Nhà sử học Trần Quốc Vượng

Cavenui
09-08-05, 13:42
Nhà sử học Trần Quốc Vượng, giáo sư bụi, mõ làng Thăng Long, chuyên gia văn hóa dân gian, nhà khảo cổ học, thầy tử vi... vừa qua đời hôm 8/8 mới rồi. Báo chí đưa tin đầy đủ.

Trước đây có học trò của ông Trần Quốc Vượng có gửi cho em 1 file doc gồm những bài viết của ông, em up lên đây để ai quan tâm thì đọc.
http://s124360731.onlinehome.us/Music/Cavenui/TQV4share.doc

File này gồm các bài viết:
1. Về danh hiệu Hùng Vương
2. Căn bản triết lý người anh hùng Phù Đổng và hội Dóng
3. Từ truyền thuyết, ngữ ngôn đến lịch sử
4. Văn hoá ẩm thực trên nền cảnh môi trường sinh thái nhân văn VN 3 miền trung-nam-bắc
5. Ba mô hình âm nhạc VN
6. 1 nét bản sắc của văn hóa VN: khả năng ứng biến
7. Suy nghĩ đôi điều về văn hóa VN trong sự đối sánh với văn hóa TQ
8. 1 cái nhìn tổng quát về thế kỷ X với văn minh thế giới và VN
9. Nguyên lý Mẹ của nền văn hóa VN
10. Nho giáo và văn hóa VN
11. Chu Văn An và làng Thanh Liệt
12. Nghĩ về Trần Nguyên Hãn và cái chết của ông
13. Về Lê Thánh Tông (1442-1497)- Mấy điều giải ảo hiện thực lịch sử VN thế kỷ XV
14. Về gốc tích Mạc Đăng Dung
15. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bối cảnh văn hóa VN thế kỷ XVI
16. Con người và tư tưởng triết học- phác họa chân dung Lê Quý Đôn
17. Tây Sơn Quang Trung và công cuộc đổi mới đất Việt ở thế kỷ XVIII
18. Tâm sự Ức Trai sau kháng chiến (như ông tự biểu hiện và như tôi hiểu)
caocao
09-08-05, 16:18
Hồi trước tớ cũng có 1 số bài của cụ Vượng nhưng đếch đầy đủ = cái list ở trên của bạn Núi ... cám ơn bạn Núi nhiều lắm .......
Kây Hồng
09-08-05, 17:04
5 sao nhé, cám ơn con cò :D
DINH HY
09-08-05, 17:14
Núi ơi các bài này cớ ở Trong cõi không? Minh đã đọc trong cõi rồi (mượn đựơc từ hồi lâu rồi) nên bây giờ có cái này thì hay quá nhưng không hiểu làm sao mình link vào đó thì cứ như bị thiếu font ấy không đọc được gì cả. Núi dùng font gì thế?
Cavenui
09-08-05, 17:23
Mấy bài này chủ yếu là ở cuốn Văn hóa VN- tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn hóa dân tộc 2000. Cuốn này dày khự, đâu như khoảng 90K. Em có đọc và so nó với file con bạn gửi cho thì nhiều bài ghi là trích, lược bớt đôi ba câu. Cô bạn giải thích là làm thế để người đọc (như em) vẫn còn hứng thú mua sách của thầy cô ấy. Em thì thấy mặc dù có lược bớt tí ti nhưng nội dung chính và cả văn phong của bác Trần Quốc Vượng vẫn bảo toàn, và không mua cuốn sách đó nữa.

Cái này dùng Unicode mà, sao bác Đinh không đọc được? Hay là bác đừng click thẳng, đọc thẳng nữa mà click chuột phải vào link rồi save target as xem sao. Tải về máy nhà rồi hãy đọc. Em dốt IT nên cũng chỉ đoán thế!

Cuốn sách xuất bản ở trong nước nên không gai góc và có vấn đề như Trong cõi. Ấy là em cũng đoán thế nốt! Em chưa đọc Trong cõi.
DINH HY
09-08-05, 17:46
Cám ơn Núi, mình sẽ thử theo cách đó. Nếu là quyểnVăn hóa VN- tìm tòi và suy ngẫm thì mình có rồi, hồi nó mới ra mình mặc cả xuống được còn 40k, kỷ lục đấy, vì mình bảo chỉ dở hơi mới mua sách này về đọc, mà dở hơi thì lảm gì có tiền mua sách, người bán sách phì cười bảo em bán cho anh dưới giá mua vào.
Elgnoy
09-08-05, 18:47
Em cảm ơn chị Cavenue.

Bác Vượng cũng như họa sĩ nổi tiếng ấy nhỉ, bây giờ chắc phải ra phố cướp giật sách ngay, không là hết sạch.
lão ma
10-08-05, 18:44
Nhân tài như lá mùa thu
Tuấn kiệt như sao buổi sớm ...

Cầu cho vong linh bác được yên nghỉ ngàn thu !
...
MrLoyal
17-08-05, 08:35
Cụ đã đi xa nhưng những giá trị văn hóa mọi mặt cụ để lại sẽ trường tồn với thời gian. Thế là tứ trụ mất đi 1 trụ rồi
...
17-08-05, 22:13
Link teo rồi, Cavenui làm ơn ụp lại nhát
Normal
18-08-05, 13:37
Cho tớ đăng ký một suất nhé, bạn nào có rồi share thì tốt quá nhỉ.
butchi
18-08-05, 14:29
Hôm nọ em có lén lút load trộm ở đây. Nên hôm nay lại đến trả :)

http://s37.yousendit.com/d.aspx?id=0CHW8A3UC9KFO2KVMSCJ85H8UR
...
18-08-05, 17:06
cảm ơn Butchi nhiều
Mây
28-09-05, 14:20
Up lại file của Cavenui trường hợp link trên kia đã hết hạn.

Một số bài viết của nhà sử học Trần Quốc Vượng (http://upload.thanhnienxame.net/TQV4share.doc)



Mây
Diathan
28-09-05, 15:03
Cuốn sách cuối cùng khi GS ra đi: Môi trường, con người và văn hóa.
Triết lý môi trường

01. Con người và môi trường-Tiên đề triết học:
01.1. Theo ý tôi, cái định nghĩa hay nhất về con người xưa nay vẫn là câu nói của cổ nhân: ỎNhân thân: Tiểu vũ trụÕ
Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh ( ) :
Bốn phương và trên dưới là Vũ 宇躜.
Xưa qua, nay lại là Trụ 宙粢.
Không gian và Thời gian = Thế giới (Univers)
01.2. Không gian Euclide là không gian ba chiều.
A. Einstein đã ỎcắmÕ thêm vào không gian Euclide một ỎchiềuÕ nữa, là Ỏchiều thời gianÕ, (cũng là chiều lịch sử) và hình thành nên quan niệm triết học khoa học ỎKhông - Thời gian liên tụcÕ (Continuumempo - spatial).
01.3. Quan niệm ỎVũ trụÕ, Ỏkhông - thời gian liên tụcÕ như thế, thì con người là một Ỏvũ trụ nhỏÕ đã thống nhất - hoà đồng thế giới vĩ mô và thế giới vi mô.
Đấy chính là tiên đề để ta triết lý về môi trường thời hiện đại.
02. Tin học: Theo định nghĩa của GS-TS, nguyên
Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam là Ỏmôn học xử lý các quan hệÕ.
02.1. Theo điểm thứ 06 của ỎLuận cương về Phơ-bách (Feuerbach)Õ của K. Marx: ỎCon người trong bản chất của nó, là tổng hòa các Quan Hệ Xã HộiÕ.
02.2. Đến ỎPhép biện chứng tự nhiênÕ, F. Engels nêu luận điểm: Con người là Ỏthuộc về Tự nhiênÕ, con người là
Ỏsản phẩm của Tự nhiênÕ, là một Ỏthành phần của Tự nhiênÕ và cũng là Tự nhiên thôi !
F. Engels cũng nêu lên rằng ỎNếu con người kiêu ngạo đòi chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên, thống trị
tự nhiên ...và do vậy tàn phá tự nhiên thì ... Tự nhiên sẽ
Ỏtrả thù lạiÕ.
02.3. Vậy thì bên cạnh hay/và cùng với cái câu nói rất
M. Gorki: ỎCon người: ỎCái tiếng ấy vang lên kiêu hãnh làm saoÕ, ta nên thêm câu này: ỎCon người: một vật phẩm của
Tự nhiên, cũng nhỏ nhoi thôi trong Đại Vũ trụ mênh mông !Õ
03. Các chiều kích/thứ nguyên (dimensions) của
con người.
03.1. Theo tôi, sẽ là Ỏmác-xít sáng tạoÕ trong thời hiện đại, chúng ta nên Ỏăn nóiÕ theo kiểu những mẫu câu này:
- Con người vừa là một cá nhân, vừa là một sinh vật
xã hội, vừa là một sinh vật tự nhiên.
- Mọi người đều sinh ra bình đẳng nhưng màẶkhác nhau.
Tôi sẽ còn phát triển những ý này.
03.2. Theo triết lý tổng thể, hệ thống, cấu trúc thì
con người luôn luôn là một tổng thể, một hệ thống, một
cấu trúc. Có rất nhiều góc, nhiều cách nhìn nhận con người.
Dưới đây tôi thử/ chỉ nêu lên ba cách nhìn:
03.2.1. Một con người, xét riêng lẻ, có ít nhất 4 chiều:
- Thể chất (Physical)
- Sinh lý (Physiological)
- Tâm lý (Psychological)
- Tâm linh (Spiritual)
03.2.2. Từ trong lòng mẹ và nhất là sau khi đã sinh ra (Văn hoá học hiện đại chứng minh rằng con người được
Ỏnhập thân văn hoáÕ (Enculturation) từ khi còn nằm trong bụng mẹ và nền giáo dục hiện đại đã đặt vấn đề ỎThai giáoÕ trước cả ỎMẫu giáoÕ. Tôi đã tìm được, ở Việt Nam, cuốn
ỎThai giáoÕcủa bà ngoại chúa Trịnh Tráng, cuối XVI, và đã Ỏgạ bánÕ cho GS.TS. Phạm Minh Hạc); có ít nhất 4 nhân cách (personnalité):
Do bẩm sinh: Kiểu triết lý dân gian Việt nói Ỏcha mẹ sinh con, Trời sinh tínhÕ (Trời = Tự nhiên) ỎBá nhân bá tính/ tánhÕ, hay kiểu Nguyễn Du nói: ỎThông minh vốn sẵn
tính TrờiÕ.
Thời hiện đại đang đẩy mạnh việc nghiên cứu
Di truyền (Gen project), cả Di truyền sinh vật/ lý và Di truyền văn hoá. Do đâu chưa biết, nhưng rõ ràng có cái bẩm sinh (và cần tìm ra mối quan hệ sinh lý và tâm lý).
Do tự rèn luyện và rèn luyện: Đây là vấn đề đào tạo/ giáo dục và tự đào tạo/ tự giáo dục. Tôi muốn nhắc lại ý kiến của các nhà tâm phân học (từ S.Freud đến E. Fromn).
Tính cách con người đã được hình thành xong, từ thủa ấu thơ (3-5 tuổi). Và cũng muốn nhắc lại một luận điểm của K.Marx: ỎChính các nhà giáo dục cũng phải được giáo dụcÕ.
Do phải đóng một Ỏvai trò xã hộiÕ nào đó. Các nhà
tâm phân học dùng một khái niệm Ỏphũ phàngÕ hơn: ỎĐeo mặt nạÕ. Kiểu bà Huyện Thanh Quan và sân khấu đeo mặt nạ: ỎTạo hoá gây chi cuộc hí trườngÕ. Trường đời, môi trường cuộc đờiẶ rút lại cũng chỉ là một cuộc chơi, một trò chơi thôi,
vấn đề là Ỏchịu chơiÕ hay Ỏchơi chịuÕ hay Ỏchơi đẹpÕ (Fair Plays) và Ỏkhông chơi đẹpÕ (unfair Play).
Do ngộ nhận: Rất nhiều người ngộ nhận về chính mình, vì cảm thức/ phức cảm tự ti, tự tôn, tự caoẶ để nói giọng ỎĐáng lẽ Ặ tôi phải được (thế này, thế khác)Õ. Cũng cần tính đến sự Ỏngộ nhậnÕ của xã hội, của dân tộc Ặ nữa.
03.2.3. Cho đến cuối thế kỷ XX, con người hướng ngoại (extraverti) và đồng thời hướng nội (intraverti) nữaẶ thì
tối thiểu có 4 chiều quan hệ:
+ Quan hệ với Tự Nhiên: Tự nhiên trong ta (bản năng)
và Tự nhiên ngoài ta, người ta gọi là chiều cao, Môi trường
Tự nhiên.
+ Quan hệ với Xã Hội: Xã hội gồm một phổ (spectre) rộng từ Gia đình hạt nhân - Gia đình mở rộng (họ hàng) - Xóm làng/ Làng xã - Vùng miền - Quốc gia dân tộc - Quốc tế liên dân tộc - Xu hướng khu vực hoá - Toàn cầu hoá. (Thế kỷ XXI có thể có quan hệ liên – hành tinh người ta gọi là
chiều rộng: Môi trường Xã hội).
Quan hệ với chính mình: ỎMột mình mình biết, một mình mình hayÕ, ỎThương anh tôi để trong lòngÕ, ỎNghĩ mình mình lại thương mình xót xa (Kiều)Õ. Đấy là quan hệ theo chiều sâu.
Quan hệ với những thế lực Ỏvô thểÕ: Có thế giới ỎthựcÕ và thế giới ỎảoÕ. Có thực tế và ảo tưởng. Con người phải sống với/ đối mặt với thế giới thần linh (Tín ngưỡng dân gian và các Tôn giáo lớn) và thế giới tổ tiên – những người đã khuất: Vô thể mà/vẫn hiện diện. Kiểu K. Marx dẫn châm ngôn Pháp- nói: ỎLe mort saisit le vifÕ (người chết níu chặt người sốngÕ. Đấy không phải là chuyện duy tâm. Cái quá khứ -
tổ tiên - vô thể được thể hiện bằng phong tục - tập quán, bằng mồ mả - bàn thờ tổ tiên - nhà thờ họ - đình quán - miếu -
đền Ặ Kiểu tư duy ỎSống về mồ mả, ai sống về cả bát cơmÕ.
04. Mẫu hình chung của Triết lý sống (sống = sống vớiẶ) của người Việt Nam và Thế ứng xử của Việt Nam là:
- Sống vớiẶ Tình cảm cộng đồng - Cộng cảm.
- Hoà điệu với Thiên nhiên và hài hòa Xã hội.
Khoan hòa - Khoan dung - Khoan nhượng - Khoan thứ:
ứng biến (Resiliance).
Mặt yếu: Sùng bái các lực lượng tự nhiên: Thờ thần Núi, Nước, Đất, Cây, ConẶ
05. Nhà xã hội học Đức Fichte cho rằng: Đến thế kỷ XXI, con người biết cách sống hòa điệu với tự nhiên hơn là chống đối tự nhiên.
Người ta dự báo: Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của nền
Triết lý Tân tự nhiên (Neo - naturism). Kẻ tả khuynh,
kẻ hữu khuynh bao giờ chẳng có. Nhưng phải/ cần một
triết lý chung: Sống chung với Tự nhiên và với một Xã hội ngày càng giàu mạnh và công bằng hơn, xanh, sạch, đẹp hơn, văn minh hơn...
Diathan
28-09-05, 15:18
Môi sinh văn hóa lúa nước, văn hóa xóm làng xưa
(một tiếp cận Sinh thái nhân văn về Nghề nông trồng lúa)
1. Khu vực mà giới địa lý học gọi là “Châu á gió mùa” gần như tương ứng chính xác với miền đất có hình thái
nông nghiệp cơ bản là nghề trồng lúa. Điều đó không phải là một chuyện ngẫu nhiên :
1.1. Lượng mưa do gió mùa mang tới là nhân tố
quan trọng vào bậc nhất cho phép tiến hành trồng Lúa ở
khu vực này.
Người dân cấy cầy đất Việt nói giản dị về mối bận tâm chính của mình: “... Trông mưa, trông gió, trông ngày,
trông đêm...”
1.2. “Châu á gió mùa” còn bao hàm nhiều đồng bằng (plains) và châu thổ (deltas) phù sa tạo nên bởi những dòng sông lớn và đó cũng lại là một nhân tố quan trọng cho nghề nông trồng lúa diễn tiến. Lúa mọc lên từ miền thấp, đất lầy, trũng và từ lâu đã trở thành một loại đất đặc biệt mà khoa Thổ nhưỡng đặc trưng là Đất Lúa. Người dân đất Việt cũng nói giản dị về Đất này : “Tấc đất, tấc vàng”.
Đó, Đất và Nước, hai điều kiện cơ bản làm thỏa mãn việc trồng lúa. ở miền Châu á gió mùa, cây lúa là loại
thực vật “thuận thiên” (khí hậu), “thuận địa” (địa hình,
đất đai) nhất. Đất đai phần lớn trở nên trồng trọt được là nhờ Văn hóa Lúa nước. Cho nên, quê hương, Tổ quốc, từ lâu được định danh là Đất nước, và miền “châu á gió mùa” mang bản sắc căn cơ nhất là miền trồng lúa nước.
Vậy bản sắc căn cơ nhất của văn hóa Việt Nam
cổ truyền được định tính là văn hóa Lúa nước, là điều hợp lý.
ở Đông Nam á lục địa, trong đó có Đông Dương
bán đảo, những châu thổ của các con sông lớn (Hồng Hà,
Cửu Long) là miền trồng lúa cơ bản, miền mật tập dân cư, miền dựng nước, cũng là miền Trung tâm giữ gìn đất nước.
Một đất nước, một cư dân chiếm hữu hai châu thổ lớn của hai con sông lớn và giầu phù sa vào bậc nhất Đông Nam á như Việt Nam, thì đương nhiên đất nước ấy phải mạnh,
cư dân ấy phải giàu. Môi trường tự nhiên cho phép sự
Thịnh Vượng; cái còn lại, là do con người.
Nhìn chung nhất và chung chung thì là như thế !
Song muốn hiểu sâu nền văn hóa Lúa nước thì phải hiểu kỹ môi trường tự nhiên của châu á gió mùa nói chung, của
Việt Nam và từng miền, từng vùng của Việt Nam nói riêng, khí hậu và vi khí hậu, địa hình và vi địa hình. Và từ đó, những điều kiện thổ nhưỡng, nước nôi...
2. Nói khí hậu ở một miền trồng lúa thì trước hết phải nói lượng mưa, lượng nhiệt.
2.1. Giới hạn tối thiểu về nhiệt độ để lúa trồng mọc tốt là 13°C. Xem chừng như thế thì chuyện nhiệt có vẻ không có vấn đề gì. Nhưng miền Bắc, lưu vực sông Hồng, từ miền núi, miền thung lũng đến miền châu thổ mỗi năm lại có một mùa đông lạnh thực sự làm biến dạng tính chất nhiệt đới; ở nhiều vùng hệ sinh thái ngả sang tính chất á nhiệt đới, thậm chí là ôn đới nữa. Nhà Sinh thái học, nhà Nông học cũng như
nhà Sử học Việt Nam phải có nhãn quan “Không-thời gian liên tục” (Contimumtempo spatial) kiểu Einstein. Tách
không gian với thời gian trong phân vùng kinh tế - văn hóa, trong việc làm ăn cụ thể thì sẽ phạm sai lầm.
2.2. Điều quan trọng hơn, là những giao động thời tiết trong từng năm và ở mỗi năm. Khí hậu có 3 nét thường hằng là nhiệt ẩm - gió mùa, còn thời tiết lại biến động vô thường, và chỉ có thể nói là thất thường. Cái thất thường làm nên cái cay nghiệt trong cuộc sống làm ăn của người dân cày đất Việt, đặc biệt là ở miền Bắc, ở miền Trung và in hằn dấu vết sâu sắc của nó lên cá tính và tâm linh người dân quê xứ sở này.
Giao động cơ bản, là về đỉnh mưa, đỉnh lũ, về lượng mưa phân bố trong năm. Bên cái thuận mưa hòa gió, là cái nghịch Lụt Bão, bên cái cần và đủ “Nước” (“Nước, phân, cần, giống”) là cái nạn nước (“Thủy, hỏa, đạo, tặc”). Nước, có tháng thiếu, tháng đủ, tháng thừa, mùa thiếu, mùa đủ, mùa thừa, vùng thiếu, vùng đủ, vùng thừa...: Trị thủy và Thủy lợi rõ ràng là những biện pháp kỹ thuật hàng đầu của nghề nông
trồng lúa. Kỹ thuật là một bộ phận hợp thành của văn hóa và kỹ thuật cổ truyền còn gắn liền với cả phương thuật, ma thuật nữa kia v.v... Nếu chỉ tính mưa trời thôi (mà không kể đến các nguồn nước khác) thì Hà Nội - miền Bắc đủ nước cho 1 vụ và hơn 1 vụ lúa (đây là miền thâm canh tăng vụ đầu tiên của bán đảo Đông Dương); Huế - miền Trung đủ nước trồng lúa mùa mưa; Sài Gòn - miền Nam mùa khô, mùa mưa rõ rệt, ở bên rìa việc trồng lúa mùa mưa : nước mưa chỉ tập trung 2 - 3 tháng sau một mùa thiếu nước nghiêm trọng, thậm chí
bảo đảm nước mưa cho một vụ lúa cũng không xong : Rõ ràng nước cho cây lúa phải cần từ những nguồn khác : Kênh rạch là nét cảnh quan sinh thái nông nghiệp tất yếu của
miền Nam nước Việt. Tưới và tiêu là nhân tố quan trọng nhất của những cánh đồng trồng lúa.
3. Đồng bằng ở vùng núi hay chân núi á châu được xem là hình thành bởi sự tích tụ phù sa tại các đường đứt gẫy trên bề mặt trái đất. ở Đông Nam á lục địa, các đường đứt gãy phần lớn xuất phát từ miền Vân Quí ( ), từ đó sông lớn chảy và đồng bằng lưu vực sông phát triển : Đứt gãy Việt giang (Châu giang hay Tây giang), đứt gãy sông Hồng, đứt gãy
Mê Kông v.v...
Có nhiều quan hệ giữa hình thái đất đai, điều kiện
nước nôi, sự sinh trưởng tự nhiên và nhân vi của cây lúa cùng không gian sinh sống của con người. Bản làng tựa vào nương ruộng, nương ruộng dựa theo đất đai, nguồn nước : Văn hóa Xóm làng tựa vào văn hóa Lúa nước và đó là mặt cơ bản thứ hai của nền văn minh thôn dã Việt Nam và Đông Nam á. Lập làng, dời làng phải nương theo môi trường tự nhiên; làm khác đi, theo kiểu ý chí luận, là thô bạo...
3.1. Trước hết hãy xem cấu trúc cơ bản của những
châu thổ lưu vực sông. Các sông lớn và những châu thổ bao quanh chúng tạo nên trên những đường đứt gẫy có cấu trúc cơ bản tương đồng. Dáng hình của những dòng sông là kiểu dáng cây cối (denchitic): nhiều nhánh nhỏ hội tụ làm nên một dòng thân (trunk) nối dòng thân ấy chảy trôi về xuôi và lại chia thành nhánh rễ (roots). Thượng lưu miền núi lũng sông có nhiều nhánh hợp; trung lưu miền đồi gò là một dòng chảy mạnh băng giữa một châu thổ, hạ lưu miền châu thổ sông phân nhánh và cũng hay đổi dòng trong một châu thổ do chính nó tạo thành...
3.2. Đấy là 3 miền của một lưu vực sông, tạo nên 5 dạng địa hình, qui định 5 dạng văn hóa Lúa nước :
a/ Thung lũng và bồn địa giữa núi, bằng hoặc hơi dốc, có cái rộng, nhưng thường là hẹp (Mường Theng, Mường Lò, Mường Tấc, Mường Than ở Tây Bắc; Bi Vang Thang Động ở vùng Mường).
b/ Đồi bãi ven trục sông ở trung lưu. Đồng lúa ngập nước, xưa có gió mùa ẩm ướt.
c/ Tổng thể thểm cổ bên trên vùng đồng bãi, dốc dần
cho tới chân núi viền bên lưu vực sông. Ta hay gọi là vùng “bạc điền”, vùng đất bạc màu, khô hạn, có đồng lúa và xưa có rừng hỗn hợp, gỗ, tre pheo...
d/ Châu thổ cổ từ chỗ sông phân nhánh là đỉnh châu thổ (Việt Trì của sông Hồng). Châu thổ cổ, Việt Nam ta gọi là “Đất Tổ”, “cốt” đất cao từ vài mét đến dưới-trên chục mét và có phần nào lượn sóng. Châu thổ cổ có nơi còn núi đồi xen kẽ.
đ/ Châu thổ trẻ: ở sông Hồng, có thể tính từ đỉnh
Hưng Yên trở xuống, là vùng còn chịu tác động của thủy triều xâm nhập ngược dòng sông. Sông đầy bùn và đồng lúa
mênh mang “thẳng cánh cò bay”, như nhân dân ta thường nói. Vì đất thấp và phẳng, dường như không có nét địa hình nào đáng kể ngoài đê mà đê lại là địa hình nhân tạo.
3.3. Dạng văn hóa xóm làng tựa vào dạng văn hóa
Lúa nước nhưng sẽ còn phức tạp hơn, đa dạng hơn vì còn phải kể bản làng trên đỉnh núi và vạn chài dưới sông, ngoài ven biển và hải đảo. Phức tạp hơn, do sự đa canh (không chỉ lúa), do có dạng chuyên canh đặc sản (làng ruộng/làng vườn ở miền Nam) có dạng chuyên môn thủ công - thương nghiệp (làng dệt, làng gốm, làng nghề, làng buôn, làng (vạn) chài).
Cũng phức tạp hơn (mà gắn với văn hóa Lúa nước hơn) là do ở chỗ châu thổ sông Hồng, từ miền Thượng (cổ) qua miền Trung đến miền Hạ (trẻ), có rất nhiều ô trũng lớn nhỏ, tạo nên những vi địa hình ở châu thổ. Có ô trũng, là vì
châu thổ chưa hình thành xong, người Việt cổ đã xuống
cư trú và canh tác, rồi đắp đê, ngăn chặn sự hình thành
hoàn chỉnh tự nhiên của châu thổ, mà nghề trồng lúa nước thì chỉ cần mấy nét vi địa hình đất đai là đủ thay đổi
điều kiện thổ nhưỡng, nước nôi và bộ giống cây trồng cùng xóm làng liên hệ tới rồi.
Bao quanh và lượn cho tới một ô trũng, có đủ các “chân ruộng” cao, ruộng vàn, ruộng trũng, ruộng lầy thụt; Mỗi chân ruộng, làn ruộng là một/những loài giống lúa khác nhau : nếp/tẻ, sớm/muộn, mùa/chiêm... theo cách ứng xử “Thích nghi tối đa và tối ưu” của người dân cày Việt Nam đối với điều kiện tự nhiên. Và mấy làng, mấy cụm xóm làng bao quanh một
“ô trũng” là đã khác nhau rồi. Làng đồng mùa ở ven ô trũng, làng đồng chiêm ở rốn ô trũng và các dạng trung gian, nửa chiêm mùa, nhưng nghiêng về mùa hay lệch về chiêm...
3.4. Lúa nước cần chăm sóc tỉ mỉ, cần cân nhắc từng loại ruộng, từng làn ruộng nhỏ mà quy định bộ giống và cơ cấu cây trồng. “Văn hóa Lúa nước” “sợ” nhất sự làm ăn ồ ạt,
cẩu thả qua loa đại khái, “sợ” nhất sự chỉ đạo sản xuất
“chỉ tay năm ngón” quan liêu. Và bởi vậy, đơn vị sản xuất lúa với năng lượng cơ bắp vận hành ngày xưa thường chỉ là
gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân, với một cặp vợ chồng và
con cái chưa trưởng thành...
Diathan
28-09-05, 15:19
4. Nghề nông trồng Lúa có nhịp điệu mùa, nương theo nhịp điệu của Tự nhiên. Văn hóa Lúa nước có nhịp điệu mùa, tương ứng với công việc làm ăn, những ngày xuống đồng khẩn trương, những ngày mùa rộn rã hay những tháng “nông nhàn” rỗi việc, khá thảnh thơi...
4.1. Nhịp điệu tự nhiên của “châu á gió mùa” là do
Gió mùa qui định và chia mỗi năm thành hai mùa: Mùa mưa và mùa khô.
Xin lấy ví dụ ở châu thổ Bắc bộ: Mùa mưa thường
bắt đầu từ tháng Tư và trùng với mùa Nóng, mùa Hè.
Ba tháng đầu năm, xưa vẫn được coi như những tháng nông nhàn, được phản ánh trong tâm thức dân quê : “Ra Giêng ngày rộng tháng dài”, “Tháng Giêng là tháng ăn chơi, tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè” (không hẳn là như thế, song người ta cứ nói thế và quả thật Hội Làng - đỉnh cao của sinh hoạt văn hóa xóm làng - tập trung ở ba tháng Xuân).
Đầu mùa mưa, là Tết Pi Mạy và Chôn Chnăm Thmay của nhân dân Lào và nhân dân Campuchia - những cư dân còn sống hồn nhiên theo Tự Nhiên hơn cả người dân Việt - là Hội Chùa mừng “Phật sinh Phật đản”, là lễ Tưới nước, tắm tượng Phật.
Tháng Bảy, Tháng Tám là thời điểm làm cỏ, bỏ phân, chăm sóc ruộng đồng, nhịp điệu lao động thư dãn hơn: Thì
lúc đó là tiết Trung nguyên, hội Vu Lan Rằm Tháng Bảy
“xá tội vong nhân”, là tiết “Ông Ngâu bà Ngâu” -hội của những người thợ dệt, là tết “Trung Thu” “Trông trăng” của trẻ con-đàn bà... và cả người lớn nữa. Để chờ đến tháng Mười :
Bao giờ cho đến tháng Mười
Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta
Gặt hái ta đem về nhà
Phơi khô quạt sạch ắt là xong công !
Chấm dứt vụ mùa là Tết Cơm mới. Và cũng bắt đầu một mùa khô của thiên nhiên.
ở miền Bắc, mùa khô cũng là đầu mùa lạnh, mùa Đông lạnh. Vào mùa khô, miền thung lũng không hoàn toàn khô, vì thỉnh thoảng có mưa bất thần địa phương miền núi.
Miền thềm cổ, lòng suối cạn khô hay chỉ còn róc rách, gió khô cuộn sóng những đám mây bụi lưng trời. Ao chuôm, giếng thơi là cách giữ nước ăn, nước sinh hoạt trợ thời. Đấy là
yếu tính của hệ thống “vết chân ngựa Dóng” in chằng chịt trên địa hình đất fe-ra-lit chân núi Sóc Sơn. Miền trục sông, nước chảy lừ đừ trong lòng nhỏ (lit mineur), để trơ nhiều bãi cát sỏi vụn; các vạn chài đi vào vụ cá bắc; ven bờ bãi vốn là rừng gió mùa, có nhiều ao đầm hình lưỡi liềm, người xưa khai phá trồng dâu, trồng mía, trồng mầu...
Miền châu thổ cổ, làng “đồng mùa” xưa đi vào những ngày tháng nông nhàn đông lạnh, người ta cày ải, làm chút “màu”, người ta đánh bắt cá ở “ô trũng” người ta sửa nhà, cất nhà mới, người ta tổ chức cưới xin và thong dong sửa soạn cho những ngày Tết Cả, Nguyên Đán đầu năm... Cảnh quan châu thổ cổ mùa khô tương tự miền đồng bãi trung du.
Nhịp điệu của những làng đồng chiêm và châu thổ trẻ thì lại khác, lại ngược với nhịp điệu làng mùa, nói theo
ngôn ngữ âm nhạc, là “đảo phách”. Đầu mùa khô, nước rút, lại là mùa cầy cấy làm ăn. Để qua Tết :
Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Nghe thấy tiếng sấm mở cờ mà lên !
Đầu mùa mưa, lúa chiêm chín, người ta phải gặt vội
gặt vàng, nếu không, lúa bị ngập, công gặt thêm nặng mà lúa có thể bị lên mầm hoặc bị thối ngầm dưới nước.
Làng Mùa/ Làng Chiêm nhịp điệu khẩn trương/thư dãn ngược nhau nhưng đều tựa vào nhịp điệu tự nhiên. Còn một số làng có ruộng trồng lúa hai vụ thì nhịp điệu khẩn trương quanh năm nhưng vẫn có phách mạnh, phách yếu và
phách đảo... ấy là những làng giầu có ở ven ô trũng, cũng là nơi tập trung chợ búa.
Do sức ép số dân, một số nơi còn cấy cưỡng giá một vụ “lúa ba trăng” hay “lúa chóp”, khoảng sau vụ làm mùa và trước vụ làm chiêm...
Do sức ép số dân, việc thâm canh tăng vụ (nhất là ở miền Bắc ngày xưa) đã khiến cho nhịp điệu văn hóa Lúa nước -
văn hóa Xóm làng tuy vẫn nương theo nhưng đã khác, đã có nhiều “biến tấu” phức tạp so với nhịp điệu tự nhiên. Cái giống và khác ấy, nếu dùng một hình ảnh so sánh, cũng tương tự như cái giống và khác giữa điệu cò lả và làn điệu Quan họ miền cao cùng làn điệu Chầu văn miền thấp châu thổ
sông Hồng... Cuộc “cách mạng Xanh” đang diễn tiến cũng là cuộc cách mạng nhịp điệu của nền văn hóa Lúa nước -
văn hóa Xóm làng. Nhịp điệu xưa, dù có thanh thản mượt mà đến đâu, nay cũng không còn phù hợp nữa...
5. Thế là lồng vào và phủ lên trên những nhân tố của môi trường tự nhiên, ta còn phải tính đến những nhân tố
kỹ thuật và xã hội đã từ lâu - và hiện nay thì ngày càng khiến cho nghề trồng Lúa và Văn hóa Lúa nước -Văn hóa Xóm làng Việt Nam trở nên phức tạp: như các hình thức thủy lợi và
trị thủy (đê, ngòi) cùng cách mạng kỹ thuật thủy lợi hôm nay (đập thủy điện, trạm bơm, kênh hiện đại...); như các
hình thức chiếm hữu và canh tác ruộng đất xưa cùng cuộc cách mạng ruộng đất hôm qua và cách mạng kỹ thuật
canh tác hôm nay về giống, về phân, về nông cụ cơ giới... về các hình thức phân công lao động xưa và cuộc cách mạng về phân công lao động xã hội trên qui mô lớn hôm nay, nhu cầu của thị trường Lúa v.v...
Nhưng, ít nhất là trong phần này của bài viết này, tôi tạm thời “trừu tượng hóa” và coi như chưa tính đến những nhân tố xã hội đó, chỉ cốt để soi tỏ hơn những tiền đề
ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến nghề trồng lúa, đến Văn hóa Lúa nước - văn hóa xóm làng.
Nếu lượng giá những điều kiện của Thiên nhiên về Nước (và đất) thuận tiện cho việc trồng lúa nước thì thứ tự
ưu đãi giữa 5 miền là như sau: Châu thổ trẻ - Châu thổ cổ - Đồng bãi trung du - Thung lũng và Bồn địa giữa núi - miền bậc thềm cổ.
6. Điều kiện tự nhiên cho sự xây dựng xóm làng cư trú là phải có đất để sinh sống và nước để uống và dùng trong sinh hoạt (ngoài nước cho cây trồng).
6.1. Những bản H’mông có lẽ mới thực sự được gọi là làng miền núi. Nhưng xin lưu ý đó chỉ là kết quả của cuộc
di cư theo chiều dọc (migration verticale) do sức ép của
bành trướng Hán tộc, chứ tổ tiên người H’mông, người Dao khi xưa vốn sinh sống ở miền đất thấp - giữa hồ Động Đình và hồ Bành Lãi ở Hoa Nam cổ.
6.2. Cư dân Tây Nguyên và buôn làng của họ mang
tính chất cao nguyên hơn là núi. Văn hóa buôn làng
cao nguyên xưa không tương ứng với văn hóa Lúa nước mà tương ứng với văn hóa lúa khô, ngô, sắn... Cuộc cách mạng nông nghiệp ở Tây nguyên hôm nay cũng là cuộc cách mạng văn hóa Lúa Nước. Đấy là miền duy nhất trồng Lúa mà không thuộc lưu vực sông, nếu không kể một ít miền ven biển và
hải đảo.
6.3. Những cư dân Tày - Nùng - Thái - Mường... nên gọi là cư dân thung lũng hơn là dân tộc miền núi và bản làng của họ thường đặt để ở miền chân núi (đồi gò trước núi, thềm cổ), xây lưng nhà về phía rừng núi và mặt tiền của nhà cùng khuôn viên cư trú hướng về phía lũng bằng rộng hẹp, có suối quanh năm luồn lách chảy xuyên núi, xuyên rừng... Văn hóa bản làng thung lũng là sự tương ứng kết hợp giữa văn hóa nước (nà) và văn hóa trồng khô (hay nương rẫy, tiếng Mường gọi là “roọng” - như từ “ruộng” chỉ ruộng nước ở miền xuôi) nhưng hướng chính về lúa nước, với bản nà kết hợp. Một chuyển hướng chính trong mấy chục năm qua, do sức ép
số dân là sự tẻ hóa cây lúa trồng và do đó sự đổi thay cơ cấu bữa ăn hàng ngày.
6.4. Xóm làng trên miền thềm cổ thiếu nước, đất bạc mầu là làng đồi và, cũng như “nà” miền thung lũng, ruộng nương có kiểu dáng tối ưu là ruộng bậc thang để giữ nước và chống xói mòn.
6.5. Các xóm bãi ở trung du, ở ven sông ngoài đê thường hay bị ngập lụt vào mùa mưa, nhưng ruộng đất giầu phù sa được bồi đắp hàng năm nên đồng bãi phì nhiêu, dâu - khoai - ngô - mía... tốt tươi, sản lượng cao, các gia đình thu nhập khá; thường kết hợp với các vạn chài dưới sông, phát triển
thương mại. Phong tục tập quán ở các xóm bãi cũng như ở vạn chài cởi mở, phóng khoáng hơn các thôn xóm trong làng, trong đê. Làng trung du hay làng châu thổ cổ, hoặc phân bố trên Ruộng - Vườn - Ao - Chuồng trại tạo nên phức thể
kinh tế-văn hóa tiểu nông. Ruộng là nà, Vườn là Nương ở miền thung lũng chuyển thành. Còn Ao là một sắc thái
văn hóa xóm làng đặc biệt của người Việt châu thổ miền Bắc : đào ao trũng để đắp nền nhà cao, để thả cá, thả rau, bèo, để ngâm tre ngâm gỗ, để rửa chân tay, nông cụ mỗi khi làm đồng về, để “ta về ta tắm ao ta”... Ao là một “tiểu hệ sinh thái” Bắc Việt.
6.6. Xóm ấp trên châu thổ trẻ Tây Nam bộ có thể được đặc trưng là xóm kênh rạch, nhà hướng ra kênh, có cầu cho ghe thuyền ghé bến. Hình loại nhà tối ưu là nhà cao cẳng, nhà bè.
7. Đất đai ở Việt Nam, ở vùng nhiệt đới gió mùa
nói chung, được đặc trưng bởi sự khắc nghiệt của Phong hóa - và xâm thực xói mòn. Nhiệt độ cao, độ ẩm cao, mưa lớn, phong hóa hóa học đặc biệt phát triển. Lợi cho độ phì thì ít, hại thì nhiều, nạn đá ong hóa là phổ biến, nhất là ở miền
bậc thềm cổ (như Sơn Tây cũ), tuy dân dã đã khéo biến thành vật liệu xây dựng bền chắc, vì giàu chất Sắt và Nhôm.
ở miền đất cao xâm thực xói mòn do mưa to, lũ lụt làm trôi lớp đất mầu mỡ trên mặt, đặc biệt ở những vùng đất không có lớp thảm thực vật che phủ. Do sức ép số dân, đất đai không thể cho hưu canh để lấy lại độ phì nhiêu của đất. Chỉ còn một cách : Bón Phân. Dân ta nói “Nhất nước, nhì phân” là vì vậy. Đất trồng lúa tốt nhất là đất miền châu thổ, mà phù sa bồi tụ hơn là xâm thực bóc mòn. Nhưng tổ tiên ta đắp đê, trị
được thủy thì mất cái lợi được bồi phù sa hàng năm ở các đồng ruộng trong đê. Trong điều kiện kỹ thuật xưa, tổ tiên ta không dám xẻ đê xây đập cống để dẫn nước phù sa ngoài sông Cái vào ruộng. Rút cục lại nhờ Phân bón và trồng bèo dâu trong ruộng lúa nước. Ruộng nước có nhiều cá và
thủy sản. “Cơm - Rau - Thủy sản” (gọi nôm na là “Cơm với Cá”) là thực đơn hợp lý của nền dinh dưỡng Việt Nam xưa.
Với đất đai cao - vàn - thấp, với các mức độ phì, độ
ngậm nước, độ phong hóa... khác nhau, dân ta có một cách “thích nghi kinh tế” (astronomic adaptation) tối ưu với
tự nhiên hơn là biến đổi kỹ thuật. Đó là sự lựa chọn bộ giống thích hợp cho từng loại đất, cho từng làn ruộng. Như thế đó, kỹ thuật văn hóa Lúa Nước :
Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống !
Xin tóm tắt lại trong một câu về phần này: Văn hóa Lúa nước - Văn hóa Xóm làng đã được thực thi qua Lịch sử trong một thế quân bình năng động đối với Tự nhiên.
Con người học tập qua văn hóa Lúa nước, từ chỗ ứng xử chênh với Tự nhiên : Phá rừng, đốt rãy làm tăng sự xói mòn Phong hóa ở vùng đất cao... đã đi đến thế ứng xử hòa điệu với Tự nhiên ở miền đất thấp, miền châu thổ, theo khí hậu, theo nhịp điệu mùa đi, theo địa hình cao thấp, theo điều kiện
đất đai thổ nhưỡng phì nhiêu hay chua, mặn... Tóm lại, là theo Nước Trời và Đất Mẹ.
Diathan
28-09-05, 15:30
Em P lại phần đầu cho dễ đọc
Triết lý môi trường
01. Con người và môi trường-Tiên đề triết học:
01.1. Theo ý tôi, cái định nghĩa hay nhất về con người xưa nay vẫn là câu nói của cổ nhân: “Nhân thân: Tiểu vũ trụ”
Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh ( ) :
Bốn phương và trên dưới là Vũ 宇躜.
Xưa qua, nay lại là Trụ 宙粢.
Không gian và Thời gian = Thế giới (Univers)
01.2. Không gian Euclide là không gian ba chiều.
A. Einstein đã “cắm” thêm vào không gian Euclide một “chiều” nữa, là “chiều thời gian”, (cũng là chiều lịch sử) và hình thành nên quan niệm triết học khoa học “Không - Thời gian liên tục” (Continuumempo - spatial).
01.3. Quan niệm “Vũ trụ”, “không - thời gian liên tục” như thế, thì con người là một “vũ trụ nhỏ” đã thống nhất - hoà đồng thế giới vĩ mô và thế giới vi mô.
Đấy chính là tiên đề để ta triết lý về môi trường thời hiện đại.
02. Tin học: Theo định nghĩa của GS-TS, nguyên
Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam là “môn học xử lý các quan hệ”.
02.1. Theo điểm thứ 06 của “Luận cương về Phơ-bách (Feuerbach)” của K. Marx: “Con người trong bản chất của nó, là tổng hòa các Quan Hệ Xã Hội”.

02.2. Đến “Phép biện chứng tự nhiên”, F. Engels nêu luận điểm: Con người là “thuộc về Tự nhiên”, con người là
“sản phẩm của Tự nhiên”, là một “thành phần của Tự nhiên” và cũng là Tự nhiên thôi !
F. Engels cũng nêu lên rằng “Nếu con người kiêu ngạo đòi chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên, thống trị
tự nhiên ...và do vậy tàn phá tự nhiên thì ... Tự nhiên sẽ
“trả thù lại”.
02.3. Vậy thì bên cạnh hay/và cùng với cái câu nói rất
M. Gorki: “Con người: “Cái tiếng ấy vang lên kiêu hãnh làm sao”, ta nên thêm câu này: “Con người: một vật phẩm của
Tự nhiên, cũng nhỏ nhoi thôi trong Đại Vũ trụ mênh mông !”
03. Các chiều kích/thứ nguyên (dimensions) của
con người.
03.1. Theo tôi, sẽ là “mác-xít sáng tạo” trong thời hiện đại, chúng ta nên “ăn nói” theo kiểu những mẫu câu này:
- Con người vừa là một cá nhân, vừa là một sinh vật
xã hội, vừa là một sinh vật tự nhiên.
- Mọi người đều sinh ra bình đẳng nhưng mà...khác nhau.
Tôi sẽ còn phát triển những ý này.
03.2. Theo triết lý tổng thể, hệ thống, cấu trúc thì
con người luôn luôn là một tổng thể, một hệ thống, một
cấu trúc. Có rất nhiều góc, nhiều cách nhìn nhận con người.
Dưới đây tôi thử/ chỉ nêu lên ba cách nhìn:

03.2.1. Một con người, xét riêng lẻ, có ít nhất 4 chiều:
- Thể chất (Physical)
- Sinh lý (Physiological)
- Tâm lý (Psychological)
- Tâm linh (Spiritual)
03.2.2. Từ trong lòng mẹ và nhất là sau khi đã sinh ra (Văn hoá học hiện đại chứng minh rằng con người được
“nhập thân văn hoá” (Enculturation) từ khi còn nằm trong bụng mẹ và nền giáo dục hiện đại đã đặt vấn đề “Thai giáo” trước cả “Mẫu giáo”. Tôi đã tìm được, ở Việt Nam, cuốn
“Thai giáo”của bà ngoại chúa Trịnh Tráng, cuối XVI, và đã “gạ bán” cho GS.TS. Phạm Minh Hạc); có ít nhất 4 nhân cách (personnalité):
Do bẩm sinh: Kiểu triết lý dân gian Việt nói “cha mẹ sinh con, Trời sinh tính” (Trời = Tự nhiên) “Bá nhân bá tính/ tánh”, hay kiểu Nguyễn Du nói: “Thông minh vốn sẵn
tính Trời”.
Thời hiện đại đang đẩy mạnh việc nghiên cứu
Di truyền (Gen project), cả Di truyền sinh vật/ lý và Di truyền văn hoá. Do đâu chưa biết, nhưng r” ràng có cái bẩm sinh (và cần tìm ra mối quan hệ sinh lý và tâm lý).
Do tự rèn luyện và rèn luyện: Đây là vấn đề đào tạo/ giáo dục và tự đào tạo/ tự giáo dục. Tôi muốn nhắc lại ý kiến của các nhà tâm phân học (từ S.Freud đến E. Fromn).
Tính cách con người đã được hình thành xong, từ thủa ấu thơ (3-5 tuổi). Và cũng muốn nhắc lại một luận điểm của K.Marx: “Chính các nhà giáo dục cũng phải được giáo dục”.
Do phải đóng một “vai trò xã hội” nào đó. Các nhà
tâm phân học dùng một khái niệm “phũ phàng” hơn: “Đeo mặt nạ”. Kiểu bà Huyện Thanh Quan và sân khấu đeo mặt nạ: “Tạo hoá gây chi cuộc hí trường”. Trường đời, môi trường cuộc đờiẶ rút lại cũng chỉ là một cuộc chơi, một trò chơi thôi,
vấn đề là “chịu chơi” hay “chơi chịu” hay “chơi đẹp” (Fair Plays) và “không chơi đẹp” (unfair Play).
Do ngộ nhận: Rất nhiều người ngộ nhận về chính mình, vì cảm thức/ phức cảm tự ti, tự tôn, tự caoẶ để nói giọng “Đáng lẽ ... tôi phải được (thế này, thế khác)”. Cũng cần tính đến sự “ngộ nhận” của xã hội, của dân tộc ... nữa.
03.2.3. Cho đến cuối thế kỷ XX, con người hướng ngoại (extraverti) và đồng thời hướng nội (intraverti) nữa... thì
tối thiểu có 4 chiều quan hệ:
+ Quan hệ với Tự Nhiên: Tự nhiên trong ta (bản năng)
và Tự nhiên ngoài ta, người ta gọi là chiều cao, Môi trường
Tự nhiên.
+ Quan hệ với Xã Hội: Xã hội gồm một phổ (spectre) rộng từ Gia đình hạt nhân - Gia đình mở rộng (họ hàng) - Xóm làng/ Làng xã - Vùng miền - Quốc gia dân tộc - Quốc tế liên dân tộc - Xu hướng khu vực hoá - Toàn cầu hoá. (Thế kỷ XXI có thể có quan hệ liên – hành tinh người ta gọi là
chiều rộng: Môi trường Xã hội).
Quan hệ với chính mình: “Một mình mình biết, một mình mình hay”, “Thương anh tôi để trong lòng”, “Nghĩ mình mình lại thương mình xót xa (Kiều)”. Đấy là quan hệ theo chiều sâu.
Quan hệ với những thế lực “vô thể”: Có thế giới “thực” và thế giới “ảo”. Có thực tế và ảo tưởng. Con người phải sống với/ đối mặt với thế giới thần linh (Tín ngưỡng dân gian và các Tôn giáo lớn) và thế giới tổ tiên – những người đã khuất: Vô thể mà/vẫn hiện diện. Kiểu K. Marx dẫn châm ngôn Pháp- nói: “Le mort saisit le vif” (người chết níu chặt người sống”. Đấy không phải là chuyện duy tâm. Cái quá khứ -
tổ tiên - vô thể được thể hiện bằng phong tục - tập quán, bằng mồ mả - bàn thờ tổ tiên - nhà thờ họ - đình quán - miếu -
đền ... Kiểu tư duy “Sống về mồ mả, ai sống về cả bát cơm”.
04. Mẫu hình chung của Triết lý sống (sống = sống với...) của người Việt Nam và Thế ứng xử của Việt Nam là:
- Sống với... Tình cảm cộng đồng - Cộng cảm.
- Hoà điệu với Thiên nhiên và hài hòa Xã hội.
Khoan hòa - Khoan dung - Khoan nhượng - Khoan thứ:
ứng biến (Resiliance).
Mặt yếu: Sùng bái các lực lượng tự nhiên: Thờ thần Núi, Nước, Đất, Cây, Con...
05. Nhà xã hội học Đức Fichte cho rằng: Đến thế kỷ XXI, con người biết cách sống hòa điệu với tự nhiên hơn là chống đối tự nhiên.
Người ta dự báo: Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của nền
Triết lý Tân tự nhiên (Neo - naturism). Kẻ tả khuynh,
kẻ hữu khuynh bao giờ chẳng có. Nhưng phải/ cần một
triết lý chung: Sống chung với Tự nhiên và với một Xã hội ngày càng giàu mạnh và công bằng hơn, xanh, sạch, đẹp hơn, văn minh hơn...
justmevn
29-09-05, 12:06
justmevn cảm ơn Cavenui và Mây
chu_van_quenh
29-09-05, 17:26
GS TQV khi tìm xuất xứ của chữ Hùng trong "vua Hùng" có nói đến sự nhầm lẫn giữa các chữ cái H, K , KH ... he he :D