2004 và các năm qua, tiềm lực kinh tế - tài chính của đất nước có thể khai thác trong năm tới để phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ.
Về nông nghiệp: Triển vọng năm 2005 vẫn tiếp tục phát triển toàn diện và tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản hoàn toàn có thể đạt mục tiêu đề ra là tăng 5,2% đến 5,4% so với năm 2004, trong đó nông nghiệp sẽ tăng trên 4,5%. Sản lượng lương thực có hạt dự báo đạt trên 40 triệu tấn, trong đó lúa 36,5 triệu tấn, tăng 2,2% so năm 2004; sản lượng ngô đạt khoảng 3,6 triệu tấn, tăng 5,5%. Chăn nuôi sẽ hồi phục và tăng trưởng nhanh sau dịch gia cầm do giá cả thực phẩm năm 2005 vẫn ở mức cao có lợi cho người chăn nuôi. Dự báo, giá trị sản xuất chăn nuôi sẽ tăng trên 8% và cơ cấu chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp sẽ đạt trên 22%. Giá trị sản xuất thủy sản sẽ tiếp tục tăng trưởng trên 15%, do thị trường xuất khẩu có triển vọng mở rộng hơn năm 2004.
Về công nghiệp: Dự báo giá trị sản xuất sẽ tăng từ 16 đến 17%. Thực tế là năm 2004 đã tăng 16%, trong đó quý IV tăng trên 17%. Cơ sở của dự báo này là: các ngành công nghiệp chủ yếu như khai thác dầu thô, khí thiên nhiên, than đá vẫn tiếp tục tăng trưởng với tốc độ như năm 2004. Các sản phẩm công nghiệp chế biến phục vụ xuất khẩu như dệt, may... có khả năng tăng trưởng cao do EU và Ca-na-đa đã bỏ hạn ngạch nhập khẩu đối với Việt Nam. Công nghiệp dân doanh và công nghiệp FDI có khả năng tăng khá do nguồn vốn đầu tư các năm trước đây đến thời kỳ phát huy tác dụng.
Về dịch vụ: Dự báo có khả năng tăng trưởng khoảng 8,5% vì tiềm năng còn rất lớn, nhất là xuất khẩu, du lịch, vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính...
Về xuất khẩu: Dự báo tốc độ tăng trưởng sẽ đạt trên 20% vì thực tế hai năm qua đều tăng trên mức đó (năm 2003 tăng 20,8%; năm 2004 tăng 30%). Sau 2 năm thực hiện lộ trình CEPT/AFTA (2003-2004), Việt Nam đã tích lũy được kinh nghiệm và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa. Thêm vào đó sản xuất trong nước có nhiều chuyển biến tích cực nên chất lượng hàng hóa đã tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới.
So Luu Huong
06-07-05, 18:48
Thôi, bác lào muốn quan tâm thì chịu khó tìm thêm, em sợ post nhiều quá các bác khác nại ý kiến. Vậy nha!